Trang chủ » Lạc nội mạc tử cung, Phụ khoa, Ung thư cổ tử cung, Ung thư tử cung » Tìm hiểu bệnh ung thư nội mạc tử cung

Tìm hiểu bệnh ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung đứng thứ 12 trong các loại ung thư thường gặp ở phụ nữ và đứng thứ 3 trong các loại ung thư bộ phận sinh dục nữ, sau ung thư cổ tử cung và ung thư buồng trứng. Đa số trường hợp ung thư nội mạc tử cung xảy ra ở bệnh nhân trên 50 tuổi. Ngày nay tuổi thọ của phụ nữ tăng lên, nên ung thư nội mạc tử cung cũng gia tăng theo tuổi. Dưới đây là những điều cần biết về ng thư cổ tử cung.

roi-loan-kinh-nguyet-1_0

Triệu chứng thường gặp của ung thư nội mạc tử cung

Ở giai đoạn sớm, có triệu chứng ra dịch âm đạo bất thường như huyết trắng hay ra máu ngoài kỳ kinh. Ở giai đoạn trễ: xuất huyết âm đạo dai dẳng hay ra dịch hôi, đau tức vùng hạ vị (do tử cung ứ dịch), tiểu khó, đi tiêu khó (do tử cung chèn ép bàng quang và trực tràng). Muộn hơn có thể gây dò bàng quang – âm đạo, hoặc trực tràng – âm đạo hoặc dò bàng bàng quang – âm đạo – trực tràng.

Phần lớn ung thư xuất phát từ những tuyến của nội mạc, khởi đầu có dạng như những chồi, polyp trong lòng tử cung, bề mặt bướu có phần hoại tử và xuất huyết gây chảy máu âm đạo đến 90% các trường hợp.

Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp chảy máu âm đạo bất thường đều có nguyên nhân từ ung thư nội mạc tử cung. Nhưng người bệnh cũng không nên chủ quan bỏ qua triệu chứng này, khi có xuất huyết âm đạo ở tuổi mãn kinh hay chảy máu ngoài chu kỳ kinh, nên đi khám chuyên khoa để được khám và làm các xét nghiệm nhằm chẩn đoán bệnh sớm và điều trị kịp thời.
Các xét nghiệm náo có thể chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung

Chỉ 1/3 số trường hợp xuất huyết âm đạo là do ung thư nội mạc tử cung, 1/3 do nguyên nhân lành tính và 1/3 là không rõ nguyên do. Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung bao gồm:

Hình ảnh học: siêu âm, CT scanner, cộng hưởng từ (MRI) để phát hiện những bất thường trong lòng tử cung (dầy nội mạc tử cung, sang thương nội mạc tử cung, hay ứ dịch trong lòng tử cung…).

Giải phẫu bệnh: nạo sinh thiết lòng tử cung trước khi điều trị để biết tuýp mô học và mức độ biệt hóa của tế bào ung thư.

Xét nghiệm thụ thể: estrogen (ER) và thụ thể progesteron (PR) giúp hướng dẫn điều trị nội tiết sau mổ. Nếu ER (+) và PR (+) thì sẽ điều trị nội tiết sau mổ (dùng progesteron dạng uống  hoặc chích) và tiên lượng tốt hơn.
Phương pháp điều trị ung thư nội mạc tử cung

Giai đoạn sớm:

Ung thư còn khu trú tại nhân tử cung, mổ cắt tử cung và hai phần phụ, có thể nạp hạch chậu hai bên hoặc không, nếu hạch chậu có di căn thì xạ trị thêm.

Giai đoạn muộn:

Ung thư xâm lấn ra khỏi tử cung, ăn lan các xơ lân cận như bàng quang, trực tràng, ruột, vạch hậu… Nếu còn cắt được tử cung thì phẩu thuật, sau đó xạ trị và hóa trị. Nếu không cắt được tử cung thì xạ trị và hóa trị.

Theo Bác sĩ Phạm Văn Bùng – Thuốc & SK