Tag Archives: viêm màng bồ đào

Bệnh đục nhân mắt ở trẻ nhỏ

Nhân mắt hay còn gọi là thể thủy tinh, nó là một thấu kính trong suốt, nằm ở ngay sau đồng tử. Nhân mắt bình thường trong suốt và có khả năng điều tiết và hội tụ các tia sáng lên võng mạc nơi điểm vàng, giúp chúng ta nhìn rõ mọi vật xung quanh. Nhưng khi có biểu hiện khác thường như nhân mắt bị đục, khiến cho những tia sáng không thể đi qua được, tùy theo mức độ đục mà trẻ có thể nhìn mờ hoặc không nhìn thấy gì. Khác với người lớn, đục nhân mắt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (dưới 8 tuổi) gây cản trở lớn cho sự phát triển chức năng thị giác, thường dẫn đến chứng nhược thị.

duc_nhan_mat_o_tre_nho

Nguyên nhân đục nhân mắt trẻ nhỏ

Đục nhân mắt tức là thể thủy tinh bị đục, còn gọi là cườm mắt (Catarac). Có nhiều nguyên nhân phát sinh ra chứng đục nhân mắt ở trẻ. Chẳng hạn như đục nhân mắt bẩm sinh hoặc ở trẻ nhỏ có thể xuất hiện ngay sau khi sinh, hoặc tiến triển trong những năm đầu của cuộc đời. Chủ yếu có 2 nguyên nhân chính, một là do di truyền, gặp 10 – 25%. Hai là do nhiễm khuẩn trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là các bệnh do virút (rubeon, herpes, cúm, quai bị…). Nó có thể xảy ra một cách tự nhiên và không kèm với một bệnh nào khác hoặc trong các hội chứng. Đục nhân mắt này có thể xảy ra ở 1 mắt hoặc cả 2 mắt.

Đục nhân mắt bệnh lý do các bệnh tại mắt như: viêm màng bồ đào, glôcôm, bong võng mạc, u nội nhãn… hoặc do các bệnh toàn thân như: đái tháo đường, bệnh galactoza huyết, têtani, bệnh da…

Đục nhân mắt do chấn thương khi vết thương xuyên, tình trạng này thường gây nên đục nhân mắt ở 1 mắt của trẻ em. Một số dạng đục này có đặc biệt là tiến triển từ từ sau hàng tuần hoặc nhiều tháng, dạng khác xuất hiện ngay trong lúc bị chấn thương.

Xử trí đục nhân mắt trẻ nhỏ

Cách xử trí được tiến hành cụ thể là: cho dù đục nhân mắt do nguyên nhân nào đi nữa thì mọi trường hợp đục nhân mắt đều ngăn cản sự phát triển của thị lực nên cần phải được lấy nhân mắt đục đi bằng phẫu thuật để phục hồi thị lực. Ở trẻ nhỏ, đây là một phẫu thuật khẩn cấp để phòng nhược thị.

Một đường rạch nhỏ ở trong mắt, qua đó nhân đục được lấy ra. Bệnh nhân cần được nằm viện khoảng từ 1 – 2 ngày. Cả phẫu thuật và phục hồi chức năng tiến bộ rất nhiều trong những năm gần đây. Cho dù mắt được mổ lành rất nhanh, nhưng trẻ cần được che mắt lại trong vòng 1 – 2 tuần để giữ cho trẻ không bị những va chạm hoặc những chấn thương vào mắt.

Mặc dù phẫu thuật đạt kết quả cao nhưng vẫn có thể xảy ra biến chứng. Khoảng 95% phẫu thuật nhân mắt ở trẻ em không có vấn đề gì, tuy nhiên có thể gặp xuất huyết, nhiễm khuẩn, bong võng mạc và glô-côm. Biến chứng nặng phải bỏ nhãn cầu rất ít gặp.

Khả năng tiến triển của mắt sau phẫu thuật sẽ có những diễn biến như sau khi lấy nhân mắt đục đi cần thiết phải điều chỉnh quang học cho con mắt này. Đeo kính gọng là dùng kính hội tụ có công suất khoảng +9 đến +12 điốp. Đây là phương pháp đơn giản nhất nhưng hiệu quả không cao do kính phóng đại hình ảnh lớn tới 30%.

Kính tiếp xúc thông thường và có kết quả ở trẻ nhỏ để thay thế cho nhân mắt tự nhiên. Các bà mẹ cần phải biết cách chăm sóc kính tiếp xúc, cách lắp vào, lấy ra và phải biết phát hiện những dấu hiệu không bình thường để báo kịp thời cho bác sĩ.

Đặt thể nhân mắt nhân tạo (thủy tinh nhân tạo) là xu hướng mới nhất, nhân mắt nằm ở vị trí tự nhiên của nhân mắt tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao thị lực và phục hồi chức năng thị giác.

Chú ý: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ phát triển nhược thị ngay cả khi đã được phẫu thuật đạt kết quả cao và điều chỉnh quang học tốt. Do vậy sau mổ, trẻ cần phải tập luyện bằng cách bịt mắt lành nhằm phục hồi thị lực lâu dài.

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
Theo SKĐS

Thuốc điều trị viêm thần kinh thị giác

Viêm thần kinh thị giác là hiện tượng viêm, nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính, xảy ra trên dây thần kinh thị giác, có thể chỉ ở một phần hoặc toàn bộ, tại một điểm nào đó hay toàn bộ chiều dài của dây thần kinh.

Người bệnh thấy thị lực giảm sút nhanh hay rất nhanh (trong hình thái cấp tính), hoặc từ vài ba ngày tới vài tuần (đối với hình thái mạn tính). Có thể mù hẳn. Sự nhận biết màu sắc của người bệnh bị rối loạn, thậm chí có trường hợp không còn phân biệt được màu sắc thị giác. Phản xạ ánh sáng giảm. Đồng tử không đồng đều giữa hai mắt. Bên mắt bị bệnh có đồng tử co kém và chậm hơn khi có kích thích ánh sáng. Có thể xảy ra vào tháng thứ 3 sau lần bị bệnh đầu tiên.

thuoc_dieu_tri_viem_than_kinh_thi_giac

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới viêm thị thần kinh:

Tại mắt: mọi viêm nhiễm trong nhãn cầu đều có thể gây ra viêm gai thị có những nguyên nhân là các bệnh lý như: Viêm màng bồ đào, viêm hắc mạc, viêm võng mạc do virut cự bào trong bệnh AIDS, viêm nội nhãn…

Các ổ nhiễm khuẩn lân cận thị thần kinh như viêm tai, viêm mũi-xoang, viêm họng, viêm amidal, sâu răng

Các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân cấp và mạn tính cũng có khả năng dẫn đến viêm thị thần kinh.

Ngoài ra, các loại virut (đậu mùa, cúm, thấp khớp, bạch hầu, sốt phát ban, quai bị); nhiễm nấm (nấm Candida albicans thường gây viêm hắc võng mạc kết hợp với viêm gai thị, hay gặp ở người nghiện heroin, suy giảm miễn dịch. Một số nấm khác cũng gây viêm thị thần kinh là cryptoccose, aspergillose, histoplasmose); các nhiễm khuẩn của hệ thần kinh (viêm não, viêm màng não là nguyên nhân của một số trường hợp bị bệnh)…

Việc điều trị bệnh chủ yếu là loại trừ nguyên nhân mới khỏi bệnh hoàn toàn.

Người bệnh cần được khám bệnh toàn diện và điều trị theo các chuyên khoa tai mũi họng, thần kinh, truyền nhiễm, dị ứng. Ngừng ngay việc sử dụng các chất gây nhiễm độc thị thần kinh.

Tại mắt, cần giải quyết rối loạn tuần hoàn, dinh dưỡng tại dây thần kinh, chống viêm, chống nhiễm khuẩn. Ngay sau khi có chẩn đoán xác định, người bệnh cần được điều trị ngay bằng corticoid. Thuốc corticoid có thể được chỉ định với liều rất cao, dùng cả đường uống lẫn đường tiêm. Trong trường hợp này, bệnh nhân bắt buộc phải nằm viện để theo dõi toàn trạng.

Các loại kháng sinh có thể được cho dùng tuỳ theo tác nhân gây bệnh là loại nào. Trong một số trường hợp đặc biệt có thể người bệnh phải dùng tới thuốc ức chế miễn dịch (bệnh Behcet). Ngoài ra, có thể dùng các loại thuốc giãn mạch dùng theo đường toàn thân (uống) và tại chỗ (tiêm cạnh nhãn cầu) cùng các vitamin nhóm B (như B1, B6, B12).

Viêm thị thần kinh là một bệnh mắt nặng cần được khám phát hiện bệnh cùng nguyên nhân gây bệnh sớm, điều trị tích cực mới có khả năng phục hồi chức năng thị giác, tránh tái phát cùng các biến chứng và di chứng nặng nề.

ThS. BS. Nguyễn Đức Thành
Theo SKĐS

Viêm móng mắt thể mi có thể gây mù lòa

Viêm mống mắt thể mi là phần trước của màng bồ đào, do đó bệnh này còn cótên gọi là viêm màng bồ đào trước. Bệnh hay tái phát từng đợt, nếu không được điều trị có thể dẫn tới tăng nhãn áp và gây mù loà vĩnh viễn.

Vì sao bị viêm mống mắt thể mi?

Những căn nguyên gây bệnh có thể kể tới gồm các yếu tố tại mắt và các nguyên nhân ở những cơ quan lân cận. Tại mắt có thể do: chấn thương mắt, sang chấn do phẫu thuật, tự kháng nguyên thuỷ tinh thể (do khuếch tán hoặc rách bao), nhẫn viêm giao cảm. Những yếu tố thuộc về các cơ quan lân cận như: viêm giác mạc, viêm củng mạc, nhiễm khuẩn răng, lợi, viêm xoang. Nguyên nhân toàn thân như nhiễm khuẩn trong các bệnh lao, giang mai, bệnh do virut, bệnh do ký sinh trùng, viêm cột sống dính khớp, viêm màng bồ đào, hội chứng Reiter, bệnh sarcoid, bệnh Behcet… Rối loạn chuyển hoá trong các bệnh diabete, goute… khi đó viêm màng bồ đào trước chỉ là triệu chứng của một bệnh toàn thân. Tuy nhiên, những yếu tố kể trên chỉ chiếm 20% số ca bệnh, còn đến 80% các trường hợp viêm mống mắt thể mi là chưa rõ nguyên nhân.

viem_mong_mat_the_mi_co_the_gay_mu_loa

Tổn thương viêm mống mắt thể mi cấp tính.

Đau nhức mắt, sốt, sợ ánh sáng – Hãy gặp bác sĩ ngay  

Bệnh nhân bị viêm mống mắt thể mi thường có các biểu hiện sau:đau nhức âm ỉ, đau nhiều hơn về ban đêm. Thị lực giảm sút ở mức vừa phải, cảm giác như có một màn sương mờ che trước mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng: chói mắt ở những mức độ nặng nhẹ khác nhau tùy từng bệnh nhân. So với viêm loét giác mạc, các triệu chứng có mức độ nhẹ hơn. Biểu hiện toàn thân bệnh nhân có thể sốt, kém ăn, kém ngủ, có một ít dử mắt. Khám thấy kết mạc cương tụ rìa, cương tụ sâu ở kết mạc, có thể thấy rất rõ những mạch máu giãn to, màu tím sẫm, ngoằn ngoèo. Mống mắt: sẫm màu, kém xốp, đồng tử co nhỏ và phản xạ ánh sáng giảm hoặc mất. Ở giai đoạn muộn của bệnh, đồng tử có thể bị méo mó do dính vào mặt trước thể thuỷ tinh. Thuỷ dịch bị vẩn đục, khám trên kính hiển vi sẽ thấy dấu hiệu Tyndall dương tính (+). Thuỷ tinh thể có những chấm sắc tố mống mắt bám ở mặt trước, nhiều khi những chấm, đám sắc tố mống mắt này xếp theo dạng vòng tròn tương ứng với bờ đồng tử. Mặt sau giác mạc có thể có tủa, đó chính là những chấm lắng đọng protein từ thuỷ dịch, đây là sản phẩm của quá trình viêm. Sờ phản ứng thể mi thì bệnh nhân đau tức là phản ứng dương tính. Những trường hợp bệnh nhân đến khám ở giai đoạn muộn, các triệu chứng cơ năng không còn rõ nữa, hầu như chỉ còn dấu hiệu mắt mờ, lúc này các triệu chứng khám thấy cũng khác xa so với giai đoạn trước, chẳng hạn: mống mắt teo, bạc màu, có thể có hình ảnh núm quả cà chua do nghẽn đồng tử, thuỷ dịch ứ lại ở hậu phòng đẩy vồng mống mắt về phía giác mạc; đồng tử bị thu nhỏ, dính tít hoặc méo mó do dính vào mặt trước thuỷ tinh thể; phản xạ với ánh sáng của đồng tử lúc này sẽ bị hạn chế do dính, diện đồng tử có thể bị màng viêm che kín; thuỷ tinh thể, dịch kính có thể bị vẩn đục ở các mức độ khác nhau, do màng viêm cùng với thể thủy tinh đục che khuất, dấu hiệu đục dịch kính chỉ có thể được phát hiện bằng siêu âm; nhãn áp tăng thứ phát do nghẽn đồng tử, nghẽn vùng bè hoặc có thể hạ do teo thể mi.

Phương pháp chữa trị

Điều trị căn nguyên: Tùy nguyên nhân của bệnh mà có thể phải phối hợp với các chuyên khoa liên quan để điều trị triệt để. Trường hợp không tìm được nguyên nhân thì phải dùng kháng sinh có hoạt phổ rộng điều trị  bao vây và thường dùng phối hợp ít nhất hai loại kháng sinh.

Điều trị chống dính bằng thuốc atropin 1% nhỏ mắt 1 – 2lần/ ngày. Đây là loại thuốc cần được dùng càng sớm càng tốt, ngay sau khi phát hiện bệnh để tránh cho mống mắt không bị dính vào thuỷ tinh thể trong tư thế đồng tử co. Những ca bệnh nặng phải dùng dạng thuốc tiêm atropin 1/4mg pha lẫn với thuốc adrenalin 1mg tiêm vào dưới kết mạc vùng rìa phía có dính mống mắt để tách dính. Một lưu ý là chống chỉ định tuyệt đối dùng các thuốc co đồng tử.

Điều trị chống viêm: Tại mắt dùng  corticosteroids dạng thuốc tiêm để tiêm dưới kết mạc, tiêm cạnh nhãn cầu. Tra vào mắt dạng thuốc nước và thuốc mỡ. Thuốc chống viêm không steroids có thể dùng uống hoặc tiêm và nhỏ mắt phối hợp hoặc dùng ở giai đoạn củng cố.

Nâng cao thể trạng và tăng sức đề kháng bằng các thuốc: vitamin A, C, D và nhóm B. Băng che mắt hoặc cho bệnh nhân đeo kính râm để cho mắt được nghỉ ngơi.

Điều trị các di chứng:tăng nhãn áp thứ phát, đục thể thuỷ tinh là những di chứng thường gặp. Tuy nhiên, các trường hợp này dùng phương pháp phẫu thuật thường cho kết quả kém và rất hay tái phát. Vì vậy, đối với bệnh viêm mống mắt thể mi cần được chẩn đoán và điều trị sớm để tránh các biến chứng.

BS. Nguyễn Minh Hạnh
Theo SKĐS

Đục thủy tinh thể ở trẻ em

Đục thủy tinh thể ở trẻ em là một bệnh lý thường gặp trong nhãn khoa và được rất nhiều phụ huynh quan tâm. Đây là một bệnh lý gây nhược thị cho trẻ nhỏ nếu không được điều trị và phục hồi chức năng trong giai đoạn sớm của bệnh.

duc_thuy_tinh_the_o_tre_em

Thể thủy tinh là gì?

Thể thủy tinh (TTT) là một thấu kính trong suốt, nằm ở ngay sau đồng tử. TTT có khả năng điều tiết và hội tụ các tia sáng lên võng mạc giúp chúng ta nhìn rõ ràng, đó là TTT bình thường hoặc trong. Khi nó bị đục, những tia sáng không thể đi qua được, tùy theo mức độ đục mà trẻ nhìn mờ hoặc không nhìn thấy gì. Khác với người lớn, đục TTT ở trẻ sơ sinh và  trẻ nhỏ (dưới 8 tuổi) gây cản trở lớn cho sự phát triển chức năng thị giác, thường dẫn đến nhược thị.

Nguyên nhân nào gây đục TTT ở trẻ em?

Đục TTT bẩm sinh hoặc ở trẻ nhỏ có thể xuất hiện ngay sau khi sinh, hoặc tiến triển trong những năm đầu của cuộc đời. Chủ yếu có 2 nguyên nhân chính, một là do di truyền, gặp 10 – 25%. Hai là nhiễm khuẩn trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là các bệnh do virut (rubeon, herpes, cúm, quai bị…). Nó có thể xảy ra một cách tự nhiên và không kèm với một bệnh nào khác hoặc trong các hội chứng. Đục TTT này có thể xảy ra ở 1 mắt hoặc cả 2 mắt.

Đục TTT bệnh lý do các bệnh tại mắt như viêm màng bồ đào, glôcôm, bong võng mạc, u nội nhãn… hoặc do các bệnh toàn thân như đái tháo đường, bệnh galactoza huyết, têtani, bệnh da…

Đục TTT do chấn thương: vết thương xuyên thường gây nên đục TTT ở 1 mắt ở trẻ em. Một số dạng đục này tiến triển từ từ sau hàng tuần hoặc nhiều tháng, dạng khác xuất hiện ngay trong lúc bị chấn thương.

Điều trị đục TTT như thế nào?

Cho dù đục TTT do nguyên nhân nào đi nữa thì mọi đục TTT ngăn cản sự phát triển của thị lực đều phải được lấy đi bằng phẫu thuật để phục hồi thị lực. Ở trẻ nhỏ, đây là một phẫu thuật khẩn cấp để phòng nhược thị.

Một đường rạch nhỏ ở trong mắt, qua đó nhân đục được lấy ra. Bệnh nhân cần được nằm viện 1 – 2 ngày. Cả phẫu thuật và phục hồi chức năng tiến bộ rất nhiều trong những năm gần đây. Cho dù mắt được mổ lành rất nhanh, nhưng trẻ cần được che mắt lại trong vòng 1 – 2 tuần để giữ cho trẻ trong những va chạm hoặc những chấn thương vào mắt.

Mặc dù phẫu thuật đạt kết quả cao nhưng vẫn có thể xảy ra biến chứng. Khoảng 95% phẫu thuật TTT ở trẻ em không có vấn đề gì, tuy nhiên có thể gặp xuất huyết, nhiễm khuẩn, bong võng mạc và glôcôm. Biến chứng nặng phải bỏ nhãn cầu rất ít gặp.

Trẻ có thể nhìn như thế nào sau khi phẫu thuật?

Sau khi lấy TTT đục đi cần thiết phải điều chỉnh quang học cho con mắt này. Đeo kính gọng là dùng kính hội tụ có công suất khoảng +9 đến +12 điốp. Đây là phương pháp đơn giản nhất nhưng hiệu quả không cao do kính phóng đại hình ảnh lớn tới 30%. Kính tiếp xúc thông thường và có kết quả ở trẻ nhỏ để thay thế cho TTT tự nhiên. Bạn cần phải biết cách chăm sóc kính tiếp xúc, cách lắp vào và lấy ra và phải biết phát hiện những dấu hiệu không bình thường để báo cho bác sĩ. Đặt thể thủy tinh nhân tạo (TTTNT) là xu hướng mới nhất, TTTNT nằm ở vị trí tự nhiên của TTT tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao thị lực và phục hồi chức năng thị giác.

Chú ý: Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ phát triển nhược thị ngay cả khi đã được phẫu thuật đạt kết quả cao và điều chỉnh quang học tốt. Do vậy sau mổ, trẻ cần phải tập luyện bằng cách bịt mắt lành nhằm phục hồi thị lực lâu dài.

TS.BS. Lê Kim Xuân
(Phó Trưởng khoa Mắt trẻ em – BV Mắt Trung ương)
Theo SKĐS

Mổ đục thể thủy tinh: Những điều cần biết

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đục thể thuỷ tinh là nguyên nhân chủ yếu gây mù lòa ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Có khoảng 25 đến 50 triệu người trên toàn cầu có thị lực < 1/20 là do đục thể thuỷ tinh.

Bình thường, thể thủy tinh (TTT) là một thấu kính hội tụ trong suốt, vô mạch, hai mặt lồi, đảm nhiệm khoảng 1/3 tổng công suất hội tụ của mắt nhưng cùng với tuổi tác thì tính trong suốt của nó không còn nữa, các tia sáng khi đi qua vùng bị đục sẽ bị tán xạ mạnh gây giảm thị lực.

Ngoài ra, chấn thương nhãn cầu, cận thị, viêm màng bồ đào, đái tháo đường hay do dùng thuốc corticosteroid kéo dài cũng có thể gây ra đục TTT.

Làm sao để phát hiện bị đục TTT?

Trong các biểu hiện của đục TTT thì triệu chứng quan trọng nhất là giảm thị lực, đặc biệt là thị lực nhìn xa. Giảm thị lực cũng rất khác biệt, từ mức còn một vài phần mười đến mức chỉ còn nhận biết được ánh sáng tuỳ thuộc vào mức độ đục và vị trí của vùng đục. Ở giai đoạn sớm, bệnh nhân nhìn thấy những điểm đen trước mắt. Một số người lớn tuổi thấy có hiện tượng giảm số kính đọc sách hoặc nhận thấy nhìn gần rõ hơn do có sự xơ cứng của nhân làm tăng công suất khúc xạ của TTT và gây cận thị ở mức độ nhẹ hoặc trung bình. Thông thường các bệnh nhân bị đục TTT hay phàn nàn vì cảm giác loá mắt khi gặp ánh đèn pha trước mặt hoặc trong các điều kiện chiếu sáng tương tự vào buổi tối.

Có thể khám phát hiện đục TTT bằng ánh sáng thường, máy soi đáy mắt và đặc biệt là khám bằng đèn khe của máy sinh hiển vi. Khi đồng tử giãn tối đa, các bác sĩ dễ dàng khẳng định chẩn đoán, đánh giá mức độ và tình trạng đục thể thuỷ tinh. Đục do tuổi già thường là đục vỏ, nhân và dưới bao sau. Bên cạnh việc quan sát TTT cũng cần chú ý phát hiện thêm các bệnh phối hợp: glôcôm, thoái hóa hoàng điểm do tuổi già, bệnh võng mạc đái tháo đường,  các dạng thoái hóa giác mạc…

mo_duc_the_thuy_tinh_nhun_dieu_can_biet

Thể thủy tinh bình thường (bên phải ảnh) và thể thủy tinh bị đục.

Đục TTT có chữa được không?

Đục TTT là bệnh chữa được. Cho đến nay phương pháp điều trị có hiệu quả duy nhất vẫn là phẫu thuật. Phương pháp hiện đại nhất hiện nay là phương pháp PHACO đặt thể thuỷ tinh nhân tạo. Phương pháp này sử dụng năng lượng siêu âm để tán nhuyễn rồi hút nhân TTT ra ngoài, sau đó đặt thể thuỷ tinh nhân tạo vào trong túi bao TTT. Chính vì vậy mà vết mổ rất nhỏ, đặc biệt trong kỹ thuật PHACO lạnh chỉ còn là 2mm, tiền phòng luôn được khép kín nên an toàn hơn, vết mổ liền sẹo nhanh, ít bị loạn thị sau mổ, thị lực phục hồi nhanh chóng và ổn định, bệnh nhân có thể xuất viện ngay trong ngày. Các loại TTT nhân tạo cũng được cải tiến không ngừng. Từ loại TTT nhân tạo đơn tiêu (chỉ cho hình ảnh rõ nét ở một khoảng cách nhất định, những vật ở gần hơn hay xa hơn khoảng cách này đều bị mờ, phải chỉnh kính mới thấy rõ), ngày nay đã có loại TTT nhân tạo mới: TTT đa tiêu cự. Loại TTT nhân tạo này gồm nhiều vòng tròn đồng tâm với công suất quang học khác nhau nên mắt nhìn được vật cả ở gần và xa mà không phải đeo kính giống như thị lực của người bình thường chưa lão thị; thích hợp với những mắt bị đục TTT đơn thuần mà độ loạn thị dưới 1 diop, không kèm bệnh lý khác về mắt. Với những mắt đục TTT có  kèm loạn thị >1 diop, nên đặt loại TTT chống loạn thị – là loại TTT nhân tạo mới xuất hiện trong một vài năm gần đây. Tuy nhiên sự lựa chọn thể thuỷ tinh nhân tạo còn tùy thuộc nhu cầu cũng như điều kiện kinh tế của mỗi bệnh nhân.

Chỉ định mổ khi nào?

Chỉ định mổ chủ yếu dựa vào mức độ giảm thị lực. Thị lực kém hơn 4/10 sẽ được xem xét để chỉ định phẫu thuật. Cũng cần quan tâm đến những yếu tố khác như tuổi của người bệnh, tính chất công việc, điều kiện sống, nhu cầu dùng mắt hàng ngày… để thúc đẩy hay trì hoãn can thiệp phẫu thuật. Bệnh nhân bị đục TTT nên mổ càng sớm càng tốt, không nên để TTT đục quá chín gây biến chứng tăng nhãn áp mới đi mổ vì khi đó phẫu thuật sẽ phức tạp hơn và khả năng phục hồi thị lực sẽ kém hơn.

Những điều cần chú ý

Nếu không có các bệnh tại mắt khác thì có khoảng 95% bệnh nhân thu được thị lực >5/10. Ngoài việc thị lực được cải thiện, còn có những lợi ích đáng kể khác cho bệnh nhân: cải thiện khả năng nhận biết màu sắc, tăng khả năng đọc và nhìn gần, tăng khả năng lao động, di chuyển và lái xe. Sau mổ, bệnh nhân cần dùng thuốc theo đơn và hướng dẫn của thày thuốc, không tự ý mua thuốc ở ngoài. Bệnh nhân không cần ăn kiêng; cần tránh đập tay vào mắt và có thể tập thể dục nhẹ nhàng như đi bộ, dưỡng sinh, không nên chơi bóng bàn, cầu lông hay tennis để phòng bóng đập vào mắt. Các biến chứng viêm nhiễm thường nhẹ và kiểm soát được. Biến chứng muộn đục bao sau có thể khắc phục bằng laser YAG dần dần đã trở thành phổ biến cùng với số lượng đông đảo bệnh nhân được mổ đặt TTT nhân tạo.

TS. Nguyễn Xuân Hiệp (PGĐ BV Mắt Trung ương)
Theo SKĐS

Viêm mống mắt thể mi dẫn đến mù lòa

Viêm mống mắt thể mi là phần trước của màng bồ đào, do đó bệnh này còn cótên gọi là viêm màng bồ đào trước. Bệnh hay tái phát từng đợt, nếu không được điều trị có thể dẫn tới tăng nhãn áp và gây mù loà vĩnh viễn.

Vì sao bị viêm mống mắt thể mi?

Những căn nguyên gây bệnh có thể kể tới gồm các yếu tố tại mắt và các nguyên nhân ở những cơ quan lân cận. Tại mắt có thể do: chấn thương mắt, sang chấn do phẫu thuật, tự kháng nguyên thuỷ tinh thể (do khuếch tán hoặc rách bao), nhẫn viêm giao cảm. Những yếu tố thuộc về các cơ quan lân cận như: viêm giác mạc, viêm củng mạc, nhiễm khuẩn răng, lợi, viêm xoang. Nguyên nhân toàn thân như nhiễm khuẩn trong các bệnh lao, giang mai, bệnh do virut, bệnh do ký sinh trùng, viêm cột sống dính khớp, viêm màng bồ đào, hội chứng Reiter, bệnh sarcoid, bệnh Behcet… Rối loạn chuyển hoá trong các bệnh diabete, goute… khi đó viêm màng bồ đào trước chỉ là triệu chứng của một bệnh toàn thân. Tuy nhiên, những yếu tố kể trên chỉ chiếm 20% số ca bệnh, còn đến 80% các trường hợp viêm mống mắt thể mi là chưa rõ nguyên nhân.

viem-mong-mat-co-the-gay-mu-loa-1

Đau nhức mắt, sốt, sợ ánh sáng – Hãy gặp bác sĩ ngay

Bệnh nhân bị viêm mống mắt thể mi thường có các biểu hiện sau:đau nhức âm ỉ, đau nhiều hơn về ban đêm. Thị lực giảm sút ở mức vừa phải, cảm giác như có một màn sương mờ che trước mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng: chói mắt ở những mức độ nặng nhẹ khác nhau tùy từng bệnh nhân. So với viêm loét giác mạc, các triệu chứng có mức độ nhẹ hơn. Biểu hiện toàn thân bệnh nhân có thể sốt, kém ăn, kém ngủ, có một ít dử mắt. Khám thấy kết mạc cương tụ rìa, cương tụ sâu ở kết mạc, có thể thấy rất rõ những mạch máu giãn to, màu tím sẫm, ngoằn ngoèo. Mống mắt: sẫm màu, kém xốp, đồng tử co nhỏ và phản xạ ánh sáng giảm hoặc mất. Ở giai đoạn muộn của bệnh, đồng tử có thể bị méo mó do dính vào mặt trước thể thuỷ tinh. Thuỷ dịch bị vẩn đục, khám trên kính hiển vi sẽ thấy dấu hiệu Tyndall dương tính (+). Thuỷ tinh thể có những chấm sắc tố mống mắt bám ở mặt trước, nhiều khi những chấm, đám sắc tố mống mắt này xếp theo dạng vòng tròn tương ứng với bờ đồng tử. Mặt sau giác mạc có thể có tủa, đó chính là những chấm lắng đọng protein từ thuỷ dịch, đây là sản phẩm của quá trình viêm. Sờ phản ứng thể mi thì bệnh nhân đau tức là phản ứng dương tính. Những trường hợp bệnh nhân đến khám ở giai đoạn muộn, các triệu chứng cơ năng không còn rõ nữa, hầu như chỉ còn dấu hiệu mắt mờ, lúc này các triệu chứng khám thấy cũng khác xa so với giai đoạn trước, chẳng hạn: mống mắt teo, bạc màu, có thể có hình ảnh núm quả cà chua do nghẽn đồng tử, thuỷ dịch ứ lại ở hậu phòng đẩy vồng mống mắt về phía giác mạc; đồng tử bị thu nhỏ, dính tít hoặc méo mó do dính vào mặt trước thuỷ tinh thể; phản xạ với ánh sáng của đồng tử lúc này sẽ bị hạn chế do dính, diện đồng tử có thể bị màng viêm che kín; thuỷ tinh thể, dịch kính có thể bị vẩn đục ở các mức độ khác nhau, do màng viêm cùng với thể thủy tinh đục che khuất, dấu hiệu đục dịch kính chỉ có thể được phát hiện bằng siêu âm; nhãn áp tăng thứ phát do nghẽn đồng tử, nghẽn vùng bè hoặc có thể hạ do teo thể mi.

Phương pháp chữa trị
Điều trị căn nguyên: Tùy nguyên nhân của bệnh mà có thể phải phối hợp với các chuyên khoa liên quan để điều trị triệt để. Trường hợp không tìm được nguyên nhân thì phải dùng kháng sinh có hoạt phổ rộng điều trị  bao vây và thường dùng phối hợp ít nhất hai loại kháng sinh.

Điều trị chống dính bằng thuốc atropin 1% nhỏ mắt 1 – 2lần/ ngày. Đây là loại thuốc cần được dùng càng sớm càng tốt, ngay sau khi phát hiện bệnh để tránh cho mống mắt không bị dính vào thuỷ tinh thể trong tư thế đồng tử co. Những ca bệnh nặng phải dùng dạng thuốc tiêm atropin 1/4mg pha lẫn với thuốc adrenalin 1mg tiêm vào dưới kết mạc vùng rìa phía có dính mống mắt để tách dính. Một lưu ý là chống chỉ định tuyệt đối dùng các thuốc co đồng tử.

Điều trị chống viêm: Tại mắt dùng  corticosteroids dạng thuốc tiêm để tiêm dưới kết mạc, tiêm cạnh nhãn cầu. Tra vào mắt dạng thuốc nước và thuốc mỡ. Thuốc chống viêm không steroids có thể dùng uống hoặc tiêm và nhỏ mắt phối hợp hoặc dùng ở giai đoạn củng cố.

Nâng cao thể trạng và tăng sức đề kháng bằng các thuốc: vitamin A, C, D và nhóm B. Băng che mắt hoặc cho bệnh nhân đeo kính râm để cho mắt được nghỉ ngơi.

Điều trị các di chứng:tăng nhãn áp thứ phát, đục thể thuỷ tinh là những di chứng thường gặp. Tuy nhiên, các trường hợp này dùng phương pháp phẫu thuật thường cho kết quả kém và rất hay tái phát. Vì vậy, đối với bệnh viêm mống mắt thể mi cần được chẩn đoán và điều trị sớm để tránh các biến chứng.

BS. Nguyễn Minh Hạnh

Theo SKDS

Viêm màng bồ đào là gì?

Viêm màng bồ đào là bệnh lý ở mắt do nhiều nguyên nhân gây ra, bệnh có thể tự xác định được nhưng tìm nguyên nhân thường khó khăn. Bệnh có nhiều biến chứng, hay tái phát và dễ dẫn đến mù lòa.

Màng bồ đào (MBĐ) từ trước ra sau gồm mống mắt, thể mi, hắc mạc. Có ba loại viêm MBĐ: viêm MBĐ trước là viêm mống mắt và thể mi, viêm MBĐ trung gian và viêm MBĐ sau là viêm hắc mạc, có khi là viêm hắc võng mạc

tim-hieu-ve-benh-viem-mang-bo-dao

Viêm màng bồ đào do đâu?

Viêm màng bồ đào là một bệnh do nhiều nguyên nhân phức tạp, có khi đan chéo nhau.

Do tụ cầu, liên cầu, lậu cầu, trực khuẩn mủ xanh, virus hecpet, nấm candida, kí sinh trùng toxoplasma gondii, riketzia

Do nhiễm độc: như chất độc, thức ăn biến chất; Do nội sinh như teo, thoái hóa tổ chức xuất huyết; Do bệnh tự miễn (trong cơ thể có kháng thể chống màng bồ đào);

Do chấn thương; Thứ phát từ các bệnh toàn thân: collagenose, sarcoidose, bệnh Behcet, bệnh da liễu, bệnh máu.

Ngoài ra, viêm MBĐ chưa rõ nguyên nhân: Nhãn viêm đồng cảm; viêm mống mắt nhược sắc.

Cách phát hiện viêm MBĐ

Với viêm màng bồ đào trước, dấu hiệu dễ thấy là cương tụ mạch máu ở lòng trắng (ở sát rìa lòng đen gọi là cương tụ rìa). Ta không được lầm nó với bệnh đau mắt đỏ thông thường (mạch máu cương tụ rộng khắp ở lòng trắng, càng gần lòng đen màu đỏ càng thưa nhạt). Bệnh nhân nhìn thấy mờ, nhìn hình như qua một lớp màng sương mờ.

Với viêm màng bồ đào sau, người bệnh không thấy cương tụ vùng rìa nhưng hay xuất hiện đau đầu, nhức trong nhãn cầu,  nhìn mờ.

Những điều đáng lo nhất khi viêm MBĐ

Với viêm màng bồ đào trước: Đáng lo nhất là tình trạng dính đồng tử hoặc bít đồng tử. Tổn thương này vừa gây mù lòa vừa gây biến chứng tăng nhãn áp (do cản trở lưu thông thủy dịch từ khoang sau ra khoang trước của nhãn cầu). Việc cho nhỏ atropin làm giãn đồng tử, chống dính chiếm 70% ý nghĩa điều trị cấp cứu.

Với viêm màng bồ đào sau: Điều đáng lo nhất là dịch kính đục thành mảng thô hoặc mủ dịch kính. Các tổn thương này hay gây tổ chức hóa dịch kính biến chứng co kéo gây bong võng mạc, teo nhãn cầu. Đặc biệt các viêm màng bồ đào sau do virut thường gây hóa mủ dịch kính nhanh chóng. Khi có các dấu hiệu bất thường ở mắt như đã nói ở trên, bệnh nhân phải đến khám tại cơ sở nhãn khoa. Cách điều trị cụ thể, việc theo dõi lâu dài sẽ do cơ sở nhãn khoa tiến hành, chỉ định hoặc hẹn khám định kì. Viêm MBĐ dễ tái phát, người bệnh phải gắn bó với cơ sở nhãn khoa lâu dài.

tim-hieu-ve-benh-viem-mang-bo-dao-1

Điều trị viêm MBĐ

Do viêm MBĐ có nhiều nguyên nhân nên việc điều trị cần căn cứ vào nguyên nhân để cho thuốc đặc hiệu. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp viêm MBĐ cần được sử dụng trước thuốc giãn đồng tử và liệt thể mi để tránh dính đồng tử và giảm đau. Thuốc thường dùng là dung dịch atropin 1 – 4% hoặc mỡ atropin 1% tra mắt.

Thuốc chủ lực trong điều trị viêm MBĐ là chống viêm corticosteroit, có thể dùng theo các đường khác nhau phối hợp như tiêm cạnh nhãn cầu, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch hoặc uống, tra mắt (chỉ có tác dụng trong điều trị viêm MBĐ trước). Liều lượng và cách dùng theo chỉ định của bác sĩ và cần được theo dõi chặt chẽ khi sử dụng cho người bị loãng xương, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, tăng huyết áp… Các thuốc chống viêm không steroit được dùng trong các trường hợp chống chỉ định dùng corticosteroit. Ngoài ra, người bệnh còn có thể được sử dụng thuốc ức chế miễn dịch trong các trường hợp viêm MBĐ liên quan đến yếu tố miễn dịch và không đáp ứng với corticosteroit.

Phương pháp phẫu thuật cũng được lựa chọn để điều trị biến chứng của viêm MBĐ như phẫu thuật bong võng mạc, phẫu thuật lấy thủy tinh thể, phẫu thuật lỗ rò điều trị tăng nhãn áp, cắt dịch kính…

Người bệnh khi phát hiện có những biểu hiện đầu tiên như kể trên thì cần đến chuyên khoa mắt để được khám, điều trị đúng và theo dõi chặt chẽ, ngăn ngừa biến chứng có thể xảy ra.

ThS.BS. Cù Thanh Phương (Bệnh viện Mắt TW)

Theo SK&DS