Tag Archives: vitamin

Chê độ dinh dưỡng cho người bệnh nhiễm mỡ xơ mạch

Nhiễm mỡ xơ mạch là một bệnh mạn tính của động mạch do nhiễm mỡ và xơ hóa thành mạch, làm thành mạch dày lên, xơ cứng mất tính chất đàn hồi và hẹp lòng mạch, cản trở tuần hoàn. Chế độ ăn uống có thể giúp phòng ngừa bệnh này.

Bệnh thường gặp ở những người trong độ tuổi từ 50-70.

Bệnh là hậu quả của sự tác động nhiều yếu tố qua nhiều năm như: tăng cholesterol và lipoprotein trong máu, cao huyết áp, đái đường, thường xuyên bị stress, hút thuốc lá, nghiện rượu, có yếu tố di truyền, ăn uống không hợp lý, lên cân nhanh, hoạt động thể lực ít, nhược năng giáp, viêm cầu thận, tăng axit uric trong máu và trong bệnh goutte, rối loạn cân bằng đông máu…

che-do-dinh-duong-cho-nguoi-benh-nhiem-mo-xo-mach

Đối với bệnh nhiễm mỡ xơ mạch, việc phòng bệnh là cực kỳ quan trọng, vì khi đã mắc bệnh khả năng điều trị rất hạn chế. Việc phòng bệnh cần thực hiện từ lúc còn trẻ và suốt cuộc đời, chủ yếu là loại trừ các yếu tố nguy cơ.

Các biện pháp phòng bệnh cơ bản nhất là chế độ ăn đạm và rau xanh, trái cây chín tươi. Nguồn cung cấp vitamin, chất khoáng, các chất chống oxy hóa có tác dụng phòng nhiễm mỡ và xơ mạch rất tốt.

Có thể áp dụng các thực đơn thông minh để chữa bệnh nhiễm mỡ trong máu:

Cháo bột ngô gạo tẻ:

Quấy bột ngô trong nước lạnh. Gạo tẻ cho nước vừa đủ, nấu thành cháo. Cho bột ngô vào cháo quấy đều, đun sôi thành cháo.

Chế độ ăn này có tác dụng điều trị có hiệu quả bệnh xơ cứng động mạch, bệnh động mạch vành, tắc động mạch cơ tim và tắc tuần hoàn máu. Người mắc bệnh trong máu nhiều mỡ phải ăn thường xuyên.

Cháo cà rốt, gạo tẻ: Cà rốt tươi vừa đủ, nấu với gạo tẻ thành cháo, ăn vào 2 buổi sáng, chiều. Cháo này có thể ăn thường xuyên, kéo dài, có lợi cho việc chữa và phòng bệnh huyết áp cao, giảm lượng mỡ trong máu, tăng cường thể lực cho người cao tuổi. Những người mắc bệnh đái đường, dùng bài thuốc này cũng rất tốt.

Cháo gạo tẻ, lá sen: Dùng 1 lá sen to, rửa sạch, sắc kỹ, bỏ bã, lấy nước. Cho 100g gạo vào nước lá sen, một ít đường phèn, nấu thành cháo. Bài thuốc này chữa bệnh huyết áp cao, nhiều mỡ trong máu, chứng bệnh mùa hè cảm nóng, đầu óc choáng váng, quay cuồng, tiểu ít, nước đái đỏ, rất có hiệu quả. Bài thuốc này còn có tác dụng thanh nhiệt, giảm mỡ.

Nước sơn tra pha đường: Mỗi lần dùng 15-30g sơn tra đã phơi khô. Sau khi sơn tra sắc kỹ, bỏ bã, lấy nước cho vào đường uống thay nước chè hàng ngày.

Hà thủ ô, thảo quyết minh: Hà thủ ô, thảo quyết minh, linh chi, hổ trượng, lá sen, sơn tra và lá chè mỗi thứ 15-30g, hãm nước sôi uống thay chè. Lá cát cánh tươi luộc trong 30 phút vớt đem phơi khô để dùng. Mỗi lần dùng 10g, hãm với nước sôi uống thay chè, uống lâu dài, có thể giảm cholesterol, làm mềm mạch máu, phòng trừ bệnh động mạch vành, xơ cứng động mạch, bệnh huyết áp cao…

Trà sơn tra, ngân hoa, cúc hoa: Mỗi thứ 25g, nấu nước uống thay chè. Có tác dụng thông kinh mạch, giảm mỡ trong máu.

Bột đậu xanh: Đậu xanh vo sạch, phơi khô, nghiền thành bột, pha vào nước sôi, uống trước bữa ăn sáng và tối. Mỗi lần 30g, ngày uống 3 lần, uống liền trong một tháng là một đợt.

Chè vừng đen với dâu: Vừng đen 60g, quả dâu 60g, đường trắng 100g. Vừng đen, quả dâu, gạo rửa, vo sạch cho vào giã nát, sau đó cho 3 bát nước vào nồi nấu sôi lên rồi cho đường trắng vào, sau đó cho các thứ giã vào nấu chín thành dạng cháo ăn lúc còn ấm.

Nguồn báo tiền phong

Vitamin C ảnh hưởng đến người đau dạ dày như thế nào

Nhiều người đau dạ dày do viêm, loét thường được khuyên không nên ăn chua để tránh tăng acid dịch vị gây ra các cơn đau do kích thích các ổ viêm loét.

Vitamin C (acid ascorbic) có vị chua nên nhiều người lầm tưởng là có bệnh dạ dày thì không được dùng nó. Tuy nhiên, vitamin C là một sinh tố cần thiết cho sức khỏe và có tác dụng tốt bảo vệ thành mạch. Hơn nữa, vitamin C không chỉ là thuốc và không phải chỉ có trong những trái cây chua như chanh, cam… mà nó cũng còn có nhiều trong những trái cây ngọt như đu đủ, dưa hấu… và trong nhiều loại rau cải như bông cải trắng, bông cải xanh, ớt chuông, rau dền, măng tây, giá, hành tây… Do đó, người bị đau dạ dày vẫn cần ăn đủ các thức ăn trên để cơ thể tăng sức đề kháng và không bị thiếu sinh tố C.

vitamin-c-anh-huong-den-nguoi-dau-da-day-nhu-the-nao

Dùng vitamin C không những không hại đến dạ dày mà còn giúp giảm nguy cơ bị nhiễm vi trùng H.Pylori là nguyên nhân thường nhất gây viêm, loét dạ dày. Vitamin C có tác dụng bảo vệ dạ dày nếu tiêu thụ trong mức cho phép. Duy trì hàm lượng vitamin C bình thường trong dịch dạ dày có thể phát huy hiệu quả chức năng của dạ dày, bảo vệ bụng và tăng cường sức đề kháng cho dạ dày. Tốt nhất nên bổ sung vitamin C từ các loại rau củ quả.

Tất nhiên, việc dùng vitamin C đối với bệnh dạ dày nói riêng hoặc các bệnh khác nói chung đều phải tuân thủ về liều lượng và thời gian sử dụng để tăng tác dụng điều trị. Việc dùng liều cao và kéo dài thuốc này có thể gây viêm, loét dạ dày vì bản chất acid của nó. Vì vậy, khi dùng thuốc cần phải dùng đúng cách và đúng lúc theo lời khuyên của thầy thuốc.

Theo Người lao động

Để cơ thể luôn tràn trề năng lượng

Khi cảm thấy thường xuyên rơi vào tình trạng mệt mỏi chính là lúc bạn cần tìm cách tăng cường năng lượng cho cơ thể để lấy lại sự tỉnh táo và niềm lạc quan, yêu đời.

Nước lạnh. Nghiên cứu từ Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh của Mỹ cho thấy, phụ nữ thường mệt mỏi hơn so với nam giới. Bác sĩ Shilpi Agarwal, một chuyên gia thể dục Mỹ cho biết, bắt đầu một ngày mới với ly nước lạnh giúp cơ thể khoan khoái hơn.

Cơ thể phải làm việc để làm ấm lượng nước khi đưa vào và điều đó có tác dụng đốt cháy ít nhiều calo. Nếu buổi sáng tiêu thụ quá nhiều tinh bột và nước ngọt sẽ gây ảnh hưởng xấu đến lượng đường trong máu. Khi đường trong máu tăng, cơ thể sẽ rơi vào tình trạng mệt mỏi.

de-co-the-luon-tran-tre-nang-luong-2

Vận động. Agarwal cho hay 25 – 45 phút tập thể dục mỗi ngày giúp tim mạch khỏe hơn cũng như giúp giấc ngủ được sâu hơn. Thêm vào đó, khi vận động ngoài trời, bạn có cơ hội thưởng thức nhiều nguồn năng lượng tự nhiên có ích.

Xa màn hình máy tính. Nhìn chằm chằm vào máy tính trong nhiều giờ liền sẽ khiến năng lượng bị hao tổn và mắt cũng mệt mỏi. Tìm một chỗ riêng trong văn phòng để thực hiện một vài động tác đơn giản có tác dụng giúp cơ thể thư giãn.

Thở. Dành 5 phút nhắm mắt lại, hít thở sâu và hình dung ra những hình ảnh hạnh phúc có tác dụng thúc đẩy lượng serotonin (hóc môn hạnh phúc) tăng lên. Theo Msn, đây chính là cách giúp tăng cường năng lượng cho cơ thể.

Chào buổi sáng. Mở tung các cánh cửa trong phòng để đón lấy luồng ánh sáng và không khí ban mai ùa vào mỗi khi thức giấc để cảm nhận một ngày mới thật tràn trề sinh lực.

Ăn uống lành mạnh. Hạn chế thói quen ăn uống qua loa vào mỗi bữa sáng. Hãy đảm bảo khẩu phần ăn bao gồm protein cùng nhiều chất xơ.

Vitamin D. Phụ nữ có xu hướng thiếu vitamin D và magiê – các thành phần giúp cơ thể khỏe mạnh và tràn đầy năng lượng. Tiến sĩ Agarwal khuyến cáo cần cung cấp đủ vitamin D và magiê mỗi ngày cho cơ thể để giúp lấy lại sự tươi tỉnh

Theo thanh niên

Giảm rủi ro u não bằng cách bổ xung Axit folic

Một nghiên cứu tại Úc cho thấy phụ nữ đang có kế hoạch sinh con nếu bổ sung axit folic có thể giúp giảm rủi ro phát triển u não ở trẻ đến 50%, theo IANS.

Nghiên cứu trên kéo dài 5 năm do Viện Ung bướu não trẻ em của Úc thực hiện. Giáo sư Elizabeth Milne thuộc Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em Telethon làm trưởng nhóm.

giam-rui-ro-u-nao-bang-cach-bo-xung-axit-folic
“Nghiên cứu cho thấy việc thiếu hụt axit folic hay còn gọi là folate có thể khiến cơ thể hình thành u não. Đây là nghiên cứu đầu tiên về tác động của một loại vitamin với sự phát triển của khối u não ở trẻ. Các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào tác động chung của các loại vitamin A, B6, B12, C với dị tật ống thần kinh của trẻ”, giáo sư Elizabeth Milne cho biết.

Nghiên cứu nhấn mạnh đây là thông điệp dành cho những phụ nữ đang có kế hoạch sinh con cần bổ sung axit folic trong chế độ dinh dưỡng hằng ngày của mình.

Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Cancer Epidemiology.

Theo thanh niên

Cần giảm cân đúng cách để bảo vệ sức khỏe

 Nguy cơ bệnh tim mạch

Hai dạng béo phì thường gặp là: mỡ thừa tập trung tại vùng bụng, thường gặp ở nam giới (gọi là “bụng bia” hay người hình quả táo) và tích lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả lê). Kiểu béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột qụy.

Các phương pháp giảm cân nhanh thường chỉ mang lại tác động giảm lượng nước trong cơ thể mà không có tác động làm giảm khối mỡ trong cơ thể đặc biệt là lượng mỡ trong máu. Lượng mỡ trong máu cao khiến hàm lượng cholesterol trong máu cũng tăng cao. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột qụy tim mạch tăng cao theo tuyến tính. Các nhà khoa học khuyến cáo, nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90% vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, cố gắng duy trì con số này dưới 80%.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe
Hội chứng rối loạn chuyển hóa

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: năng lượng dư thừa là nguyên nhân chính của thừa cân – béo phì. Nhưng, giảm cân bằng cách cắt giảm triệt để việc dung nạp thức ăn vào cơ thể lại khiến cơ thể thiếu các loại chất béo, đạm, vitamin và các khoáng chất thiết yếu. Đây là nguyên nhân khiến cơ thể không thể tổng hợp các chất cần thiết làm rối loạn quá trình chuyển hoá và gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng như: rối loạn mỡ máu, tiểu đường, suy nhược sinh dục…

Suy nhược cơ thể, mất tập trung

Nhịn ăn, bỏ bữa và tránh xa các loại thịt cá là một trong những sai lầm nghiêm trọng của những người đang muốn giảm cân. Thực tế, khi nhịn ăn hoặc thực hiện chế độ ăn kiêng bất hợp lý, đồng nghĩa với việc lượng calo và dưỡng chất đưa vào cơ thể bị cắt giảm nghiêm trọng. Điều này không những không đảm bảo đủ năng lượng cho nhu cầu hoạt động hàng ngày mà còn khiến cơ thể thiếu chất. Trong quá trình giảm cân, nếu cơ thể rơi vào tình trạng uể oải, mệt mỏi, mất tập trung, chuyên gia khuyên bạn nên dừng ngay quá trình giảm cân và tìm kiếm một phương pháp giảm cân mới phù hợp hơn với thể trạng của bạn.

Cách giảm cân an toàn

Kiểm soát chế độ ăn: Một trong những vấn đề quan trọng nhất để giảm cân đó chính là có thực đơn ăn uống khoa học. Bí quyết được các chuyên gia đưa ra đó là: bổ sung nhiều rau và hoa quả vào bữa ăn hàng ngày, hạn chế ăn các chất béo và uống các dạng nước có cồn, nước ngọt; không nên ăn sau 20h.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe1
Tập luyện nhẹ: Mỗi ngày bạn nên dành ra khoảng 20 phút để tập một bài thể dục nhẹ hoặc đi bộ. Việc này vừa giúp cho bạn giảm được cân, vừa giúp nâng cao sức khỏe, giải tỏa căng thẳng và giúp đem lại giấc ngủ ngon.

Uống mỗi ngày 2l nước lọc: Uống nước để giảm cân là một phương pháp khoa học và đã được chứng minh rõ ràng. Nếu bạn không uống nước, các chất béo trong cơ thể sẽ rất khó tiến hành trao đổi chất và kết quả là khiến cho trọng lượng cơ thể tăng lên nhiều. Chức năng tiêu hóa của cơ thể cần nước, chức năng nội tiết cũng vậy, sự chuyển hóa các chất độc hại dựa vào nước để loại bỏ độc tố ra ngoài, uống nước đầy đủ còn có thể tránh rối loạn tiêu hoá. Bạn có thể uống nước nửa giờ sau khi ăn để hỗ trợ quá trình này.

Sử dụng các sản phẩm hỗ trợ giảm cân: Giải pháp được các chuyên gia khuyên dùng dành những người bận rộn hoặc đã thực hiện các bước giảm cân trên mà không hiệu quả là sử dụng sản phẩm hỗ trợ giảm cân. Bạn lưu ý nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có giấy phép của Bộ Y tế như LiteFit USA.

Phương Thảo

Theo sức khỏe đời sống

Lợi ích sức khỏe của hành lá và hành khô

Nghiên cứu cho thấy hành lá, hành khô giúp giảm cholesterol, chống vi khuẩn, virus và nấm trong cơ thể. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng giảm nguy cơ đột quỵ tim, tiểu đường.

Hành lá và hành khô là loại rau củ ngon từ các gia đình nhà tỏi tây (Allium), và có mặt tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Cả hành lá và hành khô đều có những lợi ích sức khỏe đáng ngạc nhiên vì bản thân chúng chứa chất chống oxy hóa, vitamin, khoáng chất và chất xơ. Nếu có một nhược điểm, hành lá có mùi tương tự như hành tây và hành khô và tỏi.

hanh-kho
Nghiên cứu cho thấy hành lá, hành khô giúp giảm cholesterol, chống vi khuẩn, virus và nấm trong cơ thể. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng giảm nguy cơ đột quỵ tim, tiểu đường.

Chất chống oxy hóa

Hành lá và hẹ tây có chứa chất chống oxy hoá mạnh nhằm bảo vệ các tế bào trong cơ thể tránh các bệnh ung thư. Hành khô đặc biệt giàu chất chống oxy hóa, chẳng hạn như quercetin và kaempferol. Hành lá và hẹ tây là những thứ gia vị được cho thêm vào các món ăn phổ biến như thịt chế biến các món, nước sốt, xà lách, trứng và súp… hoặc ăn sống.

Vitamin, khoáng chất

Hành lá và hành khô chứa rất nhiều các vitamin và khoáng chất. Hành lá có chứa vitamin A, B, và C. Chúng cũng cung cấp một lượng lớn vitamin K, giúp xương khỏe mạnh và chiến đấu chống lại bệnh loãng xương. Hành khô là một nguồn tuyệt vời của vitamin A và C. Sắt, canxi, và kali… là những khoáng chất được tìm thấy trong hành lá và hẹ tây.

Chất xơ

Hành lá cũng là cây có lá màu xanh lá cây, và chúng chứa một lượng chất xơ lành mạnh, hỗ trợ tốt cho hệ thống tiêu hóa. Hành khô cũng có tác dụng tốt cho hệ thống tiêu hóa tương tự như hành lá. Nếu bạn thường xuyên tăng cường các loại rau này kết hợp với các thực phẩm lành mạnh ít chất béo khác thì nguy cơ bị ung thư ruột kết cũng giảm. Các chất xơ trong hành lá và hẹ tây cũng làm giảm nguy cơ táo bón, trĩ, viêm ruột thừa.

Các lợi ích khác

Ngoài nhiều chất xơ, hành lá còn chứa rất ít calo. Nghiên cứu cho thấy hành lá giúp giảm cholesterol, chống vi khuẩn, virus và nấm trong cơ thể. Tương tự như vậy, hành khô cũng có ít cholesterol. Tiêu thụ hai loại thực phẩm này còn làm giảm nguy cơ đột quỵ tim, nguy cơ bị bệnh tiểu đường. Hành khô cũng rất giàu phenoplasts giữ cho gan khỏe mạnh.

(theo TTonline)

Vitamin nào thực sự cần thiết cho trẻ em

Vitamin và các chất khoáng là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển cơ thể trẻ em. Trẻ có sức khỏe bình thường, được bú mẹ và ăn uống đầy đủ sẽ không bị thiếu vitamin và khoáng chất.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp như trẻ sinh non, sinh đôi, trẻ lớn quá nhanh, chất lượng bữa ăn không bảo đảm, không được bú sữa mẹ, bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, rối loạn hấp thu, mắc các bệnh về gan, mật… sẽ bị thiếu vitamin và khoáng chất.

Biểu hiện của trẻ thiếu vitamin

Ths. Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng quốc gia cho biết, khi cơ thể bị thiếu vitamin và khoáng chất, trẻ sẽ chậm lớn, mắc một số bệnh, chẳng hạn: thiếu vitamin A có thể gây bệnh ở mắt, nhiễm khuẩn đường hô hấp và đường tiêu hóa; thiếu vitamin B1 dễ bị phù, viêm các dây thần kinh, suy tim; thiếu vitamin C dễ gây chảy máu dưới da và niêm mạc, làm giảm sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn; thiếu vitamin K dễ bị xuất huyết, đặc biệt xuất huyết não, màng não; thiếu vitamin D và canxi sẽ bị còi xương; thiếu kẽm dễ mắc các bệnh ngoài da; thiếu fluor dễ mắc bệnh răng miệng, thiếu sắt dẫn đến thiếu máu….
vitamin
Nếu trẻ có biểu hiện nguy cơ bị thiếu vitamin và khoáng chất, thì bổ sung các chất này cho trẻ là việc làm cần thiết. Ngoài ra, nếu bạn nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đầy đủ thì ngay cả những trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin và khoáng chất. Nhưng, việc bổ sung vitamin và khoáng chất cho trẻ phải hết sức thận trọng, vì chúng cũng có nhiều tác dụng phụ không mong muốn như bất kỳ thuốc chữa bệnh nào.

Nguyên nhân gây thiếu vitamin ở trẻ

– Trẻ sống trong những gia đình kinh tế khó khăn nên bữa ăn cho trẻ không bảo đảm chất lượng.
– Trẻ ăn phải gạo bị mốc hoặc để lâu ngày thiếu vitamin B1. Rau quả để bị héo hoặc bảo quản lạnh quá lâu. Do chế biến thức ăn không đúng như đun đi đun lại nhiều lần. Do các tục lệ ăn uống kiêng khem quá mức hoặc trẻ khôngđược bú sữa mẹ…

Ngoài ra, những trẻ bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, rối loạn hấp thu, các bệnh về gan, mật… là những trẻ hay bị thiếu Vitamin và chất khoáng. Trẻ bị bệnh sốt rét có thể gây thiếu vitamin B1 và tình trạng thiếu vitamin B1 có thể làm phức tạp thêm bệnh sốt rét.

Bên cạnh đó, những trẻ đẻ non, sinh đôi, các trẻ lớn quá nhanh do nhu cầu vitamin quá cao so với sự cung cấp của chúng ta hàng ngày.

Tuy nhiên, việc bổ sung thừa vitamin cho trẻ có thể gây nguy hiểm cho cơ thể trẻ, chẳng hạn như:
– Thừa Vitamin A có thể gây ngộ độc làm tăng áp lực nội sọ dẫn đến trẻ bị nôn nhiều, đau đầu, ảnh hưởng đến sự phát triển xương có thể làm trẻ chậm lớn, rối loạn thần kinh.
-Thừa Vitamin B6 có thể dẫn tới viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ, giảm tiết prolactin.
– Do không có hiện tượng tích lũy nên hầu như không gặp thừa Vitamin C,nhưng nếu dùng liều cao theo đường uống có thể gây viêm loét dạ dày tá tràng, tiêu chảy.
– Thừa Vitamin D có thể làm cho trẻ chán ăn, mệt mỏi, nôn, dày màng xương, có trường hợp có thể bị thiểu năng, kém trí tuệ, thậm chí gây suy thận và tử vong rất nhanh.
– Thừa Vitamin K thường chỉ gặp khi dùng đường tiêm kéo dài có thể gây tan máu và vàng da.
– Thừa canxi dẫn đến gây mệt mỏi, chán ăn, sỏi thận, tăng huyết áp…xương cốt hoá sớm có thể bị thấp chiều cao
– Thừa sắt dẫn đến gan nhiễm săt, tim nhiễm sắt dẫn đến suy tim
-Thừa kẽm dẫn đến biếng ăn, nôn, rối loạn tiêu hoá…

Lưu ý khi bổ sung vitamin cho trẻ

– Nên cho trẻ dùng dạng lỏng như dung dịch uống vì vừa dễ uống vừa dễ hấp thu.
– Sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm.

Vitamin tự nhiên có rất nhiều trong các loại rau quả, thực phẩm. Do vậy cần duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý để đảm bảo cung cấp đủ vitamin cho cơ thể. Để tránh hậu quả khôn lường do lạm dụng vitamin, cần thực hiện nguyên tắc chỉ bổ sung vitamin khi thực sự cần thiết, không được coi vitamin như là “thuốc bổ” phải dùng liên tục.

Cần đi khám bác sĩ khi có vấn đề về sức khỏe để được có các tư vấn, chỉ dẫn cần thiết. Việc xác định đúng loại vitamin mà cơ thể thiếu để bổ sung thay vì ăn uống tràn lan nhiều loại vitamin là rất quan trọng.

Nguồn vnmedia

Vỏ trái cây có tác dụng chữa bệnh kỳ diệu

Hầu hết mọi người đều gọt vỏ trái cây trước khi ăn mà không biết rằng, vỏ trái cây có tác dụng làm đẹp kỳ diệu và có tác dụng ngăn ngừa bệnh tật.

Dưới đây là tác dụng kỳ diệu của vỏ trái cây:

Vỏ chuối

Trong vỏ chuối có chứa các thành phần hoạt chất để ức chế nấm và vi khuẩn . Vỏ chuối có thể điều trị nhiễm nấm do ngứa da. Ngoài ra còn có tác dụng thông mạch, nhuận tràng. Vỏ chuối giã nát cho thêm nước gừng vào có thể chống viêm giảm đau, dùng vỏ chuối xoa lên chân tay có thể phòng bệnh nứt nẻ da mùa lạnh.

Ngoài ra, vỏ chuối phơi khô nghiền bột có thể làm mỹ phẩm làm đẹp rất tốt.
vo-cay
Dùng những miếng vỏ chuối massage nhẹ nhàng lên mặt, sau đó đắp lên những chỗ mụn chừng 30 phút rồi rửa lại bằng nước lạnh. Có thể mụn chưa đỡ ngay được. Đối với những bạn sở hữu làn da khô, có thể lấy vỏ chuối chà đều lên mặt, để trong 10 phút, rồi rửa sạch lại với nước, bạn sẽ có làn da sáng bóng mịn màng.

Đồng thời vỏ chuối có tác dụng tẩy trằng răng, bạn có thể đánh răng bình thường bằng các loại kem đánh răng thông thường, sau đó dùng mặt trong của vỏ chuối (phải là vỏ của chuối chín thì mới chứa hàm lượng cao chất potassium) chà nhẹ nhàng vào răng độ 2 phút, các khoáng chất có trong vỏ chuối chín sẽ thấm vào bề mặt răng và làm sáng răng.

Vỏ dưa hấu

Có thể làm tiêu tan cái nóng và giải khát, thanh nhiệt giải độc, vỏ dưa hấu tốt hơn ruột. Đông y dùng vỏ dưa hấu và nước ép dưa có tác dụng thanh nhiệt, tiêu tan muộn phiền, hạ huyết áp. Ngoài ra vỏ dưa còn có tác dụng rất tốt đối với các bệnh thiếu máu, họng khô, viêm bàng quang, sơ gan cổ trướng, viêm thận.

Có thể ăn trực tiếp phần cùi của vỏ dưa hấu, hoặc xắt nhỏ vỏ rồi rang khô, sau đó sắc nước uống để trị bệnh viêm, nhiệt, sưng miệng khá hiệu quả. Ngoài ra, vỏ dưa hấu cũng góp vai trò tích cực trong trị mụn trứng cá.

Vỏ táo

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy vỏ táo có tác dụng ngăn ngừa ung thư hiệu quả. Bởi trong vỏ táo chứa rất nhiều chất dinh dưỡng có thành phần tương đương thành phần các loại chất có thể chống ung thư vú, ung thư phổi, ung thư ruột kết. Hơn nữa, những chất dinh dưỡng này có tác dụng hỗ trợ các tế bào kháng ung thư sản sinh thuận lợi.

Táo giúp làm sạch mảng bám ở gốc răng một cách tự nhiên. Chúng cũng giúp tẩy những đốm vàng trên răng. Tuy nhiên, các nhà khoa học khuyến cáo không nên ăn táo và vỏ táo không rõ nguồn gốc xuất xứ để tránh tình trạng ngộ độc do các loại thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng… gây ra.

Vỏ lê

Vỏ lê có tính hàn vị chua, có tác dụng mát tim phổi, trừ hoả tiêu đờm. Vỏ lê nghiền nát có thể điều trị vết loét sưng và vết thương bên ngoài da. Vỏ lê tươi sắc nước uống nhiều lần có thể thanh độc tiêu viêm.

Những người hút thuốc nhiều, phổi bị tổn thương nên ăn nhiều loại quả này, và nên nhớ rằng ăn cả vỏ. Bởi vỏ lê chứa nhiều chất kháng khuẩn ở phổi, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, hỗ trợ hệ tim mạch khỏe mạnh. Ngoài ra, dân gian ta thường nấu vỏ lê với đường đỏ để trị ho, cảm cúm và giải rượu hiệu quả.

Vỏ dưa chuột

Vỏ dưa chuột có vị hơi chát, tính bình, giàu dinh dưỡng, có khả năng giải nhiệt cho cơ thể… Ăn dưa chuột cả vỏ sẽ giúp bạn hấp thụ Vitamin C có trong dưa tốt hơn, chất nhựa trong vỏ dưa giúp tăng cường chức năng giải độc cho cơ thể. Tuy nhiên, trước khi ăn dưa chuột cả vỏ, bạn cần chú ý rửa sạch dưa sau đó ngâm nước muối loãng khoảng 30 phút để đảm bảo vệ sinh.

Vỏ cà chua

Chất lycopene trong cà chua được coi là dưỡng chất thiên nhiên giúp chống oxy hóa hiệu quả, có thể phòng ngừa các chứng bệnh về tim mạch, ung thư. Mà dưỡng chất này có hàm lượng rất lớn trong vỏ cà chua. Do đó, khi ăn sống hoặc nấu cà chua, không nên bỏ vỏ.

Vỏ bưởi

Vỏ quả bưởi y học cổ truyền gọi là cam phao, có vị đắng, cay, có tác dụng lợi tiểu, tiêu đờm, hòa huyết giảm đau, trị phù thũng. Nếu bỏ phần trắng chỉ lấy lớp vỏ xanh thì lại có tác dụng trừ phong, tiêu đờm, đau dạ dày, đầy bụng, ăn uống không tiêu, ho. Các hoạt chất (tinh dầu) có trong vỏ bưởi có tác dụng làm giảm mỡ trong máu, làm giảm gan nhiễm mỡ. Cơm của quả bưởi có vị chua, tính lạnh, chữa chán ăn, mệt mỏi, khó tiêu, ngộ độc. Người ta còn dùng dịch quả bưởi làm thuốc khai vị và bổ giúp tiêu hóa, chống xuất huyết và làm mát cơ thể, giúp tinh thần thư thái.

Vỏ cam, quýt

Vỏ cam, quýt chứa nhiều vitimin C, carotene, protein. Ăn cháo vỏ cam, quýt vừa thơm miệng lại có tác dụng tiêu đờm, trị chứng chướng bụng, khó tiêu. Uống trà vỏ cam, quýt giúp ăn ngon miệng, thông khí, nâng cao tinh thần. Uống rượu ngâm với vỏ cam, quýt có tác dụng tiêu đờm, thanh lọc phổi.

Vỏ bí đao

Đại bộ phận quả bí đao là nước và không có chất béo. Theo đông y, toàn bộ cây bí đao, gồm: thân, lá, quả, vỏ quả và hạt đều là những vị thuốc tốt, không độc. Đặc biệt, vỏ quả bí đao có tác dụng tiêu sưng, viêm, rất tốt cho những người mắc bệnh tiểu đường.

Có công dụng thanh nhiệt và có thể điều trị bệnh thận, bệnh phổi, bệnh tim gây ra bởi phù, đầy bụng, khó tiểu,… Ngoài ra, dùng vỏ bí đao sắc với nước để rửa chân để trị chân có mùi hôi.

Theo VnMedia.vn

Bệnh phổ biến do thiếu vitamin D gây ra

 Nhiều căn bệnh mãn tính khó chữa chính là kết quả của việc thiếu hụt vitamin D trong một thời gian dài. Trong số đó có các bệnh nguy hiểm như cao huyết áp, ung thư…
1. Hen suyễn

Mặc dù nguyên nhân rõ ràng của bệnh hen suyễn vẫn còn là đề tài tranh luận của các nhà khoa học nhưng trong nhiều nghiên cứu gần đây, người ta đã phát hiện ra nhiều mối liên hệ giữa tình trạng thiếu hụt vitamin D của cơ thể và căn bệnh hen suyễn.

Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định việc giảm nồng độ vitamin D trong cơ thể là một trong những yếu tố chính gây ra bệnh này, đặc biệt là ở trẻ em. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra các công dụng của vitamin D bao gồm khả năng giúp làm giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng hen suyễn, và có thể giúp chữa trị tình trạng viêm đường hô hấp.

2. Tăng huyết áp

Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y học của Mỹ đã phát hiện ra rằng những bệnh nhân bị tăng huyết áp sẽ ở trong tình trạng tốt hơn, nghĩa là huyết áp được cân bằng khi nồng độ vitamin D trong máu của họ tăng lên.

Hydroxyvitamin D một loại vitamin D, đã được chứng minh có khả năng điều chỉnh tình trạng viêm mạch máu và làm giảm huyết áp ở những bệnh nhân cao huyết áp. Ngược lại, người bị thiếu vitamin D thường có xu hướng bị tăng huyết áp và không kiểm soát được tình trạng huyết áp.

3. Bệnh viêm đại tràng

Nhiều nghiên cứu được tiến hành ở châu Âu, Ấn Độ, và Hoa Kỳ đã xác định được mối liên hệ giữa nồng độ vitamin D và nguy cơ mắc các bệnh về đường tiêu hóa. Cụ thể là nồng độ vitamin D càng thấp thì nguy cơ mắc các bệnh về ruột và dạ dày càng cao, đặc biệt là bệnh viêm loét đại tràng.

Kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy người dân ở những vùng thường tiếp xúc với ánh sáng mặt trời tự nhiên có khả năng tổng hợp vitamin D cao hơn và cũng ít bị viêm đại tràng hơn.

4. Cảm cúm
8-benh-pho-bien-do-thieu-vitamin-d-gay-ra
Từ lâu, các nhà khoa học đã cho biết rằng tỷ lệ mắc bệnh cảm cúm cao nhất vào mùa đông khi chúng ta ít có cơ hội tiếp xúc với ánh nắng. Điều này, kết hợp với các nghiên cứu khác, cho thấy vitamin D giúp tăng cường hệ miễn dịch.

5. Bệnh tiểu đường

Một nghiên cứu đăng trên tạp chí, AIDS, năm 2011 phát hiện ra rằng thiếu hụt vitamin D có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng của hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân HIV.

Nhưng trong quá trình nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu cũng tìm thấy rằng việc duy trì nồng độ vitamin D cao thông qua việc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, bổ sung thực sự có thể giúp giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2.

6. Sâu răng

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã tiến hành thực nghiệm và các kết quả thu được cho thấy sức khỏe răng miệng kém phần lớn là do thiếu vitamin D. Việc cung cấp cho cơ thể mức độ vitamin D cần thiết, chúng ta đã giúp thúc đẩy sự vôi hóa lành mạnh của răng, trong khi thiếu chất dinh dưỡng quan trọng này có thể dẫn đến nguy cơ sâu răng cao hơn.

7. Viêm khớp dạng thấp

Nếu bạn hay người quen của bạn bị viêm khớp dạng thấp, rất có thể bạn sẽ quan tâm đến nồng độ vitamin D trong cơ thể. Một nghiên cứu gần đây của Canada đã tìm thấy một mối tương quan lớn giữa việc thiếu hụt vitamin D và chứng viêm khớp dạng thấp.

Trong thực tế, những người có nồng độ vitamin D trong máu thấp dễ bị các bệnh liên quan đến viêm khớp hơn những người khác đến 5 lần.

8. Ung thư

Cho dù đó là cơ quan nào trong cơ thể bạn, từ tuyến tiền liệt, cổ tử cung, đại trực tràng, thực quản, dạ dày, nội mạc tử cung, buồng trứng, tuyến tụy, hay thận thì chúng đều có nguy cơ bị ung thư.

Các nhà nghiên cứu cho biết, những người có nồng độ vitamin D trong máu càng thấp càng có nguy cơ mắc các bệnh ung thư. Ngược lại, những người có mức vitamin D tối ưu có xu hướng khỏe mạnh và phòng chống ung thư tốt  hơn.

Theo ttvn

Để có làn da không bị khô, mẩn ngứa trong mùa đông

Vào mùa đông, da dễ bị khô, mẩn ngứa vì không được bổ sung dinh dưỡng cần thiết. Chính vì vậy, việc chăm sóc và giữ da khỏe mạnh lại càng cần thiết hơn hẳn các mùa khác.

Thay vì phí tiền vào mỹ phẩm đắt đỏ, bạn nên dưỡng da từ bên trong bằng cách ăn uống phù hợp. Hãy bổ sung các loại thực phẩm chứa các loại dinh dưỡng sau để “cứu nguy” cho làn da bạn, giúp da không bị tác động bởi ánh mặt trời, giảm thiểu các bệnh ngoài da và tránh được nguy cơ lão hóa.

Bổ sung axit béo thiết yếu

Cơ thể chúng ta không thể tự sản xuất axit béo thiết yếu (EFA). Vì vậy, bạn cần phải cung cấp các chất béo thiết yếu hàng ngày để giúp cho màng tế bào trở nên linh hoạt và dẻo dai, giúp da giữ được vẻ trẻ trung, đồng thời giảm hẳn tình trạng khô và viêm da. EFA cũng có tác dụng giảm viêm, bảo vệ lớp dầu tự nhiên của da, duy trì độ ẩm và ngăn ngừa tắc nghẽn lỗ chân lông.
de-co-lan-da-khong-bi-kho-man-ngua-trong-mua-dongde-co-lan-da-khong-bi-kho-man-ngua-trong-mua-dong
Nguồn cung cấp axit béo thiết yếu gồm có dầu oliu các loại, dầu hạt cải, các loại hạt như hạt óc chó, hạt dẻ, hạnh nhân, các loại cá hồi, cá thu, cá trích. Bạn đừng bỏ qua các loại thực phẩm này nhé, hãy bổ sung chúng để bảo vệ da trong mùa đông, giúp cho da khỏe hơn.

Vitamin A

Không chỉ hỗ trợ chống lại quá trình oxy hóa và lão hóa của tế bào đồng thời duy trì sức khỏe và tuổi thọ của các tế bào mắt, vitamin A còn ngăn ngừa sự mất độ ẩm tự nhiên của da. Đây là một loại vitamin tuyệt vời cho người bị khô da và mụn trứng cá. Bạn có thể tìm thấy vitamin A nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, các loại rau củ quả màu cam, màu vàng…

Mỗi ngày, hãy cân bằng lượng thực phẩm chứa vitamin A để giữ sức khỏe cho da, loại bỏ nguy cơ ngứa hoặc dị ứng da khi nhiệt độ giảm.

Vitamin C

Vitamin C là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ, có thể giúp cơ thể tiêu diệt các gốc tự do. Vitamin C còn là thành phần rất cần thiết để xây dựng và duy trì collagen, duy trì sức khỏe của da vì collagen giúp tế bào da kết dính với nhau, bảo vệ da khỏi tác hại từ môi trường. Nguồn vitamin C gồm các trái cây họ cam quyết, kiwi, dâu, đu đủ, bông cải…

Vì vậy, bạn nên bổ sung các loại trái cây để duy trì và cải thiện làn da của mình tránh khỏi những tổn hại như da khô, bị mẩn ngứa… trong mùa đông.

Vitamin D3

Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng việc tăng lượng vitamin D của bạn sẽ làm giảm những tác động mà khí hậu lạnh, thời tiết khô hanh có thể gây ra trên da của chúng ta, đặc biệt là vitamin D3. Vitamin D3 hỗ trợ giữ lại độ ẩm cần thiết cho da. Vào mùa đông, bổ sung vitamin D3 là điều cần thiết để hỗ trợ hệ thống miễn dịch và làn da của bạn. Bạn có thể tìm được vitamin D3 trong các loại nấm, thịt cá…

Ngoài việc giữ cho da không bị thiếu nước, vitamin D3 trong thực phẩm còn giúp điều hòa lưu thông dưới da giúp da vừa khỏe mạnh, lại được bổ sung và hấp thụ đủ dưỡng chất.

Selenium

Selenium là một khoáng chất chống oxy hóa cần thiết, giúp dọn sạch các gốc tự do và tăng cường khả năng  tự chữa lành của cơ thể. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng selenium có các đặc tính chống ung thư mạnh và còn làm chậm quá trình lão hóa.

Bạn nên ăn nhiều hạt hướng dương, trứng, tôm, cá để cung cấp thêm selenium cho cơ thể. Selenium giúp bảo vệ tế bào da khỏi tác hại của gốc tự do, tăng độ đàn hồi của màng tế bào và làm giảm hình thành hắc sắc tố do tiếp xúc ánh nắng mặt trời, giúp da căng mọng và không bị lão hóa sớm.

Nước

Hãy nhớ uống nhiều nước để giúp giữ độ ẩm cho làn da. Trà và cà phê là những thức uống lợi tiểu, do đó có thể làm da bạn càng thêm khô.

Tốt nhất, bạn nên uống nước lọc, thêm vào ít chanh. Cung cấp đủ nước cho cơ thể không chỉ hạn chế tình trạng khô da mà còn giúp sự trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ, giúp loại bỏ độ tố và làm cho da có cơ hội hấp thụ nhiều dưỡng chất hơn.

Theo afamily

Lợi và hại cho con sử dụng vitamin tổng hợp?

Với sự xuất hiện ngày một nhiều của các sản phẩm bổ sung vitamin cho bé, các bậc phụ huynh không khỏi hoang mang trong việc tìm ra sản phẩm phù hợp nhất với con yêu của mình.

Được sản xuất trên 21 quy trình chuẩn tại Mỹ, có dưỡng chất DHA giúp trẻ phát triển trí não tối ưu, được thiết kế hình động vật đáng yêu, hương vị hoa quả hấp dẫn… những viên kẹo dẻo Animal Parade VitaGels được coi là bước đột phá trong ngành công nghiệp dược phẩm bởi sự thân thiện với người dùng.

Tuy nhiên, không ít bậc cha mẹ vẫn không khỏi ngần ngại khi bỏ tiền mua sản phẩm này cho các con yêu.
vitamin tong-hop
1. Tôi thấy giá của sản phẩm Animal Parade VitaGels đắt hơn nhiều so với các sản phẩm bổ sung vitamin khác cho bé. Vì sao lại như vậy?

Trả lời: Bạn thân mến, điểm khác biệt lớn nhất của Animal Parade VitaGels – Nature’s Plus so với các sản phẩm khác chính là sự có mặt của dưỡng chất DHA trong thành phần sản phẩm. Vai trò của DHA là giúp bé phát triển trí não, thông minh vượt trội; phát triển thị giác và tăng cường miễn dịch. Rất hiếm sản phẩm vitamin tổng hợp trên thị trường có chứa DHA. Đây là lí do VitaGels đắt hơn các sản phẩm thông thường.

2. Con tôi biếng ăn kinh khủng, sản phẩm này có giúp bé ăn ngon được không?

Trả lời: Một trong những công dụng lớn nhất của VitaGels chính là giúp bé ăn ngon; bổ sung dưỡng chất thiếu hụt cho bé do kén ăn, biếng ăn, dị ứng thực phẩm… Vì vậy, đây chính là sản phẩm thích hợp cho bé yêu của bạn.

3. Sản phẩm này có mùi gì? Con gái tôi 5 tuổi, cháu rất sợ uống thuốc. Tôi sợ mua sản phẩm về cháu không uống.

Trả lời: Sản phẩm có mùi quả anh đào thơm nhẹ; không gây, không hăng như các loại thuốc hay các sản phẩm bổ sung thông thường, bạn có thể hoàn toàn an tâm về mùi vị của sản phẩm. Nếu bé của bạn ăn được kẹo mùi hoa quả, bé cũng sẽ dùng được sản phẩm này.

4. Viên này uống thế nào? Có to không? Con tôi 4 tuổi, lúc uống thuốc cháu hay bị trớ lắm.

Trả lời: Mỗi viên uống VitaGels đều được thiết kế dưới dạng các viên kẹo dẻo hình động vật ngộ ngĩnh màu đỏ. Bạn hoàn toàn an tâm về việc bé sẽ không phải nuốt những viên thuốc cứng hay to nhé. Khi nhai VitaGels, bé nhà bạn sẽ thích thú như đang nhai kẹo vậy

5. Sản phẩm này dùng cho trẻ mấy tuổi? Có bao nhiêu viên? Dùng thế nào? Dùng trong bao lâu?

Trả lời: Đây là sản phẩm dành cho bé từ 4 tuổi trở lên. Mỗi hộp sản phẩm bao gồm 90 viên nhai. Chỉ cần mỗi ngày nhai 1 viên, bé sẽ được bổ sung đầy đủ vitamin, khoáng chất và đặc biệt là DHA. Với 1 hộp sản phẩm, bé có thể dùng trong 3 tháng

6. Sản phẩm có gây tác dụng phụ gì không?

Trả lời: Sản phẩm không gây bất cứ tác dụng phụ gì cho bé. Đây cũng không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

7. Những trẻ nào nên dùng sản phẩm này?

Trả lời: Đây là sản phẩm bổ sung vitamin, khoáng chất và DHA giúp phát triển trí não, vì vậy, bạn có thể dùng cho tất cả các bé từ 4 tuổi trở lên, đặc biệt:

– Bé kém hấp thu, biếng ăn, dị ứng thức ăn, chậm tăng cân

– Bé tới tuổi đi học

8. Tôi đã từng mua sản phẩm này, nếu mua tiếp, tôi có được giảm giá không?

Trả lời: Tất cả các khách hàng khi mua sản phẩm tại Nhathuoc365.vn đều sẽ được tích điểm và được giảm giá trong các lần mua sau. Tuy nhiên, hiện tại, đối với riêng sản phẩm Animal Parade VitaGels, Nhathuoc365.vn đang giảm giá tới 40% cho thành viên của website Methongtphimhai.com.vn chỉ trong tháng 4/2013. Đây là mức giảm giá chưa từng có tại Việt Nam đối với sản phẩm này.

Theo tiền phong

Thừa canxi có thể hạn chế chiều cao

Bổ sung quá nhiều canxi có thể khiến cơ thể trẻ dư thừa và ảnh hưởng tới sự phát triển chiều cao.

Vì cả hai vợ chồng chị Loan (Hà Nội) đều có chiều cao khá khiêm tốn nên khi mới sinh cháu đầu lòng, cả hai vợ chồng đều rất chú ý tới việc bổ sung các chất cho con, đặc biệt là canxi để cải thiện chiều cao cho bé. Bé Bin, con của chị càng lớn, chị lại càng tìm cách để con được hấp thụ nhiều canxi hơn. Thậm chí, chị còn mua thêm các loại thuốc bổ sung canxi trên thị trường để cho bé uống mỗi ngày.

Tuy nhiên, mặc dù được ăn uống đủ chất, vậy nhưng cu Bin vẫn còi và còn hay bị chứng táo bón. Lo lắng, chị Loan đưa con đi khám thì được bác sĩ cho biết rằng, con chị bị táo bón là do… thừa canxi. Không chỉ vậy, bác sĩ còn đưa ra lời cảnh báo rằng “Việc dư thừa canxi ở trẻ không những không tốt mà nó còn gây ra nhiều hậu quả khác như việc trẻ có thể bị sỏi thận và hạn chế phát triển chiều cao”…
chieu-cao-o-tre
Có rất nhiều yếu tố quyết định đến chiều cao của trẻ như gene, hàm lượng vi chất (sắt, kẽm, vitamin A, canxi…). Do đó, để trẻ đạt chiều cao tốt, cần tăng cường chế độ ăn với thực phẩm nhiều vi chất, khuyến khích trẻ tập luyện thể dục thể thao thường xuyên.

Cha mẹ tuyệt đối không nên tự mua thuốc tăng cường canxi cho trẻ mà nên đi khám để dùng theo tư vấn của bác sĩ. Dư thừa canxi sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển chiều cao ở trẻ nhỏ. Việc hấp thụ canxi còn phụ thuộc vào thể trạng của từng trẻ, bởi vậy việc người lớn tìm cách bổ sung canxi cho con sẽ không mấy tác dụng nếu thể trạng của trẻ bị yếu và khó khăn trong việc hấp thị canxi.

Cách bổ sung canxi an toàn, hiệu quả là qua đường thực phẩm, như sữa, ăn tôm, tép, ốc, cua, trứng và các loại rau, đậu… Khi trẻ có biểu hiện táo bón, đau bụng, đi tiểu ra sỏi, máu…, cần đưa đi khám để xác định có bị thừa canxi không và điều trị theo chỉ định của bác sĩ.

Hàng ngày, cơ thể trẻ có thể hấp thụ canxi thông qua các thực phẩm. Tỷ lệ hấp thụ canxi của cơ thể không phải là vô hạn mà nó có mức độ.  Chính vì vậy mà việc cung cấp canxi quá nhiều sẽ chỉ dẫn đến dư thừa và lãng phí chứ không hề làm cho xương phát triển tốt.

Những trẻ em nào cần được bổ sung canxi

Thiếu hụt canxi ở trẻ sẽ dẫn đến chứng còi xương, tóc mọc chậm và lâu biết đi. Thông thường, các bậc cha mẹ thường khó nhận biết rằng con đang bị thiếu hụt canxi. Khi thấy con có những triệu chứng đó thì dễ nhầm với các bệnh khác.

Để biết con đang bị thiếu hụt canx hay không, các mẹ hãy quan sát tới giấc ngủ của con qua những biểu hiện, con khó ngủ, thường hay giật mình tỉnh giấc. Ngoài ra, còn có những biểu hiện khác như trẻ mọc răng muộn. Tuy nhiên, ngay cả khi biết con đang bị thiếu canxi, các bậc cha mẹ cũng nên đưa con tới các bác sĩ để xin tư vấn chứ không nên tự ý bổ sung canxi cho con.

Vitamin D chính là cách bổ sung canxi tốt nhất cho con

Vitamin D có hiệu quả thúc đẩy sự hấp thụ canxi của cơ thể, vì thế nó được coi là chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cửa dẫn đến chuyển hóa canxi. Trẻ em cần bổ sung 400 đơn vị vitamin D mỗi ngày để trợ giúp sự hấp thụ canxi của cơ thể. Vitamin D trong cơ thể có thể tổng hợp dựa vào các chế phẩm canxi có chứa vitamin D hay qua việc phơi nắng hàng ngày.

Theo afamily

Những đồ uống tốt nhất và tệ nhất cho sức khỏe của bé

Thức uống cho trẻ rất đa dạng nhưng không phải đồ uống nào cũng tốt cho sức khỏe của bé. Cha mẹ hãy cân nhắc để có sự lựa chọn thông thái nhất!

Đồ uống tưởng chừng là chuyện nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày nhưng lại không hề đơn giản, đặc biệt với trẻ em. Thức uống cho trẻ rất đa dạng, từ nước ép trái cây, sữa tươi, sữa đậu nành đến sinh tố… Chúng góp phần quan trọng trong việc cung cấp canxi cho xương phát triển, năng lượng cho vận động và các vi khoáng chất cần thiết cho hệ miễn dịch của bé.

Tuy nhiên, không phải thức uống nào cũng tốt cho bé. Bài viết dưới đây sẽ mang đến cho các mẹ một vài thông tin cần thiết để biết cách lựa chọn nước giải khát cho con mình một cách khoa học, lành mạnh.

Hãy xem thức uống nào tốt và thức uống nào tệ cho bé để có sự lựa chọn thông thái các mẹ nhé!

Lưu ý: Các thông tin trong bài này là dành cho trẻ em từ 1 tuổi trở lên. Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi chỉ nên bú sữa mẹ hoặc uống sữa công thức. Từ 6-12 tháng trẻ cũng có thể uống một lượng nhỏ nước. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên bạn nên chờ cho đến khi con mình tròn 1 tuổi thì mới bắt đầu cho bé làm quen với sữa bò.

1. Đồ uống tốt cho sức khỏe bé

Nước lọc

Không gì có thể thay thế được nước bởi nó giúp dưỡng ẩm, điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, ngăn ngừa táo bón và nhiễm trùng đường tiểu mà không cần phải bổ sung thêm calo hoặc đường. Nước cũng là một nguồn florua tốt cho cơ thể (điều này rất quan trọng để có một hàm răng khỏe mạnh). Vì vậy, các mẹ nên khuyến khích con uống nhiều nước. Tuy nhiên, các mẹ cần chú ý là mỗi giai đoạn, cơ thể các con cần lượng nước khác nhau nhé!

Nước khoáng
nhung-do-uong-tot-nhat-va-te-nhat-cho-suc-khoe-cua-be
Là nước uống có chứa các chất khoáng như natri, kali, can-xi, magie… Các loại nước khoáng do chứa thêm các chất khoáng nên đối với trẻ nhỏ cần được dùng đúng lúc, đúng đối tượng và không được sử dụng bừa bãi. Đặc biệt, các mẹ không nên dùng loại nước khoáng có chứa hàm lượng khoáng cao để pha sữa vì chức năng thận của trẻ còn yếu không đào thải được chất khoáng dư thừa ra khỏi cơ thể, vì vậy những chất khoáng dư thừa sẽ tích lũy lại trong người và gây rối loại nhịp tim, tăng huyết áp, phù…

Sữa bò

Sữa bò là một nguồn cung cấp canxi, vitamin D cũng như protein và các chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển lành mạnh của trẻ. Theo Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ (AAP), hầu hết trẻ em sẽ có đủ canxi và vitamin D nếu uống sữa bò mỗi ngày.

Trẻ 1 tuổi có thể uống sữa bò nguyên chất, trừ khi chúng đang có nguy cơ cao mắc bệnh béo phì. Trẻ từ 2 tuổi trở lên nên dùng sữa ít chất béo. Chú ý, các mẹ không nên cho trẻ uống quá nhiều sữa mỗi ngày bởi vì trẻ có thể không có chỗ cho các loại thực phẩm khác.

Sữa mẹ

Sữa mẹ là lựa chọn tuyệt vời nhất để cung cấp năng lượng và dinh dưỡng, cũng như đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển tối ưu của trẻ. Ngoài ra, việc cho con bú còn giúp hỗ trợ tinh thần cho trẻ và tình mẫu tử sâu sắc hơn.

Thức uống sử dụng chế phẩm từ sữa, sữa chua

Hầu hết các thức uống làm từ sữa đều có chứa các chất dinh dưỡng tương tự như sữa, nhưng một số lại không được tăng cường vitamin D. Do đó, các mẹ nên chú ý đọc nhãn dinh dưỡng trước khi quyết định lựa chọn loại thức uống làm từ sữa cho con. Một số lại được bổ sung thêm các vi khuẩn có lợi để hỗ trợ tiêu hóa và bảo vệ cơ thể khỏi vi khuẩn đường ruột có hại. Tuy nhiên, lượng vi khuẩn cũng có thể không đủ để tạo ra sự khác biệt trong sức khỏe của trẻ.

Sữa đậu nành
nhung-do-uong-tot-nhat-va-te-nhat-cho-suc-khoe-cua-be1
Sữa đậu nành không chứa chất béo bão hòa hay cholesterol nên rất tốt cho sức khỏe của trẻ. Tuy nhiên, vấn đề là sữa đậu nành có chứa ít chất dinh dưỡng hơn sữa bò. Nếu các mẹ lựa chọn sữa đậu nành để thay thế sữa bò cho con mình thì các bác sĩ có thể đề nghị bổ sung thêm vitamin.

Để tận dụng tối đa lợi ích của sữa đậu nành, các mẹ có thể lựa chọn một thương hiệu sữa nào đó có bổ sung canxi và vitamin A, D và B12.

Sữa gạo, sữa hạnh nhân và nước dừa

Sữa gạo, sữa hạnh nhân và nước dừa có chứa các chất dinh dưỡng và lượng protein ít hơn so với sữa bò. Vì vậy, nó không phải là một thay thế tốt đối với trẻ trên 1 tuổi.

Lưu ý: Các chuyên gia tại Consumer Reports gần đây cho thấy mức độ đáng lo ngại của asen trong sữa gạo (gạo và các sản phẩm khác). Dựa trên những kết quả, họ khuyên rằng trẻ em dưới 5 tuổi không nên uống sữa gạo hàng ngày.

Nước ép trái cây

Nước trái cây là thức uống tốt cho trẻ. Chúng vừa cung cấp nước lại vừa cung cấp các vitamin và khoáng chất cho cơ thể. Ngoài ra, chúng giúp xóa tan những mệt mỏi, tăng cường chức năng hoạt động của não và kích thích hoạt động mạch máu, giúp lưu thông khí huyết tốt trong cơ thể người.

Tuy nhiên, dùng trái cây cả quả là một lựa chọn tốt hơn. Nước trái cây thiếu chất xơ và chứa ít vi chất dinh dưỡng hơn khi ăn cả quả. Trẻ em có xu hướng thích uống nước trái cây hơn. Vì vậy, cha mẹ nên khuyễn khích con ăn trái cây cả quả để nhận đầy đủ vitamin và chất xơ có trong hoa quả.

Nước ép rau

Những loại nước ép rau có thể là một cách dễ dàng để cung cấp khẩu phần rau cho cơ thể mỗi ngày. Củ đậu, bí xanh, nước rau má… rất tốt cho cơ thể nhất là đối với trẻ bị thừa cân, béo phì vì vừa không sợ bị tăng cân, mà còn có tác dụng giải nhiệt nhất là trong những ngày hè nóng bức.

Tuy nhiên, một số loại nước ép rau chứa hàm lượng natri cao hơn hẳn lượng natri cần thiết cho cơ thể trẻ mỗi ngày. Điều đó bất lợi cho sức khỏe. Vì thế, khi lựa chọn loại nước ép rau, cha mẹ nên chọn loại có hàm lượng natri thấp.

Nước chanh và nước chanh tự chế

Nước chanh và nước chanh tự chế đều là nguồn cung cấp vitamin C hợp lý, nhưng cả hai phiên bản tự chế và mua ở cửa hàng đều có chứa nhiều đường, mà đường nhiều thì không tốt cho trẻ.

2. Đồ uống không tốt cho sức khỏe của bé

Soda và các loại nước có ga

Nước soda va các loại nước có ga không có giá trị dinh dưỡng. Hầu hết các nhãn hiệu đều có chứa màu hoặc hương vị nhân tạo. Chúng cũng chứa đường hoặc chất ngọt nhân tạo. Trẻ em không nên uống nhiều vì có thể gây thừa cân, béo phì hoặc đầy bụng, biếng ăn và cung cấp calo rỗng.

Trà xanh, đen và trà thảo mộc

Trà xanh hoặc trà đen có chứa chất chống oxy hóa có lợi nhưng trà cũng có chứa caffeine không có lợi cho sức khỏe của trẻ. Cha mẹ nên cân nhắc khi cho con uống loại thức uống này nhé. Nếu bé quá thích trà thì mẹ nên lựa chọn những loại trà dành cho trẻ em. Và đừng quên bổ sung các thức uống khác giàu chất dinh dưỡng hơn cho con.

Trà thảo mộc vốn không có giá trị dinh dưỡng. Trong khi một số loại trà thảo mộc có thể được an toàn, thì một số khác lại có khả năng ảnh hưởng không mong muốn và chứa một số chất độc hại.

Nước ngọt

Hầu hết các sản phẩm nước ngọt không có giá trị dinh dưỡng. Chúng chứa hoặc là các chất ngọt nhân tạo, hoặc là calo từ đường vốn không tốt cho sức khỏe. Chúng cũng có thể chứa thêm màu nhân tạo hoặc hương vị hóa học. Nước uống thể thao còn có chứa thêm natri, không cần thiết cho trẻ. Còn nước ép quả công nghiệp lại có nhiều đường, hàm lượng chất khoáng và vitamin ít không tốt cho sức khoẻ, uống nhiều dẫn đến thừa cân – béo phì.

Đồ uống năng lượng
nhung-do-uong-tot-nhat-va-te-nhat-cho-suc-khoe-cua-be3
Những sản phẩm này không có giá trị dinh dưỡng. Hầu hết các đồ uống năng lượng có chứa một lượng lớn caffeine cũng như đường hoặc chất ngọt nhân tạo. Một số tuy có chứa các loại thảo mộc nhưng cũng có thể không an toàn cho trẻ.

Nguồn afamily

Những căn bệnh nan y do thiếu hụt Vitamin D

Vitamin D thực chất là một loại hoóc-môn, cơ thể không thể tổng hợp mà phải lấy từ nguồn bổ sung. Nó cũng được xem là nguồn calcitro (vitamin D đã hoạt hóa) duy nhất của cơ thể ảnh hưởng đến 2.000 gen, đặc biệt là tăng cường miễn dịch. Vì lý do này nếu thiếu hụt vitamin D sẽ gây ra rất nhiều loại bệnh nan y, trong đó có 10 căn bệnh dưới đây.

1. Bệnh cúm

Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí Cambridge Jourrnal của Anh số ra tháng 3/2013, nếu thiếu hụt vitamin D ở trẻ em dễ phát sinh bệnh về đường hô hấp. Vì vậy, các bậc phụ huynh cần quan tâm bổ sung đầy đủ vitamin D cho trẻ, nhất là bằng cách tắm năng và ăn uống.

2. Suy nhược cơ bắp

Theo Michael F. Holick, chuyên gia vitamin D hàng đầu ở Đại học Zurich, Thụy Sĩ, những người có sức khỏe cơ bắp yếu là do thiếu hụt vitamin D trầm trọng, bởi đây là dưỡng chất rất cần cho cơ xương hoạt động đúng chức năng, không bị suy nhược.

3. Bệnh vảy nến

Sau khi kết thúc một nghiên cứu dài kỳ, Trung tâm y học PubMed của Anh đã phát hiện thấy nếu thiếu hụt vitamin D con người dễ mắc phải bệnh vảy nến. Bằng chứng, những người dân sống ở vùng ít ánh sáng tự nhiên thì tỉ lệ mắc bệnh vảy nến rất cao.

4. Bệnh thận mãn tính

Cũng theo nghiên cứu của Đại học Zurich, Thụy Sĩ, nguyên nhân gây bệnh thận mãn tính tiến triển (nhất là nhóm người phải chạy thận) là do cơ thể không thể tổng hợp đủ lượng vitamin D cần thiết dẫn đến tình trạng thiếu hụt kinh niên. Nhóm người này cần phải được bổ sung 1,25-dihydroxyvitamin D3 hoặc dưỡng chất tương tự calcemic để hỗ trợ quá trình trao đổi canxi, làm giảm nguy cơ mắc bệnh thận và điều chỉnh nồng độ hoóc-môn tuyến cận giáp.

5. Đái tháo đường

Theo một nghiên cứu được tiến hành ở 10.366 trẻ em Phần Lan, công bố trên trang tin y học trực tuyến Lancet.com thì nhóm trẻ được dùng liều 2.000 đơn vị quốc tế (IU)/ngày vitamin D3 trong thời gian đầu đời, sau đó được theo dõi trong 31 năm liền thì giảm được tới 80%  rủi ro mắc bệnh bệnh đái tháo đường týp 1, điều này cho thấy vitamin D3 có tác dụng rất lớn trong việc hạn chế bệnh đái tháo đường ở trẻ nhỏ.

benh-nan-y-do-thieu-hut-vitamin

6. Bệnh hen suyễn

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản, trẻ em được cung cấp đầy đủ vitamin D sẽ giảm được đáng kể bệnh hen học đường. Liều khuyến cáo cho trẻ là 1.200 IU/ngày.

7. Bệnh nha chu

Những người bị bệnh về nướu mãn tính, đau nhức và chảy máu nướu nên tăng cường thêm vitamin D để giúp cơ thể sản xuất đủ defensins và cathelicidin. Đây là các hợp chất có chứa các vi sinh vật, giúp làm giảm vi khuẩn gây bệnh có trong miệng.

8. Bệnh tim mạch

Suy tim sung huyết là một trong số những căn bệnh dễ nhận biết nhất của hiện tượng thiếu hụt vitamin D. Đó là kết luận rút ra từ nghiên cứu do  Đại học Harvard, Mỹ, thực hiện ở phụ nữ. Theo nghiên cứu này, phụ nữ có mức vitamin D thấp (17ng /m [42nmol/L máu]) thì nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp tới 67% so với những người không thiếu hụt vitamin D, đây là căn bệnh dẫn đến mắc bệnh tim rất tiềm ẩn.

9. Tâm thần phân liệt và trầm cảm

Theo nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện thấy việc cung cấp đầy đủ vitamin D ở phụ nữ mang thai và trong thời gian thơ ấu của trẻ sẽ mang lại lợi ích to lớn, giúp não của trẻ phát triển tốt, đảm nhận tốt các chức năng thần kinh và hạn chế tối đa nguy cơ mắc bệnh thần kinh nhất, bệnh tâm thần phân liệt và trầm cảm ở trẻ nhỏ.

10. Ung thư

Trung tâm Y tế thuộc Đại học Georgetown (Mỹ) vừa kết thúc một nghiên cứu dài kỳ và phát hiện thấy mối liên kết giữa việc bổ sung liều vitamin D cao và tác dụng giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Theo nghiên cứu này,  những phụ nữ thường xuyên tắm nắng và bổ sung vitamin D qua ăn uống giảm được tới 75% rủi ro mắc các loại bệnh ung thư nói chung và 50% nguy cơ di căn ở nhóm đã mắc bệnh, nhất là ung thư vú nhạy cảm với estrogen.

Giải pháp ngăn ngừa thiếu hụt vitamin D

Có hai nguồn vitamin D tin cậy là từ ánh nắng mặt trời (tắm nắng 20 phút/ngày) và dùng thuốc bổ. Ngoài ra có khoảng 10% lượng vitamin D cần cho cơ thể mỗi ngày lấy từ thức ăn. Thực phẩm giàu vitamin D gồm dầu gan cá, các loại nước cam, ngũ cốc và sữa đã được bổ sung chất dinh dưỡng, nấm, lòng đỏ trứng… Lượng vitamin D bổ sung theo khuyến cáo của Viện Dược phẩm Mỹ từ 200 – 600 IU/ngày. Thực tế lượng vitamin D cần cho mỗi người còn phụ thuộc vào tuổi tác, lượng vitamin D có trong máu. Nếu nồng độ thấp thì phải dùng mức cao hơn, thậm chí có trường hợp dùng từ 2.000 – 4.000 IU mỗi ngày.

Theo MNC- 4/2013

KHẮC NAM

Theo SKDS

Cách nhận biết trẻ thiếu vitamin

Thừa vitamin sẽ nguy hiểm cho trẻ nhưng thiếu hụt cũng nguy hiểm không kém. Do đó, nên theo dõi trẻ có biểu hiện thiếu vitamin hay không để có cách bổ sung hợp lý nhất.

Theo báo cáo của Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO), hiện ở các nước chậm tiến mỗi năm vẫn có trên nữa triệu trẻ em bị mù vì thiếu vitamin A. Trong khi phương thức phòng ngừa tình trạng thiếu hụt viatmin A lại rất đơn giản. Để đề phòng tình trạng thiếu hụt viatmin A ở con, bạn nên quan sát những triệu chứng, những biến đổi bất thường ở trẻ.
nhan-biet-tre-bi-thieu-vitamin
Khi đó, bạn chỉ cần điều chỉnh một chút chế độ ăn uống, tăng cường bổ sung cho trẻ các loại thực phẩm chứa nhiều vitamin mà trẻ thiếu hụt là được.

– Vitamin A:

+Triệu chứng thiếu: Trẻ chậm lớn, hay mệt mỏi, biếng ăn, biếng chơi, bị khô mắt, sợ ánh sáng, ít nước mắt, da không mịn màng thường khô ráp, bông vảy, sần sùi.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn nhiều rau củ có màu đỏ như gấc, đu đủ, cà rốt, bí đỏ,…ăn nhiều gan, trứng gà.

Vitamin B1:

+ Triệu chứng thiếu: Bị tổn thương các chức năng thần kinh, hay rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy, táo bón thường xuyên), không tăng cân,..

+ Cách điều trị: Cho trẻ uống nhiều sữa tươi, ăn nhiều ngũ cốc, trứng,..Tham khảo ý kiến bác sĩ về việc uống bổ sung vitamin B1.

– Vitamin B3:

+ Triệu chứng thiếu: Bị rối loạn tiêu hóa thường xuyên, viêm miệng lưỡi, không ngủ được.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn nhiều thịt, cá, ngũ cốc, rau xanh. Không lạm dụng kháng sinh vì sẽ làm rối loạn hệ vi sinh trong đường ruột, làm giảm hấp thụ vitamin B3. Đồng thời cho trẻ uống vitamin B3 theo hướng dẫn của bác sĩ.

– Vitamin C:

+ Triệu chứng thiếu: Bị viêm nướu, sưng lợi, răng vàng và yếu, dễ sún răng, hay đau mỏi toàn thân.

+ Cách điều trị: Bổ sung cho trẻ 1 trái cam tươi hoặc 1 ly cam vắt mỗi ngày. Cho trẻ ăn nhiều bưởi, cà chua…Đồng thời, cho trẻ uống viên sủi vitamin C nếu có chỉ định của bác sĩ.

– Vitamin D:

+ Triệu chứng thiếu: Bị còi xương, hay đổ mồ hôi trộm, tóc rụng, răng mọc chậm, khi ngủ hay bị giật mình.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn trứng gà, dầu cá, tắm nắng mỗi ngày. Bổ sung vitamin D theo chỉ định của bác sĩ.

– Vitamin E:

+ Triệu chứng thiếu: Bị thiếu máu

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn nhiều sinh tố bơ, bổ sung dầu hướng dương, dầu cải vào các món canh cho trẻ.

– Vitamin K:

+ Triệu chứng thiếu: Chảy máu đường tiêu hóa, chảy máu ở da, niêm mạc, rối loạn tiêu hóa, dễ co giật, quấy khóc. Nếu ở tuổi sơ sinh có nguy cơ xuất huyết não.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn đậu hủ, uống sữa bò tươi.

Điều thuận lợi ở nước ta là có nhiều loại rau củ quả với đầy đủ các chất cần thiết cho cơ thể. Bạn chỉ cần tìm hiểu thông tin, xin tư vấn của bác sĩ là có ngay một thực đơn rất đa dạng để trẻ ăn không ngán mà vẫn đều đặn bổ sung vitamin mỗi ngày.

Nguồn st

Bố mẹ nhiều tiền con vẫn suy dinh dưỡng: Vì đâu?

“Trong số những đứa trẻ bị suy dinh dưỡng được đưa đến khám, có không ít trẻ là con nhà khá giả. Người mẹ kể rằng, họ đã không tiếc tiền trăm, tiền triệu để mua cho con những hộp sữa ngoại được quảng cáo là tốt nhất vậy mà con họ vẫn còi xương, chậm lớn” – BS. Nguyễn Văn Lộc, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi TW cho biết.

Con suy dinh dưỡng vì mẹ thiếu hiểu biết

BS. Lộc cho biết, nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng trẻ em đã cho thấy sự phát triển của trẻ từ 0-6 tháng tuổi ở nước ta so với tất cả các quốc gia trong khu vực là như nhau. Thế nhưng ở khi chuyển sang giai đoạn ăn dặm thì trẻ em Việt Nam đã có sự tụt hậu. Điều này có liên quan đến những thói quen ăn uống truyền thống không tốt của nhiều bà mẹ khiến bé thiếu nhiệt năng và vitamin cần thiết như A, B, C, D, sắt, canxi… ảnh hưởng đến chiều cao, cân nặng và sức khỏe của bé.

bo_me_nhieu_tien_con_van_suy_dinh_duong_vi_dau

Chị Lê Thị Hà, (tập thể Trung Tự) kể: Chị cai sữa cho con sau 6 tháng nhưng hàng ngày vẫn ninh bột bằng rất nhiều xương ống và cho cháu uống thêm sữa ngoại tốt nhất. Vậy mà con chị vẫn rất chậm lớn, đã 16 tháng tuổi mà chưa biết đi lại hay ra mồ hôi trộm và có hiện tượng rụng tóc. Đi khám chị mới biết rằng con mình bị suy dinh dưỡng. Các bác sĩ ở đây cho biết, loại xương mà chị hầm cho con chỉ có mỡ và đạm chứ rất ít canxi, trong khi đó mỗi ngày bé chỉ được ăn gần 300ml sữa, còn kém xa lượng sữa bé cần ăn mỗi ngày là 500-700ml theo khuyến cáo của các nhà dinh dưỡng học.

Theo BS. Lộc, sai lầm hay mắc phải của các bà mẹ nuôi con trong thời kỳ ăn dặm là thường xuyên cho trẻ một chế độ ăn quá nghèo nàn về chất dinh dưỡng. Vì sợ con khó ăn rất nhiều người không cho trẻ ăn thêm các loại rau, củ, quả nên chỉ ninh xương, thịt lấy nước mà không biết rằng chất thôi ra từ xương, thịt chỉ là một phần dinh dưỡng không đáng kể, nếu cứ ăn như vậy kéo dài, bé bị suy dinh dưỡng là điều dễ hiểu. Để tránh tình trạng này, người mẹ cần xay nhuyễn tất cả các loại rau, củ, thịt lẫn vào bột để trẻ ăn hằng ngày. Nên thay đổi thường xuyên các loại rau để trẻ không bị ngán.

Sữa tốt không phải là tất cả

BS. Nguyễn Tiến Dũng, Phó khoa Nội tiết, Bệnh viện Nhi TW cũng cho hay: Có không ít bà mẹ hiện nay nghĩ rằng, cứ cho trẻ ăn những loại sữa đắt tiền, được quảng cáo là cung cấp đầy đủ tất cả các loại vitamin và chất dinh dưỡng cần thiết. Theo  nhiều bà mẹ, các thực phẩm “xịn”, có giá trị dinh dưỡng cao, cần cho sự phát triển của trẻ phải là sữa ong chúa, đường gluco, bánh kẹo dinh dưỡng có chứa lysinne, nhân sâm, mật ong… và bỏ qua những thức ăn thông thường như rau củ quả có sẵn trong khi đó mới là những loại thực phẩm tươi có nguồn dinh dưỡng cao vừa dễ dàng cho việc hấp thụ của trẻ.

Theo BS. Dũng, việc lạm dụng hàng ngoại vừa tốn tiền vừa ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của trẻ, lại gây thêm một số bệnh có hại cho con như khó tiêu, táo bón, lười ăn. Không chỉ sai lầm trong việc cho con ăn, uống một số người khi thấy con có hiện tượng suy dinh dưỡng đã tự động đi mua các loại vitamin tổng hợp và cốm canxi pha với sữa cho con uống nhằm cải thiện tình hình của con mình. Đây lại là một sai lầm tiếp theo bởi việc sử dụng bừa bãi, không đúng liều lượng các loại vitamin và canxi chẳng những không có lợi mà còn khiến trẻ có nguy cơ ngộ độc hay để lại những di chứng khó lường sau này. Ví như, cốm canxi và sữa dùng kết hợp sẽ thành sữa vón cục gây khó tiêu và làm rối loạn chức năng tiêu hóa của trẻ biếng ăn. Tương tự vậy, lysin là một trong những axit amin cần thiết cho trẻ nhỏ tăng nhanh về chiều cao và cân nặng nhưng nếu dùng không đúng quy cách sẽ làm ảnh hưởng đến cân bằng, axit amin sinh ra các tác dụng phụ đối với trẻ như ăn uống giảm sút, không tăng cân, đề kháng kém.

“Thiếu khoa học và thiếu hiểu biết trong quá trình nuôi con, dù có nhiều tiền, con bạn vẫn suy dinh dưỡng” – BS. Dũng nói.

Theo SKĐS

Ngừa đục nhân mắt bằng rau lá xanh

Một nghiên cứu gần đây phát hiện ra rằng các chất chống oxi hóa có trong rau chân vịt, cải và nhiều loại rau khác giúp người già ngăn chặn được bệnh đục nhân mắt.

Trong một thử nghiệm, tiến sĩ Joshua A.Bomser và các nhà khoa học tại Đại học Ohio thuộc bang Columbus (Mỹ) đã nuôi tế bào thuỷ tinh thể trong phòng thí nghiệm. Sau đó nhóm chọn ra một số tế bào và đưa chúng vào các ống nghiệm có lutein, zeaxanthin, vitamin E. Số còn lại không được cho tiếp xúc. Cuối cùng, họ cho tất cả tế bào vào môi trường có bức xạ cực tím, mục đích là giảm thiểu tác động của ánh sáng mặt trời.

ngua_duc_nhan_mat_bang_rau_la_xanh

Kết quả cho thấy những tế bào được tiếp xúc với tác nhân chống ôxi hoá ít bị tổn hại hơn so với các tế bào kia. Nhóm tế bào được tiếp xúc với lutein, zeaxanthin ít bị tổn hại hơn nhiều so với nhóm tế bào tiếp xúc với vitamin E.

“Phát hiện của chúng tôi cho thấy lutein và zeaxanthin có tác dụng bảo vệ tế bào mắt khỏi những tổn hại do quá trình oxi hoá gây ra. Mà những chất này lại có rất nhiều trong rau lá xanh, chẳng hạn như cải củ xanh, cải xoăn, rau chân vịt”, Bomser nói.

Bệnh đục nhân mắt xuất hiện khi các protein trong thuỷ tinh thể bắt đầu kết khối với nhau, tạo thành một mảng đục làm giảm thị lực của mắt. Càng tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời, nguy cơ mắc bệnh càng tăng. Có nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng những người ăn nhiều rau quả có tỷ lệ bị đục nhân mắt thấp hơn. Đặc biệt, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng vitamin E và C, có nhiều trong rau quả, có tác dụng bảo vệ tế bào cơ thể khỏi những tổn hại do các phân tử gốc tự do gây ra. Các phân tử gốc tự do là sản phẩm “không mong đợi” của quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Chúng gây ra quá trình oxi hóa, nguyên nhân dẫn đến nhiều loại bệnh trong đó có ung thư.

Bomser cho biết các chất chống oxi hoá trong rau quả, thực phẩm có tác dụng tốt hơn các loại dược phẩm bổ sung tác nhân oxi hoá. Tuy nhiên, việc uống các loại thuốc bổ sung lutein và zeaxanthin cũng đem lại hiệu quả cao.

Việt Linh (theo Reuters)
Theo ykhoa.net

Các liệu pháp điều trị tăng nhãn áp

Tất cả các phương pháp tập luyện làm tăng lượng oxy vào cơ thể (như đi bộ, chạy bộ, leo núi, bơi lội…) đều tốt cho mắt và làm giảm nhãn áp. Vì vậy, những người mắc bệnh tăng nhãn áp nên tập thể dục đều đặn.

cac_lieu_phap_dieu_tri_tang_nhan_ap

Cây bạch quả có tác dụng bảo vệ thần kinh mắt.

Nguyên nhân chính gây bệnh tăng nhãn áp (cườm nước) là áp suất ở trong mắt tăng cao, thủy dịch bị ứ đọng trong mắt, hủy hoại các tế bào thần kinh ở mắt và gây mù lòa. Nếu chẩn đoán sớm và chữa trị đúng cách, bệnh nhân có thể tránh được mù lòa. Khi bị bệnh, chỉ bác sĩ nhãn khoa mới có quyền quyết định điều trị phẫu thuật hay chỉ cần dùng thuốc. Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, mọi người có thể áp dụng một số các phương pháp để phòng tránh và điều trị bệnh này.

1. Điều chỉnh lối sống

– Tập thở sâu, sống lạc quan, đầu óc thư giãn, tránh những xúc động mạnh, lo nghĩ; ngủ nhiều.

– Tập Yoga: Tư thế tập đầu chúc xuống đất, chân đưa lên trời có thể làm tăng nhãn áp trong một vài dạng cườm nước; nhưng lại có lợi đối với một vài dạng khác vì làm máu chảy xuống mắt nhiều hơn, giúp nuôi thần kinh mắt tốt hơn.

– Xoa mắt: Làm tăng thêm lượng máu lưu thông đến mắt để nuôi tế bào thần kinh mắt tốt hơn.

– Ăn nhiều rau, trái cây, tránh táo bón, kiêng ăn mỡ động vật vì mỡ động vật có thể ảnh hưởng đến mạch máu nuôi thần kinh mắt.

– Không hút thuốc vì thuốc lá ảnh hưởng gián tiếp đến bệnh cườm nước qua tác hại của các gốc tự do.

– Cẩn thận khi chơi các loại nhạc cụ phải dùng hơi thở mạnh và lâu như các loại kèn, tù và… vì chúng có thể gây tăng nhãn áp.

2. Dùng vitamin

– Vitamin C: Việc tiêm vitamin C liều cao vào tĩnh mạch sẽ làm hạ nhãn áp trong khoảng 12 tiếng (vì làm tăng áp suất của máu, khiến thủy dịch được hút ra khỏi mắt). Nhưng với loại vitamin C dạng uống thì chưa xác định được tác dụng đối với nhãn áp. Tuy nhiên, vitamin C là một chất chống oxy hóa nên có tác dụng gián tiếp có lợi cho mắt.

– Vitamin A: Cũng là chất chống oxy hoá.

– Vitamin E: Ngoài tính chống oxy hóa mạnh, nó còn có tác dụng phụ trợ cho phẫu thuật tạo lỗỏò ở cườm nước vì ngăn chặn được sự tăng trưởng của sợi bào, tránh sự bít lỗ rò làm cườm nước tái phát.

3. Dùng các loại dược thảo

– Bạch quả: Đã được dùng hàng thế kỷ nay tại các nước phương Đông, hiện còn dùng phổ biến tại Mỹ để trị một số bệnh về thần kinh ở não (như bệnh Alzheimer). Bạch quả có thể có ích cho bệnh nhân cườm nước vì có tính chống oxy hóa mạnh, làm tăng lượng máu chảy đến mắt và có tác dụng bảo vệ thần kinh. Một nghiên cứu mới đây cho thấy, bạch quả có thể cải thiện được một phần thị trường bị khiếm khuyết do cườm nước.

– Trái sim: Có tác dụng bảo vệ mạch, ngăn chặn tiểu cầu, không có tác dụng trực tiếp trên nhãn áp nhưng có tính bảo vệ thần kinh.

– Cần sa: Làm giảm nhãn áp. Tuy nhiên, hiệu quả đối với nhãn áp chỉ kéo dài 3-4 giờ trong khi tác dụng phụ lại khá nhiều (làm mắt khô, giảm độ điều tiết, hạ huyết áp tư thế đứng, ung thư). Hiện người ta đang nghiên cứu loại thuốc nhỏ mắt có họ với cần sa để tránh hậu quả phụ.

4. Sử dụng các chiết xuất từ động vật

– Melatonin: Nghiên cứu trên súc vật cho thấy nó có tác dụng làm hạ nhãn áp. Người ta cho rằng chất này có liên quan đến việc kiểm soát đồng hồ sinh học của cơ thể, ảnh hưởng đến nhãn áp; nhưng chưa nghiên cứu nào khẳng định điều này.

– Acid béo Omega: Một số nghiên cứu cho thấy các thổ dân ở Alaska do ăn nhiều mỡ cá nên ít bị cườm nước. Tuy nhiên, chưa có cơ sở kiểm chứng chắc chắn.

Theo VnExpress/ BS Nguyễn Cường Nam – Sức Khoẻ & Đời Sống

Cách chăm sóc mắt cận thị sau phẫu thuật

Cái này quan trọng lắm đó!

Để “cửa sổ tâm hồn” luôn khỏe đẹp và sáng rõ, thì bạn phải chăm sóc thật kỹ sau khi phẫu thuật kèm theo ăn uống nhiều dinh dưỡng và học hành, làm việc thật hợp lý.

Ngay sau khi phẫu thuật

Vì vừa xong phẫu thuật nên mắt có thể bị cộm xốn, chảy nước mắt trong vài giờ và mắt rất nhạy cảm với ánh sáng. Bạn nên nghỉ ngơi, ngủ sớm để thư giãn, nhắm mở mắt nhẹ nhàng, tránh nheo – nhíu mắt quá mạnh và không dụi tay vào mắt. Ăn uống bình thường.

Sau 1 tuần

– Một tuần sau, mắt vẫn chưa quen điều tiết nên nhìn gần mờ (đọc sách, báo…). Bạn nên hạn chế xem ti vi và nhìn máy tính trong 1 tuần đầu.
– Thời gian đầu, mắt dễ nhạy cảm với ánh sáng, bạn không nên lo lắng hiện tượng này sẽ hết trong vòng vài tuần lễ.
– Nhỏ thuốc kháng sinh, nước mắt nhân tạo theo toa BS. Rửa tay sạch trước khi nhỏ thuốc. Trong ngày đầu mắt có thể khó mở nên dùng một ngón tay kéo nhẹ mi dưới xuống để nhỏ thuốc. Tránh chạm đầu lọ thuốc vào mắt và lông mi.
– Mang kính bảo vệ sẫm màu khi ra ngoài trời.
– Trong tuần đầu, dùng eyeshield (dụng cụ bảo vệ mắt) khi ngủ để tránh vô tình dụi mắt trong lúc ngủ.
– Tái khám đúng hẹn và tuân thủ dặn dò của bác sĩ.

cach_cham_soc_mat_can_thi_sau_phau_thuat_01

Đeo eyeshield khi đi ngủ trong tuần đầu sau phẫu thuật

Sau 1 tháng

– Không đi bơi và chơi thể thao trong vòng 1 tháng.
– Không sử dụng mascara, kẻ mắt nước trong ít nhất 3 tuần đầu tiên.

Sau 6 tháng

cach_cham_soc_mat_can_thi_sau_phau_thuat_02

Khi làm việc với máy tính, smartphone, cần tuân thủ những nguyên tắc sau:

– Đặt màn hình với khoảng cách  từ 50-65 cm, dưới tầm nhìn mắt 10-20 độ, không để màn hình quá cao hay thấp so với tầm mắt.
– Ánh sáng phòng làm việc và màn hình phải hợp lý (ánh sáng màn hình không quá sáng hoặc tối so với ánh sáng phòng làm việc), tránh ánh sáng phản chiếu trực tiếp trên màn hình gây chói và nhòe chữ.
– Nên chọn màn hình lớn, phẳng, dễ kiểm tra độ tương phản.
– Khi sử dụng máy tính, trung bình 30 phút nên cho mắt nghỉ ngời 1 lần bằng cách ngưng không nhìn vào màn hình, không nhất thiết phải nhắm mắt hoàn toàn mà có thể chuyển sang công việc khác như đi lại, gọi điện thoại, tạo điều kiện cho mắt được nghỉ ngơi. Ngoài ra, bạn có thể ngồi tại chỗ nhìn ra xa hơn 5m.
– Nên chớp mắt thường xuyên và dùng thêm nước mắt nhân tạo (nếu cần) để giữ độ ẩm cho mắt.
– Không nên thức khuya để làm việc với máy tính (nên sử dụng tối đa 1-2 giờ) vì mắt chúng ta cần nghỉ ngơi sau 1 ngày làm việc.

Xem TV:

cach_cham_soc_mat_can_thi_sau_phau_thuat_03

– Khoảng cách xem TV tốt nhất là cách sáu lần đường chéo màn hình TV (ví dụ: TV 32 inch thì ngồi cách khoảng 480 cm).
– Vị trí ngồi đối diện màn hình và chọn tư thế ngồi thoải mái khi xem.

Chế độ dinh dưỡng:

cach_cham_soc_mat_can_thi_sau_phau_thuat_04

– Nên duy trì chế độ ăn bình thường, đa dạng chất dinh dưỡng và cân đối cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm dinh dưỡng cho mắt.
– Các vitamin có lợi cho mắt: A, B1, B2, B3, E và C.
– Các chất có lợi cho mắt: Canxi, Kẽm, Crôm, Se-len, Phốtpho.

Trái cây và rau quả là nguồn cung cấp Vitamin và khoáng chất dồi dào nhất đấy các bạn.

Lưu ý: Các nguồn dinh dưỡng bổ sung không thay thế cho một chế độ ăn đầy đủ.

Khám mắt định kỳ:

– Nên khám mắt định kỳ 6 tháng một lần để được tư vấn và chăm sóc mắt phù hợp.
– Nên khám mắt ngay khi có nhu cầu và gặp vấn đề về mắt.

Theo Kênh 14/Theo MASK

Tư vấn: biểu hiện của bệnh cận thị

Con tôi năm nay vào lớp 1, thời gian gần đây tôi thấy cháu hay nháy mắt, ngồi sát màn hình khi xem tivi, đọc sách phải nhìn gần. Nhà tôi không có người bị cận thị. Vậy có phải con tôi có dấu hiệu bị cận thị không?

Lê Thị Tú (Hà Tĩnh)

tu_van_bieu_hien_cua_benh_can_thi

Cận thị là một dạng của tật khúc xạ. Để điều chỉnh tật cận thị, người ta đã chế tạo ra thấu kính điều chỉnh hình ảnh cho hình ảnh rơi vào đúng võng mạc và người mắc tật cận thị sẽ nhìn rõ hơn đó là thấu kính phân kỳ (hay còn gọi là kính cận thị). Có hai nguyên nhân chủ yếu gây cận thị là do di truyền và môi trường, ngoài ra, nếu trẻ sinh non, sinh thiếu tháng cũng có khả năng bị tật khúc xạ. Những biểu hiện của tật cận thị: nheo mắt, nhìn nghiêng, mỗi khi nhìn những vật ở xa hoặc khi xem ti vi, nhìn gần khi đọc sách. Theo thư bạn kể thì con bạn mắc tật khúc xạ cận thị do môi trường. Môi trường ở đây có thể là tư thế ngồi học, xem tivi quá nhiều, ánh sáng không đủ… Chỉ có đeo kính mới điều chỉnh được tật cận thị và khi con bạn đủ tuổi có thể phẫu thuật để chữa cận. Tốt nhất, bạn nên đưa con tới bác sĩ chuyên khoa mắt để được khám và tư vấn. Để phòng tránh cận thị,  bạn nên cho cháu ngồi học đúng tư thế, đủ ánh sáng, không nên xem tivi quá nhiều. Ngoài ra, bổ sung các thực phẩm như rau xanh, cá, gan động vật, các vitamin B1,B2.

BS.Nguyễn Thu Hiền
Theo SKĐS

Món ăn cho người xơ gan báng bụng

Xơ gan là bệnh gan mạn tính có nguyên nhân do tác động lâu dài hoặc lặp lại của một hay nhiều nguyên nhân gây ra thương tổn gan trên diện rộng. Do bị hoại tử trên diện rộng, tế bào gan khó có thể tái sinh nên gan dần dần bị xơ.

Biểu hiện: người bệnh chán ăn, người mệt mỏi, đau vùng bụng trên, nôn ọe, đại tiện lỏng, gan to và khô, tĩnh mạch cửa nổi, sắc mặt tối, võng mạc vàng, nổi các nốt mẩn chằng chịt. Thời kỳ cuối bị xuất huyết tiêu hóa, hôn mê…

Về chế độ dinh dưỡng người bị xơ gan thời kỳ đầu có thể ăn uống những chất có độ đạm cao để vừa thúc đẩy tế bào gan tái sinh, bảo vệ gan lại vừa có thể nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể và tăng cường khả năng chống bệnh. Nhưng thời kỳ cuối, nếu kèm thêm triệu chứng hôn mê thì phải giảm thức ăn có độ đạm cao mà ăn các thức ăn có đường là chính, đồng thời bổ sung lượng vitamin thích đáng. Không ăn các chất kích thích, chất cay nóng, thực phẩm đóng hộp có chứa phụ gia, thực phẩm ô nhiễm, dư lượng hóa chất bảo vệ…

mon_an_cho_nguoi_xo_gan_bang_bung_01

Canh gà ngũ vị tử.

Sau đây xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ thịt gà dành cho người xơ gan báng bụng (cổ trướng) để bạn đọc tham khảo và áp dụng.

Đường đỏ, gạo lứt hấp gà vàng: Đường đỏ 150g, gạo lứt 150g, gà vàng 1 con (500-700g), gừng, hành, tỏi mỗi thứ 5g. Gà làm sạch, bỏ ruột, chân, gạo xay thành bột. Nhúng gà vào nước sôi cho hết máu rồi cho vào nồi hấp, cho gừng, hành, muối, đường đỏ trộn đều với bột gạo nhét vào bụng gà, đổ khỏang 300ml nước vào nồi rồi bắc lên bếp đun to lửa đến sôi thì hạ lửa đun sôi tiếp khỏang 1 giờ là được. Ăn ngày 1 lần khoảng 50g thịt gà, còn nước cháo ăn tùy ý. Tác dụng: bổ khí huyết, kiện gan tỳ, chống báng bụng.

Tam thất, uất kim hấp với gà đen: tam thất 6g, uất kim 9g, gà đen 1 con (500g), rượu 10g, gừng, hành, muối, tỏi. Tam thất thái nhỏ như hạt đậu; uất kim thái lát; gà làm sạch bỏ nội tạng, chân; tỏi bóc vỏ thái mỏng; hành cắt ngắn. Xát muối rượu lên con gà, cho tam thất, uất kim vào bụng gà, đặt vào nồi cho gừng, hành, đổ 300ml nước rồi đun trong 1 giờ là được. Ăn cả nước lẫn cái. Tác dụng bổ khí huyết, tan máu ứ, tiêu báng.

Canh đông trùng hạ thảo, sâm tây với thịt gà: sâm tây 20g, đông trùng hạ thảo 15g, gà con 1 con, gừng, hành, muối đều 5g. Sâm tây thái lát; đông trùng hạ thảo rửa sạch ngâm vào rượu; gà làm sạch bỏ nội tạng, chân; gừng đập lát; hành cắt ngắn. Cho sâm, trùng thảo vào bụng gà, cho gia vị và đổ 1000ml đem đun sôi khỏang 1 giờ. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần ăn 50g thịt gà; sâm, trùng thảo và canh ăn tùy ý. Tác dụng: bổ gan thận, dùng cho người xơ gan.

Canh ngũ vị tử với gà: ngũ vị tử 10g, thịt gà 200g, cần tây 200g, nấm 30g, rượu gạo 5ml, gừng, hành, muối, tỏi, dầu ăn đều 5g. Ngũ vị tử rửa sạch, thịt gà rửa sạch thái miếng, cần cắt khúc, nấm rửa sạch cắt bỏ cuống thái nhỏ, gừng đập lát. Hành tỏi bóc vỏ thái nhỏ, phi gừng hành tỏi với dầu cho thơm rồi đổ thịt gà vào đảo lên sau đó cho cần tây, nấm, ngũ vị tử, muối và 300ml nước vào đun sôi rồi hạ lửa đun khỏang 30 – 40 phút nữa là được. Ngày ăn 1 lần, mỗi lần 50g thịt gà, cần và nấm ăn tùy ý. Tác dụng: an thần,  bổ khí huyết, dùng cho người xơ gan kèm theo thần kinh suy nhược.

Người xơ gan cũng nên dùng một trong các thứ nước sau thay nước uống:

mon_an_cho_nguoi_xo_gan_bang_bung_02

Trà ngũ vị tử táo đỏ.

Trà ngũ vị tử táo đỏ:

ngũ vị tử 10g, táo đỏ 5 quả, đường phèn 20g. Ngũ vị tử rửa sạch, táo đỏ bỏ vỏ, đường giã nhỏ.  Cho tất cả vào nồi cùng 300ml nước đun sôi khoảng 20 – 30 phút là được. Uống thay nước hằng ngày. Tác dụng: bổ dưỡng gan thận, ích khí, dùng cho người xơ gan, men gan tăng cao.

Chè ngũ vị tử, long nhãn và sâm tây: ngũ vị tử, sâm tây, long nhãn đều 5g, đường phèn 20g. Ngũ vị tử rửa sạch, sâm tây làm mềm rồi thát lát, đường giã nhỏ. Cho tất cả vào nồi  cùng 300ml nước đun chừng 20-30 phút là được. Uống thay nước hằng ngày. Công dụng: ích khí, dưỡng tâm, an thần, bổ ích gan thận. Dùng cho người xơ gan, mất ngủ, tự ra mồ hôi.

BS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Theo SKĐS

Nhận biết trẻ suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng cơ thể thiếu protein năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ.

nhan_biet_tre_suy_dinh_duong

Tại sao trẻ bị SDD?

Do sai lầm về nuôi dưỡng: Chế độ ăn của trẻ thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng như nuôi nhân tạo bằng nước cháo đường, ăn bổ sung sớm bằng bột mắm, muối, mì chính. Một số trẻ sau khi cai sữa, khẩu phần ăn chủ yếu là gạo, ít thức ăn động vật, dầu, mỡ, vitamin và chất khoáng.

Do nhiễm khuẩn: Hậu quả của các bệnh nhiễm khuẩn như sởi, tiêu chảy, viêm phổi, lao, giun sán… làm cho trẻ kém ăn chậm lớn.

Nguyên nhân sâu xa cũng cần phải kể đến dịch vụ y tế, môi trường, an ninh thực phẩm cho các hộ gia đình chưa đầy đủ.

Thực tế lâm sàng và dịch tễ học cho thấy những trẻ 6-18 tháng tuổi bắt đầu ăn bổ sung và giảm dần bú sữa mẹ; trẻ sinh ra có cân nặng thấp dưới 1.500g; trẻ không được bú sữa mẹ trong năm đầu; trẻ thường xuyên bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm đường hô hấp; trẻ bị dị tật bẩm sinh như sứt môi hở hàm ếch, tim bẩm sinh, di chứng thần kinh; gia đình đông con, kinh tế eo hẹp… có nguy  cơ bị SDD.

Làm thế nào để nhận biết được trẻ bị SDD?

Biểu hiện sớm của SDD là trẻ chậm lớn, tăng cân kém. Theo dõi biểu đồ phát triển cho thấy cân nặng của trẻ SDD bao giờ cũng giảm hơn so với cân nặng của trẻ bình thường cùng lứa tuổi. SDD nhẹ (độ I) cân nặng sụt từ 20-30%, SDD vừa (độ II) cân nặng sụt từ 30-40%, SDD nặng: gồm 3 thể.

– Thể teo đét (Marasmus): Cân nặng giảm trên 40%. Trẻ gầy đét da bọc xương.

– Thể phù (Kwashiokor): Cân nặng giảm từ 20-40%. Trẻ phù toàn thân, trên da có thể xuất hiện các mảng sắc tố màu nâu và lở loét toàn thân.

– Thể phối hợp: Cân nặng giảm trên 40%, từ gầy yếu và phù 2 chân. Trẻ SDD thường bị thiếu máu, thiếu vitamin đặc biệt là thiếu vitamin A gây khô mắt.

Những trẻ SDD nhất là ở trẻ nhỏ, nếu bị SDD nặng sẽ ảnh hưởng nhiều đến phát triển thể chất, tinh thần và vận động. Trẻ chậm biết lẫy, bò, ngồi, đứng, đi. Khi trẻ lớn lên cân nặng và chiều cao đều giảm hơn so với người cùng tuổi, trẻ gái thì đẻ khó và khi làm mẹ dễ sinh ra những bé còi cọc. Một số công trình nghiên cứu đã chứng tỏ các tế bào thần kinh ở não không phát triển đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến trí tuệ, giảm trí nhớ và kém thông minh.

Trẻ SDD dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn có thể làm cho SDD nặng hơn. SDD bị mù do thiếu vitamin A thì tỷ lệ tử vong cao.

SDD là một bệnh có thể điều trị được nhưng cần phát hiện sớm, điều chỉnh cách ăn uống của trẻ. Trẻ SDD thường kém ăn, cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày để bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng. Nếu trẻ đang bú mẹ vẫn phải tiếp tục cho bú. Tùy theo lứa tuổi cho trẻ ăn thêm bột, cháo nhưng phải quấy lẫn với thịt hoặc trứng, đậu đỗ, dầu, mỡ và các loại rau. Không cai sữa, không kiêng ăn mỡ khi trẻ bị bệnh nhất là bệnh tiêu chảy. Ngoài ra cần phát hiện các bệnh nhiễm khuẩn thông thường ở trẻ SDD để xử trí kịp thời. Nếu trẻ bị SDD nặng phải được điều trị tại cơ sở y tế.

Để phòng bệnh SDD, cần làm tốt các việc sau đây

Chăm sóc trẻ từ trong bụng mẹ: Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy cân nặng của trẻ sơ sinh phụ thuộc nhiều vào dinh dưỡng của bà mẹ. Ở những bà mẹ ăn uống kém thì thai nhi có thể bị SDD từ trong bụng mẹ. Vì vậy trong thời gian mang thai người mẹ cần ăn uống bồi dưỡng hơn bình thường đồng thời theo dõi tăng cân từng quý; khám thai định kỳ ít nhất 3 lần. Thực hiện tiêm phòng uốn ván, nghỉ ngơi trước đẻ và sinh đẻ tại cơ sở y tế để mẹ tròn con vuông.

Nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý

Cho trẻ bú sớm ngay sau đẻ, bú càng sớm càng tốt, cho bú hoàn toàn trong 4 tháng đầu và kéo dài 18-24 tháng.

Trong trường hợp mẹ không có sữa hoặc ít sữa thì cho trẻ ăn thêm sữa bò hoặc sữa đậu nành, tuyệt đối không dùng nước cháo đơn thuần để nuôi trẻ.

Từ 5 tháng tuổi ngoài bú mẹ cần cho trẻ ăn thêm thức ăn bổ sung, tùy theo lứa tuổi có thể cho trẻ ăn bột, cháo nhưng phải quấy lẫn với thịt, trứng, đậu đỗ, dầu, mỡ và các loại rau.

Khi trẻ ốm không được kiêng khem quá mức, cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày thức ăn dễ tiêu hóa và đủ các chất dinh dưỡng.

Tiêm chủng: Để phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn cần thực hiện tiêm chủng cho trẻ đầy đủ và đúng kỳ hạn.

Theo dõi cân nặng: Trong năm đầu mỗi tháng cân trẻ một lần, trẻ từ 2-5 tuổi thì 2-3 tháng cân một lần, nếu thấy cân của trẻ bắt đầu đứng hoặc sụt cân là dấu hiệu sớm để phát hiện SDD.

Sinh đẻ kế hoạch: Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ SDD tăng cao gặp ở những bà mẹ đẻ dày và đông con cho nên cần sinh đẻ có kế hoạch.

Xây dựng hệ sinh thái VAC tại gia đình để tạo thêm nguồn thực phẩm nhằm cải thiện bữa ăn cho bà mẹ và trẻ em.

SDD là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, tương lai của nòi giống. Do đó đòi hỏi những biện pháp cơ bản của Nhà nước và sự kết hợp của nhiều ngành, gia đình và xã hội. Bản thân các bà mẹ là những người trực tiếp nuôi trẻ, cần được trang bị những kiến thức về nuôi con theo khoa học.

Theo SKĐS