Tag Archives: vàng da

Bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh

Phần lớn trẻ sơ sinh sau sinh vài ngày (3 – 5 ngày) có biểu hiện vàng da. Đây là hiện tượng sinh lý bình thường do các hồng cầu thai nhi bị phá hủy để được thay thế bằng hồng cầu trưởng thành. Khi hồng cầu bị vỡ sẽ phóng thích vào máu một lượng lớn chất có sắc tố vàng tên gọi là bilirubin làm cho trẻ bị vàng da.

???????????????????????????????

Đa số các trường hợp vàng da sinh lý ở trẻ sơ sinh thường nhẹ và tự khỏi sau 7 – 10 ngày do chất bilirubin được đào thải qua phân và nước tiểu. Trong trường hợp vàng da nhẹ có thể được hướng dẫn điều trị tại nhà như sau:
– Tích cực cho trẻ bú mẹ vì sữa mẹ giúp đào thải nhanh chất bilirubin qua đường tiêu hóa.
– Chăm sóc rốn, chăm sóc da và vệ sinh thân thể. Giữ ấm cho trẻ.
– Tắm nắng, đặt trẻ gần cửa sổ nơi có ánh nắng dịu của mặt trời vì ánh nắng mặt trời giúp làm giảm vàng da ở trẻ sơ sinh.
– Tiếp tục theo dõi diễn tiến của vàng da hàng ngày cho đến ít nhất là 7 – 10 ngày sau sinh. Vàng da rất dễ nhận biết bằng mắt thường ở nơi có đủ ánh sáng. Vì vậy hàng ngày bà mẹ cần quan sát màu da toàn thân của trẻ ở nơi đầy đủ ánh sáng, không nên nằm phòng tối. Trong trường hợp khó nhận biết (da trẻ đỏ hồng, hoặc đen) thì ấn nhẹ ngón tay cái lên vùng da mặt trong đùi vài giây sau đó buông tay ra nếu trẻ bị vàng da sẽ thấy được màu da vàng thật sự ở nơi ấn ngón tay.

Nếu vàng da nhẹ: Da vàng nhẹ ở mặt và thân, trẻ vẫn bú tốt, xuất hiện muộn sau ngày thứ ba. Cần thực hiện chăm sóc theo hướng dẫn trên và tái khám tái khám mỗi ngày cho đến khi trẻ hết vàng da.
Nếu vàng da nặng: Da vàng sậm lan đến tay, chân, kèm theo bú kém, bỏ bú, hoặc xuất hiện sớm trong vòng 1 – 2 ngày sau sinh. Khi đó cần phải đưa trẻ nhập viện ngay.

Tại bệnh viện trẻ sẽ được điều trị tích cực bằng cách:
– Chiếu đèn: Ánh sáng của đèn biến bilirubin thành chất không độc và được thải nhanh ra khỏi cơ thể qua đường tiêu hóa và đường tiểu.
– Thay máu: Lấy bớt chất bilirubin nhanh chóng ra khỏi cơ thể.
Phát hiện và xử trí đúng vàng da ở trẻ sơ sinh giúp cho trẻ khỏe mạnh và phát triển tốt về sau.

Theo sức khỏe đời sống

Những dấu hiệu ung thư gan

Theo đánh giá, ung thư gan là một căn bệnh nguy hiểm, gây tử vong hàng đầu trong các thể ung thư. Vì thế, nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bạn cần chú ý đến các dấu hiện ban đầu, cảnh báo sớm nguy cơ ung thư gan dưới đây:

Sụt cân

Gan là cơ quan đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cơ thể. Vì thế, khi chức năng gan bị suy giảm có thể dẫn đến tình trạng sụt cân. Điều này có thể được coi là một trong những triệu chứng quan trọng nhất cảnh báo nguy cơ ung thư gan giai đoạn đầu.

Dịch ổ bụng

Tình trang dịch tích tụ trong ổ bụng là một trong những triệu chứng phổ biến của ung thư gan giai đoạn đầu. Đặc biệt, trong trường hợp bạn thường cảm thấy đầy hơi, trướng bụng cùng với lớn gan, đây có thể được coi là một dấu hiệu sớm của ung thư gan.

ung-thu-gan

Gan là một bộ phận đóng vai trò quan trọng trong việc thanh lọc độc tố trong cơ thể

Lớn gan

Gan nằm ở phía dưới hạ sườn phải kéo dài đến giữa bụng. Khi bạn dùng tay sờ thấy, có thể là do bạn bị lớn gan. Trong trường hợp này, bạn cần tiến hành kiểm tra sức khỏe ngay lập tức, vì đó có thể là một trong những dấu hiệu đầu tiên cảnh báo ung thư gan.

Buồn nôn và nôn

Nếu bạn thường có cảm giác buồn nôn hoặc nôn mà không rõ nguyên nhân, hãy kiểm tra sức khỏe để xác định xem liệu bạn có bị suy giảm chức năng gan hay không. Vì tình trạng buồn nôn và nôn do suy giảm chức năng gan thường được coi là dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh ung thư gan.

Đau bụng

Khi gan bị lớn và suy giảm chức năng có thể dẫn đến tình trạng đau bụng. Trong trường hợp bạn bị đau bụng cùng với gan to, bạn có nhiều khả năng mắc phải các bệnh về gan, trong đó có ung thư.

Nước tiểu sẫm màu

Khi chức năng gan bị suy giảm có thể khiến mức bilirubin trong máu gia tăng, dẫn đến nước tiểu bị sẫm màu: màu vàng đậm hoặc nâu. Trong trường hợp này, bạn nên đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe lập tức, vì đây có thể là triệu chứng ban đầu của ung thư gan.

Ngứa

Ngứa có thể được coi như một triệu chứng sớm của ung thư gan. Điều này xảy ra chủ yếu do chức năng gan bị suy giảm, dẫn đến làm tăng lượng bilirubin trong máu, vốn là tác nhân gây ngứa trên da.

Mệt mỏi

Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi dai dẳng, không dứt, kèm với bất kỳ triệu chứng khác liên quan đến suy giảm chức năng gan, bạn có thể có nguy cơ bị ung thư gan. Vì tình trạng mệt mỏi kéo dài là một triệu chứng phổ biến ở các bệnh nhân ung thư gan.

Vàng da

Vàng da không phải là một bệnh, tuy nhiên nó là một biểu hiện của tình trạng suy giảm chức năng gan. Khi chức năng gan suy giảm, dẫn tới nguy cơ làm tăng lượng bilirubin trong máu, gây nên tình trạng vàng da. Do vậy, vàng da thường được xem như một trong những dấu hiệu đầu tiên cảnh báo ung thư gan.

Nguồn báo phụ nữ

Phòng bệnh với cỏ mần trầu

Cỏ mần trầu còn có tên mần trầu, ngưu cân thảo, thanh tâm thảo, cỏ chỉ tía, cỏ dáng, cỏ bắc…, tên khoa học là Eleusine indica, thuộc họ Lúa (Poaceae). Đây là một loại cỏ sống hàng năm, mọc hoang nhiều nơi thành bụi nhỏ cao từ 20-80 cm, rễ cây rất khỏe.

Lá mềm hình dải, bẹ lá có lông. Cụm hoa là bông xẻ ngọn, có 5 – 7 nhánh dài mọc tỏa tròn đều ở đầu cuống chung, có thêm 1 – 2 nhánh xếp thấp hơn ở dưới. Mỗi nhánh mang nhiều hoa. Quả thuôn dài, gần như có 3 cạnh.

Cỏ mần trầu còn là một vị có nhiều công dụng chữa bệnh. Bộ phận dùng: Thu hái toàn cây, dùng ở dạng tươi hay khô.

Theo Đông y, cỏ mần trầu có vị ngọt nhạt, tính mát, không độc, có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt, mát gan, giải độc, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ sốt và sốt rét, lao phổi, trẻ con bị mụn nhọt, thai phụ táo bón, ho khan, sốt âm ỉ về chiều, tiểu tiện vàng và ít, mụn nhọt và các chứng nhiệt độc, trẻ em bị nóng trong người gây tưa lưỡi…

co-man-trau

Liều lượng dùng: 16 – 20 g khô hoặc 40 – 100g tươi, dạng thuốc sắc hay hoàn, thường dùng phối hợp với các vị khác.

Cỏ mần trầu được dùng để chữa các trường hợp sau:

– Chữa viêm gan vàng da: Cỏ mần trầu tươi 60g, rễ tổ kiến đực 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần trong ngày.

– Chữa táo bón, buồn phiền, nhức đầu, nôn mũa ở thai phụ. Sắc 12-16g cỏ mần trầu khô trong 300ml nước uống 2-3 lần hằng ngày.

– Chữa trẻ con mụn nhọt, sốt cao, sốt xuất huyết, rôm sảy, ban đỏ, tưa lưỡi, cỏ mần trầu tươi (120g) rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống. Cỏ khô 20g sắc với 400ml nước còn 100ml chia uống hai lần.

– Chữa nóng trong người, tiểu gắt và vàng, da mẩn đỏ, cỏ mần trầu (40g), sắc uống một lần trong ngày, có thể thêm 20g rễ cỏ tranh sắc chung uống trong ngày.

-Chữa phong nhiệt, ghẻ lở, mẩn ngứa: Lấy cỏ mần trầu tươi, rửa sạch giã nát vắt lấy nước cốt uống. Ngày 2 – 3 lần.

– Chữa sốt cao co giật, hôn mê: Cỏ mần trầu 120g. Sắc với 600 ml nước, còn 400 ml, thêm ít muối, cho uống nhiều lần trong 12 giờ.

– Chữa trẻ em đái dầm, cỏ mần trầu 20g, mùi tàu 20g, rau ngổ 20g, cỏ sữa lá nhỏ 10g thái nhỏ, sắc uống sau bữa ăn chiều.

– Chữa cảm, sốt nóng, người mẩn đỏ, tiểu tiện vàng ít. Mần trầu 16g, cỏ tranh 16g. Sắc uống.

– Chữa ho khan, sốt âm ỉ về chiều, lao lực mệt nhọc, tiểu ít, nước tiểu vàng lấy cỏ mần trầu (40g), sắc 200ml uống một lần trong ngày.

-Chữa huyết áp cao: Dùng cây tươi 500g, rửa sạch, giã nát, thêm 1 bát nước đun sôi để nguội. Lọc qua vải và vắt lấy nước cốt, thêm ít đường cho đủ ngọt. Uống 2 lần, sáng và chiều.

– Chữa sốt cao, co giật, hôn mê: Cỏ mần trầu tươi 120g, sắc với 600ml nước, còn lại 400ml, chia ra làm nhiều lần trong ngày.

– Chữa nóng trong người, tiểu gắt và vàng: Cỏ mần trầu (40g), sắc uống một lần trong ngày, có thể thêm 20g rễ cỏ tranh sắc chung uống trong ngày.

DS. Mỹ Nữ
Theo báo Nông nghiệp Việt Nam

Áp xe gan

Biến chứng thường gặp và nặng nề nhất là nhiễm trùng huyết với các biểu hiện như sốt cao liên tục 39 – 40oC, kèm rét run, tình trạng nhiễm khuẩn và nhiễm độc nặng. Gan to rất đau, tắc mật nặng không đáp ứng với điều trị.

Áp xe gan – đường mật là bệnh cảnh khá phổ biến đứng hàng thứ hai sau áp xe gan amíp, đồng thời là một cấp cứu về tiêu hóa, thường do sỏi mật và giun đũa chui vào đường mật – túi mật, nhất là khi có tắc nghẽn ống mật quản. Bệnh nhân cần được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời để phòng những biến chứng có thể dẫn tới tử vong.

Nguyên nhân bị áp xe đường mật?

Trong điều kiện bình thường, cơ vòng Oddi hoạt động tốt, dòng chảy của mật quản trong đường mật bình thường, trong đường mật không có vi khuẩn hoặc số lượng rất ít không đủ gây bệnh.

Trong trường hợp có sỏi đường mật gây tắc nghẽn, ứ trệ và tăng áp lực dịch mật tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn đi ngược dòng và xâm nhập gây nhiễm khuẩn đường mật và cuối cùng có thể gây ra áp xe gan mật.

ap-xe-gan

Trong giun chui ống mật, ngoài cơ chế cơ học như sỏi, giun còn trực tiếp mang vi khuẩn từ đường ruột và có thể cả ký sinh trùng vào đường mật nên càng dễ làm viêm đường mật và áp xe mật quản.

Ngoài ra còn có các bệnh lý khác như ung thư đường mật, u đầu tụy, bệnh lý cơ vòng Oddi. Viêm xơ chít hẹp cơ vòng Oddi hoặc các bệnh lý hiếm gặp hơn như loét dạ dày – tá tràng thủng vào đường mật, ung thư đại tràng, ung thư dạ dày hoặc các thủ thuật soi chụp đường mật ngược dòng có thể gây viêm nhiễm đường mật.

Biểu hiện của bệnh

Bệnh thường khởi phát đột ngột, tự nhiên xảy ra mà không có một dấu hiệu nào báo trước hoặc có thể xuất hiện sau khi ăn nhiều dầu mỡ; với các biểu hiện như đau, sốt, vàng da, vàng mắt. Có thể kèm theo dấu hiệu tổn thương túi mật với các biểu hiện như túi mật to, đau, tổn thương đường mật ngoài gan, viêm ống mật chủ và triệu chứng của tụy.

Nếu không được điều trị hoặc không đáp ứng sẽ chuyển thành giai đoạn áp xe gan mật quản thường vào tuần thứ hai, với triệu chứng nhiễm khuẩn ngày càng nặng với sốt cao kèm rét run. Tắc mật ngày càng nhiều với vàng da, vàng mắt đậm. Gan to nhanh rất đau, có điểm đau khu trú nhiều chỗ. Ngoài ra còn có thể có túi mật to, đau hoặc dấu hiệu tổn thương ống mật chủ, tụy.

Chẩn đoán dựa vào các biểu hiện lâm sàng như trên kết hợp với xét nghiệm máu (bạch cầu tăng cao, tăng bilirubin trực tiếp, phosphatase kiềm tăng, GGT và men ALAT, ASAT có thể tăng) và quan trọng là các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hay chụp cắt lớp vi tính. Ở đây siêu âm rất có giá trị để phát hiện số lượng và vị trí các ổ áp xe đồng thời giúp phát hiện nguyên nhân như giun, sỏi, thương tổn các cơ quan khác như đường mật và túi mật. CT scanner cũng cho kết quả tương tự. Chụp và nội soi đường mật ngược dòng cũng là một nghiệm pháp có giá trị cao, ngoài ý nghĩa chẩn đoán trong trường hợp siêu âm cho kết quả đường mật âm tính mà còn là một biện pháp hữu hiệu để điều trị nguyên nhân gây tắc nghẽn đường mật do sỏi hoặc do giun.

Biến chứng của áp xe gan đường mật

Biến chứng của áp xe gan – đường mật thường nhiều và nặng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Biến chứng thường gặp và nặng nề nhất là nhiễm trùng huyết với các biểu hiện như sốt cao liên tục 39 – 40oC, kèm rét run, tình trạng nhiễm khuẩn và nhiễm độc nặng. Gan to rất đau, tắc mật nặng không đáp ứng với điều trị.

Hội chứng gan thận do nhiễm khuẩn và tắc mật nặng, do bilirubin máu quá cao gây tắc ống thận; Tràn dịch màng phổi và màng tim; Viêm tụy cấp: có thể là một bệnh cảnh đi kèm; Xơ gan mật: đây là một biến chứng lâu dài sau nhiều đợt viêm nhiễm làm hoại tử xơ hóa gan mật; Vỡ ổ áp xe vào ổ bụng gây viêm phúc mạc toàn thể; Chảy máu đường mật: đây là một biến chứng phối hợp do cơ học và viêm nhiễm thường là nặng nề với nôn ra máu hình thỏi bút chì, bệnh cảnh xuất huyết nội tạng gây choáng phối hợp xuất huyết và nhiễm khuẩn.

Điều trị như thế nào?

Đây là bệnh cảnh nặng, ngoài nhiễm khuẩn còn kèm nhiễm độc và biến chứng ngoại khoa, do đó cần đặt trong bối cảnh điều trị nội ngoại khoa và hồi sức cấp cứu. Nghỉ ngơi, truyền dịch để nuôi dưỡng và cân bằng nước và điện giải. Dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ trơn như nospa hay sparmaverin. Thường sử dụng các kháng sinh có phổ tác dụng trên vi khuẩn gram âm như quinolon thế hệ 2. Trong trường hợp bệnh nặng cần sử dụng phối hợp kháng sinh và dùng bằng đường tiêm, thường phối hợp thêm cephalosporin thế hệ 3 như cefotaxim, ceftriazon hoặc cefuroxim. Ngoài ra cần chú ý đến nhiễm các vi khuẩn kị khí, do đó cần phối hợp thêm metronidazol hoặc clindamycin.

Điều trị ngoại khoa khó thực hiện vì bệnh nhân đau trong tình trạng nhiễm khuẩn nặng có thể có choáng, hơn nữa ở đây có nhiều ổ áp xe kích thước nhỏ có thể nằm sâu khó phát hiện hoặc loại bỏ. Nói chung phẫu thuật chủ yếu nhằm để loại bỏ các tắc nghẽn cơ học như giun hoặc sỏi.

Để dự phòng, cần duy trì một chế độ ăn uống bảo đảm vệ sinh, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, định kỳ 6 tháng đến 1 năm tẩy giun một lần để hạn chế các yếu tố thuận lợi cho bệnh lý viêm nhiễm đường mật xảy ra.

Theo suckhoedoisong

Cảnh báo nguy cơ mắc ung thư tụy tạng

Ung thư tuỵ tạng hay những bệnh liên quan đến tuỵ tạng đều rất nguy hiểm và bệnh nhân phải chịu đau đớn vô cùng. Ung thư tuỵ tạng hiếm khi gặp ở tuổi dưới 45, nhưng xuất độ sẽ tăng sau độ tuổi đó, đỉnh điểm ở tuổi 70. Các số liệu ghi nhận của Mỹ cho biết, xuất độ chuẩn/tuổi ở nam giới cao hơn nữ giới 30%; và 50% cao hơn ở người da đen.

Những yếu tố nguy cơ

Khoảng 5-10% ung thư tuỵ tạng liên quan đến yếu tố gia đình hay di truyền. Độ tuổi mắc bệnh sớm hơn ở những trường hợp không có tính di truyền. Hút thuốc lá làm thúc đẩy bệnh tiến triển nhanh, người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư tuỵ tạng cao hơn 1,5 lần. Béo phì và tình trạng thiếu vận động cũng liên quan đến ung thư tuỵ tạng: người có chỉ số BMI ≥ 30 dễ mắc bệnh hơn người có chỉ số BMI ≤ 23.

canh-bao-nguy-co-mac-ung-thu-tuy-tang

Chế độ ăn nhiều thịt, mỡ, thịt xông khói theo kiểu phương Tây cũng làm tăng nguy cơ ung thư này. Người thường ăn trái cây tươi, rau tươi thì ít thấy bị ung thư tuỵ tạng. Ngoài ra, lượng lycopen (carotenoid có trong trái cây) và selenium trong huyết thanh thấp cũng dễ gây ung thư tuỵ tạng.

Yếu tố nguy cơ còn gặp ở những người có bệnh viêm tuỵ mạn tính, người bị nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, những người có tiền sử cắt dạ dày hay cắt túi mật…

Triệu chứng thường gặp

Đau: thường gặp nhất, do khối bướu xâm lấn trực tiếp vào các mạng thần kinh của mạc treo ruột. Đau ở vùng bụng trên, đau như dao đâm, hướng đau vắt ngang lưng. Đau từng cơn, kèm cảm giác ăn mất ngon. Khoảng 80 – 85% bệnh nhân có triệu chứng đau được chẩn đoán ở giai đoạn trễ.

Sụt cân: do chán ăn, tiêu chảy, vã mồ hôi đầu.

Vàng da: vàng mắt, kèm theo ngứa ngáy, đi tiêu phân trắng, nước tiểu sậm màu.

Các triệu chứng biểu hiện đầu tiên còn tuỳ thuộc vị trí khối bướu. Bướu xuất hiện ở thân và đuôi tuỵ thường gây triệu chứng đau và sụt cân, trong khi bướu ở đầu tuỵ thường tạo triệu chứng vã mồ hôi đầu, sụt cân và vàng da. Khám lâm sàng, sờ thấy khối bướu hay tình trạng bụng báng, sờ chạm túi mật dưới bờ sườn phải, hoặc hạch trên đòn trái.

Làm sao phát hiện?

Khi bệnh nhân đến khám đã bị vàng da, siêu âm bụng là phương tiện hình ảnh đầu tiên thường được sử dụng. Những hình ảnh như giãn đường mật, khối bướu vùng đầu tuỵ sẽ gợi ý cho chẩn đoán.

Kỹ thuật chụp cắt lớp CT với độ nhạy và độ chuyên biệt cao có thể phát hiện bệnh ngay khi bệnh nhân chưa có triệu chứng vàng da, hình ảnh qua chụp cắt lớp cho biết sự lan rộng tại chỗ hoặc di căn như hạch bạch huyết, di căn gan… Các bác sĩ còn thực hiện kỹ thuật chụp đường mật tuỵ ngược dòng qua nội soi – ERCP, nội soi dạ dày và qua đó dùng chất cản quang bơm vào đường mật, chụp X-quang để khảo sát.

Những kỹ thuật khác cũng hiệu quả trong việc cho hình ảnh để chẩn đoán là siêu âm qua nội soi – EUS (có độ chính xác cao); chụp cộng hưởng từ – MRI; chụp cắt lớp bởi bức xạ pôsitrôn; xét nghiệm “chất đánh dấu bướu” trong huyết thanh CA19 – 9 (có giá trị trong việc theo dõi sau mổ và tiên lượng bệnh)…

Phẫu thuật sớm, sống lâu hơn

Ung thư tuỵ là bệnh lý ác tính khó phát hiện sớm, tiên lượng sống năm năm rất thấp. Tại Mỹ, phẫu thuật có thể trị khỏi ung thư này, nhưng không may là bệnh thường được chẩn đoán vào giai đoạn trễ, chỉ 15 – 20% bệnh nhân còn mổ được với tiên lượng rất xấu. Sống còn năm năm khoảng 25 – 30% khi hạch chưa bị di căn, và chỉ còn 10% khi đã có di căn hạch.

Hiện cách điều trị gồm các phối hợp đa mô thức: phẫu trị – hoá trị – xạ trị. Trong đó, phẫu thuật được chỉ định khi bệnh còn khu trú tại chỗ và ở giai đoạn sớm. Khi bệnh đã tiến xa hoặc di căn (di căn gan, lan tràn trong ổ bụng, bụng có dịch báng, đã có hạch trên đòn trái), là chống chỉ định mổ. Phẫu thuật thường được thực hiện gồm cắt khối tá tuỵ tiêu chuẩn (phẫu thuật Whipple), phẫu thuật có tính rộng lớn như phải cắt bỏ phần đầu tuỵ và khối bướu, cắt bỏ túi mật, cắt bỏ phần dưới của dạ dày và toàn bộ khung tá tràng, sau đó tái lập sự lưu thông của đường mật và dịch tuỵ.

Loại phẫu thuật thứ hai là cắt khối tá tuỵ biến đổi, phương pháp này có sự khác biệt là giữ lại cơ vòng môn vị. Khi bệnh đã ở vào giai đoạn muộn, thể trạng bệnh nhân suy sụp kèm theo vàng da vàng mắt (do bị tắc mật bởi khối bướu ở đầu tuỵ). Bệnh nhân được các bác sĩ thực hiện nội soi dạ dày và qua đó sẽ đặt một ống thông (stent) vào trong đường mật, hoặc được phẫu thuật nối thông mật – ruột, hoặc mở túi mật ra da nhằm giảm ứ mật trong gan.

Hoá trị hỗ trợ hay xạ trị hỗ trợ, hoặc kết hợp hoá/xạ trị có thể cải thiện thời gian sống còn cho bệnh nhân. Hiện nay, điều trị hỗ trợ sau mổ với sự kết hợp giữa các thuốc đặc trị ung thư cùng tia phóng xạ, cho thấy thời gian sống còn của bệnh nhân kéo dài hơn.

Nguồn giáo dục

Cây vối vừa giải khát vừa trị bệnh

Trong dân gian, cây vối được người dân dùng làm trà uống giải khát. Đặc biệt lá, vỏ cây, nụ và rễ vối đều chứa dược tính nên có tác dụng chữa nhiều bệnh mà có thể bạn chưa biết.

Cây vối có hai loại: Một loại lá nhỏ hơn bàn tay, màu vàng xanh gọi là vối kê hay vối nếp. Một loại lá to hơn bàn tay, hình thoi, màu xanh thẫm gọi là vối tẻ.

Trong lá vối có: tanin, một số chất khoáng, vitamin và khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu, có một chất kháng sinh diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Các bộ phận khác chứa sterol, chất béo… Tác dụng thanh nhiệt giải biểu, sát trùng, chỉ dương, tiêu trệ…

Nụ vối và lá vối: Giải khát, kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng, chống đầy bụng, ngăn ngừa các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp và tiêu hóa…

Vỏ cây vối: Chữa bỏng, giảm tiết dịch, hết phồng, dịu đau, hạn chế sự phát triển của vi trùng…

Rễ cây vối: Hỗ trợ điều trị bệnh viêm gan, vàng da

cay-voi

 Lá vối, nụ vối và nước vối.

Nước vối sử dụng giải khát, giải nhiệt, có tác dụng lợi tiểu và mát, dùng thích hợp cho tất cả các mùa trong năm đặc biệt là mùa nóng. Những nghiên cứu gần đây cho thấy nếu chỉ uống nước lọc, nước trắng thì sau một thời gian ngắn (3-40 phút) cơ thể sẽ đào thải hết, nhưng nếu uống nước vối hoặc nước chè tươi, sau thời gian ấy cơ thể chỉ thải loại 1/5 lượng nước đã uống, phần còn lại sẽ thải ra từ từ sau đó.

Dưới đây là một số bài thuốc từ cây vối:

– Trị bệnh tiểu đường: Nụ vối 15 – 20g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày hay hãm uống thay trà. Cần uống thường xuyên.

– Giảm mỡ máu: Nụ vối 15 – 20 g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hoặc nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.

– Trị đau bụng đi ngoài, phân sống: Lá vối 3 cái, vỏ ổi 8g, núm quả chuối tiêu 10 g thái nhỏ phơi khô sắc với 400 ml nước, còn 100 ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 – 3 ngày.

– Chữa đầy bụng, khó tiêu: Vỏ thân cây vối 6 – 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày. HoặcNụ vối 10 – 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày. Lưu ý sử dụng thường xuyên, lâu dài thuốc sẽ có tác dụng.

– Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 – 12 g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày hoặc dùng nụ vối 10 – 15 g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.

– Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lá vối vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu.

– Viêm gan, vàng da: Dùng rễ vối 200 g sắc uống mỗi ngày.

– Chữa viêm đại tràng mạn tính: 200 g lá vối tươi, vò nát, dùng 2 lít nước sôi, ngâm trong 1 giờ để uống thay nước.

– Chữa bỏng: Vỏ cây vối cạo bỏ vỏ thô, rửa sạch, giã nát, hòa với nước sôi để nguội, lọc lấy nước, bôi lên khắp chỗ bỏng. Thuốc sẽ làm giảm tiết dịch, hết phồng, dịu đau, hạn chế sự phát triển của vi trùng.

Cách sử dụng

Lá vối khô rửa sạch cho vào ấm, cho nước lạnh vào đun đến sôi rồi uống nóng hoặc uống lạnh. Nụ vối cũng được đun trong nước đến khi sôi hoặc, thường hơn, có thể được hãm trong nước sôi như cách hãm trà.

Nước vối có màu đỏ nâu nhạt, uống có vị đắng nhẹ, hơi ngọt, hương thơm ngai ngái, thường sử dụng chủ yếu làm đồ uống giải khát, cũng dùng chan cơm như một loại canh, ăn kèm cà pháo muối chua. Bên cạnh đó, nước sắc đặc có thể dùng làm thuốc sát khuẩn chữa nhiều bệnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt. Ngoài ra, lá vối để tươi vò nát, nấu với nước sôi có thể gội đầu chữa chốc lở.

Nguồn sức khỏe 247

Cách nhận biết bệnh viêm gan siêu vi

Viêm gan là tình trạng viêm nhiễm tế bào gan. Nguyên nhân có thể do virus, bệnh tự miễn grain ngộ độc rượu, thuốc, bệnh lý đường mật.

Gan là một bộ phận rất quan trọng của cơ thể, có 3 chức năng chính: tổng hợp albumine và các yếu tố đông máu; giải độc (một số thuốc dùng được thải trừ qua gan) và thông mật – nếu suy giảm sẽ gây ứ mật, vàng da.

Sự suy yếu chức năng gan sẽ dẫn tới: mệt mỏi; vàng da, mắt; bệnh lý não do gan dẫn đến phù não, hôn mê, có thể gặp ở người bị viêm gan cấp, xơ gan; xuất huyết do thiếu các yếu tố đông máu; xuất huyết do vỡ tĩnh mạch thực quản, trĩ ở người bị xơ gan.

Việc chuyển sang ung thư gan có thể trực tiếp từ viêm gan hoặc qua giai đoạn xơ gan. Ung thư gan cùng ung thư phổi nguyên phát là các loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao và nhanh nhất trong các loại ung thư.

Do đó nên xét nghiệm để tiêm ngừa viêm gan siêu vi B sớm, sinh hoạt tình dục an toàn, không tiêm chích matriarch túy bừa bãi, cẩn thận trong việc chăm sóc bệnh nhân.

Uống bia rượu quá nhiều sẽ gây hại cho gan

Bệnh viêm gan siêu vi

Bệnh viêm gan siêu vi

Viêm gan cấp tính

Người bệnh có triệu chứng ớn lạnh, nôn ói, tiêu chảy, sốt nhẹ kèm với nước tiểu sậm màu, vàng da, mắt, hoặc chỉ phát hiện nhờ xét nghiệm các group gan AST, AHT cao.

Các bệnh có triệu chứng giống viêm gan ngoài tác nhân pathogen viêm gan A, B, C, D, E còn do pathogen khác là epstein barr, CMV, cocksackie…

Các loại siêu vi gây bệnh thường gặp nhất ở VN là A, B và C.

Viêm gan siêu vi A có triệu chứng: mệt mỏi như cảm cúm, vàng da, mắt, nước tiểu đậm.

Bình phục trong vòng 6-12 tháng, ít ca tử vong. Không có người mang mầm bệnh mạn tính. Chẩn đoán nhờ xét nghiệm IgM anti HAV. Bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa từ phân, thức ăn, thức uống. Phòng ngừa bằng cách tiêm vắc-xin HAV bất hoạt 0,5-1 ml, chích nhắc lại sau 6-12 tháng cho những người đi du lịch, tân binh, nhân viên y tế.

Loại thứ hai là viêm gan siêu vi B. Dạng ác tính chiếm dưới 1%. Đa số bệnh nhân phục hồi tốt. Số còn lại chuyển sang dạng viêm gan mạn tính grain mang mầm bệnh, xơ gan, ung thư gan. Bệnh lây truyền  do sinh hoạt tình dục, tiêm chích, mẹ truyền sang criminal khi mang thai. Từ 80-85% ca ung thư gan có liên quan đến viêm gan B, số còn lại do viêm gan C.

Vùng hạ Sahara, châu Phi và Đông Nam Á có 20% dân số bị nhiễm siêu vi B.

Ở người khỏe mạnh nên phòng ngừa bằng cách tiêm vắc-xin 3 mũi cách nhau 1 tháng. Chích nhắc lại 5 năm sau. Trường hợp lỡ bị kim đâm grain sinh hoạt tình dục với người bị nhiễm viêm gan B hoặc criminal mới sinh có mẹ bị viêm gan B, tiêm Immunoglobine Hepatitis B phối hợp với vắc-xin theo cách trên.

Loại thứ ba là viêm gan siêu vi C, phát hiện nhờ xét nghiệm có kháng thể anti HCV trong máu. Lây truyền chủ yếu qua đường tiêm chích.

Chưa có bằng chứng về lây nhiễm qua đường tình dục grain sinh đẻ. Phòng ngừa bằng cách xét nghiệm mẫu máu của người cho.

Hiện chưa có thuốc tiêm ngừa viêm gan siêu vi C.

Viêm gan mạn tính

Từ 1-2% bệnh nhân có viêm gan siêu vi B cấp sẽ chuyển sang viêm gan mạn tính. 20-40% trong số này sẽ chuyển sang xơ gan. Một số bệnh nhân xơ gan sẽ bị ung thư gan.

Người bệnh viêm gan mạn tính có HbeAg, HRV DNA dương tính, group gan tăng. Điều trị bằng các thuốc kháng pathogen như Lamivudine, Adefovir, Entecavir riêng rẽ hoặc phối hợp. Có thể dùng thêm các thuốc trợ gan mật, ngoài ra có thể tiêm Alpha Interfexon 5 triệu đơn vị ngày 1 lần hoặc 10 triệu đơn vị 3 lần/tuần trong 4 tháng.

Có 20% người mắc bệnh viêm gan C mạn tính chuyển qua xơ gan trong vòng 20 năm. Điều trị bằng alpha interferon 3 triệu đơn vị, tuần 3 lần trong 12-18 tháng hoặc alpha 2b interferon pergylated tuần 1 lần trong 6-12 tháng phối hợp với Ribavirus uống.

(Theo TNO)

Biểu hiện ngoài da ở người bệnh gan

Suy giảm chức năng của gan, hệ cơ quan lớn thứ hai trong cơ thể, thường gây ra những thay đổi trên da, hệ cơ quan lớn nhất cơ thể. Biểu hiện ngoài da có thể là những dấu hiệu đầu tiên của các bệnh lý ở gan, do đó nhận biết sớm những biểu hiện này có thể giúp phát hiện được những bệnh gan tiềm tàng và có những can thiệp điều trị thích hợp. Các bệnh lý gây suy giảm chức năng gan có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động của rất nhiều hệ cơ quan khác nhau trong cơ thể như hệ tiêu hóa, hệ tạo máu, khớp và da… Xơ gan do rượu thường gây ra các biểu hiện ngoài da hơn so với các bệnh gan mạn tính khác.

Vàng da:

là biểu hiện quan trọng nhất của tình trạng tăng bilirubin (sắc tố mật) trong máu, thường có thể được nhận biết khi nồng độ bilirubin vượt quá 2,5 – 3 mg/dL. Màu sắc của da có thể phản ánh mức độ tăng của bilirubin, trong đó, da thường có màu vàng nhạt khi bilirubin tăng nhẹ và màu vàng sậm hoặc ngả nâu khi bilirubin tăng cao. Một trong những chức năng cơ bản của gan là chuyển hóa bilirubin gián tiếp trong máu thành dạng trực tiếp có thể bài tiết qua phân. Các tổn thương tại gan như viêm gan do virut, nhiễm độc gan do thuốc… thường gây tăng cả bilirubin trực tiếp và gián tiếp trong máu.

bieu-hien-benhgan

Sẩn ngứa: có thể là biểu hiện của một bệnh lý ngoài da đơn thuần hoặc nằm trong bệnh cảnh của một rối loạn mang tính hệ thống hoặc do các bệnh lý tại gan. Gan làm nhiệm vụ trung hòa độc tố và đào thải muối mật, nếu chức năng gan bị suy giảm, những tác nhân này có thể bị tích tụ trong cơ thể và lắng đọng ở da, gây kích ứng và sẩn ngứa. Trong các bệnh lý gan có ứ tắc mật như xơ đường mật tiên phát và tắc đường mật do sỏi, tình trạng sẩn ngứa thường lan tỏa nhưng nặng hơn ở chân và tay.

Mặc dù mức độ của sẩn ngứa không có liên quan trực tiếp với nồng độ của các độc tố và muối mật, nhưng các biện pháp điều trị giảm nồng độ muối mật có thể giúp giảm bớt triệu chứng ngứa. Điều trị sẩn ngứa trong bệnh gan thường gặp rất nhiều khó khăn. Điều trị khởi đầu là sử dụng chất resin trao đổi anion có tác dụng hấp thu các phân tử axít mật như cholestyramine, với liều 4g/ngày, tăng dần đến 24g/ngày, chia 2 lần uống trong bữa ăn. Nếu tình trạng sẩn ngứa không đáp ứng với cholestyramine hoặc người bệnh không dung nạp được với thuốc, có thể điều trị thử bằng thuốc chống lao rifampin, thuốc này có tác dụng thúc đẩy chuyển hóa các chất gây ngứa nội sinh và có hiệu quả giảm ngứa do ứ mật khi được dùng với liều khởi đầu 150mg/ngày và tăng dần lên tới 600mg/ngày, tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng.

Các thuốc dòng thứ 3 có thể được dùng thử là các dẫn xuất kháng thuốc phiện như naltrexone và nalmefene. Gạn huyết tương có thể được cân nhắc sử dụng nếu điều trị bằng thuốc thất bại. Các phương pháp điều trị khác mang tính thực nghiệm bao gồm thay huyết tương, điều trị chống ôxy hóa , chiếu tia hồng ngoại và ghép gan.

Sẩn cục: được đặc trưng bởi sự tạo thành các cục rắn chắc, có vảy và ngứa nhiều, thường đi liền với các vết trầy xước, thâm đen hoặc sẹo do gãi thường xuyên. Nguyên nhân thường gặp của sẩn cục trong các bệnh gan là các loại viêm gan do virut như viêm gan C, viêm gan B… Cơ chế chính xác gây ra sẩn cục trong các bệnh gan còn chưa được biết và phác đồ điều trị chuẩn đối với tình trạng tổn thương này vẫn chưa được xác định, tuy nhiên, trong thực tế, điều trị với thuốc kháng histamin và corticosteroid bôi tại chỗ hoặc tiêm tại chỗ có thể giúp kiểm soát triệu chứng ở phần lớn bệnh nhân. Liều thấp của thalidomide cũng đã được dùng thử an toàn và hiệu quả.

Sao mạch:

biểu hiện là các đốm đỏ nhỏ, nổi gờ nhẹ trên mặt da và từ đó tỏa ra các nhánh mạch máu nhỏ, có thể gặp ở mọi vị trí trên cơ thể nhưng thường ở mặt và thân mình, thường gặp trong xơ gan. Bản thân sao mạch thường vô hại và không gây triệu chứng gì cho người bệnh nên không đòi hỏi phải được điều trị.

Ban đỏ ở lòng bàn tay, bàn chân: là tình trạng biến màu đỏ thẫm ở lòng bàn tay bàn chân, thường gặp nhất trên ô mô út. Biểu hiện này có thể gặp trong nhiều loại bệnh lý khác nhau ở gan, nhưng hay gặp nhất là bệnh gan do rượu và xơ gan. Các bệnh lý này gây rối loạn thăng bằng androgen của cơ thể dẫn đến giãn mạch khu trú và nổi ban đỏ.

U vàng: được tạo thành do sự lắng đọng của cholesterol ở dưới da, thường biểu hiện là các mảng mềm, ranh giới rõ, màu vàng và không đau, có thể to ra trong vòng vài tuần. U vàng trong bệnh gan thường là biểu hiện của tình trạng tăng cholesterol máu thứ phát, gặp trong xơ gan ứ mật tiên phát và các bệnh gan có ứ mật khác. Điều trị tổn thương này cần phối hợp giữa dùng thuốc hạ mỡ máu và can thiệp tại chỗ như chiếu laser hoặc phẫu thuật lấy bỏ.

Một số biểu hiện khác: suy giảm chức năng gan thường gây giảm số lượng tiểu cầu và thiếu hụt các yếu tố đông máu, hậu quả gây ra các đám xuất huyết hoặc bầm tím trên da, có thể xuất hiện ngay cả sau các sang chấn nhẹ hoặc tự nhiên. Tăng sắc tố da cũng có thể gặp trong xơ gan và bệnh gan do rượu. Suy giảm chức năng tế bào gan còn có thể gây rụng tóc và các biến loạn ở móng tay, móng chân như bạch sản móng, mất móng.

BS.Nguyễn Hữu Trường (BV Bạch Mai)

Nguồn sức khỏe đời sống

Biểu hiện của bệnh viêm gan c mãn tính

Các chuyên gia giới thiệu rằng bệnh nhân viêm gan mãn tính C không được điều trị kịp thời hoặc không điều trị đầy đủ chính xác sẽ dẫn dến xơ gan hay ung thư gan.

Biểu hiện của bệnh viêm gan c mãn tính

Trên 50% bệnh nhân viêm gan do virus C sẽ chuyển thành mãn tính, ngoài ra nếu nguyên nhân gây viem gan man tinh là do truyền máu thì sau 10 năm có tới 20% số bệnh nhân chuyển thành xơ gan, ngay cả với những thể nhẹ và vừa không có triệu chứng và chỉ tăng nhẹ men transaminase. Diễn tiến của viêm gan c thường chậm và âm thầm. Mức độ tiến triển phụ thuộc vào nồng độ HCV- ARN và thời gian nhiễm bệnh.

viem-gan-c

Biểu hiện lâm sàng của viêm gan C mãn tính

Cũng tương tự như viêm gan mãn do virus viêm gan B, thường gặp nhất là mệt mỏi, vàng da ít gặp. Các biểu hiện ngoài gan cũng ít gặp hơn. Triệu chứng khởi đầu có thể biểu hiện những đợt rầm rộ như trong viêm gan cấp (l/3 trường hợp), phần còn lại thường âm thầm làm phần lớn bệnh nhân không nhận biết được, thường chỉ biểu hiện bởi triệu chứng cơ năng chung là mỏi mệt, cảm giác nặng tức vùng hạ sườn phải, nhiều lúc có đau cơ, đau khớp hoặc nhiều lúc chỉ có cảm giác nhức mỏi chung chung. Trong những đợt tiến triển, các triệu chứng thường phong phú và rầm rộ hơn với sốt, vàng da, vàng mắt, nước tiểu vàng hoặc sẫm màu, đau cơ, đau khớp và nhất là đau tức vùng gan và ngứa. Khám thấy gan to vừa, căng chắc ấn đau tức, vàng da vàng mắt, hồng ban và giãn mạch hình sao.

Giai đoạn sau khi đã có biến chứng bệnh xơ gan, các biểu hiện viêm thường giảm dần, thay vào đó là các triệu chứng của xơ gan cổ trướng và suy gan là nổi bật; hoặc các triệu chứng của ung thư gan với gan rất lớn, gan cứng và có nhiều khối u lổn nhổn.

Nguồn sức khỏe

Đi tìm nguyên nhân bệnh vàng da ở trẻ em

Khi trẻ sinh ra được 2 ngày, trẻ được chuẩn đoán vàng da sinh lý, và bình thường chỉ sau 1 đến 2 tuần sẽ hết, nhưng thực tế nếu trẻ vẫn bị vàng da. Vậy trẻ có bị vàng da bệnh lý không? Cách điều trị chăm sóc vàng da ở trẻ sơ sinh thế nào?

Có nhiều nguyên nhân có thể gây vàng da, nhưng thông thường trẻ sơ sinh hay bị vàng da sinh lý sẽ hết trong vài tuần tuổi, song không loại trừ vàng da do bệnh lý, vì con bạn đã hơn 1 tháng tuổi. Để biết chắc chắn, bạn nên cho con đi xét nghiệm máu ở các cơ sở y tế có đủ điều kiện.

Nguyên nhân vàng da ở trẻ sơ sinh

Vàng da bệnh lý thường do tăng bilirubin gián tiếp: do tán huyết, thiếu men G6PD, suy giáp, bệnh nhiễm trùng mà hay gặp nhất là nhiêm trùng tiểu…

Sau khi loại trừ các nguyên nhân bệnh lý, thì có thể cháu bị vàng da lành tính do sữa mẹ. Trong trường hợp này, bé bú mẹ hoàn toàn, bú tốt, tăng cân bình thường, không có bằng chứng tán huyết.

Vàng da do sữa mẹ không đáng lo, sẽ tự hết sau 6 tuần đến 3 tháng tuổi. Nếu thử ngừng sữa mẹ 1 – 3 ngày, cho uống tạm sưa bột công thức bằng cách bón thìa thì cũng làm giảm vàng da.

Đây cũng là một cách để thử xem có phải bé bị vàng da do sưua mẹ hay không. Phơi nắng cũng làm giảm bớt bilirubin, giảm bớt vàng da.

Bạn không nói rõ về tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển của cháu, đồng thời chưa có đầy đủ các xét nghiệm cần thiết nên chưa thể xác định nguyên nhân vàng da của con bạn. Bạn nên đưa cháu đi khám sớm để có hướng chẩn đoán và điều trị thích hợp.

(Theo dantri)

Bệnh vàng da có thể gây nguy hiểm cho trẻ sơ sinh

Phần lớn trẻ sơ sinh sau sinh từ 3 – 5 ngày có biểu hiện vàng da. Ðây là hiện tượng sinh lý bình thường do các hồng cầu thai nhi bị phá huỷ để được thay thế bằng hồng cầu trưởng thành. Khi hồng cầu bị vỡ sẽ phóng thích vào máu một lượng lớn chất có sắc tố vàng, tên gọi là Bilirubin làm cho trẻ bị vàng da.

Nhận biết dấu hiệu vàng da

Vàng da ở trẻ sơ sinh rất dễ nhận biết bằng mắt thường ở nơi có đủ ánh sáng. Vì vậy, trẻ sau sinh hàng ngày bà mẹ cần quan sát màu da toàn thân của trẻ ở nơi đầy đủ ánh sáng.

Trong trường hợp khó nhận biết (da trẻ đỏ hồng hoặc đen) thì ấn nhẹ ngón tay cái lên vùng da trong vài giây, sau đó buông tay ra, nếu trẻ bị vàng da, sẽ thấy được màu da vàng thật sự ở nơi ấn ngón tay.

benh-vang-da-o-tre-so-sinh

Mức độ vàng da

Vàng da nhẹ: Da vàng nhẹ ở mặt và thân, trẻ vẫn bú tốt, vàng da xuất hiện muộn sau ngày thứ ba.

Vàng da nặng: Da vàng sậm lan đến tay chân, kèm bú kém, bỏ bú, hoặc xuất hiện sớm trong vòng 1 – 2 ngày sau sinh. Những yếu tố góp phần làm cho trẻ bị vàng da nặng bao gồm: Trẻ sinh non tháng, sinh ngạt, nhiễm khuẩn,…

Làm gì khi trẻ vàng da?

Ða số các trường hợp vàng da ở trẻ sơ sinh thường nhẹ và tự khỏi sau 7 đến 10 ngày do chất Bilirubin được đào thải qua phân và nước tiểu.

Tuy nhiên có một số trường hợp vàng da nặng do chất Bilirubin tăng quá cao sẽ thấm vào não (tên y học gọi là vàng da nhân) gây nguy hiểm làm cho trẻ bị hôn mê, co giật, có thể gây tử vong hoặc di chứng về tâm thần vận động vĩnh viễn.

Đối với trường hợp vàng da nhẹ: Ðiều trị tại nhà bằng cách tắm nắng, đặt trẻ gần cửa sổ nơi có ánh sáng dịu của mặt trời và cho bú nhiều lần trong ngày, vì sữa mẹ giúp đào thải nhanh chất Bilirubin qua đường tiêu hóa. Tiếp tục theo dõi diễn tiến của vàng da hàng ngày cho đến ít nhất là 7 – 10 ngày sau sinh.

Vàng da nặng: Phải đưa trẻ nhập viện ngay. Tại bệnh viện, trẻ sẽ được điều trị tích cực. Cần theo dõi trẻ và đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay khi có một trong các dấu hiệu sau: Bú yếu hoặc bỏ bú; Vàng da lan đến tay chân; Vàng da xuất hiện sớm trong 24 – 48 giờ sau sinh; Vàng da kéo dài trên 15 ngày.

Việt An

(Theo tài liệu của BV Nhi đồng 1)
Theo SKDS

Tổn thương da nặng do dị ứng thuốc nam

lo_toan_than_do_di_ung_thuoc_nam

Trung tâm Dị ứng miễn dịch lâm sàng, BV Bạch Mai vừa tiếp nhận bệnh nhân N.V.T 40 tuổi ngụ Bắc Kạn bị ngộ độc thuốc nam gây dị ứng rất nặng.

Nghe theo lời đồn thổi, bệnh nhân T đã tự mua thuốc nam về uống để chữa bệnh gan. Sau khi uống thuốc ngày thứ 4, bệnh nhân xuất hiện vàng da, vàng mắt  tổn thương da nặng.

Theo thông tin từ Trung tâm Dị ứng miễn dịch lâm sàng cho biết, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng tổn thương da, tổn thương gan, loét miệng và loét bộ phận sinh dục…

Chứng kiến nhiều cảnh thương tâm do dị ứng thuốc nam, PGS.TS Nguy

ễn Văn Đoàn, Giám đốc Trung tâm Dị ứng Miễn dịch Lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai khuyến cáo: “Bệnh nhân không tự điều trị bệnh, chỉ nên dùng thuốc theo đơn. Tuyệt đối không dùng thuốc theo sự mách bảo hay đồn thổi. Người bệnh cũng nên nhớ rằng thuốc Đông y rất độc và phản tác dụng nếu như thầy thuốc kê đơn, bốc thuốc không đúng bệnh, đúng liều lượng”.

Theo 24h

Nhận biết sớm bệnh sỏi mật

Sỏi mật là trong lòng ống mật có những viên sỏi nhỏ, to, hay bùn mật ở vị trí trong gan hoặc ngoài gan, ở túi mật. Bệnh có thể gây viêm phúc mạc mật, sốc nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa… rất nguy hiểm.

Sỏi mật hình thành như thế nào?

Người ta thấy có hai loại sỏi mật thường được hình thành là sỏi cholesterol và sỏi sắc tố mật.

Loại sỏi cholesterol: vì một lý do nào đó làm cho các thành phần dịch mật thay đổi tỷ lệ: nồng độ cholesterol tăng lên, nồng độ chất làm tan (muối mật – lecithin) giảm xuống, khi đó cholesterol kết tủa tạo ra những tinh thể là tiền đề cho sự hình thành sỏi mật. Những yếu tố làm giảm bài tiết muối mật gồm: bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật; người béo: dự trữ muối mật giảm, sản xuất muối mật tăng nhanh nhưng không nhanh bài tiết; người cao tuổi. Những trường hợp làm tăng tổng hợp cholesterol: chế độ ăn giàu calo, dùng thuốc oestrogen, cloflbrat. Vai trò của túi mật: túi mật tái hấp thu nước nên làm cho cholesterol được cô đặc hơn; đồng thời túi mật tiết ra chất mueus có tác dụng làm cho cholesterol và sắc tố mật dễ bị kết tủa.

nhan-biet-som-soi-mat-bang-cach-gi-

Sự hình thành sỏi sắc tố mật: ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á hay gặp loại sỏi này. Nguyên nhân là do trứng giun đũa hoặc xác giun làm “nhân” cho sắc tố mật và canxi bám vào gây sỏi. Nếu giun đũa lên đường mật nó gây nhiễm khuẩn và tăng áp lực trong đường mật, gây ra những vết loét xước và sau đó là những chít hẹp xơ vòng ở những nhánh mật phân thùy gan, phía trên vòng xơ ống mật giãn to, mật bị ứ đọng dần dần từ đó hình thành sỏi mật.

Biểu hiện của bệnh sỏi mật
Một người bị sỏi mật sẽ có các dấu hiệu sau: đau bụng với tính chất đau ở vùng hạ sườn phải (HSP), kiểu đau quặn gan, thường xảy ra sau bữa ăn nhiều mỡ, đau nhiều về đêm khoảng 23 – 24 giờ; khi đau kèm theo nôn, bệnh nhân không dám thở mạnh; cơn đau kéo dài vài giờ đến vài ngày. Rối loạn tiêu hoá: chậm tiêu, bụng trướng hơi, bệnh nhân sợ mỡ, táo bón hoặc tiêu chảy sau bữa ăn. Cơn đau nửa đầu (Migraine), đau nửa đầu dữ dội, khi đau có nôn nhiều. Sốt do bị viêm đường mật, túi mật, sốt cao đột ngột kéo dài vài 3 giờ; sốt và đau HSP đi đôi với nhau, nếu đau nhiều thì sốt cao; có khi sốt kéo dài vài tuần, hằng tháng; có khi sốt nhẹ 37,5 – 380C; nếu không viêm thì không sốt.

Vàng da và niêm mạc xảy ra sau đau và sốt 1 – 2 ngày; vàng da kiểu tắc mật gồm da, niêm mạc vàng, nước tiểu vàng, phân bạc màu; vàng da có ngứa, thuốc chống ngứa không kết quả, mạch chậm; vàng da mất đi chậm hơn đau và sốt. Ba chứng: đau, sốt, vàng da còn gọi là Tam chứng Charcot  tái phát nhiều lần, khoảng cách giữa các đợt vài tuần, vài tháng, vài năm. Khám thấy: gan to đều, mức độ to từ mấp mé dưới bờ sườn  đến 5 – 6cm dưới bờ sườn tùy mức độ tắc mật; mặt gan nhẵn, mật độ chắc, bờ tù, ấn đau tức. Túi mật to cùng với gan to, túi mật to, đau khi sờ nắn, có thể co cứng HSP. Xét nghiệm máu: bilirubin toàn phần tăng. Siêu âm thấy sỏi túi mật, sỏi ống mật. Chụp phim Xquang thấy sỏi.

Trên thực tế thường gặp ba thể bệnh chính như sau: một là trường hợp điển hình có Tam chứng Charcot, hội chứng tắc mật, bệnh tái phát nhiều lần, với các triệu chứng như trên chẩn đoán đúng sỏi mật 60- 75%. Hai là triệu chứng lâm sàng không điển hình: có cơn đau quặn gan, không vàng da, không tắc mật; hoặc tắc mật nhưng không đau quặn gan. Ba là bệnh nhân bị sỏi nhưng đến bệnh viên cấp cứu vì biến chứng như: viêm phúc mạc mật với các dấu hiệu nhiễm khuẩn nặng, bụng cứng, vàng da; sốc nhiễm khuẩn; sốt, túi mật to, đau; chảy máu tiêu hoá: nôn ra máu có hình thỏi kiểu như ruột bút chì; đau bụng cấp, nôn, trướng bụng.

Lưu ý trong điều trị và phòng bệnh

Việc dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn là rất quan trọng trong điều trị viêm nhiễm đường mật do sỏi. Tốt nhất là dựa vào kháng sinh đồ để dùng thuốc vừa hiệu quả, vừa rút ngắn thời gian mắc bệnh cho bệnh nhân. Trường hợp chưa làm được kháng sinh đồ thì phải dùng các loại kháng sinh có hoạt phổ rộng, liều cao như: colistin, cephalosporin, ampixillin, gentamyxin… Các thuốc giãn cơ, giảm co thắt như atropin, spasmaverin…; thuốc lợi mật như: sunfat magie, siro actiso, sorbitol…; các thuốc làm tan sỏi dùng trong các trường hợp viên sỏi nhỏ dưới 2cm, túi mật còn tốt, bệnh nhân không thể mổ được, hoặc đề phòng sỏi tái phát sau mổ. Phẫu thuật trong các trường hợp: sỏi gây viêm túi mật hoại tử, viêm phúc mạc mật, viêm tụy cấp, đau dữ dội mà dùng thuốc giảm đau không kết quả, chảy máu đường mật, áp-xe đường mật dọa vỡ, viêm đường mật kéo dài, tắc mật kéo dài,  tái phát nhiều lần, sỏi túi mật… Lấy sỏi qua máy soi tá tràng…

Bệnh nhân bị sỏi mật cần thực hiện một chế độ ăn kiêng hợp lý đó là: kiêng ăn mỡ, nhất là các loại thịt mỡ động vật như bò, gà, lợn… Ăn giảm calo: chỉ ăn  2.000 calo/24 giờ. Uống các loại nước thuốc nam có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh như nước  khoáng, nước nhân trần, actiso.

Phòng bệnh sỏi mật cần thực hiện nhiều biện pháp sau đây: khám bệnh định kỳ để kịp thời phát hiện và điều trị các bệnh là nguyên nhân gây sỏi mật như bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật, rối loạn lipid máu; kiểm soát ăn uống chống thừa cân béo phì; tránh ăn chế độ ăn giàu calo; tránh dùng các thuốc oestrogen chữa bệnh cho người có bệnh sỏi mật từ trước; định kỳ 6 tháng một lần tẩy giun, thực hiện ăn chín uống sôi để tránh nhiễm giun.

Theo ThS. Bùi Quỳnh Nga/SKDS

Phẩu thuật sỏi mật liệu có có tái phát

Mẹ cháu 46 tuổi. Bị đau mạng sườn phải và sốt, đi khám, siêu âm kết quả: bị sỏi ống mật chủ. Đang điều trị nội khoa tại viện nhưng theo bác sĩ khuyên nên mổ. Xin hỏi, sau mổ bệnh có tái phát không?

co-tai-phat-benh-soi-mat-sau-mo-benh

Sỏi mật có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào của đường mật: sỏi túi mật, sỏi ống mật chủ hoặc sỏi cả trong gan. Sỏi ống mật chủ có 3 triệu chứng xuất hiện theo trình tự: đau, sốt, vàng da. Đau thường dữ dội, sốt có khi rất cao, vàng da có thể rất đậm. 3 triệu chứng này xuất hiện, mất đi rồi lại tái diễn từng đợt. Ngoài ra, bệnh nhân còn ngứa khắp mình, nước tiểu thẫm màu. Nhưng cũng có những người trong ống mật chủ có sỏi mà không có dấu hiệu gì; được phát hiện do tình cờ siêu âm khi khám sức khỏe định kỳ. Bệnh sỏi mật nếu không được điều trị có thể diễn biến phức tạp gây biến chứng nguy hiểm.

Về điều trị sỏi mật nói chung cũng như sỏi ống mật chủ bằng các thuốc làm tan sỏi (nội khoa), tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi qua da, lấy sỏi qua nội soi dạ dày tá tràng, mổ mở, phẫu thuật nội soi. Tùy theo tính chất của sỏi là cholesterol, sỏi sắc tố mật hay sỏi hỗn hợp mà sau mổ lấy sỏi có thể tái phát. Nếu sỏi cholesterol một viên ở ống mật chủ thì ít tái phát. Còn sỏi sắc tố mật nằm rải rác nhiều nơi, sỏi trong gan thì sau mổ ống mật chủ lấy sỏi, sỏi từ đường mật lại tiếp tục rơi vào ống mật chủ gây đau tái phát. Trường hợp của mẹ cháu nên tuân thủ chỉ định của bác sĩ để tránh biến chứng.

BS.Vũ Hồng Ngọc

Theo SKDS