Tag Archives: vã mồ hôi

Bùng phát dịch dại vào mùa hè

Bộ Y tế khuyến cáo, tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm do virút gây ra và có thể gây thành dịch lớn. 6 thông điệp dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về dịch bệnh này và các biện pháp phòng chống:

Theo báo cáo của Bộ Y tế trình Chính phủ, thống kê từ 10 tỉnh: Thanh Hóa, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Ngãi, Quảng Nam, trong 4 tháng đầu năm 2014, có 14 người mắc bệnh dại đã tử vong. Dại là bệnh truyền nhiễm từ chó, mèo lây sang người qua vết cắn, nếu đã phát bệnh thì tỷ lệ tử vong là 100%. Bệnh đã xuất hiện ở nhiều tỉnh, đang có xu hướng gia tăng. Làm thế nào để phòng chống và ngăn chặn bệnh dại?

Bệnh dại lây truyền từ chó mèo sang người qua vết cắn

bung-phat-dich-dai-vao-mua-he
Các loài động vật dễ bị bệnh dại là chó, mèo, lừa, ngựa, bò, cừu, lợn, chồn, cáo, dơi… Virut dại có trong nước bọt của động vật bị dại, lây bệnh cho người hay động vật khác qua vết cắn, vết cào, vết liếm (sau đây gọi chung là vết cắn) nhưng không bao giờ lây qua được da lành.

Sau khi xâm nhập vào cơ thể người qua vết cắn, virut theo dây thần kinh lên não với vận tốc khoảng 3mm/giờ, gây tổn thương thần kinh trung ương. Virut nhân lên trong não, rồi di chuyển theo thần kinh đến các cơ quan như tuyến nước bọt, thận, phổi, tim, gan… Ở tuyến nước bọt, virut nhân lên số lượng lớn, tạo ra nguồn lây bệnh nguy hiểm nhất. Kể từ ngày virut vào cơ thể người, thời gian ủ bệnh rất thay đổi từ 1 tuần đến trên 1 năm, trung bình 1 – 2 tháng, phụ thuộc vào số lượng virut, khoảng cách từ vết cắn đến thần kinh trung ương. Thực tế cho thấy: tỷ lệ phát bệnh dại và tử vong cao nhất từ vết cắn ở mặt, trung bình ở tay, thấp hơn là ở chân.

Phát hiện kịp thời bệnh dại
Thời kỳ ủ bệnh được tính từ khi bị chó cắn đến khi phát bệnh, đây là khoảng thời gian quý báu để cứu sống người bệnh. Dấu hiệu của thời kỳ này chỉ duy nhất là vết cắn. Vì vậy, người bị chó cắn phải đi khám để tiêm phòng bệnh dại là việc làm quan trọng nhất.

Thời kỳ tiền triệu là các dấu hiệu xuất hiện trước khi phát bệnh dại, bệnh nhân có biểu hiện lo lắng, thay đổi tính tình, có cảm giác ngứa, đau ở nơi bị cắn. Lưu ý rằng đến lúc này, bệnh nhân đã quên việc bị chó cắn.
Thời kỳ toàn phát: thường có 2 thể bệnh là thể hung dữ và thể liệt. Ở thể hung dữ hoặc co cứng, biểu hiện một tình trạng kích thích tâm thần vận động, bệnh nhân trở nên hung tợn, điên khùng, gây gổ, đập phá lung tung và nhanh chóng tiến tới hôn mê và tử vong. Bệnh nhân bị co cứng, run rẩy tứ chi, co giật, co thắt họng và thanh khí quản gây triệu chứng sợ nước. Bệnh nhân khát không dám uống, chỉ nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng nước chảy cũng gây tăng co thắt họng và rất đau. Tình trạng co thắt này tăng lên mỗi khi có kích thích dù rất nhỏ như: gió thổi, quạt điện, mùi vị thức ăn, ánh sáng…nên bệnh nhân có nét mặt luôn căng thẳng, hoảng hốt, mắt sáng và đỏ, tai thính, có thể có tình trạng kích thích sinh dục, cương cứng dương vật ở đàn ông. Bệnh nhân sốt tăng dần, vã mồ hôi, tăng tiết đờm dãi, rối loạn tim mạch và hô hấp, ảo giác. Các triệu chứng này tiến triển nặng dần và tử vong sau 3 – 5 ngày do ngừng tim, ngừng thở.

Thể liệt: hay gặp ở bệnh nhân bị chó dại cắn đã tiêm vaccin nhưng tiêm muộn, virut đã vào đến não gây bệnh. Bệnh nhân thường không có triệu chứng sợ nước, sợ gió.

Ban đầu có thể thấy đau nhiều vùng cột sống, sau đó xuất hiện hội chứng liệt kiểu Landry: đầu tiên liệt chi dưới, sau đó rối loạn cơ vòng, rồi liệt chi trên. Khi tổn thương tới hành não, xuất hiện liệt thần kinh sọ, ngừng thở và ngừng tim, tử vong.

Điều trị
Khi bị chó mèo cắn, có 2 việc cần làm là điều trị vết cắn và tiêm thuốc phòng bệnh dại. Điều trị vết cắn: ngay sau khi bị chó cắn, bạn phải rửa, dội thật kỹ vết thương bằng nước xà phòng. Tiếp theo, rửa lại vết thương bằng nước lọc và lau khô sát khuẩn vết thương bằng các thuốc sẵn có như: cồn iod, nước oxy già, nước muối sinh lý. Nhưng không nên khâu vết thương sớm, trừ vết thương ở mặt. Cần tiêm phòng huyết thanh kháng uốn ván và dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn vết thương.

Dùng thuốc phòng bệnh dại gồm 2 loại là huyết thanh kháng dại và vaccin phòng bệnh dại.
Tiêm huyết thanh phòng bệnh dại trong các trường hợp: vết cắn rộng, sâu, nhiều vết cắn, bị cắn ở đầu, mặt, cổ, tay bởi một con chó có biểu hiện dại. Tiêm càng sớm sau khi bị cắn càng có hiệu quả cứu sống bệnh nhân.

Tiêm vaccin: nếu con vật cắn bạn đã bị giết chết (mà không có điều kiện xét nghiệm để xác định nó bị dại hay không) hoặc đã mất tích. Trường hợp con vật cắn bạn vẫn sống khỏe mạnh, cần nhốt nó để theo dõi nó trong vòng 10 ngày. Trong thời gian theo dõi đó, nếu thấy nó bị ốm hoặc thay đổi tính tình thì bạn cần đi tiêm vaccin ngay. Trái lại, nếu con vật vẫn khỏe sau 10 ngày thì bạn không cần tiêm vaccin.

Việc điều trị khi đã lên cơn dại: đến nay chưa có thuốc gì có thể cứu sống bệnh nhân khi đã lên cơn dại. Nên chỉ điều trị triệu chứng như: an thần, để bệnh nhân nằm ở nơi yên tĩnh, riêng biệt.

Phòng bệnh
Bệnh dại là bệnh tối nguy hiểm nên khi săn sóc bệnh nhân bạn phải mặc đầy đủ trang bị bảo hộ như: mũ, quần áo, găng tay, ủng, rửa tay xà phòng kỹ sau khi săn sóc rồi sát khuẩn bằng cồn. Các đồ dùng của bệnh nhân cần đốt hủy. Các đồ sắt, giường, tủ, sàn nhà… cần lau rửa bằng xà phòng và phun thuốc khử khuẩn.

Theo sức khỏe đời sống

Ngộ độc hải sản thường gặp

Hải sản là món ăn ngon, giầu chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, có một số loài hải sản mang nhièu độc tố gây ngộ độc cho người ăn thậm chí có thể tử vong.

Viện Hải dương học Nha Trang vừa nghiên cứu và công bố 39 loài sinh vật có chứa chất độc có khả năng gây chết người tại vùng biển Việt Nam. Đáng sợ nhất là Cá nóc chuột vằn tập trung một lượng chất độc khủng khiếp, cứ 100g trứng có thể giết chết 200 người.

Trong số 39 loài sinh vật có chứa chất độc này, có 22 loài cá, một loài mực tuộc, hai loài ốc, ba loài cua, một loài sam và 10 loài rắn biển. Ngoài ra còn có hai loài cá nóc nước ngọt mới được phát hiện ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, tổng cộng là 41 loài sinh vật độc.

Đa số những loài sinh vật độc hại nói trên đều có ở vùng biển nước ta , từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan, như các loài cá nóc, cá bống vân mây, loài so và rắn biển, nhưng cũng có một số loài như ốc biển, cua, mực đốm xanh… chỉ mới gặp ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ.

ca-noc

Phần lớn những loài này sống cả ở ngoài khơi và vùng ven bờ, các vùng vịnh, đầm phá, các cửa sông lớn… Riêng hai loài cá nóc nước ngọt được xác định là cá nóc chấm xanh (Chelonodon nigroviridis) và cá nóc mắt đỏ (Carinotetraodon lorteti) mới chỉ phát hiện được ở đồng bằng sông Cửu Long.

Những loài hải sản độc này có thể gây hại cho con người theo hai cách chính: qua đường tiêu hoá do các món ăn chế biến từ cá và hải sản và qua phản ứng tự vệ của con vật khi ta vô tình chạm vào chúng, bị chúng căn, chích hoặc phóng tên độc.

Các loại hải sản cực độc
Trong 41 loài sinh vật độc trên có 5 loại cực độc là: Cá nóc răng mỏ chim, cá nóc tro, cá nóc vằn mặt, cá nóc chấm cam, cá nóc chuột vằn mang, trong đó cá nóc chấm cam và cá nóc chuột vằn mang là hai loài độc nhất.

Cá nóc chuột vằn mang (Aronthron immaculatus) thân có dạng hình trứng, vây lưng viền đen, bụng màu trắng… nom không có vẻ gì đáng sợ nhưng trong trứng loài cá này tập trung một lượng chất độc khủng khiếp, cứ 100g trứng có thể giết chết 200 người; hàm lượng độc chất cao xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10.

Sau cá nóc chuột vằn mang, cá nóc chấm cam (Torquigener gallimaculatus) cũng rất đáng sợ, cứ 100g trứng hoặc gan loài cá này có thể giết chết 60 – 70 người.

Tác hại chết người của nọc độc hải sản
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, bản chất các độc tố của phần đông các hải sản trên thuộc nhóm chất độc thần kinh, nên khi con người bị nhiễm chất độc này sẽ tác động trực tiếp đến hệ thần kinh và hệ tim mạch gây ra những triệu chứng ngộ độc rất trầm trọng.

Hầu hết chúng là những chất độc nguy hiểm có tỷ lệ tử vong cao trong thời gian rất nhanh, với liều độc thấp. Cụ thể, chất độc chứa trong cá nóc và nhiều loại hải sản khác như mực đốm xạnh, so biển, cá bống vân mây, v.v.. là tetrodotoxin, có tác động trên thần kinh trung ương rất mạnh làm liệt các trung khu thần kinh, gây tê liệt cơ thể, ngừng tuần hoàn, hô hấp dẫn đến tử vong nhanh chóng.

Triệu chứng của ngộ độc như sau
Trường hợp bị nhiễm ít chất độc, bệnh nhẹ: Sau khi ăn phải hải sản độc từ 10 phút đến vài giờ, người bệnh thấy tê môi, lưỡi, miệng, mặt, tê các ngón tay, bàn tay, ngón chân và bàn chân. Đồng thời thấy đau đầu, vã mồ hôi, đau bụng, buồn nôn và nôn, tăng tiết nước bọt…

Trường hợp nặng: Người bệnh mệt lả, yếu cơ, liệt cơ tiến triển nên đi đứng loạng choạng không vững. Tình trạng liệt cơ nặng lên nhanh chóng dẫn đến liệt toàn thân, kể cả hô hấp, khiến người bệnh không thở được, suy hô hấp, ngừng thở, mạch chậm, huyết áp hạ và hôn mê, dẫn đến tử vong,

Trong cơ thể cá và hải sản độc, thường trứng và gan là hai nơi tập trung độc chất cao nhất. Nhưng cũng có những hải sản độc, thịt và da lại là những nơi tập trung độc tố cao hơn cả, như loài cá bống vân mây.

Chất độc của cá này tuy có ở tất cả các bộ phận cơ thể, nhưng tập trung nhiều nhất ở da, cứ 100g da có thể giết chết 9 – 10 người.

Còn đối với ba loài hải sản độc khác là cua hạt, mực đốm xanh và so biển thì tất cả các bộ phận khác nhau của cơ thể chúng đều chứa chất độc. Cũng vì vậy, các nhà khoa học khuyên người tiêu dùng tuyệt đối không dùng các loài hải sản độc chế biến thức ăn dưới bất cứ hình thức nào và với bất cứ bộ phận nào của cơ thể chúng.

Trong thực tế hầu hết các trường hợp ngộ độc hải sản nặng đều do ăn phải những loài cá biển và hải sản chứa độc tố mạnh. Ngoài ra cũng có một số người bị trúng độc do sờ mó hoặc vô tình chạm vào những loài rắn biển, cá mặt quỉ, mực đốm xanh, ốc cối… nên bị chúng căn, chích hoặc phóng tên độc. Các độc tố của con vật sẽ theo răng hoặc tên độc của chúng phóng ra xâm nhập cơ thẻ người qua vết thương gây ngộ độc

Nguồn sức khỏe đời sống

Liệu pháp nội tiết

Liệu pháp nội tiết là gì?

Estrogen có vai trò phát triển, duy trì, điều hòa các chức năng sinh dục nữ (tử cung, buồng trứng, vú, tuyến sữa, chu kỳ kinh nguyệt…). Nhưng trong một số trường hợp, estrogen vào tế bào vú, gắn với các thụ thể estrogen. Các thụ thể này nhận biết, chuyển tín hiệu tăng trưởng ADN của tế bào đến các vùng khác, làm cho UT vú phát triển. Trường hợp này gọi là UT vú lệ thuộc vào thụ thể estrogen (ER+). Ở trường hợp này, nếu dùng một thuốc làm giảm nồng độ estrogen hoặc không cho tác động lên thụ thể estrogen (ER+) thì hạn chế sự phát triển của tế bào UT vú. Liệu pháp này gọi là liệu pháp nội tiết.

Thuốc – hiệu quả và tai biến

Nhóm tamoxifen:

Tamoxifen có từ năm 1973, tiếp đó là fulvestral, mới nhất là raloxifen.

Tamoxifen: có hiệu quả với carcinom ống tại chỗ, nếu dùng sớm sẽ làm giảm có ý nghĩa nguy cơ tái phát, tử vong; giảm nguy cơ phát sinh UT mới ở vú đối diện. Ngay cả khi đã di căn, tamoxifen cũng có tác dụng nâng đỡ tích cực ở tất cả các giai đoạn. Với người mãn kinh, tamoxifen là chất đồng vận với estrogen trong việc tạo xương, giúp chống loãng xương.

thua-can-de-mac-ung-thu-vu-o-phu-nu

Do đối kháng với estrogen, nên tamoxifen có thể gây nên các triệu chứng giống một số triệu chứng khi suy giảm estrogen trong thời kỳ mãn kinh: bốc hỏa, băng huyết nhẹ, tăng canxi huyết (phải ngưng thuốc nếu tăng quá cao). Với người đang độ tuổi sinh, có thể gây tắt kinh, vô kinh, u nang buồng trứng (biểu hiện: đau tức vùng chậu, chảy máu bất thường ở âm đạo) dẫn tới vô sinh. Trong chương trình sinh đẻ có kế hoạch, nữ thường sinh 2 con, vào độ tuổi dưới 30, trong khi UT vú lại thường ở vào tuổi từ 40, nên điều bất lợi này ít khi xảy ra. Đáng chú ý hơn, tamoxifen gây huyết khối nghẽn mạch (biểu hiện: chân sưng, thở khó) rối loạn thị giác (khi dùng liều cao).

Raloxifen: tác dụng tương tự tamoxifen trên UT vú, nhưng raloxifen ít gây UT nội mạc tử cung, ít gây huyết khối như tamoxifen (khi cùng dùng chống loãng xương). Trong UT vú (cũng như trong chống loãng xương), raloxifen sẽ có lợi, ít hại hơn tamoxifen..

Fulvestrant: lấy đi các thụ thể estrogen ( ER+) của tế bào UT, do đó cắt đứt được môi trường mà estrogen gây tác động tiêu cực.

Nhóm làm giảm sản xuất estrogen

Các chất tương tự LH (luteinizing hormone), RH (releasing homone). LH, RH kích thích tuyến yên tiết ra hormone có tác động lên buồng trứng, thúc đẩy việc sản xuất estrogen. Các chất tổng hợp tương tự như LH, RH (còn gọi là chất “giả” dạng) gắn liền vào các thụ thể của LH, RH ở màng tế bào tuyến yên, chiếm chỗ và không cho LH, RH “thật” hoạt động. Kết quả làm cho việc sản xuất estrogen bị sụt giảm. Thuộc nhóm này hiện có thuốc goserelin, các chất kháng enzym aromataz.

Goserelin: là một decapeptid tổng hợp, tương tự như LH, RH có tác dụng hạn chế sự phát triển UT vú (và cả UT tuyến tiền liệt, UT nội mạc tử cung). Do làm giảm sản xuất estrogen, thuốc gây ra các tác dụng phụ giống như giảm estrogen khi mãn kinh (đỏ bừng mặt, vã mồ hôi, khô âm đạo, giảm kích thước tuyến vú, thay đổi tính tình, giảm dục tính, gây loãng xương). Tuy nhiên, những tác dụng bất lợi này thấp hơn tamoxifen nhiều lần.

Các chất kháng enzym aromataz: aromataz có nhiệm vụ chuyển đổi androgen thành estrogen. Các chất kháng enzym aromataz ức chế hoạt động của aromataz, ngăn cản việc sản xuất, dẫn tới làm giảm nồng độ estrogen. Thuộc nhóm này có các thuốc được tìm ra, áp dụng trong lâm sàng từ những năm 80 (như aminoglutethimid) và thế hệ mới có hiệu lực cao hơn mới đưa vào dùng trong những năm gần đây (như anastrozol, letrozol).

Nhóm progestin

Progestin dung nạp tốt, có hiệu quả, thường dùng khi UT vú ở giai đoạn tiến xa (bước 2 hay 3) sau khi dùng 2 nhóm thuốc trên.

Những thành tựu mới nhất

Cuối thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu đạt được một thành tựu quan trọng: biết được một số phân tử đặc hiệu có vai trò quyết đinh trong việc “dẫn truyền tín hiệu tăng trưởng, sinh mạch, lập và chết theo lập trình của tế bào UT”… từ đó nghiên cứu các loại thuốc tấn công vào các phân tử đặc hiệu này gọi là liệu pháp nhằm trúng đích phân tử (molecularly targeted therapies).

Trong cơ thể có một gen qui định việc sản xuất protein HER2. HER2 là thụ thể cho các yếu tố dẫn truyền tín hiệu tăng trưởng, quyết định sự phân chia trưởng thành của tế bào. Khi vì một lý do nào đó, gen này tăng đột biến thì sẽ sinh ra nhiều HER2, dẫn đến việc không kiểm soát được sự sinh sản tế bào, gây ra UT. Trong các UT, thì UT vú có khoảng 30% liên quan với việc tăng thái quá HER2 (gọi là UT vú có HER2 dương tính). Dùng một chất khóa các thụ thể HER2 lại, sẽ chống lại UT vú.

Dựa vào nguyên lý trên, các nhà khoa học đã chế tạo ra các thuốc khóa HER2 dùng trị UT vú có nhiều hiệu quả như thuốc herceptin. Một nghiên cứu thực hiện tại 54 Trung tâm y khoa thuộc 7 quốc gia với 222 người bệnh, trong đó có 172 người bệnh có HER2 dương tính ở mức (3+), cho dùng herceptin đơn độc cho kết quả: làm nhỏ khối u lại 18%; kéo dài thêm 75% thời gian sống (9,1 tháng so với 5,2 tháng khi chỉ dùng hóa trị liệu); thời gian sống kéo dài thêm 13 tháng và có người kéo dài được 2 năm (Osoba D, 2002). Herceptin được FDA cho lưu hành từ năm 1998 và được châu Âu dùng từ tháng 9/2000. Từ năm 1998 – 2006 có 230.000 người dùng. Một số nước trong khu vực bắt đầu trang bị các phương tiện xác định phân tử đích HER2, phân loại và chuẩn bị tiếp nhận người bệnh UT có HER2 dương tính. Tháng 6/2007, Việt Nam đã tổ chức Hội thảo về vấn đề này.

Một số lưu ý khi dùng liệu pháp nội tiết.

Không phải UT vú nào cũng dùng liệu pháp nội tiết. Liệu pháp nội tiết thường dùng hỗ trợ trong điều trị cho UT vú có lệ thuộc vào ER (+) ở giai đoạn sớm. Trong UT vú lệ thuộc ER (+) ở vào giai đoạn tiến xa, thì liệu pháp này ưu tiên dùng cho người mãn kinh mà diễn tiến bệnh chưa đe dọa tính mạng. Liệu pháp này cũng được chỉ chỉ định cho người bệnh bị di căn xương, mô mềm, cho người bệnh chưa tiếp nhận liệu pháp kháng estrogen.

Vì liệu pháp nội tiết chủ yếu dùng cho người UT vú lệ thuộc vào estrogen và có hiệu quả tốt ở giai đoạn sớm, cho nên tầm soát UT vú, xác định nguyên nhân là rất cần thiết.

Thuốc dùng trong liệu pháp có một số độc tính, cần dùng đúng chỉ định theo hướng dẫn của thấy thuốc chuyên khoa. Không tự ý dùng, không tự ý bỏ dở.

Theo DS. CKII. Bùi Văn Uy
SK&DS

Có thể bị ung thư gan nếu dùng gừng không đúng cách

Gừng vừa là gia vị vừa là thuốc. Ngoài việc tạo thêm hương vị cho một số món ăn, gừng có thể giúp ngăn ngừa được nhiều chứng bệnh.

Chống viêm: Gừng còn có tác dụng chống viêm. Thực tế, nhiều loại thuốc chống viêm thường gây ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa. Trong khi đó, ăn gừng lại có tác dụng chống viêm, ngăn ngừa loét hiệu quả.

Vì gừng chống viêm rất tốt, nên rất nhiều loại thuốc viêm khớp có chứa thân rễ gừng khô. Một nghiên cứu cho thấy phần lớn người tham gia dùng gừng để trị viêm khớp đã giảm đau và sưng rõ rệt.

Giảm đau đầu: Nhai một miếng gừng tươi khoảng 30 phút được cho giúp giảm chứng đau đầu và đau nửa đầu.

Giảm cholesterol: Gừng có tác dụng giảm lượng cholesterol. Một nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh nhân sử dụng gừng thường xuyên trong một thời gian có thể giảm rõ rệt nồng độ cholesterol.

Kiểm soát tiểu đường: Các chuyên gia y tế yêu cầu bệnh nhân tiểu đường uống trà gừng vào buổi sáng sớm vì nó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.

Chống stress: Tinh dầu gừng giúp giải tỏa tinh thần, loại bỏ các trạng thái căng thẳng… chóng mặt, bồn chồn và lo lắng.

Chống say xe, ốm nghén: Ăn gừng tươi trước khi đi xe, máy bay… có thể giúp ngăn ngừa các triệu chứng say tàu xe.

Nghiên cứu đã chứng minh rằng rễ gừng và tinh dầu cũng có hiệu quả chống buồn nôn, say tàu xe và nôn mửa. Trong một số trường hợp còn có thể sử dụng để giảm tình trạng nôn mửa ở phụ nữ mang thai.

Gừng có thể giúp ngăn ngừa nhiều chứng bệnh.

Gừng có thể giúp ngăn ngừa nhiều chứng bệnh.

Ngộ độc thực phẩm: Gừng có tính sát trùng nên có thể dùng trong điều trị ngộ độc thực phẩm. Ngoài ra còn có thể điều trị nhiễm trùng đường ruột và kiết lỵ do vi khuẩn.

Trị rối loạn dạ dày: Củ gừng và tinh dầu gừng thường được sử dụng trong các trường hợp rối loạn dạ dày. Đây là một trong các biện pháp khắc phục tốt nhất cho chứng khó tiêu, đau bụng, co giật, tiêu chảy, đầy hơi và các vấn đề khác liên quan đến đường ruột. Trà gừng cũng được sử dụng để giảm bớt một số triệu chứng dạ dày và tăng cảm giác thèm ăn.

Kiểm soát tim mạch: Nhiều bác sĩ đông y cho rằng gừng có thể giúp ngăn ngừa bệnh và giúp tim mạch khỏe hơn, giúp giảm nguy cơ tắc nghẽn mạch máu và giảm tỷ lệ đột quỵ do tim.

Rối loạn hô hấp: Do củ gừng và tinh dầu gừng tốt cho tiêu đờm, nó cũng có hiệu quả trong các vấn đề khác nhau về đường hô hấp như ho, cảm cúm, viêm phế quản, hen suyễn và khó thở.

Kinh nguyệt: Gừng giúp hỗ trợ giảm đau, điều trị ra kinh nguyệt không đều.

Bệnh sốt rét: Củ gừng và tinh dầu gừng cũng có hiệu quả trong điều trị bệnh sốt rét và sốt vàng da.

Ung thư: Gừng còn được biết đến với công dụng chống ung thư. Do vậy bạn nên bổ sung gừng vào chế độ ăn hàng ngày của mình dưới dạng viên nang hay trà gừng hoặc sử dụng như một loại gia vị trong nấu nướng.

Lưu ý khi dùng gừng:

– Tránh dùng gừng với aspirin và coumarin (phải cách xa 4 giờ).

– Không dùng gừng cho người chuẩn bị mổ và sau mổ, người đang chảy máu như băng huyết, ho ra máu, nôn ra máu, tiểu ra máu, tiêu ra máu, trĩ ra máu, chảy máu cam, chảy máu răng.

– Không dùng gừng cho người bị cảm nắng, vã mồ hôi, sốt cao không rét.

– Không dùng gừng liều cao, nhiều ngày cho người tiểu đường, bệnh tim, phụ nữ có thai.

– Không nên gọt vỏ: Nhiều người gọt vỏ khi ăn gừng mà không biết rằng vỏ gừng cũng có rất nhiều công dụng chữa bệnh. Vì vậy khi ăn gừng nên rửa sạch sau đó sử dụng theo mục đích.

– Không nên ăn gừng tươi đã bị dập: Chắc chắn nhiều người không biết rằng củ gừng tươi sau khi bị dập sẽ sinh ra một loại độc tố mạnh có thể gây hoại tử các tế bào gan, lâu dần sẽ biến thành ung thư gan, ung thư thực quản.

Gừng khó bảo quản, củ gừng làm thực phẩm thì thường thu hoạch non, nhưng nếu để làm thuốc thì phải thu hoạch củ gừng già (có xơ).
Theo VnMedia