Tag Archives: ung thư tinh hoàn

Các dạng ung thư tinh hoàn thường gặp

Đối với seminomas, ung thư này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường xảy ra ở đàn ông lớn tuổi

Nói chung, seminoma không ác tính như ung thư dạng nonseminoma và đặc biệt có hiệu quả với phương pháp xạ trị

Seminomas chiếm tỷ lệ khá cao các trường hợp được chẩn đoán mắc ung thư tinh hoàn. Thống kê cho thấy, khoảng 40 đến 45% các ca mắc bệnh thuộc loại ung thư này

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap

Trong khi đó, nonseminoma gồm những loại ung thư không phải là seminoma, thường được phát hiện ở nam giới khi còn trẻ. Nó có tốc độ phát triển mạnh và di căn rất nhanh

Ung thư tinh hoàn dạng nonseminoma có thể chứa các tế bào như teratoma và một số tế bào ung thư biểu mô embryonal. Thậm chí đôi khi chỉ là một khối u đơn thuần

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap1

Dạng ung thư này cũng tỏ ra có hiệu quả đối với phương pháp xạ trị nhưng nó không “nhạy” như seminoma. Phương pháp hóa trị thường mang lại hiệu quả cao hơn cho nonseminomas, ngay cả khi ung thư đã lan rộng

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap2

Tuy nhiên, việc phân chia như vậy không phải lúc nào cũng có thể được thực hiện một cách rạch ròi. Bởi nhiều trường hợp được chẩn đoán mắc ung thư tinh hoàn bao gồm cả dạng seminoma và nonseminoma

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap3

Một điều bất ngờ nữa là rất hiếm các trường hợp ung thư khác bắt đầu ở tinh hoàn. Cho đến nay, ung thư phổ biến nhất được tìm thấy ở tinh hoàn nam giới trên 50 tuổi là ung thư hạch

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap4

Ung thư tinh hoàn xảy ra khi các tế bào trong tinh hoàn bị thay đổi tính chất, không còn phát triển và phân chia một cách có trật tự. Những tế bào ung thư này tăng trưởng không kiểm soát và tích tụ thành một khối u trong tinh hoàn

Nguồn kiến thức

Ung thư do các thuốc nội tiết gây nên

Điều trị thay thế estrogen người ta dùng để giảm các triệu chứng mãn kinh, để giảm nguy cơ bệnh tim do mạch vành bằng cách làm tăng lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao và để bảo tồn nồng độ muối khoáng trong xương ngừa chứng loãng xương và gãy xương. Liệu pháp này làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Việc sử dụng thuốc ngừa thai uống có gây ung thư vú hay không vẫn còn đang bàn cãi, mặc dù có vẻ nguy cơ ung thư vú tăng cao ở các phụ nữ trẻ và phụ nữ sớm sử dụng thuốc ngừa thai đường uống loại phối hợp trong đời sống sinh dục của họ.

Người ta thấy các kiểu hóa trị ung thư khác nhau rõ ràng đã làm tăng nguy cơ bệnh bạch cầu ở những bệnh nhân còn sống hơn một năm sau khi được chẩn đoán.

Các thuốc chống ung thư quan trọng khác như adriamycin và cisplatin cũng có tính sinh ung thư ở động vật thực nghiệm, nhưng cho đến nay vẫn không thấy có tính sinh ung thư ở người. Mặc dù nguy cơ bệnh bạch cầu tăng cao sau khi điều trị một số ung thư chọn lọc nhưng người ta vẫn so sánh điều này với thuận lợi điều trị hóa chất các bệnh như bệnh bạch cầu limphô ở trẻ em, bệnh hodgkin và ung thư tinh hoàn loại tế bào mầm.

 Dùng thuốc nội tiết không đúng cách có thể gây ung thư vú.

Dùng thuốc nội tiết không đúng cách có thể gây ung thư vú.

Tuy nhiên, quan trọng là sự quan tâm nguy cơ mắc bệnh ác tính thứ hai khi đánh giá trong một thời gian dài các phác đồ hóa trị ung thư và tìm kiếm các cách điều trị xen kẽ làm giảm mối nguy cơ này.

Vấn đề áp dụng đặc biệt cho các bệnh như là hodgkin vì loại bệnh này có tiên lượng rất tốt với cách điều trị hiện nay.

Các ung thư phụ khác được báo cáo ở bệnh nhân sống sót lâu dài sau hóa trị ung thư như limphô không hodgkin sau bệnh hodgkin, ung thư phổi và bàng quang sau điều trị bằng cyclophosphamid bệnh limphô không hodgkin.

Các loại thuốc khác gây ung thư ở bệnh nhân được điều trị là các hỗn hợp giảm đau chứa phenacetin, chúng làm tăng nguy cơ ung thư thận và ung thư biểu mô đường niệu khác; thuốc ức chế miễn dịch azaathioprien gây các u da, limphô không hodgkin và các bệnh ác tính hiếm gặp khác; và sự phối hợp 8 – methoxypsoralen và tia cực tím loại A có thể gây ung thư da sau khi dùng để điều trị các rối loạn ở da như bệnh vẩy nến.

Sự ức chế miễn dịch sau khi cấy ghép cơ quan cũng làm bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư. Tuy nhiên, vai trò sinh ung của các thuốc dùng để làm ức chế miễn dịch vẫn còn được bàn cãi.

Một số loại nội tiết tố được dùng trong các lĩnh vực thực hành y khoa khác nhau, thực tế một số nhóm nội tiết tố làm tăng nguy cơ ung thư sau khi dùng chúng. Người ta xác định rằng, thuốc diethylstillbestrol (DES) đã từng được dùng rộng rãi vào đầu thai kỳ để giảm cơn buồn nôn và ngừa dọa sẩy thai thì có thể gây ung thư âm đạo ở các con gái của bệnh nhân được điều trị và làm tăng nguy cơ bị ung thư tinh hoàn cho các con trai của họ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phát hiện nguyên nhân di truyền gây bệnh ung thư tinh hoàn

Hai nghiên cứu riêng rẽ về bộ gene người đã tìm ra những manh mối mới về nguyên nhân di truyền gây bệnh ung thư tinh hoàn và nguyên nhân không di truyền gây bệnh tim bẩm sinh.

Các nhà khoa học Đại học Pennsylvania (Mỹ) đã kiểm tra bộ gen của hơn 13.000 nam giới, so sánh mã gene của những người mắc bệnh ung thư tinh hoàn, căn bệnh ung thư phổ biến nhất ở thanh niên trẻ ngày nay, với mã gene của những người khỏe mạnh.

Họ đã phát hiện 4 biến thể gene mới làm tăng nguy cơ mắc căn bệnh chết người này.

bo-gene-nguoi

Như vậy, các nhà khoa học thế giới cho đến nay đã biết rõ về 17 biến thể gene làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư tinh hoàn.

Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại Đại học Y khoa Yale (cũng của Mỹ) đã phát hiện một dạng biến thể gene không có ở các cặp cha mẹ, nhưng lại xuất hiện ở con đẻ của họ.

Biến thể này là nguyên nhân gây ra ít nhất 10% các ca mắc bệnh tim bẩm sinh nghiêm trọng, hiện tượng khiếm khuyết ở thai nhi tác động đến gần 1% trẻ sơ sinh.

Giáo sư về di truyền học Rechard Lifton cho biết điều đáng chú ý nhất là các biến thể gen gây bệnh tim bẩm sinh chính là các biến thể gen gây bệnh tự kỷ.

Theo ông Lifton, các phát hiện này chứng tỏ có thể có những nguyên nhân chung gây các bệnh bẩm sinh thông thường.

Nghiên cứu về gene là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong y học.

Xác định được đặc tính gene gây bệnh sẽ mở ra triển vọng xét nghiệm gene để xác định các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao nhất, đồng thời mở đường cho việc nghiên cứu cách thức ngăn chặn bệnh phát triển hoặc tiêu diệt mầm bệnh.
Theo Vietnam+

ung thư tinh hoàn đã được chữa khỏi

Hầu hết các bệnh nhân ung thư tinh hoàn đã được chữa khỏi bệnh, theo một báo cáo mới đây của Tổ chức nghiên cứu Ung thư nước Anh.

Theo báo cáo này, tỉ lệ chữa khỏi của những bệnh nhân mắc căn bệnh ung thư tinh hoàn tại Anh đã tăng gấp 3 lần so với thập niên 70.

Hiện tại, hơn 96% mắc ung thư tinh hoàn được chữa khỏi. Trong khi đó, chỉ có khoảng chưa đầy 70% bệnh nhân khỏi bệnh cách đây 40 năm.

chup-ct

Mỗi năm, có khoảng 2.300 trường hợp đàn ông bị chẩn đoán mắc ung thư tinh hoàn ở Anh. Không giống như những căn bệnh ung thư khác, ung thư tinh hoàn thường xuất hiện ở những người trẻ tuổi. Những người mắc bệnh thường ở độ tuổi từ 15-49.

Báo cáo cũng chỉ ra rằng, việc tỉ lệ chữa khỏi bệnh tăng lên phần lớn là nhờ sử dụng loại thuốc cisplatin, một loại thuốc hóa trị liệu cũng được sử dụng trong việc điều trị ung thư phổi, bàng quang và buồng trứng ở phụ nữ.

Tiến sĩ Harpal Kumar, giám đốc của Tổ chức Nghiên cứu Ung thư nói: “Cisplatin là một thành công rất rõ ràng trong việc nghiên cứu và điều trị ung thư”.

“Nó giúp những bệnh nhân ung thư tinh hoàn có thể chống lại căn bệnh. Đồng thời là một ví dụ điển hình về những gì chúng ta có thể làm được với các nghiên cứu chuyên biệt”, Kumar nói thêm.

“Với một số căn bệnh ung thư, việc chữa khỏi giờ đây đã là một thực tế. 96% những người đàn ông mắc ung thư tinh hoàn giờ đây đã có thể chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, quan trọng là chúng ta nhận ra rằng vẫn còn 4% trong số họ vẫn không thể thoát khỏi căn bệnh. Chúng ta vẫn phải tiếp tục cố gắng để giúp những người bệnh này trong tương lai”, Kumar nói.

“Tiếp tục thực hiện những nghiên cứu có thể giúp chúng ta đánh bại tất cả các căn bệnh ung thư”, Kumar nói thêm.

Một trong những triệu chứng sớm của ung thư tinh hoàn là một khối u hoặc vết sưng bên trong tinh hoàn.

Martin Ledwick, thuộc Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Anh Quốc khuyến nghị những người đàn ông không nên bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo này.

“Mặc dù hầu hết các khối u trong tinh hoàn không dẫn tới ung thư. Tuy nhiên, quan trọng là bạn phải sớm nhận ra những dấu hiệu của nó thì mới có có hội chữa khỏi bệnh”.

Theo Vietnamnet, Telegraph

Cách phát hiện sớm ung thư tinh hoàn

Giai đoạn đầu của ung thư tinh hoàn thường không có dấu hiệu gì đặc biệt. Tuy nhiên nếu chú ý người bệnh có thể tự phát hiện những dấu hiệu bất thường. Nếu được phát hiện và điều trị sớm, hiệu quả điều trị sẽ tốt, vẫn đảm bảo khả năng sinh sản.

Triệu chứng của ung thư tinh hoàn thường có các biểu hiện: Có u nhỏ không đau ở vùng tinh hoàn, tinh hoàn to hơn bình thường, đau bên trong tinh hoàn, ngực và núm vú nam giới to hơn bình thường, có cảm giác nằng nặng ở bìu, gai sốt và hơi đau ở vú,… Nếu được phát hiện sớm thì đối với thể ung thư tinh hoàn thường gặp nhất là ung thư tuyến tinh và tỷ lệ chữa khỏi có thể gần 100%. Tuy nhiên nếu không được điều trị sớm, các tế bào ung thư có thể lan rộng ra các cơ quan gần đó vì thế việc phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường rất quan trọng.

ung-thu-tinh-hoan

Để có thể phát hiện sớm ung thư tinh hoàn, cách tốt nhất là nên chú ý tự kiểm tra tinh hoàn thường xuyên như sau:

– Kiểm tra vùng tinh hoàn ngay sau khi tắm bằng nước ấm, nước ấm làm giãn bìu, da vùng bìu đang mềm giúp dễ phát hiện bất thường ở tinh hoàn. Đặc biệt chú ý đến kích cỡ, độ lớn của tinh hoàn. Tinh hoàn bình thường của người trưởng thành chỉ to bằng ngón tay cái của người đó, không đau, mặt nhẵn.

– Dùng 2 tay nhẹ nhàng đưa đi đưa lại các viên tinh hoàn. Kiểm tra xem có u bướu gì bất thường không. Sờ nắn nhẹ tinh hoàn xem có thấy đau, có u nhỏ hay không nhẵn thì nên đi khám. Nên cảnh giác với những cục nhỏ dưới da như mụn cơm trước hoặc dọc theo tinh hoàn.

– Nếu tinh hoàn bị sưng, có u cục cứng dù nhỏ cũng cần được thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu và sinh dục khám. Nếu chẩn đoán xác định ung thư tinh hoàn, tùy mức độ bệnh các bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp. Cách điều trị thông thường là phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn bị bệnh, hóa trị để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại, để lại tinh hoàn lành, do đó vẫn đảm bảo khả năng tình dục và sinh sản.
Đối với những người có nguy cơ cao như: Những người ở trong gia đình có tiền sử ung thư tinh hoàn; Tinh hoàn ẩn không di chuyển xuống bìu trong tuổi thiếu niên; Bị chấn thương tinh hoàn; Viêm tinh hoàn do quai bị sau tuổi dậy thì; Những người làm việc trong điều kiện nhiệt độ quá nóng như thợ mỏ, lái xe đường dài,… cần thường xuyên kiểm tra tinh hoàn và khám nam khoa định kỳ để phát hiện sớm ung thư tinh hoàn.

Bác sĩ Vũ Minh

Những trường hợp có nguy cơ mắc bệnh ung thư tinh hoàn

Ung thư tinh hoàn là tình trạng xuất hiện một khối u ác tính tại một hay cả hai tinh hoàn.

Ung thư tinh hoàn là một căn bệnh hiếm gặp trong nhóm bệnh ung thư, tuy nhiên nếu sảy ra bệnh cũng gây ra nguy hiếm lớn đối với sức khỏe và tính mạng. Vì vậy nam giới cần có những kiến thức nhất định về vấn đề này để có sự phát hiện và ngăn chặn kịp thời căn bệnh nguy hiểm này.

Đặc điểm của bệnh
nhung-truong-hop-co-nguy-co-mac-benh-ung-thu-tinh-hoan
Ung thư tinh hoàn là tình trạng xuất hiện một khối u ác tính tại một hay cả hai tinh hoàn. Khối u ác tính này cứ ngày một to ra và rồi nó xâm lấn ra toàn bộ tinh hoàn. Đến một mức độ nào đó, toàn bộ tinh hoàn chỉ toàn là khối ung thư.

Do tinh hoàn là một cơ quan sinh sản đặc thù của nam giới nên ung thư tinh hoàn là một bệnh đặc thù của giới này. Nó là nguyên nhân ảnh hưởng không những tới khả năng sinh sản mà còn ảnh hưởng tới chất lượng phát triển đặc điểm giới tính nam.

Ở một cấu trúc bình thường, tinh hoàn chỉ gồm ba tế bào cơ bản là tinh nguyên bào, tế bào sertoli và tế bào kẽ (còn gọi là tế bào Leydig). Ung thư tinh hoàn có thể đến từ ba loại tế bào này. Trong ba loại tế bào trên chỉ có hai loại tế bào là quan trọng nhất bởi nó là đặc thù và quyết định chức năng giới tính sống còn của nam giới. Đó là tinh nguyên bào có nhiệm vụ sản sinh tinh trùng, những tinh binh chịu trách nhiệm thụ tinh và tế bào kẽ có nhiệm vụ sản xuất ra hormon sinh dục nam đặc dụng là testosterol.

Đặc điểm của khối u ác tính trong ung thư tinh hoàn là tế bào của nó có sức phát triển mạnh mẽ, lấn át và triệt tiêu hoàn toàn một dòng tế bào hay cả ba dòng tế bào này. Sức phát triển của nó mạnh đến nỗi nó còn có thể phát triển vượt ra ngoài tinh hoàn và đi đến những cơ quan ở xa gọi là di căn. Sự di căn là điều kiện châm ngòi cho những biến chứng phức tạp trong ung thư nói chung và trong ung thư tinh hoàn nói riêng.

Những trường hợp có nguy cơ mắc bệnh cao nhất

Nguy cơ mạnh nhất và bị coi là nguy cơ rõ rệt nhất là tình trạng tinh hoàn ẩn. Tinh hoàn ẩn là tình trạng tinh hoàn không nằm trong bìu như bình thường, tức là bìu trống rỗng và tinh hoàn thì nằm chỗ khác. Các vị trí nó có thể định cư là trong ổ bụng hay trên thành bụng. Đây là nguy cơ cần được lưu ý hàng nhất. Tỉ lệ ung thư tinh hoàn do nó gây ra là dao động từ 2,5-14%.

Nghĩa là cứ trong 100 trẻ em bị tinh hoàn ẩn mà không được xử trí đúng và kịp thời thì 3-14 trong số chúng bị chứng bệnh ung thư tinh hoàn. Nếu tinh hoàn ở trong bụng thì nguy cơ cao hơn những 4 lần so với ở trên thành bụng. Do vậy mà tất cả những em bé trai mà có tinh hoàn ẩn, chúng ta phải đưa ngay tinh hoàn trở về vị trí bằng phẫu thuật. Ngay cả khi đã phẫu thuật đưa tinh hoàn xuống bìu, chúng ta vẫn phải theo dõi tinh hoàn trong tối thiểu là 3-5 năm sau đó. Bởi nguy cơ ung thư tinh hoàn vẫn có thể xảy ra.

Nguy cơ thứ hai phải đề cập đến là tuổi. Tuổi là một nguy cơ khá rõ. Người ta cho rằng, ung thư tinh hoàn có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng lứa tuổi từ 15-35 bị ung thư tinh hoàn nhiều nhất. Có tới trên 50% trường hợp gặp ở độ tuổi trong giai đoạn này, còn các giai đoạn lứa tuổi khác, mỗi giai đoạn chỉ chiếm có vài phần trăm đến 10%. Do vậy mà tất cả những nam giới trong độ tuổi này cần hết sức chú ý.

Yếu tố di truyền cũng là một yếu tố quan trọng của bệnh. Nếu một bé trai có bố bị ung thư tinh hoàn thì đứa bé có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 4 lần so với em bé đồng trang lứa. Còn nếu anh em trai cùng một thế hệ bị bệnh thì tỉ lệ không may với em bé cao hơn gấp 8 lần.

Môi trường sinh hoạt: những người thợ mỏ, công nhân dầu khí, lái xe vận tải là những người dễ bị ung thư tinh hoàn. Với những tài xế lái xe đường dài, người ta cho là nhiệt độ quá nóng chính là nguyên nhân gây ra bệnh. Bởi thế mà chúng ta vẫn thường được khuyên là không mặc quần lót quá chật, nhất là những trang phục bó sát của nam giới.

Ngoài ra, ung thư tinh hoàn còn gặp trong một số trường hợp khác: sắc tộc, bị nhiễm HIV, Klinefelter, chàm da bẩm sinh, u sắc tố da, tinh hoàn bị chấn thương, viêm tinh hoàn do quai bị sau tuổi dậy thì, người mẹ sử dụng hormone trước khi sinh….

Nguồn st

Sức khỏe nam giới cần được quan tâm nhiều hơn

Sức khỏe của nam thường ít được chú trọng hơn so với phụ nữ. Chính quan niệm này đã dẫn đến nhiều điều đáng tiếc cho các bạn nam về vấn đề sức khỏe khi đã quá muộn.

benh-nam-gioi-can-duoc-chu-trong

Phát hiện sớm và thực hành lối sống tốt có thể ngăn ngừa và điều trị những điều kiện này. Thường xuyên kiểm tra thể chất và làm các cuộc xét nghiệm sau tuổi 30 luôn luôn được khuyến cáo.

Bệnh của trái tim

Thức ăn quá béo hoặc cholesterol có thể làm tăng nguy cơ của bệnh tim. Ngoài ra, hút thuốc lá hoặc sử dụng sản phẩm thuốc lá cùng với việc uống rượu quá mức cũng là những nguyên nhân hàng đầu. Duy trì trọng lượng khỏe mạnh và uống rượu vừa phải là hai cách chính để duy trì tốt sức khỏe tim mạch. Đồng thời, bạn cần một chế độ ăn uống bổ dưỡng gồm trái cây, rau, ngũ cốc nguyên hạt, thịt nạc và bắt buộc cần có một thói quen tập thể dục.

Vấn đề của tuyến tiền liệt

Dù ung thư tuyến tiền liệt là một trong những bệnh phổ biến nhất ở nam giới trên 50, nhưng nó lại là một trong những bệnh ít được điều trị nhất. Phát hiện sớm chính là nguyên nhân mang lại sự khác biệt giữa sự sống và cái chết trong trường hợp này. Bệnh tuyến tiền liệt xảy ra khi tuyến tiền liệt bị nhiễm bệnh do tác nhân gây bệnh như vi khuẩn. Đi tiểu són sau khi đi tiểu hoặc thường xuyên có cảm giác muốn tiểu có thể là do tuyến tiền liệt phình to được biết đến như là bướu lành tuyến tiền liệt.

Ung thư tinh hoàn

Ung thư tinh hoàn thường gặp nhất là trong độ tuổi từ 20 đến 39. Phát triển ung thư tinh hoàn sẽ có nguy cơ cao nếu có những phát triển bất thường ở tinh hoàn, chẳng hạn như một tinh hoàn ẩn. Các triệu chứng của dạng ung thư này bao gồm đau, sưng và cục u ở tinh hoàn hoặc bẹn. Việc điều trị có thể là phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị.

Ung thư phổi

Hút thuốc lá là nguyên nhân thường thấy nhất của ung thư phổi, dẫn đến các nguyên nhân phổ biến khác gây tử vong ở nam giới vì ung thư. Hãy chuẩn bị cho mình chế độ ăn uống bổ dưỡng và cân bằng và nên tham khảo ý kiến bác sĩ để dò tìm ung thư thường xuyên. Đồng thời hãy hạn chế tiếp xúc với các chất có tiềm năng gây ung thư, chẳng hạn như radon, bức xạ, amiăng và ô nhiễm không khí.

Rối loạn cương dương

Rối loạn chức năng cương cứng xảy ra khi một người nào đó không thể duy trì hoặc đạt được sự cương cứng để giao hợp. Yếu tố tâm lý và sinh học có thể giảm hoặc loại bỏ hứng thú tình dục của bạn. Ngoài ra, đàn ông cũng gặp các vấn đề với xuất tinh.

Rối loạn chức năng cương dương có thể có sự góp phần của hàng loạt các yếu tố, chẳng hạn như căng thẳng, bệnh tật, thuốc men hoặc các vấn đề về tình cảm. Trò chuyện thẳng thắn với bạn tình và bác sĩ của bạn về các vấn đề tình dục sẽ giúp bạn gỡ rối những vấn đề này.

Theo Lam sao/thuocbietduoc