Tag Archives: ung thư đại tràng

15 triệu chứng ung thư nam giới hay bỏ qua

Khi có các triệu chứng này nhất định phải đi khám sớm, không nên để muộn. Nhưng khi nói đến đi khám bệnh, người đàn ông thường lười biếng, nhiều người chỉ chịu đi khi bị thúc giục bởi vợ con hoặc người thân.

Triệu chứng 1: ngực lớn
Đàn ông vẫn có thể bị ung thư vú dù không phổ biến. Bất kỳ khối lớn nào mới có trong khu vực vú của một người đàn ông đều cần được kiểm tra bởi bác sĩ.
Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ xác định một số dấu hiệu đáng lo ngại khác liên quan đến vú mà nam cũng như nữ cần phải lưu ý, bao gồm:
– Da lún xuống hoặc nhăn.
– Núm vú co rút.
– Da bị đỏ hoặc có vảy ở núm vú hoặc da ngực.
– Dịch ra từ núm vú.

15-trieu-chung-ung-thu-nam-gioi-hay-bo-qua

Triệu chứng 2: đau
Khi có tuổi, người ta thường phàn nàn mệt mỏi và đau đớn tăng. Nhưng đau mơ hồ, có thể là một triệu chứng sớm của một số bệnh ung thư. Hầu hết những người than đau không nghĩ là do ung thư.

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, bất cứ đau dai dẳng nào cũng cần đi khám bệnh để kiểm tra. Các bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận, biết thêm các chi tiết, và sau đó quyết định xem tiếp tục kiểm tra tiếp có cần thiết không. Nếu không phải là ung thư, bạn vẫn sẽ được hưởng lợi từ việc đi khám bệnh. Bởi vì các bác sĩ có thể tìm ra nguyên nhân gây đau và đưa ra điều trị thích hợp cho bạn.

Triệu chứng 3: các thay đổi ở tinh hoàn

Ung thư tinh hoàn thường xảy ra ở nam giới độ tuổi từ 20 – 39. Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyến cáo đàn ông nên được kiểm tra tinh hoàn như là một phần của kiểm tra sức khỏe thường quy liên quan đến ung thư. Một số bác sĩ cũng đề nghị nên tự kiểm tra hàng tháng.

Bất kỳ sự thay đổi về kích thước của tinh hoàn, chẳng hạn như sự tăng trưởng hay co rút nên có một mối quan tâm.

Ngoài ra, không nên bỏ qua bất kỳ dấu hiệu sưng nào, hoặc cảm giác nặng nề trong bìu.
Bác sĩ cần kiểm tra tinh hoàn và đánh giá tổng thể sức khỏe của bạn. Nếu nghi ngờ ung thư, xét nghiệm máu có thể được chỉ định. Bạn cũng có thể có một cuộc kiểm tra siêu âm bìu của bạn, và bác sĩ có thể quyết định sinh thiết.

Triệu chứng 4: thay đổi ở các hạch

Nếu bạn nhận thấy một khối u hoặc sưng ở các hạch bạch huyết dưới nách hay ở cổ – hoặc ở bất cứ nơi nào khác – nó có thể là một lý do để quan tâm. BS. Hannah Linden (trường y Đại học tổng hợp Washington) nói: “Nếu bạn có một hạch bạch huyết càng ngày càng lớn hơn, và thời gian này dài hơn một tháng, hãy đi khám bệnh”.

Bác sĩ sẽ kiểm tra cho bạn và xác định bất kỳ vấn đề nào liên quan có thể giải thích sự lớn lên của hạch bạch huyết, chẳng hạn như nhiễm trùng. Nếu không bị nhiễm trùng, bác sĩ thường sẽ sinh thiết.

Triệu chứng 5: sốt

Nếu bạn bị sốt không rõ nguyên nhân, nó có thể do ung thư. Hầu hết các bệnh ung thư sẽ gây sốt tại một số thời điểm. Thường, sốt xảy ra sau khi ung thư đã lan từ vị trí ban đầu của nó và xâm chiếm một phần khác của cơ thể. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, sốt cũng có thể được gây ra bởi bệnh ung thư máu như u lympho hoặc bệnh bạch cầu.
Tốt nhất là không bỏ qua một cơn sốt không tìm được nguyên nhân.

Triệu chứng 6: sụt cân không cố ý

Giảm cân bất ngờ là một mối lo ngại. Nếu một người đàn ông mất hơn 10% trọng lượng cơ thể của mình trong một khoảng thời gian từ 3 – 6 tháng, nên đi khám bệnh ngay.

Bác sĩ sẽ kiểm tra tổng thể, hỏi bạn những câu hỏi về chế độ ăn uống và tập thể dục của bạn, và hỏi về các triệu chứng khác. Dựa trên thông tin đó, bác sĩ sẽ quyết định những xét nghiệm cần thiết khác.

Triệu chứng 7: đau cồn cào vùng bụng và trầm cảm

Bất kỳ đàn ông (hay đàn bà), bị đau ở bụng và cảm thấy trầm cảm cần phải đi kiểm tra sức khỏe. Các chuyên gia đã tìm thấy mối liên hệ giữa trầm cảm và ung thư tuyến tụy. Các triệu chứng khác của bệnh ung thư tuyến tụy có thể bao gồm vàng da, thay đổi màu phân – thường là màu xám – nước tiểu màu sậm. Cũng có thể xảy ra.ngứa toàn thân

Hãy yêu cầu bác sĩ khám cẩn thận và làm bệnh án cho bạn. Các bác sĩ nên làm các xét nghiệm như siêu âm, CT-Scan hoặc cả hai cũng như các xét nghiệm khác.

Triệu chứng 8: mệt

Mệt mỏi là một triệu chứng mơ hồ khác có thể chỉ ra ung thư ở nam giới. Tuy nhiên, nhiều vấn đề khác cũng có thể gây ra mệt mỏi. Giống như sốt, mệt mỏi có thể bị sau khi ung thư đã phát triển. Tuy nhiên, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, nó cũng có thể xảy ra khi bắt đầu bị các bệnh ung thư như bệnh bạch cầu, ung thư đại tràng, hoặc ung thư dạ dày.

Nếu bạn thường xuyên cảm thấy vô cùng mệt mỏi và bạn không hết mệt với nghỉ ngơi, hãy đi khám bệnh.

Triệu chứng 9: ho dai dẳng

Loại trừ ho do cảm lạnh, cúm, và các bệnh dị ứng, đôi khi do một tác dụng phụ của thuốc, ho kéo dài – được định nghĩa là kéo dài hơn ba hoặc bốn tuần – hoặc có thay đổi về ho thì không nên bỏ qua. Các kiểu ho này phải đi khám bệnh. Chúng có thể là một triệu chứng của bệnh ung thư, hoặc chúng có thể chỉ ra một số vấn đề khác như viêm phế quản mãn tính hoặc trào ngược acid.
Bác sĩ nên làm bệnh án cẩn thận, khám họng của bạn, nghe phổi của bạn, xác định chức năng của chúng với kiểm tra đo phế dung (spirometry), và nếu bạn là người hút thuốc, cần chụp X-quang.

Triệu chứng 10: khó nuốt

Một số đàn ông có thể bị khó nuốt, nhưng sau đó bỏ qua nó. Theo thời gian, họ thay đổi chế độ ăn uống của họ với một chế độ ăn uống nhiều chất lỏng họ bắt đầu uống canh nhiều hơn nhưng nuốt khó, có thể là một dấu hiệu của một bệnh ung thư đường tiêu hóa (GI), chẳng hạn như ung thư thực quản.

Hãy cho bác sĩ biết nếu bạn đang gặp khó khăn khi nuốt. Bác sĩ nên làm bệnh án cẩn thận và có thể cho bạn chụp X-quang có chất cản quang. Bác sĩ cũng có thể gửi cho bạn đến một chuyên gia về nội soi đường tiêu hóa trên để kiểm tra thực quản và đường tiêu hóa trên.

Triệu chứng 11: các thay đổi ở da

Bạn nên cảnh giác không những thay đổi duy nhất ở nốt ruồi – một dấu hiệu nổi tiếng của ung thư da tiềm ẩn – mà còn các thay đổi sắc tố da, bác sĩ Mary Daly cho biết. Bác sĩ Daly là một bác sĩ chuyên khoa ung thư và là trưởng khoa di truyền học lâm sàng tại Trung tâm Ung thư Fox Chase ở Philadelphia.

Bác sĩ Daly cũng nói rằng đột nhiên phát triển chảy máu trên da của bạn hoặc bong da quá nhiều là lý do để đi khám bệnh. Thật khó để nói rằng bao lâu là quá lâu để thực hiện thay đổi ở da, nhưng hầu hết các chuyên gia cho rằng không phải chờ đợi lâu hơn vài tuần.

Để tìm ra nguyên nhân gì gây ra những thay đổi da, bác sĩ sẽ hỏi bệnh sử và thực hiện khám toàn thân cẩn thận. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu sinh thiết để loại trừ ung thư.

Triệu chứng 12: chảy máu nơi không nên có

Bất cứ lúc nào bạn thấy có máu đến từ một phần cơ thể mà bạn chưa bao giờ nhìn thấy nó trước, hãy đi gặp bác sĩ. Nếu bạn bắt đầu ho ra máu, khạc nhổ ra máu, có máu trong phân hoặc trong nước tiểu, bạn nên đi khám bệnh. Khi cho rằng máu trong phân chỉ đơn giản là từ bệnh trĩ là một sai lầm vì nó thể là ung thư ruột kết.

Bác sĩ sẽ hỏi bạn những câu hỏi về các triệu chứng của bạn. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm như nội soi. Đây là một kiểm tra đại tràng bằng cách sử dụng một ống dài linh hoạt với một máy ảnh ở đầu ống. Mục đích của nội soi là để xác định bất kỳ dấu hiệu của ung thư hay tiền ung thư hoặc xác định bất kỳ nguyên nhân khác gây chảy máu.

Triệu chứng 13 : thay đổi ở miệng

Nếu bạn hút thuốc hoặc nhai thuốc lá, bạn cần phải đặc biệt cảnh giác với bất kỳ mảng trắng nào bên trong miệng hoặc đốm trắng trên lưỡi của bạn. Những thay đổi này có thể cho thấy bạch sản, một khu vực tiền ung thư có thể xảy ra với các kích thích liên tục. Tình trạng này có thể tiến triển thành ung thư miệng.

Bạn nên báo cáo những thay đổi với bác sĩ hoặc nha sĩ của bạn. Nha sĩ hoặc bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận, kiểm tra các thay đổi, và sau đó quyết định những xét nghiệm có thể là cần thiết khác.

Triệu chứng 14: các vấn đề đường tiểu

Như người đàn ông có tuổi, vấn đề tiết niệu trở nên thường xuyên hơn.
Những vấn đề này bao gồm:
– Đi tiểu thường xuyên hơn, đặc biệt là vào ban đêm.
– Cảm giác mắc tiểu cấp bách.
– Một cảm giác không tiểu hết.
– Không thể để bắt đầu tiểu.
– Nước tiểu rò rỉ khi cười hoặc ho.
– Một sự suy yếu của dòng nước tiểu.
Tuy nhiên, một khi bạn nhận thấy những triệu chứng này, bạn nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế.
Bác sĩ sẽ kiểm tra trực tràng kỹ thuật số, để biết tuyến tiền liệt có bị lớn lên không hoặc có các nốt không. Tuyến tiền liệt thường to ra khi người nam có tuổi. Nó thường do một điều kiện không phải ung thư gây ra được gọi là tăng sản tuyến tiền liệt lành tính hoặc BPH (benign prostatic hyperplasia). Khi cần thiết, bác sĩ có thể sẽ làm một số xét nghiệm khác.

Triệu chứng 15: khó tiêu

Nhiều người đàn ông, đặc biệt là khi họ lớn tuổi, họ nghĩ bị “cơn đau tim” khi họ bị khó tiêu. Nhưng khó tiêu dai dẳng có thể là ung thư thực quản, cổ họng, hoặc dạ dày. Khó tiêu dai dẳng hoặc xấu đi phải được báo cáo với bác sĩ của bạn.

Bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận và đặt câu hỏi về các giai đoạn khó tiêu.
Dựa trên lịch sử bệnh và câu trả lời của bạn cho các câu hỏi, các bác sĩ sẽ quyết định những xét nghiệm nào là cần thiết.

Những hiểu lầm đáng tiếc về ung thư đại tràng

1 – Ung thư đại tràng là bệnh của người da trắng. Thực tế cho thấy đàn ông và phụ nữ trong các sắc tộc có tỷ lệ mắc bệnh tương đương nhau. Số liệu thống kê (2010) tại Mỹ cho thấy trong 102.900 trường hợp mắc ung thư đại tràng thì có 49.470 ca thuộc về nam giới và 53.430 ca là phụ nữ. Vấn đề chủng tộc không ảnh hưởng nhiều đến khả năng mắc ung thư đại tràng mà tuổi tác mới thực sự là yếu tố hàng đầu gây bệnh.

nhung-hieu-lam-dang-tiec-ve-ung-thu-dai-trang2

2 – “Không có dấu hiệu nghĩa là tôi không mắc bệnh”. Đây được xem là quan niệm sai lầm phổ biến nhất ở người dân về ung thư đại tràng. Tiến sĩ Emina Huang đến từ Đại hoc Michigan (Mỹ) cho biết, ung thư đại tràng không có dấu hiệu đặc trưng nào cả. Hơn nửa các ca chẩn đoán mắc ung thư đều không có dấu hiệu mắc bệnh sớm. Những thay đổi bất thường như phân có lẫn máu, chảy máu trực tràng, đau bụng, giảm cân không phải là dấu hiệu chắc chăn của bệnh song bạn cần phải tiến hành xét nghiệm sàng lọc để sớm tìm ra chính xác nguyên nhân và có phương pháp điều trị thích hợp.

3 – Chuẩn bị nội soi đại tràng là việc không đơn giản. Trước khi tiến hành nội soi, bạn cần được làm sạch đại tràng bằng các loại đồ uống đặc biệt một đến hai ngày. Tuy nhiên, bạn sẽ có nhiều lựa chọn dễ dàng hơn nếu tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

4 – Nội soi đại tràng là bẩn thỉu và gây khó chịu. Trong quá trình nội soi, bệnh nhân được dùng thuốc an thần để tránh cảm giác đau rát, khó chịu thường trực. Thông thường, nội soi chỉ mất chừng 15 đến 30 phút và hôm sau bạn có thể trở lại với thói quen sinh hoạt bình thường.

nhung-hieu-lam-dang-tiec-ve-ung-thu-dai-trang4

5 – Người nào cũng có thể được tiến hành nội soi. Các bác sĩ chỉ khuyến khích thực hiện phương pháp này đối với người từ 50 tuổi trở lên và một số trường hợp đặc biệt khác mà thôi. Nếu còn trẻ nhưng từng có người thân mắc bệnh; thường xuyên hút thuốc lá hoặc từng chịu sự dày vò của viêm loét đại tràng, bệnh Crohn thì bạn nên trao đổi với bác sĩ để tìm cách khống chế nguy cơ mắc ung thư đại tràng.

6 – Nội soi là phương pháp sàng lọc bệnh duy nhất. Trong y học, có nhiều phương pháp giúp sớm phát hiện ung thư đại tràng. Cụ thể, bạn có thể lựa chọn soi đại tràng sigma hay thụt bari chụp X – quang đại tràng. Tuy nhiên, phương pháp nội soi được đánh giá là mang lại hiệu quả hơn cả. Nó giúp kiểm tra toàn bộ đại tràng, sử dụng để sàng lọc, chẩn đoán và loại bỏ các polyp tiền ung thư. Ngoài ra, nội soi còn giúp phát hiện các bệnh ung thư khác trong cùng một lần kiểm tra.

7 – Sở hữu một polyp đồng nghĩa với việc mắc ung thư. Dù có thể biến chứng thành tế bào ung thư nhưng hầu hết các polyp là lành tính. Đồng thời nó có thể dễ dàng được loại bỏ trong khi nội soi đại tràng.

8 – Nội soi đại tràng chỉ có tác dụng sàng lọc phát hiện bệnh. Nội soi không chỉ có tác dụng sàng lọc phát hiện bệnh mà còn có khả năng loại bỏ các polyp và tế bào ung thư nhỏ. Nếu kết quả nội soi cho thấy bạn có polyp trong cơ thể thì bác sĩ sẽ dễ dàng loại bỏ nó bằng một vài thao tác nhỏ. Tuy nhiên, nếu nội soi cho kết quả cơ thể đã mắc ung thư thì bác sĩ buộc phải lựa chọn các phương pháp khác như xạ trị, hóa trị hay phẫu thuật.

9 – Mắc ung thư đại tràng đồng nghĩa với “án tử”. Nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm thì khả năng sống sót đạt khoảng 95%. Tuy nhiên, một khi căn bệnh đã di căn tới gan thì tử vong chỉ là điều sớm muộn.

nhung-hieu-lam-dang-tiec-ve-ung-thu-dai-trang

10 – Phẫu thuật điều trị ung thư đại tràng có thể gây biến dạng. Thực tế, những thành tựu trong công nghệ phẫu thuật mới giúp quá trình xâm lấn chỉ để lại vết sẹo nhỏ trên cơ thể. Bệnh nhân phẫu thuật nội soi nhanh hồi phục hơn so với những người phải thực hiện những vết rạch lớn.

Áp xe gan

Biến chứng thường gặp và nặng nề nhất là nhiễm trùng huyết với các biểu hiện như sốt cao liên tục 39 – 40oC, kèm rét run, tình trạng nhiễm khuẩn và nhiễm độc nặng. Gan to rất đau, tắc mật nặng không đáp ứng với điều trị.

Áp xe gan – đường mật là bệnh cảnh khá phổ biến đứng hàng thứ hai sau áp xe gan amíp, đồng thời là một cấp cứu về tiêu hóa, thường do sỏi mật và giun đũa chui vào đường mật – túi mật, nhất là khi có tắc nghẽn ống mật quản. Bệnh nhân cần được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời để phòng những biến chứng có thể dẫn tới tử vong.

Nguyên nhân bị áp xe đường mật?

Trong điều kiện bình thường, cơ vòng Oddi hoạt động tốt, dòng chảy của mật quản trong đường mật bình thường, trong đường mật không có vi khuẩn hoặc số lượng rất ít không đủ gây bệnh.

Trong trường hợp có sỏi đường mật gây tắc nghẽn, ứ trệ và tăng áp lực dịch mật tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn đi ngược dòng và xâm nhập gây nhiễm khuẩn đường mật và cuối cùng có thể gây ra áp xe gan mật.

ap-xe-gan

Trong giun chui ống mật, ngoài cơ chế cơ học như sỏi, giun còn trực tiếp mang vi khuẩn từ đường ruột và có thể cả ký sinh trùng vào đường mật nên càng dễ làm viêm đường mật và áp xe mật quản.

Ngoài ra còn có các bệnh lý khác như ung thư đường mật, u đầu tụy, bệnh lý cơ vòng Oddi. Viêm xơ chít hẹp cơ vòng Oddi hoặc các bệnh lý hiếm gặp hơn như loét dạ dày – tá tràng thủng vào đường mật, ung thư đại tràng, ung thư dạ dày hoặc các thủ thuật soi chụp đường mật ngược dòng có thể gây viêm nhiễm đường mật.

Biểu hiện của bệnh

Bệnh thường khởi phát đột ngột, tự nhiên xảy ra mà không có một dấu hiệu nào báo trước hoặc có thể xuất hiện sau khi ăn nhiều dầu mỡ; với các biểu hiện như đau, sốt, vàng da, vàng mắt. Có thể kèm theo dấu hiệu tổn thương túi mật với các biểu hiện như túi mật to, đau, tổn thương đường mật ngoài gan, viêm ống mật chủ và triệu chứng của tụy.

Nếu không được điều trị hoặc không đáp ứng sẽ chuyển thành giai đoạn áp xe gan mật quản thường vào tuần thứ hai, với triệu chứng nhiễm khuẩn ngày càng nặng với sốt cao kèm rét run. Tắc mật ngày càng nhiều với vàng da, vàng mắt đậm. Gan to nhanh rất đau, có điểm đau khu trú nhiều chỗ. Ngoài ra còn có thể có túi mật to, đau hoặc dấu hiệu tổn thương ống mật chủ, tụy.

Chẩn đoán dựa vào các biểu hiện lâm sàng như trên kết hợp với xét nghiệm máu (bạch cầu tăng cao, tăng bilirubin trực tiếp, phosphatase kiềm tăng, GGT và men ALAT, ASAT có thể tăng) và quan trọng là các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hay chụp cắt lớp vi tính. Ở đây siêu âm rất có giá trị để phát hiện số lượng và vị trí các ổ áp xe đồng thời giúp phát hiện nguyên nhân như giun, sỏi, thương tổn các cơ quan khác như đường mật và túi mật. CT scanner cũng cho kết quả tương tự. Chụp và nội soi đường mật ngược dòng cũng là một nghiệm pháp có giá trị cao, ngoài ý nghĩa chẩn đoán trong trường hợp siêu âm cho kết quả đường mật âm tính mà còn là một biện pháp hữu hiệu để điều trị nguyên nhân gây tắc nghẽn đường mật do sỏi hoặc do giun.

Biến chứng của áp xe gan đường mật

Biến chứng của áp xe gan – đường mật thường nhiều và nặng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Biến chứng thường gặp và nặng nề nhất là nhiễm trùng huyết với các biểu hiện như sốt cao liên tục 39 – 40oC, kèm rét run, tình trạng nhiễm khuẩn và nhiễm độc nặng. Gan to rất đau, tắc mật nặng không đáp ứng với điều trị.

Hội chứng gan thận do nhiễm khuẩn và tắc mật nặng, do bilirubin máu quá cao gây tắc ống thận; Tràn dịch màng phổi và màng tim; Viêm tụy cấp: có thể là một bệnh cảnh đi kèm; Xơ gan mật: đây là một biến chứng lâu dài sau nhiều đợt viêm nhiễm làm hoại tử xơ hóa gan mật; Vỡ ổ áp xe vào ổ bụng gây viêm phúc mạc toàn thể; Chảy máu đường mật: đây là một biến chứng phối hợp do cơ học và viêm nhiễm thường là nặng nề với nôn ra máu hình thỏi bút chì, bệnh cảnh xuất huyết nội tạng gây choáng phối hợp xuất huyết và nhiễm khuẩn.

Điều trị như thế nào?

Đây là bệnh cảnh nặng, ngoài nhiễm khuẩn còn kèm nhiễm độc và biến chứng ngoại khoa, do đó cần đặt trong bối cảnh điều trị nội ngoại khoa và hồi sức cấp cứu. Nghỉ ngơi, truyền dịch để nuôi dưỡng và cân bằng nước và điện giải. Dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ trơn như nospa hay sparmaverin. Thường sử dụng các kháng sinh có phổ tác dụng trên vi khuẩn gram âm như quinolon thế hệ 2. Trong trường hợp bệnh nặng cần sử dụng phối hợp kháng sinh và dùng bằng đường tiêm, thường phối hợp thêm cephalosporin thế hệ 3 như cefotaxim, ceftriazon hoặc cefuroxim. Ngoài ra cần chú ý đến nhiễm các vi khuẩn kị khí, do đó cần phối hợp thêm metronidazol hoặc clindamycin.

Điều trị ngoại khoa khó thực hiện vì bệnh nhân đau trong tình trạng nhiễm khuẩn nặng có thể có choáng, hơn nữa ở đây có nhiều ổ áp xe kích thước nhỏ có thể nằm sâu khó phát hiện hoặc loại bỏ. Nói chung phẫu thuật chủ yếu nhằm để loại bỏ các tắc nghẽn cơ học như giun hoặc sỏi.

Để dự phòng, cần duy trì một chế độ ăn uống bảo đảm vệ sinh, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, định kỳ 6 tháng đến 1 năm tẩy giun một lần để hạn chế các yếu tố thuận lợi cho bệnh lý viêm nhiễm đường mật xảy ra.

Theo suckhoedoisong

Tìm hiểu về bệnh ung thư đại tràng

Trong những năm gần đây, ung thư đại tràng có xu hướng tăng lên ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Biểu hiện lâm sàng của bệnh nghèo nàn, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở đại tràng.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Cho đến nay người ta vẫn chưa rõ nguyên nhân gây ra ung thư đại tràng. Một số bệnh hoặc trạng thái bệnh được coi là dễ chuyển thành ung thư đại tràng:

Polyp: polyp nhung mao, polyp đơn độc kích thước l – 2cm trở lên. Bệnh polyp đại tràng ở những phụ nữ bị ung thư vú hay ung thư tử cung có nguy cơ bị ung thư đại tràng cao hơn những người không bị. Bệnh viêm loét đại tràng, bệnh Crohn đại tràng cũng có thể là cơ sở cho ung thư đại tràng phát triển (3-5%).

Vai trò của các chất ăn uống: có sự liên quan giữa bệnh và sự tiêu thụ nhiều năng lượng, thịt, dầu mỡ và sự gia tăng cholesterol trong máu cũng như bệnh mạch vành.

Người ăn nhiều chất xơ thì ít có nguy cơ ung thư đại tràng hơn người ăn ít chất xơ.

Yếu tố di truyền: những người gia đình có người đã bị ung thư đại tràng hoặc ung thư nhiều tạng khác hoặc có bệnh polyp gia đình… tỷ lệ bị ung thư đại tràng cao hơn người ở các gia đình khác.

tim-hieu-ve-ung-thu-dai-trang

Biểu hiện của bệnh

Ung thư đại tràng với một thời gian dài không có triệu chứng, khi có các biểu hiện sau đây cần phải đến khám bác sĩ:

Chảy máu trực tràng: bất luận theo kiểu gì và số lượng bao nhiêu.

Thay đổi thói quen bài phân: táo bón, tiêu chảy hoặc táo bón, tiêu chảy xen kẽ mới xuất hiện gần đây và kéo dài.

Đau quặn bụng và đại tiện có mót rặn.

Sốt thiếu máu và tổng trạng suy giảm.

Khi đã phát hiện khối u, tùy theo vị trí của khối u mà có những triệu chứng thay đổi như sau:

Ung thư đại tràng phải: biểu hiện bởi các triệu chứng toàn thân như: mỏi mệt, thiếu máu nhược sắc, sốt và đau bụng mơ hồ, khám thường sờ được khối u vùng hố chậu phải hoặc nửa bụng bên phải trong 50% trường hợp;biểu hiện rối loạn tiêu hóa chủ yếu là tiêu chảy.

Ung thư đại tràng trái: thường nhanh chóng đưa đến chít hẹp lòng đại tràng đưa đến táo bón và đau quặn bụng. Khi u nằm ở phần thấp thường phân có dải và dính dây máu. Khối u chỉ sờ thấy trong 1/4 trường hợp .

Ung thư trực tràng: được gợi ý trước tiên là do thay đổi thói quen bài phân, có mót rặn và đau sau hậu môn khi đại tiện; chảy máu trực tràng rất đa dạng với toàn máu, hoặc phân nhầy máu hoặc máu chảy riêng ra sau khi đại tiện với số lượng cũng rất thay đổi. Đa số trường hợp thăm trực tràng có thể phát hiện khối u.

Tuy nhiên cũng có trường hợp ung thư đại tràng chỉ phát hiện do di căn nhất là di căn gan hoặc do tắc ruột.

Làm thế nào để chẩn đoán?

Thăm trực tràng: một khám nghiệm rất có giá trị cho việc chẩn đoán ung thư trực tràng khi sờ thấy một khối cứng, gồ ghề và có máu dính găng, cần xác định tính chất di động hay đã dính chặt vào cơ quan kế cận trong khung chậu.

Soi trực tràng sigma: đây là một thủ thuật đơn giản giúp phát hiện 2/3 đến 3/4 ung thư đại tràng, cần phối hợp với sinh thiết hoặc cắt bỏ các khối u nhỏ còn nằm ở bề mặt.

Chụp phim baryt đại tràng: cũng giúp phát hiện các khối u có đường kính lớn hơn 2cm.

Soi đại tràng toàn bộ: cho kết quả rất tốt về mặt hình thái, đồng thời kết hợp với sinh thiết sẽ giúp chẩn đoán sớm; đây là biện pháp cần thiết, tiến hành với các bệnh nhân có nguy cơ cao ung thư đại tràng 3 – 6 tháng/lần.

Siêu âm nội soi hoặc CT-scanner: trong ung thư trực tràng khu trú dưới niêm mạc thì siêu âm nội soi hoặc CT- scanner là phương tiện chính giúp chẩn đoán và giúp phát hiện di căn quanh trực tràng và cơ quan kế cận.

Điều trị và dự phòng

Tùy theo giai đoạn, tính chất, mức độ của bệnh và điều kiện sức khỏe của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ cân nhắc sử dụng các biện pháp điều trị như phẫu thuật, xạ trị liệu, hóa trị liệu, điều trị bằng laser hoặc thậm chí chỉ là điều trị triệu chứng.

Lý tưởng nhất là phát hiện một cách hệ thống các polyp đại trực tràng trước khi xuất hiện ung thư cho tất cả những người lớn trên 50 tuổi nhất là ở người có nguy cơ cao: những người đã điều trị polyp hoặc ung thư đại trực tràng hoặc con cháu của họ; hoặc là những người bị ung thư vú, tử cung buồng trứng, tiền liệt tuyến, những người viêm đại tràng mạn. Tìm máu ẩn trong phân để sàng lọc những người sẽ soi đại tràng. Đồng thời, giảm thiểu các yếu tố nguy cơ như giảm thức ăn nhiều mỡ động vật, giảm cholesterol máu, tăng cường thức ăn xơ.

ThS.BS. NGUYỄN BẠCH ĐẰNG

Theo SKDS

Ung thư trực tràng ở người cao tuổi

Ung thư (UT) đại trực tràng (ĐTT) hầu hết xảy ra ở những người tuổi 50 trở lên. Đó là lý do tại sao nếu bạn ở trong hạn tuổi này thì nhât thiết phải đi siêu âm nội soi ĐTT để có những phát hiện kịp thời.

UT ĐTT là gì?

Đại tràng (ruột già) và trực tràng (ruột cùng, ruột kết, ruột thẳng) là những bộ phận của ruột. Những bộ phận này giúp tống xuất những thành phần phế thải từ thức ăn. Giống như những bộ phận khác trong cơ thể, ruột già và ruột cùng được cấu tạo bởi những khối xây dựng tí hon được gọi là tế bào. Y như những viên gạch khối xây nhà, tế bào xây dựng lên cơ thể của chúng ta. Nhưng đôi khi những tế bào mọc vượt quá tầm kiểm soát, chúng sẽ trở thành tế bào UT. UT bắt đầu ở ruột già hay ruột cùng thì gọi là UT ĐTT đôi khi gọi là UT ruột già.

Kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm UT ĐTT

Bệnh nhân thường đến gặp bác sĩ khi bệnh UT đã ở giai đoạn muộn, thường là có các dấu hiệu lâm sàng đã biểu hiện 1 – 2 tháng trước đó và bệnh nhân thường chủ quan nghĩ đó là do nguyên nhân từ bệnh trĩ gây nên.

Kiểm tra sức khỏe định kỳ giúp phát hiện sớm bệnh tật, đặc biệt đối với UT ĐTT, và điều này thực sự cần thiết cho việc điều trị đạt kết quả cao. Nhiều nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng về lợi ích của việc kiểm soát UT ĐTT. Có thể phát hiện UT ĐTT nhờ những xét nghiệm cơ bản, nội soi ĐTT. Một số các kỹ thuật chẩn đoán khác để hỗ trợ phát hiện polip đường tiêu hóa bao gồm nội soi đại tràng sigma, chụp phim CT có bơm thuốc cản quang vào đại tràng…

ung-thu-truc-trang-o-nguoi-lon-tuoi-1

Những yếu tố gia tăng nguy cơ bị UT ĐTT

UT ĐTT rất phổ biến. Có người nghĩ rằng chỉ có nam giới bị chứng UT ĐTT. Nhưng nữ giới cũng bị chứng bệnh này. Cơ hội mắc bệnh tăng lên theo số tuổi. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, 90% người bị bệnh là những người trên 50 tuổi, trung bình là 72 tuổi. Ngoài ra còn có những yếu tố sau:

– Bị polyp tại ĐTT: hầu hết polyp không nguy hại, nhưng đôi khi có thể trở thành UT. Truy tìm và cắt bỏ polyp sẽ giảm nguy cơ gây UT.

– Thân nhân bị UT ĐTT: thân nhân (cha mẹ, anh chị em hoặc con cái) bị UT ĐTT, nhất là khi còn trẻ, là một yếu tố quan trọng.

– Biến thái di thể: sự biến thái của một số di thể có thể dẫn đến UT ĐTT.

– Bị viêm ĐTT: người bị viêm ĐTT nhiều năm có nguy cơ bị UT cao hơn.

Phương pháp điều trị

Phẫu thuật là phương pháp điều trị cơ bản đối với UT ĐTT. Hóa trị và xạ trị là phương pháp điều trị bổ sung, nhằm mục đích làm tăng cao kết quả điều trị cho nhiều bệnh nhân.

Phẫu thuật cắt bỏ phần ruột có khối u và những hạch lân cận và thường thì các bác sĩ nối phần ruột lành còn lại với nhau. Nếu đoạn ruột còn lại không đủ nối với nhau thì phải dùng thủ thuật làm hậu môn nhân tạo.

Hóa trị bổ sung sau phẫu thuật được áp dụng cho bệnh nhân mắc bệnh UT ĐTT ở giai đoạn 2 và 3. Điều này giúp cải thiện đáng kể kết quả điều trị cho bệnh nhân so với việc chỉ áp dụng phẫu thuật đơn thuần. Theo các báo cáo cho thấy số bệnh nhân này đáp ứng với thuốc hóa trị khá tốt. Xạ trị là phương pháp điều trị cần thiết cho một số ca bệnh UT ĐTT, xong cần phối hợp để kéo dài tình trạng bệnh.

Phòng bệnh bằng cách nào?

Để không mắc UT ĐTT, mỗi người có thể tự phòng tránh bằng cách: Thực hiện khẩu phần ăn ít mỡ, nhất là mỡ động vật, rượu.

Tăng cường các loại thực phẩm nhiều xơ và giàu canxi.

Tăng cường vận động, tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày.

Những người ngồi một chỗ hoặc béo phì dễ bị mắc bệnh UT ĐTT.

Người hút thuốc lá tử vong vì UT ĐTT nhiều hơn người không hút 30 – 40%.

Với những người ngoài 50 tuổi, nhất thiết phải đi siêu âm nội soi ĐTT để có những phát hiện kịp thời.

BS. XUÂN ANH

Theo SKDS