Tag Archives: viêm kết mạc

Cách khác phục dị ứng ở mắt

Dị ứng mắt thường xảy ra trên người có cơ địa dị ứng kèm theo các loại bệnh dị ứng khác của cơ thể. Khi bị dị ứng, mắt của bạn trở nên nhạy cảm quá mức với một số chất, mặc dù có thể những chất đó không phải là tác nhân độc hại. Lúc đó mắt trở nên ngứa đỏ, sợ sáng hoặc có cảm giác có vật lạ ở trong… Đây là triệu chứng thường gặp ở nhiều người, bệnh không chỉ gây khó chịu mà còn ảnh hưởng đến thị lực sau này của người bệnh.

Những năm gần đây sự ô nhiễm môi trường, mất cân bằng dinh dưỡng, tình trạng dùng thuốc, hóa chất, mỹ phẩm bừa bãi… đã khiến các ca dị ứng mắt ngày càng tăng. Kết mạc (dân gian gọi là lòng trắng) có hệ mạch phong phú, là cửa ngõ của mắt, tập trung nhiều tế bào có khả năng miễn dịch cao nên hay bị dị ứng nhất. Tháng 4, 5, 6 là những tháng đỉnh điểm của bệnh bởi lẽ các dị nguyên như phấn hoa, bụi cỏ, nấm mốc sẽ đạt đậm độ cao nhất trong môi trường. Bên cạnh đó là nhiệt độ và độ ẩm dao động mạnh khiến bệnh càng có cơ hội tái phát.

cach-khac-phuc-di-ung-o-mat

Các tổn thương dị ứng mắt thường gặp
Viêm kết mạc dị ứng: Là bệnh thường gặp nhất. Các triệu chứng chủ yếu là ngứa mắt, chảy nước mắt, tăng tiết dử mắt với các đặc điểm: màu trong, dai dính, lỏng như nước cháo, đôi khi đặc quánh; nặng hơn thì phù nề, co quắp mi, sợ ánh sáng. Các thể bệnh đặc biệt trong nhóm này đã được y văn nhắc tới nhiều như viêm kết mạc có nhú khổng lồ ở người mang kính tiếp xúc. Tại mi cũng có thể có các biểu hiện viêm nhiễm song hành.

Viêm giác mạc: Do là một tổ chức vô mạch, được nuôi dưỡng nhờ ôxy và thẩm thấu nên các biểu hiện dị ứng có vẻ âm thầm và hiếm gặp hơn. Các viêm nhiễm của giác mạc thường do dị ứng với những yếu tố nội sinh như: viêm giác mạc kẽ do dị ứng độc tố vi khuẩn lao – xoắn khuẩn giang mai, viêm giác mạc dạng nốt do dị ứng liên cầu, viêm giác mạc sau nhiễm virut herpes, thủy đậu, zona… Hiếm gặp hơn là viêm nhiễm tại củng mạc và thượng củng mạc, trong đó viêm thượng củng mạc dạng nốt cũng được nhiều người cho là do dị ứng.

Viêm bên trong nhãn cầu: Tuy khó có dị nguyên nào lọt vào được nhưng chúng ta vẫn có thể gặp các bệnh lý dị ứng. Điển hình là trong một số bệnh cảnh, chất nhân của thể thủy tinh đã lọt ra ngoài bao của nó và lần đầu tiên tiếp xúc với môi trường bên trong nhãn cầu. Chất nhân thể thủy tinh với bản chất là một dị nguyên nội sinh có thể gây ra những bệnh cảnh nặng nề cho mắt như: viêm màng bồ đào dị ứng chất nhân, glôcôm do thể thủy tinh.

Các viêm nhiễm tại mắt có thể là một phần hoặc đi kèm với các bệnh dị ứng của các hệ cơ quan khác như dị ứng phấn hoa, viêm mũi xoang dị ứng, dị ứng thức ăn, dị ứng thuốc, hen, chàm…

Xử trí thế nào?
Khi bị dị ứng mắt, việc đầu tiên cần làm là rửa mắt bằng nước lạnh, nước muối sinh lý hoặc nước mắt nhân tạo. Chườm lạnh cũng là phương pháp hữu hiệu để giảm phù mi, giảm ngứa và kích thích do làm co mạch và ổn định màng tế bào có chức năng miễn dịch. Bệnh nhân cần tránh day, dụi, xoa, ấn tại mắt. Bác sĩ nhãn khoa có thể cho dùng các thuốc nhỏ mắt thuộc nhóm co mạch, kháng histamin… Các thuốc này sẽ đẩy lui và giúp giảm nhanh các khó chịu tại mắt. Tuy nhiên, cần lưu ý tuân thủ nghiêm ngặt thời gian dùng và liều lượng thuốc, bởi việc dùng tùy tiện hay lạm dụng các thuốc này có thể gây một số biến chứng như bệnh khô mắt, viêm do bội nhiễm nấm – herpes – vi khuẩn. Thuốc kháng histamin đường uống, vitamin C cũng có khi được khuyên dùng tùy theo bệnh cảnh. Các sản phẩm có corticoid không nên dùng liên tục hay kéo dài, thêm nữa phải luôn thận trọng với các biến chứng như: glôcôm, đục thể thuỷ tinh

Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc, người bệnh cần phát hiện dị nguyên gây dị ứng để tránh tiếp xúc. Kính đeo các dạng tuy không ngăn cản triệt để được dị nguyên xâm nhập vào mắt, nhưng cũng giúp giảm đáng kể nguy cơ bị dị ứng và làm dịu các khó chịu tại mắt do dị ứng. Hãn hữu cũng gặp một số người bị dị ứng với chính gọng kính mà mình đang dùng, biểu hiện là đỏ da, mẩn ngứa, nổi mụn nước trên da mặt, da mi trùng với diện tiếp xúc của gọng kính và da.

Khi thấy khó chịu tại mắt, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa, không tự tiện mua thuốc nhỏ. Khi bác sĩ kê đơn thuốc, cần báo cho bác sĩ biết về tiền sử dị ứng của bạn. Ngay cả khi các bác sĩ đã cân nhắc kỹ trước khi kê đơn thì khả năng dị ứng thuốc tra hoặc nhỏ mắt vẫn có thể xảy ra. Trong trường hợp này, nên đem đơn và thuốc đã dùng đến cơ sở chuyên khoa mắt gần nhất để được chẩn đoán điều trị.

Lời khuyên của thầy thuốc
Không dụi mắt khi mắt bị ngứa hoặc bất cứ khó chịu nào vì điều này chỉ làm vùng da quanh mắt bị tổn thương và sớm để lại vết nhăn. Thay vào đó, bạn có thể dùng thuốc nhỏ mắt có tính kháng dị ứng, sát khuẩn hoặc có thành phần tương đương với nước mắt. Không nên tự mua các loại thuốc có cortisone để nhỏ mắt vì có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho mắt. Sau khi đã dùng các loại thuốc trên mà triệu chứng không giảm thì phải đi khám bác sĩ chuyên khoa. Ngoài ra còn có các loại viêm kết mạc do dị ứng khác như viêm kết mạc mùa xuân, dị ứng mắt do bệnh ngoài da… có khi rất nặng, chỉ có bác sĩ mới quyết định phương pháp và thời gian điều trị.

Theo sức khỏe đời sống

Nguyên nhân chảy nước mắt sống và cách điều trị

Nguyên nhân chảy nước mắt sống chủ yếu do tắc lệ đạo gây ra. Khi lệ đạo bị nhiễm khuẩn sẽ gây viêm tắc và đau nhức. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ dẫn tới những biến chứng tổn thương ở mắt.

Chấn thương, viêm nhiễm dễ gây tắc lệ đạo

Lệ đạo là ống thoát nước mắt dẫn từ góc trong của mi mắt dưới đến khe mũi dưới, gồm lỗ lệ, lệ quản, túi lệ, ống lệ mũi (ống lệ tỵ). Nước mắt mới sinh ra, sau khi bôi trơn và làm sạch bề mặt nhãn cầu sẽ được dồn về góc trong mắt rồi được dẫn vào lệ đạo, xuống mũi. Vì vậy, ở những người khóc nhiều, nước mắt qua lệ đạo tăng lên, làm chảy cả ra mũi. Lệ đạo hay tắc nhất là đoạn ống lệ mũi. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi: từ trẻ sơ sinh đến người cao tuổi do bẩm sinh hay mắc phải, phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Tắc lệ đạo bẩm sinh hay gặp ở trẻ ngay sau khi sinh ra (nhất là trẻ đẻ thiếu tháng), do quá trình hình thành lệ đạo trong bào thai chưa hoàn chỉnh nên ở đầu dưới của ống lệ mũi còn lại màng gây tắc. Thường trường hợp này có thể tự khỏi khi trẻ lớn lên. Tắc lệ đạo mắc phải gặp do các chấn thương vùng mắt, xoang; viêm nhiễm mạn tính ở mắt như bệnh mắt hột, viêm kết mạc… Tổ chức viêm có thể làm chít hẹp lệ đạo và gây tắc không hoàn toàn. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các trường hợp tắc lệ đạo mắc phải đều không rõ nguyên nhân.

nguyen-nhan-chay-nuoc-mat-song-va-cach-dieu-tri

Biểu hiện bệnh

Bình thường, nước mắt được dẫn xuống mũi, không chảy ra ngoài. Khi bị tắc lệ đạo, nước mắt không được dẫn xuống mũi nên sẽ trào ra ngoài từ góc trong của mắt, gây ra triệu chứng chảy nước mắt, mà dân gian thường gọi là chảy nước mắt sống. Nếu thời gian tắc kéo dài, nước mắt bị ứ đọng tại túi lệ có thể gây ra nhiễm khuẩn tại đường dẫn lệ. Túi lệ bị viêm, có nhầy mủ, nếu ấn vào vùng góc trong mắt thấy mủ đùn ra. Bệnh nhân có thể thấy đau nhức. Trẻ nhỏ mắc bệnh có thể có sốt, quấy khóc, hay dụi tay lên mắt.

Viêm tắc lệ đạo nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể gây ra các biến chứng gồm: tắc lệ đạo, nhất là tắc ở ống lệ mũi, gây ra viêm túi lệ mạn tính với biểu hiện là thường xuyên chảy nước mắt, kèm theo có chảy nhầy mủ; phù nề nhẹ vùng góc trong mắt; ấn vào vùng này có thể thấy nhầy mủ đùn ra ở khóe mắt. Không điều trị kịp thời có thể tiến triển thành viêm cấp tính, gây áp-xe tại túi lệ hoặc gây dò, thoát mủ ra ngoài da. Khi áp-xe túi lệ, bệnh nhân, nhất là trẻ em thường kêu đau nhức nhiều, vùng góc trong mắt sưng nề, tấy đỏ, ấn vào đau, có thể có sốt.

Điều trị cách nào?

Căn cứ vào các triệu chứng của bệnh nói trên, khi phát hiện các triệu chứng tắc lệ đạo, người bệnh cần đến khám ở chuyên khoa mắt để được chẩn đoán và điều trị đúng. Điều trị cần dựa vào tổn thương bệnh mà người ta sử dụng các biện pháp điều trị thích hợp.

Đối với trường hợp tắc lệ đạo bẩm sinh, ngoài việc chẩn đoán đúng bệnh, các bác sĩ chuyên khoa còn phải xác định chính xác nguyên nhân chảy nước mắt để loại trừ các bệnh nguy hiểm khác ở mắt như glôcôm bẩm sinh, viêm nhiễm khác trong mắt. Phương pháp điều trị có thể dùng là day ấn vùng góc trong mắt, nơi có túi lệ, kết hợp với dùng kháng sinh nhỏ mắt và kháng sinh uống. Đa số các trường hợp viêm tắc lệ đạo sẽ được phục hồi thông hoàn toàn khi được điều trị bằng biện pháp này. Đến khi trẻ được 2 – 3 tháng tuổi, nếu vẫn không hết chảy nước mắt thì người ta có thể bơm rửa và thông lệ đạo, giúp cho nước mắt lưu thông xuống mũi. Về mặt thời gian, các nhà chuyên môn cho biết: trẻ được 4 – 6 tháng tuổi mới là thời gian để thông lệ đạo tốt nhất, vì để đến trên 1 tuổi thì kết quả thông lệ đạo sẽ rất thấp.

Những trường hợp bị tắc lệ đạo mắc phải: người ta thấy rằng chỉ dùng phương pháp bơm thông lệ đạo hầu như không có kết quả. Do đó, để phục hồi chức năng dẫn nước mắt, cần phải phẫu thuật để tạo nên đường dẫn nước mắt mới, từ mắt xuống mũi cho bệnh nhân. Đây là một phẫu thuật có thể điều trị dứt điểm triệu chứng chảy nước mắt, khỏi viêm nhiễm, mủ nhầy ở túi lệ. Tuy nhiên, đối với các ca bệnh không thể mổ tạo đường thông nước mắt thì phải mổ cắt túi lệ để loại trừ ổ viêm tại mắt, tránh các biến chứng gây áp-xe túi lệ, nhưng bệnh nhân sẽ bị chảy nước mắt suốt đời.

Lời khuyên của bác sĩ

Tắc lệ đạo ngoài nguyên nhân bẩm sinh còn có nguyên nhân mắc phải. Vì vậy, để phòng tránh các trường hợp tắc lệ đạo mắc phải, mọi người cần lưu ý tránh chấn thương cho mắt bằng các biện pháp như: đeo kính khi lao động trong môi trường dễ bị dị vật bắn vào mắt như đi ngoài đường, nhất là khi có gió to cát bụi nhiều, khi làm việc như tuốt lúa, cưa gỗ, mài kim loại… Đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông để phòng chấn thương vùng đầu và phòng chấn thương mắt. Khám mắt định kỳ để phát hiện và điều trị tích cực các bệnh viêm nhiễm mạn tính ở mắt như bệnh mắt hột, viêm kết mạc… Do có nhiều trường hợp tắc lệ đạo mắc phải không rõ nguyên nhân nên khi phát hiện triệu chứng viêm tắc lệ đạo, bệnh nhân cần đi khám ngay ở chuyên khoa mắt để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

BS. Đặng Thị Ngọc Ba
Nguồn sức khỏe đời sống

Bài thuốc đông y chữa trị viêm kết mạc mùa xuân

Viêm kết mạc mùa xuân YHCT gọi là bạo phong khách, thiên hành xích nhãn…

Trên lâm sàng thường gặp ba loại sau: thể phong nhiệt, thể phong thấp và thể âm hư. Tùy thể mà dùng bài thuốc.

dong-y-tri-viem-ket-mac-mua-xuan

Thể phong nhiệt (tương đương với thể cấp tính của YHHĐ): Bệnh phát nhanh, tròng trắng đỏ, sưng, nóng, mắt cảm thấy có dị vật, nhiều dử (ghèn), sợ sáng, nhìn không rõ, mi mắt hơi sưng, mũi nghẹt, mũi chảy nước, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng mỏng, mạch phù sác.

Phương pháp điều trị: khu phong, thanh nhiệt ở kinh phế, vị, can.

Bài thuốc: ngân hoa 16g, hoàng đằng 8g, chi tử 12g, cát cánh 6g, cúc hoa 12g, kỷ tử 8g hoàng cầm 12g, kinh giới 12g, bạc hà 6g, ngưu bang 12g, tang diệp 16g, liên kiều 12g. Sắc uống.

Thể thấp nhiệt (tương đương với mạn tính của YHHĐ): Do thấp nhiệt ở kinh phế, tỳ, can, kết hợp với phong mà gây ra bệnh. Tròng trắng mắt dầy lên, nhiều tia máu, ngứa, nhặm, nóng, khô, sợ ánh sáng, nhìn lâu mỏi mắt. Bệnh thường kèm toàn thân mệt mỏi, có sốt, nhức đầu, táo bón, tiểu ít, rêu lưỡi vàng, mạch trầm sác.

Phương pháp điều trị: khu phong thanh nhiệt, lợi thấp.

Bài thuốc: hoàng cầm 8g, mạn kinh tử 12g, tang diệp 16g, phòng phong 12g, bạc hà 8g, kinh giới 12g, nhân trần 16g, sa tiền 12g, hoàng đằng 12g. Sắc uống.

Thể âm hư: Do viêm cấp chữa không triệt để làm ảnh hưởng đến phần âm. Với biểu hiện mắt ngứa, nhặm, nóng, khô, sợ ánh sáng, nhìn lâu mỏi mắt, nhìn mờ, tinh thần mệt mỏi, người có cảm giác hâm hấp, nhức đầu, táo bón, tiểu ít, rêu lưỡi vàng, mạch hư nhược.

Phương pháp điều trị: khu phong thanh nhiệt, dưỡng âm.

Bài thuốc: hạ khô thảo 8g, tang bì 12g, ngân hoa 20g, ngưu bang 8g, cúc hoa 8g, sinh địa 12g, mạch môn 12g. Sắc uống.

Cách dùng thuốc chung cho cả ba thể: 2 ngày uống 1 thang.

Cho thang thuốc vào ấm nước đầu cho 800ml nước, nước sau cho 1.500ml nước đều sắc còn 300ml, chia uống hai lần trong ngày sau ăn cơm 30 phút đến 1 tiếng. Uống khi thuốc đã nguội, kiêng các đồ ăn thức uống có tính chất cay nóng như: thịt chó, gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu…

Chú ý: Bệnh viêm kết mạc mùa xuân hay gặp ở người có cơ địa dị ứng, điều trị không quá phức tạp nhưng phải trị kịp thời và theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ. Nếu không dễ gây biến chứng như viêm giác mạc, suy giảm thị lực, glaucoma…

Lương y Chu Văn Tiến

Theo SKDS

Dị ứng mắt và cách điều trị

Dị ứng mắt thường gặp với biểu hiện ngứa, đỏ, xốn, sưng, sợ sáng, có cảm giác vật lạ ở trong mắt… Dụi mắt lúc này sẽ không làm giảm các triệu chứng trên mà còn khiến vùng da quanh mắt bị tổn thương, sớm để lại những vết nhăn.

Dị ứng mắt là gì?

Dị ứng mắt hay còn gọi là viêm kết mạc dị ứng là tình trạng khi mắt bị một kháng nguyên (chất gây dị ứng) như phấn hoa, bụi, khói, lông súc vật… bám vào mắt gây kích thích màng nhầy bao phủ mắt.

di-ung-mat-va-cach-dieu-tri

Nguyên nhân gây dị ứng mắt

Dị ứng mắt thường xảy ra theo mùa, nhất là vào mùa Xuân và mùa Thu khi trong không khí có nhiều loại phấn hoa. Hoặc những nơi bị ô nhiễm do các tác nhân vật lý, hóa học (nước hồ bơi có Clo), do khói bụi… Những kháng nguyên này gây ngứa, xốn, chảy nước mắt.

Biểu hiện dị ứng mắt

Ngứa, đỏ, sưng hay chảy nước mắt, xốn, sưng phồng ở lớp trong của mắt (tròng trắng), sợ sáng hay có cảm giác vật lạ.

Thông thường những triệu chứng này không làm mắt mờ, không chảy ghèn, không đau, không xuất huyết, tuy nhiên có thể kèm theo các triệu chứng khác như hắt hơi, xổ mũi nhất là ở những vùng bị ô nhiễm hay vào mùa Xuân, Thu.

Chăm sóc mắt khi bị dị ứng

– Không dụi mắt khi mắt bị ngứa, xốn hoặc bất cứ khó chịu nào vì điều này chỉ làm vùng da quanh mắt bị tổn thương và sớm để lại vết nhăn. Thay vào đó, bạn có thể dùng thuốc nhỏ mắt có tính kháng dị ứng, sát khuẩn hoặc có thành phần tương đương với nước mắt.

– Không nên tự mua các lọai thuốc có Cortisone để nhỏ mắt vì có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho mắt.

– Sau khi đã dùng các lọai thuốc trên mà triệu chứng không giảm thì phải đi khám BS chuyên khoa. Ngòai ra, còn có các loại viêm kết mạc do dị ứng khác như viêm kết mạc mùa xuân, dị ứng mắt do bệnh ngòai da… có khi rất nặng, chỉ có BS mới quyết định phương pháp và thời gian điều trị.

Theo vietnamnet

Viêm kết mạc mùa xuân

Viêm kết mạc mùa xuân là một bệnh do dị ứng ở mắt và hay tái phát. Bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân, khi lượng phấn hoa di chuyển nhiều hơn trong không khí bay vào mắt người có cơ địa dị ứng sẽ gây ra những triệu chứng trên nên được gọi là viêm kết mạc mùa xuân.

Đối tượng dễ mắc bệnh
Bệnh thường gặp ở người bệnh có cơ địa dị ứng phấn hoa, các loại bụi, lông thú vật, côn trùng, hoặc gió, ánh nắng và mỗi khi thay đổi thời tiết. Tuỳ thuộc vào từng cơ địa mà mỗi người chịu sự tác động của các dị ứng nguyên khác nhau. Vào mùa xuân, lượng phấn hoa khuếch tán nhiều trong không khí là yếu tố thuận lợi làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, nhất là những người sống ở vùng rừng núi, nơi có khí hậu ẩm ướt, thảm thực vật phong phú, người trồng hoa, nuôi ong mật,…

vong-mac

Viêm kết mạc mùa xuân có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường thấy ở trẻ em và người trẻ và thường tái phát theo mùa.

Cần đi khám và điều trị sớm

Những triệu chứng của bệnh viêm kết mạc mùa xuân khiến người bệnh hết sức mệt mỏi, khó chịu. Hơn nữa đây là một bệnh hay tái phát nên cần cẩn thận, nếu không điều trị đúng sẽ dẫn đến biến chứng tổn thương giác mạc, gây suy giảm thị lực. Ðã có rất nhiều người bệnh thường xuyên bị dị ứng, khi bị ngứa mắt tự mua thuốc nhỏ mắt có chứa Cortisone nhỏ, thấy hết ngứa nên từ đó thường xuyên dùng kéo dài sẽ dẫn nhiều biến chứng nguy hiểm.

Việc điều trị phải được tiến hành từng bước và tùy từng mức độ bệnh. Thông thường, bệnh nhân viêm kết mạc dị ứng sẽ được chỉ định dùng thuốc chống dị ứng, thuốc chống viêm và thuốc dinh dưỡng bề mặt nhãn cầu. Người bệnh tuyệt đối phải dùng thuốc theo chỉ dẫn của thầy thuốc để tránh những biến chứng nguy hiểm như tăng nhãn áp, đục thể thủy tinh,… và tái khám theo đúng hẹn của bác sĩ.

Điều quan trọng là khi có triệu chứng của bệnh như đỏ cả hai mắt, ngứa, cảm giác rát mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, có ghèn gỉ, lúc nào cũng muốn lấy tay dụi mắt nhưng càng dụi càng ngứa. Khi lộn mi thấy ở mi mắt có những nốt (nhú gai) màu đỏ nằm sát nhau,… thì cần đến cơ sở y tế chuyên khoa mắt để khám và điều trị sớm.

Để phòng bệnh, những người có cơ địa dị ứng với phấn hoa không nên trồng hoa, cắm hoa trong nhà hay ngửi hoa; Đối với người làm nghề trồng hoa, nuôi ong,… khi làm việc hoặc khi đi ra ngoài nên đeo kính để chống bụi, tránh phấn hoa bay vào mắt; rửa sạch mặt và vệ sinh mắt bằng cách nhỏ nước muối muối sinh lý 0,9% sau mỗi lần đi ngoài đường về.

Theo sức khỏe đời sống

Biểu hiện của viêm kết mạc dị ứng

Viêm kết mạc dị ứng gây khó chịu với các biểu hiện như: nhìn mờ nhất thời, cảm giác khô rát, khó mở mắt buổi sáng, chảy nước mắt, ra gỉ nhiều, mắt bị ngứa, kích thích, cảm giác có sạn trong mắt… người bệnh thường hay có phản ứng dụi hoặc gãi… Biến chứng gây giảm thị lực chỉ do sẹo hay loét giác mạc.

Tháng 4, 5, 6 và 7 là những tháng đỉnh điểm hoành hành của căn bệnh này bởi lẽ các dị nguyên như phấn hoa, bụi cỏ, nấm mốc sẽ đạt đậm độ cao nhất trong môi trường. Bên cạnh đó là nhiệt độ và độ ẩm dao động mạnh. 80% bệnh nhân là những người trẻ, đang độ tuổi lao động.
viem-ket-mac-di-ung
Sử dụng thuốc trong trường hợp này sẽ giúp bạn sống thoải mái hơn với dị ứng chứ không giải quyết tận gốc vấn đề. Đa phần các bệnh nhân hài lòng với các thuốc kháng histamin và bền màng mastocyte loại nhỏ mắt như opconA, allergysal…

Cyclosporine loại nhỏ mắt tỏ ra an toàn và khá hiệu quả đã được dùng khoảng 7 năm nay, dành cho nhóm bệnh nhân khó tính hơn. Kết hợp với nước mắt nhân tạo các loại, các sản phẩm bôi trơn bề mặt nhãn cầu luôn là sự lựa chọn đúng cho căn bệnh này, vừa điều trị dị ứng, vừa chống khô mắt. Các sản phẩm có corticoid không nên dùng liên tục hay kéo dài, thêm nữa phải luôn thận trọng với các biến chứng của chúng như: glocom, đục thủy tinh thể. Rất ít bệnh nhân phải dùng thuốc đường toàn thân trừ khi bị kèm theo viêm mũi xoang hay hen suyễn.

BS. Hoàng Cương
(suckhoe&doisong)

Viêm kết mạc mùa xuân nhiễm do dị ứng

Viêm kết mạc mùa xuân là một bệnh do dị ứng ở mắt và hay tái phát. Bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân, khi lượng phấn hoa di chuyển nhiều hơn trong không khí bay vào mắt người có cơ địa dị ứng sẽ gây ra những triệu chứng trên nên được gọi là viêm kết mạc mùa xuân.

Đối tượng dễ mắc bệnh
Bệnh thường gặp ở người bệnh có cơ địa dị ứng phấn hoa, các loại bụi, lông thú vật, côn trùng, hoặc gió, ánh nắng và mỗi khi thay đổi thời tiết. Tuỳ thuộc vào từng cơ địa mà mỗi người chịu sự tác động của các dị ứng nguyên khác nhau. Vào mùa xuân, lượng phấn hoa khuếch tán nhiều trong không khí là yếu tố thuận lợi làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, nhất là những người sống ở vùng rừng núi, nơi có khí hậu ẩm ướt, thảm thực vật phong phú, người trồng hoa, nuôi ong mật,…

Viêm kết mạc mùa xuân có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường thấy ở trẻ em và người trẻ và thường tái phát theo mùa.

viem-ket-mac-mua-xuan

Cần đi khám và điều trị sớm

Những triệu chứng của bệnh viêm kết mạc mùa xuân khiến người bệnh hết sức mệt mỏi, khó chịu. Hơn nữa đây là một bệnh hay tái phát nên cần cẩn thận, nếu không điều trị đúng sẽ dẫn đến biến chứng tổn thương giác mạc, gây suy giảm thị lực. Ðã có rất nhiều người bệnh thường xuyên bị dị ứng, khi bị ngứa mắt tự mua thuốc nhỏ mắt có chứa Cortisone nhỏ, thấy hết ngứa nên từ đó thường xuyên dùng kéo dài sẽ dẫn nhiều biến chứng nguy hiểm.

Viêm kết mạc mùa xuân 2
Hình ảnh mắt bị viêm kết mạc mùa xuân.
Việc điều trị phải được tiến hành từng bước và tùy từng mức độ bệnh. Thông thường, bệnh nhân viêm kết mạc dị ứng sẽ được chỉ định dùng thuốc chống dị ứng, thuốc chống viêm và thuốc dinh dưỡng bề mặt nhãn cầu. Người bệnh tuyệt đối phải dùng thuốc theo chỉ dẫn của thầy thuốc để tránh những biến chứng nguy hiểm như tăng nhãn áp, đục thể thủy tinh,… và tái khám theo đúng hẹn của bác sĩ.

Điều quan trọng là khi có triệu chứng của bệnh như đỏ cả hai mắt, ngứa, cảm giác rát mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, có ghèn gỉ, lúc nào cũng muốn lấy tay dụi mắt nhưng càng dụi càng ngứa. Khi lộn mi thấy ở mi mắt có những nốt (nhú gai) màu đỏ nằm sát nhau,… thì cần đến cơ sở y tế chuyên khoa mắt để khám và điều trị sớm.

Để phòng bệnh, những người có cơ địa dị ứng với phấn hoa không nên trồng hoa, cắm hoa trong nhà hay ngửi hoa; Đối với người làm nghề trồng hoa, nuôi ong,… khi làm việc hoặc khi đi ra ngoài nên đeo kính để chống bụi, tránh phấn hoa bay vào mắt; rửa sạch mặt và vệ sinh mắt bằng cách nhỏ nước muối muối sinh lý 0,9% sau mỗi lần đi ngoài đường về.

Bác sĩ Trọng Nghĩa

Theo SKDS

Không nên chủ quan với bệnh đau mắt đỏ

Đau mắt đỏ là một thuật ngữ có tính chất dân gian nhiều hơn là khái niệm bệnh học chính thống. Tựu trung, nhân dân cho rằng đau mắt đỏ nghĩa là thấy mắt đỏ hơn bình thường kèm theo những khó chịu không trầm trọng lắm ví như cộm, rát, ra dỉ, ngứa, đau nhức ít hoặc không đau nhức, thị lực không giảm hoặc giảm không đáng kể. Giới chuyên khoa mắt thì định khu rõ ràng hơn đó là các trường hợp mắt đỏ nhưng không có đau nhức và giảm thị lực. Đỏ mắt có đau nhức và giảm thị lực mang tính chất nghiêm trọng hơn, điều trị khó khăn hơn và hậu quả cũng nặng nề hơn. Chúng ta sẽ bàn luận sâu hơn về bệnh đau mắt đỏ với sự tách biệt rõ ràng với nhóm còn lại: chúng không thuộc nhóm gây mù lòa nếu không có biến chứng và được điều trị thích đáng.

khong_nen_chu_quan_voi_benh_dau_mat_do

Mắt bình thường (ảnh trên) và đau mắt đỏ (ảnh dưới).

Chắc chắn là bất cứ ai trong đời cũng đã có lần bị đau mắt đỏ. Cảm giác rất giống nhau: đỏ mắt do người khác báo cho bạn hoặc tự bạn soi gương mà thấy, cảm giác bất ổn trong mắt: cộm, ngứa, căng tức ở trong mắt hơn là một đau nhức thực thụ, ra dỉ mắt nhiều hoặc rất nhiều. Những khó chịu khác có thể biểu hiện toàn thân hoặc quanh mắt: sốt, nổi hạch, đau họng, viêm mũi xoang, đau răng…

Cách phân loại để điều trị rất phong phú thế nhưng dựa theo bệnh nguyên vẫn là phổ biến và được chấp nhận nhiều nhất. Chúng ta hãy đi từ đơn giản đến phức tạp :

Đỏ mắt do tác nhân hóa lý từ môi trường: Đỏ mắt xuất hiện nhanh, mất đi nhanh dù điều trị hay không điều trị, có mối quan hệ nhân quả với tác nhân ngoại lai. Chúng ta có vô vàn ví dụ cho đỏ mắt thuộc nhóm này: gió, bụi, nước mưa, đi bơi, dùng rượu bia, khói, cảm động, khóc lóc… Cần nói ngay là điều trị trong những trường hợp này chỉ đơn giản là nước muối sinh lý, nước mắt nhân tạo hay hỗn dịch mà nhiều hãng đang bán rộng rãi trên thị trường: Osla, naphacollyre, V-Rohto, visime, daigaku. Hỗn dịch thường chứa chất co mạch, chất kháng histamin (chống ngứa), chất sát trùng do vậy nhìn chung chúng sẽ giải quyết ổn thỏa đỏ mắt thuộc nhóm này.

Đỏ mắt do nguyên nhân toàn thân: Nếu ai đó đã trải qua cảm mạo, sốt nóng đều thấy mắt mình đỏ lên nhiều. Nhiễm virut trong những ngày đầu ngoài việc sốt nóng, sốt rét, đau mình mẩy, đau họng thì thấy mắt đỏ cũng khiến nhiều bệnh nhân đến khám tại cơ sở chuyên khoa mắt. Xoang răng là những bộ phận lân cận với mắt. Do vậy khi các bộ phận này bị viêm nhiễm thì mắt cũng đỏ lên nhiều, có khi hình thành viêm kết mạc thực thụ. Nếu ta rơi vào trường hợp này thì nên điều trị nguyên nhân, đừng chú tâm nhiều về mắt.

Viêm kết mạc do vi khuẩn: Ai đấy được chứng kiến dù chỉ một lần thì cũng không thể quên hình ảnh viêm kết mạc do lậu cầu. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất là ở nhũ nhi do lây nhiễm lậu cầu từ âm đạo của mẹ. Đó là một đôi mắt sưng nề dữ dội, tắm mình trong mủ đặc màu vàng. Mặc dù lau mắt thường xuyên nhưng mủ vẫn ứa ra đều đều. Lòng đen có thể bị loét thủng nếu việc điều trị bị chậm trễ hoặc không tương thích. May thay là kháng sinh chống lậu cầu hiện không còn là vấn đề khó khăn nữa nên nhìn chung việc điều trị mang kết quả khả quan, bệnh giảm rất nhanh chóng.

Trên trẻ em thì viêm kết mạc có giả mạc cũng là bệnh thường gặp. Trẻ thường có ho, sốt, viêm long hô hấp trên. Lòng trắng đỏ ngầu, mắt ra dỉ nhiều đôi khi ứa nước hồng như máu làm các bậc cha mẹ rất hoảng sợ. Khi lật mi lên người ta thấy có một lớp màng trắng bao phủ. Khi cố bóc lớp này đi sẽ gây chảy máu tại chỗ. Nguyên nhân thường do cầu khuẩn, virut. Bạch hầu cũng có thể gây ra những biểu hiện tương tự nhưng tính chất giả mạc có khác biệt và thực sự hiếm gặp do chương trình tiêm chủng mở rộng đã rất thành công ở nước ta từ nhiều thập kỷ nay.

Viêm kết mạc do chlamydia ngoài việc gây ra mắt hột ở người lớn còn gây viêm kết mạc bể bơi ở thiếu niên, gây viêm kết mạc mủ ở trẻ em. Tần suất gặp các bệnh nhân loại này cũng ngày càng hiếm do việc dùng kháng sinh sớm và chương trình thanh toán mắt hột rất bền bỉ của ngành mắt.

Viêm kết mạc do virut: Năm ngoái chúng ta đã có dịch đau mắt doadenovirus tại phần lớn các tỉnh thành ở miền Bắc trong suốt mùa hè đến tận tháng 10. Đây là căn bệnh không nguy hiểm, chẩn đoán dễ dàng nhưng lại gây khó chịu cho biết bao nhiêu người, hao tốn tiền của, ảnh hưởng rất nhiều đến công việc. Mỗi người bị bệnh mất khoảng 10 ngày cùng với khoảng 100.000 đồng tiền thuốc để chăm sóc mắt bị bệnh. Bệnh lây lan rất nhanh chóng và dễ dàng do virut tồn tại ở môi trường tới vài ngày, kháng cồn và ê-the tốt. Đường lây cũng rất đa dạng: tiếp xúc trực tiếp, qua nước bọt, qua sinh hoạt tình dục. Chúng ta không giơ tay đầu hàng với căn bệnh này thế nhưng chính người bệnh và các bác sĩ chuyên khoa mắt phải có ý thức phòng bệnh cho mình và cộng đồng thì dịch mới có thể được ngăn chặn. Lạm dụng thuốc, điều trị tùy tiện cũng làm khoảng 10-15% bệnh nhân bị đau mắt dịch có những biến chứng có thể làm giảm thị lực hay mù lòa như viêm loét giác mạc, sẹo giác mạc…

Viêm kết mạc do các chủng virut khác như do herpes simplex, virut zona mang tính cá nhân. Cần thăm khám thận trọng và hỏi bệnh kỹ càng mới chẩn đoán chính xác được.

Điều trị nói chung chỉ cần nước muối sinh lý 0,9%, kháng sinh nhỏ mắt. Việc dùng các thuốc chống viêm hay kháng virut sẽ cần tư vấn của bác sĩ chuyên khoa mắt.

Viêm kết mạc dị ứng: Có từ 25 – 40% dân số có viêm kết mạc dị ứng với các mức độ khác nhau. Số lượng bệnh nhân có vẻ ngày càng tăng do ô nhiễm môi trường, khí hậu trái đất nóng lên. Bên cạnh đó thì mất cân bằng dinh dưỡng, tiêu thụ mỡ động vật quá nhiều, dùng kháng sinh bừa bãi cũng là nguyên nhân khả dĩ của sự gia tăng này. Viêm kết mạc dị ứng có 3 dạng: viêm kết mạc mùa xuân, viêm kết mạc cơ địa dị ứng và viêm kết mạc có nhú khổng lồ. Hai dạng đầu thường xuất hiện trên người có cơ địa dị ứng, gây bệnh sớm ngay trong 10 năm đầu đời. Dạng thứ 3 liên quan đến việc mang kính tiếp xúc. Chẩn đoán xác định khá phức tạp. Nhưng bù lại chúng ta cần chú ý hai điểm mấu chốt: bệnh nhân đến viện chủ yếu do ngứa mắt, điều trị bằng nước mắt nhân tạo và thuốc kháng dị ứng nhỏ mắt đem lại dễ chịu nhanh cho người bệnh.

Các thuốc điều trị dị ứng nói chung và dị ứng tại mắt nói riêng đã gặt hái được rất nhiều thành công. Các thuốc kháng histamin loại nhỏ mắt, thuốc ức chế giải phóng hạt từ dưỡng bào, cyclosporin lần lượt ra đời nhằm xoa dịu cái ngứa của bệnh nhân. Tránh nóng, tránh tiếp xúc với dị nguyên, giải mẫn cảm đặc hiệu cũng là những biện pháp cần thiết để giảm tần suất phải nhập viện điều trị.

Đỏ mắt do các nguyên nhân hiếm gặp khác: Bệnh nhân thường đến muộn và đến khám ở tuyến cuối do những nguyên nhân rất đặc thù: viêm củng mạc, viêm tổ chức hốc mắt, thông động tĩnh mạch cảnh xoang hang…

Đỏ mắt xem ra cũng không hẳn là giản đơn và vô hại. “Cái sảy nảy cái ung” là lời các cụ vẫn thường nói. Do vậy cả bệnh nhân và thầy thuốc đều không nên chủ quan khi thấy đỏ mắt.

BS. Hoàng Cương
Theo SKĐS

Phân biệt các loại viêm kết mạc

Đây là tình trạng viêm màng nhầy bao phủ tròng trắng của mắt và lớp sau mi mắt. Các nguyên nhân chính gây viêm kết mạc là nhiễm khuẩn, nhiễm virus, dị ứng, mắt khô, viêm bờ mi và những phản ứng độc hại ở mắt…

Viêm kết mạc thường nhẹ và nếu biết rõ nguyên nhân gây bệnh thì việc điều trị cũng dễ dàng. Thường mỗi loại viêm kết mạc sẽ có một dấu hiệu và triệu chứng chuyên biệt. Nếu để ý đến những triệu chứng này, ta có thể chẩn đoán được nguyên nhân và có cách phòng ngừa, điều trị.

phan_biet_cac_loai_viem_ket_mac

1. Viêm kết mạc do vi khuẩn

– Dấu hiệu chủ quan (bệnh nhân thấy): Buổi sáng mắt dính, khó mở, ghèn nhiều.

– Khám nghiệm: Có nhiều ghèn (thường ở một mắt), mắt có màu đỏ như thịt bò tươi.

– Điều trị: Dùng kháng sinh nhỏ và uống.

2. Viêm kết mạc do virus

– Dấu hiệu chủ quan: Chảy nước mắt nhiều, cảm giác có vật lạ ở trong mắt. Lây lan thường xuất hiện vào mùa có dịch.

– Khám nghiệm: Mắt đỏ nhiều, sưng; thường bị cả hai mắt, có thể chảy máu ở tròng trắng, có hạch hai bên dái tai, đôi khi sốt.

– Điều trị: Nhỏ thuốc sát trùng, kháng sinh ngừa bội nhiễm. Giữ vệ sinh mắt để tránh lây lan.

3. Viêm kết mạc do dị ứng

– Dấu hiệu chủ quan: Ngứa nhiều, chảy nước mắt, tái phát thường xuyên. Bệnh không lây lan, thường xuất hiện theo mùa.

– Khám nghiệm: Phù tròng trắng.

– Điều trị: Nhỏ hoặc uống thuốc dị ứng, nhỏ nước mắt nhân tạo. Đắp gạc lạnh lên mắt.

4. Mắt khô

– Dấu hiệu chủ quan: Cảm giác như bỏng, khô, dính mắt, không muốn mở mắt, như có vật lạ trong mắt.

– Khám nghiệm: Tròng trắng không bóng; thấy ở những người ít nhắm mắt, làm việc trong môi trường khô (như làm việc trước màn hình vi tính trong thời gian lâu, nơi gió cát), người cao tuổi, uống các loại thuốc dị ứng, an thần… lâu ngày hay nhỏ thuốc trị cườm nước.

– Điều trị: Nhỏ nước mắt nhân tạo, tránh nơi gió cát, khô.

5. Viêm bờ mi

– Dấu hiệu chủ quan: Mắt đỏ kinh niên (ở bờ mi mắt), cảm giác như có vật lạ, khi nặng sẽ làm mắt toét.

– Khám nghiệm: Có vảy chân lông mi, bờ mi đỏ.

– Điều trị: Uống và nhỏ kháng sinh, chủ yếu dùng nhóm Tetracycline.

6. Viêm do nhiễm độc

– Dấu hiệu chủ quan: Không đỏ nhiều nhưng bị kinh niên không lúc nào dứt. Có tiền căn dùng lâu dài loại thuốc nhỏ chứa chất bảo quản gây độc cho mắt. Mắt có cảm giác khó chịu, không có ghèn, không nhức.

– Khám nghiệm: Lộn mi thấy có sẹo, không đỏ nhiều.

– Điều trị: Xem lại các thuốc đã nhỏ có chứa loại chất bảo quản nào không? (như Benzakonium gây độc cho mắt). Nên dùng các loại thuốc nhỏ không có chất bảo quản.

BS Nguyễn Cường Nam, Sức Khoẻ $ Đời Sống
Theo ykhoa.net

Bệnh viêm bờ mi ở trẻ: Nên cẩn thận

Rụng lông mi, sưng mí, nóng rát, ngứa ngáy… là những gì con bạn gặp phải khi viêm bờ mi

Viêm bờ mi hay chứng kết hạt quanh mí mắt là tình trạng viêm mí mắt, đặc biệt là ở ngay chân lông mi của bé. Khi bé bị viêm bờ mi, mí mắt sẽ sưng, đỏ, rát, nổi hạt li ti. Nếu bị nặng, bé có thể bị rụng lông mi, mí mắt sưng, nóng rát, ngứa ngáy và chảy nhiều nước mắt.

Viêm bờ mi tuy không ảnh hưởng đến thị lực nhưng gây khó chịu cho bé. Ngoài ra, nếu để lâu, bệnh này có thể dẫn đến các bệnh khác về mắt như lẹo, chắp và viêm kết mạc – khó khăn hơn cho việc điều trị.

benh_viem_bo_mi_o_tre_nen_can_than_01

 Mí mắt sưng, đỏ và chảy nhiều nước mắt là triệu chứng của bệnh viêm mí mắt. Ảnh internet

Nguyên nhân

Bệnh viêm bờ mi có thể gây ra do bé bị viêm da tiết bã nhờn (da đầu nhiều gàu và quanh vùng mắt có nhiều mảng da khô bong tróc), mắt nhiễm khuẩn, tuyến dầu của mí mắt hoạt động quá đà hay thậm chí tất cả các nguyên nhân trên cộng lại.

Điều trị

Khi con bạn nhiễm bệnh viêm bờ mi, bạn nên đưa bé đến gặp bác sĩ nhi chuyên ngành nhãn khoa ngay. Bác sĩ là người có chuyên môn để xử lý bệnh triệt để và ngăn ngừa bệnh không trở nên nặng hơn.

Bác sĩ sẽ hướng dẫn bạn cách điều trị, trong đó bao gồm 1 vài lưu ý khi chăm sóc mắt cho con như:

– Nhỏ nước muối hay thuốc kháng sinh, thuốc bôi theo chỉ dẫn.

– Vệ sinh mắt hàng ngày cho bé theo các bước: Dùng gạc sạch, ẩm và ấm đắp lên mắt bé vài phút. Có thể lau mắt cho bé bằng nước muối Natri Clorid 0,9% hoặc lấy vài giọt dầu gội dành cho bé sơ sinh pha với nước rồi lau mắt cho bé. Lau khô bằng một chiếc gạc sạch. Nhớ lau thật nhẹ, tránh chà xát ảnh hưởng đến mắt bé.

– Hạn chế đề bé dụi tay vào mắt.

benh_viem_bo_mi_o_tre_nen_can_than_02

 Vệ sinh mắt cho bé thường xuyên sẽ đẩy lùi bệnh viêm bờ mi mau chóng. Ảnh minh họa

Phòng bệnh

– Vệ sinh nơi ăn chốn ở sạch sẽ, vệ sinh ăn uống để tránh các bệnh tiêu hóa như táo bón, viêm ruột…

– Vệ sinh mắt sạch sẽ: Dùng nước sạch, khăn sạch để rửa mặt, đeo kính bảo vệ mắt tránh các yếu tố kích thích như gió, bụi, ánh sáng, dị vật. Nên chọn kính tốt cho bé, đừng tiếc tiền mà mua cho con bạn kính kém chất lượng. Như vậy sẽ càng hại mắt bé hơn

Bệnh viêm bờ mi sau khi chữa khỏi vẫn có thể tái phát ở trẻ. Chính vì vậy, bạn hãy tăng cường các biện pháp phòng bệnh cho bé và hơn cả là giúp bé có một sức đề kháng thật tốt để đương đầu với mọi loại bệnh.

Theo Afamily/ Theo TTVN

Nấm gây tổn thương mắt

Đau mắt đỏ (viêm kết mạc) là bệnh thường gặp quanh năm và ở mọi lứa tuổi. Nguyên nhân gây đau mắt đỏ là do vi khuẩn, virut, nấm… Đặc biệt, đau mắt do nấm nếu điều trị không đúng có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như loét giác mạc, thủng giác mạc… dẫn tới mù lòa.

nam_gay_ton_thuong_mat_01

Nấm Aspergillus gây nấm mắt.

Các loại nấm gây bệnh ở mắt

Có trên 50 loài nấm mốc trong môi trường quanh ta. Tùy địa phương, tùy nhiệt độ, độ ẩm, môi trường, trình độ vệ sinh mà số mắt lành mang nấm chiếm từ 3-28%. Hàng rào biểu mô giác mạc kín, tốt, sạch là tấm chắn tốt nhất ngăn chặn không cho nấm xâm nhập mắt. Châu Âu không dùng từ nấm mắt (oculomycoses) mà họ dùng từ nấm giác mạc (kératomycoses). Bởi vì họ thấy phải qua tổn thương giác mạc nấm mới vào sâu được màng bồ đào và nội nhãn để gây bệnh nấm nặng cho con mắt. Nước ta á nhiệt đới, nóng, ẩm, nghề chính là nông nghiệp nên tỉ lệ bệnh nấm mắt cao. Nguồn nhiễm nấm chủ yếu là từ thảo mộc mà nấm sợi là chủ yếu. Nấm sợi Aspergillus gặp nhiều hơn nấm sợi Fusarium. Nhưng nếu bị nấm sợi Fusarium thì tổn thương sẽ nặng hơn là với nấm Aspergillus. Nhiễm nấm men tại mắt ít gặp hơn là nấm sợi. Tổn thương mắt do nấm men thường trên cơ địa mắt đã có các tổn thương trước đó (viêm giác mạc biểu mô dài ngày, chứng khô mắt, Herpes mắt, đeo kính tiếp xúc nhiều sau ghép giác mạc, người tra rỏ mắt bằng cortisol hoặc dùng cortisol đường toàn thân). Khi vào mắt, các loại nấm sợi và nấm men đều phát sinh các độc tố hoạt hóa các men phân hủy protein làm hủy hoại các màng mắt.

Dấu hiệu nhận biết khi nấm mắt

Ngoài cảm giác kệnh, nhói, chói mắt (của loét giác mạc nói chung), bệnh nhân còn cảm giác đau đớn thường xuyên rất khó chịu.

Khám mắt thấy tổn thương là các ổ loét bờ lên, đáy loét có các đám xuất tiết trắng vàng. Nếu có mủ tiền phòng thì là mủ quánh đặc, không có ngấn nằm ngang mà bám leo sau nội mô giác mạc. Nói chung, triệu chứng không điển hình lắm.

nam_gay_ton_thuong_mat_02

Đau mắt đỏ điều trị không đúng dẫn đến loét giác mạc.

Chẩn đoán xác định:

Lấy bệnh phẩm qua nước mắt thì ít hiệu quả. Phải nạo giác mạc tổn thương để lấy bệnh phẩm, có khi phải nạo mấy lần. Ngoài soi trực tiếp còn phải nuôi cấy nấm trên thạch sabouraud. Có khi phải nuôi cấy chuyển tiếp nhiều lần.

Những chú ý trong điều trị nấm mắt:

– Thuốc nấm da không được đưa vào mắt (do không phù hợp về pH, độ thẩm thấu muối và độ kích ứng đối với mắt).

– Chủ yếu là điều trị tại chỗ, có khi mỗi giờ phải rỏ mắt 1 lần, trong nhiều ngày, nhiều tuần.

– Có 4 loại thuốc chính đang được dùng điều trị nấm mắt:

+ Nhóm polyester (amphotéricin B, natamycin).

+ Nhóm zimydazon (5 fluoro  tiroxin).

+ Nhóm sulfamid trộn bạc (cụ thể là sulfadiazin trộn bạc, vừa diệt nấm, vừa diệt khuẩn).

+ Natamycin 5% là loại thuốc rỏ nước, rất tốt với nấm sợi Aspergillus.

Nếu khó xác định loại nấm thì cứ dùng amphotéricin B, dùng thêm fluconason cho đường toàn thân. Nên làm kháng nấm đồ, xem loại nấm gây bệnh mắt đó đặc hiệu với thuốc gì nhất để điều trị cho hiệu quả. Nhiều khi phải nạo biểu mô giác mạc để thuốc ngấm được nhanh và nhiễm vào các lớp tổn thương sâu.

Đề phòng nấm mắt: Tác nhân chính là nấm mốc từ thảo mộc nên khi lao động có tiếp xúc với cây cỏ cần phải tránh để chúng va quệt, rơi bắn vào mắt. Khi đang làm việc có va chạm với chúng thì phải rửa tay bằng xà phòng sạch, rồi rửa mặt, giặt thật sạch khăn bằng xà phòng ngay sau khi rửa. Đừng để khăn rửa mặt mọc nấm mốc. Năng giặt khăn bằng xà phòng và năng phơi khăn ra chỗ nắng; Tránh phơi khăn mặt và quần áo trên dây mây, sào tre nứa, dễ tiếp xúc với nấm mốc; Không được tùy tiện dùng cortisol khi đau mắt vì sẽ giải phóng bào tử nấm, làm bệnh nấm mắt nặng thêm; Bị đau mắt sau khi bị va quệt với cỏ cây (dù là tươi hay khô, mục) đều phải cảnh giác với nhiễm nấm mắt, đi khám sớm để được điều trị sớm.

BS. Hoàng Sinh
Theo SKĐS

Làm gì khi trẻ bị quặm bẩm sinh?

Từ nhỏ mắt con tôi thường xuyên có dử và hay chảy nước mắt. Cháu hay dụi mắt và quấy khóc. Tôi cho cháu đi khám, bác sĩ nói cháu bị quặm bẩm sinh. Xin hỏi bệnh của cháu có phải mổ không? Có nguy hiểm lắm không?

Nguyễn Thanh Nga(Hà Nội)

lam_gi_khi_tre_bi_quam_bam_sinh

Quặm bẩm sinh là hiện tượng bờ mi lộn vào trong đẩy hàng lông mi cọ xát vào giác mạc, gặp ở trẻ em từ khi mới sinh ra, có thể phát triển ngày càng nặng thêm nếu không được điều trị. Bệnh hay gặp ở những trẻ có khuôn mặt bụ bẫm, gốc mũi thấp, tẹt. Do hàng lông mi cọ xát vào giác mạc làm trẻ khó chịu luôn luôn dụi mắt. Mắt kích thích gây chảy nước mắt, đỏ mắt, có thể có dử, nếu kéo dài có thể gây viêm kết mạc. Nếu không được điều trị, lông mi làm tổn thương giác mạc, gây chợt giác mạc. Nếu bệnh tiến triển nặng và kéo dài có thể gây viêm loét giác mạc để lại sẹo làm giảm thị lực.

Ở độ tuổi con bạn (và những trẻ nhỏ hơn), lông mi chưa đủ cứng để gây tổn hại giác mạc do đó có thể tra thuốc cho trẻ (dung dịch nước muối sinh lý 0,9% hoặc dung dịch kháng sinh như tobrex) và vuốt bờ mi cho cháu nhằm mục đích làm cho bờ mi bật ra ngoài, lông mi không cọ vào giác mạc tránh tổn hại giác mạc. Nếu bệnh không tự mất đi thì có thể phẫu thuật  khi trẻ lớn hơn.

Phẫu thuật điều trị quặm bẩm sinh được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên về nhãn khoa là phẫu thuật tương đối đơn giản, thời gian phẫu thuật ngắn, không để lại sẹo gây mất thẩm mỹ. Khi trẻ có các biểu hiện bất thường như hay dụi mắt, chảy nước mắt cần đưa trẻ đến các cơ sở nhãn khoa để được khám và điều trị.

ThS. Nguyễn Văn Huy
Theo SKĐS

Quặm mi mắt bẩm sinh

Quặm bẩm sinh là hiện tượng bờ mi lộn vào trong đẩy hàng lông mi cọ sát vào giác mạc, gặp ở trẻ em từ khi mới sinh ra, có thể phát triển ngày càng nặng thêm nếu  không được điều trị.

Tỷ lệ quặm bẩm sinh mi dưới ở trẻ em vào điều trị tại Khoa Mắt Trẻ em, Bệnh viện Mắt Trung ương là 2,03% (số liệu năm 2000).

Khi bị quặm trẻ khó chịu hay dụi mắt, chảy nước mắt gây viêm kết mạc, trợt biểu mô và nặng hơn là viêm loét giác mạc để lại sẹo gây giảm thị lực. Đến nay điều trị quặm vẫn chủ yếu là phẫu thuật.

quam_mi_mat_bam_sinh_01

Quặm bẩm sinh mi dưới

Biểu hiện lâm sàng

Bệnh hay gặp ở những trẻ có khuôn  mặt bụ bẫm, gốc mũi thấp, tẹt. Do hàng lông  mi cọ sát vào giác mạc làm trẻ khó chịu luôn luôn dụi mắt. Mắt kích thích gây chảy nước mắt, đỏ mắt, có thể có dử, nếu kéo dài có thể gây viêm kết mạc. Nếu không được điều trị, lông  mi làm tổn thương giác mạc, gây trợt giác mạc. Nếu bệnh tiến triển nặng và kéo dài có thể gây viêm loét giác mạc để lại sẹo làm giảm thị lực.

Cần phải phân biệt trẻ bị quặm bẩm sinh với trẻ bị tắc lệ đạo. Ở trẻ bị tắc lệ đạo cũng thường có chảy nước mắt kéo dài, ra dử mắt, nhưng không gây đỏ mắt. Khi thăm khám nếu trẻ không phối hợp, quấy khóc nhiều, mắt nhắm thì có thể chẩn đoán nhầm với quặm bẩm sinh. Tuy nhiên nếu thăm khám kỹ kết hợp với bơm rửa lệ đạo có thể giúp chẩn đoán phân biệt dễ dàng với quặm bẩm sinh.

Ngoài ra cũng cần lưu ý phân biệt quặm bẩm sinh với tật hai hàng lông mi, đó là tình trạng xuất hiện một hàng lông mi thứ hai ngay phía sau hàng lông mi thứ nhất bình thường. Dị tật này có thể xuất hiện đơn độc hoặc đi kèm với những bất thường bẩm sinh khác, nhiều tác giả cho rằng bệnh có liên quan đến di truyền nhiễm sắc thể thường.

quam_mi_mat_bam_sinh_02

Lông mi quặt vào trong.

Ðiều trị

Ở những trẻ nhỏ dưới 1 tuổi,  lông mi chưa đủ cứng để gây tổn hại giác mạc do đó có thể  cho trẻ tra thuốc (dùng dung dịch nước muối sinh lý 0,9% hoặc dung dịch kháng sinh như tobrex) và hướng dẫn cho bố mẹ trẻ cách vuốt bờ mi nhằm mục đích làm cho bờ mi bật ra ngoài,  lông mi không cọ vào giác mạc tránh tổn hại giác mạc. Nếu bệnh không tự mất đi thì có thể phẫu thuật  khi trẻ lớn hơn.

Phẫu thuật điều trị quặm bẩm sinh được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên về nhãn khoa là phẫu thuật tương đối đơn giản, thời gian phẫu thuật ngắn, không để lai sẹo gây mất thẩm mỹ. Khi trẻ có các biểu hiện bất thường như hay dụi mắt, chảy nước mắt cần đưa trẻ đến các cơ sở nhãn khoa để được khám và điều trị.

BS.ThS. Nguyễn Văn Huy
Theo SKĐS

Tìm hiểu về biêm kết mạc cấp

Viêm kết mạc cấp là tình trạng nhiễm trùng mắt, còn gọi là đau mắt đỏ. Bệnh thường khởi phát đột ngột (cấp tính), lúc đầu ở một mắt sau lây sang mắt kia.
Viêm kết mạc dễ lây lan có thể gây thành dịch. Khi một người trong gia đình mắc có thể lây ra cả nhà rồi lây lan ra cả cộng đồng, nhất là những nơi tập trung đông người như cơ quan, trường học… Bệnh thường kéo dài vài ngày, có thể đến vài tuần.

Nguyên nhân gây viêm kết mạc cấp thường gặp do vi khuẩn hoặc virus.

Viêm kết mạc cấp do virus gặp sau khi bị sốt virus, viêm phổi cấp hoặc sau sởi, hoặc bị nhiễm virus simplex hoặc herpes zoster.

Viêm kết mạc do vi khuẩn gây ra như liên cầu, tụ cầu, phế cầu. Đặc biệt, viêm kết mạc do lậu gặp ở trẻ sơ sinh do lây truyền từ mẹ sang con là một bệnh rất nguy hiểm có thể gây biến chứng nặng nề nếu không được điều trị kịp thời

tim-hieu-ve-benh-viem-ket-mac-cap

Triệu chứng

Viêm kết mạc thường bắt đầu khi mắt cảm thấy khó chịu, sau đó cộm như có cát trong mắt, mắt nhiều dử, buổi sáng ngủ dậy hai mắt khó mở do nhiều dử dính chặt. Dử mắt có thể màu xanh hoặc vàng tùy tác nhân gây bệnh.

Hai mi mắt sưng nề, mọng, mắt đỏ do cương tụ mạch máu. Một số trường hợp viêm kết mạc có giả mạc (giả mạc là lớp màng dai trắng khi lật mi mới thấy) thường lâu khỏi hơn các trường hợp khác.

Chẩn đoán viêm kết mạc cấp thường dễ nhận thấy khi có các triệu chứng như trên. Trong viêm kết mạc cấp thị lực của người bệnh không giảm trừ khi có biến chứng viêm giác mạc.

Phòng bệnh và điều trị

Khi bị viêm kết mạc cấp phải đi khám tại cơ sở chuyên khoa mắt, không được tự ý mua thuốc tra nhỏ. Điều trị có hiệu quả nhất khi tìm được nguyên nhân gây bệnh.

Nếu viêm kết mạc do vi khuẩn, dùng các thuốc rửa mắt như nước muối 0,9%, sau đó tra dung dịch kháng sinh và mỡ kháng sinh như tobramyxin, ofloxaxin… có thể uống thêm thuốc giảm phù.

Nếu viêm kết mạc do virus thường dùng kháng sinh tra mắt để phòng bội nhiễm chứ kháng sinh không diệt được virus.

Trong trường hợp viêm kết mạc có giả mạc phải bóc giả mạc trước khi tra thuốc để thuốc ngấm tốt hơn.

Để phòng bệnh, cần giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân. Rửa tay thường xuyên với xà phòng, đặc biệt sau khi tiếp xúc với người bệnh. Dùng riêng khăn, chậu rửa mặt khi bị bệnh để tránh lây lan sang người khác. Không tự ý mua thuốc tra nhỏ hoặc dùng thuốc của người khác tra nhỏ khi bị bệnh. Không tự đắp lá trầu, lá dâu vào mắt… vì có thể gây nhiễm trùng nặng thêm.

BS. ThS. Trần Thị Thúy Hồng

Theo SKDS

Phòng chống dị ứng mắt như thế nào

Nhiều người cho rằng, da, mũi mới dễ bị dị ứng chứ mắt do luôn có nước mắt “bảo vệ” nên khó nhiễm bệnh. Nhưng trong thực tế, mắt thuộc nhóm cơ quan có nguy cơ cao bị dị ứng do mắt thường xuyên tiếp xúc với môi trường. Không những thế, do phần bên ngoài của mắt lại luôn ẩm ướt nên khả năng bám dính và kích ứng của các kích thích và dị nguyên sẽ tăng lên. Nhờ có nước mắt, các dị nguyên có thể nhanh chóng bị rửa trôi, nhưng chỉ cần một thời gian rất ngắn, chúng cũng đã có thể gây ra các biểu hiện dị ứng tại mắt.

Người ta chia dị ứng mắt thành nhiều dạng

Viêm kết mạc dị ứng: Là bệnh thường gặp nhất với các triệu chứng chủ yếu là ngứa mắt, chảy nước mắt, tăng tiết rỉ mắt; nặng hơn thì phù nề, co quắp mi, sợ ánh sáng. Tại mi cũng có thể có các biểu hiện viêm nhiễm.

phong-ngua-di-ung-o-mat

Viêm giác mạc: Thường do dị ứng với những yếu tố nội sinh như: viêm giác mạc kẽ do dị ứng độc tố vi khuẩn lao – xoắn khuẩn giang mai, viêm giác mạc dạng nốt do dị ứng liên cầu, viêm giác mạc sau nhiễm virus Herpes, thủy đậu, zona…

Viêm bên trong nhãn cầu: Tuy khó có dị nguyên nào lọt vào được nhưng chúng ta vẫn có thể gặp các bệnh lý dị ứng. Chất nhân thể thủy tinh với bản chất là một dị nguyên nội sinh có thể gây ra những bệnh cảnh nặng nề cho mắt như: viêm màng bồ đào dị ứng chất nhân, glaucoma do thể thủy tinh.

Các nguyên nhân gây viêm nhiễm tại mắt

Dị ứng phấn hoa, viêm mũi xoang dị ứng, dị ứng thức ăn, dị ứng thuốc, hen, chàm, mất cân bằng dinh dưỡng, hóa chất, dùng mỹ phẩm bừa bãi… trong đó dị ứng mắt theo mùa là bệnh nhẹ, chỉ gây ngứa ngáy, mắt đỏ, chảy nước mắt. Cơ chế dị ứng mắt là phản ứng do tế bào mast cell bị kích thích bởi Immunoglobin E, khởi sự do bụi dị ứng sinh ra. Những chất trung gian từ tế bào mast cells như histamine, prostaglandin, leucotrienes và kinins lần lượt kích thích dây thần kinh, làm nở mạch máu, tiết ra chất nhờn, làm mắt ngứa, cay và đỏ, sưng thành bọng nước trong mắt và ra ghèn.

Dị ứng mắt dễ bị nhầm với các bệnh mắt khác do triệu chứng không rõ ràng. Bởi vậy, cần phân biệt dị ứng mắt với nhiều bệnh mắt khác, nhất là phân biệt thương tích vào mắt, nhiễm khuẩn mắt, dùng kính áp tròng, thuốc rửa mắt không hợp, nhiễm khuẩn mắt, viêm vành mắt, mắt khô, hay đường dẫn nước mắt bị nghẹt…

Ðiều trị và phòng bệnh

Điều trị tùy thuộc bệnh dị ứng mắt nặng hay nhẹ. Nhưng cách hay nhất là phải loại trừ nhanh chóng các dị nguyên ra khỏi mắt. Bệnh nhân không nên dùng tay dụi mắt vì sẽ kích thích tế bào mast cells làm bệnh tăng nặng thêm. Bệnh nhân có thể rửa mắt bằng nước lạnh, nước muối sinh lý, nước mắt nhân tạo (nếu dùng nước mắt nhân tạo mà còn bị đau mắt thêm, hay đỏ mắt hơn, hay bị kích thích thì nên ngưng dùng). Chườm lạnh cũng là phương pháp hữu hiệu để giảm phù mi, giảm ngứa và kích thích do làm co mạch và ổn định màng tế bào có chức năng miễn dịch.

Khi thấy khó chịu tại mắt, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa, không tự tiện mua thuốc để nhỏ. Cần tuân thủ nghiêm ngặt thời gian dùng và liều lượng thuốc, bởi việc dùng tùy tiện hay lạm dụng các thuốc này có thể gây một số biến chứng ở mắt. Nếu không may bị dị ứng với các thuốc tra hoặc nhỏ mắt thì phải dừng thuốc lại, sau đó đem đơn và thuốc đã dùng đến cơ sở chuyên khoa mắt gần nhất để được chẩn đoán và hiệu chỉnh.
Để phòng dị ứng, bệnh nhân phải tránh tiếp xúc với những dị nguyên, chất kích thích nào có thể gây dị ứng cho mắt. Các yếu tố gây dị ứng phổ biến là: phấn hoa, bụi nhà, bào tử nấm mốc, lông côn trùng và súc vật nuôi, nước hoa, xà phòng thơm, một số mỹ phẩm, thức ăn. Khi thấy khó chịu tại mắt, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa, không tự tiện mua thuốc nhỏ mắt. Khi bác sĩ kê đơn thuốc, cần báo cho bác sĩ biết về tiền sử dị ứng của bạn.

BS. Nguyễn Thị Hiền

Theo SKDS

Bệnh viêm kết mạc ở trẻ

Bệnh đau mắt đỏ là một thuật ngữ thường dùng để mô tả một tình trạng mắt bị kích thích hay nhiễm trùng. Thuật ngữ y khoa của bệnh đau mắt đỏ là “viêm kết mạc”.

Nếu bạn bị bệnh đau mắt đỏ, mắt của bạn có thể:

–  Chuyển sang màu đỏ hoặc màu hồng

. Chảy nước mắt, rỉ dịch

–  Cảm thấy ngứa hoặc nóng rát

– Gặp khó khăn nhắm mở mắt

Bệnh đau mắt đỏ có thể được gây ra bởi sự viêm nhiễm, dị ứng hoặc một  kích thích không rõ.

benh_viem_ket_mac_o_tre

Bạn có thể bị lây bệnh đau mắt đỏ từ người khác?

Khi mà bệnh đau mắt đỏ được gây ra bởi sự viêm nhiễm, nó có thể lây lan dễ dàng. Thông thường, bệnh đau mắt đỏ được lây lan do tiếp xúc với những đồ vật mà người bị bệnh đã tiếp xúc trước đó. Nếu bạn biết một ai đó bị bệnh đau mắt đỏ, bạn nên tránh chạm tay vào khăn, mền gối hoặc những vật dụng cá nhân khác của người bệnh.

Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?

– Đi khám bác sĩ hoặc y tá nếu mắt của bạn bị đỏ, ngứa, rỉ dịch hoặc đau.

Có thể điều trị được bệnh đau mắt đỏ?

– Hầu hết các trường hợp đau mắt đỏ sẽ tự khỏi mà không điều trị.

Có trường hợp bệnh cần phải được điều trị:

– Đau mắt đỏ gây ra do vi khuẩn có thể được điều trị bằng dung dịch hoặc gel thuốc kháng sinh nhỏ mắt.

– Bệnh gây ra bởi các nguyên nhân khác thường thì có thể sử dụng dung dịch nhỏ mắt điều trị dị ứng. Những dạng thuốc này không phải để trị bệnh, nhưng chúng có thể làm giảm các triệu chứng như ngứa và viêm kích ứng.

– Những trường hợp bị khô mắt có thể sử dụng thuốc nhỏ mắt làm ướt mắt.

– Khi sử dụng thuốc nhỏ mắt điều trị nhiễm trùng, không để những giọt dịch từ mắt bệnh sang mắt lành. Ngoài ra, không chạm vào mắt lành sau khi đã chạm vào mắt bệnh. Cả hai điều có thể làm nhiễm trùng lây lan từ mắt bệnh sang mắt lành.

Nếu người bệnh đang đeo kính áp tròng?

– Nếu bạn đang đeo kính áp tròng và bạn có dấu hiệu bị đau mắt đỏ, điều quan trọng là bạn cần phải đi khám bác sĩ ngay. Trong những người đeo kính áp tròng, các triệu chứng của đau mắt đỏ trở nên trầm trọng hơn.

– Trong khi điều trị nhiễm trùng mắt, bạn nên dừng lại việc đeo kính áp tròng trong một thời gian ngắn. Bạn cần phải lấy kính áp tròng  ra và cẩn thận làm sạch kính. Nếu kính áp tròng của bạn chỉ dùng một lần thì bạn sẽ phải bỏ đi và bắt đầu đeo lại kính mới.

Đau mắt đỏ có thể được dự phòng?

– Để dự phòng hoặc tránh lây lan bệnh đau mắt đỏ, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước. Nếu không thể rửa tay, bạn nên sử dụng gel cồn rửa tay khi làm việc. Ngoài ra, tránh khăn sử dụng chung đồ đạt như khăn, quần áo ngủ, hoặc các vật dụng cá nhân với người bệnh.

Đăng bởi: BS. Đặng Ngọc Thạch ( dịch từ nguồn Uptodate)
Theo benhviennhi.org.vn

Viêm kết mạc do khô mắt?

Tôi năm nay 73 tuổi, gần đây cảm giác lúc nào cũng như có bụi trong mắt, sợ ánh sáng có người bảo bị khô mắt. Tôi đi khám được bác sĩ chẩn đoán viêm kết mạc, dùng nhiều loại thuốc nhỏ mắt nhưng không khỏi. Xin hỏi tôi bị bệnh gì và cách chữa ra sao?

Lê Thị Hòa(Quảng Ngãi)

Viêm kết mạc là bệnh hay gặp có thể do nhiều nguyên nhân gây nên như nhiễm virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, kích thích, dị ứng… Ngoài ra, ở người cao tuổi còn gặp viêm kết mạc do khô mắt. Tùy nguyên nhân, nếu viêm kết mạc do vi khuẩn thì sử dụng kháng sinh (dùng thuốc nhỏ mắt cloroxit hoặc gentamicin, SMP…; trẻ sơ sinh dùng argyrol). Nếu viêm kết mạc dị ứng thì phải dùng dexamethason hoặc hydrocortison… Nếu do khô mắt phải dùng nước mắt nhân tạo. Muốn biết chắc có phải do khô mắt hay không thì cần đi khám để bác sĩ chuyên khoa mắt thử test sehimer – là dùng một giấy thử (giấy dùng trong phòng thí nghiệm) đặt vào mắt sau 10 phút, nếu nước mắt ngấm ướt giấy có đường kính dưới 10cm thì được coi là khô mắt. Trường hợp của bác có thể bị viêm kết mạc do khô mắt.

viem_ket_mac_do_kho_mat

Nguyên nhân khô mắt ở người cao tuổi là do tuyến nước mắt ở tuổi này hoạt động chậm lại, không cung cấp đủ nước mắt để bôi trơn khi nháy mắt. Ngoài ra, một số thuốc như thuốc điều trị tăng huyết áp cũng làm giảm nước mắt.

Để chữa khô mắt, trong trường hợp này có thể dùng nước mắt nhân tạo có bán ở các hiệu thuốc. Tuy nhiên cần đến khám tại chuyên khoa mắt để được chẩn đoán chắc chắn và được hướng dẫn chữa trị cụ thể.

BS. Ngô Thị Hường
Theo SKDS

Bệnh viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh

Viêm kết mạc là bệnh thường gặp khi trẻ mới sinh được vài ngày, với các triệu chứng hai mi sưng nề, đỏ, chảy nước mắt kèm dử mắt, trẻ khó mở mắt thậm chí không mở được mắt,… Nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến thị lực của trẻ, nặng hơn có thể dẫn đến mù lòa.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân chủ yếu gây viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh là do trẻ bị nhiễm khuẩn từ đường sinh dục của người mẹ khi sinh (hay gặp nhất là do lậu, chlamydia,…), do nhiễm khuẩn từ trong bụng mẹ (thường gặp trong những trường hợp vỡ ối sớm) hoặc do trẻ không được chăm sóc, vệ sinh tốt trong những ngày đầu sau sinh…

Triệu chứng

Ngay trong 1-2 ngày đầu sau sinh, trẻ có biểu hiện: hai mi mắt sưng nề, đỏ, trường hợp nặng mi sưng nhiều làm trẻ khó mở mắt hoặc không mở được mắt; mắt đỏ rực; chảy nhiều nước mắt, kèm theo ghèn (dử mắt), nặng hơn mủ nhiều,… Thường bị cả hai mắt, ít khi một mắt trước sau đó lan sang mắt kia. Đối với viêm kết mạc do lậu rất nguy hiểm với các triệu chứng là sưng mi mắt, đỏ mắt, chảy mủ mắt lượng nhiều,… nếu không điều trị ngay có thể gây loét giác mạc, để lại sẹo, dẫn đến mù lòa.

benh_viem_ket_mac_o_tre_so_sinh

Chăm sóc trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Từ Dũ 9TP.HCM). Ảnh: H.Cát

Ðiều trị ngay khi trẻ có triệu chứng

Do tính chất cấp tính của bệnh cho nên ngay sau khi sinh trẻ cần được theo dõi, chăm sóc mắt và vệ sinh thân thể tốt. Nếu thấy có biểu hiện viêm kết mạc trẻ cần được điều trị ngay tại cơ sở y tế chuyên khoa.

Viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh cần phải điều trị dứt điểm ngay bằng thuốc kháng sinh dạng tiêm, dung dịch, mỡ; rửa mắt thường xuyên bằng nước muối sinh lý theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Người chăm sóc trẻ cần chú ý khi vệ sinh, tra thuốc, nhỏ thuốc mắt cho trẻ sơ sinh phải hết sức cẩn thận, nhẹ nhàng, tránh gây xước da, niêm mạc mắt trẻ. Trước khi vệ sinh, tra thuốc mắt cho trẻ cần rửa tay sạch bằng xà phòng diệt khuẩn.

Để phòng bệnh viêm kết mạc, ngay sau khi sinh trẻ cần được tra thuốc mỡ tetracyclin 1% hoặc nhỏ mắt bằng dung dịch cloramphenicol 0,4%, argyrol 1% theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Trẻ mắc bệnh này chủ yếu do bị nhiễm khuẩn qua đường âm đạo của mẹ khi sinh (do bệnh nhiễm khuẩn sinh dục của người mẹ) nên trước khi mang thai người mẹ cần khám phụ khoa và điều trị dứt điểm các bệnh viêm nhiễm sinh dục để phòng bệnh cho trẻ khi sinh.

Bác sĩ Thu Lan
Theo SKDS

Chữa đau mắt đỏ có nên dùng kháng sinh?

Hiện nay, đang vào mùa đau mắt dịch (còn gọi là đau mắt đỏ, viêm kết mạc dịch hay viêm kết mạc do virut). Vậy khi bị đau mắt đỏ thì việc dùng thuốc như thế nào?

chua_dau_mat_do_co_nen_dung_khang_sinh

Hình ảnh viêm kết mạc do virut.

Kháng sinh không phải là vũ khí chính

Hiện chưa có thuốc diệt virut gây đau mắt đỏ. Các thuốc đang có hiện nay như acyclovir, zovirax… chỉ có tác dụng hạn chế sự sinh sôi của virut. Nếu dùng thì cũng không làm bệnh nhanh khỏi hơn mà chỉ hỗ trợ quá trình diễn biến của bệnh diễn ra thuận lợi. Đối với kháng sinh chỉ nên dùng kháng sinh tra, nhỏ tại chỗ, kháng sinh phổ rộng để phòng ngừa nhiễm trùng cơ hội trên bệnh nhân đau mắt đỏ. Cũng chỉ nên dùng một trong các loại kháng sinh sau đây: tobramycine 0.3% (tobrex, toeycine), quinolone (oflovid, okacin, vigamox), neomycine và polymycine B (cebemycine).

Tại sao lại phải dùng nước muối sinh lý hoặc nước mắt nhân tạo?

Nước muối sinh lý 0,9% hay cao cấp hơn là nước mắt nhân tạo (Tear natural) sẽ rửa trôi mầm bệnh, rửa trôi chất tiết và gỉ mắt, làm êm dịu đôi mắt đang cộm rát khó chịu. Các chế phẩm trên không có chất kháng sinh cũng không có chất diệt virut nhưng vẫn được kê đơn rộng rãi là nhờ những tính năng trên. Các chế phẩm bôi trơn mắt có độ nhớt quá cao như celluvisc, liposic không nên dùng trong giai đoạn đầu của bệnh.

Có nên dùng các phương thức điều trị dân gian?

Rất nhiều người nghiện xông lá trầu không, lá dâu, lá tre… Kinh nghiệm cho thấy, các phương pháp này tuy có làm người bệnh dễ chịu đôi chút nhưng không hề làm bệnh mau khỏi, chưa kể một số bệnh nhân xông lá có thể gây bỏng mắt, trợt giác mạc, xuất huyết dưới kết mạc và sưng nề hơn sau khi xông lá. Uống lá dấp cá, uống chè hoa cúc có vẻ khả dĩ hơn phương pháp xông lá.

Có nên uống kháng sinh, uống thuốc chống sưng nề hay chống viêm?

Hoàn toàn không cần thiết. Như đã nói kháng sinh không phải là vũ khí để chống chọi với mầm bệnh virut. Tuy một vài bệnh nhân có sốt nhẹ, đau họng, sưng hạch, ho húng hắng… nhưng đó là triệu chứng xâm nhập của virut vào cơ thể và phản ứng của hệ bạch huyết. Do vậy không cần phải dùng kháng sinh. Thuốc chống sưng nề, chống viêm có lẽ chỉ làm bác sĩ và bệnh nhân yên tâm hơn chứ không có tác dụng thực tế.

Việc dùng các thuốc nhỏ mắt có cortizol

Polydexa hay clodexa đã từng gây kinh hoàng cho rất nhiều bệnh nhân bởi rất nhiều tai biến của chúng. Ai cũng biết đây là con dao hai lưỡi trong điều trị học nhãn khoa. Tuy nhiên trong viêm kết mạc dịch, quan điểm có vẻ cởi mở hơn. Các thuốc giảm viêm  dùng  sau ngày thứ 5 kể từ lúc phát bệnh có vẻ làm bệnh diễn tiến nhanh theo chiều hướng tốt.  Một vài trường hợp cá biệt bệnh sẽ nặng lên do những nguyên nhân sau đây: chẩn đoán nhầm, kháng sinh không đủ hiệu lực che chở nhiễm khuẩn. Sau cùng thì chúng ta vẫn nên nhớ một nguyên tắc là: không được sử dụng các sản phẩm có cortizol nếu không có đơn của thầy thuốc chuyên khoa mắt.

Phòng bệnh luôn tốt hơn chữa bệnh

Cách ly người bệnh và điều trị tốt cho họ. Tránh không đến nơi có nhiều bệnh nhân mắt trong mùa dịch như bệnh viện, siêu thị, các trung tâm vui chơi giải trí… Rửa tay bằng xà phòng tiệt trùng nhiều lần trong ngày, rỏ nước muối vệ sinh mắt… là cách bảo vệ chúng ta khỏi những phiền toái do viêm kết mạc dịch.

BS. Hoàng Cương (Bệnh viện Mắt Trung ương)
Theo SKDS

Viêm kết mạc – họng – hạch: Dễ nhầm với đau mắt đỏ và gây biến chứng

Bệnh đau mắt đỏ năm nay xảy ra sớm hơn và đang bùng phát mạnh trong cộng đồng nhưng nhiều người vẫn chủ quan, cho rằng bệnh tự khỏi, đã dẫn đến những biến chứng khó lường.

Bùng phát bệnh đau mắt đỏ

Bệnh đau mắt đỏ thường xảy ra vào tháng 4-7 hàng năm. Tuy nhiên, năm nay dịch bệnh này đến sớm hơn. Hiện nay, trung bình mỗi ngày khoa Khám bệnh (Bệnh viện Mắt T.Ư) tiếp nhận 60-100 bệnh nhân, trong đó 30% bị đau mắt đỏ. Bệnh lây lan nhanh, chỉ qua tiếp xúc trực tiếp như bắt tay, quan hệ tình dục, hoặc tiếp xúc với những vật đã bị nhiễm mầm bệnh như dùng chung đồ sinh hoạt, khăn mặt, nước bể bơi… hay qua đường hô hấp như ho, hắt hơi…

viem_ket_mac_hong_hach_de_nham_voi_dau_mat_do_va_gay_bien_chung

Khi bị đau mắt đỏ, cần đi khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Ảnh: Hoàng Hà

Khi có những triệu chứng mắc bệnh, bệnh nhân không được tự ý điều trị, cần đến thăm khám tại các bệnh viện chuyên khoa để được bác sĩ tư vấn cách điều trị. Bệnh nhân cũng có thể sử dụng nước muối sinh lý để rửa mắt và tra thuốc kháng sinh loại nhẹ để phòng bội nhiễm.

Cẩn trọng với viêm kết mạc – họng – hạch

Bệnh đau mắt đỏ nếu gặp phải virut adenovirut có thể gây những biến chứng nguy hiểm. Bệnh có sự liên kết của nhiều bộ phận như viêm kết mạc ở mắt, đau họng và lên hạch trước tai nên được gọi là viêm kết mạc – họng – hạch. Rất nhiều người nhầm lẫn với bệnh viêm kết mạc thông thường, nên khi thấy mắt đỏ chỉ nghĩ bị đau mắt hoặc thấy khan giọng thì nghĩ đau họng.

Người bị viêm kết mạc – họng – hạch có thể thấy xuất hiện một số triệu chứng như toàn thân sốt nhẹ, viêm mũi – họng, nổi hạch trước tai. Thông thường khi bị viêm kết mạc – họng – hạch thì virut có thể tấn công cùng lúc ở cả mắt, họng và làm nổi hạch.

Người bệnh sẽ có cảm giác khó chịu, chảy nước ở mắt, sợ ánh sáng, mỗi khi nuốt nước bọt họng lại đau và nổi hạch luôn. Đồng thời vành mi trên, đặc biệt là mi dưới xuất hiện nhiều hột to mọc thành dãy, xuất hiện nhanh và thoái hoá phát triển nhanh trong vòng 6 ngày không để lại sẹo.

Khác với đau mắt đỏ thông thường, bệnh này thường lây nhiễm chủ yếu qua đường hô hấp như ho, hắt hơi vì vậy người bệnh cũng cần phải đeo khẩu trang tránh lây nhiễm cho người khác.

Thường bệnh chỉ diễn ra từ 5-7 ngày, nhưng sau một thời gian nếu không được điều trị kịp thời có thể gây nhiều biến chứng về đường hô hấp như viêm phế quản, viêm phổi… Do đó, khi thấy có triệu chứng bệnh cùng lúc ở mắt, họng và nổi hạch cần đến ngay các cơ sở chuyên khoa về mắt và họng để khám và có cách điều trị kịp thời.

BS. Hồng Hạnh
Theo SKDS

Làm gì khi bị bệnh đau mắt đỏ

Sau trận lụt lịch sử vừa qua, tại một số địa phương đã xuất hiện nhiều người mắc bệnh đau mắt đỏ. Đây là một bệnh dễ gặp ở các vùng bị ngập lụt do thiếu nước sạch sinh hoạt hoặc do tiếp xúc với hóa chất. Dự phòng và điều trị bệnh đau mắt đỏ bằng cách nào là một trong những vấn đề đang rất được người bệnh quan tâm.

nhung-dieu-nen-lam-khi-bi-dau-mat-do

Đau mắt đỏ (ĐMĐ) còn gọi là viêm kết mạc. Nguyên nhân của ĐMĐ thường là nhiễm vi khuẩn, virut hoặc phản ứng dị ứng… Mặc dù ĐMĐ gây kích thích mắt nhưng hiếm khi ảnh hưởng đến thị lực. Vì ĐMĐ có nguy cơ lây nhiễm cao trong vòng 2 tuần từ khi bị bệnh nên việc chẩn đoán và điều trị sớm là rất quan trọng.

Dấu hiệu nào nhận biết ĐMĐ?

Triệu chứng của ĐMĐ thường là: đỏ một hoặc cả hai mắt; ngứa một hoặc cả hai mắt; cảm giác có sạn ở trong mắt; rỉ dịch ở một hoặc hai mắt; chảy nước mắt. ĐMĐ làm cho bạn có cảm giác như có một vật gì ở trong mắt mà không thể lấy ra được. Khi thức dậy mắt bị dính chặt lại do màng dử mắt.

Viêm kết mạc thường bị cả hai mắt mặc dù bệnh có thể xảy ra ở một mắt sau đó lây sang mắt kia sau một hoặc hai ngày. Bệnh có thể không cân xứng, một mắt nặng hơn mắt kia.

Xử trí khi bị ĐMĐ

Tùy nguyên nhân mà dùng các thuốc phù hợp.

Đau mắt đỏ do virut, vi khuẩn

ĐMĐ do virut hoặc vi khuẩn có thể xảy ra ở một hoặc hai mắt. ĐMĐ do virut hay chảy nước mắt hoặc dịch nhầy. ĐMĐ do vi khuẩn thường tạo ra dử dày hơn, màu vàng xanh và có thể liên quan với nhiễm khuẩn hô hấp hoặc viêm họng. Cả ĐMĐ do virut và vi khuẩn có thể liên quan với cảm lạnh.

ĐMĐ do vi khuẩn được điều trị bằng kháng sinh do bác sĩ khám và kê đơn. Kháng sinh có thể được dùng dưới dạng nhỏ mắt, mỡ hoặc viên uống. Thuốc nhỏ hoặc mỡ cần được tra trong mắt 3-4 lần một ngày trong 5-7 ngày. Thuốc mỡ hay dùng để tra vào mắt trẻ. Nhiễm khuẩn sẽ cải thiện trong vòng 1 tuần. Bạn cần dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ thậm chí cả khi triệu chứng bệnh đã hết.

ĐMĐ do virut không đáp ứng với điều trị bằng thuốc tra mắt nước hoặc mỡ kháng sinh. Giống như cảm lạnh, bạn có thể dùng thuốc không cần kê đơn để giảm triệu chứng vì virut phải tiến triển hết quá trình của nó. Kháng sinh chloramphenicol có thể dùng để phòng nhiễm khuẩn thứ phát. ĐMĐ do virut sẽ thấy các triệu chứng trầm trọng hơn vào 3-5 ngày đầu. Sau đó các triệu chứng giảm dần và bệnh có thể tự khỏi. ĐMĐ do virut và vi khuẩn đều rất dễ lây. Người lớn cũng như trẻ em đều có thể bị hai loại nguyên nhân này nhưng ĐMĐ do vi khuẩn hay gặp ở trẻ em hơn.

ĐMĐ do dị ứng

ĐMĐ do dị ứng thường bị ở cả hai mắt và là một phản ứng dị ứng với chất gây dị ứng. Trong phản ứng dị ứng, cơ thể tạo ra một kháng thể gọi là IgE. Kháng thể này khởi động các tế bào đặc biệt gọi là các tế bào mast trong lớp nhầy của mắt và đường thở để giải phóng các chất kháng viêm là histamin. Việc giải phóng histamin có thể gây ra nhiều triệu chứng dị ứng trong đó có đỏ mắt. Nếu bị ĐMĐ dị ứng bạn sẽ rất ngứa, chảy nước mắt và viêm mắt, hắt hơi, sổ mũi, có thể phù nề kết mạc trông như vết phỏng trong lòng trắng. Bác sĩ có thể kê cho bạn một trong các loại thuốc tra mắt dưới đây: kháng histamin, thuốc thông mũi, ổn định tế bào mast, chống viêm steroid và các thuốc chống viêm khác. Thuốc tra corticoid thường được dùng nhưng cần có sự giám sát của bác sĩ mắt. Quan trọng là phải phát hiện được nguyên nhân gây dị ứng để loại bỏ.

ĐMĐ do nhiễm hóa chất

Triệu chứng kích thích do nhiễm hóa chất hoặc dị vật cũng có liên quan đến ĐMĐ. Đôi khi việc rửa để loại bỏ hóa chất hoặc dị vật có thể gây đỏ mắt. Triệu chứng thường bao gồm dử nhày mắt, không có mủ, thường tự khỏi trong vòng một ngày. Dùng nước ấm rửa mắt trong vòng 5 phút. Mắt bạn có thể dễ chịu hơn trong vòng 4 tiếng sau rửa chất kích thích, nếu không đỡ bạn cần gặp bác sĩ.

Những lưu ý khi bị ĐMĐ

– Bạn có thể làm dịu khó chịu bằng cách đắp khăn ấm lên mắt bị đau. Ngâm một miếng vải sạch trong nước ấm và vắt nước trước khi đặt nó nhẹ nhàng lên mắt đau.

– Rửa mặt và mắt bằng xà phòng nhẹ hoặc dầu gội đầu trẻ em, rửa với nước để loại bỏ chất kích thích.

– Với ĐMĐ dị ứng, tránh dụi mắt vì làm thế bạn không giảm được ngứa. Thay vì việc đó bạn nên đắp một miếng gạc lạnh để làm dịu. Cũng có thể dùng thuốc tra mắt không kê đơn như Naphcon-A hoặc Opcon-A, chứa kháng histamin và tác nhân gây co mạch.

– Thuốc không cần kê đơn có thể giúp bạn giảm ngứa và bỏng rát mắt do chất kích thích. Cần chú ý là thuốc tra mắt cũng có thể gây kích thích mắt do đó cần dừng thuốc đó ngay.

Phòng bệnh

Vệ sinh tốt là cách tốt nhất để kiểm soát lây lan ĐMĐ. Một khi đã được chẩn đoán là đau mắt đỏ bạn cần thực hiện các bước sau:

– Không dụi mắt bằng tay.

– Rửa tay kỹ và thường xuyên với nước ấm, điều này rất quan trọng.

– Lau rửa dịch dử mắt 2 lần một ngày bằng khăn giấy hoặc cotton ẩm, sau đó vứt ngay.

– Giặt ga giường, vỏ gối, khăn tắm trong nước tẩy và ấm.

– Tránh dùng chung các vật dụng như khăn mặt, chậu rửa.

– Rửa tay sau khi tra thuốc mắt.

– Không tra vào mắt lành thuốc nhỏ của mắt đang bị nhiễm khuẩn.

BS. Hà Thị Thu Hà