Tag Archives: ung thư tử cung

Triệu chứng và những người hay bị ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung, một loại ung thư thường gặp ở phụ nữ, là một căn bệnh mà những tế bào ung thư ác tính xuất hiện trong mô cổ tử cung.
Ung thư cổ tử cung thường phát triển chậm. Trước khi phát hiện ra tế bào ung thư ở cổ tử cung, các mô ở cổ tử cung trải qua những thay đổi trong đó các tế bào bất thường bắt đầu xuất hiện (hiện tượng loạn sản). Những tế bào ung thư này thường được phát hiện nhờ việc làm phiến đồ âm đạo (xét nghiệm Pap). Muộn hơn, Tế bào ung thư bắt đầu phát triển và lan sâu thêm vào cổ tử cung và những vùng xung quanh.

trieu-chung-va-nhung-nguoi-hay-bi-ung-thu

Do ung thư cổ tử cung thường không có triệu chứng, bác sĩ phải tiến hành xét nghiệm hàng loạt để tìm bệnh. Xét nghiệm đầu tiên là làm phiến đồ âm đạo Pap, được tiến hành bằng cách dùng một miếng bông, một bàn chải, hoặc một que gỗ nhỏ để cạo nhẹ bên ngoài cổ tử cung để lấy tế bào.

Nếu phát hiện ra tế bào bất thường bác sĩ phải cắt một mẫu mô (gọi là sinh thiết) ở cổ tử cung và quan sát dưới kính hiển vi để xem có tế bào ung thư không. Sinh thiết mảnh mô nhỏ có thể được thực hiện tại phòng khám của bác sĩ. Nếu cần lấy một mảnh lớn hơn (cắt hình nón) bệnh nhân có thể phải đến bệnh viện.

Trong từng loại ung thư cổ tử cung, có những phương pháp điều trị riêng, Cần phải theo dõi và kiểm tra định kỳ để đảm bảo phát hiện ra những thay đổi trong sức khỏe .

Ai có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung?

– Phụ nữ độ tuổi 35-50 dễ mắc bệnh ung thư cổ tử cung.

– Phụ nữ có 5 con trở lên có nguy cơ mắc bệnh cao.

– Những phụ nữ có hoạt động tình dục trước 17 tuổi và có nhiều bạn tình.

– Những người có tiền sử mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh dục do virut papilloma hoặc herpes.

– Vệ sinh cá nhân kém

Các triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung

Các dấu hiệu khác thường dưới đây sẽ cảnh báo giúp bạn phát hiện sớm và ngăn ngừa bệnh:

Giai đoạn tiền ung thư thường không có triệu chứng. Sau đó có thể xuất hiện các triệu chứng:

– Huyết trắng dai dẳng, có mùi hôi hoặc có vấy một chút máu

– Chảy máu bất thường trong âm đạo

– Bạn bị chảy máu bất thường trong chu kì kinh nguyệt bình thường

– Chảy máu sau khi quan hệ tình dục, thụt rửa hoặc khám bệnh

– Chảy máu trong suốt thời gian dài, rong kinh

– Chảy máu nhiều sau thời kì mãn kinh

– Vùng xương chậu thường xuyên có cảm giác đau

– Cảm giác đau sau khi làm “chuyện ấy”

Khi bệnh nặng, có chảy dịch nhiều lẫn máu từ âm đạo, kèm với đau nhức vùng lưng, vùng chậu hoặc ở chân. Ở giai đoạn muộn, bệnh nhân bị vô niệu do ung thư chèn ép vào hai niệu quản.

Theo giáo dục

Cảnh báo chị em về 5 bệnh ung thư phụ khoa

 Ung thư phụ khoa là nhóm các bệnh ung thư có ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản của phụ nữ, cụ thể là ung thư ở cổ tử cung, tử cung, buồng trứng, âm đạo và âm hộ.
Một số bệnh ung thư phụ khoa phổ biến:

1. Ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là do virus Papiloma (HPV) gây nên. Đây là một bệnh lây truyền qua đường tình dục rất phổ biến. Ung thư cổ tử cung thường phát triển rất chậm và có thể bắt đầu từ tình trạng loạn sản tế bào cổ tử cung. Loạn sản là một hình ảnh không bình thường của tế bào cổ tử cung nhưng cũng chưa thể kết luận là ung thư vì có thể do viêm, do nhiễm khuẩn đường sinh dục như bị nấm âm đạo hay nhiễm Chlamydia. Tuy nhiên, nó cũng có thể là tình trạng tiền ung thư.

Tình trạng tiền ung thư này có thể được phát hiện bằng xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung. Đó là lý do tại sao chị em cần thực hiện xét nghiệm tế bào cổ tử cung (pap smear) theo định kì. Hầu hết phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư cổ tử cung hiện nay đều rơi vào trường hợp những chị em không làm xét nghiệm pap hoặc có làm những không thường xuyên.

Những dấu hiệu sớm của ung thư cổ tử cung bao gồm: Ra nhiều huyết trắng kéo dài, chảy máu âm đạo bất thường, chảy máu trong khi quan hệ tình dục, đau khi quan hệ tình dục…
canh-bao-chi-em-ve-5-benh-ung-thu-phu-khoa-
2. Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là tình trạng ung thư bắt đầu trong buồng trứng – nơi sản xuất trứng.

Ung thư buồng trứng ở một hoặc cả hai buồng trứng đều là ung thư biểu mô (ung thư bắt đầu trong các tế bào trên bề mặt của buồng trứng) hoặc là khối u tế bào mầm ác tính (ung thư bắt đầu trong tế bào trứng). Ung thư buồng trứng thường khó phát hiện ở giai đoạn đầu nên việc chẩn đoán và điều trị thường gặp khó khăn vì lúc phát hiện bệnh thì bệnh đã có dấu hiệu di căn.

Nhiều phụ nữ bị ung thư buồng trứng không có triệu chứng rõ ràng hoặc chỉ có triệu chứng nhẹ cho đến khi bệnh đang ở giai đoạn phát triển và khó điều trị. Do vậy, nếu thấy các dấu hiệu sau, chị em nên cảnh giác vì rất có thể đó là những dấu hiệu sớm của bệnh ung thư buồng trứng: Đau bụng hoặc đau vùng chậu, tăng kích thước vòng bụng hoặc đầy hơi, cần tiểu gấp hoặc thường xuyên, gặp khó khăn với việc ăn uống hoặc cảm thấy no nhanh…

3. Ung thư tử cung

Hai hình thức phổ biến của bệnh ung thư tử cung là ung thư cổ tử cung (tế bào ung thư từ cổ tử cung) và nội mạc tử cung (tế bào ung thư từ lớp niêm mạc của các ngữ liệu hoặc cơ thể của tử cung). Giai đoạn đầu của ung thư tử cung được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ (ung thư chỉ giới hạn ở vị trí ban đầu). Nếu không được phát hiện và điều trị đúng cách, tế bào ung thư xâm nhập vào các lớp sâu hơn trong tử cung, sau đó lan rộng đến các cơ quan lân cận như âm đạo, bàng quang, trực tràng và cuối cùng di căn đến các bộ phận khác trong cơ quan sinh sản.

Chị em có nguy cơ bị ung thư tử cung cao là những người thường xuyên bị chảy máu âm đạo hoặc dịch âm đạo bất thường, quan hệ tình dục thường xuyên trước khi 20 tuổi hoặc quan hệ tình dục với nhiều đối tác và chị em không chị ý vệ sinh “vùng kín” sạch sẽ.

Các triệu chứng sớm của bệnh ung thư tử cung cũng tương tự như ung thư cổ tử cung và bệnh cũng có thể được chẩn đoán chính xác thông qua xét nghiệm pap.

4. Ung thư âm đạo

Ung thư âm đạo là một loại ung thư hiếm gặp ở phụ nữ. Trong ung thư âm đạo (ác tính) các tế bào ung thư được tìm thấy trong các mô của âm đạo. Có rất nhiều loại ung thư khác nhau của ung thư âm đạo bao gồm ung thư vảy tế bào (ung thư biểu mô vảy), ung thư biểu mô tuyến, sacôm…

Nguyên nhân gây bệnh ung thư âm đạo chưa được xác định rõ ràng. Theo nhiều chuyên gia sức khỏe thì nhiễm virus gây nhú ở người (HPV) chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới nguy cơ bị ung thư âm đạo. Nhiều trường hợp bệnh xuất hiện sau khi bị sùi mào gà.

Mặc dù đa số các trường hợp bị ung thư âm đạo thường không có nhiều triệu chứng đáng chú ý, nhưng theo lời khuyên của các chuyên gia sức khỏe thì nếu chị em thấy mình có những triệu chứng như: thay đổi thói quen đi tiểu, cảm thấy có áp lực đè lên vùng xương chậu, chảy máu âm đạo bất thường… thì hãy đi khám sớm.

5. Ung thư âm hộ

Ung thư âm hộ là một loại ung thư hiếm gặp. Nó hình thành trong bộ phận sinh dục bên ngoài của một người phụ nữ được gọi là âm hộ. Âm hộ gồm có môi bên trong và bên ngoài của âm đạo, âm vật (mô nhạy cảm giữa môi), cửa âm đạo và các tuyến của nó. Ung thư âm hộ là một loại ung thư xảy ra trên diện tích bề mặt ngoài của cơ quan sinh dục nữ. Âm hộ là vùng da bao quanh niệu đạo và âm đạo, bao gồm âm vật và môi nhỏ.

Các hình thức ung thư âm hộ thường như một khối u hoặc đau ở âm hộ là nguyên nhân gây ngứa và đau đớn. Mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, ung thư âm hộ thường được chẩn đoán ở phụ nữ lớn tuổi.

Ung thư âm hộ có khả năng chữa khỏi cao khi được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Tỷ lệ sống sót phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng giải phẫu bệnh học của hạch bẹn.

Các triệu chứng ban đầu của ung thư âm hộ có thể bao gồm: U, bướu giống như mụn cơm hay đau loét., ngứa âm đạo, da vùng âm đạo thay đổi màu sắc, chảy máu giữa chu kì kinh nguyệt…

Tất cả các bệnh ung thư phụ khoa đều có ảnh hưởng nặng nề đến khả năng sinh sản của chị em. Bệnh nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ khiến chị em phải chịu nhiều đau đớn, suy sụp sức khỏe nhanh chóng và đe dọa tính mạng.

Để đề phòng các bệnh ở cơ qua sinh sản, tránh dẫn tới ung thư phụ khoa, chị em nên lưu ý những điều sau:

– Thực hành tình dục an toàn. Nên sử dụng bao cao su khi có quan hệ tình dục để tránh lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

– Tiêm vacxin phòng ung thư cổ tử cung trước 26 tuổi.

– Tiến hành khám phụ khoa theo định kì, đặc biệt không được bỏ qua thủ tục xét nghiệm pap smear để chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung và ung thư tử cung.

– Giữ vệ sinh sạch sẽ, nhất là trong những ngày có “đèn đỏ”.

Theo ttvn

Viêm âm đạo không chỉ do mất vệ sinh

Viêm âm đạo là bệnh phổ biến và rất hay gặp đối với phụ nữ, nhất là những phụ nữ đã có quan hệ tình dục. Tình trạng bệnh có thể nhẹ, có thể tự chẩn đoán, tự điều trị, tự khỏi nhưng cũng có thể nặng, có thể có những biến chứng xấu như ung thư tử cung, vô sinh… Trong các nguyên nhân, viêm âm đạo do nấm Candida (albican hay non-albican), trùng roi Trichomonas vaginalis và tạp khuẩn (bacterial vaginosis) là nguyên nhân thường gặp nhất, có thể tới 90% các trường hợp viêm âm đạo.

nhan-dien-nguyen-do-gay-mui-cua-co-the-3

Âm đạo có cấu trúc là ống cơ – sợi, lót bởi lớp niêm mạc là biểu mô lát tầng không sừng hóa. Các tế bào bề mặt của biểu mô có chứa nhiều glycogen. Lớp biểu mô chịu ảnh hưởng tình trạng nội tiết sinh dục.

Dịch tiết âm đạo bao gồm: dịch tiết từ lòng tử cung, cổ tử cung và các tuyến vùng âm hộ, các tế bào bề mặt bị bong tróc của biểu mô âm đạo, phần dịch thẩm thấu từ các lớp phía dưới biểu mô lát niêm mạc âm đạo.

Môi trường âm đạo không phải là môi trường vô khuẩn, vì vậy viêm âm đạo thường xảy ra khi vi khuẩn thường trú âm đạo bị biến đổi do tác nhân bên ngoài đưa vào (nhiễm vi sinh từ ngoài) hay do thay đổi môi trường âm đạo tạo điều kiện thuận lợi cho tác nhân gây bệnh hoạt động.

Ngoài ra, viêm âm đạo còn do sử dụng các thuốc điều trị bệnh như kháng sinh, thuốc nội tiết; hay do chưa biết cách thụt rửa âm đạo, dùng dụng cụ tránh thai, đang có thai… Khi thấy các triệu chứng ngứa, đau mỗi khi giao hợp, khí hư có màu, mùi bất thường, âm đạo chảy máu… thì hãy tới các bác sĩ sản khoa để được tư vấn làm xét nghiệm.

Phải tuân thủ theo chỉ dẫn, cách dùng thuốc của bác sĩ, không nên để âm đạo bị viêm kéo dài, mắc đi mắc lại nhiều lần vì rất có thể bạn gặp các biến chứng khôn lường và ảnh hưởng tới chuyện chăn gối.

Theo SKDS

Ăn trái cây để phòng chống u xơ tử cung

Nghiên cứu gồm hơn 20.000 phụ nữ tại Mỹ cho thấy những người ăn từ 2 phần hoa quả trở lên mỗi ngày ít có chẩn đoán u xơ tử cung hơn so với những phụ nữ ít khi ăn hoa quả.

an-hoa-qua-phong-u-xo-tu-cung

U xơ không phải lúc nào cũng xuất hiệu triệu chứng nhưng có thể gây đau hoặc kéo dài kỳ kinh. U xơ cũng có thể phát triển to và trong một số trường hợp gây các biến chứng thai kỳ và vô sinh.

Các tác giả thuộc Trường Đại học Boston đã theo dõi phụ nữ ở độ tuổi 30 trong hơn 10 năm để xem liệu việc tiêu thụ hoa quả và rau xanh có liên quan với khả năng bị u xơ hay không.

Họ đã sử dụng số liệu từ Nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ da đen, được bắt đầu từ năm 1995, trong đó những người tham gia báo cáo về tần suất tiêu thụ thực phẩm. Các đối tượng tham gia cũng trả lời bảng câu hỏi 2 năm/lần về các chẩn đoán bệnh mới. Tổng hợp cho thấy 29% trong số 23.000 đối tượng nghiên cứu bị u xơ tử cung trong khoảng từ năm 1997 đến 2009.

Kết quả nghiên cứu chỉ rõ: phụ nữ ăn ít nhất 4 phần hoa quả và rau xanh mỗi ngày ít bị u xơ hơn 10% so với phụ nữ ăn chưa đầy 1 phần hoa quả và rau xanh mỗi ngày. Khi phân tích tách biệt giữa hoa quả và rau xanh, nhóm nghiên cứu thấy rằng ăn nhiều hoa quả giúp giảm nguy cơ u xơ tử cung. Rau xanh không mang lai tác dụng tương tự.

Theo các kết quả được công bố trên tạp chí American Journal of Clinical Nutrition thì phụ nữ ăn ≥ 2 phần hoa quả mỗi ngày ít bị u xơ hơn 11% so với phụ nữ ăn chưa đầy 2 phần hoa quả mỗi tuần.

Không có mối liên quan giữa lượng vitamin C, E, folate hoặc chất xơ tiêu thụ với nguy cơ u xơ, song nghiên cứu này cho thấy bổ sung vitamin A từ các sản phẩm sữa cũng có thể làm giảm nguy cơ u xơ.

Theo dantri/Reuters

Tìm hiểu bệnh ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung đứng thứ 12 trong các loại ung thư thường gặp ở phụ nữ và đứng thứ 3 trong các loại ung thư bộ phận sinh dục nữ, sau ung thư cổ tử cung và ung thư buồng trứng. Đa số trường hợp ung thư nội mạc tử cung xảy ra ở bệnh nhân trên 50 tuổi. Ngày nay tuổi thọ của phụ nữ tăng lên, nên ung thư nội mạc tử cung cũng gia tăng theo tuổi. Dưới đây là những điều cần biết về ng thư cổ tử cung.

roi-loan-kinh-nguyet-1_0

Triệu chứng thường gặp của ung thư nội mạc tử cung

Ở giai đoạn sớm, có triệu chứng ra dịch âm đạo bất thường như huyết trắng hay ra máu ngoài kỳ kinh. Ở giai đoạn trễ: xuất huyết âm đạo dai dẳng hay ra dịch hôi, đau tức vùng hạ vị (do tử cung ứ dịch), tiểu khó, đi tiêu khó (do tử cung chèn ép bàng quang và trực tràng). Muộn hơn có thể gây dò bàng quang – âm đạo, hoặc trực tràng – âm đạo hoặc dò bàng bàng quang – âm đạo – trực tràng.

Phần lớn ung thư xuất phát từ những tuyến của nội mạc, khởi đầu có dạng như những chồi, polyp trong lòng tử cung, bề mặt bướu có phần hoại tử và xuất huyết gây chảy máu âm đạo đến 90% các trường hợp.

Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp chảy máu âm đạo bất thường đều có nguyên nhân từ ung thư nội mạc tử cung. Nhưng người bệnh cũng không nên chủ quan bỏ qua triệu chứng này, khi có xuất huyết âm đạo ở tuổi mãn kinh hay chảy máu ngoài chu kỳ kinh, nên đi khám chuyên khoa để được khám và làm các xét nghiệm nhằm chẩn đoán bệnh sớm và điều trị kịp thời.
Các xét nghiệm náo có thể chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung

Chỉ 1/3 số trường hợp xuất huyết âm đạo là do ung thư nội mạc tử cung, 1/3 do nguyên nhân lành tính và 1/3 là không rõ nguyên do. Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung bao gồm:

Hình ảnh học: siêu âm, CT scanner, cộng hưởng từ (MRI) để phát hiện những bất thường trong lòng tử cung (dầy nội mạc tử cung, sang thương nội mạc tử cung, hay ứ dịch trong lòng tử cung…).

Giải phẫu bệnh: nạo sinh thiết lòng tử cung trước khi điều trị để biết tuýp mô học và mức độ biệt hóa của tế bào ung thư.

Xét nghiệm thụ thể: estrogen (ER) và thụ thể progesteron (PR) giúp hướng dẫn điều trị nội tiết sau mổ. Nếu ER (+) và PR (+) thì sẽ điều trị nội tiết sau mổ (dùng progesteron dạng uống  hoặc chích) và tiên lượng tốt hơn.
Phương pháp điều trị ung thư nội mạc tử cung

Giai đoạn sớm:

Ung thư còn khu trú tại nhân tử cung, mổ cắt tử cung và hai phần phụ, có thể nạp hạch chậu hai bên hoặc không, nếu hạch chậu có di căn thì xạ trị thêm.

Giai đoạn muộn:

Ung thư xâm lấn ra khỏi tử cung, ăn lan các xơ lân cận như bàng quang, trực tràng, ruột, vạch hậu… Nếu còn cắt được tử cung thì phẩu thuật, sau đó xạ trị và hóa trị. Nếu không cắt được tử cung thì xạ trị và hóa trị.

Theo Bác sĩ Phạm Văn Bùng – Thuốc & SK