Tag Archives: vi khuẩn

Những điều chưa biết về hiếm muộn

Vô sinh là vấn đề rất nhạy cảm, có thể khiến nhiều phụ nữ cảm thấy cô đơn nếu không được làm mẹ. Theo Hiệp hội Y học Sinh sản Mỹ, vô sinh ảnh hưởng đến 7,3 triệu đôi ở Mỹ và chiếm 12% dân số trong độ tuổi sinh sản của nước này. Khi nghiên cứu về vô sinh, các nhà khoa học khám phá ra, có rất nhiều điều tưởng như không liên quan lại có thể góp phần phá hoại những nỗ lực mang bầu của bạn.

Trong thực tế, một nghiên cứu mới cho biết căng thẳng có thể tăng gấp đôi nguy cơ vô sinh của phụ nữ, tuy nhiên, một hành động đơn giản như đi dạo 20 phút mỗi ngày có thể giúp người đó tăng cơ hội có con trở lại. Mang thai không bao giờ là dễ dàng, nhưng nếu muốn có con, bạn nên lưu ý những điều sau.

Tập luyện quá nhiều có thể ảnh hưởng tới khả năng mang thai

nhung-dieu-chua-biet-ve-hiem-muon

Rõ ràng tập thể dục rất tốt cho sức khỏe thể chất và tinh thần của bạn. Ngoài ra, bạn cũng khó mang bầu nếu quá thừa cân hay quá thiếu cân. Tuy nhiên, không hẳn những phụ nữ càng có phom chuẩn, càng khỏe mạnh càng dễ mang bầu. Theo các nhà nghiên cứu tại ĐH Khoa học và Công nghệ Na Uy, 7% phụ nữ Na Uy có vấn đề khả năng sinh sản. Sau đó, họ đã tiến hành một nghiên cứu với sự tham gia của 3.000 phụ nữ và thấy rằng một chế độ tập luyện đầy đủ và khắc nghiệt đã giảm khả năng sinh sản của những người này.

Bất lợi của nhóm máu O

Các nhà khoa học của ĐH Yale và trường cao đẳng y tế Albert Einstein (Mỹ) phát hiện ra rằng, trong số nữ bệnh nhân chữa vô sinh ở độ tuổi 30, những người có nhóm máu O nhiều gấp đôi các nhóm máu khác bởi người có nhóm máu O có nội tiết tố khiến buồng trứng của họ dường như già hơn so với tuổi.

Sữa ít béo không tốt cho buồng trứng

nhung-dieu-chua-biet-ve-hiem-muon1

Phụ nữ được khuyến khích uống sữa cho xương chắc khỏe hơn, nhưng bạn có hài lòng về chu kỳ rụng trứng của mình trong thời gian bổ sung thực phẩm này không? Một nghiên cứu của ĐH Harvard cho biết những phụ nữ ăn nhiều sản phẩm sữa ít béo đối mặt với nguy cơ vô sinh do vấn đề rụng trứng nhiều hơn những người ăn ít hoặc không ăn sữa ít béo tới 85%.

Các vấn đề về sinh sản có thể khiến vợ chồng bạn gần nhau hơn

Nếu bạn lo lắng rằng sự căng thẳng của việc cố gắng thụ thai sẽ khiến vợ chồng rời xa nhau thì một nghiên cứu gần đây có thể giúp giải tỏa nỗi lo lắng đó. Một bài báo được đăng trên tạp chí của Hội Phụ sản Bắc Âu cho biết, các nhà khoa học sau 12 năm theo dõi đã phát hiện những đôi chữa trị vô sinh thành công thường gắn bó hơn hẳn nhờ đã nhận thức được và cùng trải qua những khó khăn chung, mà người ta gọi đó là “lợi ích hôn nhân”.

Thiếu ánh sáng mặt trời có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại gọi mùa hè là mùa yêu thương. Các nhà khoa học của ĐH Graz (Áo) phát hiện ra rằng, trong những tháng mùa đông, phụ nữ rụng trứng ít hơn và khả năng thành công của việc trứng di chuyển và làm tổ trong dạ con cũng giảm. Vitamin D giúp tăng nồng độ của hormone nữ progesterone và estrogen lần lượt là 13% và 21%, điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt và làm tăng khả năng thụ thai.

Thói quen ăn bỏng ngô gây hại

nhung-dieu-chua-biet-ve-hiem-muon2

Đi chơi buổi tối và ăn vặt bỏng ngô có thể làm giảm cơ hội có con của bạn trong một thời gian dài. Một nghiên cứu do các nhà khoa học tại ĐH California cho biết, hít phải hơi bốc ra từ các túi bỏng ngô nổ trong lò vi sóng có thể gây hại cho sức khỏe của bạn. Ăn quá nhiều bỏng ngô sẽ khiến diacetyl – một hương liệu nhân tạo dùng để tạo ra vị bơ tích tụ trong máu của bạn, bên cạnh đó còn có Teflon (loại chất dẻo tráng lên bề mặt các thiết bị đun nấu để chống dính) và một số hóa chất khác. Điều đáng sợ hơn là người ta tìm thấy những hóa chất này có trong máu của 95% người Mỹ. Nếu muốn ăn bỏng ngô, tốt nhất bạn hãy tự nổ ở nhà để tránh được những chất phụ gia gây độc hại này.

Răng miệng sạch giúp bạn dễ thụ thai hơn

Không ai thích phải đến gặp nha sĩ, nhưng có lẽ bạn cũng không hề biết việc giữ hàm răng sạch có thể ảnh hưởng đến cơ hội mang thai của bạn. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Australia, nha chu hay các bệnh về răng miệng có thể trì hoãn việc thụ thai thành công tới 2 tháng, hoặc thậm chí nhiều hơn. Họ thấy rằng những phụ nữ có bệnh về răng miệng phải mất trung bình 7 tháng “thả” mới có thể mang bầu, trong khi những phụ nữ không có bệnh răng miệng chỉ mất trung bình 5 tháng là đậu thai. Nướu sưng phồng và những hố sâu xung quanh chân răng nuôi dưỡng nhiều vi khuẩn. Những vi khuẩn này có thể đi vào máu, làm viêm nhiễm bên trong, giảm cơ hội đi vào dạ con của trứng.

Theo VnExpress

Điều trị ung thư tụy bằng vi khuẩn

Lần đầu tiên phương pháp sử dụng vi khuẩn Listeria, loại vi khuẩn gây ra ngộ độc thực phẩm, để tiêu diệt các tế bào ung thư tuyến tụy đã được thử nghiệm thành công trên động vật, mở ra hy vọng mới trong công tác điều trị ung thư ở người.

Đây là kết quả nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc trường Cao đẳng Albert Einstein công bố trên ấn phẩm Biên bản của Viện Khoa học Quốc gia (Proceedings of the National Academies of Science) số ra ngày 22/4.

Nhà khoa học Claudia Gravekamp, chuyên gia về vi trùng và miễn dịch của trường Cao đẳng Y khoa Albert Einstein thuộc Đại học Yeshiva ở New York, Mỹ đồng thời là tác giả nghiên cứu, cho biết nhóm nghiên cứu của bà đã tiến hành đưa những vi khuẩn Listeria yếu vào cơ thể những con chuột mắc ung thư tuyến tụy.

ung-thu-tuy

Những vi khuẩn này được gắn kèm đồng vị phóng xạ thường được sử dụng trong điều trị ung thư.

Thí nghiệm cho thấy những vi khuẩn phóng xạ này sau khi được đưa vào cơ thể chuột tác động đến các tế bào ung thư nhưng lại không gây ảnh hưởng gì đến các tế bào bình thường.

Sau 3 tuần điều trị bằng phương pháp này, tế bào ung thư ngừng di căn ở 90% cá thể chuột, các phản ứng phụ cũng không được ghi nhận. Thí nghiệm kéo dài 21 ngày, dừng lại sau khi nhóm chuột ung thư không được điều trị bắt đầu chết.

Ung thư tuyến tụy là dạng ung thư phát triển rất nhanh và đặc biệt nguy hiểm, bởi bệnh chỉ có thể phát hiện một khi đã phát triển ra ngoài khu vực tuyến tụy.

Bệnh nhân không được chữa trị thường tử vong chỉ trong vòng từ 3-6 tháng, tỷ lệ sống sót sau năm năm cũng chỉ ở mức 4%.

Các nhà khoa học cho biết hiện vẫn cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu khác để đảm bảo phương pháp này có thể áp dụng cho điều trị ở người cũng như để xem xét khả năng kéo dài thời gian sống của bệnh nhân.

Tuy nhiên, kết quả khả quan này có thể mở ra một kỷ nguyên mới trong điều trị di căn ung thư tuyến tụy.

Theo vietnam +

Ngộ độc thực phẩm từ đồ hộp

Đồ hộp là thực phẩm luôn được ưu tiên sử dụng trong những chuyến đi xa, những lúc bận rộn do ưu điểm tiện lợi và nhanh chóng. Tuy nhiên, nếu khi mua và sử dụng các loại đồ hộp không cẩn thận, con người có thể bị ngộ độc do ăn phải mầm bệnh phát triển ở trong loại thực phẩm này. Ngộ độc thường được ghi nhận là do bị nhiễm độc tố vi khuẩn Clostridium botulinum có trong đồ hộp, còn gọi là ngộ độc botulism, có thể gây tử vong.

Độc tố là thủ phạm
Ngộ độc botulism là bệnh ngộ độc thực phẩm mang tính chất cấp tính xảy ra rất nặng, nó có thể phá hủy hệ thần kinh trung ương và gây tử vong cao. Bệnh thường xảy ra sau khi ăn các loại thực phẩm dự trữ được đóng hộp như thịt hộp, cá hộp, pa-tê, xúc xích, rau quả… Bệnh ngộ độc botulism thường do loại vi khuẩn Clostridium botulinum typ A và B gây nên. Nó là trực khuẩn kỵ khí tuyệt đối, tồn tại ở trong đất, phân động vật, ruột cá, từ đó vi khuẩn đột nhập vào thực phẩm.

do-hop

Nhận biết khi bị ngộ độc
Bệnh thường xuất hiện sau khi dùng thực phẩm đóng hộp kém chất lượng mà không đun nóng lại trước khi ăn. Thời gian ủ bệnh thường khoảng từ 6 – 24 giờ, thời gian này ngắn hay dài hoặc có thể sau vài ngày tùy theo lượng độc tố bị nhiễm độc. Sau đó, bệnh xuất hiện với các dấu hiệu lâm sàng chủ yếu là liệt thần kinh do tổn thương thần kinh trung ương và hành tủy.

Triệu chứng sớm nhất là liệt mắt, cơ mắt, có biểu hiện song thị như nhìn một hóa hai; bị liệt vòm họng, lưỡi, yết hầu, biểu hiện rối loạn lời nói rồi mất tiếng, mất phản xạ nuốt; bị liệt dạ dày, ruột dẫn đến táo bón, trướng bụng, giảm sự tiết dịch, đôi khi đi tiểu tiện khó… Bệnh nhân có thể không sốt nhưng mạch nhanh, mạch có thể tăng nhanh nhưng nhiệt độ cơ thể vẫn bình thường, có hiện tượng mạch – nhiệt phân ly, biểu hiện của tình trạng nhiễm độc. Bệnh kéo dài khoảng từ 4 – 8 ngày. Nặng có thể hôn mê, bị tử vong vào ngày thứ 3 do liệt trung tâm hô hấp, tim ngừng đập. Tỷ lệ tử vong của bệnh ngộ độc botulism có thể rất cao, chiếm tới 60 – 70% nếu không được phát hiện, xử trí nhanh chóng. Vì vậy, cần phải đưa ngay bệnh nhân đến bệnh viện gần nhất để được cấp cứu, điều trị kịp thời.

Điều trị và phòng bệnh
Tất cả các trường hợp nhiễm C. botulinum cần được theo dõi sát sao tại các cơ sở y tế để theo dõi tiến triển của dấu hiệu liệt cơ. Thuốc có hiệu quả nhất hiện nay đang được sử dụng là globulin miễn dịch botulism dùng đường tiêm tĩnh mạch (Botulism Immune Globulin Intravenous Human – BIG-IV). Kháng độc tố C. botulinum được chiết xuất từ ngựa cũng thường được sử dụng với liều từ 50.000 – 100.000 đơn vị. Khi đã có biểu hiện suy hô hấp, hết sức chú ý các dấu hiệu ho khạc, thở gắng sức bằng các cơ hô hấp phụ… để có chỉ định đặt ống nội khí quản cho thở máy. Tiên lượng của bệnh nhiễm C. botulinum thì tùy theo mức độ liệt cơ. Nếu đã liệt nhiều cơ, nhất là cơ hô hấp, phải thở máy.

Việc phòng bệnh tốt nhất là cần thận trọng khi đi mua các loại thực phẩm đóng hộp. Trước tiên, người tiêu dùng nên quan tâm đến hình thức bên ngoài của đồ hộp như hộp bị móp méo, rỉ sắt…, mặc dù còn hạn dùng cũng không nên mua vì sản phẩm đã không được bảo quản tốt.

Nếu vỏ hộp có hiện tượng bị phồng lên thì phải cảnh giác vì nó đã có khả năng bị hư hỏng do nhiễm độc vi khuẩn Clostridium botulinum, nếu ăn rất dễ gây ngộ độc dẫn đến tử vong. Một điều không thể thiếu được khi mua tất cả các loại thực phẩm có bao bì đóng gói, trong đó có thực phẩm đóng hộp là nên đọc kỹ hạn dùng, số đăng ký chất lượng sản phẩm, cơ sở sản xuất… để thu nhận thêm thông tin và phát hiện hàng giả, hàng kém chất lượng. Một số loại đồ hộp được tân trang, sửa chữa lại hạn dùng rất tinh vi.

Nên mua thực phẩm đóng hộp bán ở các siêu thị hoặc các cửa hàng lớn, có uy tín vì ở đó có các chế độ bảo quản, tuân thủ việc bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Không nên mua đồ hộp quá hạn sử dụng. Trường hợp những thực phẩm đóng hộp trong điều kiện có thể dùng được, nếu có nghi ngờ, nên luộc sôi, đun nóng kỹ trước khi dùng để bảo đảm an toàn.

Nguồn sức khỏe gia đình

Béo phì có tính lây nhiễm

Béo phì là do vi khuẩn gây ra, vậy thì nó có tính lây nhiễm, có thể đến từ một vài nhân tố môi trường không rõ hoặc đến từ cha mẹ.

Một nghiên cứu cho thấy, béo phì do nhiễm trùng vi khuẩn gây ra, chứ không phải do chế độ ăn uống quả tải, ít luyện tập hay nhân tố di truyền, điều này có thể ảnh hướng sâu rộng tới hệ thống y tế công cộng, ngành y dược và ngành chế biến thực phẩm.

beo-phi-co-tinh-lay-nhiem

Các nhà khoa học thế giới đã nghiên cứu trong vòng 8 năm, phát hiện này đã giải thích mối liên hệ giữa vi khuẩn đường ruột với béo phì.

Các nhà nghiên cứu Thượng Hải đã tìm ra vi khuẩn nhân loại liên quan tới béo phì và đã nuôi thử nghiệm trên chuột bạch, rồi tiến hành so sánh sự gia tăng cân nặng với chuột không nuôi vi khuẩn. Mặc dù chuột không nuôi vi khuẩn được ăn uống với chế độ giàu chất béo và không cho luyện tập nhưng lại không có triệu chứng béo phì.

Giáo sư Zhao Liping thuộc đội nghiên cứu của trường Đại học Giao thông Thượng Hải, người triển khai nghiên cứu này, cho biết: “Đây là một hiện tượng vô cùng quan trọng. Nó là bằng chứng còn thiếu cuối cùng chứng minh vi khuẩn gây béo phì”.

Nhà sinh vật học David Weinkove của trường Đại học Durham cho rằng: “Nếu béo phì là do vi khuẩn gây ra, vậy thì nó có tính lây nhiễm, có thể đến từ một vài nhân tố môi trường không rõ hoặc đến từ cha mẹ. Theo ông, nghiên cứu của giáo sư Zhao đã mở đường cho việc trị bệnh béo phì bằng dược liệu”.

Nguồn giáo dục

Sự khác biệt về bệnh lậu giữa nam và nữ

Ở điều kiện sinh lý bình thường, giữa nam và nữ có sự khác biệt về giải phẫu ở đường niệu đạo nên mức độ phức tạp của bệnh lậu cũng khác nhau.

Bệnh lậu được biết từ lâu, nhưng mãi đến năm 1897 mới được Neisser tìm ra, có tên khoa học là Neisseria Gonorrhoeae. Đây là bệnh cần được điều trị càng sớm càng tốt.

Vi khuẩn lậu có hình hạt cà phê xếp thành từng cặp nên còn gọi là song cầu, có chiều dài 1,6µm, rộng 0,8µm. Trên kính hiển vi, vi khuẩn bắt màu gram âm.

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Lậu cầu rất yếu khi ra ngoài cơ thể, và chết nhanh ở nhiệt độ thường; ngược lại sống rất mãnh liệt ở môi trường ẩm của cơ thể, cho nên giao hợp vẫn là cách lây bệnh chủ yếu. Tuy nhiên, lậu cầu cũng có thể lây qua vật dụng dùng chung.

Ở điều kiện sinh lý bình thường, giữa nam và nữ có sự khác biệt về giải phẫu ở đường niệu đạo. Niệu đạo của nữ giới tương đối ngắn so với nam giới, khoảng 3cm, vì vậy bệnh lậu ít rầm rộ hơn, có nhiều tuyến quanh niệu đạo là nơi ẩn náu của vi khuẩn như tuyến Skène, tuyến Bartholine ở 1/3 trước của môi lớn và môi bé.

Niệu đạo của nam giới chia làm 2 phần gồm niệu đạo trước và niệu đạo sau, được ngăn cách bởi cơ thắt niệu đạo, có chiều dài từ 14 – 16cm; niệu đạo trước có nhiều hang, là nơi trú ẩn của lậu cầu; niệu đạo sau càng phức tạp hơn cũng có nhiều ngóc ngách, xuyên qua tuyến tiền liệt, thông với túi tinh, ống dẫn tinh, mào tinh và tinh hoàn. Ngoài ra, còn có tuyến Morgagni và tuyến Littr cũng thuận lợi cho lậu cầu sinh sôi và phát triển.

Sau khi lậu cầu xâm nhập vào cơ thể thông qua niệu đạo, vi khuẩn có khuynh hướng ưa thích tế bào mô bì trụ ở niêm mạc đường tiết niệu, đưa đến phản ứng viêm tại chỗ, kéo theo bạch cầu đa nhân đến để thực bào, từ đó trở thành tổ chức hoại tử trong quá trình viêm, được thoát ra ngoài theo nước tiểu, màu trắng hơi vàng gọi là tiểu ra mủ, lậu cầu tiếp tục phát triển và đi dọc theo chiều dài của niệu đạo, đi đến đâu gây viêm đến đó.

Về triệu chứng, bệnh lậu ở nam và nữ có khác nhau, do niệu đạo của nam giới dài, giai đoạn cấp tính lậu ở nam giới có tính chất rầm rộ, còn ở nữ thì âm thầm dễ bỏ qua, vì thế là nguồn lây nhiễm rất đáng quan tâm. Thời gian ủ bệnh trung bình 3-5 ngày, nhưng có thể kéo dài 2-3 tuần.

Thời gian ủ bệnh càng ngắn thì bệnh càng nặng, triệu chứng thường âm thầm, không rõ. Theo thống kê, có khoảng 97% số ca bệnh không có triệu chứng, chỉ có 3% còn lại mới có triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, khó chịu, nếu không điều trị bệnh sẽ đi vào giai đoạn mãn tính không có biểu hiện gì đặc biệt, mà thường chỉ có huyết trắng, hoặc có những biểu hiện của biến chứng như viêm tuyến Bartholin, tuyến Skene, viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung, viêm bàng quang, viêm vùng chậu, viêm trực tràng. Viêm ống dẫn trứng có thể dày dính, gây thai ngoài tử cung, hoặc tắc tai vòi gây vô sinh.

Về điều trị, lậu cầu cứ 15 phút phân chia một lần do đó lan nhanh.Vì vậy, cần điều trị càng sớm càng tốt, điều trị đúng thuốc – đủ liều; điều trị cả với người tiếp xúc sinh lý. Thuốc hiện nay được chọn ưu tiên là spectinomycine với tên biệt dược là Trobicin hay Kirin, 4g – tiêm bắp một liều duy nhất; trường hợp bệnh mãn tính, tiêm liên tiếp 2 ngày, với nữ giới thì dùng liều gấp đôi nam giới.

Nếu không tiện tiêm thuốc có thể chọn giải pháp uống nhưng thường tỉ lệ thành công sẽ thấp hơn, thuốc thường dùng azithromycin (Zithromax) 250mg x 4 viên uống liều duy nhất. Nếu điều trị đúng thuốc, đủ liều thì triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu nhiều lần sẽ giảm nhanh sau 24 – 48 giờ, riêng tiểu ra mủ sẽ hết chậm hơn sau 48 – 72 giờ. Các triệu chứng chung sẽ biến mất hoàn toàn sau 5 – 7 ngày.

Về phòng bệnh, cho đến hôm nay, dùng bao cao su được xem như là phương tiện duy nhất để phòng bệnh lậu, tuy nhiên đó chưa phải là phương pháp đảm bảo tuyệt đối.

Nguồn giáo dục

Bảo vệ răng miệng không đúng cách

Những thói quen đánh răng không đúng có thể tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe răng miệng. Nguy hiểm hơn khi một số lỗi lại rất dễ phạm phải trong cuộc sống.

Đánh răng bằng nước lạnh: Đánh răng bằng nước lạnh dễ làm tổn hại đến ngà răng, khiến răng nhạy cảm đồng thời không tạo điều kiện cho các chất trong kem đánh răng phát huy tác dụng.

nhung-cach-danh-rang-sai-lam-1

Thành phần chính trong kem đánh răng là chất fluoride. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thấy rằng thành phần này đóng một vai trò quan trọng và có tác dụng tốt nhất trong nhiệt độ tối ưu là 37 độ C.

Các nha sỹ khuyến nghị bạn nên đánh răng bằng nước ấm vì đó là môi trường nhiệt độ gần nhất với nhiệt độ cơ thể.

Đánh răng quá mạnh: Dùng lực quá nhiều khi đánh răng có thể làm tổn thương nướu, có thể gây hại cho răng. “Cần phải đánh răng với một lực vừa phải. Lực bạn sử dụng để đánh răng tưởng rằng như rất nhẹ, nhưng thực tế lại là lớn vì lực đó chỉ tập trung ở một khu vực nhỏ”, giáo sư Peter Heasman, chuyên gia răng miệng ở trường Đại học Newcastle (Anh) cho biết.

nhung-cach-danh-rang-sai-lam-4

Đánh răng ngang một bên: Một cuộc khảo sát cho thấy hơn 90% người dân Trung Quốc áp dụng cách đáng răng ngang. Mục đích của việc đánh răng là loại bỏ vi khuẩn và những chất dư thừa bám trên bề mặt răng chứ không phải là làm mòn răng.

Đánh răng ngang trên mặt răng nói khác đi giống như hành động mài răng, không thể loại bỏ những cặn dư thừa này mà còn có thể gây ra những khuyết tật cho răng như viêm nướu, viêm nha chu hay răng nhạy cảm…

nhung-cach-danh-rang-sai-lam-6

Khuyến nghị: Cách tốt nhất là để mặt bàn chải nghiêng 45 độ so vơi bề mặt răng, đánh theo vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ, không đánh quá mạnh tay.

nhung-cach-danh-rang-sai-lam-8

Đánh răng quá nhanh hoặc quá lâu: Nhiều người nghĩ rằng đánh răng là để loại bỏ vi khuẩn và mảnh vụn thức ăn. Trên thực tế, điều đó không hoàn toàn đúng. Súc miệng bằng nước có thể loại bỏ được hơn 90% các dư lượng thực phẩm còn mục đích đánh răng cẩn thận là để tiêu diệt các mảng bám.

Mảng bám nha khoa là một loại vi khuẩn không màu gắn liền với bề mặt của răng và nướu. Nó là thủ phạm gây sâu răng và viêm nướu. Thời gian đánh răng trung bình của đại đa dân số là khoảng 59 giây, đây là thời gian không đủ để làm sạch miệng hoàn toàn.

nhung-cach-danh-rang-sai-lam-11

Bên cạnh đó, có nhiều người quan niêm đánh răng càng lâu càng sạch. Điều này cũng gây tổn hại cho lợi và men răng.

Khuyến nghị: Thời gian đánh răng hiệu quả nhất là trong khoảng 2 phút. Súc miệng trước khi đánh có lợi cho kem đánh răng bắt đầu hoạt động.

Đánh răng không đúng thời điểm: Hầu hết chúng ta đều đánh răng sau khi thức dậy và sau đó ăn sáng. Điều này không hiệu quả cho sức khỏe răng miệng vì các thành phần trong kem đánh răng chẳng có nhiều thời gian để lưu lại trên răng và phát huy tác dụng mà lại “theo” bữa ăn sáng xuống dạ dày.

nhung-cach-danh-rang-sai-lam-13

Khuyến nghị: Nên đánh răng sau bữa ăn 20 phút. Súc miệng sau khi thức giấc, ăn sáng và đánh răng sau đó 20 phút là thời điểm đánh răng lành mạnh nhất. Đặc biệt là sau khi uống các đồ uống hoặc ăn trái cây có tính axit.

Súc miệng quá nhiều lần sau khi đánh răng: Một số thành phần hoạt chất trong kem đánh răng cần được lưu giữ lại để hình thành lớp bảo vệ bề mặt răng và chúng cần có thời gian để duy trì tránh cho vi khuẩn phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, súc miệng quá nhiều sẽ làm mất đi hiệu ứng này.

nhung-cach-danh-rang-sai-lam-15

Bàn chải đánh răng không đúng kích cỡ: Kích thước răng của mỗi người không giống nhau. Kích cỡ bàn chải quá lớn hay quá nhỏ sẽ khiến nó không thể hoàn thành nhiệm vụ.

Nguồn giáo dục

Chăm sóc răng miệng bằng cách lấy cao răng thường xuyên

Cao răng là chất cặn lắng cứng có màu vàng nâu, thường đóng xung quanh cổ răng. Thành phần của cao răng gồm carbonat canxi và phosphate phối hợp với cặn mềm (mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong môi trường miệng), vi khuẩn, xác các tế bào biểu mô. Ngoài ra, còn có sự lắng đọng sắt của huyết thanh trong máu, nước bọt. Cao răng có thể gây viêm nướu và có mùi hôi.

Khi ăn xong nếu không chải răng ngay, thì khoảng 15 phút sau có một lớp màng mỏng bám trên bề mặt răng gọi là màng bám. Nếu màng bám không được làm sạch, các vi khuẩn bám vào màng này và tích tụ ngày càng dày lên, gọi là mảng bám. Lúc này, các mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong miệng tiếp tục bám vào hình thành nên những mảng cứng bám xung quanh cổ răng gọi là cao răng.

Cao răng gây ra một số bệnh về răng miệng như:

– Vi khuẩn trong cao răng gây viêm nướu. Phản ứng viêm này gây ra hiện tượng tiêu xương ổ răng, làm cho răng tụt nướu, thân răng ngày càng dài. Vì vậy, người có cao răng có thể có cảm giác ê buốt khó chịu khi ăn uống. Chân răng bị lộ vì không có nướu che chở và răng bị lung lay, quá trình tiêu xương cũng diễn ra nhanh hơn.

cham-soc-rang-mieng-bang-cach-lay-cao-rang-thuong-xuyen

– Cao răng có thể gây nên các bệnh viêm nướu, viêm nha chu với các biểu hiện như: đánh răng chảy máu, miệng có mùi hôi, ê buốt khi ăn uống, nặng hơn có thể gây lung lay và rụng răng.

– Vi khuẩn trong mảng cao răng cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh ở niêm mạc miệng (viêm niêm mạc miệng, áp-tơ mà dân gian vẫn gọi là bệnh lở miệng), bệnh ở vùng mũi họng (viêm amidan, viêm họng), bệnh tim mạch.

Do những ảnh hưởng nêu trên, cao răng cần phải được cạo sạch và tốt nhất nên cạo định kỳ 4 – 6 tháng/lần. Có thể cạo cao răng bằng dụng cụ cầm tay hay bằng máy siêu âm. Cạo cao răng bằng máy siêu âm sẽ ít đau, ít chảy máu và sạch hơn. Sau khi cạo cao răng, bạn có thể có cảm giác ê, đau, nhiều hay ít tùy mức chịu đau của mỗi người. Cảm giác ê buốt khi ăn uống nhất là uống nước nóng quá hay lạnh quá có thể kéo dài sau vài ngày rồi hết.

Khởi phát của cao răng là màng bám sau khi ăn không được chải rửa sạch. Vì vậy, để ngăn ngừa cao răng, phải kiểm soát được màng bám, giữ răng luôn sạch sẽ. Sau đây là một số lời khuyên để giữ cho hàm răng chắc khỏe:

– Luôn chải răng sạch sau khi ăn.

– Sử dụng chỉ tơ nha khoa lấy sạch mảnh vụn thức ăn ở kẽ răng.

– Ngậm nước súc miệng có bán sẵn hoặc nước muối pha loãng.

– Kiểm tra răng miệng định kỳ 3 tháng/lần để giải quyết những vấn đề vệ sinh mà bản thân cá nhân không thể tự làm sạch được như: làm sạch ở kẽ răng, ở mặt xa các răng hàm, ở những vùng răng giả. Không nên đợi có cao răng mới đi lấy, vì khi cao răng hình thành thì nó đã gây ra tổn thương và để lại hậu quả.

Bác sĩ Nguyễn Thanh Hòa, Sức khỏe & Đời sống, VNE

Khẩu trang y tế vỉa hè lợi hay hại

Trên nhiều tuyến đường tại TP HCM như: Bạch Đằng, Điện Biên Phủ, Quốc lộ 13… “khẩu trang y tế” được bày bán tràn lan, có giá từ 25.000 đồng đến 40.000 đồng/hộp 50 chiếc, được “nhân viên bán hàng” để trên các thùng giấy kê bên vỉa hè hoặc dưới lòng đường.

Theo ghi nhận của phóng viên, trên Quốc lộ 13 dưới chân cầu Bình Lợi và đường Phạm Văn Đồng (quận Bình Thạnh) mỗi ngày có hơn 10 người đứng bán “khẩu trang y tế”, phần lớn là phụ nữ trung niên và vài thiếu nữ.

Trong vòng hơn một giờ đồng hồ, có đến gần 20 người đi xe máy ghé vào mua khẩu trang với giá 25.000 đồng/hộp. Trong đó, có người mua 2, 3 hộp, mỗi hộp 50 chiếc.

Khách mua "khẩu trang y tế" dưới chân cầu Bình Lợi

Khách mua “khẩu trang y tế” dưới chân cầu Bình Lợi

Khi được hỏi về độ an toàn, vệ sinh, một cô gái bán hàng tên Thắm cho biết: “Người ta giao sao, em bán vậy chứ có biết chất lượng thế nào. Em nghĩ chắc cũng giống như khẩu trang y tế bán ở quầy thuốc thôi, do bán ở vỉa hè nên rẻ hơn. Người giao hàng nói là hàng tồn trong nhà thuốc, mang ra ngoài để bán cho nhanh chứ hết hạn”.

Quan sát, chúng tôi nhận thấy ngoài vỏ hộp có tên “Face Mask” không có địa chỉ công ty sản xuất, phân phối, không thời hạn sử dụng… Ngoài ra, trên hộp còn ghi những thông tin quảng cáo hấp dẫn như “khẩu trang 3 lớp hiệu quả 99% vi khuẩn, ngăn bụi bẩn, không khí độc hại…”

Thử mang so sánh với khẩu trang y tế mua ở nhà thuốc, hầu hết các sản phẩm đều có kiểu dáng, kích thước và màu sắc giống nhau, đều có 3 lớp “bảo vệ”. Trong khi khẩu trang ở nhà thuốc có giá 1.250 đồng/chiếc, còn khẩu trang bán ngoài đường có giá 500 đồng/chiếc.

Tuy nhiên, các hộp khẩu trang bán ngoài đường với giá 25.000 đồng có mùi hôi rất khó chịu, khi lột bỏ lớp vải ngoài thì lộ ra lớp trong cùng chỉ là lớp giấy thấm nước. Còn khẩu trang mua ở nhà thuốc thì lớp giấy bên trong không thấm nước.

Tại Quận 12, lần theo đầu mối, chúng tôi liên lạc với một nam sinh viên trường Đại học Lao động Xã hội cơ sở TP HCM, sinh viên này cũng chỉ là một khâu trung gian giữa người cung cấp “khẩu trang y tế” và nhóm sinh viên tham gia bán hàng. Do làm lâu năm, có được sự tin cậy nên được đầu mối giao làm quản lý nhóm do mình “tuyển dụng” được.

Mỗi nhân viên được tuyển vào sẽ tham gia bán “khẩu trang y tế” tại khu vực trường học, vỉa hè, cổng các công ty… với tiền công mỗi ngày là 30.000 đồng và hưởng 1.000 đồng/hộp khi bán được.

Trên thực tế, để sản xuất một hộp “khẩu trang y tế” có giá thành rất thấp, vì trước khi ra thị trường, mặt hàng này đã qua nhiều khâu trung gian nhưng khi đến tay khách hàng chỉ có giá 25.000 đồng/hộp. Vậy chất lượng “khẩu trang y tế” này như thế nào?

Chị Hồng (32 tuổi, ngụ Thủ Đức) cho biết: “Thấy rẻ lại bán trên vỉa hè nên không dám mua, sợ chất lượng không đảm bảo ảnh hưởng đến sức khỏe gia đình”.

Trong khi đó, bà Thị (46 tuổi, ngụ Bình Thạnh) thản nhiên cho biết: “Nhiều người mua xài được thì mình xài được, khẩu trang y tế thì chắc ở đâu cũng vậy”.

Trả lời về vấn đề vì sao “khẩu trang y tế” bán ngoài đường có mùi khó chịu, bác sĩ Lê Huỳnh Mai, Bệnh viện Tai Mũi Họng TP HCM khuyến cáo: Khẩu trang có mùi hôi là do cơ sở sản xuất sử dụng keo để phun cố định các hạt than hoạt tính, làm lớp than mất tác dụng bảo vệ. Các loại khẩu trang bày bán ở vỉa hè được may từ chất liệu không rõ nguồn gốc, do đó người dân nên hạn chế sử dụng, để đảm bảo sức khỏe cho bản thân và gia đình.

Theo Petrotimes

Có thể bị ung thư gan nếu dùng gừng không đúng cách

Gừng vừa là gia vị vừa là thuốc. Ngoài việc tạo thêm hương vị cho một số món ăn, gừng có thể giúp ngăn ngừa được nhiều chứng bệnh.

Chống viêm: Gừng còn có tác dụng chống viêm. Thực tế, nhiều loại thuốc chống viêm thường gây ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa. Trong khi đó, ăn gừng lại có tác dụng chống viêm, ngăn ngừa loét hiệu quả.

Vì gừng chống viêm rất tốt, nên rất nhiều loại thuốc viêm khớp có chứa thân rễ gừng khô. Một nghiên cứu cho thấy phần lớn người tham gia dùng gừng để trị viêm khớp đã giảm đau và sưng rõ rệt.

Giảm đau đầu: Nhai một miếng gừng tươi khoảng 30 phút được cho giúp giảm chứng đau đầu và đau nửa đầu.

Giảm cholesterol: Gừng có tác dụng giảm lượng cholesterol. Một nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh nhân sử dụng gừng thường xuyên trong một thời gian có thể giảm rõ rệt nồng độ cholesterol.

Kiểm soát tiểu đường: Các chuyên gia y tế yêu cầu bệnh nhân tiểu đường uống trà gừng vào buổi sáng sớm vì nó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.

Chống stress: Tinh dầu gừng giúp giải tỏa tinh thần, loại bỏ các trạng thái căng thẳng… chóng mặt, bồn chồn và lo lắng.

Chống say xe, ốm nghén: Ăn gừng tươi trước khi đi xe, máy bay… có thể giúp ngăn ngừa các triệu chứng say tàu xe.

Nghiên cứu đã chứng minh rằng rễ gừng và tinh dầu cũng có hiệu quả chống buồn nôn, say tàu xe và nôn mửa. Trong một số trường hợp còn có thể sử dụng để giảm tình trạng nôn mửa ở phụ nữ mang thai.

Gừng có thể giúp ngăn ngừa nhiều chứng bệnh.

Gừng có thể giúp ngăn ngừa nhiều chứng bệnh.

Ngộ độc thực phẩm: Gừng có tính sát trùng nên có thể dùng trong điều trị ngộ độc thực phẩm. Ngoài ra còn có thể điều trị nhiễm trùng đường ruột và kiết lỵ do vi khuẩn.

Trị rối loạn dạ dày: Củ gừng và tinh dầu gừng thường được sử dụng trong các trường hợp rối loạn dạ dày. Đây là một trong các biện pháp khắc phục tốt nhất cho chứng khó tiêu, đau bụng, co giật, tiêu chảy, đầy hơi và các vấn đề khác liên quan đến đường ruột. Trà gừng cũng được sử dụng để giảm bớt một số triệu chứng dạ dày và tăng cảm giác thèm ăn.

Kiểm soát tim mạch: Nhiều bác sĩ đông y cho rằng gừng có thể giúp ngăn ngừa bệnh và giúp tim mạch khỏe hơn, giúp giảm nguy cơ tắc nghẽn mạch máu và giảm tỷ lệ đột quỵ do tim.

Rối loạn hô hấp: Do củ gừng và tinh dầu gừng tốt cho tiêu đờm, nó cũng có hiệu quả trong các vấn đề khác nhau về đường hô hấp như ho, cảm cúm, viêm phế quản, hen suyễn và khó thở.

Kinh nguyệt: Gừng giúp hỗ trợ giảm đau, điều trị ra kinh nguyệt không đều.

Bệnh sốt rét: Củ gừng và tinh dầu gừng cũng có hiệu quả trong điều trị bệnh sốt rét và sốt vàng da.

Ung thư: Gừng còn được biết đến với công dụng chống ung thư. Do vậy bạn nên bổ sung gừng vào chế độ ăn hàng ngày của mình dưới dạng viên nang hay trà gừng hoặc sử dụng như một loại gia vị trong nấu nướng.

Lưu ý khi dùng gừng:

– Tránh dùng gừng với aspirin và coumarin (phải cách xa 4 giờ).

– Không dùng gừng cho người chuẩn bị mổ và sau mổ, người đang chảy máu như băng huyết, ho ra máu, nôn ra máu, tiểu ra máu, tiêu ra máu, trĩ ra máu, chảy máu cam, chảy máu răng.

– Không dùng gừng cho người bị cảm nắng, vã mồ hôi, sốt cao không rét.

– Không dùng gừng liều cao, nhiều ngày cho người tiểu đường, bệnh tim, phụ nữ có thai.

– Không nên gọt vỏ: Nhiều người gọt vỏ khi ăn gừng mà không biết rằng vỏ gừng cũng có rất nhiều công dụng chữa bệnh. Vì vậy khi ăn gừng nên rửa sạch sau đó sử dụng theo mục đích.

– Không nên ăn gừng tươi đã bị dập: Chắc chắn nhiều người không biết rằng củ gừng tươi sau khi bị dập sẽ sinh ra một loại độc tố mạnh có thể gây hoại tử các tế bào gan, lâu dần sẽ biến thành ung thư gan, ung thư thực quản.

Gừng khó bảo quản, củ gừng làm thực phẩm thì thường thu hoạch non, nhưng nếu để làm thuốc thì phải thu hoạch củ gừng già (có xơ).
Theo VnMedia

Tìm hiểu về chứng viêm

Chứng viêm là một trong những vấn đề sức khỏe ít được mọi người quan tâm. Nhưng nếu không điều trị, bệnh có thể chuyển sang nhiễm trùng, đe dọa sức khỏe của bạn.
Chứng viêm là hiện tượng xảy ra ở tổ chức tế bào, là phản ứng phòng vệ của cơ thể khi cơ thể bị tấn công, kích thích bởi bên ngoài lên cơ thể thông qua phản xạ của hệ thần kinh. Chứng viêm có thể có biểu hiện là sưng, ứ động dịch, phù, xung huyết, mạch ứ đầy máu…

Chứng viêm có thể do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, virus, kí sinh trung gây nên.

Nhiều người cho rằng chứng viêm chỉ xuất hiện ở một thời điểm nhất định nào đó. Tuy nhiên, chứng viêm hay phản ứng của cơ thể với vết thương hay nhiễm trùng lại có liên quan tới các bệnh như viêm khớp, bệnh tim, tiểu đường, thậm chí là ung thư. Vậy bạn phải làm gì để ngăn ngừa chứng viêm?

1. Ăn nhiều hoa quả và rau xanh

tim-hieu-ve-chung-viem

Các sản phẩm chống viêm hoặc các chất hóa học có nguồn gốc thảo dược thường có chứa chất chống oxy hóa. Theo các nhà nghiên cứu khoa học thì các chất chống oxy hóa có khả năng làm giảm nguy cơ của chứng viêm trong cơ thể.

Ví dụ, uống một cốc trà dâu tây mỗi ngày sẽ cung cấp cho bạn 150% lượng vitamin C bạn cần mỗi ngày. Vitamin C cũng là một trong các chất chống oxy hóa có tác dụng phòng ngừa chứng viêm trong cơ thể rất hiệu quả.

2. Không nên ăn nhiều đường

Đường sẽ ảnh hưởng đến tuyến thượng thận – cơ quan kiểm soát căng thẳng trong cơ thể. Do vậy, khi tuyến thượng thận bị suy giảm chức năng hoạt động, khả năng đối phó với căng thẳng của bạn cũng sẽ giảm dần theo thời gian. Đây cũng chính là lý do khiến cơ thể khó chống lại nguy cơ bị viêm bên trong.

Tại sao lại như vậy? Bởi vì khi chúng ta căng thẳng, lượng cortisol trong cơ thể chúng ta sẽ tăng, mà cortisol là một trong những hormone tác động đến chứng viêm trong cơ thể. Lượng cortisol tăng tức là nguy cơ bị viêm cũng tăng lên. Do đó, để cơ thể khỏe mạnh và không mắc phải chứng viêm thì bạn không nên ăn nhiều đường.

3. Uống thuốc đúng liều

Aspirin là thốc chống viêm và uống thuốc này có thể giúp duy trì các tiểu huyết cầu trong máu. Nếu bạn đã được bác sĩ kê cho đơn thuốc có loại thuốc này thì bạn nên uống đều đặn cho đến hết, vì các thuốc đó sẽ giúp bạn giảm tình trạng bị viêm cũng như nguy cơ về bệnh tim mạch.

Nếu uống không đủ liều hoặc bỏ dở giữa chừng, thuốc sẽ không phát huy được tác dụng một cách tốt nhất.

4. Thiền

Cuộc sống bận rộn hiện nay đã đẩy nhiều người vào tình trạng căng thẳng không lối thoát. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng căng thẳng kinh niên có liên quan tới hệ thống miễn dịch của chúng ta. Một khi hệ thống miễn dịch không hoạt động tốt, nguy cơ bị viêm trong cơ thể sẽ tăng lên cao hơn.

Để cân bằng cuộc sống, bạn nên dành 10- 15 phút mỗi ngày để thiền. Bạn cũng có thể đi bộ, tập yoga… bởi chúng đều là những môn rất tốt cho sức khỏe, giúp tăng cường hệ miễn dịch hoạt động tốt.

5. Ngủ đủ giấc

Thiếu ngủ có thể khiến bạn gặp nhiều vấn đề về sức khỏe như tăng cân, bệnh tim mạch và tăng cao tình trạng viêm nhiễm.

Các chứng viêm thường có liên quan đến bệnh tim, đột quỵ, tiểu đường, viêm khớp và lão hóa sớm. Những người ngủ ít hơn 6 tiếng mỗi đêm trong máu có nhiều protein gây viêm nhiễm và C-reactive protein (loại protein có liên quan đến nguy cơ nhồi máu cơ tim). Vì vậy, bạn cần có thời gian ngủ đủ trong ngày.

Theo Trí thức trẻ

Tìm hiểu vi khuẩn đường ruột và ung thư đại trực tràng

Bệnh nhân ung thư đại trực tràng có nhiều vi khuẩn gây hại và ít lợi khuẩn trong đường ruột hơn những người không mắc bệnh, các nhà khoa học của Viện Ung thư thuộc Đại học New York (Mỹ) cho biết.

tim-hieu-vi-khuan-duong-ruot-va-ung-thu-dai-truc-trang
Để có kết luận này, nhóm nghiên cứu so sánh ADN của các vi khuẩn đường ruột trong mẫu phân của 141 bệnh nhân ung thư đại trực tràng và các tình nguyện viên khỏe mạnh. Họ phát hiện các mẫu của bệnh nhân ung thư đại trực tràng có lượng khuẩn fusobacteria nhiều hơn các tình nguyện viên khỏe mạnh. Fusobacteria thường được tìm thấy trong miệng và đường tiêu hóa, có liên quan đến viêm ruột. Ngoài ra, các mẫu của bệnh nhân cũng chứa lượng ít hơn vi khuẩn đường ruột có lợi là clostridia, thường giúp tiêu hóa chất xơ và carbohydrate. Nghiên cứu được công bố trên chuyên san của Viện Ung thư quốc gia.

Theo thanh niên

Những hậu quả do bị sốt cao để lại

Nếu cơn sốt cao và quá dài, việc bỏ mặc cơ thể “tự chiến đấu” có thể dẫn đến các di chứng nặng nề.

Sốt là một trong những dấu hiệu căn bản nhất khi cơ thể bị nhiễm bệnh. Tùy cơ địa, loại bệnh, mức độ trầm trọng, độ tuổi… mà cơn sốt có thể nhẹ hay dữ dội, kéo dài hay sớm kết thúc. Tuy nhiên, những cơn sốt nguy hiểm nhất, dữ dội nhất thường tấn công trẻ em ở một số loại bệnh rất thường gặp như sốt xuất huyết, tay chân miệng, sốt siêu vi, cúm… Chúng có thể để lại hậu quả lâu dài nếu không được can thiệp kịp thời.

Di chứng não: Rất nguy hiểm

Đưa con đi tập vật lý trị liệu ở khoa nhi một bệnh viện (BV), chị N.H.A.N (32 tuổi, quê Lâm Đồng), nghẹn ngào cho biết bé L. (4 tuổi) khi sinh ra rất lanh lợi nhưng sau một cơn sốt cao hồi 12 tháng tuổi, cháu đã bị bại não, bị giảm sút cả về trí tuệ lẫn khả năng vận động. Nhà N. ở một huyện hẻo lánh, muốn đến trạm y tế phải đi bộ khá xa, nên khi con bị sốt vào giữa đêm, chị chỉ lấy khăn lau mát. Đến sáng tỉnh dậy thì bé L. đã gần như lịm đi, chị sợ quá đưa con đến cơ sở y tế nhưng đã muộn.

nhung-hau-qua-do-bi-sot-cao-de-lai

BS Đỗ Trọng Ánh, Giám đốc BV Chỉnh hình và Phục hồi chức năng TP HCM, cho biết BV này cũng từng tiếp nhận nhiều trường hợp tương tự, gặp nhiều nhất ở trẻ vùng sâu, vùng xa, ít có điều kiện được chăm sóc y tế đầy đủ.

“Một trong những di chứng ảnh hưởng đến trẻ nhiều nhất sau cơn sốt cao là di chứng về thần kinh, não bộ. Có những trẻ chỉ sau một đêm đã trở nên thiểu năng trí tuệ, tay chân vận động khó khăn do bại não. Ở trẻ em, các hệ cơ quan chưa hoàn chỉnh nên rất dễ có phản ứng sốt cao quá mức (trên 40 độ C). Điều này lại tác động rất lớn bởi chính hệ cơ quan chưa hoàn chỉnh khó có khả năng chống đỡ cơn sốt, đặc biệt là hệ thần kinh vốn dễ tổn thương. Tổn thương não tùy dạng, tùy mức độ, có thể hồi phục hoàn toàn hay một phần thông qua phục hồi chức năng nhưng cũng có thể không hồi phục, vậy nên tốt nhất là xử lý đúng cách cơn sốt cao ngay từ ban đầu” – BS Ánh cảnh báo.Biến chứng đa dạng

Theo BS Nguyễn Minh Tiến, Trưởng Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc BV Nhi Đồng 1, TP HCM, sốt là triệu chứng rất thường gặp, là phản ứng thông thường của cơ thể để chống lại các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, siêu vi… xâm nhập. Trong một số căn bệnh như sốt xuất huyết, tay chân miệng, viêm não, viêm màng não…người ta có thể sốt rất cao và khó hạ dù đã được uống thuốc và lau mát.

“Sốt trên 40 độ C, kéo dài mà không được can thiệp kịp thời có thể gây những biến chứng như co giật, mất nước, biến chứng về hô hấp và tim mạch, rối loạn đông máu, di chứng thần kinh, vận động…, thậm chí có thể tử vong nếu diễn tiến nặng gây suy đa cơ quan. Một dạng rất đáng chú ý là sốt do viêm não có thể gây rối loạn trung tâm điều nhiệt khiến trẻ tử vong hoặc để lại di chứng não dù được cứu sống” – BS Tiến nói.

Theo BS Tiến, cơn sốt từ 38 độ C trở lên (đo qua cặp nhiệt ở nách) cần được xử lý. Dễ dàng nhất là sử dụng thuốc hạ sốt (paracetamol – còn có các tên thương mại thông dụng là panadol, efferalgan, acemol…), kết hợp với lau mát ở những vùng tập trung nhiều dây thần kinh như nách, bẹn, cổ… Nếu sốt kéo dài trên 2 ngày, đã uống thuốc 2-3 lần mà không khỏi, lau mát nhiều lần không hạ… thì nên đến BV để kiểm tra. Trường hợp cơn sốt quá cao (trên 40 độ C), sốt kèm co giật, bứt rứt, da nổi bông, tay chân lạnh, nôn ói, lơ mơ… bệnh nhân cần được đưa đi cấp cứu ngay.

“Liều dùng thuốc hạ sốt paracetamol là khoảng 10-15 mg/kg/lần. Trẻ em nên được dùng những viên nhỏ, thuốc hạ sốt dạng siro… Đừng bao giờ nghĩ rằng dùng nhiều thuốc hơn thì sẽ mau hạ sốt hơn. Dùng 2 viên 1 lần không hề có tác dụng nhiều hơn 1 viên, trái lại còn hại gan. Khoảng cách giữa 2 lần uống thuốc phải từ 4-6 giờ, mỗi ngày chỉ nên dùng khoảng 60 mg thuốc/kg trọng lượng” – BS Tiến lưu ý.

Dưới 38 độ C: Chỉ cần theo dõi

BS Nguyễn Minh Tiến lưu ý nếu cơ thể sốt ít hơn 38 độ C thì không cần phải dùng thuốc hạ sốt. Đó thường là một phản ứng có lợi của cơ thể nhằm kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn, siêu vi đang tấn công. Sốt nhẹ chỉ cần theo dõi, nếu kéo dài và tăng lên vượt ngưỡng 38 độ C thì mới cần đến thuốc.

Theo NLĐ

Công dụng tuyệt vời của thực phẩm có vị đắng

Cân bằng hương vị

Thực phẩm có 5 hương vị đó là chua, cay, mặn, ngọt, đắng. Bạn nên cân bằng 5 vị trong bữa ăn hàng ngày. Tuy nhiên, mọi người có xu hướng thiên về vị mặn và ngọt trong khẩu phần ăn hàng ngày. Điều này sẽ dẫn đến nhiều bệnh, khiến cho sức khỏe thể chất kém và sức đề kháng giảm. Để thay đổi sự mất cân bằng các vị trong bữa ăn, các chuyên gia khuyên mọi người tăng lượng tiêu thụ thực thực phẩm cay đắng.

Thúc đẩy sự thèm ăn

Vị đắng có thể kích thích vị giác của lưỡi, nó gây tác động đến các dây thần kinh vị giác, tăng sự tiết nước bọt, đồng thời cũng gây ra sự tiết dịch dạ dày và đường mật. Sau khi tất cả những hiệu ứng này được kết hợp, nó sẽ cải thiện sự ngon miệng và tăng cường tiêu hóa, và nó là rất có lợi để nâng cao thể lực và cải thiện khả năng miễn dịch.
thuc-pham-dang
Tốt cho tim và não

Thực phẩm cay đắng có chứa hàm lượng lớn các chất theobromine và caffeine, chất này có thể làm cho con người cảm thấy tỉnh táo và thoải mái sau khi ăn. Vì vậy, nó có thể giúp bạn thư giãn thoải mái không chỉ trong mùa hè nóng bức mà nó còn giúp bạn khôi phục lại năng lượng .

Theo y học cổ truyền, thực phẩm cay đắng có thể giảm đi sự căng thẳng về trí não, giúp bạn có một tinh thần minh mẫn, các chức năng não tốt hơn .

Giải phóng nhiệt và thải các độc tố trong cơ thể

Trong y học cổ truyền, thực phẩm cay đắng đóng một vai trò quan trọng trong việc loại bỏ các dysphoria do sức nóng quá mức trong cơ thể. Giải phóng nhiệt độ cơ thể và thư giãn ruột không chỉ có thể làm giảm cơn sốt, nhưng cũng có thể làm cho các chất độc bài tiết ra khỏi cơ thể với các đại tiểu tiện, tránh nguy cơ mắc bệnh trĩ và giảm tỷ lệ mắc của một số khác bệnh .

Thúc đẩy chức năng tạo máu

Thực phẩm cay đắng có thể duy trì các điều kiện bình thường và cân bằng của các vi khuẩn trong đường ruột. Chức năng này ức chế các vi khuẩn có hại và giúp vi khuẩn có lợi có thể giúp cải thiện chức năng của đường ruột, đặc biệt là chức năng tạo máu của đường ruột và tủy xương để cải thiện tình trạng thiếu máu .

Ngăn chặn và chống ung thư

Nghiên cứu khoa học phát hiện ra rằng thực phẩm cay đắng có chứa một lượng lớn vitamin B17 trong đó có một khả năng mạnh mẽ để tiêu diệt tế bào ung thư.

Giảm đau

Theo Đông Y thì thực phẩm đắng có tính âm, gây ra cảm giác phấn chấn, kích thích quá trình tiêu hóa. Khi tiêu thụ các loại thực phẩm có vị đắng thì sẽ rất tốt vì nó giúp nhuận tràng, giảm sốt, giảm và đào thải các loại độc tố qua nước tiểu.

Mặc dù thực phẩm cay đắng có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe bạn. Tuy nhiên, bạn không nên ăn quá nhiều mỗi lần. Ăn uống quá nhiều thực phẩm cay đắng sẽ dễ dàng gây ra buồn nôn, nôn, dạ dày và khó chịu khác.

Vì vậy, bạn nên kết hợp những loại thực phẩm này với nhiều loại thực phẩm khác nữa để làm phong phú chế độ ăn uống trong bữa ăn hàng ngày.

Theo VnMedia

Nguyên nhân gây bệnh viêm xoang

Nếu bạn hay bị dị ứng, cảm mạo thì hãy tránh xa những thứ có thể gây dị ứng như bụi, mối mọt, nấm mốc và gián.

1. Virus

Hầu hết các chứng viêm xoang đều bắt đầu từ một cơn cảm lạnh. Virus gây cảm lạnh có thể làm mô mũi sưng tấy, chặn các lỗ thông xoang.

Nếu bạn bị viêm xoang do virus thì thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng bởi chúng chỉ có thể tiêu diệt được vi khuẩn. Thuốc thông mũi sẽ làm bạn dễ chịu hơn nhưng đừng nên dùng quá 4 – 5 ngày để tránh bị phụ thuộc vào thuốc. Cách phòng tránh viêm xoang cũng giống như cảm lạnh và cúm: Hạn hãy tiêm phòng cúm, rửa sạch tay và không để cơ thể bị nhiễm lạnh.

viem-xoang0
2. Dị ứng

Bệnh viêm xoang thường đi kèm với chứng dị ứng. Nếu bạn hay bị dị ứng, cảm mạo thì hãy tránh xa những thứ có thể gây dị ứng như bụi, mối mọt, nấm mốc và gián. Thuốc kháng histamine hoặc nước muối xịt mũi kê đơn có thể làm giảm sưng tấy mãn tính.
3. Vi khuẩn

Nếu cơn cảm lạnh không được giải quyết trong 10 – 15 ngày, vi khuẩn có thể sẽ “vào cuộc”.

Theo William J.Hueston, Trưởng khoa Y học Gia đình (Đại học Y South Carolina, Mỹ), viêm nhiễm do vi khuẩn hiếm khi gây viêm xoang nhưng chúng lại là nguyên do dẫn tới nhiễm trùng thứ cấp. Các loại phổ biến là Streptococcus pneumoniae và Haemophilus influenzae. Những loại vi khuẩn này thường ẩn náu trong cơ thể, đợi thời cơ thích hợp là phát triển. Bạn có thể sử dụng thuốc thông mũi khi bị cảm để phòng bệnh. Còn nếu bạn đã viêm xoang do vi khuẩn, bạn có thể dùng kháng sinh để điều trị.

4. Polyp

Thường phát triển từ các mô xoang hoặc mũi, Polyp (một dạng u, bướu) ở mũi làm khoang xoang bị chặn, ngăn chất nhầy thoát ra ngoài và dẫn tới viêm xoang.

Polyp còn làm cản trở đường hô hấp, gây đau đầu ở người bệnh. Muốn điều trị, người bệnh sẽ phải sử dụng thuốc xịt mũi steroid hoặc steroid dạng thuốc uống. Nếu vẫn không hiệu quả, người bệnh có thể phải phẫu thuật.
5. Ô nhiễm môi trường

Các tác nhân gây dị ứng trong không khí như bụi, không khí ô nhiễm và các mùi hương nồng như nước hoa có thể làm bạn bị ho, sưng tấy mũi, dẫn tới viêm nhiễm và tăng nguy cơ mắc viêm xoang. Vì thế, bạn nên tránh xa các tác nhân gây hại trên để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.
6. Bơi, lặn

Nếu bạn dễ bị viêm xoang hoặc sung huyết thì nên tránh tiếp xúc lâu với nước trong bể bơi bởi clo có thể làm sưng tấy trong khoang mũi. Ngoài ra, áp suất khi lặn cũng có thể đẩy nước vào vùng xoang và làm viêm nhiễm các mô.
7. Nấm

“Nấm là nguyên do bất thường nhất gây viêm xoang”, BS Hueston cho biết. Chúng thường xuất hiện ở những người có hệ miễn dịch yếu. Khi hệ miễn dịch yếu, nấm có thể phát triển, đặc biệt là ở môi trường ẩm, tối như khu vực xoang. Để điều trị, người bệnh có thể phải phẫu thuật loại bỏ nấm hoặc sử dụng các phương pháp trị liệu chống nấm.

Theo Kienthuc

Lao xương khớp: Cách điều trị

Lao xương khớp được coi là lao thứ phát, do vi khuẩn lao sau khi qua phổi hoặc hệ thống tiêu hóa sẽ theo đường máu hoặc bạch huyết đến khu trú tại một bộ phận nào đó của hệ thống cơ xương khớp gây bệnh. Bệnh lao xương khớp có thể bị đơn độc hoặc kèm theo lao tại phổi hay tại các cơ quan khác.

Nguyên nhân và triệu chứng

Lao xương khớp là tình trạng nhiễm khuẩn của hệ thống xương khớp do trực khuẩn lao có tên là Mycobacterium tuberculosis gây ra. Đây là tình trạng lao ngoài phổi phổ biến, chiếm khoảng 7% tổng số các thể lao. Lao xương khớp có thể gặp ở tất cả các lứa tuổi, tất cả các xương khớp trong cơ thể; trong đó lao cột sống chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 60-70% tổng số lao xương khớp, sau đó đến lao khớp háng (10%), khớp gối (5%)…

Lao cột sống còn gọi là bệnh Pott, là tình trạng viêm đốt sống – đĩa đệm do lao hay gặp nhất. Biểu hiện toàn thân: bệnh nhân sốt nhẹ về chiều, vã mồ hôi, gầy sút, da xanh xao, ăn uống kém. Biểu hiện tại chỗ: thường bệnh nhân đau cột sống âm ỉ liên tục, đau tăng về đêm. Khi bị lâu có thể dẫn đến xẹp đốt sống gây gù nhọn. Lao có thể rò mủ ra ngoài, chất mủ giống như bã đậu. Cũng có khi lao tạo thành ổ áp-xe lạnh cạnh cột sống. Khi để muộn có thể gặp một số biến chứng chèn ép thần kinh xung quanh do xẹp đốt sống, thoát vị đĩa đệm, do áp-xe lạnh, do viêm màng nhện tủy. Nếu chèn ép thần kinh ở vùng cột sống thắt lưng gây yếu liệt hai chân, rối loạn cảm giác vùng hậu môn sinh dục, đại tiểu tiện không tự chủ. Nếu chèn ép ở cột sống cổ có thể gây liệt tứ chi. Chèn ép vùng ngực gây đau thần kinh liên sườn, rối loạn cảm giác, yếu liệt hai chân… Trường hợp lao cột sống có áp-xe lạnh, khối áp-xe có thể vỡ vào trung thất  gây hội chứng trung thất, hoặc vỡ vào màng tim, màng phổi gây chèn ép tim, phổi cấp dẫn đến suy hô hấp, trụy tim mạch. Nếu áp-xe vỡ vào cơ thắt lưng chậu gây viêm cơ thắt lưng chậu.

Lao khớp ngoại biên hay gặp là lao khớp háng, khớp gối và một số khớp khác ít gặp hơn như khuỷu tay, cổ tay, cổ chân… Biểu hiện tại chỗ là tình trạng viêm khớp: sưng, nóng, đỏ đau tại chỗ thường ở một khớp đơn độc; khớp bị tổn thương hạn chế vận động, có thể có lỗ rò ra chất hoại tử bã đậu hay mảnh xương chết. Lâu ngày cơ quanh khớp viêm bị teo, hạn chế vận động. Biểu hiện toàn thân của lao khớp ngoại biên cũng tương tự như lao cột sống. Cần lưu ý hiện nay lao nói chung và lao xương khớp nói riêng thường phối hợp với các bệnh suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, đái tháo đường…

lao_xuong_khop_cach_dieu_tri

Xét nghiệm tìm vi khuẩn lao

Vấn đề điều trị

Điều trị lao xương khớp bao gồm điều trị cơ bản tức điều trị nguyên nhân bệnh và điều trị phối hợp.

Điều trị cơ bản, tức là dùng thuốc chống lao điều trị nguyên nhân theo các nguyên tắc sau: phối hợp các thuốc chống lao với ít nhất 3 loại thuốc trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì. Dùng thuốc đúng liều: liều thấp không hiệu quả, dễ tạo vi khuẩn kháng thuốc, ngược lại liều cao dễ gây tai biến. Dùng thuốc đều đặn đặn để đạt sự hấp thu thuốc tối đa. Dùng thuốc đủ thời gian, theo 2 giai đoạn: tấn công từ 2-3 tháng và duy trì từ 4-6 tháng. Cần theo dõi quản lý bệnh theo nguyên tắc DOST (Directly Observed Treatment, Short course) tức là điều trị phác đồ ngắn ngày có theo dõi, kiểm soát trực tiếp việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Cần thường xuyên kiểm tra tình trạng toàn thân, tại chỗ, tiến triển của bệnh cũng như các tai biến có thể xảy ra khi dùng thuốc.

Các thuốc chống lao thường dùng và liều lượng thuốc khi dùng hàng ngày là: Streptomycin (S), Isoniazid (H), Rifampicin (R), Pyrazynamid (Z), Ethambutol (E). Trong trường hợp dùng phác đồ 3 lần một tuần thì liều lượng có sự thay đổi, thường là cao hơn liều hằng ngày.

Các phác đồ chuẩn: đối với lao xương khớp mới phát hiện: dùng phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE hoặc 2S(E)RHZ/4RH. Phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 4 loại kháng sinh phối hợp: streptomycin hoặc ethambutol, isoniazid, rifampicin, pyrazynamid; 4 tháng sau dùng hai loại thuốc là isoniazid và ethambutol hằng ngày. Phác đồ này chỉ áp dụng khi kiểm soát trực tiếp được bệnh nhân ở cả giai đoạn duy trì.

Với lao xương khớp tái phát, hoặc thất bại sau phác đồ trên, hoặc điều trị lại sau bỏ thuốc hoặc với thể lao nặng thì áp dụng phác đồ: 2SHRZE/1HRZE/5H3R3E3, có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 5 loại thuốc phối hợp, tháng thứ ba dùng 4 loại thuốc, 5 tháng tiếp theo dùng 3 loại thuốc mỗi tuần 3 ngày.

Một số trường hợp lao xương khớp đặc biệt như lao ở trẻ em, người già, phụ nữ có thai hay cho con bú, người suy gan thận cần đặc biệt chú ý và có những hướng dẫn điều trị, theo dõi riêng.

Khi sử dụng thuốc chống lao kéo dài cần đặc biệt chú ý đến các tác dụng phụ của thuốc trên đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau bụng), đau khớp, rối loạn về thần kinh ngoại biên (tê bì, bỏng rát ở chân), mẩn ngứa phát ban… Trường hợp nặng có thể có ù tai, chóng mặt hay điếc do dùng streptomycin; xuất huyết dưới da, thiếu máu huyết tán do dùng rifampicin, giảm thị lực do dùng ethambutol; vàng da viêm gan do R, H, Z…, hay có thể sốc phản vệ do thuốc. Vì vậy cần theo dõi chặt chẽ về lâm sàng, xét nghiệm máu để có thái độ xử trí thích hợp.

Điều trị phối hợp: Ngoài điều trị thuốc cơ bản, đặc hiệu thì trong lao xương khớp, việc điều trị phối hợp rất quan trọng.

Bất động tương đối vùng tổn thương: bất động trong thời gian tiến triển của bệnh bằng máng bột, áo bột, nẹp bột hay áo, nẹp chỉnh hình; sau đó nếu có thể thì vận động trở lại sớm để tránh dính, cứng khớp.

Điều trị tốt bệnh phối hợp: HIV, đái tháo đường…

Phòng, điều trị các tác dụng phụ của thuốc.

Nghỉ ngơi hợp lý, nâng cao thể trạng, chế độ ăn uống nhiều đạm, vitamin.

Kết hợp thuốc giảm đau, chống viêm, giãn cơ nếu đau nhiều.

Điều trị ngoại khoa phối hợp trong các trường hợp cần thiết: phẫu thuật loại bỏ ổ tổn thương, giải phóng chèn ép, điều trị chỉnh hình…

Phòng bệnh

Cách ly người bệnh, tránh lây nhiễm. Những người trong gia đình có tiếp xúc với bệnh nhân lao cần được khám và chụp Xquang phổi để phát hiện sớm tình trạng nhiễm lao, từ đó có biện pháp điều trị và quản lý hợp lý, tránh lây lan.

Người bệnh cần được theo dõi quản lý chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc điều trị bệnh nhằm tránh hiện tượng lao tái phát, lao kháng thuốc.

ThS. Bùi Hải Bình
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Biểu hiện khớp trong các bệnh tự miễn

Bệnh tự miễn dịch là những bệnh mà những tổn thương bệnh lý gây ra do sự đáp ứng miễn dịch chống lại các tổ chức, cơ quan của bản thân mình. Nói cách khác là trong cơ thể người bệnh xuất hiện những tự kháng thể chống lại các thành phần của các bộ phận trong cơ thể gây nên tổn thương ở các bộ phận đó. Ngoài bệnh luput ban đỏ hệ thống, các bệnh khác trong nhóm này bao gồm: xơ cứng bì toàn thể, viêm da và cơ hay viêm đa cơ, viêm nút quanh động mạch. Các bệnh này có những đặc điểm chung là có tổn thương ở rất nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien01

Viêm khớp đối xứng bàn tay trên phim Xquang

Nguyên nhân của bệnh

Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Một số giả thuyết cho rằng có một quá trình nhiễm khuẩn tiềm tàng (vi khuẩn, virut) tác động trên một cơ địa nhất định: bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, trung niên, một số trường hợp bệnh có tính chất gia đình. Trong nhóm bệnh tự miễn (còn gọi là bệnh hệ thống) thì bệnh luput ban đỏ hệ thống là bệnh hay gặp nhất, có biểu hiện vô cùng đa dạng và có thể nhầm với rất nhiều bệnh khác nhau thuộc các chuyên khoa khác nhau.

Những biểu hiện lâm sàng

Rất phong phú từ đau mỏi khớp, đau xương đến viêm khớp, tràn dịch khớp, hoại tử xương… Viêm khớp có đặc điểm gần giống như bệnh viêm khớp dạng thấp như viêm các khớp nhỏ và nhỡ ở bàn tay,bàn chân,viêm khớp mang tính chất đối xứng hai bên… Nhưng bệnh có đặc điểm khác là hầu như không có tổn thương bào mòn đầu xương, dính khớp trên phim Xquang như trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Ngoài các biểu hiện ở khớp, bệnh nhân còn có nhiều triệu chứng của các cơ quan bộ phận khác như tổn thương ở da, niêm mạc (ban cánh bướm ở mặt, ban dạng đĩa ở thân mình, loét niêm mạc miệng mũi, tăng nhạy cảm của da với ánh sáng); tổn thương tim và phổi (tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp, tràn dịch màng phổi, xơ phổi); tổn thương thận (protein niệu, hội chứng thận hư, suy thận); tổn thương tâm thần, thần kinh; tổn thương cơ quan tạo máu (giảm một hay 3 dòng tế bào máu)… Trong bệnh xơ cứng bì toàn thể, ngoài viêm khớp nhỏ và nhỡ còn có các tổn thương xơ cứng da và tổ chức dưới da, co thắt mạch đầu chi (hội chứng Raynaud), nuốt nghẹn, xơ phổi… Các bệnh khác trong nhóm như viêm đa cơ và da và cơ, viêm nút quanh động mạch ít gặp hơn hai bệnh kể trên. Ngoài các xét nghiệm thường quy, người ta phải tiến hành các xét nghiệm về miễn dịch để tìm các kháng thể kháng nhân, kháng histon…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien02

Tràn dịch khớp gối

Tiến triển của bệnh

Rất ít trường hợp bệnh khỏi hẳn. Đa số là bệnh có thể thuyên giảm và ổn định khi tuân thủ tốt chế độ điều trị và phối hợp tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Nếu không điều trị tốt, bệnh nặng dần khi tổn thương các cơ quan quan trọng như thận, não, tim, thần kinh…

Điều trị như thế nào?

Các thuốc có tác dụng ổn định bệnh là các thuốc ức chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphamide, methotrexate; thuốc chống sốt rét tổng hợp, thuốc điều trị triệu chứng như thuốc giảm đau, nâng cao thể trạng… Các thuốc phải dùng kéo dài, có thể suốt đời nên phải có sự hợp tác thật tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân để điều chỉnh thuốc cho thích hợp.

Ngoài dùng thuốc điều trị, người bệnh cần được nghỉ ngơi hợp lý, làm việc nhẹ nhàng, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, bổ sung chất khoáng và sinh tố. Tăng cường vệ sinh răng miệng và phòng các nhiễm khuẩn răng miệng.

Với các bệnh nhân có nhạy cảm da với ánh sáng thì phải đội mũ, đi găng, đeo kính, mặc các quần áo bằng chất liệu chống nắng, dùng các loại kem chống nắng khi buộc phải ra ngoài.  Về sức khỏe sinh sản, các bác sĩ thường khuyên người bệnh chỉ có thể mang thai khi trong 6 tháng trước không có các đợt tiến triển bệnh. Vì bệnh có xu hướng nặng lên khi mang thai do đó khi có thai cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc chuyên khoa.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Sữa chua làm từ sữa công thức cực tốt cho bé

Vì ngoài cung cấp các giá trị dinh dưỡng như sữa công thức pha uống, sữa chua còn cung cấp các vi khuẩn có lợi, giúp bé tiêu hóa hấp thu thức ăn tốt hơn.

Chào bác sĩ. Con trai em được 10 tháng rưỡi rồi nhung bé không chịu uống sữa, bé nặng 8,4kg cao 75cm vậy bé có bị suy dinh dưỡng không ạ? Em cho bé ăn sữa chua làm từ sữa bột của bé, vậy sữa chua này có giá trị dinh dưỡng giống như sữa pha với nước không ạ? Em mong được hồi âm. (Hong Tuoi – hongtuoi.thai@…gmail.com)
sua-chua-lam-tu-sua-cong-thuc-cuc-tot-cho-be
Trả lời:

Cháu chỉ hơi nhẹ cân 1 chút so với chuẩn, nhưng chưa bị suy dinh dưỡng. Chiều cao thì hoàn toàn bình thường vì vậy bạn có thể yên tâm nhé.

Sữa chua làm từ sữa bột của bé còn có giá trị dinh dưỡng tốt hơn uống sữa bột công thức, vì ngoài cung cấp các giá trị dinh dưỡng như sữa bột pha uống, sữa chua còn cung cấp các vi khuẩn có lợi, giúp cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, phòng chống táo bón, giúp bé tiêu hóa hấp thu thức ăn tốt hơn.

ề chế độ ăn cho bé ở tầm tuổi này, bạn có thể tham khảo khuyến cáo sau:

Ở lứa tuổi này cho đến tròn 12 tháng tuổi trong ngày (24 giờ) bé cần khoảng 500ml sữa (sữa mẹ là tốt nhất, sữa mẹ đủ bé không cần ăn thêm sữa công thức và các sản phẩm từ sữa…) và 3 bữa bột/cháo xay (600ml/ngày) đầy đủ 4 nhóm thực phẩm tổng gồm khoảng 90g gạo tẻ trắng, 90 thịt (tôm, cá…), 15g dầu (mỡ), 50g rau xanh, 100g quả chín.

Từ tròn 12 tháng tuổi đến tròn 24 tháng tuổi tăng 3 – 4 bữa cháo/ngày, đầy đủ 4 nhóm thực phẩm tổng tăng dần từ khoảng 100 – 150g gạo tẻ trắng,  100 – 120g thịt (tôm, cá… cách ngày 1 quả trứng gà cả lòng trắng), 20 – 30g dầu (mỡ), 50 – 100g rau xanh, 200g quả chín…

Bạn nên xem xét cho bé ăn đầy đủ, cân đối phù hợp với hướng dẫn trên. Trong giai đoạn này bạn nên dành nhiều thời gian bên bé, giải thích động viên bé, nên thay đổi cho bé ăn đa dạng các loại thực phẩm, nên chia nhỏ bữa ăn và thời gian ăn không kéo dài quá 30 phút/1 bữa…

Bạn cần tăng cường cho bé bú (việc này giúp lượng sữa mẹ tăng lên), bạn nên ăn đầy đủ, đa dạng các loại thực phẩm, uống nhiều nước, ăn thêm bữa hoặc 200ml sữa công thức trước khi ngủ (sữa mẹ được tiết nhiều vào đêm).

Chúc bạn và bé luôn mạnh khỏe, hạnh phúc!

Nguồn afamily

Viêm cơ nhiễm khuẩn: Cách điều trị

Viêm cơ nhiễm khuẩn (viêm cơ sinh mủ) là các tổn thương cơ do vi khuẩn, virut hay ký sinh trùng gây nên. Các loại vi khuẩn gây viêm cơ thường gặp là tụ cầu, đặc biệt là tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh… Tuy nhiên nếu chỉ có vi khuẩn trong máu thôi cũng chưa đủ điều kiện gây viêm cơ hay tạo ổ áp-xe. Viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện khi có đủ hai yếu tố là có vi khuẩn gây bệnh và cơ bị tổn thương. Chính tổn thương cơ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, làm “tổ”, phát triển và gây bệnh. Tại Khoa cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, viêm cơ nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ 2%. Có những trường hợp viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ cần điều trị nội khoa đơn thuần, song có những trường hợp phải kết hợp cả nội khoa và phẫu thuật. Dùng kháng sinh sớm, thích hợp. Cần phải điều trị kháng sinh đủ thời gian là khoảng 6 tuần. Nếu bệnh nhân sốt cao và đau nhiều thì cần dùng thêm thuốc hạ sốt, giảm đau như paracetamol. Cần nâng cao thể trạng cho bệnh nhân. Khi đã hình thành ổ mủ trong cơ thì cần phải chọc hút dẫn lưu mủ hoặc phẫu thuật để dẫn lưu mủ và lọc bỏ tổ chức hoại tử. Ngoài ra cần điều trị các biến chứng như viêm khớp, suy thận, sốc nhiễm khuẩn.

viem_co_nhiem_khuan_cach_dieu_tri

Để phòng bệnh, cần thực hiện vô trùng tuyệt đối khi làm thủ thuật như châm cứu, tiêm truyền, tiêm vào khớp… Điều trị tốt các nhiễm khuẩn tại da (mụn nhọt, vết loét…). Không làm vỡ, chích nặn sớm các thương tổn mụn nhọt ngoài da. Điều trị tốt một số bệnh nguy cơ, đặc biệt là đái tháo đường, tránh lạm dụng corticoid trong điều trị.

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Bệnh của nam giới trẻ tuổi – Viêm cột sống dính khớp (Kỳ I)

Kỳ 1: Các biểu hiện lâm sàng

Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh viêm khớp mạn tính khá phổ biến, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Chỉ riêng ở Trung Quốc, đã có ít nhất 2,3 triệu người mắc bệnh này. Nam giới trẻ tuổi thường hay mắc bệnh VCSDK nhất, chiếm tới 95% tổng số người mắc bệnh. 80% người mắc bệnh có độ tuổi dưới 30. Bệnh có tính gia đình, liên quan chặt chẽ với yếu tố kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA B 27. Những yếu tố môi trường như nhiễm khuẩn, chấn thương có thể kích thích khởi phát bệnh.

benh_cua_nam_gioi_tre_tuoi_viem_cot_song_dinh_khop_ky_1

Cột sống bình thường và viêm cột sống dính khớp.

Các biểu hiện lâm sàng của bệnh VCSDK

Trong thời kỳ đầu phát bệnh, các triệu chứng thường nhẹ nên không được bệnh nhân chú ý. Khi triệu chứng đã rõ thì bệnh đã tiến triển được nhiều tháng, cho đến vài năm. Dấu hiệu sớm thường gặp là đau cột sống thắt lưng và viêm các khớp chi dưới. Biểu hiện ở cột sống thường bắt đầu từ khớp cùng chậu nằm phía sau khung chậu, sau đó tổn thương tiếp tục lan theo chiều từ dưới lên trên cho đến tận cột sống cổ. Những triệu chứng cột sống đầu tiên là đau vùng mông, thắt lưng hay đau thần kinh tọa. Đau tăng lên về đêm và cứng cột sống thấy rõ nhất là lúc sáng sớm mới ngủ dậy. Ở giai đoạn muộn, người bệnh VCSDK có các biến dạng cột sống rõ rệt như eo lưng dẹt do teo cơ cạnh cột sống, lưng gù, cổ vươn về phía trước. Khớp háng bị viêm trong khoảng 70% trường hợp, thường xuất hiện trong 5 năm đầu bị bệnh. Viêm khớp háng có biểu hiện đau vùng bẹn, sau mông, hạn chế vận động phần hông thường ở trạng thái co gấp. Các cơ mông và đùi teo nhanh chóng. Viêm khớp gối, chủ yếu sưng đau, ít nóng đỏ, có thể kèm theo tràn dịch khớp, làm hạn chế các động tác gấp duỗi chân, đi lại khó khăn. Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai. Đau gót chân và đau hay sưng tấy ở những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận. Ngoài ra bệnh còn có một số biểu hiện toàn thân và ngoài khớp như sốt, gầy sút, viêm mống mắt, hở van tim. Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai, đau gót chân và đau hay sưng tấy ở những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận. Viêm mống mắt thể mi của màng bồ đào mắt xảy ra trong 25% trường hợp VCSDK, có biểu hiện đau mắt, sung huyết kết mạc, sợ ánh sáng. Người bị VCSDK có thể bị hoại tử tầng giữa vùng gốc động mạch chủ, làm cho vòng động mạch chủ bị giãn rộng ra, làm cho van động mạch chủ không đóng kín được hoàn toàn, dẫn đến hở van động mạch chủ. Các tổn thương viêm có thể làm tổn thương đường dẫn truyền của tim, gây nên loạn nhịp tim. Những bất thường đó có thể chẩn đoán khi chụp Xquang tim phổi, làm siêu âm tim. Tóm lại, nếu bệnh nhân nam giới trẻ tuổi (tuổi từ 15-30) đau cột sống thắt lưng, có đau khớp háng hay sưng đau khớp gối, khớp cổ chân cần phải nghĩ đến bệnh VCSDK và cần đến khám ngay ở chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán xác định và điều trị kịp thời.

Chẩn đoán VCSDK bằng cách nào?

Bệnh nhân có các biểu hiện nói trên sẽ được làm các xét nghiệm máu, dịch khớp, chụp Xquang cột sống, đặc biệt là khớp cùng chậu. Trên phim Xquang có thể phát hiện thấy các triệu chứng điển hình của bệnh như viêm khớp cùng chậu hai bên, hình ảnh cầu xương nối liền hai thân đốt sống do xơ hóa bao khớp, cột sống có hình ảnh thân cây tre do cầu xương nối liền nhiều thân đốt sống, dải xơ dây chằng cạnh cột sống trông như những đường ray tàu hỏa, đốt sống biến dạng thành hình vuông. Ngày nay để chẩn đoán sớm bệnh người ta có thể áp dụng phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân hay tìm yếu tố HLA B27, dương tính trong 90% bệnh nhân VCSDK trong khi đó chỉ có 4% dân số mang yếu tố này. Xét nghiệm tìm yếu tố dạng thấp trong VCSDK thường âm tính, do vậy bệnh còn được xếp vào nhóm bệnh lý cột sống có huyết thanh âm tính. Yếu tố dạng thấp do vậy thường chỉ dùng để chẩn đoán phân biệt với bệnh viêm khớp dạng thấp. Người ta còn làm xác định tốc độ máu lắng và protein C phản ứng để xác định xem bệnh có đang hoạt động hay không. 80% người bệnh VCSDK có tốc độ máu lắng cao và protein C phản ứng cao. Thông thường sau khi khống chế được bệnh thì tốc độ máu lắng và protein C phản ứng có thể trở lại bình thường.

TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Bệnh của nam giới trẻ tuổi – Viêm cột sống dính khớp (Kỳ II)

Kỳ II: Biến chứng của bệnh viêm cột sống dính khớp

Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh viêm khớp mạn tính khá phổ biến ở nước ta. Bệnh xuất hiện trên trái đất từ rất lâu. Người ta phát hiện được các dấu hiệu của bệnh trên các xác ướp Ai Cập tồn tại từ 3.000 năm trước Công nguyên. VCSDK như tên gọi của nó là viêm cột sống và khớp cùng chậu mạn tính gây cứng và dính cột sống. Tuy nhiên các khớp lớn ở chi dưới như khớp háng và khớp gối cũng vị viêm, do vậy bệnh còn có tên là viêm đốt sống gốc chi. Bệnh có tính gia đình (con hay cháu của bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh gấp tới 40 lần so với các gia đình khỏe mạnh). Hai nguyên nhân chính gây bệnh là yếu tố di truyền và yếu tố môi trường, tương tác với nhau một cách chặt chẽ để gây nên bệnh.

Các biến chứng của bệnh VCSDK

benh_cua_nam_gioi_tre_tuoi_viem_cot_song_dinh_khop_ky_2

Các giai đoạn viêm cột sống dính khớp.

Do các biểu hiện bệnh VCSDK rất đa dạng nên có thể chẩn đoán nhầm với khoảng 20 bệnh khác cũng có triệu chứng tương tự như lao khớp, bệnh ưa chảy máu, viêm khớp dạng thấp, gút, viêm đốt sống đĩa đệm do vi khuẩn. Do vậy bệnh nhân nhất thiết phải đến khám các bác sĩ chuyên khoa xương khớp ngay từ khi mới có các triệu chứng đầu tiên. Hiện nay bệnh nhân thường có tâm lý lo ngại mất thời gian đi khám do bận việc làm ăn, chủ quan tự điều trị hay để đến khi bệnh tiến triển nặng rồi mới vội vàng đi khám. Hậu quả là bệnh nhân bị các biến chứng nặng nề của bệnh, mất nhiều tiền của mà cũng không có kết quả vì bệnh đã tiến triển quá dài và quá nặng. Bệnh nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ tiến triển nặng dần, dẫn đến dính và biến dạng toàn bộ cột sống và hai khớp háng, khiến người bệnh bị tàn phế, không đi lại được, phải bò hoặc lết, cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của gia đình và xã hội. Bệnh nhân thường có tư thế giảm đau xấu là nằm nghiêng co lưng tôm, hay nằm ngửa kê gối cao đầu. Hậu quả là bị gù lưng, khiến đi đứng lom khom, đầu cúi về phía trước. Gù lưng nhiều có thể khiến các xương sườn chạm vào xương cánh chậu, hạn chế giãn nở lồng ngực, gây suy hô hấp, suy tim. Các biến chứng nặng nề khác của bệnh là lao phổi, liệt hai chân do chèn ép tủy và rễ thần kinh.

Chế độ sinh hoạt, vận động thế nào khi bị VCSDK?

Bản thân bệnh nhân VCSDK muốn giảm nhẹ đau đớn nên thường để các khớp ở trạng thái hoàn toàn không hoạt động trong một thời gian dài, hậu quả là bị teo cơ bắp và co rút khớp xương, gây tàn phế. Do vậy phương pháp tốt nhất là tích cực điều trị bằng các thuốc chống viêm để kiểm soát đau khớp, rồi từ từ hoạt động các khớp xương. Trong giai đoạn tiến triển của bệnh, bệnh nhân phải nghỉ ngơi. Khi không vận động phải đặt khớp xương viêm cấp tính ở vị trí thích hợp hoặc dùng nẹp để hạn chế cử động, tránh phát sinh co rút khớp. Trong thời kỳ cấp tính phải kiên trì vận động duỗi thẳng chi và cột sống để giảm nhẹ các cơn đau do co rút cơ gây ra. Khi nằm nghỉ, bệnh nhân phải nằm ngửa trên nền cứng, đầu gối thấp, chân duỗi thẳng hơi dạng để tránh các khớp bị co rút nặng thêm. Với tư thế này nếu có dính khớp thì bệnh nhân vẫn có thể đi lại được. Tuy nhiên khi bệnh đã đỡ thì cần phải tích cực vận động càng sớm càng tốt để chống dính khớp. Bệnh nhân cần phải hiểu rằng tập vận động khớp và điều trị bằng thuốc đều có tầm quan trọng như nhau. Bệnh nhân phải học cách tự chăm sóc bản thân và thường xuyên tập thể dục, với sự hướng dẫn của bác sĩ để duy trì được tư thế tốt nhất của cột sống, tăng cường cơ lực của các cơ cạnh cột sống và tăng hoạt động của các cơ hô hấp. Trong thời gian bị bệnh, mỗi ngày cần hoạt động xương khớp nhẹ nhàng 1-2 lần để giúp giảm bớt co cứng khớp. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp cho phục hồi nhanh hơn. Bệnh nhân có thể áp dụng các bài tập thể dục trị liệu hay tập bơi, chơi cầu lông, bóng bàn. Thậm chí sau khi các triệu chứng bệnh đã khỏi thì vẫn phải kiên trì vận động trong thời gian dài để duy trì các khớp xương ở trạng thái chức năng bình thường. Người bệnh nghiện thuốc lá phải dừng ngay hút thuốc lá để phòng tránh suy hô hấp. Bệnh VCSDK cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh dục của người bệnh. Ở giai đoạn muộn khi cột sống và các khớp đã biến dạng nhiều, khiến cho bệnh nhân thậm chí không thể tự mình sinh hoạt bình thường được. Một số thuốc điều trị cũng ảnh hưởng đến chức năng sinh dục. Bệnh cũng ảnh hưởng cả đến thế hệ con cái của bệnh nhân. Nguy cơ những đứa trẻ của những bệnh nhân có HLA B 27 dương tính bị mắc bệnh VCSDK lên tới 50%. Do vậy bệnh nhân VCSDK nên cân nhắc kỹ khi lập gia đình và có con. Nên lập gia đình và có con sớm, ở giai đoạn đầu của bệnh khi chưa có biến dạng cột sống và các khớp. Những người VCSDK nếu thấy khớp háng không thoải mái thì nên đi kiểm tra sớm và khám định kỳ. Đối với người khớp háng đã bị cứng đờ, không thể sinh hoạt và làm việc bình thường thì phải phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo.

Tuân thủ điều trị lâu dài nâng cao chất lượng điều trị

Cần phát hiện và điều trị bệnh ở giai đoạn sớm thì kết quả mới khả quan. Mục đích của điều trị là giảm đau, chống viêm, duy trì chức năng vận động của các khớp cột sống và ngoại vi. Bệnh nhân cần xác định thái độ kiên trì điều trị lâu dài, tuân thủ đúng chế độ thuốc men do thầy thuốc chỉ định.

TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Viêm khớp nhiễm khuẩn do lậu cầu

Lậu cầu (Neisseria gonorrhoeae) là vi khuẩn hình hạt cà phê, xếp thành cặp nên gọi là song cầu khuẩn bắt màu gram (âm). Bệnh lậu là bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp nhất hiện nay ở nước ta. Nhiễm lậu cầu khuẩn có thể biểu hiện triệu chứng hoặc không có triệu chứng trên lâm sàng. Thường bệnh biểu hiện ở bộ phận sinh dục gây viêm niệu đạo ở cả hai giới, nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến lậu mạn tính với nhiều biến chứng. Trong bài này chúng tôi đề cập tới một thể bệnh hay gặp trên lâm sàng là viêm khớp do lậu, đây là nguyên nhân gây viêm khớp thường gặp nhất ở người lớn (chiếm 70% nhiễm khuẩn khớp ở người lớn dưới 40 tuổi).

viem_khop_nhiem_khuan_do_lau_cau

Dấu hiệu nhận biết bệnh

Có hai bệnh cảnh lâm sàng trong viêm khớp do lậu cầu là hội chứng nhiễm khuẩn do lậu cầu (disseminated gonococcal infection syndrome- chiếm 2/3 trường hợp) và viêm khớp thực sự do lậu cầu (true gonococcal septic arthritis – chiếm tỷ lệ 1/3).

Trong hội chứng nhiễm khuẩn do lậu cầu, các triệu chứng thường gặp là sốt, rét run, ban đỏ và mụn mủ ngoài da cùng các biểu hiện tại khớp. Viêm khớp thường ở khớp nhỏ có tính chất di chuyển kèm viêm bao hoạt dịch – gân ở gối, cổ tay, bàn tay, cổ chân và mắt cá chân. Một số ít bệnh nhân có ban ở thân mình hoặc ở mặt duỗi của chân phát triển thành mụn mủ xuất huyết. Tổn thương ở da và khớp được xem là do phản ứng miễn dịch của cơ thể với sự xuất hiện của lậu cầu trong máu và lắng đọng phức hợp miễn dịch tại mô hơn là do bản thân vi khuẩn. Chính vì vậy cấy dịch khớp thường âm tính. Cấy máu cho tỷ lệ dương tính với lậu cầu ở 45% trường hợp. Thường tràn dịch khớp với số lượng dịch ít, lượng tế bào dịch khớp khoảng từ 10.000-20.000 bạch cầu/ml.

Trong trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn thực sự do lậu cầu, thường tổn thương một khớp lớn đơn độc như háng, gối, cổ tay, cổ chân với biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau. Toàn thân sốt cao, rét run. Xét nghiệm dịch khớp có nhiều tế bào hơn, khoảng 50.000 bạch cầu/ml, lượng dịch cũng nhiều hơn. Cấy dịch khớp trong môi trường Martin- Thayer, Martin- Lewis (điều kiện nuôi cấy 3-10% CO2, nhiệt độ 35-37o, độ ẩm 70%, pH 7,3), phát hiện lậu cầu trên 40% trường hợp, nhuộm có thể dương tính (song cầu hình hạt cà phê bắt màu gram âm). Cấy dịch từ tổn thương da, dịch đường sinh dục cho kết quả dương tính cao (50-80% trường hợp). Cấy máu thường âm tính.

Điều trị và những lưu ý quan trọng

Cần thực hiện ngay việc cấy máu, lấy bệnh phẩm đường sinh dục (nếu có viêm niệu đạo), lấy dịch khớp làm xét nghiệm nhanh bằng phương pháp soi tươi nhuộm gram tìm vi khuẩn, nuôi cấy trước khi cho thuốc kháng sinh. Lưu ý việc sử dụng kháng sinh tiêm trực tiếp vào khớp là không cần thiết vì tác dụng không tốt hơn, thậm chí có thể gây nên tình trạng viêm khớp do tinh thể thuốc. Viêm mủ khớp gối do lậu cầu thường chỉ cần phối hợp kháng sinh kết hợp với hút dịch khớp là đủ, hiếm khi cần nội soi rửa khớp hoặc phẫu thuật mở khớp. Khác với bệnh lậu đường sinh dục không biến chứng thường chỉ dùng kháng sinh ngắn ngày (liều duy nhất), điều trị viêm khớp do lậu cần dùng kháng sinh dài ngày hơn (thường từ 7- 14 ngày).

– Trường hợp lậu cầu nhạy cảm penicillin có thể dùng amoxicillin uống 1.500 mg/ngày chia 3 lần, hoặc dùng ciprofloxacin uống 1.000 mg chia 2 lần/ngày.

– Trường hợp nghi ngờ lậu cầu kháng penicillin: khởi đầu ceftriaxon 1g tiêm tĩnh mạch mỗi 24 giờ trong 7 ngày. Hoặc spectinomycin 2g tiêm bắp mỗi 12 giờ/ngày trong 7 ngày. Một khi triệu chứng tại chỗ và toàn thân kiểm soát tốt có thể chuyển sớm sang dùng ciprofloxacin uống 500 mg, 2 lần/ngày.

Phối hợp với một trong các loại thuốc sau để điều trị đồng thời nhiễm Chlamydia trachomatis, rất thường gặp cùng với bệnh lậu: doxycyclin 100mg uống 2viên/ngày, hoặc tetraxyclin 500mg uống 4 viên/ngày, hoặc erythromycin 500mg uống 4 viên/ngày, thời gian điều trị thường trong 7 ngày. Hoặc azithromycin (zithromax) 500mg, uống 2 viên liều duy nhất. Lưu ý không dùng doxycyclin và tetracyclin cho phụ nữ có thai và cho con bú, trẻ dưới 7 tuổi.

An toàn tình dục để phòng bệnh

Chưa có vacxin phòng bệnh đặc hiệu. Cần an toàn trong quan hệ tình dục: sử dụng bao cao su, chung thủy một vợ một chồng. Giáo dục truyền thông trong cộng đồng về tránh lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, giáo dục sức khỏe giới tính học đường. Khi phát hiện viêm niệu đạo do lậu cầu cần điều trị sớm, tích cực ngay từ đầu tránh chuyển bệnh thành mạn tính, gây nhiều biến chứng. Lưu ý tư vấn cho bệnh nhân thông báo cho bạn tình tình trạng bệnh để đi khám và điều trị đồng thời, có như vậy sẽ giúp cho việc điều trị khỏi bệnh và phòng lây nhiễm.

Theo SKĐS

Viêm họng cấp ở trẻ em: Thuốc điều trị

Viêm họng cấp là bệnh chiếm tỷ lệ rất cao ở trẻ em với các triệu chứng khởi phát đột ngột, sốt cao 39 – 40°C, kèm theo là nuốt đau, rát họng, có thể kèm theo chảy nước mũi nhầy, ho khan… hay gặp vào mùa lạnh. Nguyên nhân có thể do virut hoặc vi khuẩn. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây biến chứng như viêm đường hô hấp trên, và nguy hiểm hơn là gây bệnh thấp tim (do  liên cầu khuẩn, một thủ phạm gây viêm họng kích thích cơ thể sản xuất ra các kháng thể gây ảnh hưởng đến tim, khớp, thần kinh và gây nên bệnh thấp tim).

viem_hong_cap_o_tre_em_thuoc_dieu_tri

Viêm họng cấp nếu không được điều trị kịp thời có thể gây nhiều biến chứng. Ảnh: H. Mai

Thuốc điều trị viêm họng cấp do vi khuẩn

Khi xác định viêm họng do vi khuẩn mới cần dùng đến kháng sinh. Một số loại kháng sinh thường dùng như rovamycin (spiramycin), nhóm kháng sinh bezylpenicillin (amoxycyllin, augmentin).

Khi dùng thuốc cần chú ý tới các tác dụng phụ của thuốc: spiramycin hiếm khi gây tác dụng không mong muốn nghiêm trọng. Thường gặp hiện tượng trên tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, khó tiêu (khi dùng đường uống) hoặc kích ứng tại chỗ tiêm (khi dùng đường tiêm). Amoxycylin, augmentin (amoxycylin + clavulanate) có thể gây ngoại ban da, buồn nôn, nôn, tiêu chảy. Khi xuất hiện mày đay, các dạng ban khác phải ngừng dùng thuốc và thông báo cho bác sĩ biết để có cách xử trí phù hợp.

Có thể dùng phương pháp xông họng, khí dung bằng các loại thuốc kháng sinh hoặc kháng viêm. Một số trường hợp viêm họng mạn tính có thể đốt họng bằng  laser CO2 hoặc nito bạc…

Thuốc điều trị viêm họng cấp do virut

Trường hợp viêm họng do virut không cần dùng thuốc kháng sinh. Một số nhóm thuốc có thể dùng trong trường hợp này:

– Thuốc hạ sốt: paracetamol, efferalgan, aspegic… chỉ dùng khi nhiệt độ trên 38°C và sau mỗi 4 – 6 giờ mới được dùng lại thuốc.

– Thuốc giảm ho: có thể dùng siro phenergan, ho bổ phế, atussin, theralen…

– Nhóm thuốc có tác dụng giảm ngứa, giảm rát họng như viên (hoặc siro) rhinathiol, các loại thuốc ngậm như lysopaiin, súc họng bằng nước muối sinh lý.

– Thuốc làm giảm phù nề chống viêm, tan đờm như alpha-chymotrypsin, mucomyst, mucosoval…

Ngoài ra, có thể nâng cao thể trạng bằng cách bổ sung vitamin như vitamin C…

Lưu ý: Với trẻ dưới 1 tuổi khi bị sốt, có thân nhiệt trên 38oC cần cho trẻ  đi khám, vì trẻ sốt cao dễ dẫn tới co giật. Khi dùng thuốc cần cho trẻ uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian theo đúng chỉ định của bác sĩ. Không được tự ý mua kháng sinh điều trị. Vì điều trị không đúng sẽ để lại tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh, làm cho các lần điều trị sau này sẽ gặp nhiều khó khăn.

Dược sĩ Hoàng Thu Thủy
Theo SKĐS

Tìm hiểu bệnh loét giác mạc

Nếu ví con mắt như một cái máy ảnh, thì giác mạc là một thấu kính quan trọng trong hệ thống quang học của máy ảnh đó. Giác mạc chiếm đến 2/3 lực khúc xạ của mắt, vì vậy những tổn thương trên giác mạc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị lực của người bệnh. Một trong những tổn thương rất nặng của giác mạc gây ảnh hưởng trầm trọng đến thị lực là bệnh loét giác mạc.

tim_hieu_benh_loet_giac_mac

Nguyên nhân gây loét giác mạc

Đây là một bệnh khá thường gặp và là một trong những nguyên nhân dẫn đến mù lòa. Loét giác mạc là hiện tượng mất tổ chức giác mạc do hoại tử, gây ra bởi một quá trình viêm trên giác mạc. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra loét giác mạc: do vi khuẩn (tụ cầu, liên cầu, phế cầu, lậu cầu, trực khuẩn mủ xanh, moraxella…); do nấm (aspergillus fumigatus, fusarium solant, candida albicans, histoblasma,…); do virut (her pes simple, herpes zoster) hoặc do ký sinh trùng (acanthamoeba). Khi giác mạc còn nguyên vẹn thì hầu hết các yếu tố gây bệnh không xâm nhập được vào giác mạc. Loét giác mạc thường xuất hiện sau một chấn thương gây tổn hại lớp tế bào biểu mô (lớp tế bào bề mặt của giác mạc). Chấn thương giác mạc có thể từ bên ngoài: chấn thương trong sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là chấn thương trong nông nghiệp (do hạt thóc bắn vào mắt hoặc lá  quệt vào mắt). Do vậy, trong các mùa gặt số lượng bệnh nhân bị loét giác mạc thường tăng lên. Tổn thương giác mạc cũng có thể do bệnh tại mắt (do lông quặm, lông xiêu cọ vào mắt) hoặc do những phương pháp điều trị phản khoa học: đánh mộng mắt bằng búp tre, đắp nhái vào mắt để điều trị…

Biểu hiện của bệnh

Khi bị loét giác mạc bệnh nhân sẽ thấy  mắt bị đỏ, đôi khi sưng nề, mắt cộm chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, rất khó mở mắt. Thị lực bệnh nhân giảm nhiều, trường hợp nặng mắt chỉ còn cảm nhận được ánh sáng. Khám mắt sẽ thấy mi và kết mạc phù nề, trường hợp nặng có thể gây sụp mi mắt. Trên giác mạc có một ổ loét. Tùy nguyên nhân mà ổ loét có đặc điểm khác nhau. Nếu loét giác mạc do vi khuẩn: ổ loét có ranh giới không rõ, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử bẩn, khi nhuộm giác mạc bằng fluorescein 2% ổ loét sẽ bắt màu xanh, nếu ổ loét hoại tử nhiều sẽ có màu vàng xanh. Nếu loét giác mạc do nấm: ổ loét ranh giới rõ, bờ gọn thường có hình tròn hoặc bầu dục, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử dày, đóng thành vảy gồ cao, bề mặt vảy khô ráp và khó bóc. Nếu loét giác mạc do virut herpes: ổ loét có thể có hình cành cây hoặc hình địa đồ. Nếu loét giác mạc do acanthamoeba (amíp): ổ loét giác mạc thường kèm theo áp xe giác mạc hình vòng. Giác mạc xung quanh ổ loét bị mờ đi (do thâm nhiễm các tế bào viêm và dịch). Tiền phòng có thể có ngấn mủ.

Điều trị bệnh

Loét giác mạc là môt bệnh nặng, khó điều trị và gây ra nhiều biến chứng. Khi điều trị khỏi bệnh sẽ để lại sẹo trên giác mạc gây giảm thị lực. Trường hợp bệnh nặng, điều trị không hiệu quả có thể phải bỏ nhãn cầu.

Khi bị loét giác mạc, bệnh nhân cần phải đến khám tại các cơ sở nhãn khoa. Tại đây, nhân viên y tế nạo ổ loét giác mạc lấy bệnh phẩm, làm xét nghiệm tìm nguyên nhân gây bệnh và điều trị bằng các thuốc đặc hiệu. Nếu điều trị nội khoa không hiệu quả hoặc trong những trường hợp nặng có thể phải phẫu thuật ghép giác mạc, với mục đích thay thế giác mạc bệnh lý bằng mô giác mạc lành. Bệnh nhân tuyệt đối không được mua thuốc tại các hiệu thuốc để tự điều trị. Hiện nay, tại các hiệu thuốc có rất nhiều loại thuốc nhỏ mắt có chứa corticosteroid được bán tràn lan. Nếu bệnh nhân bị loét giác mạc mà dùng những thuốc này sẽ làm bệnh trở nên trầm trọng và gây ra những biến chứng rất nguy hiểm. Khi bị các chấn thương mắt dù nhẹ bệnh nhân cũng nên đến các cơ sở nhãn khoa để khám và điều trị, tránh để muộn có thể gây ra biến chứng loét giác mạc. Đặc biệt, khi bị bụi bay vào mắt, bệnh nhân nên đến cơ sở y tế để lấy, không nên tự ý lấy hoặc nhờ người khác lấy ra có thể gây biến chứng nguy hiểm, bệnh nhân cũng không nên dụi mắt vì sẽ làm tổn thương nặng thêm.

Theo SKĐS

4 bài thuốc nam trị đau mắt đỏ

Đau mắt đỏ là bệnh thường gặp và dễ lây lan. Nguyên nhân của bệnh là do vi khuẩn, virut…

Đặc biệt, bệnh dễ gây thành dịch ở nơi vệ sinh kém, thiếu nước sạch trong sinh hoạt.

Theo Đông y, đau mắt đỏ chủ yếu do cảm nhiễm độc khí lưu hành trên một diện rộng, hiệp với thấp nhiệt phối hợp với nhau mà gây bệnh.

4_bai_thuoc_nam_tri_dau_mat_do

Biểu hiện của bệnh là lúc đầu thấy ngứa, cộm, chảy nước mắt là lúc độc phong tà xâm nhập tại chỗ mà gây ra; sau đó nhanh chóng sưng là quá trình chính khí và tà khí giao tranh nên mắt đau, nhiều dử. Sau đây là một số bài thuốc Nam đơn giản, dễ kiếm có thể trị bệnh này để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Bài 1: Hoà tan 1 thìa canh muối bột (muối tinh không có i-ốt) vào 1 lít nước đun sôi để nguội, đựng vào chai sạch để dùng dần. Hàng ngày, nhất là lúc mới ngủ dậy, dùng bông sạch thấm nước muối trên lau mắt 4 – 5 lần cho sạch. Nhấp nháy mắt cho nước muối lọt vào trong làm tan những hạt li ti cộm lên trong mắt.

Bài 2: Lấy cây sống đời (cây bỏng) rửa sạch, giã nhỏ (dụng cụ cần được tẩy trùng sạch), lấy một miếng gạc đã tiệt khuẩn (hoặc vải màn sạch) đặt lên mắt, đặt dung dịch lá sống đời vừa bào chế lên trên miếng gạc rịt chặt, nhất là về đêm để khi ngủ không rơi. Mỗi tối làm 1 lần cho đến khi khỏi.

Bài 3: Nếu dùng các vị trên chưa khỏi, cần sử dụng các bài thuốc sau: Hạt thảo quyết minh (hạt muồng) sao vàng; bông cúc vàng (cam cúc) mỗi thứ 1 nắm; quả bạch tật lê 10g. Cho tất cả vào đun uống như nước chè.

Bài 4: Có thể cho bạch tật lê 2g đun sôi, sau đó đổ ra cốc để ngay dưới mắt vào dùng hơi nước xông cho đến khi khỏi (lưu ý cẩn thận kẻo bỏng mắt).

Theo Afamily/ Theo SKĐS

Nấm âm đạo điều trị bằng phương pháp tự nhiên

Nhiễm trùng nấm men, hay còn được gọi là nhiễm nấm candida là bệnh rất dễ gặp ở cả phụ nữ và nam giới vì nó do loại vi khuẩn trú ngụ trong đường sinh dục và đường ruột gây ra. Khi có sự mất cân bằng trong các bộ phận này, nhiễm nấm candida có thể gây nhiễm trùng. Phát ban, viêm âm đạo, và bệnh tưa miệng là một số các biểu hiện có thể xuất hiện của nhiễm nấm candida.

Bởi vì candida có thể ảnh hưởng đến các bộ phận khác nhau của cơ thể – thông thường nhất là miệng, tai, mũi, móng chân, móng tay, đường tiêu hóa, và âm đạo, nên nó có thể được đặc trưng bởi một loạt các triệu chứng. Bao gồm táo bón, tiêu chảy, đau bụng, nhức đầu, hơi thở hôi, ngứa hậu môn, bất lực, mất trí nhớ, thay đổi tâm trạng, viêm tuyến tiền liệt, lở loét thối, mệt mỏi cùng cực, viêm âm đạo, triệu chứng tiền kinh nguyệt, thận và các bệnh nhiễm trùng bàng quang, viêm khớp, trầm cảm, suy giáp, thượng thận vấn đề, hiếu động thái quá, và thậm chí cả bệnh tiểu đường…

Một số phụ nữ nhận thấy mình bị nhiễm nấm khi sử dụng thuốc tránh thai hoặc trong thời kỳ mang thai. Thuốc kháng sinh là một nguyên nhân phổ biến của nhiễm nấm vì thuốc kháng sinh “giết chết” các vi khuẩn có lợi. Bất cứ điều gì làm giảm chức năng miễn dịch thường dẫn đến các loại bệnh nhiễm trùng.

Trên thực tế, người ta nói rằng bệnh nhiễm khuẩn như nhiễm nấm candida hiếm khi xảy ra ở những người có hệ thống miễn dịch mạnh mẽ, những người có một chế độ ăn uống lành mạnh ít đường và ít men.

nam-am-dao-tri-bang-cach-tu-nhien-1

Bạn có thể tham khảo những mẹo trị nấm tự nhiên như dưới đây:

1. Bổ sung chế độ ăn uống: Chế độ ăn của bạn với acidophilus hay bifidus để giúp khôi phục lại sự cân bằng bình thường của hệ thực vật trong ruột và âm đạo. Bạn cũng có thể mua các sản phẩm bổ sung chống nấm men.

2. Hạt bưởi, lá ôliu và nước trái cây lô hội, tỏi: Viên nang tỏi (2 viên nang uống 3 lần một ngày) có hiệu quả ức chế sự lây nhiễm. Axit caprylic là một chất kháng nấm phá hủy các sinh vật candida.

3. Ăn nhiều trái cây: Hãy chắc chắn rằng chế độ ăn uống của bạn là trái cây, không có đường và men. Nấm candida phát triển mạnh trong một môi trường có đường, vì vậy chế độ ăn uống của bạn nên ít carbohydrates và không chứa các sản phẩm men hoặc đường dưới bất kỳ hình thức nào.

4. Tránh các loại pho mát, rượu, bánh, sô cô la, trái cây khô, thực phẩm lên men, tất cả các loại ngũ cốc có chứa gluten (lúa mì, yến mạch, lúa mạch và lúa mạch đen), giăm bông, mật ong, hạt bơ, dưa chua, khoai tây, nấm liệu, nước tương, giá, và giấm.

5. Loại bỏ trái cây chua như cam, bưởi, chanh, cà chua, dứa, trong chế độ ăn uống của bạn trong một tháng. Sau đó chỉ ăn một hoặc hai lần trong tuần. Bởi những loại trái cây này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nấm candida phát triển mạnh.

6. Ăn rau, cá, và gluten các loại ngũ cốc như gạo nâu và kê.

7. “Giết” ký sinh trùng. Ký sinh trùng có thể nuôi dưỡng nấm men. Vì vậy bạn cần đến cơ sở y tế để “làm sạch” ký sinh trùng ít nhất 3 tuần hai lần một năm.

8. Ăn và bôi sữa chua có chứa các men tiêu hóa là các vi khuẩn sống: Nếu bị nấm candida ở âm đạo, bạn có thể bôi trực tiếp sữa chua không đường vào âm đạo hoặc kết hợp với nước và sử dụng nó để rửa âm đạo một hoặc hai lần trong ngày cho đến khi có sự tiến triển tốt.

9. Mặc đồ lót sáng màu bằng cotton. Sợi tổng hợp giữ nhiệt tạo ra một chế độ ăn thuận lợi cho nấm candida.

10. Tránh thuốc tránh thai, thuốc kháng sinh, và các thuốc có chứa corticosteroid.

11. Tránh tiếp xúc các sản phẩm hóa chất trong gia đình và chất tẩy rửa, nước khử trùng có clo, băng phiến, quần áo bằng vải dệt tổng hợp, và tránh những nơi ẩm ướt và mốc, chẳng hạn như tầng hầm.

Vì vậy, về cơ bản, bạn có thể ăn rau và thịt trong khi bạn đang cố gắng để loại bỏ nấm candida … Nghe thì có vẻ nhàm chán những hãy thử điều này trong ba tuần. Nếu bạn có cảm giác thèm ăn đường, nên tiêu thụ một muỗng cà phê của cinnnamon một ngày.

Nếu bạn làm theo những gợi ý này, bạn sẽ có thể để có được lại là sự cân hiệu quả hơn và nhanh chóng hơn.

Theo T.Liên (Afamily)/SKDS

Tìm hiểu thêm về bệnh viêm phổi ở trẻ em

Viêm phổi là tình trạng tổn thương cấp tính, lan tỏa 2 bên phổi gây rối loạn trao đổi khí tại cơ quan này, dẫn đến suy hô hấp, tiến triển nặng. Bệnh thường xuất hiện nhiều vào mùa đông xuân, khi thời tiết thay đổi, trời lạnh, độ ẩm cao.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh viêm phổi do nhiều nguyên nhân gây nên như vi khuẩn (phế cầu, liên cầu, tụ cầu, hemophilus influense, e.coli, trực khuẩn mủ xanh…), virút (cúm, thủy đậu, sởi, SARS), nấm, ký sinh trùng… Bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác, từ súc vật sang người. Trẻ em có thể bị bệnh sau khi tiếp xúc với người lớn mắc bệnh 2 – 3 tuần.

Viêm phổi do virút có thể gây thành dịch nguy hiểm. Ở trẻ càng nhỏ, diễn biến bệnh càng nhanh và nặng. Những trẻ suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV/AIDS), có dị tật bẩm sinh về tim mạch, phổi, lồng ngực, đẻ thiếu cân… rất dễ mắc bệnh.

viem_phoi_tre_em

ảnh minh họa

Biểu hiện của bệnh

Các biểu hiện thường rất đa dạng và phức tạp:

– Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc…

– Giai đoạn sau: nếu trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát thì sẽ diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi…

Ngoài ra, trẻ có thể bị tiêu chảy, nôn, đau bụng, phổi có nhiều ran ẩm nhỏ hạt. Tình trạng này kéo dài sẽ gây thiếu oxy cung cấp cho não, trẻ sẽ li bì hoặc bị kích thích, co giật…

Nguyên tắc điều trị viêm phổi ở trẻ là chống nhiễm khuẩn, chống suy hô hấp, chăm sóc tốt:

– Ở tuyến cơ sở: nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn nhẹ (natricloxit 9%o), súc miệng hằng ngày. Có thể dùng một số loại kháng sinh khi có tình trạng nhiễm trùng như: penixilin, amoxilin, erythromycin… (tốt nhất nên dùng đường uống, dạng siro). Khi tình trạng bệnh không cải thiện thì nên chuyển lên tuyến trên.

– Khi trẻ viêm phổi nặng: nên nằm điều trị nội trú tại bệnh viện, theo dõi sát diễn biến của bệnh và có biện pháp xử trí kịp thời. Nếu tìm được nguyên nhân gây bệnh thì dùng kháng sinh dựa theo kháng sinh đồ. Nếu không có kháng sinh đồ thì dựa vào lứa tuổi, diễn biến của bệnh mà lựa chọn các loại kháng sinh phổ rộng như: gentamycin, amoxilin, cefotaxim, cefuroxim…

– Điều trị hỗ trợ: hạ nhiệt bằng paracetamon, chườm mát…, làm thông thoáng đường thở bằng cách hút đờm dãi, nằm đầu cao, nới rộng quần áo. Cho thở oxy khi trẻ có biểu hiện suy thở. Nếu tím tái nặng, ngừng thở thì có thể đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ… Khi trẻ sốt cao kéo dài, có biểu hiện mất nước, cần truyền dịch.

– Chăm sóc: cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất, số lượng vừa phải, tránh trào ngược. Đảm bảo vệ sinh sạch sẽ và cần phải theo dõi sát tình trạng khó thở, tím tái.

Để phòng viêm phổi ở trẻ

Nhằm giúp con trẻ không bị viêm phổi, các bậc cha mẹ cần chú ý:

– Nơi ở phải đầy đủ ánh sáng, thoáng mát, lưu thông không khí tốt, ấm áp về mùa đông. Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, cho súc miệng hàng ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch.

– Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân…

– Đảm bảo cho trẻ có một sức khỏe tốt. Khi mang thai, bà mẹ phải khám thai đầy đủ, đảm bảo thai nhi phát triển tốt, có chế độ ăn đủ chất dinh dưỡng như protid, lipid, các loại vitamin, muối khoáng… Nên cho trẻ bú mẹ từ ngay sau khi sinh đến 2 tuổi để cơ thể trẻ phát triển toàn diện và khả năng chống lại bệnh tật tốt hơn.

– Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ theo hướng dẫn của cán bộ y tế cơ sở theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Nếu tiêm một số loại vắc-xin phòng viêm đường hô hấp ngoài chương trình, cần có sự hướng dẫn và tư vấn của cán bộ y tế nhằm bảo đảm hiệu quả và tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

– Lập sổ theo dõi sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ và lưu giữ sổ sau mỗi lần khám nhằm giúp nhân viên y tế nắm được diễn biến sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có hướng điều trị, phòng bệnh tốt.

Theo suckhoevadoisong

Đôi điều cần biết về viêm màng não

Viêm màng não là gì?

Viêm màng não là sự viêm màng bao phủ,che chở não và tủy sống. Người ta thỉnh thoảng đề cập đến nó như là viêm màng não tủy. Viêm màng não thường do nhiễm virus hoặc vi khuẩn. Việc biết là viêm màng não do virus hay vi khuẩn thì quan trọng bởi mức độ nghiêm trọng của bệnh và việc điều trị khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân.

Viêm màng não do virus thường ít nghiêm trọng và hết mà không có điều trị đặc hiệu. Nhưng viêm màng não do vi khuẩn có thể rất nghiêm trọng và có thể gây tổn thương não, mất khả năng nghe, hoặc là mất khả năng học hành. Đối với viêm màng não vi khuẩn, việc biết loại vi khuẩn nào gây nên viêm màng não thì cũng quan trọng bởi vì kháng sinh có thể phòng ngừa  một số loại không lây lan và nhiễm cho người khác. Trước những năm 1990, Haemophilus influenza type B là nguyên nhân hàng đầu của viêm màng não vi khuẩn. Hib vaccine bây giờ được chủng ngừa cho tất cả trẻ em như là chủng ngừa thường quy. Vaccine này đã làm giảm số trường hợp của nhiễm Hib và số viêm màng não có liên quan.  Viêm màng não do Streptococcus pneumonia và Neisseria là nguyên nhân hàng đầu của viêm màng não do vi khuẩn.

doi_dieu_can_biet_ve_viem_mang_nao

Triệu chứng và dấu hiệu của viêm màng não là gì ?

Sốt cao, đau đầu và cứng cổ là những triệu chứng thông thường của viêm màng não của bất kỳ ai > 2 tuổi. Những triệu chứng này có thể tiến triển trong nhiều giờ hoặc có thể kéo dài 1- 2 ngày. Những triệu chứng khác có thể bao gồm buồn nôn, nôn ói, cảm thấy khó chịu khi thấy ánh sáng, mơ hồ và buồn ngủ. Ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi, triệu chứng cổ điển của sốt, đau đầu và cứng cổ có thể không có hoặc khó phát hiện. Trẻ nhỏ bị viêm màng não có thể biểu hiện chậm chạp hoặc không sinh động, có nôn ói, bứt rức, hoặc là ăn, bú kém. Khi bịnh tiến triển, bệnh nhân ở bất cứ độ tuổi nào cũng có thể bị co giật.

Chẩn đoán viêm màng não do vi trùng như thế nào?

Chẩn đoán và điều trị sớm là rất quan trọng. Khi triệu chứng xuất hiện, bệnh nhân nên đi đến bác sĩ khám ngay lập tức. Chẩn đoán thường là dựa trên kết quả xét nghiệm dịch não tủy. Dịch não tủy lấy được bằng cách đưa 1 cây kim vào vùng dưới thấp của lưng nơi mà có thể lấy dịch não tủy ở đó. Xác định loại vi khuẩn thì quan trọng trong việc lựa chọn kháng sinh thích hợp.

Viêm màng não do vi trùng có thể điều trị được không?

Viêm màng não do vi trùng có thể điều trị được với 1 số kháng sinh hiệu quả. Tuy nhiên, điều quan trọng là điều trị sớm trong đợt phát bệnh. Điều trị kháng sinh thích hợp các loại phổ biến nhất của viêm màng não do vi trùng sẽ giảm nguy cơ tử vong do viêm màng não xuống còn 15 % mặc dù ở người lớn tuổi thì nguy cơ cao hơn.

Viêm màng não do vi trùng có lây không?

Có. Một số dạng viêm màng não do vi trùng thì lây. Vi trùng có thể chủ yếu lây từ người này sang người khác qua sự  tống xuất của dịch họng và dịch hô hấp. Điều này xảy ra qua việc ho, hôn nhau, hoặc là nhảy mũi. May mắn là không có vi trùng nào gây ra viêm màng não mà lây những thứ như cảm lạnh hay cúm. Cũng vậy, vi trùng không có lây qua tiếp xúc thông thường qua thở không khí mà có người bị viêm màng não ở đó.

Tuy nhiên, một số vi trùng gây ra viêm màng não lây lan cho người khác, những người có tiếp xúc gần hoặc là tiếp cận lâu ngày với bệnh nhân viêm màng não do Neisseria menigitidis ( viêm não mô cầu) hoặc Hib. Những người ở cùng một nhà hoặc ở cùng trung tâm chăm sóc trẻ, hoặc là bất cứ ai có tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết đường miệng của bệnh nhân ( ví dụ như là bạn gái hay bạn trai) sẽ được xem xét là có nguy cơ cao bị lây nhiễm. Người thuộc diện tiếp xúc gần với người bệnh viêm màng não do N. meningitides nên nhận kháng sinh để phòng ngừa lây bệnh. Việc này gọi là điều trị dự phòng. Điều trị dự phòng cho những người tiếp xúc trong gia đình có người bị Hib thì chỉ được khuyến cáo nếu có 1 thành viên tiếp xúc < 48 tháng mà chưa được chủng ngừa đầy đủ Hib hoặc là đứa trẻ bị suy giảm miễn dịch ở bất kỳ tuổi nào trong gia đình. Toàn bộ thành viên của gia đình, không kể tuổi tác, nên được điều trị dự phòng ở những trường hợp như vậy.

Có vaccine ngừa viêm màng não do vi trùng không ?

Có, có vaccine ngừa Hib, ngừa một số loại của N.menigitidis và nhiều loại của Streptococcus pneumoniae. Các vaccine này an toàn và có hiệu quả cao.

Ủy ban cố vấn thực hành chủng ngừa ( The Advisory Committee on Immuniztion Practices – ACIP) khuyến cáo chủng ngừa thường quy cho tất cả người 11 – 18 tuổi 1 liều MCV4,  vaccine kết hợp não mô cầu, vào lúc sớm nhất có thể. Trẻ từ 11- 12 tuổi nên được chủng ngừa thường quy vào lúc 11- 12 tuổi được kiểm tra như đã được ACIP khuyến cáo. , Cũng vậy, khi bệnh viêm não mô cầu gia tăng trong tuổi thiếu niên, các nhân viên y tế nên  chủng ngừa cho những trẻ 11 – 12 tuổi chưa được chủng ngừa trước đó và các thanh thiếu niên tuổi từ 11 – 18 bằng MCM4 vào lúc đi khám bệnh sớm nhất có thể được.

Các học sinh trung học năm đầu tiên sống trong ký túc xá cũng gia tăng nguy cơ bị viêm não mô cầu và nên được chủng ngừa MCV4 trước niên học nếu họ chưa được chủng ngừa trước đó. Nguy cơ bị viêm não mô cầu ở những học sinh cũ thì giống như cộng đồng dân số chung ( tuổi từ 18- 24 ). Tuy nhiên, vì vaccine an toàn và tạo ra miễn dịch, chúng có thể được cung cấp cho sinh viên năm đầu của trường trung học, các học sinh muốn giảm nguy cơ bị bệnh viêm não mô cầu.

Chủng ngừa thường quy cũng được khuyến cáo cho những người có gia tăng nguy cơ bị viêm não mô cầu. dùng MCV4 cho người từ 2- 55 tuổi, tuy nhiên, dùng MPSV4 , vaccine đa phân tử viêm não mô cầu, được khuyến cáo cho người > 55 tuổi.

Cũng có vaccine để phòng ngừa viêm màng náo do S. pneumonia ( cũng được gọi là viêm màng não phế cầu ) , loại mà cũng có thể ngăn ngừa những thể khác do nhiễm S.pneumoniae. Vaccine đa phân tử phế cầu ( PPV23) được khuyến cáo cho tất cả ai > 65 tuổi và < 2 tuổi có vấn đề về sức khỏe mạn tính. Cũng có vaccine ( vaccine kết hợp phế cầu, hoặc là PCV7)  có hiệu quả ở trẻ nhũ nhi trong việc phòng ngừa nhiễm phế cầu và được khuyến cáo thường quy cho tất cả trẻ < 2 tuổi.

Đăng bởi: ĐD Liên Kim ( theo CDC Hoa Kỳ)
Theo benhviennhi.org.vn

Sốt ở trẻ nhỏ

Cha mẹ nào cũng có ngày rơi vào hoàn cảnh: thức dậy nửa đêm và thấy con đứng bên giường, nhăn nhó, trán ấm hoặc người đẫm mồ hôi. Bé đã bị sốt – phải làm gì tiếp đây? Tự theo dõi hay gọi ngay cho bác sĩ?

Sốt là đáp ứng của cơ thể đối với những điều kiện khác nhau, trong đó nhiễm khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất. Sốt xuất hiện khi thân nhiệt cơ thể tăng hơn so với bình thường.

Hầu như đứa trẻ nào cũng có lần bị sốt nên vấn đề của cha mẹ là phải biết xử trí ra sao khi đó.

sot_o_tre_nho

KIỂM SOÁT THÂN NHIỆT

Thân nhiệt được kiểm soát bởi vùng hạ đồi của não. Thân nhiệt thay đổi trong ngày trong một khoảng tương đối hẹp với sự duy trì của vùng hạ đồi. Vùng hạ đồi điều chỉnh thân nhiệt độ bằng cách cân bằng giữa việc tạo nhiệt độ của các cơ và gan với sự mất nhiệt qua da và phổi.

Sốt xảy ra khi vùng hạ đồi làm tăng thân nhiệt. Sốt có thể do đáp ứng của hệ miễn dịch đối với tác nhân nhiễm khuẩn như vi khuẩn hoặc virus.

ĐỊNH NGHĨA SỐT

– Nhiệt độ ở trực tràng > 100.4ºF (38ºC)
– Nhiệt độ miệng > 99.5ºF (37.5ºC)
– Nhiệt độ nách > 99ºF (37.2ºC)
– Nhiệt độ tai > 100.4º (38ºC)

NGUYÊN NHÂN

Nhiễm khuẩn là nguyên nhân thường gây sốt nhất. Các bệnh lý do virus và vi khuẩn như cảm, tiêu chảy, nhiễm khuẩn tai, viêm thanh quản cấp và viêm tiểu phế quản thường là nguyên nhân hàng đầu gây sốt.

Mọc răng thường không gây sốt; Một số nghiên cứu cho thấy nhiệt độ ³ 101.3ºF (38.5ºC) thường không liên quan đến mọc răng.

Quấn trẻ < 3 tháng tuổi trong quá nhiều quần áo có thể làm tăng nhẹ thân nhiệt trẻ. Tuy nhiên, nhiệt độ hậu môn ³  101ºF (38.5ºC) thường không liên quan đến việc quấn đứa trẻ và khi đó, trẻ cần được xem xét kỹ hơn để tìm nguyên nhân gây sốt.

Vài loại vaccin có thể gây sốt; Thời gian sốt thay đổi tùy theo loại vaccin sử dụng.

CÁCH ĐO THÂN NHIỆT TRẺ

Cách tốt nhất để đo thân nhiệt đứa trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đo nhiệt độ ở trực tràng là phương pháp chính xác nhất. Tuy nhiên, cũng có thể đo nhiệt độ ở miệng ( đối với trẻ từ 4 – 5 tuổi trở lên) hay đo nhiệt độ ở tai (khi trẻ > 6 tháng). Đo thân nhiệt ở nách là phương pháp được xem là ít chính xác nhất , nhưng là phương pháp thuận tiện, nhất là khi trẻ < 3 tháng tuổi. Nếu nhiệt độ ở nách > 99ºF (37.2ºC) thì nên sử dụng phương pháp đo thân nhiệt ở trực tràng.

Nhiệt kế điện tử không đắt lắm, phổ biến, an toàn và chính xác hơn nên cần thay thế cho nhiệt kế thủy ngân.

Phương pháp đo thân nhiệt ở trực tràng:

– Trẻ sơ sinh hay trẻ nhỏ nên nằm sấp trong lòng người lớn.

– Thoa một lượng nhỏ chất bôi trơn (Vaseline, …) vàp phần cuối của nhiệt kế.

– Nhẹ nhàng đặt nhiệt kế vào hậu môn trẻ cho đến khi phần đầu bạc của nhiệt kế không còn thấy nữa (1/4 – ½ inch ≈ 0,6 – 1,3 cm) bên trong hậu môn.

– Giữ nguyên nhiệt kế. Nhiệt kế thủy ngân cần khoảng 2 phút trong khi nhiệt kế điện tử chỉ cần dưới 1 phút.

(Phương pháp đo thân nhiệt độ ở miệng (không nên đo nếu trẻ đã ăn hoặc uống đồ nóng trong vòng 30 phút):

– Rửa nhiệt kế bằng nước lạnh và xà bông, sau đó rửa sạch lại với nước.

– Đặt đầu  nhiệt kế vào dưới lưỡi của trẻ. Bảo trẻ giữ nhiệt kế bằng môi. Giữ cho môi kín xung quanh nhiệt kế.

– Nhiệt kế thủy ngân cần khoảng 3 phút trong khi nhiệt kế điện tử chỉ cần dưới 1 phút.

Phương pháp đo thân nhiệt độ ở nách:

– Giữ nhiệt kế ở kẽ nách trẻ (phải lau khô nách trước khi đo).

– Giữ nhiệt kế bằng việc ép sát khuỷu tay vào ngực trong vòng 4 – 5 phút.

Phương pháp đo thân nhiệt độ ở tai (không áp dụng cho trẻ < 6 tháng tuổi; Nếu trẻ vừa ngoài trời lạnh vào, đợi 15 phút truớc khi tiên hành đo nhiệt độ; Ống tai và bệnh ở tai không ảnh hưởng đến kết quả):

– Kéo tai ngoài của trẻ trước khi đặt nhiệt kế vào.

– Giữ đầu dò nhiệt kế trong tai trong vòng 2 giây.

KHI NÀO CẦN ĐIỀU TRỊ SỐT

Việc điều trị sốt còn nhiều bàn cãi. Sốt có thể giữ vai trò chống nhiễm khuẩn mặc dù sốt có thể làm trẻ khó chịu. Sốt cao không phải luôn luôn là yếu tố quyết định xem trẻ có cần được chữa trị hay không. Thay vào đó là xem hành vi và vẻ ngoài của trẻ. Sốt thường đi kèm các triệu chứng khác. Những triệu chứng này cần được xem xét bởi nhân viên y tế.

Trong đa số trường hợp, sốt có thể được theo dõi và điều trị tại nhà. Tuy nhiên, điều quan trọng là cha mẹ cần biết khi nào nên đưa trẻ đi khám bệnh và khi nào cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt.

Dưới đây là một số hướng dẫn chung để tham khảo (không hoàn toàn đầy đủ để áp dụng cho mọi tình huống); Cha mẹ cần liên hệ với nhân viên y tế để có những hướng dẫn cụ thể hơn về tình trạng của con mình.

Cần đưa trẻ đi khám bệnh khi:

– Trẻ < 3 tháng tuổi: sốt ³ 100,4ºF (38ºC), ngay cả khi vẻ ngoài của trẻ vẫn có vẻ tốt.
– Trẻ > 3 tháng tuổi: sốt ³ 100,4ºF (38ºC) hơn 3 ngày hay khi vẻ ngoài của trẻ không tốt (bứt rứt, không chịu bú, …)
– Trẻ 3 – 36 tháng: sốt ³ 102ºF (38,9ºC)
– Trẻ sốt ³ 104ºF (40ºC)
– Trẻ bị sốt cao co giật.
– Trẻ sốt tái đi tái lại.
– Trẻ có bệnh nền: tim mạch, ung thư, lupus, hay hồng cầu liềm, …
– Trẻ sốt kèm phát ban da.

XỬ TRÍ SỐT

1. Thuốc:

Thuốc có hiệu quả hạ sốt ở trẻ em là Acetaminophen hay Ibuprofen. Các thuốc này giúp trẻ dễ chịu hơn và giảm thân nhiệt trẻ khoảng 2 – 3ºF (1 – 1.5º C).

Aspirin không được chỉ định do có thể gây các bệnh lý nghiêm trọng như hội chứng Reye.

Acetaminophen có thể dùng mỗi 4 – 6 giờ khi cần, với liều 10 – 15 mg/kg/lần . Nếu thân nhiệt vẫn tiếp tục cao và trẻ > 6 tháng tuổi, Ibuprofen có thể để thay thế hoặc kết hợp với Acetaminophen và sử dụng mỗi 6 giờ, với liều: 5–10 mg/kg uống mỗi  6 – 8 giờ. Liều lượng của Acetaminophen hay Ibuprofen (nên được tính theo cân nặng của trẻ, không nên theo tuổi).

Chưa có tài liệu đầy đủ về tình trạng an toàn khi sử dụng kếp hợp Acetaminophen và Ibuprofen xen kẽ nhưng các cha mẹ cũng nên biết việc sử dụng cả 2 loại thuốc sẽ ít an toàn hơn như khi sử dụng một loại thuốc đơn thuần.

Thuốc hạ sốt chỉ được sử dụng khi cần thiết, và sẽ ngưng khi các triệu chứng không còn.

2. Đắp mát và tắm mát:

Lau mát là đặt trẻ trong chậu tắm và dùng khăn đắp nước ấm (85ºF or 30ºC) khắp thân trẻ. Trẻ sẽ mát hơn khi nước bốc hơi qua da. Do đó, trẻ không nên được đắp bằng khăn ướt hay tắm bằng nước mát.

Đắp mát cần được kết hợp với thuốc hạ sốt khi trẻ không dung nạp được thuốc.

Đắp mát với alcohol cần phải tránh vì hơi alcohol có thể hấp thu qua da và phổi.

3. Tăng lượng nước vào:

Sốt làm tăng nguy cơ mất nước ở trẻ. Để giảm nguy cơ này, cha mẹ nên khuyên khích trẻ uống đủ nước. Trẻ bị sốt có thể không đói và không cần thiết ép trẻ ăn. Tuy nhiên, các loại nước uống như sữa (sữa bò hay sữa mẹ), sữa bột, và nước cần phải uống thường xuyên. Trẻ lớn hơn có thể ăn bột, soup hoặc kem lạnh. Nếu trẻ không chịu uống hoặc không uống được, cha mẹ cần tham vấn BS.

4. Nghỉ ngơi:

Sốt là nguyên nhân gây mệt mỏi và đau nhức. Trong thời gian này, cha mẹ nên khuyến khích trẻ nghỉ ngơi như trẻ mong muốn. Không cần thiết ép trẻ ngủ hoặc nghỉ ngơi nếu trẻ đã cảm thấy khỏe hơn. Trẻ có thể đi học lại hoặc tham gia các hoạt động khác khi thân nhiệt đã trở về bình thường sau 24 giờ.

Theo: www.uptodate.com/patients
Last literature review version 18.3: September 2010
This topic last updated: August 18, 2010
Đăng bởi: Bs Hồ Thị Kim Thoa-TK Nội tổng hợp
Theo benhviennhi.org.vn

Phương pháp đẩy lùi bệnh nghẹt mũi

Những nơi bạn đến mọi người đều sụt sịt, hắt hơi và ho. Bạn nghĩ rằng mình sắp ốm? Không hẳn đâu. “Không gì có thể bảo vệ nhưng bạn có thể giảm được nguy cơ bằng cách thực hiện những nguyên tắc sau.

Tiêm phòng cúm

Từ 6 tháng tuổi trở lên là có thể tiêm vắc xin phòng cúm và việc tiêm phòng sẽ giúp giảm nguy cơ lây lan ra cộng đồng.

Thời điểm tốt nhất để tiêm là trước khi mùa cúm bắt đầu. Tu nhiên, không bao giờ là muộn cả vì thế đừng chần chừ nhé.

Cần tiêm vắc-xin cúm mỗi năm vì hệ miễn dịch sẽ yếu dần theo thời gian và do vi rút cũng biến đổi liên tục qua các năm.

Ăn để đánh bật bệnh tật

Dinh dưỡng sẽ giúp nạp nhiên liệu để vận hành cơ thể và tất cả các hệ trong cơ thể, trong đó có hệ miễn dịch.

Những nhiên liệu tối cần thiết là thực phẩm giàu protein như cá, thịt nạc và đậu đỗ. Những thực phẩm này sẽ giúp tạo các tế bào bạch cầu. Các loại hoa quả và rau xanh sáng màu sẽ cung cấp cho hệ miễn dịch chất chống ôxy hóa; và axit béo omega-3 (có từ cá béo, hồ đào và hạt lạnh) sẽ giữ cho hệ miễn dịch cân bằng.

Luôn vận động

Luyện tập sẽ giúp bạn tránh xa bệnh tật nhờ kích hoạt các tế bào miễn dịch.

Bạn nên đi bộ 30 phút mỗi ngày để giảm 75% nguy cơ cảm lạnh.

Lưu ý là không hoạt động quá sức như chạy marathon vì sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh so hệ thống cơ thể bị quá tải và từ đó khiến vi rút dễ xâm nhập.

chua_benh_nghet_mui

Cung cấp đủ nước trong và ngoài cơ thể

Nhiệt độ và độ ẩm thấp là môi trường để vi rút lây lan và đó là lý do vì sao bệnh cúm thường bùng phát vào mùa đông. Vậy nên, để diệt vi rút, cần giữ cho không khí trong nhà luôn ấm và đủ độ ẩm. Sử dụng máy tạo độ ẩm để duy trì độ ẩm khoảng 50 phần trăm và nhiệt độ phòng ít nhất là 20oC.

Nếu ở trong môi trường kín như cabin máy bay thì nên dùng nước muối xịt mũi để làm ẩm màng trong mũi. Bởi khi đường mũi được giữ ẩm, các lông mao sẽ giữ vi khuẩn, vi rút hiệu quả hơn.

Cũng nên uống thật nhiều nước. Cơ thể bạn cần nước để thực hiện các chức năng miễn dịch quan trọng.

“Chơi” với vi khuẩn “thân thiện”

Các loại vi khuẩn tốt đó là probiotics. Đây là các vi khuẩn thân thiện mà có thể tăng cường hệ thống miễn dịch bằng cách “át” vi khuẩn xấu. Một nghiên cứu tại Đức cho thấy những người khỏe mạnh dùng men vi sinh hằng ngày trong 3 tháng sẽ rút ngắn được 1 đợt cảm lạnh thông thường gần 2 ngày và giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng như nhức đầu, ho và hắt hơi.

Bạn nên sử dụng 3 khẩu phần thực phẩm giàu probiotic/ngày với các thực phẩm như sữa chua, pho mát, kefir hay các thực phẩm lên men khác (dưa bắp cải, kim chi).

Ngủ đủ

Ngủ ít hơn 7 tiếng trong tuần trước khi tiếp xúc với nguồn lây bệnh sẽ làm tăng nguy cơ mắc bênh gấp 3 lần trong vòng 8 giờ. Vì thiếu ngủ sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng miễn dịch của cơ thể.

Loại trừ vi khuẩn

Hàng rào “hoành tráng” và lỗi thời nhất bảo vệ bạn khỏi các vi khuẩn cảm cúm và cảm lạnh là rửa tay. Xoa xà phòng trong thời gian đủ để hoàn thành bài hát “Happy Birthday” 2 lần (khoảng 20 giây). Nếu không có nước thì hãy rửa tay bằng nước rửa tay khô. Luôn rửa tay sau khi đi vệ sinh hay chạm các bề mặt có nhiều người sử dụng và sau khi bắt tay. Giữ tay tránh xa mặt để vi trùng không tự do vào mắt, mũi hay miệng.

“Bắt” vi trùng trong không khí

Các giọt dịch của cơ thể luôn chứa đầy các mầm bệnh và khi bị phát tán, nó sẽ lơ lửng trong không khí và ai đó ở trong khoảng cách 6 bước chân của bạn, gặp đúng lúc bạn ho, hắt hơi thì chắc chắn họ sẽ bị vi rút xâm nhập. Vậy nên hãy chuẩn bị khăn giấy và sử dụng khi ho, hắt hơi rồi vo viên, bỏ thùng rác. Nếu không có giấy thì hãy dùng khuỷu tay để che.

Theo dantri/24h

Viêm kết mạc do khô mắt?

Tôi năm nay 73 tuổi, gần đây cảm giác lúc nào cũng như có bụi trong mắt, sợ ánh sáng có người bảo bị khô mắt. Tôi đi khám được bác sĩ chẩn đoán viêm kết mạc, dùng nhiều loại thuốc nhỏ mắt nhưng không khỏi. Xin hỏi tôi bị bệnh gì và cách chữa ra sao?

Lê Thị Hòa(Quảng Ngãi)

Viêm kết mạc là bệnh hay gặp có thể do nhiều nguyên nhân gây nên như nhiễm virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, kích thích, dị ứng… Ngoài ra, ở người cao tuổi còn gặp viêm kết mạc do khô mắt. Tùy nguyên nhân, nếu viêm kết mạc do vi khuẩn thì sử dụng kháng sinh (dùng thuốc nhỏ mắt cloroxit hoặc gentamicin, SMP…; trẻ sơ sinh dùng argyrol). Nếu viêm kết mạc dị ứng thì phải dùng dexamethason hoặc hydrocortison… Nếu do khô mắt phải dùng nước mắt nhân tạo. Muốn biết chắc có phải do khô mắt hay không thì cần đi khám để bác sĩ chuyên khoa mắt thử test sehimer – là dùng một giấy thử (giấy dùng trong phòng thí nghiệm) đặt vào mắt sau 10 phút, nếu nước mắt ngấm ướt giấy có đường kính dưới 10cm thì được coi là khô mắt. Trường hợp của bác có thể bị viêm kết mạc do khô mắt.

viem_ket_mac_do_kho_mat

Nguyên nhân khô mắt ở người cao tuổi là do tuyến nước mắt ở tuổi này hoạt động chậm lại, không cung cấp đủ nước mắt để bôi trơn khi nháy mắt. Ngoài ra, một số thuốc như thuốc điều trị tăng huyết áp cũng làm giảm nước mắt.

Để chữa khô mắt, trong trường hợp này có thể dùng nước mắt nhân tạo có bán ở các hiệu thuốc. Tuy nhiên cần đến khám tại chuyên khoa mắt để được chẩn đoán chắc chắn và được hướng dẫn chữa trị cụ thể.

BS. Ngô Thị Hường
Theo SKDS