Tag Archives: vitamin d

Bổ sung dưỡng chất để phòng tránh bệnh ung thư

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư, trong đó có cả nguyên nhân xuất phát từ chuyện ăn uống. Hãy tham khảo những thông tin dưới đây để biết cách bổ sung dưỡng chất cần thiết cho cơ thể, phòng bệnh và giữ  sức khỏe tốt nhất.

1. Cơ thể thiếu chất xơ có thể bị ung thư đại trực tràng

Nguy cơ ung thư đại trực tràng (ung thư ruột kết) là do thức ăn lưu trữ lâu trong ruột. Trong cuộc sống hiện đại, chế độ ăn uống của nhiều người thường thiễu chất xơ, cellulose… nhiều protein, chất béo…

bo-sung-duong-chat-de-phong-tranh-benh-ung-thu

Thực phẩm protein cao, chất béo cao sau khi vào cơ thể sẽ phân giải và sinh ra nhiều chất gây ung thư. Những chất này lưu lại trên màng ruột kết trong thời gian dài sẽ dẫn đến ung thư ruột kết. Nếu cơ thể được cung cấp đủ chất xơ, thức ăn qua đường ruột sẽ được tiêu hóa nhanh hơn, nhờ đó những chất gây ung thư cũng được sản sinh ra ít hơn và nhanh chóng loại bỏ khỏi cơ thể nên nguy cơ ung thư đại trực tràng cũng giảm.

Bạn có thể bổ sung chất xơ từ các thực phẩm như yến mạch, các loại đậu, carotene, cam quýt, lúa mạch…

2. Cớ thể thiếu i-ốt có thể bị ung thư tuyến giáp

bo-sung-duong-chat-de-phong-tranh-benh-ung-thu1


Thiếu i-ốt dẫn đến thiếu hormone tuyến giáp và ảnh hưởng tới nhiều chức năng quan trọng của cơ thể, gây ra nhiều rối loạn khác nhau gọi chung là “các rối loạn do thiếu i-ốt.

Tuyến giáp là tuyến nội tiết quan trọng và lớn nhất, ảnh hưởng đến hầu hết mọi cơ quan trong cơ thể. Khi chức năng tuyến giáp bị rối loạn thì các tế bào trong cơ thể sẽ không còn hoạt động hiệu quả như bình thường, khiến bạn dễ mắc nhiều bệnh khác.

Nếu chức năng tuyến giáp bị suy giảm hoặc nồng độ hormone tuyến giáp trong máu tăng cao có thể gây ra những tổn thương ở mô và rối loạn chuyển hóa hoặc gây những tổn hại về mô, chuyển hóa (nhiễm độc giáp), nhịp tim thường xuyên nhanh, tăng nhu động ruột,…

Nếu không được điều trị kịp thời, cả hai tình trạng suy giảm hoặc hoạt động quá mức của tuyến giáp sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng tuyến giáp, thậm chí có thể dẫn đến ung thư tuyến giáp.

Chế độ ăn uống nghèo iodine cũng góp phần vào sự xuất hiện của ung thư liên quan đễn estrogen như vú, ung thư nội mạc tử cung và ung thư buồng trứng. Vì vậy, bạn nên bổ sung i-ốt từ những thực phẩm như rong biển, hải sâm, rong biển, nghêu, mực…

3. Cơ thể thiếu vitamin D có thể bị ung thư vú

bo-sung-duong-chat-de-phong-tranh-benh-ung-thu2

Trung tâm Y tế thuộc Đại học Georgetown (Mỹ) vừa kết thúc một nghiên cứu dài kỳ và phát hiện thấy mối liên kết giữa việc bổ sung liều vitamin D cao và tác dụng giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Theo nghiên cứu này, những phụ nữ thường xuyên tắm nắng và bổ sung vitamin D qua ăn uống giảm được tới 75% rủi ro mắc các loại bệnh ung thư nói chung và 50% nguy cơ di căn ở nhóm đã mắc bệnh, nhất là ung thư vú nhạy cảm với estrogen.

Các chuyên gia Bệnh viện Ung bướu Hiện đại Quảng Châu nhắc nhở, những phụ nữ có tiền sử gia đình mắc bệnh sử ung thư vú, có kinh nguyệt sớm hoặc mãn kinh muộn… sẽ dễ mắc bệnh ung thư vú hơn những người khác. Để phòng ngừa bệnh này, chị em nên ăn nhiều các thực phẩm giàu vitamin D như cá, gan bò, lòng đỏ trứng…thường xuyên cần ánh nắng mặt trời để thúc đẩy cơ thể tổng hợp vitamin D nhiều hơn.

Cơ thể thiếu chất dẫn đến ung thư là điều không thể phủ nhận, nhưng bên cạnh đó, có một số chất nếu quá thừa trong cơ thể cũng có thể dẫn đến những hậu quả xấu. Trong trường hợp xấu nhất là nó cũng có thể dẫn đến các bệnh ung thư. Cụ thể là: Hàm lượng sắt và lipid trong máu cao có thể tăng nguy cơ ung thư nói chung.

“Sắt và lipid kết hợp với nhau sẽ tạo nên sự ứng suất oxy hóa – yếu tố đóng vai trò trong quá trình phát triển ung thư”, Tiến sĩ Arch G. Mainous III, Đại học Y Nam Carolina (Mỹ), cho biết. Nghiên cứu được tiến hành trên khoảng 3.000 người có lượng sắt và lipid cao. Họ được đo lượng sắt và 3 loại cholesterol là HDL, LDL và VLDL trong máu (trong đó, HDL là loại cholesterol có lợi, còn LDL và VLDL gây hại). VLDL là cholesterol có hàm lượng lipid rất thấp.

Kết quả cho thấy, quá nhiều sắt trong máu làm tăng 66% nguy cơ phát triển ung thư, còn nhiều cholesterol VLDL tăng 54%. Nếu hàm lượng hai vi tố này đồng thời cao thì nguy cơ mắc bệnh ung thư sẽ lên tới 168%. Ngoài ra, nhiều sắt cộng với ít cholesterol HDL cũng làm tăng nguy cơ đến mức tương tự. Điều này chứng tỏ việc giảm sắt và lipid ở những người dư thừa hai vi chất này có thểgiúp ngăn ngừa bệnh ung thư.

Nguồn gia đình

Giảm nguy cơ ung thư vú bằng dầu cá

Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson ở Seattle, bang Washington (Hoa Kỳ) do tiến sĩ Emily White làm trưởng nhóm, đã tiến hành nghiên cứu trên 35.000 phụ nữ mãn kinh, chưa có tiền sử ung thư vú, họ được yêu cầu trả lời một bản câu hỏi dài 24 trang về việc bổ sung các chất đặc biệt không vitamin và không khoáng chất.

dau-ca-chong-ung-thu

Đây là nghiên cứu đầu tiên chứng minh được mối liên quan giữa việc bổ sung dầu cá với việc giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.

Nhóm nghiên cứu kết luận những người thường xuyên bổ sung dầu cá, có chứa hàm lượng cao các axit béo omega, EPA, DHA và giảm được 32% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.

Các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Harvard cũng tiến hành việc lựa chọn 2.000 phụ nữ ở độ tuổi trên 60 một cách ngầu nhiên, chưa từng có tiền sử mắc các bệnh này và chưa sử dụng các chất bổ sung dinh dưỡng để họ dùng thử Vitamin D và Omega-3. Kết quả thật đáng kinh ngạc khi những người này có tỉ lệ mắc bênh ung thư vú giảm trên 30% so với những người không sử dụng.

Nguồn giáo dục

Cân bằng hormone trong cơ thể phụ nữ

Vì vậy, điều quan trong là bạn nên quan tâm đến việc cân bằng lượng hormone trong cơ thể. Bạn không thể thay đổi quá trình sản sinh ra và mất đi của hormone tự nhiên nhưng bạn có những cách hiệu quả để nuôi dưỡng và cân bằng lượng hormone của bạn.

Ngủ đủ giấc

Điều đầu tiên bạn nên làm để cân bằng lượng hormone của cơ thể là ngủ đủ giấc. Bạn cần ngủ 9 tiếng, hoặc ít nhất cũng nên ngủ 7 tiếng. Nếu bạn bị thiếu ngủ, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi và khó tập trung. Bạn nên biết rằng, nếu bạn ngủ đủ giấc, đến khi chuông báo thức reo lên, bạn sẽ cảm thấy tỉnh táo và đủ sẵn sàng để bắt đầu một ngày mới.

Thiếu ngủ sẽ tạo nên sự mất cân bằng hormone mà kể cả chế độ ăn uống lành mạnh hay tập thể dục cũng không thể làm gì khá hơn. Tuy nhiên, ngủ quá nhiều sẽ gây tác dụng ngược lại, khiến bạn thêm mệt mỏi, gắt gỏng và thiếu động lực.

can-bang-hormone-trong-co-the-phu-nu

Điều chỉnh lượng insulin của bạn

Insulin là một hormone mà bất cứ khi nào, insulin bị mất cần bằng có thể làm các kích thích tố khác trong cơ thể mất cân bằng theo. Khi bạn ăn các loại thực phẩm có lượng carbonhydrat cao mà không ăn đủ chất đạm, insulin sẽ tăng vọt. Quá nhiều các loại thực phẩm giàu chất béo và carbonhydrat cũng có thể gây ra vấn đề này.

Vì vậy, để điều chỉnh lượng insulin của bạn một cách lành mạnh, khi ăn các loại thực phẩm có lượng carbonhydrat cao, bạn nên ăn kèm với thực phẩm giàu protein. Lưu ý rằng, khi bạn quá nhiều protein nạc sẽ có thể gây ảnh hưởng đến lượng hormone và sự trao đổi chất của bạn.

Sử dụng caffeine một cách hợp lý

Trong các nguồn tốt như café, trà, và socola với số lượng nhỏ, nhưng quá nhiều caffeine hoặc chọn nguồn caffeine có chất lượng kém, có thể gây tác dụng ngược và làm ảnh hưởng đến lượng hormone của bạn, thậm chí gây ra rối loạn nội tiết. Một lượng caffeine vừa phải có thể khiến bạn vui vẻ, tràn đầy sinh lực nhưng quá nhiều caffeine sẽ gây ra sự mất cần bằng estrogen, khiến bạn buồn rầu, căng thẳng và có thể dẫn đến tăng cân.

Ăn các thực phẩm giúp kích thích tình dục

Khi bạn có lượng kích thích tố thấp, hạm muốn tình dục của bạn sẽ giảm sút. Một cách dễ dàng để tăng cường nội tiết tố của bạn là ăn nhiều thực phẩm giúp tăng ham muốn như socola, rượu vang đỏ, vani, , astiso, quả sung, măng tây, cá hồi, khoai lang, lanh, hạnh nhân, hạt điều, oliu, chuối và quả mọng. Ăn nhiều hơn những thực phẩm này sẽ làm tăng lượng hormone và cải thiện tâm trạng của bạn.

Cung cấp đủ vitamin B cho cơ thể

Vitamin B rất quan trọng cho sự trao đổi chất của bạn, đặc biệt là cân bằng hormone trong cơ thể bạn. Vì vitamin B giúp cung cấp năng lượng cho bạn, khiến bạn bình tĩnh và giải tỏa căng thẳng. Thực phẩm giàu vitamin B bao gồm cá, yến mạch, thịt gà, măng tây, bơ, men dinh dưỡng, sữa chua, các loại hạt.

Ăn đủ chất xơ

Chúng ta điều biết rằng chất xơ là thứ nên có trong chế độ ăn uống và chất xơ cũng tốt cho hormone của bạn. Khi bạn ăn thực phẩm giàu chất xơ như trái cây và rau, chất xơ sẽ liên kết với lượng estrogen đã già cỗi và loại bỏ nó ra khỏi cơ thể.

Cung cấp đủ vitamin D

Bạn có biết rằng vitamin D hoạt động như một nội tiết tố trong cơ thể, vì vậy, bổ sung vitamin D cũng là bổ sung kích thích tố cho cơ thể. Ngoài ra, vitamin D giúp chống lại các bệnh dị ứng và hen suyễn cùng với nhiều bệnh khác, nhờ đó có thể giúp giữ sự cân bằng hormone trong cơ thể. Bạn có thể hấp thụ vitamin D từ ánh nắng tự nhiên và cũng như thêm và bổ sung vitamin D vào chế độ ăn uống của bạn.

Nguồn afamily

Thiếu vitamin D – ảnh hưởng tới sức khỏe như thế nào

Vitamin D vẫn được coi là vitamin dành cho xương vì nó làm chắc và khỏe xương. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng chứng minh rằng những người đủ vitamin D thường xuyên sẽ ít bị bệnh tim mạch và biến chứng bàn chân do tắc mạch hơn những người thiếu vitamin D trong cơ thể.

Bạn có nghĩ rằng mình bị thiếu vitamin D hay không? Chắc chắn bạn cho rằng mình vẫn tiếp xúc với ánh mặt trời hàng ngày thì không thể thiếu vitamin D được. Tuy nhiên, thực tế là bạn không biết mình hấp thụ được bao nhiêu vitamin D cho cơ thể và kết quả là rất nhiều người trong chúng ta rơi vào tình trạng thiếu vitamin D ở các mức độ khác nhau.

Nếu nói rằng ánh mặt trời có tác dụng giúp cơ thể bạn hấp thụ vitamin D thì cũng có nghĩa là cơ thể thiếu vitamin D do ít tiếp xúc với ánh mặt trời. Tuy nhiên, đây không phải là lý do duy nhất khiến bạn thiếu vitamin D.

thieu-vitamin-d-anh-huong-toi-suc-khoe-nhu-the-nao

Một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu vitamin D bao gồm:

1. Hạn chế tiếp xúc với ánh mặt trời

Các nguồn chính của vitamin D là từ ánh nắng mặt trời tự nhiên vì vậy nếu hạn chế tiếp xúc với ánh mặt trời sẽ có tác động lớn đến lượng vitamin hấp thụ vào cơ thể. Chúng ta đã nghe về sự nguy hiểm của bệnh ung thư da và sự cần thiết của kem chống nắng để bảo vệ chúng ta khỏi bệnh này. Thật không may, mối nguy hiểm của việc không nhận đủ vitamin D từ ánh nắng mặt trời lại không được nhiều người quan tâm.

Sử dụng kem chống nắng có độ SPF 30 có thể làm giảm sự tổng hợp vitamin D trong da tới hơn 95%. Thậm chí nếu bạn có tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, tổng lượng vitamin D cũng còn phụ thuộc vào mùa và thời tiết. Nếu thời tiết u ám, lượng vitamin D từ thiên nhiên sẽ không cao. Tuy nhiên, nếu bạn thường xuyên tiếp xúc ánh mặt trời vào những lúc nắng nóng gay gắt thì lại có thể ảnh hưởng đến da, có thể là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư da.

Vì vậy, bạn chỉ nên tiếp xúc ánh mặt trời 10-15 phút mỗi ngày hoặc vài lần/tuần để hấp thụ những vitamin D từ tự nhiên một cách tốt nhất.

2. Màu sắc của làn da

Melanin là hợp chất quyết định màu sắc của da bạn, những người có hàm lượng melanin ít thì da sẽ sáng màu, nhiều thì da sẽ sẫm màu hơn. Melanin có thể hấp thụ bức xạ tia UVB từ mặt trời và làm giảm khả năngíaản xuất vitamin D3 của da. Những người có làn da tự nhiên sẫm màu sẽ có thể tự bảo vệ da tốt hơn nhưng lại hấp thụ được ít vitamin D từ ánh mặt trời hơn so với những người có làn da trắng từ 3-5 lần.

Vì vậy, nếu bạn có làn da tối màu và ít tiếp xúc với ánh mặt trời thì bạn càng có nguy cơ cao thiếu vitamin D.

3. Béo phì

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa chỉ số BMI và nguy cơ thiếu vitamin D ở con người, trong đó chỉ số BMI cao dẫn tới giảm nồng độ vitamin D trong cơ thể. Những đối tượng thừa cân và béo phì (có chỉ số BMI trên 40) sẽ có lượng vitamin D trong cơ thể ít hơn 18% so với những người có chỉ số BMI dưới 40.

Nhà nghiên cứu chính, tiến sĩ Elina Hypponen thuộc Viện Sức khỏe trẻ em Đại học London cho rằng những nỗ lực giải quyết tình trạng béo phì cũng có thể giúp giảm mức độ thiếu hụt vitamin D.

thieu-vitamin-d-anh-huong-toi-suc-khoe-nhu-the-nao1

4. Cơ thể kém hấp thu

Một số người bị coi là kém hấp thụ vitamin D do họ mắc các bệnh như Crohn, celiac… Những người đã từng phẫu thuật giảm béo cũng thường không thể hấp thụ đủ vitamin D do các chất béo hòa tan vitamin D trong cơ thể bị thiếu hụt.

5. Tuổi tác

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng cùng với sự hấp thụ vitamin D có mối liên hệ mật thiết với tuổi tác. Khi càng về già, cơ thể bạn càng giảm khả năng tổng hợp vitamin D khi tiếp xúc với ánh mặt trời và từ thực phẩm, do đó nguy cơ thiếu vitamin D của bạn cũng cao hơn so với khi bạn còn trẻ.

6. Dùng một số loại thuốc trị bệnh

Một loạt các loại thuốc, kể cả thuốc kháng nấm, thuốc chống co giật, glucocorticoid và các loại thuốc điều trị HIV/AIDS… đều có thể tăng cường sự phân hủy của vitamin D khiến cho lượng vitamin D hấp thụ vào cơ thể không được nhiều. Ngoài ra, những người mắc các bệnh như bệnh thận mãn tính, cường giáp, rối loạn u hạt mãn tính và một số bệnh liên quan đến tế bào bạch huyết… cũng bị mất mát một số lượng vitamin trong quá trình chuyển hóa và hấp thụ từ ánh mặt trời hay các sản phẩm bổ sung vitamin D khác.

7. Không thường xuyên ăn các thực phẩm chứa vitamin D

Ngoài ánh mặt trời, vitamin D còn có nhiều trong các loại thực phẩm bạn ăn hàng ngày. Vì vậy, việc bổ sung vitamin D từ thực phẩm cũng là hết sức quan trọng và cần thiết. Nếu bạn tuân thủ chế độ ăn uống nghiêm ngăt, bỏ qua nhiều loại thịt, sữa động vật thì sẽ có nguy cơ thiếu hụt một lượng vitamin D lớn.
Nguồn thực phẩm giàu vitamin D bao gồm: cá, dầu cá, gan bò, pho mát và lòng đỏ trứng…

Theo Trí thức trẻ

Vitamin D và bệnh hen suyễn

vitamin-D

Các chuyên gia khảo sát thuộc Trường cao đẳng Hoàng gia London (Anh) cho biết, hàm lượng thấp vitamin D có liên quan đến triệu chứng hen xấu đi. Vitamin D thường được cơ thể tổng hợp khi da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. GS. Catherine Hawrylowicz và các đồng nghiệp nghiên cứu tác động của vitamin D đối với một hóa chất trong cơ thể được gọi là interleukin-17, là một phần quan trọng của hệ miễn dịch giúp ngừa bệnh hen suyễn.

Nhưng hóa chất này có thể gây rắc rối khi ở hàm lượng quá cao. Nghiên cứu cho thấy, hàm lượng interleukin-17 giảm đi khi vitamin D được đưa vào các mẫu máu của bệnh nhân hen suyễn.

Các nhà khoa học hiện đang tiến hành các thử nghiệm lâm sàng để xem liệu tắm nắng có thể giảm bớt các triệu chứng của bệnh nhân hen hay không.

Lưu Minh (Theo Daily mail, 7/2013)

Theo Suckhoedoisong

Những chế độ ăn giúp chống lão hóa

Chỉ cần một chút thay đổi trong chế độ ăn cũng có thể giúp bạn đẩy lùi các dấu hiệu của tuổi tác.

Hoa quả và rau xanh

Hoa quả và rau xanh chứa các chất chống ôxy hóa hỗ trợ loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể và giúp tái tạo tế bào. Vì vậy hãy ăn đa dạng các loại rau quả như cam quýt, việt quất, cà chua, rau xanh nhiều lá…

nhung-che-do-an-giup-chong-lao-hoa

Protein nạc

Trứng, thịt gà không da, cá là những nguồn cung cấp protein nạc mà bạn nên đưa vào chế độ ăn. Đối với những người ăn chay thì đậu phụ cũng là một lựa chọn tốt. Những thực phẩm này sẽ giúp bạn có làn da mềm và mịn.

Cá là nguồn cung cấp acid béo omega-3 dồi dào có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa. Các acid béo này cũng giúp bảo vệ chống bệnh tim và ngăn ngừa tổn thương da do ánh nắng mặt trời.

Các sản phẩm từ sữa

Các sản phẩm từ sữa giàu vitamin D và canxi. Bạn cần giữ cho xương chắc khỏe để phòng ngừa những vấn đề do loãng xương và các bệnh về xương.

Trà xanh

Trà xanh là một trong những nguồn cung cấp chất chống ôxy hóa tốt nhất và giúp ngăn ngừa lão hóa. Trà xanh cũng có tác dụng thúc đẩy chuyển hóa, giảm stress và giúp bạn tĩnh tâm.

Theo ANTĐ

Vitamin D thấp làm tăng nguy cơ thiếu máu ở trẻ

Một nghiên cứu mới ở Mỹ cho thấy hàm lượng vitamin D thấp có thể làm tăng nguy cơ bị thiếu máu ở trẻ.

Theo hãng tin ANI dẫn lời các nhà khoa học thuộc Trung tâm trẻ em Johns Hopkins (Mỹ), nghiên cứu của họ là bằng chứng của sự tương tác phức tạp giữa hàm lượng vitamin D thấp và chỉ số huyết học hemoglobin (chỉ số giúp nhận biết bệnh thiếu máu).
vitamin-thap-lam-tang-nguy-co-thieu-mau-o-tre
Để tìm hiểu mối liên hệ giữa vitamin D và thiếu máu, nhóm chuyên gia nghiên cứu mẫu máu của hơn 10.400 trẻ em, đo hàm lượng vitamin D và hemoglobin.

Kết quả là nồng độ vitamin D luôn thấp ở trẻ em có nồng độ hemoglobin thấp so với nhóm không bị thiếu máu. Nguy cơ thiếu máu xảy ra khi thiếu vitamin D nhẹ, được xác định là nồng độ vitamin D dưới 30 nanogram mỗi ml.

Các chuyên gia cho rằng đó có thể là vitamin D tác động đến việc sản sinh hồng cầu trong tủy xương, cũng như khả năng của vitamin D giúp điều chỉnh tình trạng viêm miễn dịch, vốn là chất xúc tác của bệnh thiếu máu.

Có thể bổ sung vitamin D từ tắm nắng thường xuyên cũng như qua ăn uống các món như sữa, cá…

Nghiên cứu này được công bố trên chuyên san Pediatrics.

Huỳnh Thiềm

Theo thanh niên

Bổ sung đúng vitamin cho xương chắc khỏe

 Xương chắc khỏe nhờ bổ sung đúng vitamin

Vitamin rất cần thiết để duy trì sức khỏe của xương và để giữ cho chúng mạnh mẽ. Khi chúng ta càng lớn tuổi thì mật độ xương giảm và sẽ gây ra bệnh loãng xương. Để duy trì sức khỏe của xương, bạn cần phải cung cấp cho xương đủ caxi và vitamin cần thiết.

Vitamin D
xuong-chac
Để duy trì mức canxi và phosphate trong cơ thể cần phải có đủ lượng vitamin D. Thiếu vitamin D gây ra rối loạn xương. Vitamin D giúp hấp thu canxi cho xương khỏe mạnh. Vì vậy, một chế độ ăn giàu vitamin D sẽ giúp cho xương khỏe mạnh.

Vitamin C

Xương của bạn có sự đàn hồi và khỏe là nhờ liên kết collagen. Vitamin C rất cần thiết cho cơ thể vì nó giúp sản xuất collagen. Vitamin C cũng giúp trong hoạt động của các tế, cần thiết để làm xương cứng.

Vitamin K

Để giúp tăng mật độ xương, việc bổ sung đủ vitamin K là cần thiết. Nó cũng giúp ngăn ngừa gãy xương. Nó cũng hỗ trợ chức năng hình thành xương mới. Vitamin K kéo canxi trong máu để gửi nó vào xương.

Vitamin B12

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng những người có thiếu hụt Vitamin B12 có khả năng dễ bị gẫy xương. Chính vì vậy bạn nên các loại thực phẩm giàu với B12 có thể giúp xây dựng xương mạnh mẽ hơn.

Kali

Kali giúp cân bằng kiềm trong cơ thể để duy trì khối lượng xương. Nó cũng ngăn ngừa canxi được bài tiết ra khỏi cơ thể, duy trì mức độ thích hợp canxi cần thiết để tăng cường cho xương.

Magiê

Đó là một trong những khoáng chất cần thiết nhất cho xương ngoài canxi. Sự hấp thu canxi tăng trong đường ruột cho xương luôn chắc khỏe. Nó cũng giúp xây dựng sức đề kháng cơ thể chống lại các bệnh liên quan đến xương. Tăng lượng tiêu thụ của các loại hạt và rau xanh có thể giúp cung cấp cho cơ thể lượng magiê giúp duy trì sức khỏe của xương.

Theo dân việt

Lợi và hại cho con sử dụng vitamin tổng hợp?

Với sự xuất hiện ngày một nhiều của các sản phẩm bổ sung vitamin cho bé, các bậc phụ huynh không khỏi hoang mang trong việc tìm ra sản phẩm phù hợp nhất với con yêu của mình.

Được sản xuất trên 21 quy trình chuẩn tại Mỹ, có dưỡng chất DHA giúp trẻ phát triển trí não tối ưu, được thiết kế hình động vật đáng yêu, hương vị hoa quả hấp dẫn… những viên kẹo dẻo Animal Parade VitaGels được coi là bước đột phá trong ngành công nghiệp dược phẩm bởi sự thân thiện với người dùng.

Tuy nhiên, không ít bậc cha mẹ vẫn không khỏi ngần ngại khi bỏ tiền mua sản phẩm này cho các con yêu.
vitamin tong-hop
1. Tôi thấy giá của sản phẩm Animal Parade VitaGels đắt hơn nhiều so với các sản phẩm bổ sung vitamin khác cho bé. Vì sao lại như vậy?

Trả lời: Bạn thân mến, điểm khác biệt lớn nhất của Animal Parade VitaGels – Nature’s Plus so với các sản phẩm khác chính là sự có mặt của dưỡng chất DHA trong thành phần sản phẩm. Vai trò của DHA là giúp bé phát triển trí não, thông minh vượt trội; phát triển thị giác và tăng cường miễn dịch. Rất hiếm sản phẩm vitamin tổng hợp trên thị trường có chứa DHA. Đây là lí do VitaGels đắt hơn các sản phẩm thông thường.

2. Con tôi biếng ăn kinh khủng, sản phẩm này có giúp bé ăn ngon được không?

Trả lời: Một trong những công dụng lớn nhất của VitaGels chính là giúp bé ăn ngon; bổ sung dưỡng chất thiếu hụt cho bé do kén ăn, biếng ăn, dị ứng thực phẩm… Vì vậy, đây chính là sản phẩm thích hợp cho bé yêu của bạn.

3. Sản phẩm này có mùi gì? Con gái tôi 5 tuổi, cháu rất sợ uống thuốc. Tôi sợ mua sản phẩm về cháu không uống.

Trả lời: Sản phẩm có mùi quả anh đào thơm nhẹ; không gây, không hăng như các loại thuốc hay các sản phẩm bổ sung thông thường, bạn có thể hoàn toàn an tâm về mùi vị của sản phẩm. Nếu bé của bạn ăn được kẹo mùi hoa quả, bé cũng sẽ dùng được sản phẩm này.

4. Viên này uống thế nào? Có to không? Con tôi 4 tuổi, lúc uống thuốc cháu hay bị trớ lắm.

Trả lời: Mỗi viên uống VitaGels đều được thiết kế dưới dạng các viên kẹo dẻo hình động vật ngộ ngĩnh màu đỏ. Bạn hoàn toàn an tâm về việc bé sẽ không phải nuốt những viên thuốc cứng hay to nhé. Khi nhai VitaGels, bé nhà bạn sẽ thích thú như đang nhai kẹo vậy

5. Sản phẩm này dùng cho trẻ mấy tuổi? Có bao nhiêu viên? Dùng thế nào? Dùng trong bao lâu?

Trả lời: Đây là sản phẩm dành cho bé từ 4 tuổi trở lên. Mỗi hộp sản phẩm bao gồm 90 viên nhai. Chỉ cần mỗi ngày nhai 1 viên, bé sẽ được bổ sung đầy đủ vitamin, khoáng chất và đặc biệt là DHA. Với 1 hộp sản phẩm, bé có thể dùng trong 3 tháng

6. Sản phẩm có gây tác dụng phụ gì không?

Trả lời: Sản phẩm không gây bất cứ tác dụng phụ gì cho bé. Đây cũng không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

7. Những trẻ nào nên dùng sản phẩm này?

Trả lời: Đây là sản phẩm bổ sung vitamin, khoáng chất và DHA giúp phát triển trí não, vì vậy, bạn có thể dùng cho tất cả các bé từ 4 tuổi trở lên, đặc biệt:

– Bé kém hấp thu, biếng ăn, dị ứng thức ăn, chậm tăng cân

– Bé tới tuổi đi học

8. Tôi đã từng mua sản phẩm này, nếu mua tiếp, tôi có được giảm giá không?

Trả lời: Tất cả các khách hàng khi mua sản phẩm tại Nhathuoc365.vn đều sẽ được tích điểm và được giảm giá trong các lần mua sau. Tuy nhiên, hiện tại, đối với riêng sản phẩm Animal Parade VitaGels, Nhathuoc365.vn đang giảm giá tới 40% cho thành viên của website Methongtphimhai.com.vn chỉ trong tháng 4/2013. Đây là mức giảm giá chưa từng có tại Việt Nam đối với sản phẩm này.

Theo tiền phong

Những căn bệnh nan y do thiếu hụt Vitamin D

Vitamin D thực chất là một loại hoóc-môn, cơ thể không thể tổng hợp mà phải lấy từ nguồn bổ sung. Nó cũng được xem là nguồn calcitro (vitamin D đã hoạt hóa) duy nhất của cơ thể ảnh hưởng đến 2.000 gen, đặc biệt là tăng cường miễn dịch. Vì lý do này nếu thiếu hụt vitamin D sẽ gây ra rất nhiều loại bệnh nan y, trong đó có 10 căn bệnh dưới đây.

1. Bệnh cúm

Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí Cambridge Jourrnal của Anh số ra tháng 3/2013, nếu thiếu hụt vitamin D ở trẻ em dễ phát sinh bệnh về đường hô hấp. Vì vậy, các bậc phụ huynh cần quan tâm bổ sung đầy đủ vitamin D cho trẻ, nhất là bằng cách tắm năng và ăn uống.

2. Suy nhược cơ bắp

Theo Michael F. Holick, chuyên gia vitamin D hàng đầu ở Đại học Zurich, Thụy Sĩ, những người có sức khỏe cơ bắp yếu là do thiếu hụt vitamin D trầm trọng, bởi đây là dưỡng chất rất cần cho cơ xương hoạt động đúng chức năng, không bị suy nhược.

3. Bệnh vảy nến

Sau khi kết thúc một nghiên cứu dài kỳ, Trung tâm y học PubMed của Anh đã phát hiện thấy nếu thiếu hụt vitamin D con người dễ mắc phải bệnh vảy nến. Bằng chứng, những người dân sống ở vùng ít ánh sáng tự nhiên thì tỉ lệ mắc bệnh vảy nến rất cao.

4. Bệnh thận mãn tính

Cũng theo nghiên cứu của Đại học Zurich, Thụy Sĩ, nguyên nhân gây bệnh thận mãn tính tiến triển (nhất là nhóm người phải chạy thận) là do cơ thể không thể tổng hợp đủ lượng vitamin D cần thiết dẫn đến tình trạng thiếu hụt kinh niên. Nhóm người này cần phải được bổ sung 1,25-dihydroxyvitamin D3 hoặc dưỡng chất tương tự calcemic để hỗ trợ quá trình trao đổi canxi, làm giảm nguy cơ mắc bệnh thận và điều chỉnh nồng độ hoóc-môn tuyến cận giáp.

5. Đái tháo đường

Theo một nghiên cứu được tiến hành ở 10.366 trẻ em Phần Lan, công bố trên trang tin y học trực tuyến Lancet.com thì nhóm trẻ được dùng liều 2.000 đơn vị quốc tế (IU)/ngày vitamin D3 trong thời gian đầu đời, sau đó được theo dõi trong 31 năm liền thì giảm được tới 80%  rủi ro mắc bệnh bệnh đái tháo đường týp 1, điều này cho thấy vitamin D3 có tác dụng rất lớn trong việc hạn chế bệnh đái tháo đường ở trẻ nhỏ.

benh-nan-y-do-thieu-hut-vitamin

6. Bệnh hen suyễn

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản, trẻ em được cung cấp đầy đủ vitamin D sẽ giảm được đáng kể bệnh hen học đường. Liều khuyến cáo cho trẻ là 1.200 IU/ngày.

7. Bệnh nha chu

Những người bị bệnh về nướu mãn tính, đau nhức và chảy máu nướu nên tăng cường thêm vitamin D để giúp cơ thể sản xuất đủ defensins và cathelicidin. Đây là các hợp chất có chứa các vi sinh vật, giúp làm giảm vi khuẩn gây bệnh có trong miệng.

8. Bệnh tim mạch

Suy tim sung huyết là một trong số những căn bệnh dễ nhận biết nhất của hiện tượng thiếu hụt vitamin D. Đó là kết luận rút ra từ nghiên cứu do  Đại học Harvard, Mỹ, thực hiện ở phụ nữ. Theo nghiên cứu này, phụ nữ có mức vitamin D thấp (17ng /m [42nmol/L máu]) thì nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp tới 67% so với những người không thiếu hụt vitamin D, đây là căn bệnh dẫn đến mắc bệnh tim rất tiềm ẩn.

9. Tâm thần phân liệt và trầm cảm

Theo nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện thấy việc cung cấp đầy đủ vitamin D ở phụ nữ mang thai và trong thời gian thơ ấu của trẻ sẽ mang lại lợi ích to lớn, giúp não của trẻ phát triển tốt, đảm nhận tốt các chức năng thần kinh và hạn chế tối đa nguy cơ mắc bệnh thần kinh nhất, bệnh tâm thần phân liệt và trầm cảm ở trẻ nhỏ.

10. Ung thư

Trung tâm Y tế thuộc Đại học Georgetown (Mỹ) vừa kết thúc một nghiên cứu dài kỳ và phát hiện thấy mối liên kết giữa việc bổ sung liều vitamin D cao và tác dụng giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Theo nghiên cứu này,  những phụ nữ thường xuyên tắm nắng và bổ sung vitamin D qua ăn uống giảm được tới 75% rủi ro mắc các loại bệnh ung thư nói chung và 50% nguy cơ di căn ở nhóm đã mắc bệnh, nhất là ung thư vú nhạy cảm với estrogen.

Giải pháp ngăn ngừa thiếu hụt vitamin D

Có hai nguồn vitamin D tin cậy là từ ánh nắng mặt trời (tắm nắng 20 phút/ngày) và dùng thuốc bổ. Ngoài ra có khoảng 10% lượng vitamin D cần cho cơ thể mỗi ngày lấy từ thức ăn. Thực phẩm giàu vitamin D gồm dầu gan cá, các loại nước cam, ngũ cốc và sữa đã được bổ sung chất dinh dưỡng, nấm, lòng đỏ trứng… Lượng vitamin D bổ sung theo khuyến cáo của Viện Dược phẩm Mỹ từ 200 – 600 IU/ngày. Thực tế lượng vitamin D cần cho mỗi người còn phụ thuộc vào tuổi tác, lượng vitamin D có trong máu. Nếu nồng độ thấp thì phải dùng mức cao hơn, thậm chí có trường hợp dùng từ 2.000 – 4.000 IU mỗi ngày.

Theo MNC- 4/2013

KHẮC NAM

Theo SKDS

Trị triệt để chứng mồ hôi trộm

Nhiều trẻ sơ sinh thường hay mắc chứng ra mồ hôi nhiều, nhất là ban đêm (còn gọi là ra mồ hôi trộm) khiến các bà mẹ lo lắng, nếu trẻ vẫn ăn ngủ và sinh hoạt bình thường, ra mồ hôi ở trẻ được cho là vấn đề không đáng lo ngại, nhưng nếu việc ra mồ hôi làm trẻ bứt rứt, ăn ngủ không yên, các bà mẹ hãy cẩn thận tìm hiểu nguyên nhân để nhanh chóng khắc phục tình hình.

Nỗi lo từ các bà mẹ

Chị T. Ngân, ngụ Q. Bình Thạnh (TP. HCM) có bé gần tròn 6 tháng tuổi bày tỏ băn khoăn: “Không hiểu sao ban đêm bé nhà mình ngủ rất hay ra mồ hôi. Khi mới sinh, bà ngoại đã mua gối vỏ đậu để bé nằm đỡ ra mồ hôi nhưng đêm con nằm, gối vẫn ướt đẫm. Ban ngày mở quạt nhưng cứ bú một lúc, mồ hôi lại lấm tấm trên trán. Không biết có phải do thân nhiệt con bé nóng quá hay không nữa!”.

Đem băn khoăn hỏi những người xung quanh, chị nhận được nhiều ý kiến chia sẻ khác nhau, người nói bé bị thiếu canxi, người kêu chị ủ con kín quá… Mỗi người một ý kiến bà mẹ trẻ càng băn khoăn.

Chị Phương Anh (Q.2, TP. HCM) có cậu con trai khá bụ bẫm được 3 tháng cũng gặp tình trạng tương tự. Chị cho biết dù đã phơi nắng bé từ lúc được 2 tuần, sáng nào cũng cho phơi nắng đều đặn nhưng đêm ngủ là mồ hôi bé ra ướt đẫm. “Bế con bú mà mồ hôi sau gáy con ra ướt hết tay, không biết làm thế nào cho hết tình trạng này?”, chị lo lắng. Đây cũng là mối quan tâm của không ít bà mẹ khác.
1365543786-mohoitrom_lamme_eva1.jpg3

Vì sao trẻ hay ra mồ hôi trộm?

Không khó gặp tại các phòng khám trẻ em, câu hỏi các bác sĩ thường gặp bên cạnh những vấn đề như: “cháu hay bị khò khè”, “cháu cao và cân nặng như thế này có nhỏ?”… luôn là: “sao đêm cháu ngủ ra mồ hôi nhiều quá”.

Theo các bác sĩ Nhi, việc trẻ sơ sinh hay ra mồ hôi khá phổ biến và điều này được giải thích là do hệ thần kinh thực vật của trẻ lúc này chưa ổn định, đang trong giai đoạn phát triển hoàn thiện.

Chính vì vậy, trẻ ra mồ hôi nhiều. Mặt khác, việc ra mồ hôi cũng phụ thuộc vào sự điều hòa của hệ thần kinh. Rối loạn hệ thần kinh thực vật, hệ giao cảm cũng sẽ khiến trẻ ra mồ hôi nhiều hơn.

Thêm một nguyên nhân khiến trẻ ra mồ hôi nhiều được các bác sĩ cho biết đó là thiếu vitamin D. Các bé sinh sớm, thiếu cân, bị rối loạn tiêu hóa kéo dài cũng thường thiếu vitamin D. Thiếu vitamin D, trẻ hay ra mồ hôi trộm, bứt rứt, ngủ không yên, hay giật mình. Giai đoạn này, hệ xương của trẻ phát triển mạnh, chính vì vậy cần bổ sung canxi cho trẻ.

Các bác sĩ thường cho trẻ uống thêm vitamin D và khuyên các bà mẹ nên thường xuyên phơi nắng con để bổ sung vitamin D cho bé.

Mặt khác, nguyên nhân khách quan khiến trẻ ra mồ hôi nhiều còn do cha mẹ, những người chăm bé gây ra. Việc ủ ấm bé quá cũng khiến bé nóng nực mà ra mồ hôi nhiều. Nhiều bà mẹ hay quấn con quá kỹ trong khăn, trẻ ngủ lại chặn nhiều chăn gối xung quanh khiến bé ngột ngạt, nóng bức. Phòng ngủ đóng bít cửa trong thời tiết nắng nóng như hiện nay cũng có thể khiến bé khó chịu.

Khắc phục chứng ra mồ hôi ở trẻ

Nếu trẻ ra mồ hôi nhưng vẫn ăn ngủ, sinh hoạt bình thường, cha mẹ có thể không cần quá lo lắng, chỉ cần lau khô cho bé, để ngủ thoáng mát là được. Mẹ nên lấy khăn khô lau lưng và đầu bé. Nếu không lau khô, mồ hôi ra nhiều có thể sẽ thấm ngược trở lại vào cơ thể khiến bé dễ bị nhiễm lạnh.

Với trẻ ra mồ hôi, đêm ngủ bứt rứt khó chịu, quấy khóc do thiếu vitamin D, cha mẹ cần bổ sung ngay cho trẻ bằng cách tắm nắng hoặc uống thêm vitamin D theo chỉ định của bác sĩ.

Cha mẹ cũng cần chú ý luôn giữ cho trẻ được thoáng mát. Phòng ngủ của bé nên thông thoáng, quần áo chất liệu nhẹ nhàng. Chỗ chơi của bé cũng cần mát mẻ, nên hạn chế đưa bé ra ngoài trời nắng nếu không cần thiết.

Ngoài ra, nếu trẻ ra nhiều mồ hôi, cha mẹ cũng cần chú ý tắm rửa, lau mát người cho bé để tránh rôm sảy, trẻ bứt rứt khó chịu trong người.

Phơi nắng cho trẻ đúng cách

Phơi nắng giúp bé bổ sung thêm canxi, vitamin D nhưng phơi nắng thế nào để cơ thể bé hấp thu được tốt nhất? Nhiều người vẫn cho con đi phơi nắng đều đặn nhưng hiệu quả lại không cao, đó hoàn toàn do cha mẹ chưa biết cách phơi nắng cho con sao cho khoa học. Khi phơi nắng, cha mẹ cần chú ý những điều như sau:

– Mẹ nên tắm nắng cho bé đều đặn. Ánh nắng tốt nhất là lúc trước 8 giờ sáng (thường từ 6g30 – 7h30). Vào mùa đông, việc tắm nắng cho bé có thể diễn ra chậm hơn, vào khoảng 9 – 10 giờ. Thời lượng tắm nắng khoảng 15 – 30 phút.

– Nên chọn nơi tắm nắng ít gió lùa để tránh bé bị nhiễm lạnh – như bạn biết đấy, hệ hô hấp của trẻ lúc này còn khá yếu.

– Hãy để da bé tiếp xúc với ánh nắng càng nhiều càng tốt. Cha mẹ nên kéo áo lên phơi để da bé hấp thu được ánh nắng tốt nhất.

– Khi phơi nắng, chú ý cần tránh không để ánh nắng chiếu trực tiếp vào mắt, đầu bé vì tia cực tím khá mạnh có thể khiến não, mắt bé bị tổn thương.

– Hãy để các bộ phận cơ thể trẻ lần lượt tiếp xúc với ánh nắng. Ba mẹ có thể phơi lần lượt từ lưng, bụng, chân…

Nguồn eva

Dầu cá dùng sai sẽ gây nhiều tác hại

Dầu cá là loại thuốc hoặc thực phẩm chức năng (TPCN) có dạng viên nang mềm chứa vitamin tan trong dầu hoặc chất bổ dưỡng gọi là dầu gan cá được dùng nhằm bồi dưỡng sức khỏe. Dầu cá thông dụng hiện nay chia là 2 loại: “dầu cá chứa vitamin tan trong dầu là vitamin A, D” và “dầu cá chứa acid béo omega-3, omega-6”. Hai loại dầu cá này hiện nay được nhiều người mua, đặc biệt mua dùng cho trẻ, nhưng sự hiểu biết về chúng có nhiều hạn chế.

Dầu cá chứa vitamin A, D

Đây là loại dầu cá bổ sung vitamin tan trong dầu. Có 4 vitamin tan trong dầu phải được bổ sung cho cơ thể hằng ngày là vitamin A, D, E, K. Riêng loại dầu cá bổ sung vitamin A, D đáng nói nhất vì đây liên quan đến hai vitamin trẻ con thường bị thiếu hụt và vitamin A và D dùng không đúng dễ bị quá liều gây ngộ độc.

Trong thiên nhiên, vitamin A có nhiều trong trứng, sữa, bơ, gan, thịt động vật. Vitamin A còn được tìm trong thực vật, dưới dạng tiền sinh tố A (còn gọi là bêta-caroten) có nhiều trong các loại rau có màu đỏ, vàng hoặc xanh lục đậm. Đây có thể được xem là các nguồn thiên nhiên bổ sung vitamin A rất tốt cho trẻ và sử dụng các nguồn này thì không bao giờ sợ quá liều. Vitamin A tham gia vào sự tạo ra các mô, da, võng mạc ở mắt giúp thị giác hoạt động tốt, tăng cường sức đề kháng của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm trùng. Nếu thiếu vitamin A, trẻ sẽ bị quáng gà, khô mắt đưa đến mù mắt, dễ bị bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt nhiễm khuẩn đường hô hấp, chậm lớn…

dau-ca-dung-sai-loi-bat-cap-hai

Còn Vitamin D có tên khoa học là calciferol, được cung cấp từ thực phẩm có hai dạng: vitamin D2 hay ergocalciferol hiện diện trong thực vật (trong nấm men và một số loại nấm) và vitamin D3 hay cholecalciferol có trong động vật (nhiều nhất là dầu gan cá biển sâu). Đặc biệt, ở vùng thượng bì của da chúng ta có chứa hợp chất 7-dehydrocholesterol cũng được xem là tiền vitamin D. Khi có tia cực tím của ánh nắng (đặc biệt là UVB có bước sóng 290 – 325nm) chiếu vào da sẽ biến tiền vitamin D thành cholecalciferol tức vitamin D3. Các nhà khoa học ghi nhận, chỉ cần 10 phút để cho hai tay và khuôn mặt lộ ra dưới nắng mặt trời không cần gắt lắm là đủ cho việc tổng hợp vitamin D với lượng cần thiết cho cả một ngày. Vai trò chính của vitamin D là tạo xương bằng cách duy trì lượng canxi và phospho có sẵn trong cơ thể để hóa xương. Nếu thiếu vitamin D, sẽ thiếu chất khoáng cho xương và răng đưa đến còi xương ở trẻ con và nhuyễn xương, loãng xương ở người lớn.

Vitamin A và D là hai vitamin tan trong chất béo và cùng có mặt trong gan một số cá như gan cá thu, cá nhám… nên thông thường bổ sung 2 vitamin này có chế phẩm gọi là thuốc viên dầu gan cá (Cods Liver Oil) cung cấp cùng lúc vitamin A và vitamin D hay thuốc viên vitamin A-D. Người lớn và các bậc cha mẹ muốn cho trẻ uống bổ sung vitamin A, D xin lưu ý mấy điều sau đây để sử dụng thuốc cho hiệu quả tốt nhất:

– Nếu có điều kiện nên tham khảo thầy thuốc khi cho trẻ dùng thuốc, mặc dù là dùng chế phẩm chứa vitamin.

– Nếu dùng quá liều đưa đến thừa vitamin A, có thể gây quái thai ở phụ nữ có thai, còn trẻ sơ sinh thì bị tăng áp lực sọ não đưa đến lồi thóp, viêm teo dây thần kinh thị giác. Dùng quá liều vitamin D sẽ gây vôi hóa nhau (rau) thai ở phụ nữ có thai, còn trẻ thì bị chán ăn, mệt mỏi, nôn ói, xương hóa sụn sớm. Ở nước ta, đã có nhiều trường  hợp trẻ con do uống quá liều vitamin A, D bị tác dụng phụ có hại gây tăng áp lực sọ não, bị lồi thóp phải đưa đến bệnh viện cấp cứu.

– Hằng ngày, trẻ chỉ nên uống lượng dầu gan cá hoặc vitamin A-D tương ứng với 2.500 đơn vị quốc tế (IU) vitamin A và 400 IU vitamin D. Còn người lớn thì không được dùng quá 5.000 IU vitamin A/ngày và 400 IU vitamin D/ngày. Để không quá liều, nên uống theo từng đợt cách quãng, nghĩa là sau khi uống 3 tuần phải ngưng uống 1 – 2 tuần nếu muốn tiếp tục.

– Vẫn phải cho trẻ ăn đầy đủ chất béo (mỡ, dầu thực vật) và cho uống thuốc vitamin A, D ngay sau khi ăn để thuốc dễ hấp thu hơn.

– Không cho trẻ dùng chế phẩm vitamin A, D khi trẻ đã được cơ sở y tế cho uống vitamin A liều cao theo chương trình chống mù lòa ở trẻ do thiếu vitamin A.

Dầu cá chứa acid béo omega-3, omega-6

Omega-3 và omega-6 là 2 loại acid béo được cho là tốt cho tim mạch do người ta nhận thấy người Eskimo hiếm bị bệnh động mạch vành (động mạch vành bị hẹp bít do cặn mỡ) và dân tộc này ăn rất nhiều cá có chứa acid béo omega-3, omega-6. Nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ DHA (viết tắt của docosahexaenoic acid là chất mà acid omega-3 tạo thành trong cơ thể) được bổ sung có thể làm giảm lượng triglycerid máu, làm giảm tỉ lệ bệnh động mạch vành, giảm tỉ lệ bị nhồi máu cơ tim.

Nếu có chế độ dinh dưỡng không tốt, ăn quá thừa năng lượng như ăn nhiều dầu mỡ, uống nhiều bia rượu, hoặc người đó đã nhuốm bệnh gọi là rối loạn lipid huyết thì dù uống bao nhiêu dầu cá người đó vẫn bị tăng lipid huyết.

Dầu cá chứa omega-3, omega-6  hiện nay được lưu hành dưới dạng TPCN. Dùng dầu cá được ghi là TPCN, ta vẫn phải dùng đúng liều lượng theo hướng dẫn thì mới an toàn. Hiện nay có tình trạng nhờ quảng cáo, tiếp thị rầm rộ nên nhiều người cả tin, cứ tưởng TPCN là “thần dược” chữa bá bệnh. Như có người uống “dầu cá” trong suốt cả một năm với hy vọng là giúp “mỡ trong máu” tốt nhưng không ngờ khi khám sức khỏe thì bị rối loạn lipid huyết, tức mỡ trong máu, trong đó có cholesterol tăng cao. Ở đây, đương sự không biết “dầu cá” chỉ có tác dụng hỗ trợ, còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu có chế độ dinh dưỡng không tốt, ăn quá thừa năng lượng như ăn nhiều dầu mỡ, uống nhiều bia rượu, hoặc người đó đã nhuốm bệnh gọi là rối loạn lipid huyết thì dù uống bao nhiêu dầu cá người đó vẫn bị tăng lipid huyết.

Tóm lại, để phòng chống bệnh tật ta nên góp phần chống ô nhiễm môi trường, vệ sinh cá nhân thật tốt, dinh dưỡng đầy đủ và đúng cách (tránh ăn uống quá thừa năng lượng, ăn nhiều rau quả, trái cây…), vận động hợp lý và nghỉ ngơi đầy đủ, tránh nghiện rượu, thuốc lá, phòng các bệnh viêm nhiễm, có cuộc sống lành mạnh giúp thư thái, lạc quan, yêu đời. Nếu có điều kiện, có thể dùng các loại dầu cá nhưng phải dùng với ý thức thận trọng như dùng thuốc (dùng đúng cách, dùng đúng liều lượng) cũng như không nên gán tác dụng gọi là “thần kỳ” cho dầu cá hay bất cứ loại TPCN nào.

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC

Theo SKDS

Dinh dưỡng phòng ngừa loãng xương

Loãng xương hiện nay đang là một trong những căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi, nhất là phụ nữ. Hậu quả gãy xương hoặc gãy lún cột sống… do loãng xương thường khá nặng nề với sức khỏe người cao tuổi vì xương rất lâu liền, điều trị tốn kém, người bệnh phải nằm lâu ngày nên dễ bị bội nhiễm (viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét mục…), là gánh nặng cho người bệnh, gia đình và cả xã hội. Nhưng nhiều người không để ý đến một điều rất quan trọng để phòng ngừa loãng xương, đó là chế độ dinh dưỡng đảm bảo cho một bộ xương chắc khoẻ ngày từ những năm đầu đời.

dinh_duong_phong_ngua_loang_xuong

“Kẻ cắp thầm lặng”

Theo tổng kết của Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP.HCM, loãng xương là nguyên nhân của hơn 90% trường hợp người cao tuổi bị gãy xương sau những cú ngã nhẹ. Hiện tại Việt Nam, ước tính có 2,5 triệu người bị loãng xương và trên 150.000 trường hợp gãy xương do loãng xương.

Xương chắc khoẻ nhất ở thời kỳ đầu trưởng thành. Hàm lượng chất khoáng trong xương cao nhất ở tuổi 25, sau đó giảm xuống ở nữ vào tuổi mãn kinh và nam khoảng 52 tuổi. Tỷ lệ khối lượng giảm hàng năm thay đổi từ 0,5 đến 2% tùy theo từng người. Những người có chế độ dinh dưỡng cân đối và thói quen tập thể dục từ khi còn trẻ thì có ít nguy cơ bị bệnh này hơn vì xương vẫn duy trì khoẻ mạnh khi được vận động.

Loãng xương là một căn bệnh diễn biến từ từ và không có triệu chứng rõ rệt, khiến người bị loãng xương thường không biết mình bị bệnh. Căn bệnh này được ví như “một kẻ cắp thầm lặng”, từng chút một, đánh cắp đi các khoáng chất trong ngân hàng xương của cơ thể. Khi xương bị loãng, cơ thể sẽ mất đi một số lượng lớn tổ chức xương trong toàn bộ thể tích xương, làm độ đặc của tổ chức xương giảm đi. Các yếu tố có ảnh hưởng tới độ đặc của xương bao gồm: Thiếu oestrogen (xuất hiện ở phụ nữ tuổi mãn kinh); thiếu hoạt động; hút thuốc lá; uống rượu; chế độ dinh dưỡng thấp, nhất là nghèo canxi.

Bệnh loãng xương gây gãy xương sau những va chạm rất nhẹ ở người cao tuổi, khi  xương bị gãy sẽ rất khó và rất lâu liền trở lại. Người bệnh phải nằm một chỗ, điều trị dài ngày trong bệnh viện, tốn kém nhiều thời gian, tiền bạc và công sức của người nhà. Nguy hiểm hơn, khi phải nằm lâu để điều trị sẽ kéo theo nhiều biến chứng bất lợi như bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, loét mục ở các nơi tì, đè… có thể gây tàn phế suốt đời và giảm tuổi thọ của người bệnh.

Vai trò của dinh dưỡng phòng ngừa loãng xương

Việc điều trị bệnh loãng xương khó khăn và tốn kém nên chúng ta cần biện pháp phòng ngừa bằng cách xây dựng chế độ dinh dưỡng đảm bảo cho xương chắc khỏe bằng cách bổ sung lượng canxi và vitamin D phù hợp trong suốt tuổi ấu thơ, tuổi dậy thì và trưởng thành.

Canxi: Canxi cần cho tim, cơ bắp, và thần kinh để hoạt động bình thường và giúp máu đông. Thiếu canxi là nguyên nhân chính gây ra loãng xương. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, chế độ ăn ít canxi có liên quan đến khối xương thấp và tỷ lệ gãy xương cao. Do đó cần xây dựng những bữa ăn giàu canxi. Thực phẩm giàu canxi bao gồm: sữa và các chế phẩm từ sữa, tôm, cua, tép (nhất là tôm, cua đồng), ốc, lòng đỏ trứng, rau dền, rau đay, rau mồng tơi, rau ngót, đậu nành, vừng,… Ngoài ra cần chú ý lượng protein (chất đạm) trong khẩu phần nên vừa phải, vì chế độ ăn nhiều đạm làm tăng bài xuất canxi theo nước tiểu.

Nếu không ăn đủ canxi trong chế độ ăn, cần bổ sung thêm canxi. Lượng canxi bổ sung tùy thuộc vào lượng canxi hấp thu được từ thức ăn. Tất cả các dạng canxi đều được hấp thu như nhau khi dùng chung với thức ăn trừ khi người bệnh có vấn đề về đường tiêu hóa. Thuốc bổ sung canxi được hấp thu tốt hơn ở liều nhỏ (<=500mg) nhiều lần trong ngày.

Vitamin D: Cơ thể cần vitamin D để hấp thu canxi. Thiếu vitamin D sẽ không thể tạo đủ hormone calcitriol (dạng vitamin D có hoạt tính), dẫn đến không hấp thu đủ canxi từ thức ăn. Trong trường hợp này, cơ thể sẽ lấy canxi từ nơi dự trữ là xương, làm cho xương bị yếu đi và ngăn chặn việc tạo xương mới.

Có 3 cách thu nhận vitamin D: qua da, từ thức ăn và từ thuốc. Vitamin D được hình thành một cách tự nhiên bởi cơ thể sau khi phơi nắng. Phơi nắng trực tiếp 15 phút vài lần trong tuần là đủ để tạo được lượng vitamin D cần thiết. Các chuyên gia y tế khuyến cáo dùng mỗi ngày 400 – 600 IU vitamin D, từ thuốc hay thực phẩm giàu vitamin D như: lòng đỏ trứng, cá biển, gan và sữa bổ sung vitamin D.

Cần ăn nhiều rau và trái cây, các thức ăn có chứa nhiều oestrogen thực vật như: giá đỗ, đậu nành, bắp cải, cà chua, dưa chuột, tỏi… cũng làm giảm mất xương và làm tăng chất khoáng trong xương.

Tóm lại, bệnh loãng xương có thể được phòng ngừa tốt bằng việc duy trì một chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý ngay từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành và trong suốt cuộc đời. Riêng ở phụ nữ sau khi mãn kinh, khi lượng oestrogen giảm loãng xương sẽ được phòng ngừa tốt nhất bằng liệu pháp hormon thay thế (nếu có chỉ định và điều kiện) kết hợp với chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý.

BS. Thu Lan
Theo SKĐS

Nguyên tắc bổ sung vitamin D cho trẻ

Bệnh còi xương hay xuất hiện ở trẻ dưới 3 tuổi, nhất là trẻ dưới 1 tuổi, trẻ đẻ non, thiếu cân. Nguyên nhân chủ yếu gây còi xương ở trẻ là tình trạng thiếu ánh sáng mặt trời khiến cho  tiến trình tự tổng hợp vitamin D của cơ thể trẻ bị ảnh hưởng. Ngoài ra, còn do chế độ ăn uống không hợp lý như không được bú sữa mẹ thường xuyên, hay bị tiêu chảy làm giảm hấp thu vitamin D.

Các biểu hiện của còi xương thay đổi tùy theo từng thời kỳ tiến triển. Ở giai đoạn sớm, trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, vã nhiều mồ hôi cả lúc thức lẫn lúc ngủ, có dấu hiệu rụng tóc hình vành khăn. Giai đoạn muộn, xương sọ có dấu hiệu miềm, thóp trước rộng, bờ mềm, chậm kín; có bướu ở trán, ở đỉnh đầu làm đầu to ra.Trẻ chậm mọc răng, lồng ngực có khi biến dạng như ngực gà. Các đầu xương dài bị bè ra; chân cong kiểu vòng kiềng hoặc choãi ra như chữ X. Cột sống có thẻ bị gù vẹo; xương chậu bị biến dạng hẹp. Bụng của trẻ thường bị to bè. Trẻ bị còi xương thường chậm biết ngồi, biết đi. Nếu bệnh nặng, có thể xuất hiện những cơn giật do hạ canxi máu. Ở giai đoạn muộn, bệnh còi xương thường để lại những di chứng không tốt về sau.

nguyen_tac_bo_sung_vitamin_d_cho_tre

Để phòng bệnh còi xương ở trẻ, với người mẹ trong thời gian mang thai và cho con bú cần phải “tắm nắng”, nghĩa là cần có thời gian hoạt động ngoài trời, có chế độ ăn uống đầy đủ. Vào những tháng cuối của thời kỳ mang thai nên ăn thêm các thức ăn có chứa vitamin D hoặc uống thêm dầu cá. Có thể phòng bệnh bằng uống vitamin D trong quí cuối cùng của thai kỳ từ 100 – 1.200 đơn vị vitamin D/ngày hoặc một lần duy nhất 100.000 đơn vị đến 200.000 đơn vị từ tháng thứ 7, nếu mẹ không có điều kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

Đối với trẻ, về mặt dinh dưỡng tốt nhất là cho trẻ bú bằng sữa mẹ. Khi cho trẻ ăn sam cần đảm bảo bữa ăn đa dạng, đủ chất. Đối với trẻ được chăm sóc chu đáo, từ 6 tuần tuổi đến 18 tháng tuổi dùng liên tục mỗi ngày 800 -1.000 IU (nếu trẻ khỏe mạnh), 1.500 IU (nếu trẻ ít được ra nắng) và 2.000 IU (nếu thấy trẻ có màu da thẫm). Trẻ 18 – 60 tháng tuổi chỉ sử dụng liều trên trong mùa sương mù, ít ánh nắng.

Nếu trẻ không được chăm sóc chu đáo thì nên dùng liều cao cách nhau một thời gian (6 – 18 tháng). Cứ 6 tháng cho uống 1 liều 200.000 IU. Trẻ 18 – 60 tháng dùng liều duy nhất vào đầu mỗi mùa đông trong năm.

Với trẻ sinh thiếu tháng, từ ngày thứ 8 sau sinh cần cho uống 1.500 IU/ngày cho tới 18 tháng. Sau đó tiếp tục phác đồ bình thường.

Đối với trẻ còi xương, uống 1.200 – 5.000 IU/ngày trong 4 tuần, sau đó tiếp tục dùng liều dự phòng.  Dùng 500mg canxi/ngày đối với nhũ nhi; 1.000 mg canxi/ngày đối với trẻ trên 2 tuổi, uống 7 – 10 ngày.

Lưu ý: Khi cho trẻ uống vitamin D phải có chỉ định của bác sĩ.

Trong quá trình điều trị, cần chú ý phát hiện các dấu hiệu ngộ độc vitamin D như chán ăn, buồn nôn, tăng canxi máu…. Nếu có các dấu hiệu trên cần thông báo cho bác sĩ biết để có biện pháp xử lý thích hợp.

Dược sĩ  Hoàng Thu Thủy
Theo SKĐS

Bổ sung vitamin D cho trẻ như thế nào?

Vitamin D được biết đến như một liệu pháp tối ưu cho trẻ còi xương, suy dinh dưỡng. Song không phải lúc nào, không phải bà mẹ nào cũng hiểu thực sự được cách sử dụng vitamin D. Vậy bổ sung thế nào để trẻ không bị thiếu vitamin D? Với người mẹ đang mang thai: phải ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để tạo nguồn sữa tốt cho con, chú ý tới nguồn thức ăn giàu vitamin D như gan, trứng, cá biển; có thể uống thêm dầu cá, vitamin D phối hợp với viên sắt để phòng thiếu máu đối với trẻ.

bo_sung_vitamin_d_cho_tre_nhu_the_nao

Đối với trẻ nhỏ: phải cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 4 – 6 tháng đầu, nếu đến tuổi ăn dặm thì chú ý khẩu phần ăn đa dạng, đảm bảo đủ các chất muối khoáng và vitamin cho cơ thể.

Với trẻ không có sữa mẹ, trẻ nhẹ cân, thiếu tháng: trẻ phải được cung cấp vitamin D ngay từ tuần thứ 2 sau khi sinh, cần cung cấp đầy đủ và liên tục trong vòng một năm đầu sẽ tránh được những trở ngại cho cấu tạo bộ xương và răng.

Chú ý: cho trẻ ăn những loại thức ăn giàu vitamin D như gan, lòng đỏ trứng gà, bơ. Mỗi buổi sáng trước 9 giờ, cho trẻ ra ngoài trời khoảng 10 – 15phút để trẻ tắm nắng, nhưng cũng không nên cho trẻ tắm nắng quá lâu (với trẻ dưới 1 tuổi) còn với trẻ trên 1 tuổi cần tắm nắng ngày hai lần; phải luôn giữ một chế độ vệ sinh phòng bệnh tốt để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, phòng tránh các bệnh nhiễm trùng. Khi dùng bổ sung vitamin D hay calci nhất thiết phải có ý kiến của bác sĩ, không nên tự ý bổ sung để tránh những hậu quả không đáng có.

BS. Nguyễn Đăng
Theo SKĐS

Những vi chất giúp trẻ phát triển hệ khung xương

Cùng với nhiều vi chất dinh dưỡng khác, khoáng chất canxi và vitamin D được coi là hai nguyên tố vi lượng thiết yếu đối với cơ thể. Sự thiếu hụt hai nguyên tố này sẽ làm cơ thể trẻ bị còi xương, chậm phát triển chiều cao và nhiều hệ lụy về sức khỏe khác sau này.

nhung_vi_chat_giup_tre_phat_trien_he_khung_xuong

Canxi phòng tránh còi xương cho trẻ

Canxi là một trong số những khoáng chất đóng vai trò quan trọng nhất đối với cơ thể. Đây là thành phần chính cấu thành nên xương và hàm răng của con người. Chỉ một phần rất nhỏ canxi hiện hữu trong máu và các mô mềm. Trong giai đoạn đầu đời nếu hấp thu đủ lượng canxi, sẽ tạo một tiềm năng phát triển tốt để bé có khung xương chắc khỏe khi trưởng thành. Ngược lại, thiếu canxi sẽ khó hình thành, phát triển và duy trì hoạt động của xương, răng, nhất là chiều dài xương, dẫn đến trẻ sẽ có chiều cao khiêm tốn (so với trẻ cùng trang lứa trong cùng dân tộc, hệ di truyền) sau này. Thiếu canxi còn làm giảm sự lắng đọng cục bộ, khô chất gian bào ở đầu xương, gây ra cơn đau tăng trưởng ở cơ bắp hai bên khớp nhưng không phải là viêm khớp. Tùy thuộc vào mức độ thiếu canxi ở trẻ nặng hay nhẹ mà dẫn đến những biểu hiện bệnh lý khác nhau. Nhẹ thì khi ngủ trẻ hay bị giật mình kèm theo những cơn khóc thét, co cứng toàn thân, đỏ và tím mặt. Cơn khóc kéo dài nhiều giờ thậm chí suốt đêm. Ở những trường hợp thiếu canxi nặng có thể ngưng thở và thở nhanh, tăng nhịp tim và có thể gây suy tim. Thiếu canxi kéo dài sẽ ảnh hưởng đến xương và gây còi xương sớm, biến dạng xương, gù vẹo cột sống. Các biến dạng về xương như khi trẻ lớn lên đầu có dạng hình cá trê hoặc méo một bên, ngực lép kiểu ức gà, lưng gù, chân cong, răng hô, tướng đi chữ bát… có thể trở thành vĩnh viễn nếu không được điều trị kịp thời.

Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu khác chỉ ra, không hẳn khẩu phần canxi thấp có thể hạn chế đến sự phát triển về chiều dài và bề rộng của xương. Nhưng nếu quá trình này tích tụ lâu dài sẽ dẫn đến kết quả vỏ xương mỏng và ít hơn, độ đậm chất khoáng trong xương giảm đi, khiến xương giòn và dễ gãy. Do vậy, các bậc cha mẹ cần chú ý không phải cứ thấy bé cao lớn bình thường có nghĩa là bé không thiếu canxi. Một số bệnh khi thiếu canxi tuổi trưởng thành sẽ không bộc lộ, nhưng tạo tiền đề cho sự bộc lộ ấy vào tuổi trung niên, tuổi già: như bệnh loãng xương, chứng lẩn thẩn tuổi già, bệnh tăng huyết áp…

Không như protein, lượng canxi trong cơ thể con người được giữ lại luôn thấp hơn so với lượng tiêu hóa. Canxi bị tiêu hao hàng ngày qua da, mồ hôi, cũng như qua đường tiêu hóa, qua nước tiểu và các hệ bài tiết. Mặt khác canxi không có quá trình tái hấp thụ trở lại. Sự hấp thụ canxi tùy thuộc vào nhu cầu của cơ thể, loại thực phẩm và số lượng canxi được cung cấp cho cơ thể.

Giá trị canxi được cung cấp từ thực phẩm không chỉ ở hàm lượng mà còn ở các yếu tố hấp thụ. Canxi ở thực vật không tốt bằng ở động vật vì có một số ở dạng không hòa tan như oxalat. Các thực phẩm có nguồn gốc từ động vật trên cạn thường có hàm lượng canxi thấp hơn động vật ở dưới nước (cá tôm, cua, ếch), nhất là khi so với các loại hải sản biển. Cần ăn cân đối giữa thức ăn thực vật – động vật trên cạn, dưới nước. Nếu chỉ ăn thực vật, có khi canxi tính lượng thô vẫn đủ, nhưng lượng canxi được hấp thụ vào cơ thể vẫn có thể thiếu.

Lượng canxi từ sữa và các chế phẩm từ sữa được hấp thụ vào cơ thể  tương đối cao, khoảng 32%. Sự hấp thụ canxi từ rau có thể thay đổi tùy loại nhưng canxi trong rau dễ bị biến hóa khi nấu nên lượng canxi còn lại rất ít. Vì thế, phải tiêu thụ khoảng 300g rau mới có cùng số lượng canxi trong một cốc sữa.

Canxi rất cần thiết cho cơ thể nhưng thiếu hoặc thừa canxi cũng làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bé. Có nhiều bà mẹ vì muốn con mình cao lớn hơn, đã lạm dụng nhiều thuốc cốm bổ canxi mà không biết rằng có nguy hại cho con. Nếu quá thừa, lượng canxi không hấp thụ hết có thể tích tụ gây vôi hóa thận, sỏi mật, giảm chức năng thận, giảm hấp thu các chất khoáng khác như sắt, kẽm, magiê, photpho… tăng canxi trong máu.

Bởi vậy cách tốt nhất để cung cấp đầy đủ, không thiếu và cũng không thừa canxi cho bé, các bà mẹ nên cho bé ăn uống đủ dinh dưỡng đa dạng các thực phẩm, chú ý dùng nhiều thực phẩm giàu canxi như tôm, tép, ốc, cua, trứng, sữa… các loại rau, đậu để cơ thể hấp thụ canxi một cách tự nhiên. Không nên quá lạm dụng thuốc bổ canxi với mục đích giúp cho bé phát triển chiều cao ngoài chỉ định của bác sĩ. Và để giúp cho quá trình chuyển hóa, hấp thụ canxi trong cơ thể bé được tốt hơn các bà mẹ cũng cần chú ý, tăng cường thêm cho trẻ bổ sung vitamin D.

Và vai trò thiết yếu của vitamin D

Vitamin D trong cơ thể (ergocanxiferon D2 và cholecanxiferon D3) là loại vitamin tan trong dầu mỡ có vai trò điều hòa chuyển hóa canxi và phospho giúp tăng hấp thu và sử dụng canxi của thức ăn nhờ tạo thành các liên kiết canxi – phospho cần thiết. Khi thiếu vitamin D chỉ có khoảng 20% canxi ăn vào được hấp thu qua ống tiêu hóa, còn khi có đủ vitamin D khả năng hấp thụ canxi lên tới 50-80%. Vitamin D rất cần thiết cho quá trình cốt hóa (tạo xương) do vậy khi thiếu vitamin D ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa canxi phospho trong cơ thể làm cho hệ xương và cơ thể trẻ chậm phát triển.

Các biểu hiện của thiếu vitamin D: ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi trộm, rụng tóc phía sau đầu, thóp rộng, bờ thóp mềm, đầu to, trán dô, chậm mọc răng, chậm biết lẫy, bò, đứng, đi, các bắp thịt nhẽo. Nếu thiếu vitamin D, trẻ em sẽ bị còi xương; trẻ bị còi xương sẽ ảnh hưởng đến phát triển chiều cao và tầm vóc của trẻ sau này.

Vitamin D chỉ có ở thức ăn động vật như trứng, sữa, gan bò, gan lợn, cá, đặc biệt là gan cá thu. Vitamin D cũng là loại vitamin tan trong dầu, do vậy để giúp trẻ hấp thu và sử dụng tốt vitamin này cần có đủ dầu, mỡ trong bữa ăn của trẻ. Vitamin D2 được tích lũy dưới da (đó là dạng chưa hoạt động), sau khi được ánh nắng chiếu vào sẽ chuyển thành D3 là dạng hoạt động. Do vậy, để phòng chống còi xương cho trẻ ngoài chế độ ăn uống đủ các thành phần dinh dưỡng và vitamin D thì cho trẻ tắm nắng là rất quan trọng.

Phạm Tiến
Theo SKĐS

Cách phòng ngừa bệnh còi xương

Còi xương (CX) là bệnh loạn dưỡng xương do thiếu vitamin D hoặc do rối loạn chuyển hóa vitamin D trong cơ thể. Là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 1 tuổi. Tỷ lệ CX ở trẻ dưới 3 tuổi ở nước ta là 9,4% (theo Bệnh viện Nhi Trung ương).

Theo số liệu thống kê tại Trung tâm Khám tư vấn Viện Dinh dưỡng năm 2007 thì bệnh còi xương là bệnh hay gặp nhất tại trung tâm, chiếm tới gần một nửa số trẻ, đạt tỷ lệ 45,5%, đáng lo là bệnh còi xương có xu hướng không giảm qua nhiều năm theo số liệu thống kê từ năm 2003 tại trung tâm và thậm chí năm 2007 còn đạt tỷ lệ cao hơn những năm trước.

Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu nguyên nhân tại sao bệnh còi xương do thiếu vitamin D lại vẫn tồn tại qua nhiều năm nay và có xu hướng tăng lên?

cach_phong_ngua_benh_coi_xuong

Nguồn vitamin D của con người

Có 2 nguồn: ngoại sinh và nội sinh

Ngoại sinh: từ thức ăn. Nguồn này chỉ cung cấp rất ít vitamin D, khoảng 20-40UI/ngày (10UI/1 lít sữa bò, < 50 UI/lít sữa mẹ). Từ đó cho thấy nồng độ vitamin D trong sữa mẹ cao hơn hẳn và cũng dễ hấp thu hơn sữa bò, vì vậy tỷ lệ trẻ còi xương ở trẻ bú mẹ thấp hơn hẳn trẻ bú sữa ngoài.

Nội sinh: Khi da được tiếp xúc với tia cực tím, ví dụ ánh sáng mặt trời thì 7-dehydro cholesterol ở trong da sẽ chuyển đổi thành vitamin D3.

Nguyên nhân còi xương

Phòng bệnh còi xương
Với mẹ: Nên phòng từ khi có thai bằng cách: mẹ nên tiếp xúc ánh nắng hằng ngày.
Ở 3 tháng cuối cùng của thời kỳ thai nghén, người mẹ nên bổ sung vitamin D liều 1.000-1.200UI/ngày hoặc một lần duy nhất 100.000-200.000UI từ tháng thứ bảy, nếu mẹ không có điều kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Với con:
Ăn uống: tốt nhất là bú mẹ. Sau giai đoạn cai sữa vẫn tiếp tục uống sữa công thức tối thiểu 300ml/ngày. Khi ăn dặm phải tra đủ dầu/mỡ vào các bữa ăn dặm để bảo đảm đủ chất béo làm dung môi hấp thu vitamin D.
Tắm nắng, với thời gian thích hợp 15-20 phút mỗi ngày vào sáng hoặc chiều muộn.
Phòng bệnh đặc biệt bằng vitamin D với liều theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Thiếu ánh nắng mặt trời: đây là nguyên nhân hay gặp nhất do thói quen kiêng cữ, sợ trẻ tiếp xúc nắng sớm sẽ hay bị ốm. Điều này rất đáng buồn vì nước ta là nước nhiệt đới, hầu như quanh năm ánh sáng thừa thãi vậy mà tỷ lệ còi xương vẫn cao chỉ vì thiếu hiểu biết không cho con trẻ phơi nắng.

Các bà mẹ cần lưu ý trẻ 2 tuần tuổi đã cần được tắm nắng: tốt nhất là vào buổi sáng sớm (trước 8 giờ) nếu không có thời gian thì buổi chiều muộn. Trung bình yêu cầu 2 tiếng/tuần hay 10-15 phút/ngày tùy vào khả năng của trẻ và mức độ phát triển xương vận động (nếu trẻ ít ốm hoặc trẻ có biểu hiện của chớm còi xương có thể tắm nắng lâu hơn).

Sai lầm trong chế độ ăn dặm của trẻ: ăn sữa bò ở trẻ dưới 1 tuổi: là lứa tuổi nhu cầu vitamin D đang rất cao và nguồn dự trữ canxi hay thiếu hụt ở trẻ đẻ nhẹ cân, đẻ non, vì vậy ở những trẻ này rất thiếu vitamin D dẫn đến còi xương. Hoặc những trẻ ăn quá nhiều chất bột, đạm (thịt) gây tình trạng toan chuyển hóa – tăng đào thải canxi ra nước tiểu. Hoặc do trong chế độ ăn dặm hằng ngày không cho hoặc cho quá ít dầu/mỡ dẫn đến không có dung môi hòa tan để hấp thu được vitamin D.

Các yếu tố thuận lợi khác: tuổi (càng nhỏ càng dễ bị còi xương), đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, bệnh nhiễm khuẩn, trẻ rối loạn tiêu hóa kéo dài.

Chẩn đoán

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.

Triệu chứng lâm sàng:

Các biểu hiện ở hệ thần kinh:

Trẻ ra mồ hôi nhiều kể cả ban đêm (mồ hôi trộm); Trẻ kích thích khó ngủ, hay giật mình; Rụng tóc gáy (do trẻ ra mồ hôi nhiều); Đối với CX cấp có thể gặp: tiếng thở rít thanh quản, cơn khóc lặng, hay nôn, nấc khi ăn. Có thể co giật do hạ canxi máu; Trẻ chậm phát triển vận động: chậm biết lẫy, chậm biết bò.

Các biểu hiện ở xương:

Thóp chậm liền, bờ thóp mềm, bướu trán, bướu đỉnh; Chậm mọc răng, răng hay bị sâu, răng mọc lộn xộn; Lồng ngực hình gà, chuỗi hạt sườn; Vòng cổ chân, vòng cổ tay, xương chi cong.

Toàn thân: nếu không được điều trị, trẻ chán ăn, suy dinh dưỡng, da xanh thiếu máu, lách to.

Xét nghiệm cận lâm sàng:

Phosphatase kiềm tăng (bình thường 40-140UI/l). Phosphatase kiềm về bình thường khi còi xương điều trị khỏi.

Canxi máu: bình thường hoặc giảm (hay gặp trong CX cấp, nếu canxi ion giảm dưới 0,75mmol/l có thể gây co giật).

Phospho máu: giảm nhẹ.

25 (OH) cholecalciferol giảm dưới 25nmol/l (bình thường 25-105nmol/l).

XQ xương:

Xương chi: Xương mất chất vôi. Đầu xương to bè. Đường cốt hóa nham nhở, lõm. Điểm cốt hóa chậm.

Xương lồng ngực: có hình nút chai.

Điều trị: Nên theo đơn thuốc điều trị của bác sĩ chuyên khoa, vì vitamin D rất dễ bị quá liều gây ngộ độc thần kinh nguy hiểm cho trẻ.

Điều trị bằng vitamin D: ergocalciferol, cholecalciferol kéo dài từ 4-6 tuần (đặc biệt có bệnh cấp tính hoặc nhiễm khuẩn). Sterogyl (ergocalciferol tan trong cồn) 1 giọt chứa 400UI vitamin D. Infadin (ergocalciferol tan trong dầu) 1 giọt chứa 800UI vitamin D. Vitamin D 200.000UI 1 liều duy nhất. Dùng theo chỉ định của bác sĩ.

Điều trị phối hợp: uống thêm các loại vitamin, muối canxi.

Nếu có co giật do thiếu canxi: calcium gluconat truyền tĩnh mạch.

Ths.BS. Phan Bích Nga
(Phó Giám đốc TT Khám tư vấn Dinh dưỡng – Viện Dinh dưỡng)
Theo SKĐS

Trẻ bị co giật do còi xương

Con trai tôi 3 tháng tuổi, nặng 6,5kg. Cháu sinh thường, nặng 3,5kg, khóc ngay. Từ đó đến nay bú sữa mẹ nhưng gần đây tôi thấy các ngón tay cháu thỉnh thoảng bật bật như co giật. Tôi đã đưa cháu đi điện não đồ nhưng không sao. Bác sĩ nói cháu bị co giật do còi xương. Tại sao trẻ nhỏ còi xương lại co giật?

Nguyễn Thị Phương(Tuyên Quang)

A baby being lifted by mother under blue sky

Còi xương là bệnh phổ biến ở trẻ em. Tỷ lệ mắc ở lứa tuổi dưới 2 năm là 10 – 20% nhưng ở lứa tuổi 3-6 tháng có thể lên tới 35%. Còi xương là do thiếu vitamin D, do thiếu vitamin này sự hấp thu canxi và chuyển hóa phốt-pho và canxi sẽ bị rối loạn làm cho xương vôi hóa kém, các mô sụn không biến thành xương được. Biểu hiện đặc trưng của bệnh còi xương cấp diễn ở trẻ dưới 6 tháng, đặc biệt ở lứa tuổi 3 tháng là tình trạng giảm canxi máu thể hiện bằng một loạt các triệu chứng gọi là cơn te-ta-ni hạ canxi máu hay cơn co giật do còi xương ở trẻ nhỏ. Thực ra, hạ canxi máu là một tình trạng tiềm tàng và hầu như chỉ bộc lộ thành triệu chứng co giật nếu có một yếu tố khởi phát đột xuất (phổ biến là do sốt cao 38-40oC hoặc do một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính nào đó). Đặc điểm của cơn co giật do hạ canxi máu là một tình trạng tăng kích thích thần kinh cơ, chứ không phải do một tổn thương thực thể nào. Nguyên nhân đưa đến còi xương ở lứa tuổi này (dưới 6 tháng) chủ yếu là do đứa bé không được cung cấp đầy đủ vitamin D. Nếu trẻ nuôi bằng sữa mẹ thì chính là do chế độ ăn của người mẹ cho con bú thiếu vitamin D, kiêng cữ quá mức, thiếu ánh sáng mặt trời. Chữa co giật hạ canxi máu trong bệnh còi xương ở trẻ nhỏ chủ yếu bằng vitamin D, kèm theo muối canxi theo chỉ định của bác sĩ. Lời khuyên sau sinh 2-3 tuần, mẹ và bé cần được tắm nắng mỗi ngày 10-15 phút vào buổi sáng là biện pháp phòng bệnh còi xương tốt nhất.

BS. Vũ Ngọc Anh
Theo SKĐS

Có nên bổ sung vitamin D cho trẻ mới sinh

Còi xương do thiếu vitamin D là bệnh rất hay gặp ở trẻ em, nhất là trẻ dưới 2 tuổi. Tại Trung tâm khám tư vấn dinh dưỡng – Viện Dinh dưỡng quốc gia, tỷ lệ các cháu bị còi xương chiếm hơn 50% các trường hợp đến khám và tư vấn hàng ngày.

Đặc biệt vào các tháng mùa đông tỷ lệ này còn tăng cao hơn, có khi cứ 10 cháu bé đến khám có tới 7 cháu bị còi xương. Rất nhiều cháu đến khám bệnh đã để lại di chứng rất đáng tiếc như: lồng ngực dô biến dạng, chân vòng kiềng, đầu bẹp, trán dô…

co_nen_bo_sung_vitamin_d_cho_tre_moi_sinh

Bệnh còi xương hoàn toàn có thể phòng được, nếu như trẻ được uống vitamin D ngay sau sinh hoặc được tắm nắng vào buổi sáng trước 9 giờ mỗi ngày 30 phút. Nếu như cháu bé sinh vào mùa đông hoặc gia đình ở nơi chật chội, thiếu ánh sáng không thể cho cháu tắm nắng được thì nên cho trẻ uống phòng còi xương bằng vitamin D 400 UI/ngày trong suốt 2 năm đầu ngay từ khi mới sinh ra, hoặc uống trong những tháng mùa đông, còn mùa hè cho trẻ tắm nắng. Những cháu bé sinh non tháng, nhẹ cân, sinh đôi… thì việc uống vitamin D lại càng cần thiết. Tuy nhiên trong thực tế nhiều cháu đã được uống vitamin D nhưng vẫn có thể bị còi xương do uống thuốc không đều đặn, trẻ hay bị rối loạn tiêu hoá (táo bón, tiêu chảy, đi ngoài phân sống…) nên không hấp thu được hoặc cũng có thể do chế độ ăn thiếu dầu mỡ nên không hấp thu được, vì vitamin D là loại vitamin tan trong dầu. Vì vậy nếu thấy trẻ có các biểu hiện của còi xương cấp như: ngủ không ngon giấc, khóc đêm, tóc rụng hình vành khăn, ra nhiều mồ hôi trộm… thì cần cho trẻ đến bác sĩ nhi khoa ở các bệnh viện hoặc trung tâm khám tư vấn dinh dưỡng để được điều trị kịp thời.

ThS. Lê Thị Hải
Theo SKĐS

Bé chậm mọc răng, có phải do còi xương?

Những chiếc răng sữa đầu tiên của bé mọc vào lúc bé được khoảng 6 tháng tuổi, và bé có đủ 20 chiếc răng sữa khi được khoảng hai đến hai tuổi rưỡi.

Quá trình thay răng thường kéo dài đến khoảng 12 tuổi, lúc đó trẻ đã có 28 răng trong bộ răng vĩnh viễn, 4 chiếc răng hàm cuối cùng còn gọi là răng khôn sẽ mọc lên trong độ tuổi 20 khi khung hàm đã phát triển đầy đủ, đủ chỗ cho bộ răng vĩnh viễn bao gồm 32 chiếc.

Số lượng răng là một trong những dấu hiệu dùng để theo dõi sự phát triển thể chất của trẻ. Những chiếc răng đầu tiên mọc lên báo hiệu trẻ có thể bắt đầu ăn các thức ăn đặc hơn sữa. Số răng của trẻ có liên quan đến số tháng tuổi: thông thường số răng bằng số tháng tuổi trừ đi 4. Tuy nhiên, như tất cả mọi chuyện khác dính líu đến con người, cũng có những trường hợp ngoại lệ: có vài trẻ sinh ra đã có sẵn 1-2 răng, hoặc có một số trẻ đến 8-9 tháng mà vẫn chưa mọc chiếc răng cửa đầu tiên. Những vẫn đề này có thể hoàn toàn là sinh lý, nếu như trẻ vẫn phát triển tốt về tất cả mọi mặt khác: thể chất và tinh thần. Điều cần quan tâm là phát hiện sớm các trường hợp chậm mọc răng có liên quan đến thiếu dinh dưỡng, thiếu canxi, còi xương do thiếu vitamin D… để kịp thời cải thiện chế độ dinh dưỡng và chăm sóc trẻ cho phù hợp.

be_cham_moc_rang_co_phai_do_coi_xuong

Trẻ chậm mọc răng thường do thiếu canxi để phát triển các mầm răng. Thức ăn chính của trẻ là sữa. Sữa là loại thức ăn giàu canxi nhất và dễ hấp thu nhất nên trẻ không thiếu nguồn cung cấp canxi, trừ những trẻ bú mẹ mà mẹ ăn uống kiêng khem làm giảm chất lượng của nguồn sữa. Tỷ lệ canxi trong thức ăn được hấp thu liên quan đến một tỷ lệ phù hợp của một chất khoáng khác là phốtpho có nhiều trong các loại ngũ cốc, các loại rau, củ… Khi tỷ lệ phốt pho quá cao, sự hấp thụ canxi sẽ giảm đi. Một chất nữa cần thiết cho sự hấp thụ là vitamin D. Có 2 nguồn cung cấp vitamin D cho trẻ là thức ăn và từ ánh sáng mặt trời, trong đó nguồn cung cấp chủ yếu là từ ánh sáng mặt trời (chiếm tới 80%). Thức ăn động vật (thịt, cá, trứng, sữa) chứa nhiều vitamin D hơn với một tỷ lệ hấp thụ cao hơn thức ăn có nguồn gốc thực vật. Tuy nhiên, cần chú ý vitamin D là một loại vitamin tan trong dầu nên nếu chế độ ăn không có đủ chất béo thì dù ăn nhiều thức ăn động vật, vitamin D vẫn không thể hấp thụ được vào cơ thể.

Để phòng tình trạng còi xương ở trẻ, các bà mẹ nên chú ý một số điều sau:

– Mẹ trong giai đoạn có thai và cho con bú cần ăn uống đầy đủ chất, không kiêng khem, uống thêm 1-2 ly sữa mỗi ngày.

– Bắt đầu cho trẻ (và cả mẹ) tắm nắng vào buổi sáng từ lúc trẻ được 1 tháng tuổi, liên tục đến khi trẻ biết đi. Thời gian tắm nắng trung bình 15-30 phút mỗi ngày, trẻ có da sậm màu hơn phải tắm lâu hơn trẻ có da sáng.

– Không pha sữa cho trẻ bằng các loại nước cháo, nước bột, nước rau củ… và nhất là nước khoáng, lượng khoáng chất cao trong những loại nước này sẽ làm giảm hấp thu canxi.

– Trong chế độ ăn của trẻ luôn cung cấp đầy đủ chất đạm, nhất là đạm động vật và chất béo: Mỗi bát thức ăn của trẻ phải thêm 1-2 thìa dầu ăn.

Khi trẻ chậm mọc răng, nên kết hợp thêm các dấu hiệu của một tình trạng thiếu dinh dưỡng chung như chậm phát triển cân nặng, chiều cao và các triệu chứng của còi xương như ngủ không ngon giấc ban đêm, hay giật mình khóc thét, có những cơn khóc ngất tím cả người, đổ mồ hôi trộm ban đêm, bẹp hộp sọ, lồng ngực lép, thóp rộng… thì chậm mọc răng ở trẻ là do còi xương. Cần gia tăng khẩu phần dinh dưỡng hằng ngày cho trẻ, nhất là sữa và các chế phẩm từ sữa, thức ăn động vật, chất béo… Việc bổ sung thêm vitamin D và canxi dưới dạng thuốc là cần thiết tuy nhiên phải được chỉ định của bác sĩ. Các bà mẹ không được tự ý sử dụng vitamin D, vì có thể làm trẻ bị ngộ độc khi dùng liều cao hoặc thời gian dùng quá dài.

BS. Đào Yến
Theo SKĐS

Đề phòng bệnh còi xương ở trẻ nhỏ

Còi xương là một bệnh loạn dưỡng xương do thiếu hoặc rối loạn chuyển hóa vitamin D trong cơ thể. Bệnh do cơ thể thiếu hụt vitamin D, làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, chuyển hóa canxi và phốt pho (là những chất cần thiết cho sự phát triển của xương). Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, khi hệ xương phát triển mạnh.

Nguyên nhân chủ yếu gây còi xương ở trẻ em chính là do thiếu ánh sáng mặt trời, trẻ sinh thiếu cân, sinh non, trẻ không được bú sữa mẹ, trẻ có hội chứng kém hấp thu, trẻ suy dinh dưỡng… Tuy nhiên, có không ít trẻ có cân nặng tốt, thậm chí thừa cân cũng bị còi xương do cha mẹ giữ gìn quá cẩn thận nên ít được tiếp xúc với ánh nắng, chế độ ăn không cân đối.

de_phong_benh_coi_xuong_o_tre_nho

Biểu hiện khi bị bệnh, trẻ thường quấy khóc, ngủ không yên giấc, giật mình, ra nhiều mồ hôi lúc ngủ. Theo dõi trẻ thấy xuất hiện rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn, răng mọc chậm, chậm biết lẫy, biết bò, đi, đứng… Vì vậy, khi thấy trẻ nhỏ có biểu hiện trên cần đưa đến cơ sở y tế khám để bác sĩ hướng dẫn bổ sung vitimin D, canxi…. Nếu trẻ không được chữa trị, bệnh sẽ gây ra biến đổi ở xương (thóp rộng và lâu kín, có các bướu trán, lồng ngực biến dạng, các đầu xương cổ tay, cổ chân bè ra…). Nhiều trường hợp trẻ bị còi xương nặng xuất hiện di chứng chuỗi hạt sườn, dô ức gà, chân cong hình chữ X, chữ O…

Để phòng bị còi xương ở trẻ, các chuyên gia y tế khuyến cáo là trong thời gian mang thai và cho con bú người mẹ cần được tắm nắng, có thời gian hoạt động ngoài trời, chọn thực phẩm giàu vitamin D và canxi. Trẻ sinh ra cần được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Trẻ em bình thường hằng ngày cũng cần được tắm nắng khoảng 10-15 phút vào buổi sáng, tiền tố vitamin D trên da trẻ sẽ được chuyển thành vitamin D và ăn thức ăn có đủ chất canxi, phốt pho để phòng bệnh. Một số thực phẩm sẵn có chứa nhiều canxi mà các bà mẹ có thể dùng nấu cho trẻ ăn là vừng đen, rau ngót, rau đay, rau muống, cua, tép khô, ốc, tôm, cá mè, lòng đỏ trứng, hến, sữa bò tươi, sữa chua… Khi trẻ bị bệnh còi xương phải được điều trị bằng vitamin D với liều dùng theo chỉ định của bác sĩ. Ngoài ra cho trẻ uống thêm canxi. Nhà ở của trẻ phải có đủ ánh sáng. Quan tâm, để ý đến các biến đổi của trẻ để có cách điều chỉnh kịp thời.

Bác sĩ Lan Hương
Theo SKĐS

Vitamin D với phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh

Vitamin D có vai trò quan trọng chuyển hóa hấp thu calci, giúp cơ thể phát triển tốt với bộ xương cấu trúc vững chắc, giúp cho hoạt động bình thường của hệ thống thần kinh cơ. Thiếu vitamin D và calci gây nên những bệnh lý điển hình như còi xương, mềm xương ở trẻ em và người lớn, bệnh loãng xương ở người cao tuổi.

Đa số các bà mẹ chỉ thấy rõ dấu hiệu điển hình của bệnh còi xương, mềm xương khi trẻ được 1-2 tuổi; xương bị biến dạng: thóp rộng và lâu liền, đầu bị bẹp hoặc méo, chân hoặc tay bị cong biến dạng, với cổ tay, cổ chân, đầu gối to và cong hơn bình thường, trẻ chậm lớn, hay bị đau ốm… Để đến khi thấy rõ các dấu hiệu này mới đưa con đi khám bác sĩ thì đã muộn, có điều trị tích cực thì bệnh vẫn để lại di chứng về biến dạng xương trong cả cuộc đời cũng như nhiều hậu quả không tốt khác về sức khỏe cho trẻ.

vitamin_d_voi_phu_nu_co_thai_va_tre_so_sinh

Những dấu hiệu sớm để phát hiện bệnh còi xương do thiếu vitamin D ở trẻ

Thật ra các nhà khoa học đã chứng minh rằng còi xương ở trẻ bắt đầu rất sớm ngay trong thời kỳ thai nghén, mà nguyên nhân chính là do người mẹ bị thiếu vitamin D và calci trong thời kỳ mang thai. Thiếu calci và vitamin D của người mẹ, tiếp tục gây nên rối loạn chuyển hóa calci và bệnh còi xương của thai nhi, cũng như những năm đầu sau khi sinh.

Người ta thấy rằng trọng lượng của thai nhi tăng gấp đôi trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén, trong đó bộ khung xương với mật độ xương tăng 3 lần. Cơ và tế bào thần kinh của thai nhi cũng phát triển rất nhanh, nếu người mẹ không cung cấp đủ calci và vitamin D cho thai nhi trong 3 tháng cuối của thai kỳ sẽ dẫn đến rối loạn chuyển hóa xương của thai nhi. Rối loạn chuyển hóa xương thường song hành với bệnh suy dinh dưỡng thời kỳ bào thai: trẻ đẻ ra thấp bé nhẹ cân, kém phát triển về thể lực, trí tuệ, giảm miễn dịch…

Trong những tháng đầu sau khi sinh, trọng lượng trẻ cũng phát triển rất nhanh, nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cũng tăng cao và hoàn toàn phụ thuộc vào sữa mẹ. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng những người mẹ bị thiếu vitamin D trong thời kỳ có thai sẽ có lượng vitamin D sữa mẹ thấp, thậm chí giảm một nửa so với những người mẹ có đủ vitamin D, con của những người mẹ này ngay khi sinh ra đã có dấu hiệu mềm xương, thóp rất rộng, suy dinh dưỡng…

Ngay cả ở trẻ được sinh đủ tháng, cân nặng khi sinh ra là bình thường, nồng độ vitamin D trong máu cũng giảm thấp nhất vào ngày thứ 3 thứ 4 sau khi sinh, nồng độ này giảm và cạn kiệt ở những người mẹ không được cung cấp đầy đủ vitamin D khi có thai. Nguyên nhân của sự giảm này là do trẻ bị cắt nguồn cung cấp dinh dưỡng từ mẹ qua nhau thai, sữa mẹ chưa cung cấp đủ số lượng vitamin D trong 1-2 ngày đầu tiên.

Với trẻ đẻ non, thiếu tháng, lượng dự trữ calci và vitamin D của thai nhi trong những tháng cuối của thai kỳ càng thấp, nên nguy cơ hạ calci máu và vitamin D càng lớn hơn. Do vậy, hầu hết các nước đều có khuyến nghị bổ sung sớm các vitamin và chất khoáng, trong đó có vitamin D cho nhóm trẻ đẻ non thiếu tháng.

Hiệu quả của bổ sung vitamin D cho phụ nữ có thai

Trong những thập kỷ trước đây, tại các nước phát triển như Anh và Đức, người ta thấy cứ 4 trẻ sinh ra thì có 1 trẻ bị bệnh còi xương, mềm xương ngay khi sinh. Khuyến nghị bổ sung vitamin D và calci cho người mẹ mang thai bằng uống vitamin D và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng có tăng cường vitamin D đã mang lại hiệu quả rõ rệt, đặc biệt tốt cho phụ nữ thuộc tầng lớp bình dân, điều kiện sống khó khăn và những vùng thiếu ánh sáng mặt trời.

Ở Anh, khi so sánh giữa quần thể được uống sữa có bổ sung vitamin D và quần thể uống sữa không được bổ sung vitamin D, người ta thấy mật độ xương của nhóm được bổ sung vitamin D tăng cao hơn 20% so với nhóm không được bổ sung. Ở nhóm không được bổ sung, nồng độ vitamin D trong máu của thai phụ giảm nhanh trong 3 tháng cuối thai kỳ, ngay sau khi sinh có đến 36% số bà mẹ và 32% số trẻ bị cạn kiệt vitamin D. Có 5 trẻ em trong số 50 trẻ sinh ra có dấu hiệu hạ calci máu ngay khi sinh.

Nghiên cứu khác cho thấy bổ sung 1.000 UI/ngày (25microgam) trong 3 tháng cuối của thai kỳ cho phụ nữ cũng làm tăng trọng lượng của mẹ và giảm 50% số trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai. Một năm sau khi sinh, con của những bà mẹ được bổ sung vitamin D tăng nhiều hơn 0,4kg cân nặng và 1,6cm chiều dài so với nhóm đối chứng.

Thực trạng còi xương ở trẻ nhỏ và phụ nữ có thai ở nước ta

Tuy chưa có số liệu thống kê một cách đầy đủ, nhưng tại các phòng khám bệnh nhi khoa, một số lượng lớn trẻ đến khám có dấu hiệu còi xương sớm (ngay trong tháng đầu tiên hoặc tháng thứ 2 sau khi sinh, trẻ có dấu hiệu quấy khóc, ngủ không ngon giấc, thóp rộng, tóc rụng xung quanh đầu theo hình vành khăn…) và gặp nhiều ở trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn. Những trẻ này được chẩn đoán là còi xương, nếu được điều trị tích cực bằng vitamin D thì cho những kết quả rất tốt. Bởi vậy các bà mẹ nên chú ý các dấu hiệu sớm này và mang trẻ đến khám bác sĩ.

Yếu tố nguy cơ của bệnh thiếu vitamin D, còi xương, mềm xương ở nước ta

Một yếu tố phổ biến là thực phẩm sữa giàu calci và vitamin D chưa được sử dụng rộng rãi ở nước ta. Các thực phẩm được tăng cường vitamin D và calci chưa phổ biến đến mọi tầng lớp. Tại các vùng nông thôn, vùng khó khăn… tuy có được tiếp xúc nhiều hơn với ánh sáng mặt trời, giúp cơ thể tổng hợp được một phần vitamin D, nhưng khẩu phần ăn lại nghèo nàn, thiếu calci và vitamin D cho cả mẹ và con, do vậy bệnh vẫn có nguy cơ xuất hiện.

Tại các thành phố lớn, ngay cả các tầng lớp có thu nhập khá, bữa ăn có khá hơn vùng nông thôn nhưng bệnh vẫn hay gặp, yếu tố liên quan chính là mẹ và bé không được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, trẻ luôn được giữ kín trong nhà, mẹ ra đường cũng che kín sợ rám nắng, và kết quả là không tận dụng được nguồn vitamin D tự nhiên do cơ thể tổng hợp.

Phòng ngừa và điều trị

* Chế độ ăn cho người mẹ khi mang thai: chú ý đến sữa và chế phẩm có nhiều calci và vitamin D, các thực phẩm nguồn hải sản như cá, tôm, cua… Những thực phẩm có tăng cường vitamin D và calci cũng rất tốt.

* Bổ sung vitamin D, calci cho người mẹ khi mang thai: ngay khi ăn một khẩu phần khá sung túc, vẫn không cung cấp đủ nhu cầu calci và vitamin D cho người mẹ có thai trong 3 tháng cuối. Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng, khẩu phần ăn trung bình hiện nay của người Việt Nam chỉ đạt 50-70 nhu cầu calci và vitamin D, do vậy việc bổ sung thêm chế phẩm giàu calci và vitamin D là cần thiết. Phác đồ đang được nhiều nước áp dụng như sau:

– Bổ sung hàng ngày 400 đơn vị vitamin D (10microgam) trong suốt thời gian cóthai.

– Liều cao 1.000 đơn vị vitaminD/ngày (25microgam) trong suốt 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén, hoặc 100.000 đơn vị (2.500mg/d) một liều duy nhất vào ngày đầu của 3 tháng cuối mang thai. Phác đồ này được áp dụng cho những vùng tiêu thụ sữa ít, thiếu ánh sáng mặt trời, hoặc ít có điều kiện được chăm sóc y tế.

* Bổ sung sớm vitamin D và calci cho trẻ sau khi sinh.

– Với trẻ sinh đủ tháng: nhiều nước khuyến nghị bổ sung ít nhất 400 đơn vị/ngày cho trẻ bú mẹ. Với trẻ ăn sữa tăng cường vitamin D và calci cần được cân nhắc hơn.

– Trẻ sinh thiếu tháng, thiếu cân:

+ Hội nhi khoa Hoa Kỳ khuyến nghị trẻ non tháng cần được bổ sung thêm tối thiểu 400 đơn vị vitamin D mỗi ngày cùng với ăn sữa công thức có bổ sung vitamin D.

+ Hội tiêu hóa – nhi khoa châu Âu khuyến nghị cần bổ sung thêm 1.000 đơn vị (25 microgam) vitamin D mỗi ngày cho trẻ thiếu tháng bú sữa mẹ.

* Tắm nắng đúng cách, tận dụng ánh sáng mặt trời để giúp cơ thể tự tổng hợp vitamin D: tối thiểu 2 lần trong tuần, mỗi lần 20-30 phút, vào khoảng 7-8 giờ sáng hoặc 4-5 giờ chiều (với ánh nắng dịu) cho trẻ được cởi trần, đội mũ, để tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, cũng là biện pháp phối hợp quan trọng để có thêm vitamin D.

PGS.TS. Nguyễn Xuân Ninh
Theo SKĐS

Trẻ bệnh còi xương do thiếu vitamin D

Bệnh còi xương do thiếu vitamin D còn gọi là bệnh còi xương dinh dưỡng, là một bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, là lứa tuổi mà hệ xương đang phát triển mạnh. Bệnh còi xương tuy không gây tử vong nhưng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất và vận động của trẻ em. Những trẻ bị còi xương thường dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như viêm phổi, tiêu chảy cấp và suy dinh dưỡng. Còi xương thường làm  cho các bệnh này nặng và kéo dài hơn. Bệnh còi xương còn để lại những hậu quả lâu dài như biến dạng lồng ngực, gù vẹo cột sống, chân vòng kiềng, hẹp khung chậu, v.v… ảnh hưởng tới thẩm mỹ và đến sinh đẻ sau này đối với trẻ em gái.

Mặc dầu hiện nay đã tổng hợp được vitamin D và các sản phẩm chuyển hóa của chúng, nhưng còi xương vẫn còn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng của trẻ em, đặc biệt  của các nước đang phát triển.

Các cuộc điều tra gần đây ở nước ta cho thấy tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị còi xương còn khoảng 5-9% ở khu vực đồng bằng và 14% ở khu vực miền núi phía Bắc.

tre_benh_coi_xuong_do_thieu_vitamin_d

Nguyên nhân khiến cho tỷ lệ mắc còi xương của trẻ em còn cao ở mỗi quốc gia có khác nhau, nhưng nhìn chung có sự phối hợp của nhiều yếu tố như tình trạng kinh tế xã hội, phong tục tập quán, thói quen ăn uống, tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe bệnh tật  của người mẹ và của đứa trẻ, cũng như việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh.

Cơ thể trẻ em nhận được vitamin D từ 2 nguồn: Từ thức ăn động vật và thực vật: sữa mẹ, gan, trứng và một số loại rau quả. Tuy nhiên hàm lượng vitamin D có trong sữa mẹ hoặc thức ăn không nhiều. Do cơ thể tổng hợp vitamin D từ các tiền vitamin D ở dưới da, dưới tác động quang hóa của tia cực tím trong ánh sáng mặt trời. Đây là nguồn cung cấp chủ yếu vitamin D cho cơ thể.

Như vậy khi trẻ bị nuôi dưỡng không đầy đủ hoặc không đúng, cũng như thiếu ánh sáng mặt trời do nhà ở chật chội, tối tăm, do mặc quần áo quá nhiều hoặc trẻ bị nhốt trong nhà suốt ngày,… sẽ dễ bị bệnh còi xương.

Những trẻ không được bú sữa mẹ, ăn bột quá sớm, trẻ đẻ non, trẻ bị các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng hoặc tiêu chảy kéo dài hoặc người mẹ khi mang thai không được ăn uống đầy đủ trẻ sinh ra cũng dễ mắc bệnh còi xương.

Bệnh còi xương thường gặp nhiều ở trẻ em từ 6-18 tháng tuổi; các trẻ đẻ non hoặc thấp cân có thể bị bệnh sớm hơn. Biểu hiện sớm của bệnh còi xương là những rối loạn về thần kinh thực vật: hay ra mồ hôi, dễ bị kích thích, ngủ không say, hay giật mình, có khi khóc về đêm hoặc co giật. Vì vậy khi thấy trẻ nhỏ có các biểu hiện trên cần đưa trẻ đến khám bệnh để được điều trị kịp thời. Nếu trẻ không được điều trị, bệnh sẽ gây ra các biến đổi ở hệ xương (thóp rộng và lâu kín, có các bướu trán, chậm mọc răng, lồng ngực biến dạng, các đầu xương cổ tay, cổ chân bè ra, v.v…); các cơ nhẽo, trẻ chậm biết đi…

Bệnh còi xương có thể phòng được và không tốn kém. Cần phòng bệnh còi xương cho trẻ ngay từ khi còn trong bụng mẹ. Các bà mẹ khi mang thai và cho con bú cần được ăn uống đầy đủ, làm việc nghỉ ngơi thoải mái và nhất là nên có thời gian đi dạo ngoài trời.

Đối với trẻ cần được bú mẹ và ăn bổ sung đầy đủ, không nên cho ăn bột quá sớm. Phải cho trẻ tắm nắng hằng ngày, mỗi ngày ít nhất 15-20 phút.

Những trẻ không được bú sữa mẹ, đẻ non, đẻ thấp cân cần quan tâm bảo đảm dinh dưỡng cho trẻ, đồng thời cho uống thêm vitamin D, mỗi ngày 400 đơn vị (1 giọt/ngày, nếu dùng sterogyl) trong suốt năm đầu. Khi trẻ bị bệnh còi xương phải được điều trị bằng vitamin D với liều 2.000-4.000 đơn vị/ngày, trong 6-8 tuần liền. Ngoài ra nên cho trẻ uống thêm canxi (calcinol, ossidos) từ 0,5-1g/ngày.

Theo SKĐS

Bệnh còi xương ở trẻ

Là bệnh gây ra do cơ thể bị thiếu vitamin D, dẫn đến thiếu canxi làm ảnh hưởng phát triển hệ xương. Bệnh xảy ra nhiều ở trẻ dưới 3 tuổi, cao nhất ở lứa tuổi 3-18 tháng.

Nguyên nhân thường gặp nhất là thiếu vitamin D do thiếu cung cấp (ít phơi nắng, da sậm màu, trẻ sinh non, trẻ quá bụ bẫm…), ngoài ra có còi xương do mất vitamin D qua thận…, còi xương do kháng vitamin D.

benh_coi_xuong_o_tre

Biểu hiện bệnh:

– Biểu hiện của thiếu canxi: quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi khi ngủ, rụng tóc vùng sau gáy hình vành khăn, chậm mọc răng, thóp rộng, bướu đỉnh đầu hoặc trán dồ, giảm trương lực cơ, chậm phát triển vận động ( chậm biết lật, biết bò, đi, đứng…)

– Nếu còi xương nặng có di chứng: chuỗi hạt sườn, rãnh Harrison, ức gà, vòng cổ chân, cổ tay, chân cong hình chữ X, chữ O.

– Xquang xương có thể thầy những bất thường: hình ảnh khoét xương, chuỗi hạt sườn, điểm cốt hóa chậm so với tuổi.

– Chỉ số có giá trị nhất là giảm 25-hydroxyvitaminD (calcidiol) trong máu.

Chuyển hóa vitamin D trong cơ thể:

Dưới da trẻ đã có sẵn các tiền vitamin D ( 7 dehydro- cholesterol), dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời, sẽ hoạt hóa chuyển thành vitamin D3 (cholecalciferol). Nguồn vitamin D chính yếu cung cấp cho trẻ  là nhờ phơi nắng. Vitamin D cung cấp qua thức ăn thường ở dạng vitamin D2 (ergocalciferol), có nguồn gốc từ thực vật và nấm, được dùng bổ sung trong sữa công thức.

Vitamin D2 và vitamin D3 được coi là prohormone, đến gan và được chuyển thành 25-hydroxy vitaminD (calcidiol) là thể lưu hành của vitamin D trong máu. Khi đến thận, calcidiol được hydroxyl hóa 1 lần nữa và trở thành hormone có hoạt tính sinh học 1,25-dihydroxyvitaminD (calcitriol). Calcitriol kích thích sự hấp thu canxi và phosphor tại đường ruột, sự tái hấp thu canxi ở thận và huy động canxi, phosphor từ xương.

Phòng ngừa:

– Cho trẻ tắm nắng hàng ngày: Để chân, tay, lưng, bụng trẻ lộ ra ngoài từ 15-30 phút lúc buổi sáng (trước 9 giờ). Lưu ý phải tắm nắng trực tiếp, nghĩa là không đứng sau lớp kính cửa sổ vì sẽ không còn tác dụng.

– Khi trẻ ăn dặm: cho trẻ ăn các loại thực phẩm có chứa nhiều canxi ( Sữa, trứng, tôm, cua, cá, rau xanh…) và dầu mỡ.

– Ở những nơi thiếu ánh nắng mặt trời, cung cấp vitamin D phụ thuộc nhiều vào chế độ ăn. Tất cả các đối tượng trẻ nhũ nhi, trẻ nhỏ, thiếu niên đều phải được cung cấp tối thiểu 400 UI vitamin D mỗi ngày. Để đạt được nhu cầu trên, viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa kỳ khuyến cáo:

+ Bổ sung vitamin D từ sau sinh cho trẻ bú mẹ hoàn toàn và bú mẹ một phần với liều 400 UI/ngày ( 10 µg cholecalciferol) cho đến khi trẻ bú được khoảng 1l sữa/ngày hoặc uống thêm trên 250ml sữa có bổ sung vitamin D. Không dùng sữa bò tươi cho trẻ dưới 1 tuổi .

+ Trẻ nhỏ và thiếu niên nếu ăn ít thực phẩm bổ sung vitamin D (sữa, bột, lòng đỏ trứng…) cũng nên bổ sung  vitamin D200- 400 UI/ngày.

+ Trẻ có nguy cơ thiếu vitamin D như kém hấp thu mỡ (suy tụy, bệnh gan mạn…), sử dụng thuốc chống động kinh phải được theo dõi nồng độ vitamin D và bổ sung định kỳ. Liều cao hơn bình thường 2-4 lần.

– Khi có thai, người mẹ phải có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý. Có thể uống vitamin D khi thai được 7 tháng: 200.000UI/ 1 lần duy nhất.

 Điều trị:

– Vitamin D2: 2000-5000UI/ ngày trong 2-4 tuần.

– Sau đó bổ sung 400 UI/ ngày trong 12-24 tháng.

– Bổ sung canxi và chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Một số lưu ý:

– Trẻ bụ bẫm vẫn có thể thiếu vitamin D nếu ít phơi nắng do nhu cầu cao.

– Trẻ da sậm màu dễ bị thiếu vitamin D hơn.

– Ăn quá dư đạm cũng làm tăng mất canxi qua thận.

– Trẻ bị suy dinh dưỡng thể còi cọc, có số đo về cân nặng và chiều cao đều thấp hơn trẻ bình thường, có thể kèm còi xương hoặc không. Tỉ lệ trẻ thấp còi ở Việt nam vẫn còn khá cao, theo số liệu điều tra của Viện dinh dưỡng 2007 là 33,9%, xếp trong 20 nước có tỉ lệ thấp còi cao nhất thế giới.

– Bổ sung dầu mỡ đầy đủ trong bữa ăn hàng ngày của trẻ: vitamin D là loại tan trong dầu, nếu chế độ ăn thiếu dầu mỡ thì dù có được uống vitamin D trẻ cũng không hấp thu được nên vẫn bị còi xương.

– Hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thấp, khoảng 22 UI/l. do đó trẻ bú mẹ phải phơi nắng đều đặn, trong những tháng mùa đông phải uống thêm vitamin D.

Đăng bởi: BS.CK2.Nguyễn Thị Thu Hậu – TK.Dinh Dưỡng
Theo benhviennhi.org.vn

Người béo phì dễ bị thiếu Vitamin D

 Một nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng béo phì có thể dẫn tới thiếu hụt vitamin D.

Các nhà nghiên cứu Anh đã xem xét số liệu từ khoảng 165.000 người và phát hiện ra rằng tăng 10% chỉ số khối cơ thể (BMI) có liên quan với giảm 4% nồng động vitamin D. BMI là phương pháp đo chỉ số mỡ cơ thể dựa trên cân nặng và chiều cao.

Nhóm nghiên cứu cho biết mối liên quan giữa BMI và nồng độ vitamin D được phát hiện ở nam giới và phụ nữ, ở người trẻ và người già.

thieu-hut-vitamin-D-do-nguoi-beo-phi

Được đăng ngày 5/2 trên tờ PLoS Medicine, các kết quả cho thấy BMI cao dẫn tới giảm nồng độ vitamin D trong cơ thể.

Nhà nghiên cứu chính tiến sĩ Elina Hypponen thuộc Viện Sức khỏe trẻ em Đại học London cho rằng những nỗ lực giải quyết tình trạng béo phì cũng có thể giúp giảm mức độ thiếu hụt vitamin D.

Vitamin D, vốn đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe xương và các chức năng khác, được tổng hợp dưới dưới da khi cơ thể tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

Mặc dù nghiên cứu này cho thấy BMI cao dẫn tới giảm nồng độ vitamin D song nó không chứng minh mối quan hệ nhân quả.

Quỳnh Chi
Theo HD

Phòng chống bệnh hô hấp cho bé bằng Vitamin D

Theo kết quả một nghiên cứu mới, bổ sung vitamin D có thể làm giảm nguy cơ các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp của trẻ em.

Vitamin D được biết đến với vai trò quan trọng trong sức khỏe của xương, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nó có vai trò quan trọng khác, trong đó có chức năng miễn dịch.

Theo kết quả một nghiên cứu mới, bổ sung vitamin D có thể làm giảm nguy cơ các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp của trẻ em.

Nghiên cứu thực hiện trên 250 học sinh ở Mông Cổ với nồng độ vitamin D trong máu thấp trong mùa đông. Các nhà nghiên cứu cho biết, sau một thời gian được bổ sung vitamin D hàng ngày thì nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp của nhóm thử nghiệm giảm đi một nửa.

phong_benh_ho_hap_cho_be

Cơ thể tự nhiên sản xuất vitamin D khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Duy trì đủ lượng vitamin trong mùa đông có thể đặc biệt khó khăn cho những người sống ở các quốc gia Bắc bán cầu – nơi có những khác biệt lớn theo mùa về lượng ánh sáng mặt trời hàng ngày.

Những người ở Mông Cổ được biết đến là có nguy cơ  thiếu hụt vitamin D cao, đặc biệt là trong mùa đông

Tác giả công trình nghiên cứu, Tiến sỹ Carlos Camargo, Bệnh viện đa khoa Massachusetts cho biết: Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng mức độ vitamin D thấp là một trong những nguyên nhân khiến trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. Vì vậy, việc bổ sung vitamin D hàng ngày là một giải pháp rẻ tiền và an toàn giúp ngăn chặn một số bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cho trẻ.

Theo afamily