Tag Archives: viem nao

Viêm não Nhật Bản vào mùa bùng phát

Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là một trong những bệnh ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nhân dân, đặc biệt là trẻ em vào mùa hè. Hiện nay đang là giữa mùa của bệnh VNNB, rất nhiều trường hợp đã phải nhập viện.

Nhận biết bệnh VNNB
Bệnh VNNB là bệnh nhiễm virut cấp tính ở hệ thần kinh trung ương do virut VNNB lây truyền từ nguồn bệnh đến người qua muỗi đốt. Bệnh đã được biết từ năm 1871, nhưng mãi đến năm 1935 người ta mới phân lập được virut từ não của người bệnh ở Tokyo, Nhật Bản và năm 1938 Mitamura đã phân lập được virut VNNB ở muỗi vectơ C. tritaeniorhynchus. Đến năm 1959 những nghiên cứu ở Nhật Bản đã xác định ổ chứa virut là chim, lợn và muỗi C. tritaeniorhynchus là vectơ truyền bệnh VNNB giữa các động vật có xương sống và từ đó truyền sang người.

Người bị muỗi nhiễm virut VNNB đốt sẽ trải qua thời kỳ ủ bệnh từ 5-15 ngày. Thời kỳ phát bệnh thường kéo dài từ 1-6 ngày. Tuy nhiên có thể ngắn hơn trong 24 giờ và dài hơn tới 14 ngày. Bệnh bắt đầu đột ngột với triệu chứng sốt, mệt mỏi toàn thân, đau đầu, đau cơ, run, buồn nôn, nôn, sau đó cứng gáy và có dấu hiệu thần kinh.

viem-nao-nhat-ban-vao-mua-bung-phat

Giai đoạn viêm não cấp tính
Đặc điểm lâm sàng nổi bật trong giai đoạn này là tiếp tục sốt, cứng gáy, có dấu hiệu thần kinh trung ương khu trú, co giật, thay đổi cảm giác và nhiều trường hợp dẫn tới hôn mê. Thường sốt cao từ 38 – 40oC, nhịp tim tương đối chậm, nét mặt của người bệnh được mô tả như xám xịt, thẫn thờ, buồn tẻ, đôi mắt sợ sệt, nhìn chòng chọc (giống như bệnh parkison mạn tính) và giọng nói khàn, lè nhè, nói khó, nghe khó.

Dấu hiệu thần kinh như cứng gáy chiếm tới 80% trường hợp. Run là dấu hiệu thường gặp và thường thấy ở ngón tay, lưỡi, mi mắt và mắt. Co giật cũng là một đặc điểm lâm sàng thường gặp ở bệnh VNNB, nhất là ở trẻ em. Có thể có cơn động kinh toàn thân với những cử động run giật lặp đi lặp lại rất dữ dội. Một số trường hợp có cơn cường cơ làm cho trẻ uốn cong người và co đầu lại, hai chân dạng ra và hai tay gập lại ở góc khuỷu. Những cơn co giật cục bộ cũng thường gặp

Giai đoạn sau
Bệnh nhân có thể được hồi phục và thời kỳ này thông thường diễn biến chậm, bệnh nhân có thể được hồi phục các chức năng vận động, nhưng tri thức lại không bình thường. Phần lớn di chứng để lại cho người bệnh là những rối loạn về tinh thần, mất ổn định về tình cảm, cá tính thay đổi, liệt thần kinh vận động ở chi trên hoặc chi dưới. Hiện tượng thất ngôn và loạn tinh thần có hệ thống thường ít gặp. Tỷ lệ tử vong thay đổi từ 0,3-60% tùy theo trình độ kỹ thuật hồi sức cấp cứu chống phù não, suy hô hấp, trụy tim mạch và bội nhiễm vi khuẩn.

Điều trị bệnh VNNB
Cho đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh VNNB, vì vậy điều trị trợ sức và điều trị triệu chứng là chủ yếu. Người ta không dùng gammaglobulin và corticosteroid để điều trị vì không có tác dụng. Tỷ lệ tử vong có thể giảm xuống là do việc chăm sóc bệnh nhân đúng đắn. Bệnh nhân phải được chuyển đến bệnh viện để điều trị. Không cần thiết phải cách ly bệnh nhân và khử khuẩn các chất tiết của người bệnh vì virut VNNB không truyền từ người sang người qua chất bài tiết.

viem-nao-nhat-ban-vao-mua-bung-phat1

Đường lây truyền viêm não Nhật Bản

Các biện pháp phòng ngừa bệnh VNNB
Virut VNNB được lây truyền qua muỗi vectơ hút máu súc vật, do đó những súc vật hoang dại và súc vật nuôi trong nhà là vật chủ chính. Người được coi là vật chủ cuối cùng đối với virut VNNB, vì trong máu người virut VNNB tồn tại thời gian ngắn với hiệu giá thấp và muỗi vectơ thích hút máu súc vật hơn là máu người. Bệnh VNNB có thể được dự phòng bởi sự phối hợp của các biện pháp phòng trừ vectơ, ngăn ngừa vectơ, gây miễn dịch cho súc vật và cho người cảm nhiễm.

Phòng trừ vectơ
Việc sử dụng hóa chất diệt vectơ VNNB nói chung là có hiệu quả nhưng chỉ được giới hạn trong một không gian và thời gian nhất định với giá thành rất cao. Ở Hàn Quốc người ta phun fenitrothion với thể tích cực nhỏ bằng máy bay đã có hiệu quả làm giảm mật độ C. tritaeniorhynchus trưởng thành khoảng 80% trong 4 ngày.

Việt Nam là nước nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa nước. Vì vậy việc phòng trừ vectơ VNNB lại càng khó khăn hơn không chỉ vì thiếu tiền mua máy móc, hóa chất mà còn vì những cánh đồng lúa rộng lớn chứa đựng quần thể muỗi vectơ phong phú này. Do đó biện pháp phòng trừ bệnh VNNB bằng phòng trừ vectơ, kể cả dùng hóa chất là hoàn toàn không thực tế và không có hiệu quả.
Tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh quan trọng nhất.

Gây miễn dịch phòng bệnh là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất, điều đó đã được chứng minh ở tất cả các quốc gia sử dụng vaccin VNNB để phòng bệnh. Ở Việt Nam những năm qua nơi nào có sự bao phủ của vaccin này ở đó giảm rõ rệt số trẻ mắc bệnh. Chính vì vậy các bậc cha mẹ nên chủ động đưa trẻ đi tiêm chủng phòng bệnh.

Theo sức khỏe đời sống

Phòng bệnh Rubella bẩm sinh

Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm do virut sởi gây ra, bệnh rất dễ lây và gây thành dịch. Mọi trẻ em chưa có miễn dịch phòng bệnh sởi đều có thể mắc bệnh. Bệnh có thể gây nên các biến chứng như viêm phổi, viêm não, tiêu chảy, suy dinh dưỡng, mù loà thậm chí có thể tử vong. Qua nhiều năm triển khai tiêm chủng vắc-xin sởi trong tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên, bệnh sởi vẫn có nguy cơ bùng phát thành dịch nếu không duy trì tỷ lệ chủng cao trong cộng đồng.

Bệnh Rubella là bệnh bệnh truyền nhiễm do virut Rubella gây ra. Bệnh Rubella ở trẻ em thường nhẹ, ít biến chứng. Tuy nhiên, nếu phụ nữ nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây ra sẩy thai, thai chết lưu, trẻ sinh ra có thể mắc hội chứng Rubella bẩm sinh (bao gồm các dị tật tim, đục thuỷ tinh thể, điếc bẩm sinh, chậm phát triển… thậm chí đa dị tật). Trẻ bị hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm trên toàn cầu có khoảng 110.000 trẻ em sinh ra mắc hội chứng Rubella bẩm sinh. Ở Việt Nam, từ năm 2004 – 2011 liên tục ghi nhận các vụ dịch Rubella với tổng số trên 3.500 trường hợp. Trong số các trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh có tới trên 90% trẻ mắc các dị tật phức tạp ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ như các dị tật về tim, 45% trẻ bị đục thủy tinh thể, 37 % lách to, 15% vàng da nhân, 12% trẻ chậm phát triển…

Tiêm vắc-xin sởi - Rubella.

Tiêm vắc-xin sởi – Rubella.

Bệnh sởi và Rubella không có thuốc điều trị đặc hiệu. Tiêm vắc-xin là cách phòng bệnh chủ động và hiệu quả

Với sự hỗ trợ của Liên minh Toàn cầu về vắc-xin và tiêm chủng (GAVI), được sự đồng ý của Chính phủ, trong năm 2014 – 2015 tất cả trẻ từ 1 tuổi đến 14 tuổi trong toàn quốc được tiêm 1 mũi vắc-xin sởi – Rubella miễn phí trong chiến dịch tại các điểm tiêm chủng trong trường học hoặc trạm y tế xã/ phường.

Chiến dịch này sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm gánh nặng bệnh sởi, Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh trong cộng đồng và hướng tới mục tiêu Loại trừ bệnh sởi trong tương lai.
Vắc-xin sởi – Rubella là vắc-xin có tính an toàn cao. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn tiêm chủng trước khi tiêm các bà mẹ hãy cho trẻ ăn no và chủ động thông báo với cán bộ y tế tiêm chủng về tình trạng sức khỏe của con mình nếu trẻ đang bị sốt, đang mắc bất cứ bệnh nào hoặc đã bị phản ứng với lần tiêm chủng trước.

Tiêm vắc-xin sởi-Rubella là cách tốt nhất để phòng bệnh sởi, Rubella.
“Đừng bỏ lỡ cơ hội được tiêm vắc-xin sởi – Rubella trong chiến dịch dành cho trẻ em từ 1 – 14 tuổi trong toàn quốc”.

Nguồn sức khỏe đời sống

Biến chứng có thể gặp do bệnh sởi

Bệnh sởi ở trẻ em đã xuất hiện trở lại với tần suất ngày càng tăng. Điều đáng lo ngại là nhiều bệnh nhi mắc sởi đã có biến chứng nặng thậm chí rất nặng.

Nhiều trẻ mắc sởi biến chứng nặng

Mới đây, các bác sĩ khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cho biết vừa cấp cứu thành công bệnh nhi Bùi Kiều T. (10 tháng tuổi) bị bệnh sởi, đã chuyển sang giai đoạn biến chứng, viêm phổi nặng.

bien-chung-co-the-gap-do-benh-soi

Bệnh nhi nhập viện sáng 16/2, sau 2 ngày ho, sốt, nổi ban, được xác định mắc sởi và chuyển sang Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương điều trị. Tuy nhiên, ngay chiều cùng ngày, chụp X-quang phổi bệnh nhi đã thấy tổn thương nặng nên được chuyển trở lại Khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng suy hô hấp. Cháu bé phải thở ôxy, điều trị tích cực, nhưng chưa đầy một ngày suy hô hấp tiến triển nhanh, phải thở máy. Cùng với diễn biến bệnh quá nhanh (trong khi thông thường, viêm phổi do vi khuẩn bệnh cảm không cấp tính) và các xét nghiệm cấy máu, dịch nội khí quản đều không thấy có vi khuẩn nên bệnh nhi được khẳng định viêm phổi do virut sởi tấn công trực tiếp. Ngay lập tức cháu bé được điều trị tích cực, thở máy suốt 5 ngày. Đến nay, bệnh nhi đã qua cơn nguy kịch, có thể tự thở, không cần sử dụng máy thở và dần hồi phục, sức khỏe tiến triển tốt.

Khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) cũng vừa tiếp nhận một bệnh nhi sởi đã chuyển sang giai đoạn biến chứng viêm phổi nặng. Bệnh nhi Lâm Quang (1 tuổi, ở Bình Phước) nhập viện trong tình trạng sốt cao, đã nổi ban 3 ngày, suy hô hấp, có lúc ngưng thở. Các bác sĩ đã nhanh chóng điều trị tích cực, cho bệnh nhi thở máy. Sau 3 ngày điều trị, đến nay, bệnh nhi đã qua cơn nguy kịch, có thể tự thở, không cần sử dụng máy thở và dần hồi phục, sức khỏe tiến triển tốt.

Những biến chứng thường gặp

Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính với các triệu chứng sốt, phát ban, chảy nước mũi, ho, mắt đỏ… bệnh có thể gặp ở trẻ em, người lớn nếu không có miễn dịch phòng bệnh, có thể gây thành dịch. Bệnh sởi tuy ít gây tử vong nhưng điều đáng sợ nhất của sởi không phải là ban mà là các biến chứng. Những biến chứng có thể gặp là: viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, khô loét giác mạc mắt và đôi khi viêm não sau sởi, đặc biệt ở trẻ em suy dinh dưỡng…

Biến chứng đường hô hấp

Viêm thanh quản

– Giai đoạn sớm, là do virut sởi: Xuất hiện ở giai đoạn khởi phát, giai đoạn đầu của mọc ban thường mất theo ban, hay có Croup giả, gây cơn khó thở do co thắt thanh quản.

– Giai đoạn muộn: Do bội nhiễm (hay gặp do tụ cầu, liên cầu, phế cầu…), xuất hiện sau mọc ban. Diễn biến thường nặng: Sốt cao vọt lên, ho ông ổng, khàn tiếng, khó thở, tím tái.

Viêm phế quản: Thường do bội nhiễm, xuất hiện vào cuối thời kì mọc ban. Biểu hiện sốt lại, ho nhiều, nghe phổi có ran phế quản, bạch cầu tăng, neutro tăng, Xquang có hình ảnh viêm phế quản.

Viêm phế quản – phổi: Do bội nhiễm, thường xuất hiện muộn sau mọc ban. Biểu hiện nặng: sốt cao khó thở, khám phổi có ran phế quản và ra nổ. Xquang có hình ảnh phế quản phế viêm (nốt mờ rải rác 2 phổi). Bạch cầu tăng, neutro tăng, thường là nguyên nhân gây tử vong trong bệnh sởi, nhất là ở trẻ nhỏ.

Biến chứng thần kinh

Viêm não – màng não – tủy cấp: Là biến chứng nguy hiểm gây tử vong và di chứng cao. Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh của Mỹ, cứ khoảng 1.000 trẻ bị sởi thì có một trẻ bị viêm não. Viêm não có thể gây co giật, hôn mê, tử vong hoặc ảnh hưởng nặng nề đến tinh thần và thể chất của trẻ sống sót.

Viêm màng não: Có thể viêm màng não thanh dịch do virut sởi hoặc viêm màng não mủ sau viêm tai do bội nhiễm.

Viêm não chất trắng bán cấp xơ hóa (Van bogaert): Hay gặp ở tuổi 2 – 20 tuổi, xuất hiện muộn sau vài năm, điều này cho thấy virut sởi có thể sống tiềm tàng nhiều năm trong cơ thể bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch bất thường. Diễn biến bán cấp từ vài tháng đến 1 năm. Bệnh nhân tử vong trong tình trạng tăng trương lực cơ và co cứng mất não.

Biến chứng đường tiêu hóa: Thường gặp là viêm niêm mạc miệng, viêm ruột, cam mã tấu… Tiêu chảy cũng thường gặp ở những trẻ bị sởi. Tiêu chảy sau sởi nặng nề hơn và có nhiều biến chứng hơn tiêu chảy cấp do virut thông thường.

Viêm loét giác mạc: Có thể gặp ở trẻ suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A và có thể gây mù vĩnh viễn. Ở trẻ em châu Phi, sởi là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa. Phụ nữ mang thai nếu bị sởi thì có thể bị sảy thai, thai chết lưu, sinh non hoặc sinh con nhẹ cân.

Nguồn giáo dục

Dinh dưỡng cho con vào những ngày dịch sởi bùng phát

Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut sởi gây ra, hay gặp ở trẻ em và cả người lớn nếu không có miễn dịch đối với bệnh sởi. Bệnh sởi tiến triển nặng ở trẻ nhỏ có tình trạng dinh dưỡng kém, đặc biệt là thiếu vitamin A, suy dinh dưỡng hoặc trẻ có hệ thống miễn dịch suy giảm và do sức đề kháng của cơ thể suy giảm nên bệnh nhân dễ bị biến chứng.

Biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh sởi là mù lòa, viêm não, tiêu chảy nặng và mất nước, viêm tai giữa hoặc nhiễm trùng hô hấp nặng như viêm phổi. Có khoảng 10% trường hợp mắc sởi tử vong trong các quần thể dân cư có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao và chăm sóc y tế hạn chế. Phụ nữ bị mắc sởi khi đang mang thai cũng có nguy cơ bị các biến chứng nặng và có thể gây sảy thai hoặc đẻ non.

Không có thuốc đặc hiệu đối với virut sởi, do đó điều trị bệnh sởi chủ yếu là điều trị triệu chứng, nâng cao thể trạng và phòng ngừa biến chứng. Các biến chứng nặng của bệnh sởi có thể giảm nhẹ hoặc phòng tránh được bằng việc chăm sóc hỗ trợ đảm bảo dinh dưỡng tốt, uống bổ sung vitamin A theo quy định, bồi phụ đủ nước và điều trị mất nước với dung dịch bù nước điện giải (oresol, hydrite…). Kháng sinh chỉ dùng để điều trị khi có nhiễm trùng mắt, tai và viêm phổi. Cách tốt nhất để phòng ngừa bệnh sởi là tiêm vắc-xin sởi đúng quy định, nâng cao thể trạng bằng dinh dưỡng hợp lý.

dinh-duong-cho-con-vao-nhung-ngay-dich-soi-bung-phat

Các triệu chứng của bệnh sởi chính là tác nhân gây ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Trẻ bị sởi thường chán ăn, bỏ ăn hay từ chối không ăn do bị viêm loét ở miệng, do tình trạng nhiễm trùng; nôn và tiêu chảy không chỉ làm tăng nhu cầu một số chất dinh dưỡng mà còn tăng đào thải và giảm hấp thu chất dinh dưỡng.

Đặc biệt, bệnh sởi có thể gây thiếu vitamin A, kể cả ở những trẻ trước đó được nuôi dưỡng tốt và không thiếu vitamin A và có thể gây các biến chứng viêm loét giác mạc, thậm chí gây mù lòa. Bộ Y tế đã khuyến cáo tất cả trẻ em được chẩn đoán mắc bệnh sởi cần được uống bổ sung ngay vitamin A trong 2 ngày liên tiếp với liều 50.000 UI/ngày cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, 1 viên nang vitamin A 100.000IU/ngày cho trẻ từ 6 – 12 tháng; 1 viên nang 200.000IU/ngày cho trẻ trên 12 tháng tuổi.

Nếu trẻ có biểu hiện thiếu vitamin A cần được uống lặp lại 1 liều như trên sau 4-6 tuần. Việc bổ sung này giúp dự trữ vitamin A trong thời gian mắc bệnh sởi, kể cả ở trẻ được nuôi dưỡng tốt và có thể giúp bảo vệ mắt, chống mù lòa. Bổ sung vitamin A đã được một số nghiên cứu chứng minh làm giảm 50% trường hợp tử vong do bệnh sởi.

Chăm sóc dinh dưỡng là vô cùng quan trọng trong dự phòng và hỗ trợ điều trị bệnh sởi để giúp cơ thể tăng sức đề kháng chống lại tác nhân gây bệnh, giảm nguy cơ mắc các biến chứng hay giảm nhẹ biến chứng khi đã mắc. Trẻ suy dinh dưỡng thường dễ bị mắc sởi và bị biến chứng nặng.

Ngược lại, trẻ bị mắc sởi lại dễ bị suy dinh dưỡng thậm chí suy dinh dưỡng nặng. Do đó, nếu trong quá trình điều trị bệnh sởi, nếu trẻ bị suy dinh dưỡng nặng sẽ cần được áp dụng chế độ điều trị suy dinh dưỡng. Việc lựa chọn thực phẩm hợp lý và chế độ dinh dưỡng đúng cách sẽ mang lại lợi ích trong việc phòng và chữa bệnh sởi. Các bậc phụ huynh nên chú ý một số điểm sau:

Lựa chọn thực phẩm:
– Đối với trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ: bà mẹ cần tiếp tục cho con bú, cho bú nhiều lần hơn kết hợp với ăn bổ sung hợp lý. Thực hiện cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là biện pháp tốt nhất giúp trẻ tăng trưởng, phát triển tối ưu và góp phần phòng bệnh tốt nhất.

– Cho trẻ ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng, đa dạng thực phẩm (đủ 4 nhóm thực phẩm: nhóm chất đạm, nhóm chất béo, nhóm chất bột đường, nhóm cung cấp vitamin và chất khoáng với 15 loại thực phẩm), không quá kiêng khem để bù lại các chất dinh dưỡng mất đi (đặc biệt là năng lượng và protein) do quá trình nhiễm trùng và tiến triển bệnh.

– Cần cho trẻ ăn đủ các thức ăn giàu đạm. Đặc biệt các thực phẩm giàu đạm có giá trị sinh học cao như thịt, cá (cá chép, cá quả, cá ba sa, sa ba, cá bông lau, cá hồi, cá trích…), trứng, sữa, hải sản đồng thời cũng là nguồn cung cấp kẽm và sắt giúp tăng cường hệ miễn dịch và sức đề kháng cho trẻ. Trong trường hợp trẻ bị biến chứng tiêu chảy hoặc viêm phổi, cần bổ sung kẽm theo hướng dẫn của y tế bằng đường uống cho trẻ.

– Cần cho trẻ ăn tăng rau, quả có màu vàng, đỏ (như cà rốt, cà chua, bí đỏ, cam, xoài, đu đủ, dưa hấu…) và các loại rau có lá xanh sẫm (như rau muống, rau ngót, rau dền đỏ, cải bó xôi, súp lơ xanh…) vì có nhiều vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin A, vitamin C… giúp tăng cường miễn dịch, chống nhiễm trùng và làm nhanh lành các tổn thương, đặc biệt tổn thương ở mắt, chống mù lòa. Các loại quả khác giàu vitamin C giúp nâng cao sức đề kháng và cung cấp nước cho trẻ như bưởi, táo, lê… cũng rất tốt. Bên cạnh đó, trẻ cần được uống bổ sung vitamin A theo phác đồ điều trị.

– Khi đang bị bệnh sởi không nên dùng các loại gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu, quế, hành tây, tỏi, cà ri…, hạn chế thức ăn chứa nhiều chất béo no, nội tạng động vật. Tuyệt đối tránh, không dùng các thức ăn mà đã bị dị ứng hoặc các thức ăn lạ.

Về cách chế biến:
– Cần đảm bảo khẩu phần ăn hàng ngày với các món ăn hợp khẩu vị nhưng thức ăn cần được cắt thái hoặc xay nhỏ hơn, chế biến mềm hơn, lỏng hơn so với lúc chưa bị bệnh, thay đổi món ăn và chia làm nhiều bữa nhỏ để giúp cho quá trình ăn nhai tốt hơn, ăn ngon miệng hơn và dễ tiêu hóa hơn.
– Hạn chế cách chế biến chiên xào nhiều dầu mỡ, thức ăn nướng, xông khói,… không có lợi cho người bệnh sởi.

Cần cho trẻ uống đủ nước, nhất là trong giai đoạn trẻ đang sốt, nôn, tiêu chảy. Có thể cho trẻ uống nước quả như nước cam, nước bưởi, nước chanh và các loại nước quả, sinh tố khác. Khi trẻ sốt cao, nôn và tiêu chảy cần cho trẻ uống dung dịch oresol để bù nước và điện giải theo hướng dẫn.
Sau khi trẻ đã khỏi bệnh, cần cho trẻ ăn nhiều hơn trong giai đoạn hồi phục ít nhất là 2 tuần để trẻ có thể nhanh chóng trở về tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe bình thường.

Để dự phòng tránh mắc bệnh sởi, mọi trẻ em đều cần được tiêm vắc-xin sởi đầy đủ theo hướng dẫn của chuyên môn, đồng thời uống bổ sung vitamin A liều cao 6 tháng một lần đối với trẻ dưới 5 tuổi theo chiến dịch của chương trình vitamin A do Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế tổ chức vào Ngày Vi chất dinh dưỡng 1-2 tháng 6 và tháng 12 hàng năm; giữ nhà cửa thông thoáng, tăng cường vệ sinh cá nhân (đặc biệt là vệ sinh mũi họng), giữ ấm cơ thể, dinh dưỡng hợp lý, nâng cao thể trạng để tăng sức đề kháng. Khi đã mắc sởi, không chỉ cần thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý mà còn cần uống vitamin A theo quy định và bổ sung các vi chất khác như vitamin C, kẽm, selen.. giúp tăng cường miễn dịch.

Nguồn sức khỏe đời sống

Nguyên nhâ sốt phát ban dạng sởi lây lan nhanh

Sốt phát ban thường gây ra bởi virut sởi hoặc virut Rubella. Bệnh lây theo đường hô hấp, khi hít thở chung nguồn khí với người bệnh. Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt, viêm long đường hô hấp, đường tiêu hóa, viêm kết mạc mắt, phát ban có thứ tự. Bệnh thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ thuộc nhóm tuổi từ 6 – 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể gặp ở người lớn do chưa được tiêm phòng hoặc đã tiêm phòng nhưng chưa được tiêm nhắc lại.

Virut sởi gây bệnh thế nào?

Virut sởi phát tán qua không khí xâm nhập niêm mạc đường hô hấp (như hắt hơi), do vậy, bệnh lây lan nhanh trong cộng đồng, nếu kiểm soát không tốt có thể gây thành dịch. Sau đó, vào máu (nhiễm virut máu lần thứ nhất). Thời kỳ này tương ứng với thời kỳ ủ bệnh. Từ máu, theo các bạch cầu, virut đến các cơ quan đích (phổi, lách, hạch, da, kết mạc mắt…) gây tổn thương các cơ quan này và gây ra các triệu chứng lâm sàng trong thời kỳ toàn phát. Ban ở da và niêm mạc chính là hiện tượng đào thải virut và phản ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể. Ngày thứ 2 – 3 từ khi mọc ban, cơ thể sinh kháng thể. Kháng thể trung hòa virut. Bệnh chuyển sang thời kỳ lui bệnh.

nguyen-nha-sot-phat-ban-dang-soi-lay-lan-nhanh

Giai đoạn ủ bệnh khoảng 8 – 11 ngày, bệnh nhân không có biểu hiện rõ ràng. Nếu là trẻ sơ sinh có thể kéo dài 14 – 15 ngày.

Giai đoạn khởi phát (viêm xuất tiết): Thông thường khoảng 3 – 4 ngày.Người bệnh đột ngột sốt nhẹ hoặc vừa, sau sốt cao. Kèm theo các biểu hiện viêm xuất tiết mũi, họng, mắt (chảy nước mắt nước mũi, ho, viêm màng tiếp hợp, mắt có gỉ kèm nhèm, sưng nề mi mắt). Ho, hắt hơi, chảy nước mũi, sau có thể có viêm thanh quản.

Giai đoạn toàn phát (giai đoạn mọc ban): Ban mọc vào ngày thứ 4 – 6 của bệnh. Dạng ban là ban dát sẩn, ban nhỏ hơi nổi gờ trên mặt da, xen kẽ là các ban dát màu hồng. Ban mọc rải rác hay lan rộng dính liền với nhau thành từng đám tròn 3 – 6mm, giữa các ban là khoảng da lành. Ban mọc theo thứ tự: Ngày thứ 1 mọc ở sau tai, lan ra mặt. Ngày thứ 2 lan xuống đến ngực, tay. Ngày thứ 3 lan đến lưng, chân. Ban kéo dài 6 ngày rồi bay theo thứ tự như nó đã mọc.

Cần phân biệt với các loại sốt phát ban khác

Do là sốt phát ban nên bệnh có thể nhầm với các loại sốt phát ban khác cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có phát ban dạng sởi như:

Rubella: phát ban không có trình tự, ít khi có viêm long đường hô hấp; nhiễm enterovirus: phát ban không có trình tự, hay kèm rối loạn tiêu hóa. Phát ban do Mycoplasma pneumoniae: Sốt nhẹ, đau đầu và viêm phổi không điển hình. Sốt mò: Có vết loét hoại tử do côn trùng đốt; Phát ban mùa xuân trẻ em: Trẻ 6 tháng đến 2 tuổi, khởi đầu là tình trạng nhiễm khuẩn rồi có biểu hiện thần kinh, sau khi hết sốt thì ban mới mọc; Ban dị ứng: Kèm theo ngứa, tăng bạch cầu ái toan; Nhiễm virut Epstein-Barr: Hay kèm theo tăng bạch cầu đơn nhân.

Biến chứng của bệnh

Khi mắc bệnh nếu không được điều trị hoặc do bệnh nhân tự ý điều trị dẫn đến bội nhiễm và có những biến chứng như:

Biến chứng đường hô hấp: Viêm thanh quản: Ở giai đoạn sớm xuất hiện ở giai đoạn khởi phát hay có Croup giả, gây cơn khó thở do co thắt thanh quản. Ở giai đoạn muộn do bội nhiễm (hay gặp do tụ cầu, liên cầu, phế cầu…), xuất hiện sau mọc ban. Diễn biến thường nặng: sốt cao, ho, khàn tiếng, khó thở, tím tái.

Viêm phế quản: Thường do bội nhiễm, xuất hiện vào cuối thời kỳ mọc ban. Biểu hiện sốt lại, ho nhiều.

Viêm phế quản – phổi: Do bội nhiễm, thường xuất hiện muộn sau mọc ban. Bệnh nặng có sốt cao, khó thở, khám phổi có ran phế quản và ran nổ. Đây là nguyên nhân gây tử vong trong bệnh sởi, nhất là ở trẻ nhỏ.

Biến chứng thần kinh: Viêm não – màng não – tủy cấp do virut sởi.

Viêm não: Là biến chứng nguy hiểm gây tử vong và di chứng cao. Gặp ở 0,1 – 0,6% bệnh nhân sởi. Thường gặp ở trẻ lớn (tuổi đi học), vào tuần đầu của ban (ngày 3 – 6 của ban). Khởi phát đột ngột, sốt cao vọt, co giật, rối loạn ý thức: hôn mê, liệt 1/2 người hoặc 1 chi, liệt dây III, VII, hay gặp hội chứng tháp – ngoại tháp, tiểu não, tiền đình…

Viêm màng não kiểu thanh dịch (do virut sởi).

Viêm tủy: Liệt 2 chi dưới, rối loạn cơ vòng.

Viêm màng não mủ do bội nhiễm: Viêm màng não mủ sau viêm tai, viêm xoang, viêm họng… do bội nhiễm.

Viêm não chất trắng bán cấp xơ hóa (Van Bogaert): Hay gặp ở tuổi 2 – 20 tuổi, xuất hiện muộn có khi sau vài năm, điều này nói lên virut sởi có thể sống tiềm tàng nhiều năm trong cơ thể bệnh nhân, ở những bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch bất thường. Diễn biến bán cấp từ vài tháng đến 1 năm. Bệnh nhân tử vong trong tình trạng tăng trương lực cơ và co cứng mất não.

Biến chứng đường tiêu hóa: Viêm niêm mạc miệng, cam tẩu mã (xuất hiện muộn, do bội nhiễm xoắn khuẩn Vincent (Leptospira vincenti) là một loại xoắn khuẩn hoại thư, gây loét niêm mạc miệng, lan sâu rộng vào xương hàm gây hoại tử niêm mạc, viêm xương, rụng răng, hơi thở hôi).

Viêm ruột: Do bội nhiễm các loại vi khuẩn như Shigella, E.coli…

Lời khuyên của thầy thuốc

Tiêm phòng là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh. Cần tiêm phòng vaccin sởi và tuân thủ đúng lịch cho trẻ 6 – 9 tháng tuổi trở lên, có tác dụng bảo vệ cao. Bệnh sởi do virut lây lan rất mạnh, phát tán qua đường hô hấp vào không khí, những người không có miễn dịch hoặc miễn dịch kém thì khả năng lây nhiễm cao. Do bệnh có nguy cơ lây lan cao, vì thế khi sốt chưa rõ nguyên nhân người bệnh cần được cách ly ở phòng riêng, không đến chỗ đông người. Khi có sốt cao, phải đến khám tại các cơ sở y tế để tìm nguyên nhân và cách điều trị đúng.

Khi mắc bệnh lưu ý không nên nghe theo quan niệm sai lầm dân gian là phải kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn vì khi không vệ sinh cơ thể sạch sẽ rất khó hạ sốt. Kiêng ăn làm sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm khuẩn. Khi chăm sóc trẻ bệnh, có thể tắm cho trẻ bằng nước ấm, lau mát thường xuyên và tăng cường dinh dưỡng bằng nhiều loại thức ăn mềm, chia nhỏ bữa ăn và tuân thủ chỉ định của thầy thuốc.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những hậu quả do bị sốt cao để lại

Nếu cơn sốt cao và quá dài, việc bỏ mặc cơ thể “tự chiến đấu” có thể dẫn đến các di chứng nặng nề.

Sốt là một trong những dấu hiệu căn bản nhất khi cơ thể bị nhiễm bệnh. Tùy cơ địa, loại bệnh, mức độ trầm trọng, độ tuổi… mà cơn sốt có thể nhẹ hay dữ dội, kéo dài hay sớm kết thúc. Tuy nhiên, những cơn sốt nguy hiểm nhất, dữ dội nhất thường tấn công trẻ em ở một số loại bệnh rất thường gặp như sốt xuất huyết, tay chân miệng, sốt siêu vi, cúm… Chúng có thể để lại hậu quả lâu dài nếu không được can thiệp kịp thời.

Di chứng não: Rất nguy hiểm

Đưa con đi tập vật lý trị liệu ở khoa nhi một bệnh viện (BV), chị N.H.A.N (32 tuổi, quê Lâm Đồng), nghẹn ngào cho biết bé L. (4 tuổi) khi sinh ra rất lanh lợi nhưng sau một cơn sốt cao hồi 12 tháng tuổi, cháu đã bị bại não, bị giảm sút cả về trí tuệ lẫn khả năng vận động. Nhà N. ở một huyện hẻo lánh, muốn đến trạm y tế phải đi bộ khá xa, nên khi con bị sốt vào giữa đêm, chị chỉ lấy khăn lau mát. Đến sáng tỉnh dậy thì bé L. đã gần như lịm đi, chị sợ quá đưa con đến cơ sở y tế nhưng đã muộn.

nhung-hau-qua-do-bi-sot-cao-de-lai

BS Đỗ Trọng Ánh, Giám đốc BV Chỉnh hình và Phục hồi chức năng TP HCM, cho biết BV này cũng từng tiếp nhận nhiều trường hợp tương tự, gặp nhiều nhất ở trẻ vùng sâu, vùng xa, ít có điều kiện được chăm sóc y tế đầy đủ.

“Một trong những di chứng ảnh hưởng đến trẻ nhiều nhất sau cơn sốt cao là di chứng về thần kinh, não bộ. Có những trẻ chỉ sau một đêm đã trở nên thiểu năng trí tuệ, tay chân vận động khó khăn do bại não. Ở trẻ em, các hệ cơ quan chưa hoàn chỉnh nên rất dễ có phản ứng sốt cao quá mức (trên 40 độ C). Điều này lại tác động rất lớn bởi chính hệ cơ quan chưa hoàn chỉnh khó có khả năng chống đỡ cơn sốt, đặc biệt là hệ thần kinh vốn dễ tổn thương. Tổn thương não tùy dạng, tùy mức độ, có thể hồi phục hoàn toàn hay một phần thông qua phục hồi chức năng nhưng cũng có thể không hồi phục, vậy nên tốt nhất là xử lý đúng cách cơn sốt cao ngay từ ban đầu” – BS Ánh cảnh báo.Biến chứng đa dạng

Theo BS Nguyễn Minh Tiến, Trưởng Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc BV Nhi Đồng 1, TP HCM, sốt là triệu chứng rất thường gặp, là phản ứng thông thường của cơ thể để chống lại các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, siêu vi… xâm nhập. Trong một số căn bệnh như sốt xuất huyết, tay chân miệng, viêm não, viêm màng não…người ta có thể sốt rất cao và khó hạ dù đã được uống thuốc và lau mát.

“Sốt trên 40 độ C, kéo dài mà không được can thiệp kịp thời có thể gây những biến chứng như co giật, mất nước, biến chứng về hô hấp và tim mạch, rối loạn đông máu, di chứng thần kinh, vận động…, thậm chí có thể tử vong nếu diễn tiến nặng gây suy đa cơ quan. Một dạng rất đáng chú ý là sốt do viêm não có thể gây rối loạn trung tâm điều nhiệt khiến trẻ tử vong hoặc để lại di chứng não dù được cứu sống” – BS Tiến nói.

Theo BS Tiến, cơn sốt từ 38 độ C trở lên (đo qua cặp nhiệt ở nách) cần được xử lý. Dễ dàng nhất là sử dụng thuốc hạ sốt (paracetamol – còn có các tên thương mại thông dụng là panadol, efferalgan, acemol…), kết hợp với lau mát ở những vùng tập trung nhiều dây thần kinh như nách, bẹn, cổ… Nếu sốt kéo dài trên 2 ngày, đã uống thuốc 2-3 lần mà không khỏi, lau mát nhiều lần không hạ… thì nên đến BV để kiểm tra. Trường hợp cơn sốt quá cao (trên 40 độ C), sốt kèm co giật, bứt rứt, da nổi bông, tay chân lạnh, nôn ói, lơ mơ… bệnh nhân cần được đưa đi cấp cứu ngay.

“Liều dùng thuốc hạ sốt paracetamol là khoảng 10-15 mg/kg/lần. Trẻ em nên được dùng những viên nhỏ, thuốc hạ sốt dạng siro… Đừng bao giờ nghĩ rằng dùng nhiều thuốc hơn thì sẽ mau hạ sốt hơn. Dùng 2 viên 1 lần không hề có tác dụng nhiều hơn 1 viên, trái lại còn hại gan. Khoảng cách giữa 2 lần uống thuốc phải từ 4-6 giờ, mỗi ngày chỉ nên dùng khoảng 60 mg thuốc/kg trọng lượng” – BS Tiến lưu ý.

Dưới 38 độ C: Chỉ cần theo dõi

BS Nguyễn Minh Tiến lưu ý nếu cơ thể sốt ít hơn 38 độ C thì không cần phải dùng thuốc hạ sốt. Đó thường là một phản ứng có lợi của cơ thể nhằm kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn, siêu vi đang tấn công. Sốt nhẹ chỉ cần theo dõi, nếu kéo dài và tăng lên vượt ngưỡng 38 độ C thì mới cần đến thuốc.

Theo NLĐ

Phương pháp chữa bệnh bãi não và tự kỷ bằng châm cứu

Bệnh viện Châm cứu Trung ương đang miễn hoàn toàn viện phí, tiền thuốc điều trị cho trẻ bại não, tự kỷ, câm điếc; mở ra cơ hội hòa nhập cho hàng ngàn trẻ em.

Mỗi năm, cả nước có khoảng 200.000 trẻ em bại não. Nhiều em trong số đó đã được Bệnh viện Châm cứu Trung ương mang lại cuộc sống bình thường nhờ phương pháp châm cứu phục hồi chức năng.

80%-90% liệt tứ chi

Di chứng sau một lần viêm não khiến Lê Trọng Huy (4 tuổi, ngụ Hà Nội) từ một cậu bé khỏe mạnh, vui vẻ bỗng liệt toàn thân, nằm bất động và không thể nói được. Sau 2 đợt điều trị bằng điện châm, thủy châm kết hợp với xoa bóp bấm huyệt và tập vận động tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, Huy đã ngồi dậy và bước đi chập chững. Chị Nguyễn Thanh Hoài, mẹ Huy, không giấu được niềm vui: “Dù cháu chưa nói được, bước chân vẫn run run nhưng thế này là tiến bộ lắm rồi”.

cham_cuu_chua_tu_ky

Châm cứu chữa bại não

TS-BS Nguyễn Thị Tú Anh, Trưởng Khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cho biết mới đây, bé Nguyễn Đức Hoàng (3 tuổi, ngụ Hà Nội) bị liệt tứ chi do viêm đa rễ thần kinh cũng đã khỏi bệnh sau 2 đợt điều trị. Ngoài ra, rất nhiều cháu sau khi điều trị đã trở lại trường học.

Cũng theo bác sĩ Anh, gần 90% bệnh nhân được chữa trị tại đây là bệnh nhân bại não, phần lớn ở thể nặng và rất nặng. Trong đó, trẻ bị liệt tứ chi chiếm khoảng 80% – 90%, liệt nửa người chiếm 5% – 7%, còn lại là liệt hai chân.

18%-21% khỏi bệnh hoàn toàn

Để tạo lập các chức năng vận động, nghe nói, giao tiếp, cải thiện trí nhớ, bệnh nhi được điều trị bằng phương pháp điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt, tập vận động và giáo dục hòa nhập. Theo các bác sĩ ở Bệnh viện Châm cứu Trung ương, họ sẽ tác động, kích thích các huyệt, dưỡng khí, thông kinh lạc… giúp hệ thần kinh trung ương của trẻ phục hồi và dần vận động, giao tiếp được. Liệu trình điều trị một đợt thường kéo dài từ 25-30 ngày, thời gian nghỉ 3-4 tuần rồi lặp lại đợt tiếp theo. Với trẻ bại não, việc điều trị bằng châm cứu thực hiện khi trẻ được 6 tháng tuổi với cân nặng 7-8 kg.

Kết quả theo dõi, đánh giá trên 4.000 bệnh nhi bại não điều trị trong giai đoạn 2009-2011 tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương bằng phương pháp châm cứu phục hồi chức năng cho thấy: tỉ lệ khỏi bệnh hoàn toàn (đi lại, nói, đi học, hòa nhập tốt) chiếm 18% – 21%; cải thiện rõ rệt (ngồi vững, bò, đứng vịn, đứng, đi men, nói thêm từ, hiểu lời nói) chiếm 60% – 75%. Chỉ còn 1% – 5% trẻ không cải thiện do chịu ảnh hưởng bởi một số bệnh lý khác.

PGS-TS Nghiêm Hữu Thành, Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cho biết bệnh viện miễn hoàn toàn viện phí, tiền thuốc cũng như các loại tiền thủ thuật với những trẻ bại não, tự kỷ, câm điếc hoặc có di chứng viêm não. Chính vì thế, đây là cơ hội để hàng trăm ngàn trẻ mắc bệnh bại não được điều trị phục hồi chức năng, sớm hòa nhập cộng đồng.

Dễ bại não do tai biến sản khoa

Trẻ em bị các bệnh liên quan đến não thường có 15% từ các nguyên nhân trước khi sinh. Đó là người mẹ nhiễm virus (cúm, rubella) khi mang thai dưới 3 tháng, ngộ độc, bệnh tiểu đường, cao huyết áp, dùng thuốc hoặc chụp X-quang trong lúc mang thai. Ngoài ra, từ 40% – 60% là do mẹ gặp tai biến sản khoa, đẻ khó phải can thiệp bằng foocxep, đẻ non, chuyển dạ kéo dài khiến não bị ảnh hưởng dẫn đến di chứng điếc, câm, chậm nói. Số còn lại là do di chứng của viêm não, viêm màng não mủ, dị dạng mạch máu não, sang chấn sọ não.

Theo 24h

Bệnh thuỷ đậu gây tử vong cho một bác sĩ

Chiều 4-1, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Mạnh Hùng – Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TPHCM xác nhận, hai bệnh nhân vừa tử vong do biến chứng của bệnh thủy đậu, trong đó có một bác sĩ.

Bệnh nhân N.V.T (49 tuổi ở Đồng Tháp), làm nghề bác sĩ, tử vong ngày 27 – 12, sau một ngày đươc Bệnh viện FV TPHCM chuyển đến điều trị trong tình trạng sốc nhiễm trùng và suy hô hấp.

Bệnh nhân còn lại là P.H.C (23 tuổi, ở quận Bình Thạnh, TPHCM), được chuyển đến từ Bệnh viện quận Bình Thạnh trong tình trạng biến chứng viêm não ngày 2-1, rồi tử vong sau đó ít giờ.

benh_thuy_dau_gay_tu_vong_mot_bac_si

Một bệnh nhân bị thủy đậu đang được điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 2. Ảnh: L.N.

Bác sĩ Hùng cho biết, từ năm 2008 đến nay, đây là hai bệnh nhân người lớn mắc thủy đậu tử vong.

Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 – 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, khởi phát bệnh thường đột ngột với triệu chứng nổi mụn nước, mụn nước nổi ở vùng đầu mặt, chi và thân.

Theo bác sĩ Hùng, lâu nay, bệnh này thường xuất hiện nhiều ở trẻ nhỏ, người lớn không quan tâm, dẫn đến chủ quan, đến khi biến chứng nặng mới điều trị.

“Thông thường bệnh sẽ kéo dài từ 7 – 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt rạ sẽ khô dần, bong vảy sau đó tự khỏi” – bác sĩ Hùng cho biết.

Tuy nhiên, biến chứng của bệnh thường rất nặng như: viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não…, dễ gây nguy cơ tử vong, nếu không can thiệp kịp thời. Đặc biệt, với phụ nữ mang thai, nếu mắc thủy đậu, sẽ rất nguy hiểm vì dễ bị biến chứng (nặng nhất là viêm phổi).

Theo 24h