Tag Archives: viêm khớp

Hội chứng mệt mỏi kéo dài ở phụ nữ

Bạn luôn uể oải, mắt nặng trĩu cả khi vừa ngủ dậy? Suốt buổi sáng bạn ngáp dài, đến chiều tình hình còn tệ hơn dù có ngủ trưa? Đó là biểu hiện của hội chứng mệt mỏi kéo dài.

Biểu hiện của hội chứng này rất dễ nhận thấy: Lúc nào bạn cũng mệt mỏi. Ban ngày đi làm thấy mệt đã đành, tối đến bạn cũng uể oải khi ăn cơm, rồi thiếp đi khi bộ phim bạn yêu thích trên tivi đang ở đoạn hấp dẫn nhất. Đi khám, bác sĩ nói bạn không có bệnh gì, chỉ cần nghỉ ngơi nhiều hơn là sẽ khỏi. Và bạn thực sự lo lắng vì biết rằng nghỉ ngơi chẳng giúp ích gì, mỗi ngày bạn ngủ ít nhất 10 giờ đồng hồ đấy thôi.

hoi-chung-met-moi-keo-dai-o-phu-nu

Mệt mỏi là dấu hiệu ban đầu của rất nhiều bệnh. Đó có thể là dấu hiệu rõ ràng nhất của sự phiền muộn, ung thư, mất ngủ, thiếu máu, huyết áp thấp, nhiễm virus, bệnh lupus, bệnh đa xơ cứng, viêm khớp, mất cân bằng tai trong, giảm glucoza huyết, tăng huyết áp, bệnh tim… Nhưng mệt mỏi kéo dài là cơn mệt mỏi suy kiệt không thể giải thích được, kéo dài trên 6 tháng và không do bất kỳ một bệnh tật thể xác tiềm ẩn nào gây ra.

Bệnh nhân bị hội chứng trên thường có cùng một lúc các biểu hiện như đau họng, sưng tuyến nước bọt, sốt nhẹ, đau cơ và đôi khi rối trí. Những triệu chứng này lúc có, lúc không gây khó chịu cho việc chẩn đoán. Vì mệt mỏi là một triệu chứng rất chung nên các bác sĩ thường cho rằng những người quá mệt mỏi là do họ làm việc nhiều hoặc do phiền muộn.

Về nguyên nhân gây ra mệt mỏi kéo dài, có một thuyết cho rằng đó là một sự rối loạn chức năng miễn dịch cụ thể kéo dài, bắt đầu bằng việc nhiễm virus. Người ta ngờ rằng virus epstein-ban, coxsackie là thủ phạm của hội chứng trên, nhưng vẫn chưa chứng minh được chắc chắn.

Một số nghiên cứu cho rằng, các stress lớn như ly hôn, mất việc làm, mất người thân… là khởi nguồn của hội chứng mệt mỏi kéo dài, do stress làm yếu hệ thống miễn dịch.

Một nghiên cứu mới của Mỹ đã bước đầu đem lại một chút ánh sáng về căn bệnh này. Các nhà khoa học đã đo huyết áp của 23 người bị mệt mỏi kéo dài và nhận thấy 22 người có bất thường trong việc điều chỉnh huyết áp: Tim họ đập chậm lại vào đúng lúc lẽ ra phải đập nhanh hơn. Chẳng hạn khi nhấc một vật nặng, tim bạn phải đập mạnh hơn để bơm máu đi khắp cơ thể. Nhưng ở những bệnh nhân mệt mỏi kéo dài thì ngược lại.

Điểm lạ thứ hai là khi cho bệnh nhân nghiêng một góc 70 độ so với sàn nhà để giả định đã đứng một lúc lâu, thì hầu hết bệnh nhân đều bị tụt huyết áp. Họ cảm thấy choáng váng, yếu, buồn nôn và mệt mỏi, bơ phờ nhiều ngày sau đó. Các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu phản ứng huyết áp thấp kể trên xảy ra nhiều lần trong ngày ở một mức độ nào đó có thể gây kiệt sức liên tục.

Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân trong nghiên cứu này đã được điều trị thành công bằng thuốc, tăng khẩu phần muối và nước để điều chỉnh huyết áp. 9 người đã hoàn toàn bình phục. 7 người thấy đỡ mệt hơn.

Theo các chuyên gia, bạn có thể bị hội chứng mệt mỏi kéo dài nếu có các dấu hiệu sau:

– Đột nhiên mệt mỏi triền miên, dai dẳng và không lý giải được.
– Dù đã nghỉ ngơi cũng không bớt mệt.
– Khó tập trung và ghi nhớ đến mức ảnh hưởng xấu đến năng lực làm việc.
– Đau các hạch bạch huyết ở cổ hoặc dưới cánh tay.
– Đau nhức các cơ nhưng không hề bị sưng hay tấy đỏ.
– Đau đầu dữ dội.
– Thức dậy sau một giấc ngủ dài cũng không thấy tỉnh táo hơn.

Cách điều trị hiện nay là làm giảm các triệu chứng. Chẳng hạn, dùng các thuốc chống viêm, giảm đau để điều trị cơn đau đầu và đau cơ; dùng thuốc chống phiền muộn để vực dậy tinh thần; tập thể dục thể thao, vật lý trị liệu, tập thở… để thư giãn cơ bắp và tinh thần… Kiên trì làm như vậy một thời gian, bệnh sẽ thuyên giảm và hết lúc nào không biết.

Theo sức khỏe đời sống

Dấu hiệu bệnh thấp tim và lời khuyên của bác sĩ

Chẩn đoán xác định thấp tim khi nào?

Khi có bằng chứng của nhiễm liên cầu A đường hô hấp (biểu hiện lâm sàng của viêm đường hô hấp trên và/hoặc làm phản ứng ASLO dương tính và/hoặc cấy dịch họng tìm thấy liên cầu), kèm theo có ít nhất 2 tiêu chuẩn chính hoặc có 1 tiêu chuẩn chính kèm 2 tiêu chuẩn phụ. Sở dĩ là vậy vì trong màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A có một thành phần protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim và một số tổ chức liên kết khác của cơ thể. Ngoài ra, cấu trúc cacbon hydrat màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A cũng giống mucoprotein ở van tim người. Khi bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A, cơ thể sẽ sản xuất các kháng thể chống liên cầu khuẩn, vô tình các kháng thể này cũng tấn công luôn cả cơ tim và các tổ chức liên kết có thành phần protein tương tự. Ngoài có cấu tạo protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim dẫn tới sự “nhầm lẫn” kể trên, màng tế bào liên cầu khuẩn còn mang nhiều chất có độc tính với tế bào cơ tim, thận, phá hủy hồng cầu, tiểu cầu…

Dấu hiệu nhận biết

benh-thap-tim

Sau khi bị viêm họng từ 1 – 5 tuần, những trẻ bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A sẽ thấy xuất hiện tình trạng đau ở khớp với đặc điểm là đau từ khớp này sang khớp khác. Các khớp lớn như khớp gối, khớp khuỷu, khớp cổ chân, cổ tay sẽ bị sưng, đau, nóng đỏ khiến bệnh nhân đi lại và cử động rất khó khăn (riêng khớp cột sống hoặc khớp ngón tay, ngón chân rất ít khi đau nhức). Điểm đặc biệt của bệnh này là khi khớp sau bị sưng đau thì các khớp bị sưng đau trước đó lại khỏi và trở lại hoạt động bình thường, không có biến dạng khớp và bị hạn chế cử động như các loại viêm khớp khác. Chính vì biểu hiện như vậy mà căn bệnh này còn được gọi là bệnh thấp khớp cấp.

Cùng với những cơn đau ở khớp thì ở tim cũng có tổn thương (cơ tim, các màng tim và các van tim) làm cho người bệnh mệt mỏi, đau tức ngực, khó thở, nhịp tim chậm hoặc nhanh, có thể không đều. Nếu viêm cơ tim nặng gây khó thở, tím tái, phù, gan to.

Tổn thương thường gặp khi bị thấp tim

Viêm tim: Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41 – 83% số bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim. Các biểu hiện của viêm tim có thể là viêm màng trong tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim. Viêm tim có thể biểu hiện từ thể không có triệu chứng gì đến các dấu hiệu suy tim cấp nặng hoặc tử vong. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tăng nhịp tim, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi tâm trương, tiếng rung tâm trương, rối loạn nhịp, tiếng cọ màng tim, suy tim…

Một trong những biểu hiện phải chú ý và là biến chứng nặng của thấp tim là viêm van tim. Hở van hai lá là một trong những biểu hiện thường gặp nhất, trong khi hở van động mạch chủ ít gặp hơn và thường kèm theo hở van hai lá.

Viêm khớp: Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim (80%) nhưng lại ít đặc hiệu. Biểu hiện của viêm khớp là sưng, nóng, đỏ, đau khớp, xuất hiện ở các khớp lớn (gối, cổ chân, cổ tay, khuỷu, vai…) và có tính chất di chuyển. Viêm khớp do thấp tim thường không bao giờ để lại di chứng ở khớp.

Múa giật Sydenham: Đây là biểu hiện của tổn thương ngoại tháp và khá đặc hiệu cho thấp tim. Các biểu hiện là những động tác vận động không mục đích và không tự chủ ở các cơ mặt, chi; giảm trương lực cơ, rối loạn cảm động. Các biểu hiện ban đầu có thể là khó viết, khó nói hoặc đi lại. Các biểu hiện này thường rõ khi bệnh nhân bị xúc động hoặc thức tỉnh và mất đi khi bệnh nhân ngủ.

Múa giật Sydenham là một trong những biểu hiện muộn của thấp tim, nó thường xuất hiện sau khi viêm đường hô hấp trên khoảng 3 tháng. Múa giật Sydenham thường biểu hiện đơn độc trong thấp tim và gặp ở khoảng 30%. Triệu chứng này thường mất đi sau 2 – 3 tháng.

Nốt dưới da: Đó là những nốt có đường kính khoảng 0,5 – 2cm, cứng, không đau, di động và thường xuất hiện ngay trên các khớp lớn hoặc quanh các khớp. Nốt dưới da có thể gặp ở khoảng 20% số bệnh nhân bị thấp tim và thường biến mất sau vài ngày. Da ở trên nốt này thường vẫn di động bình thường và không có biểu hiện viêm ở trên.

Đây là một loại ban trên da, có màu hồng và khoảng nhạt màu ở giữa tạo thành ban vòng. Thường không hoại tử và có xu hướng mất đi sau vài ngày. Hồng ban vòng là một dấu hiệu khá đặc hiệu trong thấp tim và ít gặp (5%), thường chỉ gặp ở những bệnh nhân có da mịn và sáng màu. Hồng ban vòng thường xuất hiện ở thân mình, bụng, mặt trong cánh tay, đùi và không bao giờ ở mặt. Khi có hồng ban vòng thì thường có kèm theo viêm cơ tim.

Do các triệu chứng nói trên, bệnh thấp tim hay bị nhầm với một số bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Điều này rất nguy hiểm, bởi nếu không được điều trị, bệnh cũng sẽ khỏi, nhưng sau đó một thời gian lại tái phát. Mỗi lần tái phát như vậy các tổn thương ở tim càng nặng hơn dẫn đến các chứng hẹp hay hở van tim, hoặc hở hay hẹp các van động mạch tại tim.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi thấy đau khớp sau một đợt viêm họng, nên nghĩ tới thấp tim và cần sớm đi khám bệnh, làm các xét nghiệm cần thiết để và có liệu trình điều trị đúng đắn. Nếu đúng mắc bệnh thấp tim, trẻ nên tuân thủ chế độ điều trị dự phòng nghiêm ngặt cụ thể: tiêm kháng sinh dự phòng một tháng một lần theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Thời gian dự phòng là 5 năm, tốt nhất đến 18 tuổi, với thể tổn thương nặng ở tim, phòng tái phát cho đến 25 tuổi.

Để phòng bệnh thấp tim, trẻ cần tránh không để bị cảm, bị viêm họng, viêm khí – phế quản, đồng thời gìn giữ vệ sinh răng miệng thật tốt. Cần chú trọng cải thiện các điều kiện ăn, ở, chú ý vấn đề vệ sinh môi trường, điều kiện dinh dưỡng đối với trẻ em.

BS. Lê Hưng
Theo sức khỏe đời sống

Phân biệt viêm khớp, thoái hóa khớp và bệnh gút

Viêm khớp dạng thấp: cứng khớp buổi sáng, đau đối xứng

Đây là bệnh tự miễn, nghĩa là tế bào miễn dịch giúp chống vi khuẩn và dọn dẹp tế bào chết tấn công các mô lành ở khớp. BS Hồ Phạm Thục Lan – Trưởng khoa Cơ xương khớp, BV Nhân dân 115 cho biết, ngoài virus, vi khuẩn, yếu tố di truyền cũng được ghi nhận làm tăng nguy cơ mắc bệnh này. Theo thống kê, cứ 100 người thì có ba người mắc bệnh và có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi; cứ bốn người bệnh thì có ba người là nữ, thường gặp ở phụ nữ trung niên.

Biểu hiện chính của bệnh là đau, cứng khớp, làm hạn chế sự vận động của khớp, thường xảy ra vào sáng sớm sau khi ngủ dậy, kéo dài từ một-hai giờ, đôi khi cả ngày. Ngoài ra còn có hiện tượng sưng khớp có tính đối xứng, nghĩa là khớp tay này sưng, khớp tay kia cũng sưng tương tự.

phan-biet-viem-khop-thoai-hoa-khop-va-benh-gut

Nhìn chung, bệnh thường gây viêm nhiều khớp một lúc, triệu chứng đau tiến triển dần, thường gặp ở các khớp nhỏ bàn tay (cổ tay, khớp liên đốt gần bàn tay, khớp bàn – ngón tay), phối hợp với các khớp khuỷu, gối, cổ chân. Các khớp ít gặp như: khớp háng, cột sống, khớp vai, khớp ức đòn, nếu có viêm các khớp này cũng thường xảy ra ở giai đoạn muộn. Ngoài ra còn có các biểu hiện toàn thân như mệt mỏi, xanh xao, sốt, gầy sút, ăn không ngon, khô mắt và miệng, nốt cứng mọc bên dưới da bàn tay hoặc khuỷu tay, nhịp thở ngắn lại hoặc đau ngực.

Viêm khớp do thoái hóa: đau khi vận động, giảm đau khi nghỉ ngơi

Nguyên nhân do tổn thương phần sụn, đệm giữa hai đầu xương, kèm theo phản ứng viêm tại chỗ và giảm thiểu lượng dịch nhầy giúp bôi trơn ở điểm nối giữa hai đầu xương. Triệu chứng cứng khớp do thoái hóa chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, không quá 15 phút. Vị trí thường gặp là ở cột sống thắt lưng, cột sống cổ, gối, bàn tay và khớp háng. Khớp có thể sưng và đau, nhưng khác với khớp viêm có biểu hiện đau liên tục, đau trong thoái hóa khớp gắn liền với vận động và giảm khi nghỉ ngơi, có cảm giác lạo xạo khi cử động khớp. Bệnh gắn liền với tình trạng béo phì, thừa cân và người lớn tuổi.

Gút: đau giữa đêm, đau một bên

BS Hồ Phạm Thục Lan cho biết, nguyên nhân gây bệnh gút là do rối loạn chuyển hóa axit uric, làm tăng nồng độ axit uric trong máu, dẫn đến lắng đọng tinh thể urat trong khớp và một số mô ngoài khớp như tổ chức dưới da, thận, gây viêm khớp, sỏi niệu. Đây là bệnh phổ biến ở nam giới, đặc biệt ở tuổi từ 30 – 50, có thói quen uống nhiều bia rượu, béo phì. Phụ nữ ít mắc bệnh gút, nếu có thường là những người sau mãn kinh.

Biểu hiện bệnh là cơn đau cấp thường xuất hiện đột ngột về đêm. Vị trí bắt đầu thường ở các khớp chi dưới, đặc biệt ngón trỏ bàn chân, cơn đau ngày càng dữ dội, va chạm nhẹ cũng đau, đêm đau hơn ngày. Nơi đau sưng to, phù nề, căng bóng, nóng đỏ, thường đau một bên khớp (không có sự đối xứng). Đợt viêm kéo dài khoảng vài ngày, sau đó tự khỏi. Nhưng nếu không điều trị phòng ngừa, bệnh sẽ tái diễn, khoảng cách thời gian giữa các đợt sưng đau khớp thay đổi nhưng sẽ rút ngắn dần, trong khi thời gian đau lại kéo dài ra, không còn tự khỏi như những đợt đau đầu tiên. Giai đoạn muộn, hiện tượng viêm có thể biểu hiện ở nhiều khớp, có thể đối xứng, xuất hiện những u cục ở nhiều nơi, đặc biệt quanh các khớp, được gọi là nốt tophi. Trong đợt cấp, có thể kèm theo dấu hiệu sốt cao, lạnh run, buồn nôn và nôn.

Khác với viêm khớp dạng thấp, bệnh gút liên quan đến chế độ ăn. Dấu hiệu dễ nhận biết nhất là bệnh thường xuất hiện sau một bữa ăn với nhiều chất đạm, protein như thịt chó, tiết canh, phủ tạng động vật, hải sản kèm uống nhiều bia, rượu. Thay đổi trong ăn uống sẽ làm giảm mức độ nặng và khởi phát của các đợt gút cấp.

Nguồn báo phụ nữ

Điều trị viêm khớp bằng công nghệ mới

Viêm khớp là một trong những căn bệnh phổ biến ở người trung niên và lớn tuổi, triệu chứng là những cơn đau dai dẳng ở các khớp nối và tùy mức độ nặng nhẹ có thể dẫn đến tàn tật, thậm chí tử vong. Một số loại thuốc điều trị hiện nay phần lớn chưa thể giải quyết tận gốc căn bệnh, ngược lại thường gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng, chẳng hạn như xuất huyết nội.

uy vậy, mối quan tâm này có thể được giải quyết với giải pháp điều trị mới bằng loại “mỡ nano” mang tên Flexiseq. Đây là dược phẩm không cần ghi toa đầu tiên áp dụng công nghệ nano với thành phần gồm những phân tử hình cầu có kích thước nano cấu tạo từ chất béo phospholipid tự nhiên có tính năng bôi trơn khớp nối. Khi áp dụng điều trị, bệnh nhân chỉ cần bôi nhẹ một lớp gel trên da là phân tử phospholipid có thể dễ dàng theo lỗ chân lông thấm đến khớp xương và bắt đầu nhiệm vụ bôi trơn thay thế cho loại dầu tự nhiên đã bị mất.

dieu-tri-viem-khop-bang-cong-nghe-moi

Khám viêm khớp

Theo kết quả thử nghiệm trên 4.000 người của Giáo sư Philip Conaghan thuộc Viện Thấp khớp và Y học cơ xương của Đại học Leeds (Anh), Flexiseq có tác dụng giảm đau và cải thiện cử động hiệu quả như các thuốc kháng viêm không steroid là aspirin và Celebrex. Phản ứng phụ duy nhất của Flexiseq là nó có thể khiến vùng da bôi gel ở một số bệnh nhân bị viêm nhẹ.

Với thành công như trên, giới y học tin tưởng cơ chế hoạt động của Flexiseq không chỉ giúp chữa đau khớp hiệu quả hay điều chế thuốc đặc trị viêm hay nhiễm trùng da, mà còn mở ra phương pháp mới đưa thuốc vào cơ thể không cần tiêm trong điều trị các bệnh khác, như tiểu đường hay ung thư.

Nguồn thanh niên

Viêm khớp vảy nến

Bệnh chiếm tỉ lệ khoảng 1 – 2% dân số. Tuổi thường gặp 30 – 50 tuổi. Tỉ lệ giữa nam và nữ 1:1 (khác với viêm khớp dạng thấp có xu hướng trội hơn ở nữ). Khoảng 7% các trường hợp biểu hiện vảy nến kèm theo có viêm khớp, 30% trong số này có viêm khớp cùng chậu. Viêm khớp xuất hiện sau tổn thương ngoài da gặp ở 15 – 20% bệnh nhân, một số xuất hiện đồng thời, có rất ít trường hợp tổn thương da xuất hiện trước viêm khớp. Khoảng 30% bệnh có tính chất gia đình. Nguyên nhân thực sự của bệnh vẫn chưa được khẳng định, người ta cho rằng bệnh có thể liên quan đến nhiều yếu tố như yếu tố di truyền và yếu tố môi trường. Nhiễm lạnh, nhiễm khuẩn: vi khuẩn, virus cũng là một nguyên nhân gây bệnh (cảm cúm, viêm tai mũi họng). Nhiễm trùng: vi khuẩn, virus cũng là một nguyên nhân gây bệnh.

Chấn thương thực thể, rối loạn tâm lý, stress. Rối loạn chuyển hoá đường, lipid, yếu tố nội tiết.

Bệnh vẩy nến đôi khi gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV, ở những bệnh nhân này biểu hiện vảy nến ở da thường rất trầm trọng.

1. Triệu chứng lâm sàng

viem-khop-vay-nen

Biểu hiện ở hệ thống da, móng, lông, tóc.

Da: tổn thương da điển hình bao gồm những chấm, vết hoặc mảng trên nền viêm đỏ, phủ nhiều lớp dễ bong, thậm chí có những mảng tróc vảy, màu trắng đục như nến. Thương tổn nhỏ đường kính vài mm hoặc lan rộng thành mảng. Vị trí có thể gặp ở xuất hiện trên mặt trước của chân, tay, da đầu, ngoài ra còn tìm thấy tổn thương da ở dưới vú, kẽ mông hoặc trong rốn.

Móng: loạn dưỡng móng xảy ra trong khoảng 80% các trường hợp. Những thay đổi trên móng hay gặp là mất màu móng, dày móng, rỗ như kim châm hoặc bong móng.

Biểu hiện ở khớp: viêm một vài khớp, chủ yếu khớp nhỏ ở bàn tay, thường gặp ở khớp ngón xa hoặc đốt bàn ngón tay. Thể này hay gặp ở nữ đôi khi dễ nhầm với viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên viêm nhiều khớp hiếm khi xảy ra và thường viêm khớp không đối xứng.

Ngón tay ngón chân hình “xúc xích” có thể thấy ở một ngón tay hoặc một ngón chân hoặc tất cả các ngón tay ngón chân kèm theo sự loạn dưỡng móng. Có thể do viêm khớp bàn ngón kết hợp với viêm bao gân gấp.

Khi triệu chứng khởi đầu cấp tính viêm khớp tại ngón chân hoặc khớp ngón cái, cần chẩn đoán phân biệt viêm khớp trong bệnh gout.

Thể cột sống: bệnh lý cột sống kèm viêm chỉ đau đơn thuần tại viêm khớp cùng chậu (chiếm khoảng 5% bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp vảy nến). Thể này hay gặp ở nam giới. Triệu chứng lâm sàng có viêm, cứng cột sống, viêm khớp cùng chậu.

2. Triệu chứng cận lâm sàng

X quang: dấu hiệu X quang thường gặp là bào mòn nhẹ quanh khớp hoặc hẹp nhẹ khe khớp với biến dạng ít hoặc không biến dạng. Dính khớp bàn ngón tay hoặc ngón chân. Viêm khớp cùng chậu thậm chí viêm cột sống dính khớp điển hình (có hình ảnh cầu xương và xơ hoá dây chằng dọc cột sống).

Xét nghiệm

Giải phẫu bệnh: tình trạng tăng sinh tế bào thượng bì rõ rệt làm lớp gai và lớp sừng dày lên so vớp bình thường.

+ Xét nghiệm máu:

– Số luợng hồng cầu có thể giảm nhẹ.

– Tốc độ máu lắng tăng, CRP (+).

– Tăng acid uric máu mức độ nhẹ.

– Xét nghiệm yếu tố dạng thấp thường âm tính.

– Có sự kết hợp của bệnh viêm khớp vảy nến với HLA B27 liên quan đến bệnh viêm khớp cùng chậu, HLA Cw6, HLA DR7, HLA DR4.

3. Chẩn đoán phân biệt

– Xơ cứng vì toàn thể: nữ, trung niên. Đau khớp: các khớp nhỏ, nhỡ ở bàn tay tương tự như bệnh viêm khớp dạng thấp. Thường kèm theo hội chứng Raynaud và có tổn thương da đặc biệt: dày, cứng, rối loạn sắc tố, …

– Lupus ban đỏ hệ thống: thường gặp ở nữ, trẻ. Đau khớp hoặc đau cơ là chính, vị trí tương tự như viêm khớp dạng thấp. Viêm khớp trong bệnh lupus thường không có hình bào mòn trên X quang. Thường kèm theo ban cánh bướm, nhạy cảm ánh sáng, tổn thương thận, sốt kéo dài, rụng tóc, mất kinh. Viêm da và cơ: đau cơ, tăng enzym cơ .

Viêm khớp dạng thấp: thường gặp ở nữ, tuổi trung niên, sưng đau các khớp nhỏ nhỡ, trong đó có các khớp cổ tay, bàn ngón, ngón gần đối xứng hai bên, thường biến dạng khớp sớm, X quang có hình ảnh bào mòn xương, ít có biểu hiện ngoài da.

Bệnh Reiter: đôi khi có tổn thương ngoài da (ban đỏ dạng nốt). Bệnh biểu hiện một tam chứng gồm viêm khớp, viêm niệu đạo, viêm kết mạc mắt.

Viêm cột sống dính khớp: gặp ở nam, viêm khớp cùng chậu và cột sống, khớp háng, gối.

4. Điều trị

Điều trị các triệu chứng về da:

+ Các triệu chứng về da, móng cần được chăm sóc điều trị tương tự như trong các bệnh lý da độc lập khác, tránh nhiễm trùng.

+ Phương pháp PUVA: uống thuốc Psoralen gây cảm ứng ánh sáng sau đó chiếu tia cực tím sóng dài UVA có thể đạt kết quả 80 – 90%, tuy nhiên tỉ lệ tái phát là 40%.

+ Thuốc bôi chống viêm, bạt sừng và tạo da: kem có salicylic, gudron, corticoid, betnoval tuy nhiên cần lưu ý:

– Các thuốc mỡ như salicylic, crisofamic, gurdon không bôi diện rộng vì có thể gây nhiễm độc.

– Các thuốc bôi corticoid, flucinar, xinala thời gian đầu có thể mang lại kết quả tốt nhưng sau đó có thể gây bệnh tái phát nặng hơn. Bôi corticoid rộng lâu ngày có thể bị teo da, trứng cá, phù mặt.

Điều trị các triệu chứng viêm khớp

+ Điều trị thuốc chống viêm không Steroid (NSAIDs): Có thể chỉ định một trong các thuốc sau diclofenac (voltaren): 100 mg/ngày; piroxicam (brexin, felden), 20 mg/ngày; meloxicam (Mobic): 7/5 mg/ngày; celecoxib (Cebebrex): 200 – 400 mg/ngày.

+Thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (DMARDs) nhóm thuốc này bao gồm: methotrexate, cyclophosphamid, mycophenolate mofetil.

– Methotrexate trong điều kiện tuyến cơ sở không thể điều trị các thuốc như cyclophosphamid, mycophenolate mofetil, … có thể chỉ định thuốc này. Liều: 7,5 – 20 mg/tuần.

Methotrexat liều và cách dùng: liều 2 – 3 gam/ngày (viên nén 0,5 gam). Ba ngày đầu mỗi ngày 1 viên, 3 ngày tiếp mỗi ngày 2 viên, chia 2 lần. Nếu không thấy tác dụng phụ, duy trì ngày 4 viên, chia 2 lần.

Tác dụng phụ: rối loạn tiêu hoá, chán ăn, đau thượng vị ban ngoài da, bọng nước, loét miệng, proteinniệu, hội chứng thận hư, viêm giáp trạng, giảm tiểu cầu, bạch cầu, huyết tán, hội chứng dạng lupus.

Chống chỉ định: hạ bạch cầu, suy gan, thận, tổn thương phổi mạn tính.

Tác dụng phụ: thường gặp loét miệng, nôn, buồn nôn. Có thể gặp độc tế bào gan và tuỷ.

Cần bổ sung acid folic nhằm giảm thiểu tác dụng phụ về máu.

Sulfasalazine, cyclosporine, an ti TNF, etanercept, infliximab (Remicade). Có thể dùng từng loại đơn độc hoặc phối hợp tuỳ tình trạng bệnh, tuy nhiên các thuốc này có một số tác dụng phụ nên cần được sự chỉ định và theo dõi của các bác sĩ chuyên khoa.

– sulfasalazine

+ Thành phần: kết hợp giữa 5 – aminosalysilic và sulfapyridin.

+ Chỉ định: chống chỉ định đối với Methotrexat hoặc được dùng kết hợp với

– Cyclophosphamid: thuộc nhóm các thuốc độc tế bào (cytotoxic therapy) hay còn gọi là nhóm alkylating agens đường uống: dùng liều 1 – 2mg/kg/ngày, uống đến khi bệnh được kiểm soát thì giảm liều rồi ngừng.

-Tác dụng phụ: viêm bàng quang chảy máu, xơ bàng quang, ung thư bàng quang, giảm bạc cầu, suy buồng trứng, vô tinh trùng nếu điều trị kéo dài.

– Theo dõi khi dùng cyclophosphamid: hàng tháng lần cần làm công thức máu và điều chỉnh liều dựa vào số lượng bạch cầu, tiểu cầu, hematocrit và kiểm tra nước tiểu, soi bàng quang để tìm những thay đổi ác tính trong quá trình điều trị .

+ Corticosteroid: trong một vài trường hợp viêm khớp nặng, tiêm corticosteroid tại khớp thường có kết quả tốt. Tuy nhiên, tránh dùng corticosteroid đường toàn thân vì có thể làm bệnh nặng thêm, đặc biệt trên những bệnh nhân đang có tổn thương da trầm trọng.

+ Có thể kết hợp điều trị thuốc và phương pháp PUVA (đơn thuần hoặc kết hợp với vitamin A acid) tuy nhiên phải theo dõi tác dụng phụ.

Tập luyện: để cải thiện chức năng vận động của khớp, làm chắc cơ, tránh cứng hoặc dính khớp.

Chế độ ăn uống: tránh ăn các chất kích thích, hạn chế rượu cà phê, thuốc lá, có chế độ sinh hoạt điều độ, tắm nắng thích hợp.

Phẫu thuật: chỉnh hình hoặc thay thế khớp nhân tạo trong trường hợp khớp bị huỷ hoại nặng.

Bệnh xương khớp có thể gặp ở mọi lứa tuổi

Viêm khớp dạng thấp, loãng xương, thoái hóa cột sống, khớp háng, khớp gối… có thể gặp ở mọi độ tuổi chứ không phải chỉ người già như nhiều người lầm tưởng.

Dưới đây là bài viết của Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Đình Phú, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115, cảnh báo về một số vấn đề liên quan đến bệnh xương khớp ở trẻ em và người lớn.

Ở trẻ em, bệnh xương khớp rất đa dạng và có những đặc điểm riêng, có thể kể ra như: thấp khớp cấp, viêm khớp thiếu niên, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp mủ do vi khuẩn lao, dị dạng cột sống, còi xương…

Các bệnh lý về xương khớp xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi độ tuổi.

Các bệnh lý về xương khớp xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi độ tuổi.

Một số bệnh xương khớp có tính chất gia đình. Lối sống của cha/mẹ đóng vai trò quyết định sức khỏe của con cái. Nếu cha/mẹ hút thuốc lá uống rượu nhiều, mắc các bệnh cảm cúm do virus, hay dùng thuốc không hợp lý trong thời ký mang thai có thể dẫn tới sự xuất hiện những dị tật cơ xương khớp ở con cái của họ.

Trẻ em có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện thường mắc các bệnh tai mũi họng như viêm họng hạt, viêm amidan, viêm xoang, viêm mủ ngoài da. Đó chính là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiều bệnh ở khớp: thấp tim, viêm khớp nhiễm khuẩn… Phòng ngừa cho trẻ là nên điều trị kịp thời và dứt điểm các nguyên nhân nhiễm khuẩn trên.

Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong xuất hiện bệnh lý cơ xương khớp. Với trẻ em, cơ thể cần rất nhiều canxi, Vitamin D, protein và các chất khác để xây dựng khung xương. Do vậy, nếu chế độ ăn uống không đủ chất và số lượng thì trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, dẫn đến bệnh còi xương.

Ngoài ra việc mang vác nặng, ngồi sai tư thế ngồi lâu ngày… cũng là một nguyên nhân phổ biến, gây lệch vai, tổn thương xương sống hoặc gù, cong, vẹo cột sống…

Đối với độ tuổi trung niên, nguyên nhân chủ yếu gây ra gãy xương là do chấn thương, thoái hóa khớp, bệnh gout, loãng xương giai đoạn sớm. Ngoài nguyên nhân do sinh lý cơ thể theo lứa tuổi thì chế độ ăn uống không khoa học cũng là tác nhân gây hại về xương khớp. Một số người đau nhức do xương khớp cơ năng thường hay tự ý uống thuốc để giảm đau cũng là nguyên nhân gây hư xương và thoái hóa khớp. Để phòng ngừa bệnh, cần kiêng cữ, tiết chế, điều độ trong ăn uống.

Đối với người trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh xương khớp lên tới 60%. Đó là thoái hóa khớp, loãng xương, gãy cổ xương đùi, đau cột sống thắt lưng, gút, ung thư xương… Càng về già chất lượng xương càng yếu dần, vỏ xương không chắc chắn như lúc tuổi trẻ, nên rất dễ gãy cổ xương đùi khi có một sang chấn nhẹ. Biến dạng các khớp xương lâu ngày có thể gây thoái hóa tạo hình ảnh gai xương hoặc một biến dạng bất thường có thể gây ung thư xương với sự đau nhức dài ngày…

Để phòng ngừa, nên có sự tầm soát định kỳ mỗi 6 tháng với kiểm tra tổng quát có sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Ngoài ra cần có một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, kết hợp với chế độ thuốc men phù hợp với đặc điểm bệnh lý của người cao tuổi.

Nguồn giáo dục

Bệnh thấp tim và các triệu chứng dễ nhận biết

Theo thống kê của Viện tim mạch quốc gia, có đến 50% bệnh nhân mắc bệnh thấp tim trong tổng số bệnh nhân tim mạch. Bệnh thấp tim gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm đến não, thận…, thậm chí gây tử vong.

1. Bệnh thấp tim và các triệu chứng dễ nhận biết.

Bệnh thấp tim còn được gọi là bệnh thấp khớp cấp hoặc sốt thấp khớp, là bệnh lý viêm tự miễn và là biến chứng nguy hiểm của viêm họng do liên cầu nhóm A không được điều trị dứt điểm. Bệnh thường gặp ở trẻ em với độ tuổi từ 5 -15 tuổi, song cũng có thể gặp ở người lớn và gây ra những tổn thương cho não, tim, khớp…

Viêm khớp là triệu chứng đầu tiên của bệnh thấp tim

Viêm khớp là triệu chứng đầu tiên của bệnh thấp tim

Việc phát hiện các triệu chứng sớm, dễ nhận biết của bệnh thấp tim có ý nghĩa quan trọng trong quá trình điều trị bệnh. Một số triệu chứng của bệnh thấp tim như sau:

–         Viêm khớp: Với bệnh nhân thấp tim, viêm khớp là triệu chứng thường gặp nhất. Bệnh nhân bị viêm khớp với các biểu hiện: sưng, nóng đỏ, đau khớp…Viêm khớp thường xuất hiện ở khớp gối, cổ chân, cổ tay…

–         Nốt dưới da: Trên cơ thể bệnh nhân thấp tim thường xuất hiện các nốt cứng, không đau, di động xung quanh các khớp xương hoặc ngay trên khớp xương.

–         Các dấu hiệu viêm tim: Đây là triệu chứng phổ biến của bệnh nhân mắc bệnh thấp tim với khoảng 41 -83% bệnh nhân. Dấu hiệu viêm tim có các dạng: viêm màng ngoài tim, viêm màng trong tim, viêm cơ tim…Các triệu chứng lâm sàng như: tăng nhịp tim, rối loạn nhịp tim…

2. Điều trị và cách phòng tránh bệnh thấp tim

Bệnh thấp tim có dấu hiệu đau ngực, khó thở

Bệnh thấp tim có dấu hiệu đau ngực, khó thở

Bệnh thấp tim sẽ trở nên nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời. Khi đó, bệnh sẽ gây ra những tổn thương van động mạch chủ và dẫn đến suy tim sau thời gian dài, gây tổn thương đến não, thận…

Khi bị bệnh thấp tim cần sử dụng kháng sinh trị viêm liên cầu, tránh tái phát. Bên cạnh đó là sử dụng thuốc chống viêm như: steroid hoặc một corticoid như prednisone để làm giảm đau và viêm ở khớp và ở tim.

Cách tốt nhất để đối phóvới bệnh suy tim là ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh. Xuất phát từ nguyên nhân gây bệnh chính do viêm họng lâu ngày, không chữa trị dứt điểm, bạn cần giữ gìn vệ sinh vòm họng, tránh để tình trạng viêm họng kéo dài.

Ngoài ra, những người mắc bệnh thấp khớp, sốt thấp khớp có khả năng mắc bệnh thấp tim cao, cần phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên để phát hiện bệnh, kịp thời điều trị.

Cùng với đó, bạn có thể chủ động ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh bằng cách khi xác định mắc bệnh thấp tim cần tuân thủ chế độ điều trị dự phòng của bác sĩ: Tiêm kháng sinh dự phòng theo sự chỉ dẫn của bác sĩ trong vòng một tháng,…

Nguồn báo sức khỏe

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ di chuyền bệnh viêm khớp

Những người có xu hướng mắc bệnh viên khớp di mặt truyền đồng thời vừa hút thuốc thì sẽ ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm hơn trong tương lai. Các nhà nghiên cứu cảnh báo.

Mọi người đều biết rằng những người hút thuốc thường có nguy cơ mắc bệnh viên khớp cao và bệnh viên khớp có thể di truyền sang người trong gia đình.

hut-thuoc-la-lam-tang-nguy-co-di-chuyen-benh-viem-khop

Một nhóm người Thuỵ Điển từ viện Karolinska đã cho thấy rằng kết hợp với hai yếu tố rủi ro trên sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh của con người lên đến 15 lần.

Các chuyên gia đã kết luận rằng đối với bệnh viêm khớp và thấp khớp, điều quan trọng là phải từ bỏ thuốc lá, như vậy mới hy vọng bảo vệ được sức khoẻ.

NHƯ BÌNH(Theo BBC)

Đau khớp: càng để lâu nguy cơ càng cao

Sử dụng ánh sáng đỏ có bước sóng thấp và hẹp không chỉ giảm các chứng đau nhức xương khớp mà còn khai thông tắc nghẽn, kích thích làm tăng các chức năng sinh lý của xương khớp một cách tự nhiên.

Đau khớp: càng để lâu nguy cơ càng cao

Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý về xương khớp thường gặp. Phát hiện sớm và chữa trị tích cực, đúng các bệnh sẽ có diễn biến tốt.

Trong số các bệnh lý về xương khớp thì viêm khớp dạng thấp là bệnh thường gặp. Bệnh làm biến dạng các khớp và gây khó khăn đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh.

viemkhop-tay

Diễn tiến của bệnh bắt đầu từ biểu hiện đau, sưng một số khớp nhỏ ở cổ tay, bàn, ngón tay có tính đối xứng và di chuyển từ khớp này qua khớp khác. Ở người trẻ tuổi cũng có thể gặp viêm khớp dạng thấp nhưng chưa biến dạng, về già bị biến dạng thấy rõ ở các khớp bàn tay, ngón tay, cổ tay và thường có tính di truyền. Khi bệnh khởi phát lâu dài, nặng sẽ khó chữa trị, làm giảm khả năng vận động, có nguy cơ bị tàn phế.

Viêm khớp dạng thấp là bệnh mãn tính khó chữa dứt hẳn, việc điều trị dùng thuốc về lâu dài gây khó khăn cho bệnh nhân vì các loại thuốc điều trị viêm khớp tác dụng giảm đau, kháng viêm đi kèm là các tác dụng không mong muốn (phản ứng phụ) như càng uống càng đau, ảnh hưởng xấu đến tim mạch, huyết áp, tiêu hóa, dạ dày… Để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, bệnh nhân cần có sự hiểu biết nhất định về loại thuốc thường dùng và cần sự tư vấn theo dõi của bác sĩ.

Bên cạnh đó, người bệnh phải có lòng kiên trì, kết hợp ứng dụng chế tiết dinh dưỡng và chế độ ăn uống hợp lý, thể dục, hoạt động khớp xương nhẹ nhàng nhất là vào buổi sáng để các khớp xương hoạt động trơn tru, giảm bớt co cứng cơ, tránh hiện tượng dính khớp. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp để phục hồi nhanh hơn.

Đẩy lùi đau khớp không dùng thuốc

Phương pháp chữa bệnh bằng ánh sáng theo cơ chế ánh sáng đỏ có bước sóng thấp và hẹp 940nm (nanometre) của dòng quang phổ có tác dụng điều trị giảm đau các bệnh về khớp như: viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, giảm đau gout (thống phong), cứng cơ khớp của người già, vận động viên tập thể thao nặng, phục hồi khớp bị cứng…

Theo báo sức khỏe

Điều trị viêm khớp dạng thấp nam ngưu tất

 Nam ngưu tất hay còn được gọi là cỏ xước, là loại cây thảo cao khoảng 1m. Rễ nhỏ, cong queo, bé dần từ cổ rễ đến chóp rễ. Lá mọc đối, mép lượn sóng. Hoa nhiều, mọc thành bông dài 20 – 30cm ở ngọn cây. Quả nang, có lá bắc tồn tại thành gai nhọn. Hạt hình trứng dài. Cây mọc hoang khắp nơi trên các bãi cỏ, ven đường đi, bờ bụi… Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là rễ.

Sau khi thu hái rễ rửa sạch, thái nhỏ, dùng tươi, phơi hay sấy khô làm thuốc. Theo y học cổ truyền, nam ngưu tất có vị đắng, chua, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, tác dụng bổ thận, mạnh gân cốt được sử dụng để chữa viêm khớp,  tăng huyết áp, viêm cầu thận, sổ mũi do viêm mũi dị ứng…

dieu-tri-viem-khop-dang-thap-nam-nguu-tat

 Một số bài thuốc thường dùng:

Bài 1: Chữa sổ mũi do viêm mũi dị ứng: Nam ngưu tất 30g, lá diễn, đơn buốt mỗi vị 20g sắc với 400ml nước, còn 100ml. Uống trong ngày, nên uống khi thuốc còn ấm. Dùng trong 5 ngày.

Bài 2: Giảm triệu chứng tiền mạn kinh (nhức đầu, khó ngủ…): Nam ngưu tất 25g, hạt muồng sao 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia 3 lần.

Bài 3: Hỗ trợ điều trị bệnh viêm cầu thận giai đoạn sớm (phù thũng, đái són, đái vàng thẫm,…): Nam ngưu tất 25g, rễ cỏ tranh, mã đề, mộc thông, huyết dụ, lá móng tay, huyền sâm, mỗi vị 10g. Sắc với 600ml nước, còn 200ml, chia uống 2 lần vào buối sáng và trưa sau các bữa ăn. Mỗi liệu trình điều trị 10 ngày. Nghỉ 15 ngày lại tiếp tục sử dụng đơn thuốc này (phải theo chỉ định của thầy thuốc).

Hoặc: Rễ cỏ xước sao vàng 30g, mã đề cả cây 20g, cúc bách nhật cả cây 25g, cỏ mực 20g, sắc ngày uống 1 thang, chia 2 – 3 lần, uống liền trong 10 ngày.

Bài 4: Chữa kinh nguyệt không đều: Nam ngưu tất 20g,  cỏ cú (tứ chế) 16g, ích mẫu 16g, nghệ xanh 16g, rễ gai (gai lá làm bánh) 30g, Tất cả các vị sắc với 700ml nước, còn 200ml, chia 3 lần, uống  liền 10 ngày.

Bài 5: Điều trị viêm khớp dạng thấp: Nam ngưu tất 15g, độc hoạt 12g, tang ký sinh 16g, dây đau xương 16g; tục đoạn, đương quy, thục địa, bạch thược, đảng sâm, tần giao, mỗi vị 10g. Tất cả các vị sắc với 700ml nước, còn 200ml. Uống trong ngày, nên uống khi thuốc còn ấm. Dùng trong 15 ngày. Lưu ý: Không dùng cho người có thai.

Lương y  Hữu Đức

Theo báo công an

Tìm hiểu về chứng viêm

Chứng viêm là một trong những vấn đề sức khỏe ít được mọi người quan tâm. Nhưng nếu không điều trị, bệnh có thể chuyển sang nhiễm trùng, đe dọa sức khỏe của bạn.
Chứng viêm là hiện tượng xảy ra ở tổ chức tế bào, là phản ứng phòng vệ của cơ thể khi cơ thể bị tấn công, kích thích bởi bên ngoài lên cơ thể thông qua phản xạ của hệ thần kinh. Chứng viêm có thể có biểu hiện là sưng, ứ động dịch, phù, xung huyết, mạch ứ đầy máu…

Chứng viêm có thể do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, virus, kí sinh trung gây nên.

Nhiều người cho rằng chứng viêm chỉ xuất hiện ở một thời điểm nhất định nào đó. Tuy nhiên, chứng viêm hay phản ứng của cơ thể với vết thương hay nhiễm trùng lại có liên quan tới các bệnh như viêm khớp, bệnh tim, tiểu đường, thậm chí là ung thư. Vậy bạn phải làm gì để ngăn ngừa chứng viêm?

1. Ăn nhiều hoa quả và rau xanh

tim-hieu-ve-chung-viem

Các sản phẩm chống viêm hoặc các chất hóa học có nguồn gốc thảo dược thường có chứa chất chống oxy hóa. Theo các nhà nghiên cứu khoa học thì các chất chống oxy hóa có khả năng làm giảm nguy cơ của chứng viêm trong cơ thể.

Ví dụ, uống một cốc trà dâu tây mỗi ngày sẽ cung cấp cho bạn 150% lượng vitamin C bạn cần mỗi ngày. Vitamin C cũng là một trong các chất chống oxy hóa có tác dụng phòng ngừa chứng viêm trong cơ thể rất hiệu quả.

2. Không nên ăn nhiều đường

Đường sẽ ảnh hưởng đến tuyến thượng thận – cơ quan kiểm soát căng thẳng trong cơ thể. Do vậy, khi tuyến thượng thận bị suy giảm chức năng hoạt động, khả năng đối phó với căng thẳng của bạn cũng sẽ giảm dần theo thời gian. Đây cũng chính là lý do khiến cơ thể khó chống lại nguy cơ bị viêm bên trong.

Tại sao lại như vậy? Bởi vì khi chúng ta căng thẳng, lượng cortisol trong cơ thể chúng ta sẽ tăng, mà cortisol là một trong những hormone tác động đến chứng viêm trong cơ thể. Lượng cortisol tăng tức là nguy cơ bị viêm cũng tăng lên. Do đó, để cơ thể khỏe mạnh và không mắc phải chứng viêm thì bạn không nên ăn nhiều đường.

3. Uống thuốc đúng liều

Aspirin là thốc chống viêm và uống thuốc này có thể giúp duy trì các tiểu huyết cầu trong máu. Nếu bạn đã được bác sĩ kê cho đơn thuốc có loại thuốc này thì bạn nên uống đều đặn cho đến hết, vì các thuốc đó sẽ giúp bạn giảm tình trạng bị viêm cũng như nguy cơ về bệnh tim mạch.

Nếu uống không đủ liều hoặc bỏ dở giữa chừng, thuốc sẽ không phát huy được tác dụng một cách tốt nhất.

4. Thiền

Cuộc sống bận rộn hiện nay đã đẩy nhiều người vào tình trạng căng thẳng không lối thoát. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng căng thẳng kinh niên có liên quan tới hệ thống miễn dịch của chúng ta. Một khi hệ thống miễn dịch không hoạt động tốt, nguy cơ bị viêm trong cơ thể sẽ tăng lên cao hơn.

Để cân bằng cuộc sống, bạn nên dành 10- 15 phút mỗi ngày để thiền. Bạn cũng có thể đi bộ, tập yoga… bởi chúng đều là những môn rất tốt cho sức khỏe, giúp tăng cường hệ miễn dịch hoạt động tốt.

5. Ngủ đủ giấc

Thiếu ngủ có thể khiến bạn gặp nhiều vấn đề về sức khỏe như tăng cân, bệnh tim mạch và tăng cao tình trạng viêm nhiễm.

Các chứng viêm thường có liên quan đến bệnh tim, đột quỵ, tiểu đường, viêm khớp và lão hóa sớm. Những người ngủ ít hơn 6 tiếng mỗi đêm trong máu có nhiều protein gây viêm nhiễm và C-reactive protein (loại protein có liên quan đến nguy cơ nhồi máu cơ tim). Vì vậy, bạn cần có thời gian ngủ đủ trong ngày.

Theo Trí thức trẻ

Tác dụng phụ của thuốc chữa viêm khớp

Có thể nói diclofenac là thuốc khá phổ biến và quen thuộc trong điều trị các bệnh viêm khớp. Nhưng bên cạnh tác dụng làm giảm viêm, giảm đau khớp thì thuốc lại có thể gây hại đường tiêu hóa cho người sử dụng như gây loét, chảy máu dạ dày, tá tràng (đây là tác dụng phụ cần lưu ý khi dùng thuốc này). Nguyên nhân là do thuốc làm giảm tổng hợp prostaglandin (chất gây viêm) dẫn đến ức chế tạo mucin (chất có tác dụng bảo vệ đường tiêu hóa). Bên cạnh đó, prostaglandin có vai trò duy trì tưới máu thận nên khi ức chế tổng hợp prostaglandin thuốc lại gây viêm thận kẽ, viêm cầu thận, hoại tử nhú và hội chứng thận hư, đặc biệt ở những người bị bệnh thận hoặc suy tim mạn tính. Với những người bệnh này, các thuốc chống viêm không steroid có thể làm tăng suy thận cấp và suy tim cấp.

tac-dung-phu-cua-thuoc-chua-viem-khop

Có một điều cần lưu ý nữa là, người già thường hay mắc các bệnh về xương khớp hơn và lại mắc nhiều bệnh cùng một lúc, vì vậy, việc phải dùng đồng thời nhiều thuốc đôi khi là điều không tránh khỏi. Diclofenac có thể làm tăng hay ức chế tác dụng của các thuốc khác, do vậy không nên dùng diclofenac phối hợp với các thuốc sau: thuốc chống đông theo đường uống và heparin (vì có nguy cơ gây xuất huyết nặng); kháng sinh nhóm quinolon (diclofenac và các thuốc chống viêm không steroid khác có thể làm tăng tác dụng phụ lên hệ thần kinh trung ương của kháng sinh nhóm quinolon, dẫn đến co giật); aspirin hoặc glucocorticoid (vì các thuốc này làm giảm nồng độ diclofenac trong huyết tương và làm tăng nguy cơ cũng như làm tăng nghiêm trọng tổn thương dạ dày – ruột); thuốc trợ tim digoxin (do diclofenac có thể làm tăng nồng độ digoxin trong huyết thanh và kéo dài nửa đời của digoxin. Cần định lượng nồng độ digoxin trong máu và cần giảm liều digoxin nếu dùng đồng thời cả 2 thuốc), dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung (vì có tài liệu cho biết dùng diclofenac làm mất tác dụng tránh thai)…

Hiện nay trong cộng đồng rất nhiều người tự ý hoặc mách bảo nhau mua thuốc này về dùng mỗi khi có dấu hiệu nhức mỏi, sưng đau khớp. Nhiều trường hợp lạm dụng đã dẫn đến các tai biến do thuốc gây ra, hậu quả là chưa khỏi bệnh khớp lại gánh thêm bệnh loét hoặc chảy máu dạ dày do thuốc. Để tránh những hậu quả trên, người bệnh cần đi khám, dùng thuốc với sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa.

DS. Hoàng Thu Thủy

Nguồn sức khỏe đời sống

Món ăn bài thuốc chữa đau khớp

Viêm khớp có thể do chấn thương, do sử dụng quá mức ổ khớp, do bệnh lý hoặc do tuổi già (lão hóa)… Thường người bệnh có các triệu chứng như: sưng, đỏ, nóng, đau, cứng khớp và giới hạn biên độ hoạt động của khớp.

Có nhiều bệnh lý viêm khớp nhưng thường thấy là thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp… Với người viêm khớp cần giảm cân (nếu đang dư cân) vì dư cân khiến tăng lực chịu đựng lên các khớp, nhất là với những bệnh nhân thoái hóa khớp. Bỏ thuốc lá cũng là một yêu cầu đối với bệnh nhân viêm khớp. Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ tăng bệnh viêm khớp dạng thấp gấp hai lần người không hút.

Dưới đây là một số món ăn, bài thuốc dùng cho người viêm khớp, viêm đa khớp. Cần tham khảo ý kiến nhà chuyên môn trước khi dùng.

dau-khop

Món ăn

– Lươn tẩm rượu, sấy: Chọn lươn con lớn, cùng một ít rượu. Lươn làm sạch, bỏ ruột, cho rượu vào lươn đảo đều, sau đó sấy khô, tán nhỏ thành bột cất đi sử dụng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 15g trộn với 2 thìa canh rượu để dùng.

– Dùng xương bò 60g, sừng linh dương 60g, thược dược phiến 60g, rượu trắng 100g. Xương bò tán nhỏ, rồi cùng các vị thuốc trên cho vào trong túi vải để ngâm trong rượu trắng sau 10 ngày lấy ra uống. Ngày uống 1 lần, mỗi lần một cốc 30 ml.

– Lộc nhung, câu kỷ tử: Dùng 5g lộc nhung (nhung hươu), câu kỷ tử 20g, rượu trắng 1 lít. Cho nhung hươu và câu kỷ tử vào rượu trắng ngâm trong bình đậy kín nắp, sau một tuần là sử dụng được. Mỗi ngày uống 1 lần, mỗi lần độ 30 – 40 ml, cứ 15 ngày là một liệu trình.

– Dùng một ít đu đủ, mễ nhân sống 30g, hai thứ rửa sạch cho vào nồi nhỏ, đổ vào một chén nước, để nhỏ lửa nấu khi thấy mễ nhân chín mềm thì cho vào một ít đường trắng. Dùng một thời gian dài.

– Dùng nửa kg thịt dê, 200g cà rốt, các gia vị vừa đủ. Cà rốt và thịt dê rửa sạch thái miếng, thịt dê đem ướp gừng tươi, rồi xào trong chảo dầu nóng độ 5 phút, sau đó cho vào chút rượu, nước tương, gia vị và nước vừa đủ, nấu đến chín mềm. Sau đó lại cho vào nồi đất cùng vỏ quýt và 3 chén nước, nấu với lửa lớn đến sôi thì hạ nhỏ lửa, nấu đến khi thật nhừ, lấy ra dùng kèm trong bữa cơm.

Bài thuốc

Bài thuốc gồm các vị: hi thiêm thảo 30g, hải đồng bi 30g, nhẫn đông đằng 30g, tang chi (cành dâu tằm) 30g, kê huyết đằng 15g, tần giao 10g, tri mẫu 10g, cát căn 10g, sinh ý mễ 30g, phòng kỷ 10g. Cho tất cả vào nồi cùng nước vừa đủ, nấu sôi 20 phút, rồi sắc lại còn 300 ml, chia làm hai lần dùng trong ngày, uống lúc còn nóng ấm.

Hoặc dùng bài thuốc gồm: sinh toàn yết 60g, tam thất 30g, địa long 90g, sinh hắc đậu 60g hạt, xuyên ô 15g, xạ hương 3g (nghiền nhỏ, bỏ vào sau). Tất cả nghiền thành bột mịn dùng hồ gạo làm thành viên hoàn to bằng hạt đậu xanh, mỗi ngày uống 2 lần (sáng, chiều) mỗi lần 7 đến 10 viên hoàn, dùng với nước ấm.

( Theo Thanhnien.com.vn)

Nguy cơ ung thư từ bệnh viêm khớp

Khi bị viêm khớp dạng thấp, người bệnh có thể mắc phải một số loại ung thư, tùy thuộc vào các loại thuốc viêm khớp dạng thấp mà bạn đang sử dụng.
Ung thư phổi: Người hút thuốc lá có nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp cao. Dù tỉ lệ bị ung thư phổi thấp hơn những người hút thuốc nhưng những người bị viêm khớp mà không hút thuốc cũng có nguy cơ bị ung thư phổi do viêm khớp dạng thấp có thể gây viêm phổi.

Do vậy, nếu đang hút thuốc, bạn nên bỏ thuốc lá ngay lập tức. Những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp bị các bệnh về  phổi nên tránh thuốc methotrexate hoặc leflunomide vì chúng sẽ làm phổi ngày càng yếu.

Ung thư da: Nghiên cứu chỉ ra rằng khối u hắc tố ác tính, một loại ung thư da nguy hiểm nhất có khả năng xuất hiện ở những người thường sử dụng chất ức chế hoại tử khối u (TNF inhibitor), do những loại thuốc này sẽ kìm hãm chức năng của hệ miễn dịch.

benh-ung-thu-nguy-hiem-de-gap-o-nguoi-bi-viem-khop

Một nghiên cứu vào năm 2007 tìm ra rằng những người mắc viêm khớp dạng thấp mà sử dụng các chất ức chế TNF này sẽ tăng gấp đôi nguy cơ mắc ung thư da hắc tố. Ngoài ra, những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cũng có nguy cơ cao mắc các loại ung thư da khác có thể chữa trị được.

Ung thư tủy: Ung thư tủy là loại ung thư hiếm gặp. Theo nghiên cứu năm 2008, những bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp tăng 17% nguy cơ mắc bệnh này. Điều này được giải thích do những bệnh nhân bị chứng bệnh này trong thời gian dài sẽ sản xuất quá mức các loại protein kháng thể trong máu (gây hội chứng tăng globulin huyết).

Ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin và bệnh hodgkin: Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ 2 loại bệnh trên. Nghiên cứu năm 2003 trên 76.000 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp Thụy Điển cho thấy: nguy cơ mắc ung thư hệ bạch huyết cao gấp 2-3 lần so với những người bình thường. Điều này có thể là do hệ miễn dịch bị kích thích mãn, thường xảy ra ở những bệnh nhân bị viêm khớp nặng trong thời gian dài mà  không có sự kiểm soát kịp thời và đúng hướng.

Ung thư hệ bạch huyết liên quan đến chất ức chế TNF: Những người sử dụng Humira, một loại chất ức chế TNF điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp sẽ tăng nguy cơ phát triển ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin hiếm gặp và nguy hiểm.

Bệnh bạch cầu: Một nghiên cứu trên khoảng 12.000 nam giới và 35.000 nữ giới cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu ở những nam giới mắc chứng viêm khớp dạng thấp cao hơn so với người bình thường. Trong khi ở phụ nữ lại không đáng kể.

Mối liên quan giữa bệnh bạch cầu và viêm khớp dạng thấp là khá hiếm và đây cũng là biến chứng liên quan đến các liệu pháp ức chế miễn dịch như Cytoxan và Azasan dùng để chữa trị viêm khớp dạng thấp. Methotrexate cũng làm tăng tỷ lệ mắc phải bệnh bạch cầu.

Ung thư vú và ung thư đại trực tràng: Trái với những loại ung thư trên, những bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp sẽ có nguy cơ thấp mắc hai loại ung thư này. Nghiên cứu năm 2008 ước tính những người mắc viêm khớp dạng thấp giảm 16% mắc ung thư vú và giảm 23% ung thư đại trực tràng. Điều này là do nhiều bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp thường uống thuốc kháng viêm.

Ung thư tuyến tiền liệt: Việc sử dụng dài kỳ thuốc chống viêm không steroid (NSAID) có thể giảm nguy cơ tử vong ở nam giới bị viêm khớp dạng thấp mà mắc ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu trên gần 100.000 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt Thụy Điển cho thấy, nguy cơ tử vong giảm 2% so với những người bình thường. Tỷ lệ tử vong cũng giảm đến 6 lần ở bệnh nhân có kèm viêm khớp dạng thấp.

Theo Afamily

Những bệnh liên quan đến việc đánh răng

Lười đánh răng, đánh răng chưa sạch không chỉ gây nên chứng bệnh hôi miệng, viêm nướu mà nó còn phát sinh thêm nhiều chứng bệnh khác…

1. Khó khăn trong thụ thai

Các nhà nghiên cứu người Australia phát hiện thấy, vi khuẩn trong răng miệng có thể dẫn đến viêm nhiễm tử cung, khiến việc thụ thai muộn so với dự định của bạn khoảng hai tháng. Bệnh đau răng cũng có liên can mật thiết tới việc đẻ non.

danh-rang

2. Viêm khớp

Tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp của người bị bệnh răng miệng cao hơn những người khỏe mạnh khác gấp 8 lần.

3. Viêm phế quản

Một nghiên cứu mới cho biết, bệnh răng miệng và nhiễm trùng đường hô hấp có liên quan mật thiết với nhau. Những người vốn bị viêm phế quản, nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh răng miệng sẽ càng nghiêm trọng hơn.

4. Rối loạn chức năng cương dương

Thông qua một thí nghiệm khoa học áp dụng với 70 người đàn ông Ấn Độ, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng những người đàn ông có hàm răng không khỏe mạnh cũng là đối tượng khiến cho rối loạn chức năng cương dương (ED) nặng hơn. Các nhà khoa học cho rằng, bệnh răng miệng dẫn đến thiếu oxit nitric cần thiết trong máu, máu cung cấp cho dương vật sẽ không đủ và gây chứng ED.
5. Chứng mất trí

Bệnh răng miệng sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Các nhà nghiên cứu Đại học Columbia phát hiện ra rằng những người 60 tuổi trở lên mắc bệnh răng miệng hoặc rụng nhiều răng sẽ có vấn đề về bộ nhớ hơn những người đồng tuổi.

6. Bệnh tim

Bệnh nha khoa khiến cho nguy cơ trụy tim tăng gấp đôi, một nghiên cứu liên quan đến 1.100 người tại Scotland cho thấy những người đánh răng ít hơn 2 lần một ngày sẽ tăng khả năng mắc bệnh về tim mạch.

7. Bệnh tiểu đường

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Edinburgh dựa trên 7 kết quả nghiên cứu có liên quan cho thấy, điều trị tốt các chứng bệnh nha khoa có thể làm giảm viêm nướu và có lợi trong việc giảm các biến chứng của bệnh tiểu đường như đau mắt.

Theo VNE

Thực phẩm và khả năng chữa bệnh

Từ nhiều thập niên nay, ở các nước phương Tây, với sự phát triển cao về công nghệ sinh học và khoa học, đã sử dụng dinh dưỡng hợp lý làm phương pháp điều trị thay thế. Vậy khi bị bệnh, họ sử dụng thực phẩm như thế nào?

Sốt nặng

Nên ăn sữa chua và mật ong hàng ngày. Mật ong có tỉ lệ glucoza và levuloza cao (65 – 70%) và saccaroza (2 – 3%). Ngoài ra còn có muối vô vơ, các acid hữu cơ khác (formic, acetic, tactric, malic…), các men tiêu hóa như: lipaza, amilaza, invectin, tinh bột, protic, sáp, sắc tố, phấn thơm, phấn hoa nhiều acid amin và các vitamin A, D, E, các muối khoáng khác… Ngoài tác dụng bổ dưỡng cơ thể, mật ong còn được dùng cho bệnh nhân lao, suy dinh dưỡng, kiệt sức, còi xương ở trẻ em. Lòng đỏ trứng gà trộn mật ong có chất kích thích để tăng hồng cầu rất rõ.

Phòng đột qụy

Trà xanh ngăn chặn sự tạo mảng bám (lớp mỡ) trên thành mạch. Trà làm giảm sự thèm ăn nên không làm tăng cân. Trà xanh cũng tốt cho hệ miễn dịch. Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học bang Kansas đã định lượng chất oxy trong trà xanh và phát hiện ra rằng hàm lượng này có hiệu lực gấp 100 lần vitamin C và 25 lần vitamin E trong việc bảo vệ các tế bào, chống lại những tổn thương mà người ta nghĩ có liên quan với bệnh ung thư, bệnh tim và những bệnh khác.

thuc-pham-va-kha-nang-chua-benh

Viêm khớp

Cá hồi, cá ngừ, cá thu và cá mòi giúp ngăn chặn bệnh viêm khớp (trong cá có dầu omega, tốt cho hệ thống miễn dịch).

Rối loạn tiêu hóa

Chuối làm ổn định chứng rối loạn tiêu hóa. Cháo cà rốt có tác dụng trị được tiêu chảy vì nó bù được lượng nước và điện giải mất đi, đồng thời có tác dụng giảm nhu động ruột, hút các chất nhầy và độc tố của vi khuẩn. Nấu cháo (xúp) cà rốt cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên bị tiêu chảy: 1 lít nước cháo loãng, khoảng 400g cà rốt tươi, rửa sạch, cạo vỏ và cho vào nước cháo nấu chín. Cho ăn cháo cà rốt này trong 2 ngày đầu trẻ bị tiêu chảy, mỗi ngày từ 100 – 150ml/kg thể trọng.

Các vấn đề về xương

Dứa có thể ngăn gãy xương hoặc loãng xương nhờ có chứa nguyên tố mangan. Đậu tương và thành phẩm của nó là đậu phụ được nông dân Trung Quốc dùng hàng ngày, cho nên phụ nữ ở những vùng này ít khi bị loãng xương.

Có vấn đề về trí nhớ

Sò giúp cải thiện sức vận hành của trí nhớ nhờ cung cấp lượng kẽm cần thiết. Ngoài ra, nên dùng loại thực phẩm giàu acid omega-3 và DHA vì có tác dụng lên não bộ và hệ thần kinh trung ương, tác dụng bảo vệ tim mạch.

Cá nước lạnh đặc biệt nhiều mỡ và là nguồn phong phú nhất về omega-3. Tuy nhiên, cá nuôi có ít omega-3 hơn so với cá hoang dã, cá hồi sông, cá ngừ, cá tuyết chấm đen, cá thu, cá trích…

Cảm lạnh

Tỏi làm cho đầu bớt nặng, làm giảm lượng cholesterol. Khi cảm thấy bắt đầu đau họng, bạn hãy ăn ngay tỏi, nó sẽ giúp bạn ngăn chặn được viêm họng.

Ho

Tiêu đỏ có chất tương tự với chất có trong siro ho. Dùng tiêu đỏ cũng nên thận trọng vì làm cho dạ dày bị cồn cào.

Y học truyền thống cũng đưa ra lời khuyên với ho ở trẻ em: trẻ ho kèm theo đau họng và chảy nước mũi (không có nhiễm khuẩn hô hấp) thì cho điều trị tại nhà bằng các biện pháp như: xông nước lá, các thuốc ho Đông y, mật ong, húng chanh… không cần dùng thuốc kháng sinh.

Mạch máu bị tắc

Ăn quả bơ. Chất béo đơn không bão hòa trong quả bơ làm giảm lượng cholesterol. Hành được y học coi là “thuốc bổ” của tim. Một nghiên cứu cho thấy, hàng ngày ăn 200g hành củ sống sẽ tránh được sự hình thành những nguy cơ rắc rối ở mạch máu.

Đường huyết không cân bằng

Chất crom trong súp lơ xanh và đậu phộng giúp điều hòa chất insulin và nồng độ đường trong máu.

BS. XUÂN ANH

Theo SKDS

Nguyên nhân và cách điều trị đau quanh vai

Đau vùng quanh vai là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là nguyên nhân tương đối thường gặp.

Hội chứng này là tình trạng khoang giữa mỏm cùng vai và các gân cơ chóp xoay bị thu hẹp, tình trạng này dẫn đến các bệnh lý vùng vai như: viêm túi hoạt dịch, viêm gân, viêm khớp và tổn thương gân cơ chóp xoay.

Chẩn đoán

Khi bị hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai, người bệnh có biểu hiện đau ở khớp vai khi dang tay hay đưa cánh tay ra phía trước. Khi mắc hội chứng này, hầu hết người bệnh đều than phiền về giấc ngủ, vì khi nằm nghiêng qua bên vai đau thì sẽ bị đau nhói làm thức giấc nên mất ngủ và khó ngủ.

nguyen_nhan_va_cach_dieu_tri_dau_quanh_vai

Điều trị đau vai bằng hồng ngoại

Dấu hiệu ban đầu để nhận biết hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là khi cố gắng xoay tay ra phía sau mông thì sẽ xuất hiện cơn đau nhói ở vùng vai. Đây là dấu hiệu chính để xác định hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai. Từ đó trở về sau, các cơn đau trở nên nhiều hơn và nặng hơn làm cho người bệnh không dám cử động vai và có rất nhiều trường hợp dẫn đến khớp vai bị cứng. Ngoài ra, nếu người bệnh bị đau vai không thể tự dang tay được thì có thể gân chóp xoay đã bị rách.

Để giúp xác định hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là dùng hình ảnh X-quang khớp vai. Hình ảnh X-quang giúp tìm các dấu hiệu bất thường của cấu trúc xương hoặc hình ảnh của viêm khớp. Ngoài ra, hình ảnh X-quang còn có thể xác định được tình trạng mỏm cùng hạ thấp hơn so với bình thường làm hẹp khoang dưới mỏm cùng hoặc gai xương nếu có cũng sẽ thấy rõ trên X-quang.

Chụp MRI được chỉ định khi nghi ngờ có tổn thương rách chóp xoay, viêm gân hay bệnh lý ở sụn viền. Đôi khi siêu âm vùng vai cũng cho thấy được hình ảnh rách chóp xoay.

Hiện nay các bác sĩ chuyên khoa dùng nghiệm pháp “tiêm một lượng thuốc tê nhất định vào khoang dưới mỏm cùng, nếu người bệnh đỡ đau ngay thì nguyên nhân gây đau vai là do hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai” và đây cũng là nghiệm pháp dùng để loại trừ các bệnh lý khác ở vùng cổ gây đau ở khớp vai.

Các động tác của khớp vai, nhất là động tác đưa tay quá đầu được thực hiện bởi 2 nhóm cơ chính là cơ delta và nhóm các cơ chóp xoay. Khi thực hiện động tác dạng cánh tay quá đầu, các cơ này trượt trong khoang dưới mỏm cùng vai mà khoang này lại nằm dưới mỏm cùng vai và trong khoang thì có gân chóp xoay và các túi hoạt dịch để bôi trơn khi gân cơ chóp xoay di chuyển. Nguyên nhân gây hẹp khoang này thường gặp trong thoái hoá hoặc chấn thương làm cho gân cơ chóp xoay và các túi hoạt dịch bị chèn ép, từ đó sẽ dẫn đến viêm túi hoạt dịch, viêm gân chóp xoay, cũng có thể dẫn đến rách chóp xoay.

Các nguyên nhân dẫn đến hẹp khoang dưới mỏm cùng vai có thể là chấn thương, các động tác lặp đi lặp lại như những người chơi các môn thể thao phải đưa tay quá đầu như bóng chuyền, bóng rổ… hoặc người lao động thường xuyên phải có các động tác dang tay quá đầu như khuân vác, nâng vật nặng lên cao. Một nguyên nhân khác cũng tương đối thường gặp là sự hình thành các chồi xương trong tổn thương của bệnh lý thoái hóa.

Điều trị ra sao?

Điều trị nội khoa:

Giai đoạn đầu của liệu trình điều trị sẽ là dùng các loại thuốc kháng viêm, giảm đau thông thường kết hợp với các phương pháp như: nghỉ ngơi, chườm lạnh… và phải được theo dõi đánh giá mức độ đáp ứng với điều trị, trong một số trường hợp có thể sử dụng các phương pháp khác như siêu âm sóng cao tần chiếu tia hồng ngoại để tăng cường lượng máu tới các mô ở khớp vai và khi có đáp ứng tốt với điều trị thì sẽ thực hiện các bài tập vật lý trị liệu.

Phẫu thuật:

Phẫu thuật được chỉ định khi không có cải thiện nào sau 6 tháng đến 1 năm điều trị nội khoa bảo tồn. Mục tiêu của phẫu thuật là nhằm làm rộng khoảng cách giữa mỏm cùng và gân chóp xoay bằng cách làm sạch các tổn thương thoái hóa, các chồi xương và một phần của mỏm cùng vai. Nếu có tổn thương rách chóp xoay có thể sẽ được phục hồi.

nguyen_nhan_va_cach_dieu_tri_dau_quanh_vai2

Phẫu thuật khớp vai bằng nội soi

Có hai phương pháp hiện đang được sử dụng là mổ hở và mổ nội soi, cả hai phương pháp đều có thể sửa chữa các tổn thương và làm giảm áp lực đè ép lên túi hoạt dịch và chóp xoay.

Sau mổ, cánh tay sẽ được treo hay mang nẹp để bất động. Tuy nhiên, phải tiến hành tập vật lý trị liệu nhằm tránh cứng khớp và hạn chế phù nề sau mổ. Bên cạnh đó, việc chườm lạnh sau mổ cũng cần chú trọng vì nó giúp co mạch máu làm hạn chế phản ứng viêm sau mổ, tiếp đến giai đoạn sau là tập vật lý trị liệu để làm mạnh gân cơ chóp xoay dưới sự hướng dẫn của kỹ thuật viên vật lý trị liệu.

Điều trị phục hồi chức năng:

Điều trị phục hồi chức năng có vai trò rất quan trọng, không chỉ trong các trường hợp không phẫu thuật mà ngay cả trong trường hợp sau phẫu thuật. Phục hồi chức năng nhằm mục đích tránh teo cơ và cứng khớp, đồng thời phục hồi sức mạnh của các cơ sau một thời gian bị bệnh.

Phục hồi chức năng của khớp vai sẽ bắt đầu bằng những bài tập vận động thụ động kéo dài trong vài tuần. Sau đó là những bài tập chủ động có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, tùy thuộc việc có thực hiện phẫu thuật tạo hình lại gân chóp xoay hay không.

Tuy nhiên, nếu tổn thương của chóp xoay lớn hoặc bệnh diễn biến quá lâu, tình trạng cơ yếu kéo dài thì việc phục hồi chức năng có thể chỉ cải thiện một phần thì người bệnh phải tập để thay đổi thói quen sử dụng cánh tay bị tổn thương.

BS. HỒ VĂN CƯNG
Theo SKĐS

Bị đau quanh vai: Chữa thế nào?

Đau vùng quanh vai là triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây nên trong đó hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là nguyên nhân tương đối thường gặp, đặc biệt ở bệnh nhân tuổi trung niên và quan trọng hơn là có thể điều trị có hiệu quả. Hội chứng này là tình trạng khoang giữa mỏm cùng vai và các gân cơ chóp xoay bị thu hẹp, tình trạng này dẫn đến các bệnh lý vùng vai như: viêm túi hoạt dịch, viêm gân, viêm khớp và tổn thương gân cơ chóp xoay.

Triệu chứng của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai

Khi bị hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai, bệnh nhân có biểu hiện đau ở khớp vai khi dang tay hay đưa trước cánh tay. Hầu hết bệnh nhân than phiền bị khó ngủ do bị đau khi nằm nghiêng qua bên vai bị đau. Khi có cơn đau chói xuất hiện khi cố gắng xoay tay ra túi quần phía sau là dấu hiệu khá rõ ràng của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai. Dần dần các cơn đau trở nên nặng hơn, bệnh nhân không dám cử động vai dẫn đến khớp vai bị cứng. Nếu vai trở nên yếu và bệnh nhân không thể tự dang tay được thì có thể gân chóp xoay đã bị rách.

bi_dau_quanh_vai_chua_the_nao

Chụp Xquang khớp vai là cần thiết để tìm các dấu hiệu bất thường của cấu trúc xương hay viêm khớp. Một số người có tình trạng mỏm cùng hạ thấp hơn so với bình thường làm hẹp khoang dưới mỏm cùng được xác định trên Xquang. Gai xương nếu có cũng sẽ thấy rõ trên Xquang.

Chụp MRI được chỉ định khi nghi ngờ có tổn thương rách chóp xoay, viêm gân hay bệnh lý ở sụn viền. Đôi khi siêu âm vùng vai cũng cho thấy được hình ảnh rách chóp xoay.

Một nghiệm pháp được sử dụng nhằm loại trừ các bệnh lý ở vùng cổ gây đau ở khớp vai: tiêm một lượng thuốc tê nhất định vào khoang dưới mỏm cùng, nếu bệnh nhân đỡ đau ngay thì nguyên nhân gây đau vai là do hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai.

Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai, do đâu?

Các động tác của khớp vai, đặc biệt là động tác đưa tay quá đầu được thực hiện bởi 2 nhóm cơ chính là: cơ delta và nhóm các cơ chóp xoay (gồm có 4 cơ là cơ trên gai, cơ dưới gai, cơ dưới vai và cơ tròn bé). Nhóm các cơ chóp xoay hợp với nhau tạo thành một gân rất chắc bám vào đầu trên xương cánh tay gọi là gân cơ chóp xoay. Khi thực hiện động tác dạng cánh tay quá đầu, các cơ này trượt trong khoang dưới mỏm cùng vai. Khoang này nằm dưới mỏm cùng vai, trong khoang có gân chóp xoay và các túi hoạt dịch có tác dụng bôi trơn khi gân cơ chóp xoay di chuyển. Khi khoang này bị hẹp lại, thường do nguyên nhân thoái hoá hoặc chấn thương, gân cơ chóp xoay và các túi hoạt dịch bị chèn ép, từ đó sẽ dẫn đến viêm túi hoạt dịch, viêm gân chóp xoay. Nặng hơn sẽ dẫn đến rách chóp xoay.

Các nguyên nhân dẫn đến hẹp khoang dưới mỏm cùng vai có thể là chấn thương, các động tác lặp đi lặp lại (thường gặp ở những người chơi các môn thể thao phải đưa tay quá đầu hoặc người lao động thường xuyên phải có các động tác dang tay quá đầu). Một nguyên nhân khác cũng tương đối thường gặp là sự hình thành các chồi xương trong tổn thương của bệnh lý thoái hoá.

Khi nào cần phải phẫu thuật?

Giai đoạn đầu điều trị sẽ là điều trị giảm đau, kháng viêm. Các phương pháp thường sử dụng là nghỉ ngơi, chườm đá phối hợp với thuốc kháng viêm như aspirin, naproxen, diclofenac… Bác sĩ sẽ theo dõi đáp ứng của bệnh nhân, trong một số trường hợp có thể sử dụng các phương pháp như siêu âm, chiếu tia hồng ngoại để tăng cường lượng máu tới các mô ở khớp vai. Khi bệnh nhân đỡ đau sẽ tiến hành các bài tập vật lý trị liệu.

Nếu các biện pháp trên không mang lại hiệu quả, bác sĩ có thể tiêm steroid trực tiếp vào khoang dưới mỏm cùng. Tuy nhiên steroid có thể gây đứt gân cũng như các tác dụng phụ về lâu dài nên nó không phải là phương pháp điều trị lâu dài cho hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai cũng như các bệnh lý khác ở vùng khớp vai.

Phẫu thuật được chỉ định khi không có cải thiện nào sau 6 tháng đến 1 năm điều trị bảo tồn.  Có hai phương pháp hiện đang được sử dụng là mổ mở và mổ nội soi, cả hai phương pháp đều có thể sửa chữa các tổn thương và làm giảm áp lực đè ép lên túi hoạt dịch và chóp xoay. Ngày nay, phẫu thuật với kỹ thuật nội soi phổ biến hơn do những ưu việt trong việc cải thiện các triệu chứng đau và tính thẩm mỹ. Mục tiêu của phẫu thuật là nhằm làm rộng khoảng cách giữa mỏm cùng và gân chóp xoay bằng cách làm sạch các tổn thương thoái hoá, các chồi xương và một phần của mỏm cùng vai. Nếu có tổn thương rách chóp xoay có thể sẽ được phục hồi đồng thời. Sau mổ cánh tay sẽ được treo hay mang nẹp để bất động. Hầu hết các trường hợp sẽ được tập vật lý trị liệu nhằm tránh cứng khớp, hạn chế phù nề sau mổ. Chườm lạnh sau mổ giúp co mạch máu làm hạn chế phản ứng viêm đau sau mổ. Giai đoạn sau là tập mạnh gân cơ chóp xoay. Cần tập phục hồi chức năng theo sự hướng dẫn của kỹ thuật viên vật lý trị liệu.

Điều trị phục hồi chức năng

Điều trị phục hồi chức năng đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ trong các trường hợp không phẫu thuật mà ngay cả trong trường hợp sau phẫu thuật. Phục hồi chức năng nhằm mục đích tránh teo cơ và cứng khớp đồng thời phục hồi sức mạnh của các cơ sau một thời gian bị bệnh đã bị kém đi. Đối với phục hồi chức năng khớp vai, quá trình này sẽ diễn ra rất chậm, bắt đầu là những bài tập vận động thụ động kéo dài trong vài tuần, sau đó mới là những bài tập chủ động. Quá trình tập này có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng tuỳ theo việc có thực hiện phẫu thuật tạo hình lại gân chóp xoay hay không.

Trong một số trường hợp, tổn thương của chóp xoay lớn hoặc là diễn biến đã lâu, tình trạng cơ yếu kéo dài, việc phục hồi chức năng có thể chỉ cải thiện một phần, đôi khi bệnh nhân phải tập để thay đổi thói quen sử dụng cánh tay bị tổn thương.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Thực đơn trong phòng chống viêm khớp

Viêm khớp là bệnh có biểu hiện các khớp bị sưng, đau và hạn chế hoạt động. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có nguyên nhân từ thức ăn: có những loại thức ăn làm cho bệnh tăng nặng và ngược lại cũng có nhiều loại thực phẩm giúp cho bệnh giảm nhẹ. Vì vậy khi biết dùng những thực phẩm hợp lý sẽ giúp bạn phòng và chữa bệnh viêm khớp hiệu quả.

Những dạng viêm khớp thường gặp

– Bệnh gút hay còn gọi là thống phong, do ăn uống các loại thức ăn có nhiều chất đạm như tim, gan, bầu dục…, uống rượu mạnh, cà phê đặc, trà đậm làm hàm lượng acid uric tăng trong máu. Tổn thương hay gặp ở các khớp ngón chân cái, bàn chân, đầu gối… và thường ở người béo.

– Viêm khớp dạng thấp: là một bệnh tự miễn dịch, hay gặp ở người trẻ nhất là phụ nữ, do phản ứng dị ứng trong cơ thể, chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp ở bàn tay, bàn chân, cổ tay và mắt cá chân.

– Viêm xương khớp: bệnh xuất hiện vào cuối tuổi trung niên, do tiến trình lão hóa của các khớp. Đối với người già trước tuổi thì quá trình viêm xương khớp cũng xảy ra sớm hơn.

– Viêm khớp nhiễm khuẩn: thường xuất hiện sau khi mắc phải một bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh cúm, viêm họng do tụ cầu, liên cầu, nhiễm lậu cầu…

– Viêm đốt sống: bệnh gây viêm các khớp cột sống, gây chèn ép lên các dây thần kinh và phát sinh ra chứng đau ở vùng do dây thần kinh chi phối như:  đau dọc theo cánh tay, đau thần kinh liên sườn, đau ở vùng thắt lưng; đau dây thần kinh hông to (thần kinh toạ) lan xuống mông và phía sau cẳng chân…

– Thoái hóa cột sống, các đốt xương sống bị hư tổn, chèn ép các dây thần kinh nằm giữa các đốt sống và gây đau lưng. Nguyên nhân gây thoái hóa cột sống có thể là do viêm nhiễm, do tư thế lao động, thường xuyên mang vác các vật nặng. Thoái hóa bản thân xương cột sống do chứng loãng xương gây ra, gặp ở người cao tuổi.

Việc điều trị các bệnh viêm khớp phải phối hợp cả dùng thuốc và chế độ luyện tập, dinh dưỡng. Trong đó chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với công tác phòng và chữa bệnh.

Dùng thực phẩm có tác dụng phòng tránh loãng xương 

Canxi là một nguyên tố chính yếu cấu thành xương, mỗi ngày cơ thể cần khoảng 1.200mg canxi. Khi xương chắc khoẻ sẽ chống đỡ tốt với quá trình viêm mà giảm bệnh. Thức ăn chứa nhiều canxi bao gồm: sữa, các sản phẩm từ sữa, các loại rau xanh, các loại thủy hải sản như tôm, cua, các loại cá nhỏ để ăn nguyên xương cũng cung cấp một lượng canxi đáng kể. Đậu nành có hoạt chất genistein được xem như là hormon estrogen thực vật, góp phần quan trọng giúp cho xương chắc khỏe. Vận động và tắm nắng thường xuyên cũng giúp tăng tạo vitamin D giúp hấp thu và chuyển hóa canxi trong cơ thể.

thuc_don_trong_phong_chong_viem_khop

Các loại thực phẩm chứa nhiều omega-3

Thức ăn nào giúp phòng chữa bệnh viêm khớp?

Dùng các thực phẩm giàu acid béo có ích:

– Thứ nhất là acid béo omega-3: chất này có tác dụng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm giảm hẳn các triệu chứng viêm đau khớp. Một vài nghiên cứu cho thấy: nếu bệnh nhân bị viêm khớp được sử dụng dầu cá với liều  từ 2-5g/ngày, kết quả là các khớp tổn thương bớt cứng và giảm đau rõ rệt. Thực phẩm chứa nhiều acid béo omega-3 là cá, đặc biệt là mỡ cá, các loại cá thu, cá ngừ, các trích, cá mòi, cá trống, cá hồi, tôm, cua, tảo, sinh vật phù du…

Nguồn cung cấp chất béo quý này là khá phong phú, nhưng trước khi muốn dùng bạn nên tuân theo lời khuyên của bác sĩ. Bởi bên cạnh những cái lợi do chất omega -3 mang lại, bạn cũng cần biết rằng khi dùng dầu cá liều cao sẽ bị ảnh hưởng đến quá trình đông máu của cơ thể và tương tác có hại với một số loại thuốc chữa bệnh khác.

Ngoài ra omega-3 còn rất hữu ích cho thai phụ, các bà mẹ đang cho con bú, bệnh nhân tim mạch, viêm gan mạn tính, hen phế quản, bệnh thận IgA, bệnh Crohn, người cao tuổi…

– Thứ hai là acid béo omega-6 GLA (acid gamma-linolenic): có tác dụng ức chế sự sản sinh ra chất gây viêm prostaglandin. Nghiên cứu cho thấy khi dùng với liều 1-3g/ngày cho kết quả khả quan đối với bệnh viêm khớp. Omega – 6 có nhiều trong thịt động vật và hầu hết các loại dầu thực vật.

Người ta còn thấy rằng khi ăn nhiều omega-3 (thủy hải sản) thì omega-3 thay thế omega-6 trong cấu trúc màng của tất cả các tế bào (tế bào thần kinh, hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, tế bào nội mạc mạch máu, tế bào gan…). Sự cạnh tranh giữa omega-3 và omega-6 đã làm giảm hẳn các chất trung gian gây viêm, các yếu tố làm khởi phát và gây rối loạn miễn dịch. Một chế độ ăn lý tưởng nhất cho sự phát triển và hoạt động của não, cho tế bào, chức năng miễn dịch và bảo vệ của cơ thể là tỷ lệ acid béo không no omega-3/omega-6 là từ 1-3/1.

Cung cấp đầy đủ các vitamin:

Nhờ tác dụng chống ôxy hóa của các vitamin C, D, E và beta-caroten (tiền vitamin A) có thể giúp phòng tránh được một số dạng viêm khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy: vitamin C và D có khả năng làm giảm bệnh viêm xương khớp, chỉ với liều nhỏ dưới 150mg vitamin C (tương đương lượng sinh tố của 2 ly cam vắt) và 400 đơn vị quốc tế (IU) vitamin D/ngày có khả năng làm chậm hẳn sự tiến triển của bệnh viêm khớp gối. Người ta cũng đã chứng minh các thức ăn chứa nhiều vitamin E có tác dụng giảm đau chống viêm. Chất beta-caroten có nhiều trong cà rốt, cà chua, bí đỏ, rau xanh, các loại trái cây, rau củ có màu đỏ cũng có tác dụng giảm viêm khớp. Do đó bệnh nhân viêm khớp các dạng cần bảo đảm chế độ dinh dưỡng đầy đủ các vitamin nói trên, ăn nhiều rau tươi và trái cây chín sẽ có tác dụng phòng và chữa bệnh hiêu quả mà không độc hại.

BS. Ninh Thanh Tùng
Theo SKĐS

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh (neuropathic arthropathy) là bệnh có những thay đổi về xương, khớp thứ phát do giảm hay mất cảm giác chi phối do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Điển hình trên phim chụp Xquang là tổn thương hủy hoại bề mặt sụn khớp, đặc xương dưới sụn, hẹp khe khớp, biến dạng khớp, trật khớp.

Nguyên nhân của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh có nhiều, hay gặp nhất là do bệnh đái tháo đường, giang mai biến chứng thần kinh (còn có tên là bệnh Tabes dorsalis) và bệnh rỗng tủy xương (Syringomyelia). Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, có tới 15% bệnh  nhân đái tháo đường, 10 – 20% bệnh nhân giang mai và 20 – 25% bệnh nhân rỗng tủy xương có biểu hiện bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh. Ngoài ra triệu chứng bệnh còn gặp trong nhiều bệnh khác như sau chấn thương đặc biệt có chèn ép tủy sống hay tổn thương thần kinh ngoại biên, nhiều bệnh thần kinh di truyền khác, bệnh lý nhiễm khuẩn, do dùng corticoid, nghiện rượu, bệnh phong, hội chứng Raynaud, cường vỏ tuyến thượng thận, bệnh hệ thống như xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, trẻ dị tật bẩm sinh do mẹ dùng thuốc Thalidomide trong thời kỳ mang thai, rối loạn cảm giác cận ung thư…

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh

Bệnh khớp do thần kinh ở giai đoạn muộn

Dấu hiệu bệnh rất đa dạng

Triệu chứng bệnh đa dạng, phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn của bệnh.  Nhìn chung biểu hiện khớp bắt đầu xuất hiện muộn nhiều năm sau các biểu hiện thần kinh của bệnh chính, tuy nhiên lại tiến triển nhanh và hủy khớp chỉ trong vài tháng. Tùy nguyên nhân mà có các vị trí khớp hay gặp khác nhau: do bệnh đái tháo đường các triệu chứng chủ yếu ảnh hưởng tới khớp ở bàn chân và cổ chân; trong bệnh giang mai là khớp gối, háng và cổ chân; trong bệnh rỗng tủy xương ảnh hưởng tới cột sống và chi trên, đặc biệt ở khớp vai và khớp khuỷu. Thông thường biểu hiện ở một khớp (trừ khi ở khớp nhỏ bàn chân có thể ảnh hưởng tới vài khớp), không đối xứng. Triệu chứng khớp ban đầu thường nhẹ, tiến triển âm ỉ, tái phát từng đợt đặc biệt sau những chấn thương nhẹ. Đau khớp xuất hiện ở một phần ba số bệnh nhân nhưng thường là đau ít, nhất là khi so sánh với mức độ tổn thương khớp khá nhiều. Khớp sưng nhẹ, phù nề, sung huyết hoặc xuất huyết quanh khớp, sờ ấm hơn bình thường. Có thể tràn dịch khớp. Khớp có biểu hiện mất vững hoặc bán trật nhẹ. Ở giai đoạn muộn, đau có thể nặng hơn nếu hủy khớp tiến triển nhanh gây trật khớp hoặc có khối máu tụ, mảnh sụn hay xương vỡ nằm trong khớp. Khớp sưng, biến dạng nhiều do màng hoạt dịch khớp dày, do trật khớp hoặc gãy xương. Có thể gặp một số biến chứng kèm theo, đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, như nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn và cốt tủy viêm.

Cách phân biệt với các bệnh khớp khác

Chụp Xquang khớp bị tổn thương: Có thể phát hiện giai đoạn sớm hay muộn của bệnh. Trên Xquang cần chẩn đoán phân biệt bệnh với các bệnh thoái hóa khớp, hoại tử xương, bệnh khớp lắng đọng tinh thể canxi pyrophosphat, bệnh khớp do tiêm corticoid nội khớp, nhiễm khuẩn xương khớp…

Siêu âm khớp: Có thể phát hiện dịch trong khớp, dày màng hoạt dịch, hẹp khe khớp, định hướng cho hút dịch làm xét nghiệm để chẩn đoán những trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính có thể giúp đánh giá tốt hơn tổn thương vỏ xương, mảnh xương chết hay khí ở trong xương.

Chụp cộng hưởng từ, đặc biệt có phối hợp thuốc cản quang, có ích trong phân biệt tổn thương tủy trong bệnh rỗng tủy với các viêm tủy nhiễm khuẩn, viêm đĩa đệm đốt sống nhiễm khuẩn cũng như giúp chẩn đoán một số biến chứng nhiễm khuẩn xương, khớp ở vị trí khác ngoài cột sống.

Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào tiền sử bệnh nhân có bệnh lý tổn thương thần kinh (như đái tháo đường, giang mai, phong, bệnh rỗng tủy…) trước đó nhiều năm, xuất hiện đau, sưng khớp với tiến triển từ từ tăng dần, có sự bất cân xứng giữa mức độ đau với tổn thương khớp, xương. Cần kết hợp với chụp Xquang để khẳng định chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt với các bệnh thoái hóa khớp, bệnh gút, bệnh giả gút (khớp viêm do lắng đọng tinh thể pyrophosphat), viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp do bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến…), viêm khớp phản ứng, hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm. Ví dụ trong giai đoạn sớm của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh, hình ảnh trên Xquang gần tương tự như trong thoái hóa khớp với tam chứng hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương ở rìa khớp. Tuy nhiên tiến triển của bệnh nhanh hơn thoái hóa khớp, không cân xứng giữa mức độ đau khớp với tổn thương trên Xquang: mức độ đau ít hơn trong khi tổn thương trên Xquang nặng hơn. Cần đặc biệt chú ý phân biệt bệnh với bệnh nhiễm khuẩn xương khớp hoặc phát hiện nhiễm khuẩn xương khớp với tư cách là biến chứng kèm theo để có hướng điều trị thích hợp.

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh2

Tổn thương bàn chân ở người bệnh khớp do thần kinh trước và sau phẫu thuật

Bệnh khớp do thần kinh được điều trị như thế nào?

Điều trị nguyên nhân, đặc biệt khi phát hiện sớm, điều trị tích cực bệnh chính có thể làm chậm quá trình tổn thương khớp.

Điều trị bảo tồn: những trường hợp phát hiện sớm cần bất động khớp (bằng giày thiết kế chuyên dụng, bó bột hay dụng cụ nẹp ngoài…), hạn chế tối đa trọng lực cơ thể cũng như các lực ngoại cảnh tác dụng lên khớp tổn thương để bảo vệ khớp khỏi các chấn thương tiếp diễn, qua đó làm chậm tiến trình bệnh. Dùng các thuốc giảm đau, giảm sưng nề khớp cũng như tăng mật độ xương tại chỗ. Phối hợp các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng chống loét do tì đè.

Trường hợp khớp tổn thương biến dạng nặng hay gãy xương có thể cần phải phẫu thuật nẹp vít bên trong xương, lấy bỏ các mảnh dị vật – các canxi hóa trong khớp, làm cứng khớp hay phẫu thuật thay khớp toàn bộ.

Phòng và điều trị các biến chứng, đặc biệt biến chứng nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, nhiễm khuẩn khớp, xương.

ThS. Bùi Hải Bình (Khoa cơ xương khớp – Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Đề phòng những tổn thương khớp gối

Đầu gối rất dễ bị chấn thương vì phải chịu sức nặng cơ thể trong khi lao động, chạy nhảy, đi lại. Động tác chủ yếu của khớp gối là gập và duỗi, còn cử động sang bên hoặc quay thì rất hạn chế. Vì vậy khớp gối dễ bị tổn thương bởi những chấn thương từ hai bên hay từ phía trước hoặc do vặn xoay. Tuy nhiên nếu biết bảo vệ, bạn sẽ có khớp gối chắc khỏe và giữ được vẻ đẹp của hai đầu gối.

de_phong_nhung_ton_thuong_khop_goi_01

Bảo vệ khớp gối

Tổn thương hay gặp ở khớp gối

Đau đầu gối: sau một chấn thương đầu gối bạn bị đau. Có khi người bệnh mô tả là đau buốt “đến tận tim”, hay đau “điếng người”. Dĩ nhiên là bạn phải xoa dầu và uống thuốc mới mong khỏi được sớm.

Lỏng khớp gối: là một chấn thương hay gặp trong thể thao, khi dây chằng chéo trước bị tổn thương, khớp gối sẽ lỏng. Nhưng lúc mới chấn thương, do cơ đùi hỗ trợ nên bạn chưa cảm nhận được bị lỏng gối. Thời gian sau cơ đùi bị teo không còn đủ sức gồng gánh cho dây chằng chéo trước, các dấu hiệu của lỏng gối mới xuất hiện. Bạn sẽ cảm thấy chân bị yếu khi đi lại, khó khăn khi phải đứng trụ bằng chân bị bệnh, đi nhanh trên đường không bằng phẳng dễ bị trẹo gối, cảm giác bất thường khi lên xuống cầu thang, khó điều khiển chân mình như ý muốn.

Trật khớp gối: nếu chấn thương mạnh bạn có thể bị trật khớp gối với các biểu hiện đau, không cử động được khớp gối, biến dạng khớp gối. Tổn thương có thể làm gãy xương, vỡ sụn, rách bao hoạt dịch, đứt rách dây chằng… Khi đó bạn phải điều trị tại bệnh viện bằng cách nắn chỉnh, phẫu thuật phục hồi khớp và dùng thuốc giảm đau, chống viêm.

Viêm khớp: có thể do các nguyên nhân chấn thương, nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn, bệnh tự miễn gây ra. Khớp gối bị sưng, nóng, đỏ đau, hạn chế vận động. Tùy nguyên nhân mà bạn phải điều trị bằng thuốc chống viêm, kháng sinh…

Thoái hóa khớp gối: là tình trạng lão hóa của khớp. Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… Mức độ lão hóa từng người có khác nhau, tùy thuộc điều kiện sống của mỗi người. Ba triệu chứng thường gặp ở bệnh thoái hóa khớp gối là đau khớp, sưng khớp và hạn chế cử động. Điều trị cần dùng các loại thuốc: giảm đau, chống viêm; bổ sung chất nhày cho khớp; thuốc tăng dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin; các thuốc bôi, xoa ngoài; các thuốc bổ gân, xương.

de_phong_nhung_ton_thuong_khop_goi_02

Tổn thương khớp gối trên phim Xquang

Chăm sóc đầu gối

Đầu gối quan trọng đối với sức khỏe và cả thẩm mĩ nên chúng ta cần phải biết cách chăm sóc để bảo vệ “sức khỏe” và vẻ đẹp cho đầu gối. Chúng tôi xin chia sẻ với các bạn những “bí quyết” sau đây:

Do đầu gối chỉ được che phủ bằng một lớp da, thiếu sự bảo vệ của bắp cơ và mỡ, nên không được cung cấp đầy đủ nhiệt trong điều kiện thời tiết lạnh giá của mùa đông. Vì vậy chúng ta cần giữ ấm cho đầu gối bằng cách mặc quần dài với chất liệu vải thun hay cotton dày, đi giầy tất để thường xuyên giữ ấm chân và đầu gối.

Để phòng tránh khớp gối bị xơ cứng, bạn cần thường xuyên tập cử động bằng các động tác như đứng lên, ngồi xuống, xoay tròn khớp gối theo chiều kim đồng hồ và ngược lại để đầu gối được tưới máu nuôi dưỡng đầy đủ, dịch khớp tiết đều đặn, giúp mọi hoạt động được nhịp nhàng. Buổi tối trước khi ngủ bạn có thể tập động tác duỗi gấp gối bằng cách ngồi tựa lưng ghế, kê một cái gối mềm cao chừng 10 – 15cm dưới khoeo chân, tập duỗi thẳng chân rồi lại hạ cẳng chân xuống ở tư thế vuông góc với đùi từ 15 – 20 lần.

Trước khi luyện tập thể dục thể thao hay tập quân sự, bạn nhất thiết phải tập khởi động toàn thân và khớp gối để khi vận động cơ thể nói chung và khớp gối nói riêng được trơn tru, thuận lợi. Bạn không nên đá chân cao một cách đột ngột để tránh tổn thương khớp gối. Trong tập luyện một số môn thể thao dễ gây chấn thương, bạn nên bó khớp gối bằng băng thun để bảo vệ.

Bạn cũng nên tránh các tư thế gây hại cho khớp gối như: tránh ngồi gác chéo chân; bỏ thói quen ngồi xổm vì gập gối quá mức tạo lực ép rất lớn lên mặt sụn khớp và sụn bánh chè, mặt sụn dễ mòn, dập, sẽ thoái hóa sớm. Động tác quỳ gối hay tập cử tạ mà gánh tạ quá thấp cũng gây hại khớp gối nặng hơn ngồi xổm. Khuân vật nặng hay đứng lâu, khớp gối chịu lực không thẳng trục gây đau vùng trước gối và làm cho khớp gối nhanh bị thoái hóa.

Bạn chỉ nên đi giầy dép có đế rộng, độ cao vừa phải, khoảng 3cm. Nếu đi giầy dép cao gót sẽ tăng áp lực lên khớp gối. Tránh thừa cân, vì thừa 1kg thì khớp gối phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần. Nếu bạn bị dị dạng chi dưới như chân chữ O, chữ X cũng cần phẫu thuật chỉnh hình cho trục đầu gối được thẳng.

Khớp gối được tạo thành bởi 3 xương: xương đùi, xương chày và xương bánh chè. Giữa mặt khớp lồi cầu đùi – mâm chày có cấu trúc sụn gọi là sụn chêm. Sụn chêm nằm chêm giữa mặt sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày có tác dụng giảm sóc khi sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày tiếp xúc khi vận động và giữ cho khớp gối được vững vàng. Hệ thống dây chằng bên trong, bên ngoài và hai dây chằng chéo trước và chéo sau nhằm giữ cho khớp gối vững chắc. Dây chằng chéo trước có tác dụng chính là giữ không cho mâm chày trượt ra trước và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau. Dây chằng bên ngoài giúp gối không bị vẹo trong, dây chằng bên trong giúp cho gối không bị vẹo ra ngoài. Toàn bộ khớp gối được bao bọc bởi một lớp màng hoạt dịch có tác dụng tiết ra dịch khớp để bôi trơn trong quá trình vận động.

ThS. Nguyễn Hoàng Lan
Theo SKĐS

Lậu cầu gây viêm khớp

Lậu cầu (Neisseria gonorrhoeae) lây qua đường tình dục gây ra bệnh lậu hoặc nhiễm lậu cầu không có triệu chứng. Bệnh lậu điều trị không dứt điểm sẽ trở thành mạn tính, từ đây gây ra nhiều biến chứng, trong đó viêm khớp do lậu cầu là một biến chứng hay gặp.

lau_cau_gay_viem_khop_01

Song cầu lậu nhìn trên kính hiển vi

Viêm khớp do lậu cầu gặp nhiều ở thành thị hơn là nông thôn. Ngược lại với các bệnh viêm khớp nhiễm khuẩn khác thường gặp ở những người yếu, viêm khớp do lậu cầu lại thường gặp ở người khỏe mạnh. Một vài nghiên cứu cho thấy: bệnh gặp ở nữ gấp 2 – 3 lần so với nam, đặc biệt gặp nhiều trong khi hành kinh và thời kỳ mang thai; bệnh cũng hay gặp ở người đồng tính luyến ái nam; viêm khớp do lậu chiếm 70% nhiễm khuẩn khớp ở người lớn dưới 40 tuổi. Những người có nhiều bạn tình, quan hệ với gái mại dâm mà không sử dụng các biện pháp bảo vệ (dùng bao cao su) đều có nguy cơ nhiễm lậu cầu, trong đó 30 – 50% trường hợp bị viêm khớp.

Biểu hiện lâm sàng

Bệnh bắt đầu bằng những đợt đau nhiều khớp, với tính chất di chuyển ở các khớp cổ tay, gối, cổ chân, khớp khuỷu, kéo dài từ 1 – 4 ngày. Diễn biến tiếp theo của bệnh với  hai khả năng: một là viêm bao hoạt dịch gân hay gọi là hội chứng nhiễm khuẩn do lậu cầu chiếm khoảng 60%; hai là viêm một khớp mủ hay gọi là viêm khớp thực sự do lậu cầu chiếm 40%, thường gặp nhất là khớp gối. Gần nửa bệnh nhân có sốt và gần 1/4 bệnh nhân có triệu chứng ở đường tiết niệu sinh dục. Hầu hết bệnh nhân có tổn thương đặc trưng là có 2 – 10 mụn mủ hoại tử nhỏ ở các chi, nhất là ở gan bàn tay và gan bàn chân.

Hội chứng nhiễm khuẩn do lậu cầu gồm các triệu chứng: sốt, rét run, ban đỏ, mụn mủ như đã nói ở trên và các biểu hiện tại khớp. Tràn dịch khớp với số lượng dịch ít.

Trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn thực sự do lậu cầu, thường viêm một khớp lớn như khớp háng, gối, cổ tay, cổ chân với biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau. Bệnh nhân có sốt cao, rét run.

Xét nghiệm dịch khớp có trên 50.000 bạch cầu/ml. Cấy máu tìm thấy lậu cầu ở 40% bệnh nhân có viêm màng hoạt dịch và gần như không thấy ở bệnh nhân viêm khớp mủ. Cấy bệnh phẩm niệu đạo, trực tràng, họng nên làm ở tất cả bệnh nhân vì kết quả thường dương tính ở những bệnh nhân không có các triệu chứng tại chỗ.

Viêm khớp do lậu cầu cần phân biệt với các bệnh sau đây: hội chứng Reiter cũng gây ra viêm một khớp ở người trẻ, nhưng phân biệt nhờ nuôi cấy âm tính, không đáp ứng với kháng sinh. Bệnh Lyme có tổn thương khớp gối nhưng ít cấp tính hơn, nuôi cấy âm tính, có các ban đặc trưng và có tiền sử bị ve đốt. Để phân biệt với các bệnh: gút, giả gút và viêm khớp nhiễm khuẩn không do lậu… người ta xét nghiệm dịch khớp để phát hiện lậu cầu, trong đó chỉ có bệnh viêm khớp do lậu cầu mới có vi khuẩn lậu.

lau_cau_gay_viem_khop_02

Tổn thương viêm khớp gối do lậu cầu

Điều trị

Mọi trường hợp nghi ngờ viêm khớp do lậu cầu nên nhập viện để chẩn đoán xác định và điều trị kịp thời. Trước khi dùng thuốc kháng sinh cần thực hiện cấy máu, lấy bệnh phẩm đường sinh dục, niệu đạo, họng, lấy dịch khớp làm các xét nghiệm cần thiết. Một nghiên cứu cho thấy khoảng 4 – 5% trong tất cả các chủng lậu cầu sản xuất được men beta-lactamase kháng penicillin và 15 – 20% các chủng lậu cầu có các chuỗi nhiễm sắc thể gây kháng tương đối với penicillin. Do đó nên bắt đầu điều trị bằng ceftriaxon 1g/ngày trong 7 ngày. Các trường hợp viêm khớp không nên tiêm trực tiếp thuốc kháng sinh vào khớp vì tác dụng không những không tốt hơn, ngược lại còn gây ra tình trạng viêm khớp do tinh thể thuốc. Đối với viêm mủ khớp gối do lậu cầu thường chỉ cần dùng kháng sinh phối hợp và tiến hành hút dịch khớp gối là có kết quả tốt, không cần thiết phải nội soi rửa khớp hoặc phẫu thuật mở khớp để điều trị. Thời gian dùng kháng sinh điều trị viêm khớp do lậu cần kéo dài từ 7 – 14 ngày.

Nếu lậu cầu nhạy cảm penicillin có thể dùng amoxicillin uống 1.500mg/ngày chia 3 lần hoặc dùng ciprofloxacin uống 1.000mg/ngày chia 2 lần.

Ngoài ra cần điều trị triệu chứng: dùng thuốc hạ nhiệt giảm đau chống viêm không steroid để giảm đau và hạ sốt cho bệnh nhân. Nâng cao thể trạng bằng vitamin các loại, nhất là vitamin C. Tăng cường dinh dưỡng bằng chế độ ăn giàu chất bổ như thịt, cá, trứng, sữa, rau xanh và trái cây chín.

Phòng bệnh

Hiện nay chưa có vaccin phòng lậu cầu nên cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh sau đây: sống chung thủy một vợ một chồng; sử dụng bao cao su bảo vệ an toàn trong quan hệ tình dục. Nếu phát hiện viêm niệu đạo do lậu cầu phải điều trị sớm, tích cực ngay từ đầu tránh bệnh tiến triển thành mạn tính. Bệnh nhân cần được tư vấn để họ báo cho bạn tình biết bị mắc bệnh để đi khám và điều trị đồng thời.

ThS. Phạm Nguyễn Hoàng
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Biểu hiện khớp trong các bệnh tự miễn

Bệnh tự miễn dịch là những bệnh mà những tổn thương bệnh lý gây ra do sự đáp ứng miễn dịch chống lại các tổ chức, cơ quan của bản thân mình. Nói cách khác là trong cơ thể người bệnh xuất hiện những tự kháng thể chống lại các thành phần của các bộ phận trong cơ thể gây nên tổn thương ở các bộ phận đó. Ngoài bệnh luput ban đỏ hệ thống, các bệnh khác trong nhóm này bao gồm: xơ cứng bì toàn thể, viêm da và cơ hay viêm đa cơ, viêm nút quanh động mạch. Các bệnh này có những đặc điểm chung là có tổn thương ở rất nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien01

Viêm khớp đối xứng bàn tay trên phim Xquang

Nguyên nhân của bệnh

Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Một số giả thuyết cho rằng có một quá trình nhiễm khuẩn tiềm tàng (vi khuẩn, virut) tác động trên một cơ địa nhất định: bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, trung niên, một số trường hợp bệnh có tính chất gia đình. Trong nhóm bệnh tự miễn (còn gọi là bệnh hệ thống) thì bệnh luput ban đỏ hệ thống là bệnh hay gặp nhất, có biểu hiện vô cùng đa dạng và có thể nhầm với rất nhiều bệnh khác nhau thuộc các chuyên khoa khác nhau.

Những biểu hiện lâm sàng

Rất phong phú từ đau mỏi khớp, đau xương đến viêm khớp, tràn dịch khớp, hoại tử xương… Viêm khớp có đặc điểm gần giống như bệnh viêm khớp dạng thấp như viêm các khớp nhỏ và nhỡ ở bàn tay,bàn chân,viêm khớp mang tính chất đối xứng hai bên… Nhưng bệnh có đặc điểm khác là hầu như không có tổn thương bào mòn đầu xương, dính khớp trên phim Xquang như trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Ngoài các biểu hiện ở khớp, bệnh nhân còn có nhiều triệu chứng của các cơ quan bộ phận khác như tổn thương ở da, niêm mạc (ban cánh bướm ở mặt, ban dạng đĩa ở thân mình, loét niêm mạc miệng mũi, tăng nhạy cảm của da với ánh sáng); tổn thương tim và phổi (tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp, tràn dịch màng phổi, xơ phổi); tổn thương thận (protein niệu, hội chứng thận hư, suy thận); tổn thương tâm thần, thần kinh; tổn thương cơ quan tạo máu (giảm một hay 3 dòng tế bào máu)… Trong bệnh xơ cứng bì toàn thể, ngoài viêm khớp nhỏ và nhỡ còn có các tổn thương xơ cứng da và tổ chức dưới da, co thắt mạch đầu chi (hội chứng Raynaud), nuốt nghẹn, xơ phổi… Các bệnh khác trong nhóm như viêm đa cơ và da và cơ, viêm nút quanh động mạch ít gặp hơn hai bệnh kể trên. Ngoài các xét nghiệm thường quy, người ta phải tiến hành các xét nghiệm về miễn dịch để tìm các kháng thể kháng nhân, kháng histon…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien02

Tràn dịch khớp gối

Tiến triển của bệnh

Rất ít trường hợp bệnh khỏi hẳn. Đa số là bệnh có thể thuyên giảm và ổn định khi tuân thủ tốt chế độ điều trị và phối hợp tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Nếu không điều trị tốt, bệnh nặng dần khi tổn thương các cơ quan quan trọng như thận, não, tim, thần kinh…

Điều trị như thế nào?

Các thuốc có tác dụng ổn định bệnh là các thuốc ức chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphamide, methotrexate; thuốc chống sốt rét tổng hợp, thuốc điều trị triệu chứng như thuốc giảm đau, nâng cao thể trạng… Các thuốc phải dùng kéo dài, có thể suốt đời nên phải có sự hợp tác thật tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân để điều chỉnh thuốc cho thích hợp.

Ngoài dùng thuốc điều trị, người bệnh cần được nghỉ ngơi hợp lý, làm việc nhẹ nhàng, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, bổ sung chất khoáng và sinh tố. Tăng cường vệ sinh răng miệng và phòng các nhiễm khuẩn răng miệng.

Với các bệnh nhân có nhạy cảm da với ánh sáng thì phải đội mũ, đi găng, đeo kính, mặc các quần áo bằng chất liệu chống nắng, dùng các loại kem chống nắng khi buộc phải ra ngoài.  Về sức khỏe sinh sản, các bác sĩ thường khuyên người bệnh chỉ có thể mang thai khi trong 6 tháng trước không có các đợt tiến triển bệnh. Vì bệnh có xu hướng nặng lên khi mang thai do đó khi có thai cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc chuyên khoa.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Bệnh khớp trong mùa rét

Thời tiết lạnh là lý do khiến nhiều bệnh lý cơ xương khớp như viêm khớp, thoái hoá khớp tiến triển. Trời rét kèm theo độ ẩm tăng cao do mưa phùn, gây co các mạch máu ngoại vi làm giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp gây các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng. Xin giới thiệu một số bệnh khớp thường gặp và chịu ảnh hưởng nhiều khi thời tiết giá lạnh.

Bệnh thấp khớp cấp hay còn gọi là bệnh thấp tim, hay gặp ở lứa tuổi học đường, xuất hiện sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn bêta nhóm A. Trẻ có biểu hiện ban đầu như viêm họng, sốt cao. Sau vài tuần kể từ khi bị viêm họng, trẻ có thể xuất hiện các viêm khớp cấp do thấp. Viêm khớp có tính chất xảy ra đột ngột, hay gặp ở các khớp to vừa như khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân, hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng thường khỏi nhanh hơn khi dùng thuốc chống viêm. Trong khi biểu hiện ở khớp thường khỏi nhanh, khỏi hoàn toàn không để lại di chứng thì biểu hiện ở tim thường nặng nề và là biểu hiện nguy hiểm nhất của bệnh. Ngoài các triệu chứng ở khớp, ở tim… trẻ còn có thể có các triệu chứng thần kinh như múa giật, liệt, hôn mê; đau bụng, tiểu ra máu…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_benh_khop_trong_mua_ret

Tắc mạch đầu chi hay gặp trong mùa lạnh

Viêm khớp dạng thấp là bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên, viêm khớp kéo dài với các đợt sưng đau khớp cấp tính, bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, sốt, có thể có các biểu hiện ở các cơ quan khác. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Các khớp thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả hai bên. Ở giai đoạn muộn, thường biểu hiện ở các khớp vai, háng, cột sống cổ. Buổi sáng, khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động. Dấu hiệu này rõ nhất ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như gấp, xoay cổ tay… một hoặc vài tiếng, mới giảm bớt cảm giác cứng khớp. Sau nhiều đợt cấp tính hoặc sưng đau khớp kéo dài (vài tháng hoặc vài năm), các khớp có thể biến dạng: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo, khiến cho chức năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Đau vai gáy, đau thắt lưng, viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương trong chứng bệnh đau cân cơ (fibromyalgia). Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính… Do trời lạnh, các cơ thưòng co lại để sinh nhiệt (rét run), tư thế “so vai, rụt cổ” do các cơ vùng gáy co lại để hạn chế tối đa trao đổi nhiệt với môi trường lạnh xung quanh. Các tư thế này phải duy trì trong thời gian dài làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây mệt và mỏi cơ. Có thể đau một hay hai bên bả vai, hạn chế các động tác của cột sống như cúi, ưỡn, nghiêng… Các triệu chứng hay đi kèm là trạng thái mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ…

Co thắt các mạch máu đầu chi trong hội chứng Raynaud, đây là một biểu hiện hay gặp trong bệnh xơ cứng bì toàn thể. Khi tiếp xúc với lạnh, đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức.  Xơ cứng bì là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể, trong đó thường thấy như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hoá, xơ hoá phổi, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi…

Thoái hoá khớp là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hoá của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi và nhuyễn hoá, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động.  Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm.

Phòng bệnh: Ngoài các biện pháp bảo vệ sức khoẻ chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình, các bệnh nhân mắc các bệnh khớp cần lưu ý là khi trời lạnh, nhất là kèm theo mưa phùn thì phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, đội mũ, đeo găng tay, đi tất, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm nước muối ấm bàn tay, bàn chân, sử dụng túi chườm nóng, lò sưởi, điều hoà nhiệt độ (nếu có điều kiện). Một đặc điểm quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng nhiều loại thuốc kết hợp, duy trì lâu dài, hàng năm, có khi suốt đời.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Viêm khớp dạng thấp – Rất khó nhận diện

Viêm khớp dạng thấp còn có nhiều tên gọi khác về bệnh viêm khớp dạng thấp, như: thấp khớp teo đét, viêm khớp mạn tính tiến triển, thấp khớp mạn tính dính và biến dạng, viêm đa khớp dạng thấp, là bệnh mạn tính, không rõ nguyên nhân, diễn biến kéo dài và thường dẫn đến hậu quả là bệnh nhân bị tàn phế.

Viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, nhưng chủ yếu tấn công vào khớp, gây tình trạng viêm màng hoạt dịch. Viêm màng hoạt dịch là viêm màng lót các khớp và bao gân làm các khớp của bệnh nhân bị sưng, đau, nóng. Viêm khớp có tính chất đối xứng 2 bên, mu bàn tay sưng nhiều hơn lòng bàn tay. Bệnh nhân bị đau nhiều về đêm và gần sáng; có thể có tràn dịch trong khớp gối kèm theo cứng khớp vào buổi sáng sớm sau khi thức dậy hoặc sau một thời gian dài không hoạt động. Cứng khớp vào buổi sáng thường kéo dài hơn một giờ đồng hồ.

viem_khop_dang_thap_rat_kho_nhan_dien

Theo thời gian, nhiều khớp bị tổn thương, phổ biến nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân, cột sống cổ. Các khớp lớn hơn cũng có thể bị ảnh hưởng, như: khớp vai, khớp gối và sự thay đổi tùy theo cơ địa của từng người. Khớp háng, cột sống, khớp hàm, khớp ức đòn cũng có thể bị tổn thương nhưng hiếm gặp và thường xuất hiện muộn. Viêm khớp tiến triển nặng dần dẫn đến dính và biến dạng khớp, bệnh trầm trọng sẽ gây mất chức năng vận động, tàn phế hoàn toàn.

Ngoài ra, bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp còn có thể có biểu hiện toàn thân và ngoài khớp như: sốt nhẹ, gầy sút, mệt mỏi, ăn ngủ kém, thiếu máu, rối loạn thần kinh thực vật, nổi các hạt dưới da, teo cơ rõ rệt vùng quanh khớp tổn thương… Một số ít trường hợp có thể tổn thương cơ tim, màng ngoài tim, viêm màng phổi nhẹ, xơ phổi, hạch to, lách to, loãng xương, gãy xương tự nhiên, viêm các mạch máu nhỏ và trung bình, viêm giác mạc, viêm mống mắt thể mi, chèn ép các dây thần kinh, nhiễm bột ở thận…

Viêm khớp dạng thấp khó chẩn đoán vì không có một xét nghiệm riêng nào dành cho bệnh này. Triệu chứng bệnh có thể giống như các bệnh khớp khác và chỉ có thể nhận biết triệu chứng đầy đủ sau một thời gian bệnh phát triển. Cho đến nay chưa có phương pháp nào có thể điều trị khỏi viêm khớp dạng thấp. Nguyên tắc chung trong điều trị viêm khớp dạng thấp là phải kiên trì, liên tục, có khi suốt cả đời và cần kết hợp nhiều biện pháp: nội khoa, ngoại khoa, vật lý trị liệu, chỉnh hình… Cách điều trị chủ yếu là nhằm mục đích chống hiện tượng viêm ở khớp và các mô khác, làm ngưng hoặc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh, duy trì chức năng của khớp và cơ, phòng ngừa sự biến dạng, sửa chữa tổn thương ở khớp nhằm giảm đau hay phục hồi chức năng. Bệnh nhân cần được bác sĩ chuyên khoa khớp tư vấn, chẩn đoán xác định và chọn lựa phương pháp điều trị thích hợp nhất. Nếu có biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh nên đến bác sĩ sớm để được chẩn đoán, điều trị kịp thời, hạn chế tình trạng viêm khớp nặng thêm hoặc biến chứng nặng có thể xảy ra.

Thạc sĩ Đoàn Thị T. Ngân
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Nhận biết thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp là tình trạng hư hỏng phần sụn, đệm giữa hai đầu xương, kèm theo phản ứng viêm ở đó và giảm sút lượng dịch nhày giúp bôi trơn, vì vậy gây đau và cứng khớp. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở người trên 40 tuổi, nhất là sau 60 tuổi.

Yếu tố thuận lợi gây thoái hóa khớp

Một số yếu tố quan trọng liên quan đến thoái hóa khớp là tuổi tác, tình trạng béo phì, những chấn thương nhẹ và mạn tính ở khớp. Phạm vi thoái hóa khớp bao gồm cả khớp, sụn và cả những tổn thương thoái hóa tại các đĩa liên đốt. Bệnh được đặc trưng bởi sự thoái hóa của sụn và phì đại xương tại các diện khớp. Biểu hiện viêm thường rất nhẹ.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_nhan_biet_thoai_hoa_khop

Bệnh thoái hóa khớp được chia làm 2 loại:

– Thoái hóa khớp tiên phát, chủ yếu xuất hiện ở khớp ngón xa (hạt Heberden) và sau đó là các khớp ngón gần (hạt Bouchard), khớp bàn ngón và khớp ngón gần của ngón tay cái, khớp háng, khớp đầu gối, khớp bàn ngón chân cái, cột sống cổ, cột sống thắt lưng…

– Thoái hóa thứ phát: xuất hiện ở bất kỳ khớp nào, hậu quả của tổn thương khớp do những nguyên nhân tại khớp (như viêm khớp dạng thấp), hay ngoài khớp. Những tổn thương này có thể là cấp tính, chẳng hạn gãy xương, hoặc mạn tính do khớp phải làm việc quá sức, do một số bệnh rối loạn chuyển hóa (ví dụ cường cận giáp trạng, bệnh nhiễm sắc tố sắt, bệnh nhiễm sắc tố ochronose) hay những bệnh lý thần kinh (bệnh tabet).

Về mặt giải phẫu, ban đầu sụn khớp trở nên thô ráp, cuối cùng là mỏng đi và tạo nên các gai xương ở rìa của diện khớp. Màng hoạt dịch dày lên, các hình lông phì đại. Mặc dù vậy khớp không bao giờ bị dính hoàn toàn và màng hoạt dịch không bị kết dính. Biểu hiện viêm rõ đôi khi có một số bệnh nhân bị tổn thương cấp các khớp liên đốt ngón tay (hạt Heberden).

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_nhan_biet_thoai_hoa_khop_02

Các khớp thường bị thoái hóa trên cơ thể.

Chẩn đoán phân biệt

Vì biểu hiện viêm khớp thường rất nhẹ và không có những triệu chứng toàn thân cho nên bệnh thoái hóa khớp rất ít khi nhầm lẫn với bệnh viêm khớp khác. Vị trí tổn thương các khớp ở bàn tay giúp phân biệt thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp. Thoái hóa khớp chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp ngón xa và dạng thấp lại chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp cổ tay và khớp bàn ngón tay, ít gặp ở các khớp ngón xa. Hơn nữa, trong thoái hóa khớp, khớp to ra do phì đại của xương nên thường cứng và mát (không nóng) trái lại khớp sưng trong viêm khớp dạng thấp thường mềm và nóng. Cũng cần phải thận trọng không nên cho rằng mọi triệu chứng ở xương khớp đều do khớp bị thoái hóa, đặc biệt đối với cột sống, bởi vì đi kèm với thoái hóa khớp có thể có di căn ung thư, loãng xương do u tủy xương hoặc những bệnh khác.

Những khớp nào hay bị thoái hóa?

Biểu hiện của thoái hóa khớp

Bệnh khởi phát từ từ, ban đầu có dấu hiệu cứng khớp song hiếm khi kéo dài quá 15 phút. Sau đó xuất hiện đau khớp, tăng lên khi vận động kéo dài và giảm khi nghỉ ngơi. Biến dạng khớp thường không có hoặc rất nhẹ, tuy nhiên đôi khi thấy phì đại xương rõ. Tình trạng co gấp hoặc biến dạng khớp gối, ít gặp. Bệnh không gây dính khớp song thường gây hạn chế vận động khớp, đôi khi người bệnh cảm thấy tiếng lạo xạo trong khớp. Tràn dịch khớp và những biểu hiện viêm khớp khác thường nhẹ. Không có triệu chứng toàn thân.

Xét nghiệm: tốc độ lắng máu không tăng, các xét nghiệm viêm thường bình thường. Trên Xquang có biểu hiện hẹp khe khớp, các rìa của diện khớp thường nhọn, mọc gai ở đầu xương, đặc xương dưới sụn. Ngoài ra có thể thấy các hốc nhỏ ở đầu xương.

Khớp nào cũng có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa khớp háng, khớp gối và khớp cột sống. Hai triệu chứng biểu hiện của thoái hóa khớp là đau tại khớp bị thoái hóa và cứng khớp vào buổi sáng. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

– Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, khi mới ngủ dậy, kéo dài không quá 30 phút. Một thời gian sau, đau lưng sẽ kéo dài cả ngày, tăng khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, thường ảnh hưởng đến thần kinh tọa làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

– Cột sống cổ: Rất hay gặp ở người trên 40 tuổi. Biểu hiện chủ yếu bằng đau cơ hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh khi khám thấy các cử động tại cổ đều bị hạn chế nhất là động tác nghiêng bên. Chụp Xquang tổn thương thường ở đốt cổ 5 và cổ 6, giữa cổ 6 và cổ 7, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

– Khớp gót chân: Bệnh nhân có cảm giác thốn ở gót vào buổi sáng mới ngủ dậy, khi đi những bước đầu tiên, sau vài chục mét thì giảm đau và đi đứng bình thường.

– Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo, lụp cụp khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động; nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối. Trong một số trường hợp màng hoạt dịch có thể bị viêm dày lên, khi ấn vào xương bánh chè đồng thời gấp chân lại, có thể gây đau nhói và một tiếng rắc. Đây cũng chính là biểu hiện chứng tỏ có tổn thường khớp đùi – bánh chè. Thoái hóa khớp gối thường có khuynh hướng nặng lên dần. Do đau nên ảnh hưởng nhiều đến mọi hoạt động.

– Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn do đau ngay từ đầu, vì khớp này gánh trọng lượng cơ thể nhiều nhất. Đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi. Cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi, dễ nhầm với đau dây thần kinh hông to. Đau xuất hiện khi đi, do đó hạn chế việc đi lại biểu hiện bằng việc đi khập khiễng. Nằm nghỉ thì hết đau, những trường hợp thoái hóa khớp nặng, đau cả ban đêm, lúc nghỉ và có thể gặp teo cơ đầu đùi. Bệnh không tự khỏi mà tiến triển từ từ có thể dẫn đến cứng khớp không hoàn toàn.

BS. Nguyễn Thị Lan Anh
Theo SKĐS

Dự phòng bệnh gút tái phát

Gút là một bệnh liên quan rất nhiều đến chế độ ăn uống, sinh hoạt, thường gặp ở nam giới và tuổi trung niên. Tuy bệnh được biết đến từ rất lâu nhưng thực tế việc điều trị bệnh vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là khi gút tái phát.

du_phong_benh_gut_tai_phat_01

Ăn phủ tạng động vật dễ làm bệnh gút tái phát

Bệnh gút dễ tái phát

Bốn nguyên nhân chính gây tăng acid uric máu là: do tăng tổng hợp  purines và tăng cung cấp qua đường ăn uống; tăng dị hoá các acid  nhân nội sinh (tiêu tế bào, dùng thuốc điều trị ung thư); giảm thải trừ acid uric qua thận (suy thận); dùng thuốc: lợi tiểu, pyrazynamid, corticoid, aspirin liều thấp.

Điều trị cơn gút cấp thường không khó nhưng dự phòng tái phát bệnh, tránh những đợt viêm khớp tái phát và ngăn chặn bệnh chuyển sang mạn tính thường không dễ. Rất nhiều bệnh nhân và ngay cả nhiều thầy thuốc chỉ điều trị viêm khớp cấp tính, sau vài ngày hết viêm khớp tưởng đã khỏi nên không có điều trị duy trì tiếp theo. Hậu quả là sau một thời gian ngắn một đợt viêm khớp cấp tính mới lại xuất hiện và bệnh diễn biến nhanh chóng đến gút mạn tính với nhiều biến chứng nặng nề như phá hủy khớp, nổi u cục dưới da (cục tophi), sỏi thận, suy thận… Do đó việc điều trị tốt dự phòng cơn gút tái phát đóng vai trò vô cùng quan trọng nhằm hạn chế tối đa tác hại của bệnh đối với hệ xương khớp và hệ tiết niệu.

Làm thế nào để phòng ngừa bệnh tái phát hiệu quả?

Mục đích của điều trị dự phòng cơn gút tái phát là làm hạ thấp acid uric xuống dưới mức bình thường, bằng cách tác động trên các nguyên nhân gây bệnh kể trên thông qua các biện pháp sau:

Chế độ ăn cho bệnh nhân gút là ăn giảm đạm (100-150g thịt/ngày) ăn giảm kalo, giữ trọng lượng cơ thể ở mức hợp lý. Đảm bảo uống đủ nước để thận có thể lọc tốt (2-2,5l/ngày). Kiềm hoá nước tiểu để tăng đào thải acid uric qua thận bằng các loại nước khoáng có kiềm cao hoặc nước kiềm 14%.

Những thực phẩm không nên ăn: tránh thức ăn giàu purine (phủ tạng động vật như gan, óc, tim, lòng, bầu dục, một số loại nấm, măng tây, tôm, cua, cá béo, cá hộp, thịt bê, đậu hạt các loại…). Có thể ăn trứng, sữa, hoa quả. Bỏ thức uống có cồn  như rượu, bia…

Tránh lao động quá mức, tránh các yếu tố có thể khởi phát cơn gút như chấn thương…

Khi cần phải phẫu thuật hoặc mắc một bệnh toàn thân nào đó, phải chú ý theo dõi sát lượng acid uric máu để điều chỉnh kịp thời.

Cố gắng loại bỏ mọi thuốc có thể làm tăng acid uric máu nếu có thể (corticosteroid, lợi tiểu…) hoặc thay bằng các thuốc khác.

Nếu chế độ ăn đạt hiệu quả, tức là không có các cơn thường xuyên, acid uric máu dưới 60 mg/l (360 mmol/l), không có hạt tophi và tổn thương thận thì ta chỉ cần duy trì chế độ sinh hoạt và ăn uống như trên là đủ. Nếu không, chúng ta phải dùng thêm các thuốc làm giảm acid uric máu.

du_phong_benh_gut_tai_phat_02

Hạt tophi trong bệnh gút ở khớp ngón

Biện pháp dùng thuốc:

Colchicin: Ngoài chỉ định trong điều trị cơn gút cấp, colchicin còn được sử dụng với mục đích dự phòng các cơn gút tái phát. Thuốc không làm thay đổi nồng độ acid uric máu và sử dụng liều thấp (0;5-1 mg/ngày). Cần theo dõi tác dụng phụ (tiêu lỏng…) của thuốc để điều chỉnh hay kết hợp thuốc kịp thời.

Thuốc hạ nồng độ acid uric máu: Các thuốc ức chế tổng hợp acid uric do ức chế men xanthine- oxydase, gây hạ acid uric máu và niệu. Thuốc hay được sử dụng nhất là allopurinol (zyloric) được chỉ định trong mọi trường hợp gút, nhất là trường hợp có tăng acid uric niệu, sỏi thận, suy thận. Song không nên dùng allopurinol ngay trong khi đang có cơn cấp, mà nên đợi khoảng một tháng sau mới bắt đầu. Liều thường dùng tùy theo lượng acid uric máu mà chỉnh liều. Trị liệu này có tác dụng ngăn các cơn gút cấp và làm các hạt tophi, sỏi tiết niệu nhỏ dần và có thể biến mất. Chú ý thuốc hay gây dị ứng và nếu xảy ra thì các tổn thương thường nặng.

Một số thuốc khác như các thuốc tăng thải acid uric qua thận, và ức chế hấp thụ acid uric ở ống thận (benémid, anturan,amplivix…) làm giảm acid uric máu, song làm tăng acid uric niệu, nên có thể gây sỏi thận. Thuốc tiêu acid uric (uricozyme) là enzym uric có tác dụng chuyển acid uric thành allantoine dễ hoà tan. Các thuốc này ít được sử dụng hơn.

Mặc dù là một bệnh rối loạn chuyển hóa đòi hỏi phải điều trị và theo dõi lâu dài nhưng cho kết quả tốt nếu bệnh nhân tuân thủ tốt chế độ sinh hoạt, ăn uống và thầy thuốc sử dụng phối hợp các thuốc một cách hợp lý. Chúng ta có thể hoàn toàn phòng tránh được các biến chứng nặng nề của bệnh.

TS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Nổi lo biến chứng của bệnh gút

Khi mắc bệnh gút acid uric máu tăng và lắng đọng trong màng hoạt dịch khớp gây tổn thương khớp. Ngoài ra acid uric còn có thể lắng đọng ở các cơ quan khác như thận, tổ chức dưới da gây nên sỏi thận và hình thành các hạt tophi. Ở Việt Nam, khi nền kinh tế bắt đầu phát triển, bệnh gút đã trở nên rất phổ biến ở cả thành thị và nông thôn, vươn lên đứng hàng thứ tư  trong 15 bệnh khớp nội trú thường gặp nhất.

Các biến chứng và hậu quả của bệnh gút

Khi bị mắc bệnh mà điều trị không đúng hoặc không được điều trị bệnh để lại những biến chứng, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề, thậm chí tử  vong. Có 4 loại biến chứng của gút. Biến chứng thứ nhất liên quan đến tổn thương xương khớp, là tình trạng hủy hoại khớp, đầu xương, làm bệnh nhân tàn phế. Các hạt tophi bị loét vỡ, khiến vi khuẩn xâm nhập vào trong khớp gây viêm khớp nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết. Biến chứng thứ hai liên quan tổn thương thận: sỏi thận, thận ứ nước ứ mủ, suy thận, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim… Biến chứng thứ ba liên quan đến chẩn đoán nhầm. Thường chẩn đoán nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn và được điều trị bằng rất nhiều loại kháng sinh khác nhau, có nguy cơ dị ứng thuốc kháng sinh, thậm chí có thể gây tử vong. Một chẩn đoán nhầm khác là viêm khớp dạng thấp, từ đó dẫn đến điều trị tràn lan bằng các thuốc chống viêm không steroid, prednisolon, dexamethason, với hậu quả là biến chứng loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp. Biến chứng thứ tư liên quan đến tai biến do dùng thuốc. Ngay cả khi chẩn đoán đúng  thì việc điều trị gút cũng có thể gây nên  tai biến. Các thuốc chống viêm không steroid có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như máu, thận, tiêu hóa, dị ứng.

noi_lo_bien_chung_cua_benh_gut

Tinh thể acid uric lắng đọng trong khớp ngón chân cái

Khó khăn khi điều trị bệnh gút

Có 3 khó khăn chính khi điều trị bệnh gút. Đầu tiên là tác dụng phụ của một số thuốc chữa bệnh gút như colchicin có thể gây tiêu chảy, allopurinol có thể gây dị ứng, các thuốc tăng thải acid uric có thể gây sỏi thận. Thứ hai là cơ địa dị ứng thuốc của bệnh nhân. Có bệnh nhân gút bị dị ứng với  nhiều thuốc chữa gút như colchicin và  allopurinol. Một số trường hợp xảy ra sốc phản vệ, có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời. Thứ ba là sự thiếu tuân thủ điều trị của người bệnh. Bệnh nhân gút thường chỉ dùng thuốc trong đợt cấp rồi bỏ thuốc, dẫn đến bệnh vẫn tiến triển nặng dần. Một số bệnh nhân lạm dụng thuốc corticoid dẫn đến tác dụng phụ đáng tiếc như xuất huyết tiêu hoá, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Nhiều bệnh nhân vẫn tiếp tục ăn nhậu quá mức và sinh hoạt không điều độ, do vậy bệnh vẫn có nguy cơ tái phát. Nói chung những người mắc bệnh gút rất hay bị dị ứng thuốc, do đó cần thận trọng khi sử dụng bất kỳ loại thuốc gì, kể cả thuốc Đông y và Tây y. Tốt nhất là nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa.

Nguyên tắc điều trị bệnh gút

Bệnh nhân gút phải xác định tư tưởng điều trị lâu dài, tránh bỏ thuốc khi bệnh thuyên giảm. Khi đó thì mới có thể giữ bệnh khỏi tái phát trong thời gian dài. Bệnh nhân gút cần tích cực hợp tác với bác sĩ trong việc điều trị, ngăn ngừa biến chứng bệnh bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt và dùng thuốc. Để điều trị có hiệu quả cần thường xuyên kiểm tra acid uric máu và niệu, chức năng thận. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần được chẩn đoán và điều trị các bệnh kèm theo như rối loạn chuyển hoá lipid, đái tháo đường, tăng huyết áp…

Cách phòng tránh bệnh gút

Có thể phòng tránh được bệnh gút bằng việc thực hiện một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh và khoa học. Bệnh nhân cần nhận thức rằng ăn uống  không khoa học là một yếu tố thức đẩy làm xuất hiện bệnh và làm bệnh tái phát, vì vậy cần phải hạn chế ăn nhậu quá mức. Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống đối với bệnh nhân gút là chế độ ăn giảm đạm, giảm mỡ, giảm cân nếu béo phì và uống nhiều nước, đặc biệt là nước khoáng kiềm. Do vậy bệnh nhân gút cần tuân thủ chế độ ăn kiêng. Thứ nhất, lượng thịt ăn hàng ngày không nên quá 150g, đặc biệt cần tránh ăn phủ tạng động vật (lòng lợn, tiết canh, gan, thận, óc, dạ dày, lưỡi…), các loại thịt đỏ (thịt trâu, bò, chó, dê), các loại hải sản (tôm, cua, cá béo). Có thể ăn trứng, sữa, phomat, thịt trắng như  thịt gia cầm,  cá nạc. Thứ hai là nên ăn thêm ngũ cốc, bánh mì trắng. Thứ ba là ăn nhiều rau xanh, cà rốt, bắp cải, đậu phụ, hoa quả. Thứ  tư là cần tránh ăn những thức ăn chua như nem chua, dưa hành muối, canh chua, hoa quả chua, uống nước chanh… vì chính những chất chua lại làm bệnh nặng hơn. Thứ năm là về các đồ uống. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thậm chí cả rượu vang, rượu thuốc.  Bệnh nhân cần tích cực uống nhiều nước, 1,5-2 lít nước mỗi ngày. Đặc biệt là nên uống nước khoáng kiềm để tăng cường thải tiết acid uric qua nước tiểu. Bệnh nhân gút cần có chế độ sinh hoạt điều độ, làm việc nhẹ nhàng, tránh mỏi mệt cả về tinh thần lẫn thể chất như: lạnh, lao động quá sức, chấn thương, stress… Ngoài ra bệnh nhân gút cần tránh dùng một số loại thuốc có thể làm tăng acid uric máu như các thuốc lợi tiểu,  corticoid, aspirin.

TS.BS.Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Gút – vua của các bệnh

Có hàng trăm bệnh liên quan đến xương khớp, trong đó 35 bệnh khớp, 7 bệnh quanh khớp, 21 bệnh nội khoa có biểu hiện khớp, 40 bệnh xương cũng thuộc chuyên khoa khớp học. Các bệnh hay gặp như thoái hóa khớp, viêm khớp, loãng xương, gút… ngày càng có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng lớn tới chất lượng sống của người bệnh, đôi khi gây tàn phế, thậm chí có thể gây tử vong do biến chứng. Tuy nhiên, bệnh có thể phòng tránh và hạn chế biến chứng nếu được điều trị đúng và kịp thời.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_gut_vua_cua_cac_benh

Biểu hiện gút cấp tính ở ngón chân

Gút là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hoá nhân purin của tế bào, có thể hiểu nôm na là rối loạn chuyển hoá đạm, được đặc trưng bởi sự tăng cao quá mức acid uric trong máu và trong các mô của cơ thể. Các tinh thể urat lắng đọng vào màng hoạt dịch của khớp gây nên viêm khớp vi tinh thể với những triệu chứng rất đặc trưng.

Các khó khăn chính gặp phải khi chẩn đoán bệnh gút

Khi bệnh ở thể điển hình thì có thể phát hiện được không mấy khó khăn. Chẩn đoán bệnh hiện nay vẫn dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ 1968. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay chẩn đoán gút còn gặp nhiều khó khăn. Có 3 nguyên nhân chính gây khó khăn cho công tác chẩn đoán. Thứ nhất, đây là bệnh khá mới nên khó khăn trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Nhiều cơ sở y tế lại chưa có khả năng làm các xét nghiệm cần thiết như chọc dịch khớp, xét nghiệm acid uric máu… nên bỏ qua, không chẩn đoán được bệnh. Nguyên nhân thứ hai là bệnh có rất nhiều biểu hiện và nhiều thể bệnh khác nhau, nên dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh khác. Nguyên nhân thứ ba là tình trạng lạm dụng thuốc bừa bãi hiện nay. Bệnh nhân được dùng quá nhiều loại thuốc nên mất hết triệu chứng, khiến chẩn đoán trở nên rất khó khăn. Có nhiều bệnh nhân gút vào viện với các biến chứng nặng nề do lạm dùng thuốc như đái tháo đường, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.

Các hiểu biết giúp chẩn đoán bệnh chính xác

Đối tượng  và lứa tuổi hay mắc bệnh

Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành. Đa số các bệnh nhân gút là nam giới. Nam dễ bị bệnh, có thể do lối sống, chế độ ăn (rượu, bia ) và vấn đề di truyền. Về tuổi: bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi 40-60. Ở nữ giới, bệnh thường xảy ra sau thời kỳ mãn kinh.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_gut_vua_cua_cac_benh02

Biểu hiện gút ở ngón chân

Các biểu hiện chính của bệnh gút

Để phát hiện sớm được bệnh gút cần chú ý đến 3 biểu hiện lâm sàng chính của bệnh. Đó là các tổn thương khớp, xuất hiện hạt tophi và tổn thương thận.  Biểu hiện đặc trưng đầu tiên của bệnh gút là các viêm khớp cấp tính do gút. Cơn xuất hiện đột ngột, thường vào ban đêm. Khớp hay bị tổn thương là các khớp ở chi dưới: gối, cổ chân và đặc biệt là ngón chân cái… Khớp bị tổn thương đau ghê gớm, bỏng rát, đau làm mất ngủ, da trên vùng khớp hay cạnh khớp sưng nề, có màu hồng hoặc đỏ. Thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt 38-38,5oC, có thể kèm rét run. Một đặc điểm nữa là khi uống thuốc colchicine thì bệnh nhân thấy giảm đau khớp nhanh trong vòng 48-72 giờ. Các đợt viêm khớp này có thể tự khỏi sau khoảng 1-2 tuần. Sau đó lại xuất hiện các đợt viêm khớp mới. Khi tiến triển lâu dài thì bệnh chuyển sang giai đoạn mới. Đó là gút mạn tính. Các khớp bị sưng đau thường xuyên, dần dần bị biến dạng, cứng khớp, dẫn đến tàn phế. Biểu hiện thứ hai  của bệnh gút là xuất hiện các hạt tophi ở trên các khớp bị tổn thương như   khớp cổ chân, bàn ngón chân… Đó là các u cục nổi lên dưới da, không đau, da phủ trên đó bình thường, mỏng, dưới da có thể nhìn chất bột trắng. Hạt tophi cũng có thể ở tình trạng viêm cấp, hoặc rò ra chất nhão và trắng như phấn. Biểu hiện thứ ba của bệnh gút là tổn thương thận. Trong gút mạn tính có thể có lắng đọng muối urat trong thận tạo thành sỏi thận. Khi đó bệnh nhân có các cơn đau quặn thận, đái ra máu, đái ra sỏi, hay thậm chí  không có nước tiểu do sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu. Để chẩn đoán chính xác bệnh gút cần làm thêm xét nghiệm định lượng acid uric trong máu. Thường phát hiện được nồng độ acid uric máu tăng cao. Các xét nghiệm khác và Xquang khớp tổn thương cho phép xác định mức độ tổn thương và phát hiện các bệnh khác kèm theo.

Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh

Có hai nhóm nguyên nhân lớn của bệnh gút là gút nguyên phát và gút thứ phát. Gút nguyên phát là thể bệnh gặp nhiều nhất, có tính chất di truyền và mang tính gia đình. Gút thứ phát có nguyên nhân do tăng acid uric máu thứ phát, gây nên bởi một số bệnh như bệnh thận, bệnh máu, do sử dụng một số thuốc, hay do nhiễm độc chì. Có 5 yếu tố  thuận lợi gây bệnh chính. Thứ nhất là yếu tố gia đình. Có tới 30% bệnh nhân gút có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh này. Thứ hai là yếu tố nghề nghiệp. Đa số bệnh nhân là trí thức, thương gia, chủ doanh nghiệp. Vì vậy có câu nói: gút là vua của các bệnh và là bệnh của các vua. Nói là vua của các bệnh vì gút cấp gây đau khớp ghê gớm. Nói bệnh của các vua là vì gút trước hết thường hay gặp ở vua chúa, hay những người giàu có. Thứ ba là tật nghiện bia, rượu. Ở Việt Nam có tới 75% bệnh nhân gút uống rượu bia thường xuyên trung bình từ 7-10 năm. Thứ tư là các rối loạn chuyển hoá khác như tăng acid uric máu, tăng đường máu, tăng mỡ máu. Các nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ người béo phì có nguy cơ mắc bệnh gút gấp 5 lần so với những người có cân nặng bình thường. Tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút lên 3 lần. Thứ năm là tiền sử dùng một số thuốc làm tăng acid uric máu như  thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin, thuốc chống lao.

Tóm lại, khi bệnh nhân đau sưng các khớp ở chi dưới, có các tính chất như cơn gút cấp, hay có các hạt tophi hay bị sỏi thận, đặc biệt ở bệnh nhân nam giới, cần phải nghĩ đến bệnh gút trước tiên và người bệnh cần đến khám bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để  chẩn đoán bệnh và điều trị kịp thời.

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Lao xương có chữa khỏi?

Để phát hiện sớm bệnh lao xương khớp, khi có dấu hiệu nghi ngờ, cần nhanh chóng khám làm xét nghiệm soi vi khuẩn (chọc hút từ vị trí tổn thương) và chụp Xquang (phổi, cột sống hoặc vị trí xương khớp tổn thương). Tùy từng nguyên nhân mà bác sĩ sẽ đưa ra những phương pháp điều trị tối ưu nhất.

lao_xuong_co_chua_khoi

Lao là một bệnh nhiễm khuẩn do một loại trực khuẩn có tên là Mycobacterium tuberculosis gây ra. Một trong những loại bệnh lao hay mắc nhưng dễ bị bỏ qua là lao xương – đó là tình trạng viêm các khớp, xương do lao. Trong hệ xương khớp, cột sống thắt lưng là vị trí tổn thương thường gặp nhất trong bệnh lao xương. Bệnh lao xương khớp thường xảy ra ở độ tuổi 20 – 40. Yếu tố nhiễm bệnh từ mối quan hệ với người bệnh, nhất là lao phổi, lao hạch, lao thận, bàng quang… Vi khuẩn từ vị trí tổn thương, theo máu di chuyển đến các khớp xương còn là hậu quả của bệnh lao hạch cổ, còn gọi là bệnh tràng hạt. Triệu chứng điển hình của bệnh là đau lưng âm ỉ, đau tăng dần và liên tục kèm theo sốt nhẹ về chiều. Có trường hơp ở bên ngoài thắt lưng phát triển khối u, ấn vào thấy mềm, không đau nhức. Một thời gian khối u vỡ, giải phóng nước vàng và chất bã đậu, tạo vết loét gọi là “áp-xe lạnh ngoài cột sống”. Trong đa số trường hợp, cột sống thắt lưng xuất hiện khối u nổi cộm dưới da, hạn chế cử động. Tình trạng này do vi khuẩn tấn công phần trước đốt sống, khiến phần còn lại của đốt sống bị lệch ra ngoài. Do lao xương khớp tiến triển chậm, âm ỉ, người bệnh chủ quan dễ bỏ qua, không được điều trị và phát hiện kịp thời nên gây những biến chứng nghiêm trọng. Đó là: liệt tứ chi do vi khuẩn làm cột sống biến dạng, chèn ép tủy sống và rễ thần kinh, ảnh hưởng đến các cơ quan, phổi, màng não… gây nguy kịch dẫn đến tử vong. Lao xương để lâu không chữa còn có thể dẫn tới xẹp đốt sống gây gù nhọn. Nếu khối áp-xe vỡ vào trung thất thì còn gây chèn ép tim, suy hô hấp, trụy mạch dẫn tới tử vong.

Với tiến bộ của những phương pháp điều trị, bệnh lao xương có thể chữa khỏi hoàn toàn trong 9 – 12 tháng với điều kiện bệnh nhân phải tuân thủ theo chế độ điều trị và dùng thuốc nghiêm ngặt, không để vi khuẩn bị kháng thuốc. Bệnh nhân chủ yếu vẫn là dùng các thuốc chống lao theo đường toàn thân. Cần để khớp nghỉ tương đối ở giai đoạn đầu chừng 4 – 5 tuần bằng cách nằm trên giường cứng, không nên nằm trên đệm mềm, cũng không cần bó bột bất động tuyệt đối như cách điều trị trước đây. Sau đó, phải tập vận động khớp để tránh cứng khớp. Một số trường hợp phải can thiệp ngoại khoa như có ổ áp-xe lớn (cần dẫn lưu mủ, nạo lấy hết xương chết), chèn ép tủy do cột sống gấp khúc, đốt sống xẹp hoặc áp-xe lạnh (cần cắt lá cột sống, dẫn lưu áp-xe).

BS. Hoàng Thanh Hiền
Theo SKĐS