Tag Archives: virut

Tìm hiểu về cúm A/H7N9

Tính đến chiều ngày 14/2, đã có tới 338 ca nhiễm H7N9, với 66 người tử vong tại Trung Quốc và nước này cũng bước đầu thành công trong việc thử nghiệm nguyên liệu để sản xuất loại vaccin ngừa chủng cúm nguy hiểm này. Nước ta tiếp giáp với Trung Quốc và hàng ngày, một lượng lớn hàng hóa, gia súc gia cầm, khách du lịch… lưu thông qua biên giới hai nước nên việc nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng chống loại cúm nguy hiểm này cho mọi người là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh khi nước ta chưa có vaccin ngừa cúm H7N9.

Cúm là một loại bệnh viêm đường hô hấp, bao gồm đường hô hấp trên (mũi, họng) và đường hô hấp dưới (khí phế quản, phổi) do một loại virut tên là Influenza gây ra. Loại virut này thuộc nhóm Orthomyxoviridae, được chia thành 3 týp A, B và C. Trong khi virut cúm nhóm A có thể gây bệnh cả ở người và động vật như lợn, chim thì virut cúm nhóm B và C chỉ gây bệnh ở người.

Virut cúm A là một loại virut sống ký sinh trong nhiều loại chim (hoang dại, gia cầm) trong đó lại có nhiều týp nhỏ như H5N1, H1N1, H7N1, H7N2, H7N3, H7N7… Mặc dù một số týp H7 như H7N2, H7N3, H7N7 thỉnh thoảng được phát hiện nhiễm ở người nhưng cho đến thời điểm này vẫn chưa có bằng chứng về việc virut H7N9 lây nhiễm từ người sang người.

cum-h7n9

Cấu trúc của virut cúm A/H7N9 và nguồn lây sang người.

Những triệu chứng chính khi bị nhiễm virut cúm H7N9
Sau khi bị nhiễm, virut H7N9 sẽ nhân lên trong cơ thể và gây bệnh. Biểu hiện đầu tiên là các triệu chứng như sốt cao, đau đầu, đau mỏi cơ toàn thân cùng các biểu hiện viêm long đường hô hấp trên như hắt hơi, ho, chảy nước mũi, ngạt mũi, đau họng. Sau đó, bệnh có thể nặng lên rất nhanh khi phổi bị viêm: khó thở, sốt cao liên tục, đau tức ngực. Những trường hợp này bệnh nhân thường tử vong do suy hô hấp cấp mặc dù đã được điều trị tích cực.

Sự khác nhau giữa cúm H7N9 với H1N1 và H5N1
Cả ba virut H7N9, H1N1, H5N1 đều là virut cúm A nhưng chúng có khả năng lây bệnh khác nhau. H7N9, H5N1 lây nhiễm chủ yếu ở vật và đôi khi mới lây sang người trong khi H1N1 thì bình thường cũng hay lây nhiễm ở người và cả vật như chim, lợn…

Người ta cho rằng nguồn lây nhiễm H7N9 chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bị bệnh hoặc với môi trường đã bị nhiễm virut như chuồng gà vịt, phân, chất thải gia cầm nhưng trong phần lớn các trường hợp không thể xác định được nguồn lây nhiễm. Virut không được tìm thấy ở gia cầm, chim bồ câu cũng như môi trường chung quanh ở những khu vực có người bị nhiễm và thực sự, đường lây chính của virut hiện cũng chưa được rõ. Bởi vì virut này không gây triệu chứng lâm sàng ở gia cầm nên thật khó để xác định chúng lây sang người như thế nào. Có một số trường hợp mắc bệnh theo từng nhóm người (cùng ở chung phòng, cùng vị trí làm việc, cùng cơ quan, trường học, thời gian ủ bệnh và xuất hiện triệu chứng giống nhau nhưng dường như virut H7N9 rất khó lây từ người sang người và vấn đề này hiện vẫn đang được nghiên cứu để xác định rõ.

Có thuốc điều trị H7N9 không?
Các thử nghiệm cho thấy một số thuốc ức chế men neuraminidase của virut như oseltamivir, zanamivir có tác dụng diệt virut H7N9 trong khi các thuốc kháng virut khác như adamantanes thì không. Ở những bệnh nhân cúm do H7N9 tại Trung Quốc được dùng thuốc ức chế men neuraminidase thì các triệu chứng tiến triển nhẹ hơn và nhiều trường hợp khỏi bệnh.

Phòng tránh lây nhiễm H7N9?
Mặc dù nguồn lây và phương thức lây nhiễm của virut H7N9 hiện chưa được biết rõ nhưng một số biện pháp vẫn được khuyến cáo để tránh lây nhiễm như vệ sinh tay chân sạch sẽ sau khi tiếp xúc với gia cầm hoặc chất thải của chúng; đội mũ áo, đeo khẩu trang đúng tiêu chuẩn khi tiếp xúc với nguồn nghi ngờ là nguồn lây bệnh…

Có thể chế biến thịt, trứng gia cầm còn tươi sống an toàn. Không nên dùng chung dụng cụ đã chế biến thịt, trứng gia cầm sống mà chưa qua khâu làm vệ sinh sạch sẽ. Nên rửa tay kỹ bằng xà phòng sau khi chế biến thịt trứng gia cầm trước khi chuyển sang làm các thực phẩm khác. Gia cầm không rõ nguồn gốc hoặc có dấu hiệu bệnh lý nên được loại bỏ. Thịt, trứng gia cầm nên được nấu chín kỹ (virut sẽ bị diệt ở nhiệt độ từ 700C trở lên) trước khi ăn. Không ăn thịt gia cầm luộc, hấp còn màu đỏ hoặc trứng còn lòng đào.

Khi vào các chợ mua bán gia cầm, khu vực nuôi nhốt gia cầm cần tránh tiếp xúc trực tiếp với gia cầm hoặc những môi trường chung quanh đã có tiếp xúc với gia cầm, chất thải gia cầm. Nếu có tiếp xúc, nên vệ sinh tay chân sạch sẽ cũng như tuân thủ chặt chẽ các biện pháp dự phòng lây nhiễm. Nếu có gia cầm bị ốm hoặc chết bất thường, nên kịp thời báo ngay cho chính quyền địa phương nơi gần nhất.

Nguồn sức khỏe gia đình

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Biểu hiện khớp trong các bệnh tự miễn

Bệnh tự miễn dịch là những bệnh mà những tổn thương bệnh lý gây ra do sự đáp ứng miễn dịch chống lại các tổ chức, cơ quan của bản thân mình. Nói cách khác là trong cơ thể người bệnh xuất hiện những tự kháng thể chống lại các thành phần của các bộ phận trong cơ thể gây nên tổn thương ở các bộ phận đó. Ngoài bệnh luput ban đỏ hệ thống, các bệnh khác trong nhóm này bao gồm: xơ cứng bì toàn thể, viêm da và cơ hay viêm đa cơ, viêm nút quanh động mạch. Các bệnh này có những đặc điểm chung là có tổn thương ở rất nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien01

Viêm khớp đối xứng bàn tay trên phim Xquang

Nguyên nhân của bệnh

Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Một số giả thuyết cho rằng có một quá trình nhiễm khuẩn tiềm tàng (vi khuẩn, virut) tác động trên một cơ địa nhất định: bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, trung niên, một số trường hợp bệnh có tính chất gia đình. Trong nhóm bệnh tự miễn (còn gọi là bệnh hệ thống) thì bệnh luput ban đỏ hệ thống là bệnh hay gặp nhất, có biểu hiện vô cùng đa dạng và có thể nhầm với rất nhiều bệnh khác nhau thuộc các chuyên khoa khác nhau.

Những biểu hiện lâm sàng

Rất phong phú từ đau mỏi khớp, đau xương đến viêm khớp, tràn dịch khớp, hoại tử xương… Viêm khớp có đặc điểm gần giống như bệnh viêm khớp dạng thấp như viêm các khớp nhỏ và nhỡ ở bàn tay,bàn chân,viêm khớp mang tính chất đối xứng hai bên… Nhưng bệnh có đặc điểm khác là hầu như không có tổn thương bào mòn đầu xương, dính khớp trên phim Xquang như trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Ngoài các biểu hiện ở khớp, bệnh nhân còn có nhiều triệu chứng của các cơ quan bộ phận khác như tổn thương ở da, niêm mạc (ban cánh bướm ở mặt, ban dạng đĩa ở thân mình, loét niêm mạc miệng mũi, tăng nhạy cảm của da với ánh sáng); tổn thương tim và phổi (tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp, tràn dịch màng phổi, xơ phổi); tổn thương thận (protein niệu, hội chứng thận hư, suy thận); tổn thương tâm thần, thần kinh; tổn thương cơ quan tạo máu (giảm một hay 3 dòng tế bào máu)… Trong bệnh xơ cứng bì toàn thể, ngoài viêm khớp nhỏ và nhỡ còn có các tổn thương xơ cứng da và tổ chức dưới da, co thắt mạch đầu chi (hội chứng Raynaud), nuốt nghẹn, xơ phổi… Các bệnh khác trong nhóm như viêm đa cơ và da và cơ, viêm nút quanh động mạch ít gặp hơn hai bệnh kể trên. Ngoài các xét nghiệm thường quy, người ta phải tiến hành các xét nghiệm về miễn dịch để tìm các kháng thể kháng nhân, kháng histon…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien02

Tràn dịch khớp gối

Tiến triển của bệnh

Rất ít trường hợp bệnh khỏi hẳn. Đa số là bệnh có thể thuyên giảm và ổn định khi tuân thủ tốt chế độ điều trị và phối hợp tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Nếu không điều trị tốt, bệnh nặng dần khi tổn thương các cơ quan quan trọng như thận, não, tim, thần kinh…

Điều trị như thế nào?

Các thuốc có tác dụng ổn định bệnh là các thuốc ức chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphamide, methotrexate; thuốc chống sốt rét tổng hợp, thuốc điều trị triệu chứng như thuốc giảm đau, nâng cao thể trạng… Các thuốc phải dùng kéo dài, có thể suốt đời nên phải có sự hợp tác thật tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân để điều chỉnh thuốc cho thích hợp.

Ngoài dùng thuốc điều trị, người bệnh cần được nghỉ ngơi hợp lý, làm việc nhẹ nhàng, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, bổ sung chất khoáng và sinh tố. Tăng cường vệ sinh răng miệng và phòng các nhiễm khuẩn răng miệng.

Với các bệnh nhân có nhạy cảm da với ánh sáng thì phải đội mũ, đi găng, đeo kính, mặc các quần áo bằng chất liệu chống nắng, dùng các loại kem chống nắng khi buộc phải ra ngoài.  Về sức khỏe sinh sản, các bác sĩ thường khuyên người bệnh chỉ có thể mang thai khi trong 6 tháng trước không có các đợt tiến triển bệnh. Vì bệnh có xu hướng nặng lên khi mang thai do đó khi có thai cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc chuyên khoa.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Viêm cơ nhiễm khuẩn: Cách điều trị

Viêm cơ nhiễm khuẩn (viêm cơ sinh mủ) là các tổn thương cơ do vi khuẩn, virut hay ký sinh trùng gây nên. Các loại vi khuẩn gây viêm cơ thường gặp là tụ cầu, đặc biệt là tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh… Tuy nhiên nếu chỉ có vi khuẩn trong máu thôi cũng chưa đủ điều kiện gây viêm cơ hay tạo ổ áp-xe. Viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện khi có đủ hai yếu tố là có vi khuẩn gây bệnh và cơ bị tổn thương. Chính tổn thương cơ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, làm “tổ”, phát triển và gây bệnh. Tại Khoa cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, viêm cơ nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ 2%. Có những trường hợp viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ cần điều trị nội khoa đơn thuần, song có những trường hợp phải kết hợp cả nội khoa và phẫu thuật. Dùng kháng sinh sớm, thích hợp. Cần phải điều trị kháng sinh đủ thời gian là khoảng 6 tuần. Nếu bệnh nhân sốt cao và đau nhiều thì cần dùng thêm thuốc hạ sốt, giảm đau như paracetamol. Cần nâng cao thể trạng cho bệnh nhân. Khi đã hình thành ổ mủ trong cơ thì cần phải chọc hút dẫn lưu mủ hoặc phẫu thuật để dẫn lưu mủ và lọc bỏ tổ chức hoại tử. Ngoài ra cần điều trị các biến chứng như viêm khớp, suy thận, sốc nhiễm khuẩn.

viem_co_nhiem_khuan_cach_dieu_tri

Để phòng bệnh, cần thực hiện vô trùng tuyệt đối khi làm thủ thuật như châm cứu, tiêm truyền, tiêm vào khớp… Điều trị tốt các nhiễm khuẩn tại da (mụn nhọt, vết loét…). Không làm vỡ, chích nặn sớm các thương tổn mụn nhọt ngoài da. Điều trị tốt một số bệnh nguy cơ, đặc biệt là đái tháo đường, tránh lạm dụng corticoid trong điều trị.

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn: Cách phòng, chẩn đoán và điều trị

Viêm cơ nhiễm khuẩn còn gọi là viêm cơ sinh mủ là các tổn thương cơ do vi khuẩn, virut hay ký sinh trùng gây nên. Các loại vi khuẩn gây viêm cơ thường gặp là tụ cầu, đặc biệt là tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh. Các vi khuẩn kị khí ít gặp hơn. Tuy nhiên nếu chỉ có vi khuẩn trong máu thôi cũng chưa đủ điều kiện gây viêm cơ hay tạo ổ áp-xe. Viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện khi có đủ hai yếu tố là có vi khuẩn gây bệnh và cơ bị tổn thương, tổn thương cơ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, làm “tổ”, phát triển và gây bệnh. Bệnh được mô tả lần đầu tiên bởi Sriba ở vùng nhiệt đới vào năm 1885 nên còn có tên gọi là viêm cơ vùng nhiệt đới. Tại Khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, viêm cơ nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ 2%.

Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn

benh_viem_co_nhiem_khuan_cach_phong_chan_doan_va_dieu_tri_01

Viêm cơ ức đòn chũm (sau gáy).

Đầu tiên là viêm cơ nhiễm khuẩn hay gặp ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Đó là các bệnh nhân bị đái tháo đường, điều trị corticoid kéo dài, những người suy kiệt… Thứ hai là các tổn thương da như chấn thương, vết thương hở hay mụn nhọt ngoài da. Chính người bệnh thường chủ quan, ít chú ý đến những mụn nhọt, vết thương nhỏ trên cơ thể, mặc dù đây lại chính là đường giúp vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh. Khi bị mụn nhọt, nhiều bệnh nhân nặn mủ ở giai đoạn sớm hoặc trong quá trình chích nặn không đảm bảo vô khuẩn và không chăm sóc vết thương tốt. Thứ ba là các thủ thuật y tế không bảo đảm vô khuẩn như tiêm chích, châm cứu, phẫu thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của vi khuẩn vào cơ thể người bệnh.

Các biểu hiện lâm sàng của viêm cơ nhiễm khuẩn

Biểu hiện toàn thân của viêm cơ nhiễm khuẩn là hội chứng nhiễm khuẩn. Người bệnh bị sốt cao, rét run, môi khô, lưỡi bẩn, mắt trũng, hơi thở hôi. Biểu hiện tại chỗ chính là viêm cơ. Bất kỳ cơ nào cũng có thể bị viêm. Có thể một cơ bị viêm hay nhiều cơ bị viêm cùng một lúc. Tuy nhiên có 3 vị trí hay gặp nhất là mặt trước cơ đùi, mông và cơ thắt lưng chậu. Viêm cơ thường trải qua 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu thường xảy ra trong 2 tuần đầu. Cơ sưng tại chỗ, có thể kèm đỏ hoặc không, đau và căng nhẹ. Nếu chọc hút sẽ chưa có mủ. Giai đoạn này các triệu chứng thường không rõ ràng nên dễ bị bỏ qua. Thường sau 10-30 ngày, bệnh chuyển sang giai đoạn 2, với biểu hiện cơ to ra, sưng nóng đỏ đau rõ. Khám cơ có thể thấy dấu hiệu bùng nhùng, dấu hiệu phù nề ấn lõm. Chọc hút có thấy mủ. Bệnh thường được chẩn đoán giai đoạn này. Nếu không được chữa đúng cách bệnh có thể tiến tới giai đoạn 3 với các biểu hiện hệ thống, gây ra các biến chứng như áp-xe nơi khác, viêm khớp lân cận, sốc nhiễm khuẩn, suy chức năng thận. Riêng đối với viêm cơ thắt lưng chậu thì triệu chứng tại chỗ khó phát hiện vì cơ ở sâu. Bệnh nhân thường đau ở vùng mạng sườn, hạ sườn. Có một triệu chứng gợi ý là bệnh nhân không duỗi được chân ở bên có cơ bị tổn thương trong khi mọi động tác khác của khớp háng (gấp, dạng, khép, xoay…) đều bình thường. Khối áp-xe có thể di chuyển xuống các cơ quan lân cận phía dưới như khớp háng, phần trên đùi, cơ mông… Ngoài nguyên nhân do các vi khuẩn sinh mủ, viêm cơ thắt lưng chậu còn có thể do vi khuẩn lao gây nên, xuất hiện sau viêm đốt sống đĩa đệm.

Để chẩn đoán bệnh cần phải làm các xét nghiệm gì?

benh_viem_co_nhiem_khuan_cach_phong_chan_doan_va_dieu_tri_02

Viêm cơ cẳng chân.

Triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn đầu thường không rõ ràng nên đa số các trường hợp chẩn đoán ở giai đoạn muộn. Các xét nghiệm máu cho thấy các biểu hiện viêm rõ như tăng số lượng bạch cầu máu, tăng tốc độ máu lắng, tăng CRP. Cần phải làm xét nghiệm dịch chọc hút cơ viêm. Xét nghiệm dịch ổ áp-xe có thể thấy nhiều bạch cầu đa nhân trung tính. Phát hiện vi khuẩn gây bệnh bằng soi tươi, cấy bệnh phẩm phân lập vi khuẩn và làm kháng sinh đồ. Ngoài ra người ta còn cấy máu để xác định vi khuẩn. Cũng cần làm test Mantoux đối với những trường hợp nghi do lao. Ở một số cơ sở y tế chuyên khoa bệnh nhân có thể được siêu âm cơ với đầu dò tần số cao trên 5 – 7,5 MHz. Siêu âm rất có giá trị trong chẩn đoán các cơ viêm ở sâu như cơ thắt lưng chậu, giúp hướng dẫn chọc hút dịch ổ áp-xe lấy bệnh phẩm xét nghiệm cũng như để dẫn lưu mủ. Chụp Xquang quy ước chủ yếu là để phát hiện các tổn thương xương khớp kèm theo. Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ hạt nhân được chỉ định để phát hiện viêm cơ thắt lưng chậu, tổn thương đốt sống hoặc tủy sống.

Điều trị bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn như thế nào?

Có những trường hợp viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ cần điều trị nội khoa đơn thuần, song có những trường hợp phải kết hợp cả nội khoa và phẫu thuật. Dùng kháng sinh sớm, thích hợp. Cần phải điều trị kháng sinh đủ thời gian là khoảng 6 tuần. Nếu bệnh nhân sốt cao và đau nhiều thì cần dùng thêm thuốc hạ sốt, giảm đau. Cần nâng cao thể trạng cho bệnh nhân. Khi đã hình thành ổ mủ trong cơ thì cần phải chọc hút dẫn lưu mủ hoặc phẫu thuật để dẫn lưu mủ và lọc bỏ tổ chức hoại tử. Ngoài ra cần điều trị các biến chứng như viêm khớp, suy thận, sốc nhiễm khuẩn.

Làm thế nào để phòng bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn?

Cần thực hiện vô khuẩn tuyệt đối khi làm thủ thuật như châm cứu, tiêm truyền, tiêm vào khớp… Điều trị tốt các nhiễm khuẩn tại da (mụn nhọt, vết loét…). Không làm vỡ, chích nặn sớm các thương tổn mụn nhọt ngoài da. Cần điều trị tốt một số bệnh nguy cơ, đặc biệt là đái tháo đường. Cần tránh lạm dụng corticoid trong điều trị.

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa khớp Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Viêm họng cấp ở trẻ em: Thuốc điều trị

Viêm họng cấp là bệnh chiếm tỷ lệ rất cao ở trẻ em với các triệu chứng khởi phát đột ngột, sốt cao 39 – 40°C, kèm theo là nuốt đau, rát họng, có thể kèm theo chảy nước mũi nhầy, ho khan… hay gặp vào mùa lạnh. Nguyên nhân có thể do virut hoặc vi khuẩn. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây biến chứng như viêm đường hô hấp trên, và nguy hiểm hơn là gây bệnh thấp tim (do  liên cầu khuẩn, một thủ phạm gây viêm họng kích thích cơ thể sản xuất ra các kháng thể gây ảnh hưởng đến tim, khớp, thần kinh và gây nên bệnh thấp tim).

viem_hong_cap_o_tre_em_thuoc_dieu_tri

Viêm họng cấp nếu không được điều trị kịp thời có thể gây nhiều biến chứng. Ảnh: H. Mai

Thuốc điều trị viêm họng cấp do vi khuẩn

Khi xác định viêm họng do vi khuẩn mới cần dùng đến kháng sinh. Một số loại kháng sinh thường dùng như rovamycin (spiramycin), nhóm kháng sinh bezylpenicillin (amoxycyllin, augmentin).

Khi dùng thuốc cần chú ý tới các tác dụng phụ của thuốc: spiramycin hiếm khi gây tác dụng không mong muốn nghiêm trọng. Thường gặp hiện tượng trên tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, khó tiêu (khi dùng đường uống) hoặc kích ứng tại chỗ tiêm (khi dùng đường tiêm). Amoxycylin, augmentin (amoxycylin + clavulanate) có thể gây ngoại ban da, buồn nôn, nôn, tiêu chảy. Khi xuất hiện mày đay, các dạng ban khác phải ngừng dùng thuốc và thông báo cho bác sĩ biết để có cách xử trí phù hợp.

Có thể dùng phương pháp xông họng, khí dung bằng các loại thuốc kháng sinh hoặc kháng viêm. Một số trường hợp viêm họng mạn tính có thể đốt họng bằng  laser CO2 hoặc nito bạc…

Thuốc điều trị viêm họng cấp do virut

Trường hợp viêm họng do virut không cần dùng thuốc kháng sinh. Một số nhóm thuốc có thể dùng trong trường hợp này:

– Thuốc hạ sốt: paracetamol, efferalgan, aspegic… chỉ dùng khi nhiệt độ trên 38°C và sau mỗi 4 – 6 giờ mới được dùng lại thuốc.

– Thuốc giảm ho: có thể dùng siro phenergan, ho bổ phế, atussin, theralen…

– Nhóm thuốc có tác dụng giảm ngứa, giảm rát họng như viên (hoặc siro) rhinathiol, các loại thuốc ngậm như lysopaiin, súc họng bằng nước muối sinh lý.

– Thuốc làm giảm phù nề chống viêm, tan đờm như alpha-chymotrypsin, mucomyst, mucosoval…

Ngoài ra, có thể nâng cao thể trạng bằng cách bổ sung vitamin như vitamin C…

Lưu ý: Với trẻ dưới 1 tuổi khi bị sốt, có thân nhiệt trên 38oC cần cho trẻ  đi khám, vì trẻ sốt cao dễ dẫn tới co giật. Khi dùng thuốc cần cho trẻ uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian theo đúng chỉ định của bác sĩ. Không được tự ý mua kháng sinh điều trị. Vì điều trị không đúng sẽ để lại tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh, làm cho các lần điều trị sau này sẽ gặp nhiều khó khăn.

Dược sĩ Hoàng Thu Thủy
Theo SKĐS

Tìm hiểu bệnh loét giác mạc

Nếu ví con mắt như một cái máy ảnh, thì giác mạc là một thấu kính quan trọng trong hệ thống quang học của máy ảnh đó. Giác mạc chiếm đến 2/3 lực khúc xạ của mắt, vì vậy những tổn thương trên giác mạc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị lực của người bệnh. Một trong những tổn thương rất nặng của giác mạc gây ảnh hưởng trầm trọng đến thị lực là bệnh loét giác mạc.

tim_hieu_benh_loet_giac_mac

Nguyên nhân gây loét giác mạc

Đây là một bệnh khá thường gặp và là một trong những nguyên nhân dẫn đến mù lòa. Loét giác mạc là hiện tượng mất tổ chức giác mạc do hoại tử, gây ra bởi một quá trình viêm trên giác mạc. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra loét giác mạc: do vi khuẩn (tụ cầu, liên cầu, phế cầu, lậu cầu, trực khuẩn mủ xanh, moraxella…); do nấm (aspergillus fumigatus, fusarium solant, candida albicans, histoblasma,…); do virut (her pes simple, herpes zoster) hoặc do ký sinh trùng (acanthamoeba). Khi giác mạc còn nguyên vẹn thì hầu hết các yếu tố gây bệnh không xâm nhập được vào giác mạc. Loét giác mạc thường xuất hiện sau một chấn thương gây tổn hại lớp tế bào biểu mô (lớp tế bào bề mặt của giác mạc). Chấn thương giác mạc có thể từ bên ngoài: chấn thương trong sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là chấn thương trong nông nghiệp (do hạt thóc bắn vào mắt hoặc lá  quệt vào mắt). Do vậy, trong các mùa gặt số lượng bệnh nhân bị loét giác mạc thường tăng lên. Tổn thương giác mạc cũng có thể do bệnh tại mắt (do lông quặm, lông xiêu cọ vào mắt) hoặc do những phương pháp điều trị phản khoa học: đánh mộng mắt bằng búp tre, đắp nhái vào mắt để điều trị…

Biểu hiện của bệnh

Khi bị loét giác mạc bệnh nhân sẽ thấy  mắt bị đỏ, đôi khi sưng nề, mắt cộm chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, rất khó mở mắt. Thị lực bệnh nhân giảm nhiều, trường hợp nặng mắt chỉ còn cảm nhận được ánh sáng. Khám mắt sẽ thấy mi và kết mạc phù nề, trường hợp nặng có thể gây sụp mi mắt. Trên giác mạc có một ổ loét. Tùy nguyên nhân mà ổ loét có đặc điểm khác nhau. Nếu loét giác mạc do vi khuẩn: ổ loét có ranh giới không rõ, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử bẩn, khi nhuộm giác mạc bằng fluorescein 2% ổ loét sẽ bắt màu xanh, nếu ổ loét hoại tử nhiều sẽ có màu vàng xanh. Nếu loét giác mạc do nấm: ổ loét ranh giới rõ, bờ gọn thường có hình tròn hoặc bầu dục, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử dày, đóng thành vảy gồ cao, bề mặt vảy khô ráp và khó bóc. Nếu loét giác mạc do virut herpes: ổ loét có thể có hình cành cây hoặc hình địa đồ. Nếu loét giác mạc do acanthamoeba (amíp): ổ loét giác mạc thường kèm theo áp xe giác mạc hình vòng. Giác mạc xung quanh ổ loét bị mờ đi (do thâm nhiễm các tế bào viêm và dịch). Tiền phòng có thể có ngấn mủ.

Điều trị bệnh

Loét giác mạc là môt bệnh nặng, khó điều trị và gây ra nhiều biến chứng. Khi điều trị khỏi bệnh sẽ để lại sẹo trên giác mạc gây giảm thị lực. Trường hợp bệnh nặng, điều trị không hiệu quả có thể phải bỏ nhãn cầu.

Khi bị loét giác mạc, bệnh nhân cần phải đến khám tại các cơ sở nhãn khoa. Tại đây, nhân viên y tế nạo ổ loét giác mạc lấy bệnh phẩm, làm xét nghiệm tìm nguyên nhân gây bệnh và điều trị bằng các thuốc đặc hiệu. Nếu điều trị nội khoa không hiệu quả hoặc trong những trường hợp nặng có thể phải phẫu thuật ghép giác mạc, với mục đích thay thế giác mạc bệnh lý bằng mô giác mạc lành. Bệnh nhân tuyệt đối không được mua thuốc tại các hiệu thuốc để tự điều trị. Hiện nay, tại các hiệu thuốc có rất nhiều loại thuốc nhỏ mắt có chứa corticosteroid được bán tràn lan. Nếu bệnh nhân bị loét giác mạc mà dùng những thuốc này sẽ làm bệnh trở nên trầm trọng và gây ra những biến chứng rất nguy hiểm. Khi bị các chấn thương mắt dù nhẹ bệnh nhân cũng nên đến các cơ sở nhãn khoa để khám và điều trị, tránh để muộn có thể gây ra biến chứng loét giác mạc. Đặc biệt, khi bị bụi bay vào mắt, bệnh nhân nên đến cơ sở y tế để lấy, không nên tự ý lấy hoặc nhờ người khác lấy ra có thể gây biến chứng nguy hiểm, bệnh nhân cũng không nên dụi mắt vì sẽ làm tổn thương nặng thêm.

Theo SKĐS

4 bài thuốc nam trị đau mắt đỏ

Đau mắt đỏ là bệnh thường gặp và dễ lây lan. Nguyên nhân của bệnh là do vi khuẩn, virut…

Đặc biệt, bệnh dễ gây thành dịch ở nơi vệ sinh kém, thiếu nước sạch trong sinh hoạt.

Theo Đông y, đau mắt đỏ chủ yếu do cảm nhiễm độc khí lưu hành trên một diện rộng, hiệp với thấp nhiệt phối hợp với nhau mà gây bệnh.

4_bai_thuoc_nam_tri_dau_mat_do

Biểu hiện của bệnh là lúc đầu thấy ngứa, cộm, chảy nước mắt là lúc độc phong tà xâm nhập tại chỗ mà gây ra; sau đó nhanh chóng sưng là quá trình chính khí và tà khí giao tranh nên mắt đau, nhiều dử. Sau đây là một số bài thuốc Nam đơn giản, dễ kiếm có thể trị bệnh này để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Bài 1: Hoà tan 1 thìa canh muối bột (muối tinh không có i-ốt) vào 1 lít nước đun sôi để nguội, đựng vào chai sạch để dùng dần. Hàng ngày, nhất là lúc mới ngủ dậy, dùng bông sạch thấm nước muối trên lau mắt 4 – 5 lần cho sạch. Nhấp nháy mắt cho nước muối lọt vào trong làm tan những hạt li ti cộm lên trong mắt.

Bài 2: Lấy cây sống đời (cây bỏng) rửa sạch, giã nhỏ (dụng cụ cần được tẩy trùng sạch), lấy một miếng gạc đã tiệt khuẩn (hoặc vải màn sạch) đặt lên mắt, đặt dung dịch lá sống đời vừa bào chế lên trên miếng gạc rịt chặt, nhất là về đêm để khi ngủ không rơi. Mỗi tối làm 1 lần cho đến khi khỏi.

Bài 3: Nếu dùng các vị trên chưa khỏi, cần sử dụng các bài thuốc sau: Hạt thảo quyết minh (hạt muồng) sao vàng; bông cúc vàng (cam cúc) mỗi thứ 1 nắm; quả bạch tật lê 10g. Cho tất cả vào đun uống như nước chè.

Bài 4: Có thể cho bạch tật lê 2g đun sôi, sau đó đổ ra cốc để ngay dưới mắt vào dùng hơi nước xông cho đến khi khỏi (lưu ý cẩn thận kẻo bỏng mắt).

Theo Afamily/ Theo SKĐS

Trị đau mắt đỏ bằng thuốc nam

Đau mắt đỏ là bệnh thường gặp và dễ lây lan. Nguyên nhân của bệnh là do vi khuẩn, virut… Đặc biệt, bệnh dễ gây thành dịch ở nơi vệ sinh kém, thiếu nước sạch trong sinh hoạt.

tri_dau_mat_do_bang_thuoc_nam

Theo Đông y, đau mắt đỏ chủ yếu do cảm nhiễm độc khí lưu hành trên một diện rộng, hiệp với thấp nhiệt phối hợp với nhau mà gây bệnh. Biểu hiện của bệnh là lúc đầu thấy ngứa, cộm, chảy nước mắt là lúc độc phong tà xâm nhập tại chỗ mà gây ra; sau đó nhanh chóng sưng là quá trình chính khí và tà khí giao tranh nên mắt đau, nhiều dử. Sau đây là một số bài thuốc Nam đơn giản, dễ kiếm có thể trị bệnh này để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Bài 1: Hoà tan 1 thìa canh muối bột (muối tinh không có i-ốt) vào 1 lít nước đun sôi để nguội, đựng vào chai sạch để dùng dần. Hàng ngày, nhất là lúc mới ngủ dậy, dùng bông sạch thấm nước muối trên lau mắt 4 – 5 lần cho sạch. Nhấp nháy mắt cho nước muối lọt vào trong làm tan những hạt li ti cộm lên trong mắt.

Bài 2: Lấy cây sống đời (cây bỏng) rửa sạch, giã nhỏ (dụng cụ cần được tẩy trùng sạch), lấy một miếng gạc đã tiệt khuẩn (hoặc vải màn sạch) đặt lên mắt, đặt dung dịch lá sống đời vừa bào chế lên trên miếng gạc rịt chặt, nhất là về đêm để khi ngủ không rơi. Mỗi tối làm 1 lần cho đến khi khỏi.

Bài 3: Nếu dùng các vị trên chưa khỏi, cần sử dụng các bài thuốc sau: Hạt thảo quyết minh (hạt muồng) sao vàng; bông cúc vàng (cam cúc) mỗi thứ 1 nắm; quả bạch tật lê 10g. Cho tất cả vào đun uống như nước chè.

Bài 4: Có thể cho bạch tật lê 2g đun sôi, sau đó đổ ra cốc để ngay dưới mắt vào dùng hơi nước xông cho đến khi khỏi (lưu ý cẩn thận kẻo bỏng mắt).

BS. Đỗ Minh Hiền
Theo SKDS

Chữa đau mắt đỏ có nên dùng kháng sinh?

Hiện nay, đang vào mùa đau mắt dịch (còn gọi là đau mắt đỏ, viêm kết mạc dịch hay viêm kết mạc do virut). Vậy khi bị đau mắt đỏ thì việc dùng thuốc như thế nào?

chua_dau_mat_do_co_nen_dung_khang_sinh

Hình ảnh viêm kết mạc do virut.

Kháng sinh không phải là vũ khí chính

Hiện chưa có thuốc diệt virut gây đau mắt đỏ. Các thuốc đang có hiện nay như acyclovir, zovirax… chỉ có tác dụng hạn chế sự sinh sôi của virut. Nếu dùng thì cũng không làm bệnh nhanh khỏi hơn mà chỉ hỗ trợ quá trình diễn biến của bệnh diễn ra thuận lợi. Đối với kháng sinh chỉ nên dùng kháng sinh tra, nhỏ tại chỗ, kháng sinh phổ rộng để phòng ngừa nhiễm trùng cơ hội trên bệnh nhân đau mắt đỏ. Cũng chỉ nên dùng một trong các loại kháng sinh sau đây: tobramycine 0.3% (tobrex, toeycine), quinolone (oflovid, okacin, vigamox), neomycine và polymycine B (cebemycine).

Tại sao lại phải dùng nước muối sinh lý hoặc nước mắt nhân tạo?

Nước muối sinh lý 0,9% hay cao cấp hơn là nước mắt nhân tạo (Tear natural) sẽ rửa trôi mầm bệnh, rửa trôi chất tiết và gỉ mắt, làm êm dịu đôi mắt đang cộm rát khó chịu. Các chế phẩm trên không có chất kháng sinh cũng không có chất diệt virut nhưng vẫn được kê đơn rộng rãi là nhờ những tính năng trên. Các chế phẩm bôi trơn mắt có độ nhớt quá cao như celluvisc, liposic không nên dùng trong giai đoạn đầu của bệnh.

Có nên dùng các phương thức điều trị dân gian?

Rất nhiều người nghiện xông lá trầu không, lá dâu, lá tre… Kinh nghiệm cho thấy, các phương pháp này tuy có làm người bệnh dễ chịu đôi chút nhưng không hề làm bệnh mau khỏi, chưa kể một số bệnh nhân xông lá có thể gây bỏng mắt, trợt giác mạc, xuất huyết dưới kết mạc và sưng nề hơn sau khi xông lá. Uống lá dấp cá, uống chè hoa cúc có vẻ khả dĩ hơn phương pháp xông lá.

Có nên uống kháng sinh, uống thuốc chống sưng nề hay chống viêm?

Hoàn toàn không cần thiết. Như đã nói kháng sinh không phải là vũ khí để chống chọi với mầm bệnh virut. Tuy một vài bệnh nhân có sốt nhẹ, đau họng, sưng hạch, ho húng hắng… nhưng đó là triệu chứng xâm nhập của virut vào cơ thể và phản ứng của hệ bạch huyết. Do vậy không cần phải dùng kháng sinh. Thuốc chống sưng nề, chống viêm có lẽ chỉ làm bác sĩ và bệnh nhân yên tâm hơn chứ không có tác dụng thực tế.

Việc dùng các thuốc nhỏ mắt có cortizol

Polydexa hay clodexa đã từng gây kinh hoàng cho rất nhiều bệnh nhân bởi rất nhiều tai biến của chúng. Ai cũng biết đây là con dao hai lưỡi trong điều trị học nhãn khoa. Tuy nhiên trong viêm kết mạc dịch, quan điểm có vẻ cởi mở hơn. Các thuốc giảm viêm  dùng  sau ngày thứ 5 kể từ lúc phát bệnh có vẻ làm bệnh diễn tiến nhanh theo chiều hướng tốt.  Một vài trường hợp cá biệt bệnh sẽ nặng lên do những nguyên nhân sau đây: chẩn đoán nhầm, kháng sinh không đủ hiệu lực che chở nhiễm khuẩn. Sau cùng thì chúng ta vẫn nên nhớ một nguyên tắc là: không được sử dụng các sản phẩm có cortizol nếu không có đơn của thầy thuốc chuyên khoa mắt.

Phòng bệnh luôn tốt hơn chữa bệnh

Cách ly người bệnh và điều trị tốt cho họ. Tránh không đến nơi có nhiều bệnh nhân mắt trong mùa dịch như bệnh viện, siêu thị, các trung tâm vui chơi giải trí… Rửa tay bằng xà phòng tiệt trùng nhiều lần trong ngày, rỏ nước muối vệ sinh mắt… là cách bảo vệ chúng ta khỏi những phiền toái do viêm kết mạc dịch.

BS. Hoàng Cương (Bệnh viện Mắt Trung ương)
Theo SKDS

Đục nhân mắt ở trẻ nhỏ

Nhân mắt hay còn gọi là thể thủy tinh, nó là một thấu kính trong suốt, nằm ở ngay sau đồng tử. Nhân mắt bình thường trong suốt và có khả năng điều tiết và hội tụ các tia sáng lên võng mạc nơi điểm vàng, giúp chúng ta nhìn rõ mọi vật xung quanh. Nhưng khi có biểu hiện khác thường như nhân mắt bị đục, khiến cho những tia sáng không thể đi qua được, tùy theo mức độ đục mà trẻ có thể nhìn mờ hoặc không nhìn thấy gì. Khác với người lớn, đục nhân mắt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (dưới 8 tuổi) gây cản trở lớn cho sự phát triển chức năng thị giác, thường dẫn đến chứng nhược thị.

duc_nhan_mat_o_tre_nho

Nguyên nhân đục nhân mắt trẻ nhỏ

Đục nhân mắt tức là thể thủy tinh bị đục, còn gọi là cườm mắt (Catarac). Có nhiều nguyên nhân phát sinh ra chứng đục nhân mắt ở trẻ. Chẳng hạn như đục nhân mắt bẩm sinh hoặc ở trẻ nhỏ có thể xuất hiện ngay sau khi sinh, hoặc tiến triển trong những năm đầu của cuộc đời. Chủ yếu có 2 nguyên nhân chính, một là do di truyền, gặp 10 – 25%. Hai là do nhiễm khuẩn trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là các bệnh do virút (rubeon, herpes, cúm, quai bị…). Nó có thể xảy ra một cách tự nhiên và không kèm với một bệnh nào khác hoặc trong các hội chứng. Đục nhân mắt này có thể xảy ra ở 1 mắt hoặc cả 2 mắt.

Đục nhân mắt bệnh lý do các bệnh tại mắt như: viêm màng bồ đào, glôcôm, bong võng mạc, u nội nhãn… hoặc do các bệnh toàn thân như: đái tháo đường, bệnh galactoza huyết, têtani, bệnh da…

Đục nhân mắt do chấn thương khi vết thương xuyên, tình trạng này thường gây nên đục nhân mắt ở 1 mắt của trẻ em. Một số dạng đục này có đặc biệt là tiến triển từ từ sau hàng tuần hoặc nhiều tháng, dạng khác xuất hiện ngay trong lúc bị chấn thương.

Xử trí đục nhân mắt trẻ nhỏ

Cách xử trí được tiến hành cụ thể là: cho dù đục nhân mắt do nguyên nhân nào đi nữa thì mọi trường hợp đục nhân mắt đều ngăn cản sự phát triển của thị lực nên cần phải được lấy nhân mắt đục đi bằng phẫu thuật để phục hồi thị lực. Ở trẻ nhỏ, đây là một phẫu thuật khẩn cấp để phòng nhược thị.

Một đường rạch nhỏ ở trong mắt, qua đó nhân đục được lấy ra. Bệnh nhân cần được nằm viện khoảng từ 1 – 2 ngày. Cả phẫu thuật và phục hồi chức năng tiến bộ rất nhiều trong những năm gần đây. Cho dù mắt được mổ lành rất nhanh, nhưng trẻ cần được che mắt lại trong vòng 1 – 2 tuần để giữ cho trẻ không bị những va chạm hoặc những chấn thương vào mắt.

Mặc dù phẫu thuật đạt kết quả cao nhưng vẫn có thể xảy ra biến chứng. Khoảng 95% phẫu thuật nhân mắt ở trẻ em không có vấn đề gì, tuy nhiên có thể gặp xuất huyết, nhiễm khuẩn, bong võng mạc và glô-côm. Biến chứng nặng phải bỏ nhãn cầu rất ít gặp.

Khả năng tiến triển của mắt sau phẫu thuật sẽ có những diễn biến như sau khi lấy nhân mắt đục đi cần thiết phải điều chỉnh quang học cho con mắt này. Đeo kính gọng là dùng kính hội tụ có công suất khoảng +9 đến +12 điốp. Đây là phương pháp đơn giản nhất nhưng hiệu quả không cao do kính phóng đại hình ảnh lớn tới 30%.

Kính tiếp xúc thông thường và có kết quả ở trẻ nhỏ để thay thế cho nhân mắt tự nhiên. Các bà mẹ cần phải biết cách chăm sóc kính tiếp xúc, cách lắp vào, lấy ra và phải biết phát hiện những dấu hiệu không bình thường để báo kịp thời cho bác sĩ.

Đặt thể nhân mắt nhân tạo (thủy tinh nhân tạo) là xu hướng mới nhất, nhân mắt nằm ở vị trí tự nhiên của nhân mắt tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao thị lực và phục hồi chức năng thị giác.

Chú ý: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ phát triển nhược thị ngay cả khi đã được phẫu thuật đạt kết quả cao và điều chỉnh quang học tốt. Do vậy sau mổ, trẻ cần phải tập luyện bằng cách bịt mắt lành nhằm phục hồi thị lực lâu dài.

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
Theo SKDS

Bệnh đường hô hấp ở người cao tuổi vào mùa lạnh

Người cao tuổi mọi chức năng cơ thể đều suy giảm, trong đó sức đề kháng cũng giảm thì bệnh tật có thể tấn công dễ dàng, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virut, vi khuẩn, vi nấm). Sự yếu kém trong việc tự bảo vệ của người cao tuổi càng rõ nét mỗi khi thời tiết thay đổi, nhất là vào mùa lạnh. Bệnh mà người cao tuổi dễ mắc phải trong mùa lạnh là  bệnh đường hô hấp.

Các bệnh đường hô hấp mà người cao tuổi thường gặp

Viêm mũi họng là một bệnh có thể gặp quanh năm nhưng vào mùa lạnh người cao tuổi hay gặp nhất gây nên hiện tượng hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng gây ho, tức ngực, có khi gây khó thở.

benh_duong_ho_hap_o_nguoi_cao_tuoi_vao_mua_lanh

Viêm họng mạn tính kéo dài (thường gọi là viêm họng hạt), hoặc viêm mũi mạn tính rát. Khi thời tiết thay đổi đều có khả năng tái phát trở lại. Người cao tuổivào mùa lạnh còn hay mắc viêm phế quản, viêm phổi.

Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính ở người cao tuổi do lạnh thân nhiệt thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ ít được người nhà quan tâm do đó dễ dẫn đến bệnh nặng cho đến khi vào bệnh viện thì bệnh đã rất nặng.

Một số người có bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính thì vào mùa lạnh thì bệnh rất dễ tái phát dễ xuất hiện các biến chứng. Yếu tố thuận lợi gây bệnh trước hết phải kể đến người nghiện hút thuốc lá, thuốc lào. Thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi (tổ chức phổi) do đó làm tăng nguy cơ bội nhiễm.

Môi trường ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, không thông thoáng cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho người cao tuổi dễ mắc các bệnh đường hô hấp nhất là vào mùa lạnh.

Một số bệnh mạn tính kéo dài ở người cao tuổi như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh về rối loạn nội tiết cũng là những lý do làm tăng nguy cơ viêm đường hô hấp vào mùa lạnh ở người cao tuổi.

Phòng bệnh thế nào?

Để phòng bệnh hô hấp ở người cao tuổi trong mùa lạnh, cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa. Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh hoặc lạnh vừa chuyển sang rét đậm thì người cao tuổi nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm.

benh_duong_ho_hap_o_nguoi_cao_tuoi_vao_mua_lanh_02

Hình ảnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính.

Có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà không nên ra khỏi nhà khi thời tiết còn lạnh nhất là lúc đang có gió mùa. Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ thường xuyên hằng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế).

Những trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp.

Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những người cao tuổi đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, hen suyễn, viêm xoang. Mùa lạnh, người cao tuổi cũng cần tắm, rửa hằng ngày hoặc một tuần vài lần.

ThS.Vũ Quốc Tuấn
Theo SKDS

Cách phòng bệnh viêm tai giữa ở trẻ em

Viêm tai giữa là một trong những bệnh hay gặp nhất ở trẻ nhỏ và thiếu niên. Hầu hết trẻ em có ít nhất một lần bị viêm tai trong khoảng thời gian từ 3 – 6 tuổi và thường xảy ra sau cảm lạnh. Tuy viêm tai cấp rất đau nhưng khó nhận biết mức độ đau khi trẻ còn quá nhỏ để giao tiếp bằng lời nói.

Sau cảm lạnh dễ bị viêm tai giữa

Tai giữa chỉ to bằng hạt đậu ở phía sau màng nhĩ, gồm 3 xương rất nhỏ truyền rung động từ màng nhĩ vào tai trong, chuyển đổi thành xung động thần kinh giúp ta nghe được. Tai giữa được nối với mũi và họng bởi vòi nhĩ. Bình thường vòi nhĩ giúp cân bằng áp lực trong và ngoài tai, đồng thời làm khô dịch ở tai giữa. Hầu hết viêm tai xảy ra sau khi trẻ bị cảm lạnh và thường kèm theo sưng và viêm vòi nhĩ.

Khi vòi nhĩ bị viêm làm tắc vòi hoàn toàn, gây ứ dịch ở tai giữa. Sự ứ dịch ảnh hưởng tới thính lực của trẻ ở mức độ nhẹ, do màng nhĩ và các xương nhỏ ở tai giữa khó truyền rung động âm thanh trong dịch. Mặt khác, dịch đọng lại ở tai giữa tạo môi trường lý tưởng cho vi khuẩn và virut phát triển gây bệnh. Dịch viêm và mủ chèn ép tai làm cho trẻ rất đau.

cach_phong_benh_viem_tai_giua_o_tre_em

Vị trí của màng nhĩ và tai giữa.

Dấu hiệu trẻ bị viêm tai giữa

Viêm tai thường gặp ở trẻ còn quá nhỏ nên khó biết trẻ biểu hiện thế nào. Các triệu chứng của viêm tai như sốt, đau, quấy khóc… cũng giống như triệu chứng của các bệnh khác, nên khó xác định bệnh. Cần nhớ rằng viêm tai giữa thường xuất hiện trong thời gian ngắn sau khi bị cảm lạnh và trẻ sẽ thấy khó chịu nhất trong 24 giờ đầu sau khi nhiễm khuẩn khởi phát.

Trẻ nhỏ khi bị đau tai có biểu hiện mệt mỏi và tiếng khóc khác với khóc khi đói hoặc gắt ngủ. Nếu bạn chú ý có thể nhận ra tiếng khóc của bé khi bị bệnh. Có lẽ khi khóc các cơ ở hàm và mặt cử động sẽ làm cho đau tai tăng lên, nên tiếng khóc sẽ khác. Có thể thấy trẻ cọ hoặc kéo tai và không đáp ứng với âm thanh do sức nghe bị kém đi.

Kinh nghiệm thực tế là nhiều trường hợp trẻ cọ tai, hay kéo tai là dấu hiệu ứ dịch trong tai giữa, nhưng cũng có thể không phải là một dấu hiệu của viêm tai giữa. Trẻ bị viêm tai giữa rất đau và kèm theo sốt. Trẻ chán ăn, có biểu hiện chóng mặt hoặc mất thăng bằng, trẻ lớn biết kêu đau tai và nhăn nhó vì đau.

Khi trẻ kêu đau tai kéo dài hơn một ngày hoặc kèm theo sốt, bạn nên đưa bé đi khám ở chuyên khoa tai mũi họng. Nếu nhìn thấy máu và mủ chảy ra, có thể là dấu hiệu trẻ đã bị rách màng nhĩ. Bệnh thường gặp ở trẻ quá nhỏ để có thể nói cho bạn biết chúng bị đau. Cho nên khi chăm sóc bé từ 4 –  24 tháng tuổi, bạn cần cảnh giác với dấu hiệu mất ngủ, cáu kỉnh và kém ăn sau khi trẻ bị cảm lạnh.

Bác sĩ có thể kiểm tra màng nhĩ và xem nó rung khi đáp ứng với áp lực không khí hay không. Nếu màng nhĩ không chuyển động tự do, là dấu hiệu có dịch trong tai giữa. Làm màng nhĩ đồ đánh giá màng nhĩ chuyển động có tốt hay không; làm thính lực đồ để xác định dấu hiệu mất nghe ở trẻ.

Nhiễm khuẩn kéo dài hoặc tái phát có thể làm tổn thương màng nhĩ, xương tai và cấu trúc tai giữa, có thể gây điếc vĩnh viễn.

cach_phong_benh_viem_tai_giua_o_tre_em_02

Hình ảnh tổn thương viêm tai giữa mưng mủ cấp.

Chăm sóc và phòng bệnh

Khi đã xác định trẻ bị viêm tai giữa do nhiễm khuẩn, bác sĩ sẽ cho trẻ dùng kháng sinh từ 5 – 10 ngày. Thuốc có hiệu quả, trẻ sẽ khá hơn trong một vài ngày, nhưng bạn đừng ngừng thuốc quá sớm có thể làm cho viêm tái phát và làm cho vi khuẩn kháng thuốc.

Hầu hết trẻ có dịch trong tai khoảng 2 tháng sau khi đã khỏi viêm. Nếu dịch ở tai giữa ảnh hưởng tới sức nghe của trẻ, hoặc viêm tai tái phát không đáp ứng với kháng sinh, bác sĩ có thể đặt một ống nhỏ qua màng nhĩ giúp làm thoát dịch và cân bằng áp lực giữa tai giữa và tai ngoài để cải thiện thính lực cho trẻ. Thủ thuật rạch màng nhĩ yêu cầu phải gây mê.

Chăm sóc trẻ bị bệnh: Dùng thuốc giảm đau như acetaminophen đúng liều theo tuổi và cân nặng của trẻ, theo chỉ dẫn của bác sĩ hoặc hướng dẫn sử dụng ghi trên hộp thuốc. Không dùng thuốc aspirin cho trẻ dưới 16 tuổi. Chườm ấm tai bằng cách dùng vải dấp nước ấm chườm để giảm đau cho trẻ. Nhỏ tai bằng thuốc có chứa thuốc gây tê theo đơn của bác sĩ để giảm đau. Không dùng thuốc nhỏ tai nếu trẻ có chảy nước tai. Để làm trẻ dễ chịu hơn, cha mẹ hãy âu yếm trẻ.

Phòng bệnh: Có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh cho trẻ bằng cách: chọn nơi giữ trẻ có quy mô nhỏ vì càng có nhiều trẻ em trong lớp trẻ càng dễ bị lây cảm lạnh và nhiễm khuẩn. Tránh cho trẻ hít phải khói thuốc lá, tốt nhất là không ai hút thuốc ở nơi có trẻ nhỏ. Các bà mẹ nên nuôi con bằng sữa mẹ ít nhất trong năm đầu vì sữa mẹ truyền miễn dịch, giúp bảo vệ trẻ chống lại viêm tai giữa và các bệnh nhiễm khuẩn khác.

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh

Tuy mọi trẻ em đều có thể bị viêm tai nhưng có một số yếu tố nguy cơ làm cho trẻ dễ mắc bệnh hơn là: trẻ bị cảm lạnh; trẻ ở độ tuổi đi học nhà trẻ mẫu giáo; trẻ có anh chị em bị viêm tai giữa; tiền sử gia đình bị hen, dị ứng; trẻ bị hít khói thuốc lá; trẻ bú bình dễ bị viêm tai giữa hơn trẻ bú mẹ.

ThS. Bùi Thị Vân
Theo SKDS

Những sai lầm mắc phải khi điều trị bệnh thủy đậu cho trẻ

Theo tin từ Bệnh viện Nhi Đồng I TP. Hồ Chí Minh thì số bệnh nhân mắc thủy đậu phải nhập viện điều trị đã tăng 42% so với tháng trước; số bệnh nhân nhi đến Bệnh viện Bạch Mai khám do mắc bệnh này cũng đã bắt đầu tăng do tháng 3 được coi là tháng cao điểm của bệnh thủy đậu (bệnh thường diễn biến từ tháng 2 đến tháng 6).

Quan niệm sai lầm của nhiều người

nhung_sai_lam_mac_phai_khi_dieu_tri_benh_thuy_dau_cho_tre

Bệnh thủy đậu do virut Varicella zoster gây ra. Nguồn lây bệnh duy nhất là người bệnh qua tiếp xúc trực tiếp hoặc do virut từ đờm dãi, nước mũi, nước bọt của người bệnh bắn sang người lành khi nói, ho, hắt hơi. Virut xâm nhập vào cơ thể qua mũi-họng, rồi theo đường máu đến cư trú ở lớp tế bào thượng bì da và niêm mạc (niêm mạc miệng, kết mạc mắt…) gây nên những nốt phỏng ở đó. Tỷ lệ mắc bệnh thường cao ở các đô thị, nơi đông dân, nhất là lúc giao mùa. Tuổi mắc nhiều nhất là 2-7 tuổi, phần lớn là trẻ chưa được tiêm phòng thủy đậu; ít khi gặp ở trẻ dưới 6 tháng. Người lớn cũng mắc nếu như khi còn nhỏ chưa mắc do khi đã mắc bệnh thủy đậu, người bệnh có thể thu được miễn dịch bền vững. Phụ nữ có thai bị thủy đậu trong nửa đầu của thai kỳ có thể gây dị dạng ở não bộ, da… của bào thai. Nếu trước sinh một tuần, phụ nữ có thai mắc thủy đậu, trẻ sinh ra có nguy cơ bị thủy đậu sơ sinh. Với trẻ suy dinh dưỡng, còi xương, những người bị eczema hoặc có bệnh về máu, bệnh thường nặng, nốt phỏng hay bị loét, hoại tử, có chứa chất nhày màu xám; có khi còn gây viêm thận cấp, viêm tai giữa, viêm phổi, viêm loét giác mạc, viêm tủy thoáng qua, viêm màng não vô khuẩn.

Theo quan niệm của nhiều người, khi mắc bệnh thủy đậu, ở cả trẻ em và người lớn nên kiêng gió, kiêng nước. Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi – bệnh viện Bạch Mai thì đây là quan niệm sai lầm vì trên da có rất nhiều vi khuẩn sống cộng sinh, bình thường, chúng chung sống hòa bình với con người nhưng khi mắc thủy đậu, các nốt phỏng trên da hay ở niêm mạc có thể gây ngứa ngáy, khó chịu, trẻ không chịu được sẽ gãi và làm trầy xước da. Khi đó nếu không được chăm sóc vệ sinh hay tắm rửa sạch sẽ, vi khuẩn sẽ xâm nhập qua nốt phỏng bị vỡ gây nhiễm khuẩn tại chỗ, thậm chí viêm da nặng có thể dẫn đến biến chứng viêm cầu thận cấp hoặc nhiễm khuẩn huyết. Do vậy, người bệnh thủy đậu cần tắm hàng ngày bằng nước sạch, nếu có thể dùng nước đun các loại lá. Theo kinh nghiệm dân gian có thể dùng lá cây chân vịt, hoàng liên để đun nước tắm thì càng tốt. Chú ý khi tắm không kỳ cọ mạnh, tránh gây vỡ nốt đậu.

Thủy đậu rất dễ lây nên cần cách ly khi trẻ mắc bệnh

Thủy đậu là bệnh lành tính, do virut gây ra nên có đến 90% bệnh sẽ tự khỏi nhưng bệnh cũng rất dễ lây nên khi trẻ mắc thủy đậu cần cách ly trẻ tại nhà từ khi bệnh bắt đầu cho đến khi bong hết vảy. Mục đích là tránh để trẻ lây bệnh cho những trẻ khác tại nhà trẻ hay lớp học. Quần áo, khăn mặt, đồ dùng khác của trẻ phải được giặt bằng xà phòng, nước sạch rồi là trước khi mặc. Chú ý cắt ngắn móng tay, trẻ nhỏ phải cho mang bao tay. Nhỏ mắt, mũi bằng thuốc sát khuẩn như chloramphenicol 0,4% hoặc acgyrol 1% (2-3lần/ngày) cho trẻ. Các nốt phỏng vỡ không nên bôi các loại thuốc mỡ (tetraxilin hay mỡ penixilin…) mà chỉ nên bôi thuốc xanh metylen hoặc các loại milian. Người chăm sóc trẻ cần chú ý không tự ý dùng thuốc kháng sinh khi chưa có sự thăm khám và chỉ định của bác sĩ điều trị. Khi thấy trẻ đột nhiên sốt cao, nốt phỏng mọc dày chi chít, hoặc chảy nước mắt tự nhiên, sợ ánh sáng cần cho trẻ đi khám bệnh ngay.

Lê Khánh Phương
Theo SKDS