Tag Archives: viêm vùng chậu

Ảnh hưởng của bệnh viêm vùng chậu với chị em

Nếu bệnh viêm vùng chậu (PID) “tấn công” chị em nhiều hơn một lần thì nó có thể tăng gấp đôi nguy cơ vô sinh, và tăng gấp bốn lần nguy cơ đau vùng chậu mãn tính.

Các nhà nghiên cứu ở Baltimore cũng phát hiện ra rằng các cô gái trẻ bị mắc bệnh này tái đi tái lại nhiều lần có thể tăng nguy cơ đau vùng chậu mãn tính gấp năm lần.

Để nghiên cứu những hậu quả lâu dài của bệnh, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm trẻ em Johns Hopkins ở Baltimore đã theo dõi 831 phụ nữ lứa tuổi từ 14 tuổi và 38 trong bảy năm, sau chẩn đoán PID ban đầu của họ. Những người tham gia ban đầu bị mắc PID mức độ từ nhẹ đến trung bình và một số đã mắc PID mãn tính.

viem-vung-chau-benh-nguy-hiem-de-doa-chi-em

Kết quả cho thấy gần một phần năm trong số đó bị vô sinh và 43% bị đau vùng chậu mãn tính. Phụ nữ mắc PID thường xuyên thì khả năng bị đau vùng chậu mãn tính tăng gấp bốn lần, cũng như tăng gấp đôi khả năng vô sinh so với những người phụ nữ chỉ mắc PID một lần.

PID là một biến chứng của bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI), và được đặc trưng bởi viêm tử cung, ống dẫn trứng hoặc cơ quan sinh sản khác. Nó cũng có thể gây ra đau vùng chậu mãn tính và thai ngoài tử cung.

Trước đây, Chlamydia và bệnh lậu là nguyên nhân chính của PID, nhưng nghiên cứu gần gây cho thấy những bệnh lây truyền qua đường tình dục chiếm khoảng 1/3 các trường hợp PID và các tác nhân gây bệnh khác như Mycoplasma genitalium cũng đang gây ra rất nhiều trường hợp mắc PID.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, PID ảnh hưởng đến hơn 800.000 phụ nữ Mỹ mỗi năm, trong đó tỷ lệ mắc vô sinh là 1/10. “Khi nói đến PID, chúng ta phải luôn thận trọng hơn bao giờ hết” Tiến sĩ Maria Trent, nghiên cứu viên ở Trung tâm Trẻ em Johns Hopkins đã cho biết. “Mặc dù PID đã thay đổi theo thời gian, nó vẫn còn là một căn bệnh có thể gây ra những hậu quả bất lợi đến khả năng sinh đẻ của người phụ nữ và có thể dẫn đến đau vùng chậu mạn tính”, ông nhấn mạnh.

Trong số những người tham gia ở độ tuổi thiếu niên, theo những phát hiện này thì gần 40% bị đau vùng chậu mãn tính (kết quả được công bố vào tháng 9/2011 trong tạp chí Sexually Transmitted Diseases). Những phụ nữ trẻ bị mắc PID thường xuyên cũng có nguy cơ đau vùng chậu mãn tính gấp 5 lần so với bạn tình của họ.

Trent cho biết: “Thực tế là gần 1/5 những cô gái này đã có dấu hiệu vô sinh là khá đáng báo động, và có nghĩa rằng những con số sẽ tăng lên khi các cô gái lớn tuổi hơn và tích cực cố gắng để có thai”.

Theo afamily

Viêm vùng chậu có dẫn tới vô sinh?

Viêm vùng chậu là bệnh lý phụ khoa thường gặp ở nữ giới trong tuổi sinh đẻ. Là tình trạng nhiễm trùng ở cơ quan sinh dục nữ bao bao gồm: tử cung, vòi trứng, buồng trứng và gây viêm nhiễm. Các cơ quan này bị nhiễm trùng có thể dẫn đến vô sinh.

Dấu hiệu nhận biết

Dấu hiệu nhận biết trên lâm sàng trong viêm vùng chậu rất đa dạng. Triệu chứng ban đầu chỉ là một cảm giác trằn nhẹ vùng bụng dưới, những triệu chứng khác có thể gồm có khí hư âm đạo (huyết trắng âm đạo ra nhiều hơn kèm theo có mùi tanh hơn, màu sắc huyết trắng có thể chuyển sang màu hơi xanh hoặc màu vàng), xuất huyết không đều, đau bụng khi kinh kỳ và giao hợp đau, tiểu khó. Những dấu hiệu toàn thân của nhiễm khuẩn như: sốt trên 38 độ C, run lạnh, đau cơ, nôn,… Xuất huyết tử cung bất thường hay tiểu khó có thể là chứng cớ lâm sàng duy nhất của bệnh viêm vùng chậu.

Ai có nguy cơ mắc bệnh?

Những người có nguy cơ cao thường là phụ nữ hoạt động tình dục sớm (trong độ tuổi khoảng 15 đến 19 tuổi) mà không dùng biện pháp ngừa thai nào và quan hệ với nhiều bạn tình. Những bệnh nhân có tiền sử viêm cổ tử cung mà điều trị không triệt để, tái phát nhiều lần cũng có nguy cơ mắc.

Ngoài ra các thủ thuật nạo hút thai, các thủ thuật trên âm đạo, cổ tử cung, nhiễm trùng HIV-1, viêm âm đạo do nhiễm khuẩn (bacterial vaginosis), bệnh sử những bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác, thụt rửa âm đạo thường xuyên,…cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển gây bệnh. Theo nghiên cứu có khoảng 10% đến 20% những trường hợp viêm cổ tử cung do lậu cầu hay chlamydia không được điều trị đúng, triệt để có thể tiến triển thành bệnh viêm vùng chậu.

Biến chứng của bệnh

Trong những trường hợp viêm vùng chậu không được điều trị hoặc điều trị không đúng mức có thể gây áp xe vùng chậu, thường là khối áp xe ở tai vòi buồng trứng, nhưng một số ít trường hợp khác có thể là khối áp xe ở ruột non, ruột già hay ruột thừa. Khối áp xe có thể vỡ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc.

Một số trường hợp viêm vùng chậu để lại di chứng đau vùng chậu mạn tính dai dẳng nguyên do vi khuẩn neisseria gonorrheae và chlamydia trachomatis đều có phân tử có khả năng kết dính với các receptors của tế bào biểu mô đường sinh dục, đồng thời chúng tiết nội độc tố làm tổn thương hàng loạt lông chuyển của nội mạc vòi trứng gây ra xơ dính làm ảnh hưởng sự thụ thai của người bệnh đưa đến vô sinh và dễ biến chứng bị thai ngoài tử cung về sau.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh dịch Mỹ, viêm vùng chậu (PID) – một biến chứng của bệnh lây truyền qua đường tình dục – ảnh hưởng tới 800.000 phụ nữ Mỹ mỗi năm và 1/10 trong số đó sẽ bị vô sinh.

Phụ nữ bị các đợt viêm vùng chậu tái phát dễ bị vô sinh gấp gần 2 lần so với những phụ nữ không bị tái phát bệnh này sau khi có chẩn đoán và được điều trị. Những phụ nữ bị viêm vùng chậu tái phát cũng tăng 4 lần nguy cơ bị đau vùng chậu mạn tính.

viem_vung_chau_co_dan_toi_vo_sinh

Vi khuẩn Chlamydia có thể gây viêm vùng chậu.

Khi nào cần khám bệnh?

Khi có bất kỳ triệu chứng như: đau khi quan hệ tình dục hoặc tiết dịch âm đạo bất thường, ra huyết âm đạo giữa chu kỳ, quan hệ tình dục với nhiều người và nghi ngờ bị nhiễm chlamydia, lậu hoặc bệnh lây truyền qua đường tình dục khác mà có biểu hiện như: tiểu buốt, rát hoặc tiết dịch bất thường ở cơ quan sinh dục… cần đi khám ngay để được khám và điều trị.

Phòng bệnh

Viêm vùng chậu có thể lây lan qua đường tình dục vì vậy, để dự phòng các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục cần thiết lưu ý đến một số các biện pháp sau:

Đối với thanh thiếu niên cần được gia đình và nhà trường tuyên truyền giáo dục và thông tin y tế, nhất là những nguy hiểm của các bệnh lý lây qua đường tình dục. Thực hiện chế độ đời sống một vợ một chồng. Đối với các quan hệ tình dục nghi ngờ cần sử dụng biện pháp tình dục an toàn như dùng bao cao su…

Phụ nữ khi sử dụng thuốc rửa phụ khoa phải đúng cách, theo sự chỉ dẫn trên mỗi chai thuốc rửa, lưu ý không thụt rửa vào âm đạo mà chỉ rửa vùng âm hộ nhằm tránh các loại vi khuẩn gây hại phát triển. Đặc biệt không nên tự ý đặt thuốc âm đạo khi chưa có chỉ định của bác sĩ sản khoa.

Thạc sĩ  Nguyễn Thị Tuyền
Theo SKDS

Nguyên nhân và điều trị viêm vùng chậu

Viêm vùng chậu (VVC) là bệnh lý phụ khoa thường gặp ở nữ giới trong tuổi sinh đẻ. Đây là một hội chứng lâm sàng gây nên bởi tình trạng nhiễm trùng của tử cung, tai vòi, buồng trứng, phúc mạc chậu và các cơ quan lân cận. Phần lớn các trường hợp VVC là do sự phát tán một tình trạng nhiễm trùng trước đó ở âm đạo, cổ tử cung.

Những yếu tố nguy cơ và nguyên nhân

Các yếu tố nguy cơ gây nên VVC bao gồm: phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, có quan hệ sớm và quan hệ với nhiều bạn tình, đã có tiền căn viêm cổ tử cung nhầy mủ điều trị không triệt để, tái phát nhiều lần. Ngoài ra các thủ thuật nạo hút thai, các thủ thuật trên âm đạo, cổ tử cung, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển gây bệnh. Đa số trường hợp mà nguyên nhân gây bệnh là những loại vi khuẩn lây lan qua đường tình dục như neisseria gonorrheae và chlamydia trachomatis. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp nguyên nhân gây bệnh có thể do các loại vi khuẩn khác có mặt trong âm đạo như gardnerella vaginalis, haemophilus influenzae, mycoplasma hominis, ureaplasma urealyticum Group A streptococci, Peumococci và các loại trực trùng trong đường ruột.

700-027212

Quan hệ một vợ một chồng là cách tốt nhất để tránh các bệnh viêm nhiễm qua đường tình dục dẫn đến viêm vùng chậu

Các dấu hiệu nhận biết

Tùy theo tác nhân gây bệnh, mức độ nhiễm trùng và khả năng đề kháng của cơ thể mà các dấu hiệu nhận biết trên lâm sàng trong VVC rất đa dạng từ người này sang người khác. Triệu chứng ban đầu chỉ là một cảm giác trằn nhẹ vùng bụng dưới, trường hợp này ta xếp vào nhóm mức độ nhẹ. Trường hợp nặng, người bệnh than đau vùng bụng dưới, đau từng cơn hay đau âm ỉ, huyết trắng âm đạo ra nhiều hơn và nặng mùi kèm thay đổi màu sắc huyết trắng, màu xanh hay màu vàng. Dấu hiệu sốt trên 38oC, ớn lạnh toàn thân, người mệt. Khi quan hệ, cảm giác đau nhiều, đau nhiều hơn khi ấn vào hạ vị.

Việc xác định VVC dựa vào các triệu chứng sau: đau vùng bụng dưới, đau khi lắc cổ tử cung lúc thăm khám âm đạo và đau khi khám 2 phần phụ (gồm vòi trứng, buồng trứng, hai bên phải và trái). Ngoài ra, xét nghiệm máu, bạch cầu tăng trên 10.000 mm

Diễn tiến của bệnh

Trong những trường hợp VVC không được điều trị hoặc điều trị không đúng mức có thể gây áp-xe vùng chậu, thường là khối áp-xe ở tai vòi buồng trứng, nhưng một số ít trường hợp khác có thể là khối áp-xe ở ruột non, ruột già hay ruột thừa. Khối áp-xe có thể vỡ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc.

Một số trường hợp VVC để lại di chứng đau vùng chậu mạn tính dai dẳng nguyên do vi khuẩn neisseria gonorrheae và chlamydia trachomatis đều có phân tử có khả năng kết dính với các receptors của tế bào biểu mô đường sinh dục, đồng thời chúng tiết nội độc tố làm tổn thương hàng loạt lông chuyển của nội mạc vòi trứng gây ra xơ dính làm ảnh hưởng sự thụ thai của người bệnh đưa đến vô sinh và dễ biến chứng bị thai ngoài tử cung về sau.

Điều trị

Việc điều trị viêm VVC chủ yếu là điều trị nội khoa với kháng sinh phổ rộng thích hợp, cần thiết điều trị sớm và liên tục có cơ may tránh được di chứng về sau của VVC. Tất cả các phác đồ điều trị phải hiệu quả đối với cả neisseria gonorrheae lẫn chlamydia trachomatis. Đối với các thể bệnh nhẹ, có thể điều trị tại nhà. Tuy nhiên với các thể bệnh nặng cần phải nhập viện điều trị. Tiêu chuẩn điều trị nội trú tại bệnh viện bao gồm các tình huống sau: người bệnh trẻ dưới 18 tuổi, khi xác định VVC mà chưa loại trừ các bệnh lý ngoại khoa khác như bệnh viêm ruột thừa; người bệnh đang mang thai; người bệnh điều trị ngoại trú không đạt kết quả, có kèm sốt cao 39oC hoặc xét nghiệm máu bạch cầu tăng 15.000mm3 và thăm khám bụng và âm đạo có khối áp-xe phần phụ.

Thuốc điều trị điều trị ngoại trú tại nhà đối với thể nhẹ: ofloxacin 400mg phối hợp flagyl 500mg, dùng liên tục 14 ngày hoặc cifixim 400mg phối hợp doxycyclin 100mg và flagyl 500mg, dùng liên tục 14 ngày. Cần kết hợp thuốc giảm đau, trợ sức, chế độ nghỉ ngơi và chế độ dinh dưỡng đầy đủ.

Thuốc điều trị nội trú, việc sử dụng thuốc kháng sinh toàn thân liều cao cần theo sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Kết hợp giảm đau, hạ sốt, bù nước điện giải và nâng sức đề kháng cơ thể.

Trường hợp có biến chứng áp-xe vòi trứng và dùng thuốc kháng sinh không đáp ứng phải phẫu thuật cắt bỏ khối áp-xe và dẫn lưu ổ bụng.

Dự phòng

Phần lớn các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục nói chung và VVC nói riêng lây lan qua đường tình dục tùy thuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa, kinh tế, xã hội. Vì vậy, để dự phòng các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục cần thiết lưu ý đến một số các biện pháp sau:

– Tuyên truyền giáo dục và thông tin y tế, nhất là đối tượng thanh thiếu niên về những nguy hiểm của các bệnh lý lây qua đường tình dục.

– Đề cao nền tảng gia đình, tuyên truyền đời sống một vợ một chồng. Đây là cách tốt nhất để phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục.

– Đối với các quan hệ nghi ngờ, phải biết cách phòng bệnh cho mình và cho người tiếp xúc. Sử dụng bao cao su là phương pháp hữu hiệu nhất.

– Phụ nữ khi sử dụng, thuốc rửa phụ khoa phải đúng cách, theo sự chỉ dẫn trên mỗi chai thuốc rửa, lưu ý không thụt rửa vào âm đạo mà chỉ rửa vùng âm hộ mà thôi, việc thụt rửa vào trong âm đạo sẽ làm xáo trộn môi trường âm đạo tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn gây hại phát triển gây nhiễm khuẩn âm đạo. Khi có huyết trắng bất thường cần đến cơ sở chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị đúng cách, không nên tự ý đặt thuốc âm đạo.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN
Theo Sức Khỏe & Đời Sống