Tag Archives: ung thư dạ dày

Ung thư có thể mắc phải do cách nấu ăn

Duy trì thói quen đun nấu dưới đây trong thời gian dài có thể sẽ đưa bạn chạm mặt tử thần do mắc các bệnh ung thư nguy hiểm.

Nêm quá nhiều muối
Các chuyên gia thuộc Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NIC) cho hay, khẩu phần ăn uống có quá nhiều muối chính là thủ phạm khiến dễ mắc ung thư dạ dày bởi nó làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn gây u xơ.

Lạm dụng đồ nướng
Khi nướng thịt, nó sẽ sản sinh các amin dị vòng (HCAs) và hydrocarbon thơm đa vòng (PAHs) – những hợp chất có khả năng tác động lên cấu trúc tế bào gây ung thư. Thực vậy, bàn về vấn đề này các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Oregon (OSU) từng khẳng định PAHs có thể làm thay đổi và tổn thương cấu trúc DNA, gây ung thư lớn hơn 400 lần so với những người ít tiếp xúc với thực phẩm nướng.

ung-thu-co-the-mac-phai-do-cach-nau-an

Đồ nướng tiềm ẩn nguy cơ ung thư

Dùng đồ nhôm tái chế
Vì giá thành rẻ nên nhiều bà nội trợ lựa chọn các loại xoong nồi tái chế. Song họ không biết rằng trong quá trình tái tạo, nhôm nhiễm bẩn còn được độn thêm nhiều loại hóa chất, phụ gia khiến các tạp chất này dễ bị bung ra khi đun nấu, cọ rửa hoặc chà xát mạnh.

Việc lưu trữ thức ăn trong nồi nhôm kém chất lượng thực sự rất độc hại vì chúng dễ hòa tan với thức ăn. Sau thời gian phơi nhiễm, lượng nhôm tích tụ trong các mô cơ thể có thể gây nhiễm độc nặng như suy thoái não, dị hình xương. Bên cạnh đó, nó cũng là nguyên nhân gây nên các vấn đề như: mất ngủ, căng thẳng, giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ và thậm chí là những bệnh ung thư nguy hiểm.

Đổ dầu mỡ quá tay
Các nhà khoa học Italy nhận thấy những phụ nữ có chế độ ăn nhiều chất béo làm tăng khoảng 30% nguy cơ phát triển ung thư vú. Cụ thể, hấp thu nhiều loại thực phẩm này làm tăng lượng calo trong cơ thể, gây tình trạng thừa cân, béo phì. Trong khi đó, phụ nữ béo phì có xu hướng đạt nồng độ estrogen và insulin cao hơn những người có vóc dáng tương đối. Đây cũng chính là nhân tố gây nên ung thư vú và nội mạc tử cung.

Hun khói thực phẩm tạo mùi
Phân tích thịt xông khói , gan, cá hun khói… cho thấy đây là những đồ ăn có chứa hàm lượng benzopyrene cao. Thực tế, benzopyrene từ lâu được biết đến là hợp chất làm tăng nguy cơ mắc ung thư dạ dày và thực quản.

Ướp quá nhiều đường
Tuy không trực tiếp gây ung thư nhưng hấp thu nhiều đường có thể gây nên tình trạng thừa cân và béo phì. Được biết, béo phì gây ra những thay đổi về hàm lượng insulin và hormon giới tính trong cơ thể. Sự thay đổi này tác động làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú, đại tràng và ung thư tử cung.

Theo sức khỏe đời sống

15 triệu chứng ung thư nam giới hay bỏ qua

Khi có các triệu chứng này nhất định phải đi khám sớm, không nên để muộn. Nhưng khi nói đến đi khám bệnh, người đàn ông thường lười biếng, nhiều người chỉ chịu đi khi bị thúc giục bởi vợ con hoặc người thân.

Triệu chứng 1: ngực lớn
Đàn ông vẫn có thể bị ung thư vú dù không phổ biến. Bất kỳ khối lớn nào mới có trong khu vực vú của một người đàn ông đều cần được kiểm tra bởi bác sĩ.
Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ xác định một số dấu hiệu đáng lo ngại khác liên quan đến vú mà nam cũng như nữ cần phải lưu ý, bao gồm:
– Da lún xuống hoặc nhăn.
– Núm vú co rút.
– Da bị đỏ hoặc có vảy ở núm vú hoặc da ngực.
– Dịch ra từ núm vú.

15-trieu-chung-ung-thu-nam-gioi-hay-bo-qua

Triệu chứng 2: đau
Khi có tuổi, người ta thường phàn nàn mệt mỏi và đau đớn tăng. Nhưng đau mơ hồ, có thể là một triệu chứng sớm của một số bệnh ung thư. Hầu hết những người than đau không nghĩ là do ung thư.

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, bất cứ đau dai dẳng nào cũng cần đi khám bệnh để kiểm tra. Các bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận, biết thêm các chi tiết, và sau đó quyết định xem tiếp tục kiểm tra tiếp có cần thiết không. Nếu không phải là ung thư, bạn vẫn sẽ được hưởng lợi từ việc đi khám bệnh. Bởi vì các bác sĩ có thể tìm ra nguyên nhân gây đau và đưa ra điều trị thích hợp cho bạn.

Triệu chứng 3: các thay đổi ở tinh hoàn

Ung thư tinh hoàn thường xảy ra ở nam giới độ tuổi từ 20 – 39. Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyến cáo đàn ông nên được kiểm tra tinh hoàn như là một phần của kiểm tra sức khỏe thường quy liên quan đến ung thư. Một số bác sĩ cũng đề nghị nên tự kiểm tra hàng tháng.

Bất kỳ sự thay đổi về kích thước của tinh hoàn, chẳng hạn như sự tăng trưởng hay co rút nên có một mối quan tâm.

Ngoài ra, không nên bỏ qua bất kỳ dấu hiệu sưng nào, hoặc cảm giác nặng nề trong bìu.
Bác sĩ cần kiểm tra tinh hoàn và đánh giá tổng thể sức khỏe của bạn. Nếu nghi ngờ ung thư, xét nghiệm máu có thể được chỉ định. Bạn cũng có thể có một cuộc kiểm tra siêu âm bìu của bạn, và bác sĩ có thể quyết định sinh thiết.

Triệu chứng 4: thay đổi ở các hạch

Nếu bạn nhận thấy một khối u hoặc sưng ở các hạch bạch huyết dưới nách hay ở cổ – hoặc ở bất cứ nơi nào khác – nó có thể là một lý do để quan tâm. BS. Hannah Linden (trường y Đại học tổng hợp Washington) nói: “Nếu bạn có một hạch bạch huyết càng ngày càng lớn hơn, và thời gian này dài hơn một tháng, hãy đi khám bệnh”.

Bác sĩ sẽ kiểm tra cho bạn và xác định bất kỳ vấn đề nào liên quan có thể giải thích sự lớn lên của hạch bạch huyết, chẳng hạn như nhiễm trùng. Nếu không bị nhiễm trùng, bác sĩ thường sẽ sinh thiết.

Triệu chứng 5: sốt

Nếu bạn bị sốt không rõ nguyên nhân, nó có thể do ung thư. Hầu hết các bệnh ung thư sẽ gây sốt tại một số thời điểm. Thường, sốt xảy ra sau khi ung thư đã lan từ vị trí ban đầu của nó và xâm chiếm một phần khác của cơ thể. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, sốt cũng có thể được gây ra bởi bệnh ung thư máu như u lympho hoặc bệnh bạch cầu.
Tốt nhất là không bỏ qua một cơn sốt không tìm được nguyên nhân.

Triệu chứng 6: sụt cân không cố ý

Giảm cân bất ngờ là một mối lo ngại. Nếu một người đàn ông mất hơn 10% trọng lượng cơ thể của mình trong một khoảng thời gian từ 3 – 6 tháng, nên đi khám bệnh ngay.

Bác sĩ sẽ kiểm tra tổng thể, hỏi bạn những câu hỏi về chế độ ăn uống và tập thể dục của bạn, và hỏi về các triệu chứng khác. Dựa trên thông tin đó, bác sĩ sẽ quyết định những xét nghiệm cần thiết khác.

Triệu chứng 7: đau cồn cào vùng bụng và trầm cảm

Bất kỳ đàn ông (hay đàn bà), bị đau ở bụng và cảm thấy trầm cảm cần phải đi kiểm tra sức khỏe. Các chuyên gia đã tìm thấy mối liên hệ giữa trầm cảm và ung thư tuyến tụy. Các triệu chứng khác của bệnh ung thư tuyến tụy có thể bao gồm vàng da, thay đổi màu phân – thường là màu xám – nước tiểu màu sậm. Cũng có thể xảy ra.ngứa toàn thân

Hãy yêu cầu bác sĩ khám cẩn thận và làm bệnh án cho bạn. Các bác sĩ nên làm các xét nghiệm như siêu âm, CT-Scan hoặc cả hai cũng như các xét nghiệm khác.

Triệu chứng 8: mệt

Mệt mỏi là một triệu chứng mơ hồ khác có thể chỉ ra ung thư ở nam giới. Tuy nhiên, nhiều vấn đề khác cũng có thể gây ra mệt mỏi. Giống như sốt, mệt mỏi có thể bị sau khi ung thư đã phát triển. Tuy nhiên, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, nó cũng có thể xảy ra khi bắt đầu bị các bệnh ung thư như bệnh bạch cầu, ung thư đại tràng, hoặc ung thư dạ dày.

Nếu bạn thường xuyên cảm thấy vô cùng mệt mỏi và bạn không hết mệt với nghỉ ngơi, hãy đi khám bệnh.

Triệu chứng 9: ho dai dẳng

Loại trừ ho do cảm lạnh, cúm, và các bệnh dị ứng, đôi khi do một tác dụng phụ của thuốc, ho kéo dài – được định nghĩa là kéo dài hơn ba hoặc bốn tuần – hoặc có thay đổi về ho thì không nên bỏ qua. Các kiểu ho này phải đi khám bệnh. Chúng có thể là một triệu chứng của bệnh ung thư, hoặc chúng có thể chỉ ra một số vấn đề khác như viêm phế quản mãn tính hoặc trào ngược acid.
Bác sĩ nên làm bệnh án cẩn thận, khám họng của bạn, nghe phổi của bạn, xác định chức năng của chúng với kiểm tra đo phế dung (spirometry), và nếu bạn là người hút thuốc, cần chụp X-quang.

Triệu chứng 10: khó nuốt

Một số đàn ông có thể bị khó nuốt, nhưng sau đó bỏ qua nó. Theo thời gian, họ thay đổi chế độ ăn uống của họ với một chế độ ăn uống nhiều chất lỏng họ bắt đầu uống canh nhiều hơn nhưng nuốt khó, có thể là một dấu hiệu của một bệnh ung thư đường tiêu hóa (GI), chẳng hạn như ung thư thực quản.

Hãy cho bác sĩ biết nếu bạn đang gặp khó khăn khi nuốt. Bác sĩ nên làm bệnh án cẩn thận và có thể cho bạn chụp X-quang có chất cản quang. Bác sĩ cũng có thể gửi cho bạn đến một chuyên gia về nội soi đường tiêu hóa trên để kiểm tra thực quản và đường tiêu hóa trên.

Triệu chứng 11: các thay đổi ở da

Bạn nên cảnh giác không những thay đổi duy nhất ở nốt ruồi – một dấu hiệu nổi tiếng của ung thư da tiềm ẩn – mà còn các thay đổi sắc tố da, bác sĩ Mary Daly cho biết. Bác sĩ Daly là một bác sĩ chuyên khoa ung thư và là trưởng khoa di truyền học lâm sàng tại Trung tâm Ung thư Fox Chase ở Philadelphia.

Bác sĩ Daly cũng nói rằng đột nhiên phát triển chảy máu trên da của bạn hoặc bong da quá nhiều là lý do để đi khám bệnh. Thật khó để nói rằng bao lâu là quá lâu để thực hiện thay đổi ở da, nhưng hầu hết các chuyên gia cho rằng không phải chờ đợi lâu hơn vài tuần.

Để tìm ra nguyên nhân gì gây ra những thay đổi da, bác sĩ sẽ hỏi bệnh sử và thực hiện khám toàn thân cẩn thận. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu sinh thiết để loại trừ ung thư.

Triệu chứng 12: chảy máu nơi không nên có

Bất cứ lúc nào bạn thấy có máu đến từ một phần cơ thể mà bạn chưa bao giờ nhìn thấy nó trước, hãy đi gặp bác sĩ. Nếu bạn bắt đầu ho ra máu, khạc nhổ ra máu, có máu trong phân hoặc trong nước tiểu, bạn nên đi khám bệnh. Khi cho rằng máu trong phân chỉ đơn giản là từ bệnh trĩ là một sai lầm vì nó thể là ung thư ruột kết.

Bác sĩ sẽ hỏi bạn những câu hỏi về các triệu chứng của bạn. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm như nội soi. Đây là một kiểm tra đại tràng bằng cách sử dụng một ống dài linh hoạt với một máy ảnh ở đầu ống. Mục đích của nội soi là để xác định bất kỳ dấu hiệu của ung thư hay tiền ung thư hoặc xác định bất kỳ nguyên nhân khác gây chảy máu.

Triệu chứng 13 : thay đổi ở miệng

Nếu bạn hút thuốc hoặc nhai thuốc lá, bạn cần phải đặc biệt cảnh giác với bất kỳ mảng trắng nào bên trong miệng hoặc đốm trắng trên lưỡi của bạn. Những thay đổi này có thể cho thấy bạch sản, một khu vực tiền ung thư có thể xảy ra với các kích thích liên tục. Tình trạng này có thể tiến triển thành ung thư miệng.

Bạn nên báo cáo những thay đổi với bác sĩ hoặc nha sĩ của bạn. Nha sĩ hoặc bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận, kiểm tra các thay đổi, và sau đó quyết định những xét nghiệm có thể là cần thiết khác.

Triệu chứng 14: các vấn đề đường tiểu

Như người đàn ông có tuổi, vấn đề tiết niệu trở nên thường xuyên hơn.
Những vấn đề này bao gồm:
– Đi tiểu thường xuyên hơn, đặc biệt là vào ban đêm.
– Cảm giác mắc tiểu cấp bách.
– Một cảm giác không tiểu hết.
– Không thể để bắt đầu tiểu.
– Nước tiểu rò rỉ khi cười hoặc ho.
– Một sự suy yếu của dòng nước tiểu.
Tuy nhiên, một khi bạn nhận thấy những triệu chứng này, bạn nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế.
Bác sĩ sẽ kiểm tra trực tràng kỹ thuật số, để biết tuyến tiền liệt có bị lớn lên không hoặc có các nốt không. Tuyến tiền liệt thường to ra khi người nam có tuổi. Nó thường do một điều kiện không phải ung thư gây ra được gọi là tăng sản tuyến tiền liệt lành tính hoặc BPH (benign prostatic hyperplasia). Khi cần thiết, bác sĩ có thể sẽ làm một số xét nghiệm khác.

Triệu chứng 15: khó tiêu

Nhiều người đàn ông, đặc biệt là khi họ lớn tuổi, họ nghĩ bị “cơn đau tim” khi họ bị khó tiêu. Nhưng khó tiêu dai dẳng có thể là ung thư thực quản, cổ họng, hoặc dạ dày. Khó tiêu dai dẳng hoặc xấu đi phải được báo cáo với bác sĩ của bạn.

Bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận và đặt câu hỏi về các giai đoạn khó tiêu.
Dựa trên lịch sử bệnh và câu trả lời của bạn cho các câu hỏi, các bác sĩ sẽ quyết định những xét nghiệm nào là cần thiết.

Áp xe gan

Biến chứng thường gặp và nặng nề nhất là nhiễm trùng huyết với các biểu hiện như sốt cao liên tục 39 – 40oC, kèm rét run, tình trạng nhiễm khuẩn và nhiễm độc nặng. Gan to rất đau, tắc mật nặng không đáp ứng với điều trị.

Áp xe gan – đường mật là bệnh cảnh khá phổ biến đứng hàng thứ hai sau áp xe gan amíp, đồng thời là một cấp cứu về tiêu hóa, thường do sỏi mật và giun đũa chui vào đường mật – túi mật, nhất là khi có tắc nghẽn ống mật quản. Bệnh nhân cần được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời để phòng những biến chứng có thể dẫn tới tử vong.

Nguyên nhân bị áp xe đường mật?

Trong điều kiện bình thường, cơ vòng Oddi hoạt động tốt, dòng chảy của mật quản trong đường mật bình thường, trong đường mật không có vi khuẩn hoặc số lượng rất ít không đủ gây bệnh.

Trong trường hợp có sỏi đường mật gây tắc nghẽn, ứ trệ và tăng áp lực dịch mật tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn đi ngược dòng và xâm nhập gây nhiễm khuẩn đường mật và cuối cùng có thể gây ra áp xe gan mật.

ap-xe-gan

Trong giun chui ống mật, ngoài cơ chế cơ học như sỏi, giun còn trực tiếp mang vi khuẩn từ đường ruột và có thể cả ký sinh trùng vào đường mật nên càng dễ làm viêm đường mật và áp xe mật quản.

Ngoài ra còn có các bệnh lý khác như ung thư đường mật, u đầu tụy, bệnh lý cơ vòng Oddi. Viêm xơ chít hẹp cơ vòng Oddi hoặc các bệnh lý hiếm gặp hơn như loét dạ dày – tá tràng thủng vào đường mật, ung thư đại tràng, ung thư dạ dày hoặc các thủ thuật soi chụp đường mật ngược dòng có thể gây viêm nhiễm đường mật.

Biểu hiện của bệnh

Bệnh thường khởi phát đột ngột, tự nhiên xảy ra mà không có một dấu hiệu nào báo trước hoặc có thể xuất hiện sau khi ăn nhiều dầu mỡ; với các biểu hiện như đau, sốt, vàng da, vàng mắt. Có thể kèm theo dấu hiệu tổn thương túi mật với các biểu hiện như túi mật to, đau, tổn thương đường mật ngoài gan, viêm ống mật chủ và triệu chứng của tụy.

Nếu không được điều trị hoặc không đáp ứng sẽ chuyển thành giai đoạn áp xe gan mật quản thường vào tuần thứ hai, với triệu chứng nhiễm khuẩn ngày càng nặng với sốt cao kèm rét run. Tắc mật ngày càng nhiều với vàng da, vàng mắt đậm. Gan to nhanh rất đau, có điểm đau khu trú nhiều chỗ. Ngoài ra còn có thể có túi mật to, đau hoặc dấu hiệu tổn thương ống mật chủ, tụy.

Chẩn đoán dựa vào các biểu hiện lâm sàng như trên kết hợp với xét nghiệm máu (bạch cầu tăng cao, tăng bilirubin trực tiếp, phosphatase kiềm tăng, GGT và men ALAT, ASAT có thể tăng) và quan trọng là các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hay chụp cắt lớp vi tính. Ở đây siêu âm rất có giá trị để phát hiện số lượng và vị trí các ổ áp xe đồng thời giúp phát hiện nguyên nhân như giun, sỏi, thương tổn các cơ quan khác như đường mật và túi mật. CT scanner cũng cho kết quả tương tự. Chụp và nội soi đường mật ngược dòng cũng là một nghiệm pháp có giá trị cao, ngoài ý nghĩa chẩn đoán trong trường hợp siêu âm cho kết quả đường mật âm tính mà còn là một biện pháp hữu hiệu để điều trị nguyên nhân gây tắc nghẽn đường mật do sỏi hoặc do giun.

Biến chứng của áp xe gan đường mật

Biến chứng của áp xe gan – đường mật thường nhiều và nặng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Biến chứng thường gặp và nặng nề nhất là nhiễm trùng huyết với các biểu hiện như sốt cao liên tục 39 – 40oC, kèm rét run, tình trạng nhiễm khuẩn và nhiễm độc nặng. Gan to rất đau, tắc mật nặng không đáp ứng với điều trị.

Hội chứng gan thận do nhiễm khuẩn và tắc mật nặng, do bilirubin máu quá cao gây tắc ống thận; Tràn dịch màng phổi và màng tim; Viêm tụy cấp: có thể là một bệnh cảnh đi kèm; Xơ gan mật: đây là một biến chứng lâu dài sau nhiều đợt viêm nhiễm làm hoại tử xơ hóa gan mật; Vỡ ổ áp xe vào ổ bụng gây viêm phúc mạc toàn thể; Chảy máu đường mật: đây là một biến chứng phối hợp do cơ học và viêm nhiễm thường là nặng nề với nôn ra máu hình thỏi bút chì, bệnh cảnh xuất huyết nội tạng gây choáng phối hợp xuất huyết và nhiễm khuẩn.

Điều trị như thế nào?

Đây là bệnh cảnh nặng, ngoài nhiễm khuẩn còn kèm nhiễm độc và biến chứng ngoại khoa, do đó cần đặt trong bối cảnh điều trị nội ngoại khoa và hồi sức cấp cứu. Nghỉ ngơi, truyền dịch để nuôi dưỡng và cân bằng nước và điện giải. Dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ trơn như nospa hay sparmaverin. Thường sử dụng các kháng sinh có phổ tác dụng trên vi khuẩn gram âm như quinolon thế hệ 2. Trong trường hợp bệnh nặng cần sử dụng phối hợp kháng sinh và dùng bằng đường tiêm, thường phối hợp thêm cephalosporin thế hệ 3 như cefotaxim, ceftriazon hoặc cefuroxim. Ngoài ra cần chú ý đến nhiễm các vi khuẩn kị khí, do đó cần phối hợp thêm metronidazol hoặc clindamycin.

Điều trị ngoại khoa khó thực hiện vì bệnh nhân đau trong tình trạng nhiễm khuẩn nặng có thể có choáng, hơn nữa ở đây có nhiều ổ áp xe kích thước nhỏ có thể nằm sâu khó phát hiện hoặc loại bỏ. Nói chung phẫu thuật chủ yếu nhằm để loại bỏ các tắc nghẽn cơ học như giun hoặc sỏi.

Để dự phòng, cần duy trì một chế độ ăn uống bảo đảm vệ sinh, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, định kỳ 6 tháng đến 1 năm tẩy giun một lần để hạn chế các yếu tố thuận lợi cho bệnh lý viêm nhiễm đường mật xảy ra.

Theo suckhoedoisong

Nguyên nhân chính dẫn đến Xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hóa biểu hiện như thế nào?

Tùy theo nguyên nhân mà có các biểu hiện khác nhau, tuy nhiên các biểu hiện thường gặp:

Nôn ra máu: Số lượng từ 100ml – 1.000ml hoặc nhiều hơn nữa tùy theo mức độ, máu thành cục (hạt ngô, hạt đỗ), màu nâu sẫm, nhờ nhờ đỏ, lẫn với thức ăn, dịch nhầy loãng.

Đại tiện phân đen: Phân nát, lỏng như bã cà phê, mùi thối khắm (như cóc chết), số lượng 100gr, 500gr, 2 – 3 lần trong 24giờ.

Dấu hiệu mất máu (sau nôn máu, đại tiện phân đen) tùy theo mức độ mất máu sẽ thấy vã mồ hôi, chân tay lạnh, nổi da gà, da niêm mạc nhợt, có khi vật vã giãy giụa, có khi ngất xỉu, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt, thở nhanh nông, đái ít, có khi vô niệu. Nếu làm các xét nghiệm thường quy tùy thuộc vào thời gian có thể sẽ thấy hồng cầu giảm, huyết sắc tố giảm, hematocrit giảm.

 Ổ loét dạ dày gây biến chứng chảy máu

Ổ loét dạ dày gây biến chứng chảy máu

Nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa

Có rất nhiều nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa như loét dạ dày tá tràng, xơ gan mất bù, do dùng thuốc, do ung thư dạ dày… Tùy theo nguyên nhân mà chiến thuật xử trí và điều trị sẽ khác nhau. Có thể chia xuất huyết tiêu hóa làm hai nhóm chính là xuất huyết tiêu hóa trên (từ góc Treitz trở lên) và xuất huyết tiêu hóa dưới (dưới góc Treitz đến hậu môn).

Xuất huyết tiêu hóa trên

Do loét dạ dày hành tá tràng: Đó là nguyên nhân hay gặp nhất, máu chảy ra dưới hình thức: nôn ra máu, đại tiện phân đen và đại tiện phân đen tiềm tàng. Chảy máu với đặc điểm khối lượng máu thường nhiều, xảy  ra nhiều lần có thể gây ra tình trạng thiếu máu trầm trọng; kết hợp với các triệu chứng khác như đau ở vùng thượng vị có chu kỳ… chẩn đoán bằng nội soi dạ dày.

Do tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Hiện tượng này gặp trong các bệnh xơ gan, hội chứng Bannti, hội chứng Budd – Chiari (tắc tĩnh mạch trên gan): máu ở hệ tĩnh mạch cửa bị cản trở sẽ qua những đường bàng hệ để trở về tĩnh mạch chủ dưới phần bàng hệ phình giãn và tăng áp lực. Đặc điểm của loại chảy máu này là: máu tươi, màu hơi đen vì là máu tĩnh mạch; khối lượng thường rất nhiều và không  lẫn thức ăn; kết hợp với các triệu chứng khác như tuần hoàn bàng hệ dưới da bụng, cổ trướng, lách to.

Một số nguyên nhân ít gặp hơn như ung thư dạ dày, viêm dạ dày cấp, viêm loét trợt thực quản, hội chứng Malôri-Oét, urê máu cao, ngộ độc chì, ngộ độc thủy ngân…

Xuất huyết tiêu hóa dưới

Xuất huyết từ đại tràng: Là loại chảy máu thường gặp trong chảy máu tiêu hóa thấp. Các nguyên nhân hay gặp bao gồm:

Lỵ trực khuẩn: Thường xảy ra ở trẻ em có yếu tố dịch tễ kèm theo. Lâm sàng có hội chứng nhiễm khuẩn có thể nhiễm độc với sốt cao, đau quặn bụng dữ dội, đại tiện nhiều lần 15 – 20 lần/ngày, kèm mót rặn và đau hậu môn. Phân lỏng, rất ít hoặc chỉ toàn máu, màu đỏ sẫm như máu cá hoặc nước rửa thịt.

Lỵ a míp: Bệnh cảnh lâm sàng thường nhẹ với sốt nhẹ, đau quặn bụng dọc khung đại tràng và vùng hạ vị; đại tiện phân nhầy máu, thường máu chỉ dính quanh phân có màu đỏ tươi, kèm dấu mót rặn và đau hậu môn sau đại tiện.

Ung thư đại tràng: Là bệnh lý thường gây chảy máu tiêu hóa thấp ở người già. Ung thư đại tràng phải thường kèm theo dấu đại tiện phân lỏng và máu đỏ sẫm. Ung thư đại tràng trái thường là dấu hiệu táo bón, đại tiện phân máu tươi; còn ung thư trực tràng hậu môn thường kèm theo dấu hiệu kích thích đại tiện nhiều lần hoặc nhiều khi chảy máu hậu môn một cách tự nhiên.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu: Bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, với biểu hiện từng đợt bao gồm sốt, đau khớp, đau quặn bụng dọc khung đại tràng và đại tiện ra máu, thường là máu tươi.

Ngoài ra còn có thể gặp chảy máu trong trĩ, polyp, nứt kẽ hậu môn, Crohn đại – trực tràng…

Loét dạ dày có thể được phát hiện qua kỹ thuật nội soi

Loét dạ dày có thể được phát hiện qua kỹ thuật nội soi

Xuất huyết từ ruột non: Có nhiều nguyên nhân gây chảy máu ở ruột non, và thông thường xuất huyết ở ruột non là một trong các bệnh lý khó phát hiện nhất.

Thương hàn: Ngoài những triệu chứng của bệnh cảnh thương hàn, biến chứng chảy máu thường xảy sau 1 – 2 tuần do biến chứng loét ruột, có thể kèm theo biến chứng thủng ruột. Bệnh nhân đau bụng, đại tiện phân có màu đỏ gạch hoặc đỏ sẫm. Ngoài điều trị chảy máu cần chú ý điều trị thương hàn.

Viêm ruột xuất huyết hoại tử: Đây là một cấp cứu nội – ngoại khoa. Bệnh cảnh thường là nặng nếu xảy ra ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng là tình trạng nhiễm khuẩn nhiễm độc nặng, sốt cao 40 – 41oC. Đau và trướng bụng, đại tiện phân đen mùi thối khắm. Điều trị bằng kháng sinh, truyền dịch, cân nhắc điều trị ngoại khoa khi có biến chứng.

Bệnh Crohn: Thường gặp là tổn thương vùng hồi manh tràng với đau bụng, đại tiện phân lỏng từng đợt kèm theo sốt, máu lắng tăng. Biến chứng chảy máu thường gặp vào giai đoạn 2 hoặc 3 của bệnh với tổn thương loét hoặc rò thủng vách ruột. Điều trị bằng kháng sinh, corticoid và thuốc ức chế miễn dịch.

Ngoài ra, còn có thể gặp chảy máu ruột non từ các nguyên nhân hiếm gặp khác như: lồng ruột, loét túi thừa Meckel, lao ruột, ung thư ruột non, hoặc chảy máu từ ruột non trong bệnh lý chảy máu toàn thể như trong sốt xuất huyết, bệnh bạch cầu cấp, hội chứng urê máu cao…

Tóm lại, biểu hiện xuất huyết đường tiêu hóa dưới rất đa dạng, nguyên nhân thì nhiều, dễ làm người bệnh chủ quan, vì vậy mỗi người bệnh cần có ý thức tự bảo vệ mình, nếu có biểu hiện bất thường nên tới khám tại các cơ sở y tế để được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

(Theo suckhoedoisong.vn)

Nguyên nhân gây ra viêm dạ dày mạn tính

Viêm loét dạ dày là một trong những bệnh về tiêu hóa thường gặp, nguồn bệnh do vi khuẩn Helicobacter Pylori (HP) và đây cũng là “thủ phạm” của 95% số ca viêm dạ dày mạn tính.

Đây là những thông tin được đưa ra trong Đề tài nghiên cứu Mô bệnh học và tỷ lệ nhiễm HP ở bệnh nhân viêm dạ dày mãn tính đến khám tại bệnh viện đa khoa MEDLATEC.

Đáng chú ý, nếu bệnh viêm dạ dày mãn tính không được phát hiện kịp thời sẽ dễ dẫn đến loét dạ dày, ung thư dạ dày.

Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, tỷ lệ viêm dạ dày mạn tính rất cao, chiếm khoảng 50% dân số, trong đó viêm dạ dày mạn tính do HP chiếm khoảng 95%.

Ở Việt Nam, viêm dạ dày mạn tính là bệnh khá phổ biến trong nhân dân, chiếm khoảng 31- 65% các trường hợp nội soi đường tiêu hóa trên, trong đó tỷ lệ nhiễm HP chiếm 63- 94,8%. Bệnh thường gặp ở cả nam và nữ, lứa tuổi mắc bệnh nhiều bệnh là từ 40-49 tuổi, tỷ lệ nhiễm HP trong viêm dạ dày mạn tính là 53,33%.

viem-da

Bệnh thường tiến triển nhiều tháng, nhiều năm, từng đợt, tỷ lệ tái phát sau điều trị cao, viêm dạ dày mạn tính dẫn đến loét dạ dày, ung thư dạ dày.

Theo bác sỹ Lê Văn Khoa, bệnh viện MEDLATEC, nguyên nhân chính gây viêm dạ dày mạn tính là do vi khuẩn HP, lây chủ yếu qua đường ăn uống, nước bọt, dịch tiêu hóa, phân…

Ngoài ra, ăn uống không điều độ, nhai không kỹ, ăn không đúng giờ giấc, ăn nhiều gia vị chua, cay, dùng thuốc một vài loại thuốc gây kích thích niêm mạc dạ dày trong một khoảng thời gian dài như Salicylat, Aspirin, thuốc lợi tiểu có thủy ngân… là nguyên nhân của viêm dạ dày dị ứng mạn tính.

Với nguồn thức ăn lạ, ngoài ra, tác nhân stress làm mất cân bằng hệ thống bảo vệ và phá hủy viêm mạc dạ dày là một trong những nguyên nhân gây loét dạ dày đường tiêu hóa.

Người bị bệnh viêm dạ dày mạn tính do HP thường không có dấu hiệu lâm sàng đặc trưng mà thường có những rối loạn chức năng như đau bụng vùng thượng vị (trên rốn, khi ăn no), ợ hơi, ợ chua hay nôn, buồn nôn. Bệnh viêm dạ dày mạn tính nếu không được phát hiện kịp thời dẫn đến loét dạ dày, ung thư dạ dày.

Để phòng ngừa bệnh rửa tay trước khi ăn, ăn chậm, nhai kỹ, ăn uống đúng giờ, không nên ăn quá no hoặc để quá đói, kiêng cữ các món ăn cay, chua. Hạn chế uống rượu, bia, hút thuốc lá, ăn các chất béo. Chú trọng ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn nhiều rau, hoa quả. Uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Sinh hoạt điều độ, ngủ đủ ngày 7-8 giờ, tránh thức khuya.

Hiện nay, việc chẩn đoán, theo dõi diễn biến viêm loét dạ dày tá tràng nói chung và viêm dạ dày mạn tính nói riêng chủ yếu dựa vào nội soi và sinh thiết (xét nghiệm mô bệnh học) dạ dày. Trong đó, xét nghiệm mô bệnh học được coi là tiêu chuẩn vàng trong việc chẩn đoán bệnh viêm dạ dày, qua đó giúp việc điều trị đạt hiệu quả cao, ổn định và ít tái phát.

Viêm dạ dày do HP được chẩn đoán bằng nhiều phương pháp như: test thở, test urease, xét nghiệm HP huyết thanh, HP dạ dày, xét nghiệm HP phân, lấy dịch và nuôi cấy HP dịch vị dạ dày, PCR. Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC đang dùng 3 phương pháp này. Trong đó phương pháp chẩn đoán phổ biến là nội soi dạ dày sau đó lấy một mảnh sinh thiết nhỏ và làm test urease. Đây cũng là phương pháp được coi là phù hợp túi tiền ở Viêt Nam hiện nay.

Thành công của đề tài nghiên cứu những bệnh nhân bị viêm dạ dày mạn tính đến khám tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC hứa hẹn góp phần vào việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả bệnh nhân bị viêm dạ dày.

Thanh Loan
Nguồn vietnamnet

Dấu hiệu của ung thư dạ dày giai đoạn đầu

Khi bệnh đã phát triển sang giai đoạn cuối, người bệnh sẽ có biểu hiện như đau bụng, xuất huyết tiêu hóa, thủng/tắc môn vị, thiếu sức sống, gầy, rối loạn trao đổi chất.

dau-hieu-cua-ung-thu-da-day-giai-doan-dau

Theo sina, 4 dấu hiệu dưới đây được cho là điển hình của ung thư dạ dày giai đoạn đầu.

1. Trên 80% số người bị ung thư đều có biểu hiện đau bụng trên.

2. Khoảng 1/3 số người bị ung thư có hiện tượng căng dạ dày, bụng trên khó chịu, ăn không ngon, tiêu hóa không tốt…

3. Khoảng 1/3 số người mặc dù không có dấu hiệu rõ ràng về hệ thống tiêu hóa, nhưng vẫn bị giảm cân không rõ nguyên nhân, cơ thể gầy đi và lao lực.

4. Một bộ phận người ung thư có biểu hiện ợ nóng, buồn nôn, nôn, ợ hơi và đi ra phân đen.

Ngoài ra, nam giới từ 40 trở lên (những người nghiện rượu và thuốc lá từ 35 tuổi trở lên) nếu có hiện tượng chướng bụng, không thoải mái thì nên đi khám để được phát hiện và điều trị kịp thời.

Khi bệnh tình đã phát triển sang giai đoạn cuối, người bệnh sẽ có biểu hiện như đau bụng, xuất huyết tiêu hóa, thủng/tắc môn vị, thiếu sức sống, gầy, rối loạn trao đổi chất và khuếch tán ung thư dẫn đến các triệu chứng tương ứng như trên.

Theo VnExpress

Chuẩn đoán ung thư dạ dày qua hơi thở

Các nhà khoa học Isarel và Trung Quốc đã thử nghiệm thành công phương pháp phát hiện ung thư dạ dày nhanh chóng và đơn giản: qua hơi thở.

Theo tạp chí Ung thư Vương Quốc Anh, phép thử có độ chính xác tới 90% và sẽ là một cuộc cách mạng trong việc chẩn đoán và chữa trị ung thư dạ dày.

Hiện nay các bác sĩ chẩn đoán loại ung thư này bằng cách lấy sinh thiết dạ dày qua một đầu dò có camera linh hoạt thông qua miệng xuống thực quản.
dau-da-day
Nhưng với phép thử qua hơi thở, các thành phần hóa học đặc trưng trong những dạ dày mắc ung thư sẽ được phát hiện dễ dàng và nhanh chóng hơn.

Giáo sư Hossam Haick viện Nghiên cứu Công nghệ Israel người đứng đầu nhóm nghiên cứu đã làm thí nghiệm với 37 bệnh nhân mắc ung thư, 32 người mắc chứng loét dạ dày và 61 người có những vấn đề khác về dạ dày.

Qua hơi thở, các bác sĩ không những đã phát hiện sự phân hóa giữa những bệnh nhân ung thư với số còn lại, mà còn chẩn đoán mức độ nặng nhẹ của ung thư. Phép thử mới này cũng chính xác trên chó.

80% bệnh nhân khi phát hiện ung thư dạ dày đang ở giai đoạn không thể phẫu thuật. 2/5 số bệnh nhân có thể tiếp tục sống ít nhất 1 năm nhưng chỉ có 1/5 kéo dài sự sống tới 5 năm. Vì vậy thành công này sẽ là bước tiến lớn tạo thêm nhiều cơ hội sống đối với các bệnh nhân ung thư.

Nguồn khoa học

Chuẩn đoán Ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là loại ung thư xuất phát từ thành dạ dày. Đa số trường hợp là loại ung thư biểu mô tuyến của niêm mạc dạ dày là bệnh và một số ít trường hợp thuộc loại u ác lympho, u ác cơ trơn. Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp nhất ở đường tiêu hóa và đứng hàng thứ ba trong các loại ung thư ở nam giới.

Biểu hiện của bệnh

Ở giai đoạn sớm, người bệnh có thể không có biểu hiện gì hoặc có những triệu chứng không đặc hiệu về tiêu hóa như: chậm tiêu, đầy bụng, ợ hơi, đau không rõ ràng vùng trên rốn, chán ăn… Khám bụng không thể phát hiện bất thường. Ở giai đoạn này, chỉ có nội soi dạ dày và sinh thiết qua nội soi là phương tiện hữu hiệu nhất để xác định bệnh.

Ở giai đoạn tiến triển, người bệnh cảm thấy đau âm ỉ vùng trên rốn, chán ăn, rất khó tiêu, sụt cân, mệt mỏi, chóng mặt, xanh xao, có khi tiêu phân đen. Khám bụng có thể sờ thấy khối u vùng trên rốn, có thể không. Nội soi dạ dày hoặc chụp X-quang dạ dày dễ dàng phát hiện khối u.
ung-thu-da-day
Ở giai đoạn muộn, bệnh nhân suy kiệt, thiếu máu nặng, phù. Đau vùng trên rốn trở nên dai dẳng, nôn ói, nôn ra máu. Khám có thể sờ rõ khối u trên rốn, bụng báng, u di căn lổn nhổn ở bụng. Bệnh ở giai đoạn này thì không còn phương cứu chữa.

Có thể khỏi nếu phát hiện sớm

Hiện nay, phương pháp điều trị ung thư dạ dày là phẫu thuật cắt bỏ và kết hợp hóa trị sau mổ. Tùy giai đoạn bệnh, phẫu thuật có thể tiến hành qua nội soi đường miệng, nội soi ổ bụng hoặc phẫu thuật mở bụng. Ở giai đoạn sớm, ung thư chỉ khu trú ở lớp niêm mạc, có thể cắt bỏ một diện niêm mạc chứa thương tổn qua nội soi đường miệng mà không phải cắt một phần dạ dày.

Ở giai đoạn ung thư đã xâm nhập các lớp của thành dạ dày, phẫu thuật thích hợp là cắt bán phần hoặc toàn bộ dạ dày (tùy vị trí ung thư ở phần dưới hay phần trên dạ dày) kèm theo là nạo vét các hạch xung quanh dạ dày. Phẫu thuật này có thể thực hiện qua nội soi ổ bụng hoặc mổ mở, tùy khả năng trang bị và trình độ kỹ thuật.

Ở giai đoạn muộn hơn, ung thư đã ăn lan qua các bộ phận khác, không thể cắt bỏ, phẫu thuật chỉ giải quyết tạm bợ bằng cách nối vị tràng hoặc thậm chí chỉ đặt ống vào ruột non để nuôi ăn. Sau mổ, đối với các trường hợp có di căn hạch hoặc ung thư xâm lấn qua thành dạ dày, cần sử dụng hóa trị hỗ trợ. Có nhiều loại thuốc hóa trị sử dụng đơn độc hoặc phối hợp do các chuyên gia hóa trị chỉ định, dựa vào đặc điểm và giai đoạn của ung thư. Xạ trị hỗ trợ cũng có thể được chỉ định cho trường hợp khối u đã xâm lấn và di căn hạch.

Tỷ lệ chữa khỏi ung thư dạ dày có thể đạt 100% nếu phát hiện ở giai đoạn 0 (ung thư chỉ khu trú ở lớp niêm mạc). Đối với ung thư giai đoạn 1 (chưa di căn hạch, chưa qua hết thành dạ dày), tỷ lệ này đạt trên 80%. Ở các giai đoạn tiến triển hơn, tỷ lệ này sẽ giảm nhiều.

Phải tầm soát bằng chụp X-quang dạ dày hoặc nội soi dạ dày thì mới có thể phát hiện được ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Nội soi phát hiện thương tổn sớm tốt hơn X-quang. Người có yếu tố nguy cơ là đối tượng cần phải tầm soát như: bị viêm teo dạ dày hoặc thiếu máu ác tính, đã cắt bán phần dạ dày, polyp dạ dày, trong gia đình có người bị ung thư đường tiêu hóa, có triệu chứng rối loạn tiêu hóa thường xuyên. Nếu có điều kiện thì mọi người trên 50 tuổi nên nội soi dạ dày tầm soát trong đợt kiểm tra sức khỏe định kỳ.
Nguồn sức khỏe gia đình

Viêm niêm mạc dạ dày

I. Định nghĩa viêm niêm mạc dạ dày

Theo các chuyên gia y học, viêm dạ dày là hậu quả của sự kích thích niêm mạc bởi các yếu tố ngoại sinh hoặc nội sinh như: nhiễm độc hóa chất, nhiễm khuẩn (vi khuẩn HP), các rối loạn miễn dịch…

Viêm niêm mạc dạ dày được chia thành 2 nhóm là viêm dạ dày cấp tính và viêm dạ dày mạn tính. Mỗi nhóm có những đặc điểm riêng. Trong thực tế khám và chữa bệnh hằng ngày, các thầy thuốc gặp chủ yếu là viêm dạ dày mạn tính.

II. Viêm dạ dày cấp tính

viem-niem-mac-da-day-300x214

1. Định nghĩa

Viêm dạ dày cấp tính chính là tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày, thường có tính chất tạm thời, có thể kèm xuất huyết niêm mạc và nặng hơn có thể kèm viêm loét niêm mạc dạ dày.

2. Nguyên nhân

Các yếu tố làm tăng tiết acid dịch vị dạ dày đồng thời làm giảm sản xuất các yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày ( dịch nhày bao phủ, pepsin…), giảm lượng máu lưu thông đến dạ dày, do đó làm cho chất acid ứ đọng trong lòng dạ dày dẫn đến tổn thương niêm mạc dạ dày:

– Thuốc: Aspirin, thuốc kháng viêm không có steroid, corticoid…

– Thức ăn: thức ăn cay nóng, gây dị ứng…

– Hóa chất: Rượu, thuốc lá, ngộ độc thuốc trừ sâu, acid…

– Vi khuẩn, vi rus: trong thức ăn hoặc thường gặp nhất là HP (Helicobacter pylori)

– Stress, tia xạ…

3. Triệu chứng

Bệnh nhân bị viêm dạ dày cấp tính có thể không có triệu chứng gì nếu bệnh nhẹ. Trong trường hợp bệnh nặng hơn, bệnh nhân có thể đau bụng, nhiều nhất là vùng thượng vị, đầy chướng bụng, khó tiêu ăn mất ngon, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn. Nặng hơn nữa (viêm có loét chảy máu) có thể nôn ra máu và đi cầu ra phân đen.

Tùy theo tình trạng bệnh, bệnh nhân có thể được cho làm một số xét nghiệm: công thức máu, xét nghiệm phân… Quan trọng và có ý nghĩa nhất là Nội soi dạ dày và sinh thiết niêm mạc dạ dày vùng nghi ngờ có tổn thương

4. Nguyên tắc điều trị

* Không dùng thuốc

– Hạn chế thức ăn kích thích dạ dày: rượu, thuốc lá, cafe, chè, đồ uống có ga, đồ ăn cay nóng…

– Chia làm nhiều bữa trong ngày, ăn nhẹ, thức ăn lỏng mềm, đủ dinh dưỡng

– Thể dục thể thao điều độ, ăn ngủ nghỉ đúng giờ giấc, tránh căng thẳng stress, không thức quá khuya…

– Hạn chế dùng thuốc đã kể trên

* Dùng thuốc

– Giảm tiết acid dịch vị dạ dày,

– Bao bọc bảo vệ niêm mạc dạ dày

– Diệt vi khuẩn

– Giảm đau, chống co thắt

5. Tiến triển, biến chứng

Nếu chế độ điều trị tốt, hầu hết bệnh nhân viêm dạ dày cấp cải thiện rất nhanh.

Nếu điều trị không tốt, bệnh nhân có thể bị mất máu nhiều do chảy máu rỉ rả, hay bệnh có thể diễn tiến sang viêm dạ dày mạn tính.

III. Viêm dạ dày mạn tính

1. Định nghĩa

Viêm dạ dày mạn tính là tình trạng tổn thương có tính chất kéo dài và tiến triển chậm không đặc hiệu, có thể lan toả hoặc khu trú tại một vùng của dạ dày (hang vị, môn vị, tâm vị, hoặc viêm toàn bộ niêm mạc dạ dày).

Lúc đầu là viêm phì đại, về sau là viêm teo, thường là thoái hóa teo đét các tế bào tuyến.

2. Nguyên nhân

– Sự kích thích lâu ngày của các thuốc kháng viêm không phải steroid, corticoid…

– Tình trạng nhiễm vi khuẩn H. pylori,

– Thiếu máu ác tính (còn gọi là thiếu máu tế bào khổng lồ hay thiếu hấp thu vitamin B12, một loại bệnh tự miễn),

– Thoái hóa của lớp niêm mạc dạ dày theo tuổi,

– Trào ngược dịch mật mạn tính.

– Thói quen ăn uống: Nuốt nhiều, nhanh, nhai không kỹ, bữa ăn không đúng giờ giấc, Ăn nhiều thức ăn có nhiễm chất các hoá học dùng trong nông nghiệp và kỹ nghệ thực phẩm, Ăn nhiều gia vị ( chua, cay ), uống cà phê đặc, uống rượu, hút thuốc lá lâu ngày sẽ tác động có hại cho niên mạc dạ dày và gây bệnh.

– Các yếu tố hóa – lý ( phóng xạ, quang tuyến ), một số thuốc nhuận tràng dùng kéo dài, các thuốc bột kiềm gây trung hoà dịch vị quá mức sẽ dẫn tới phản ứng đột biến tăng tiết a xít HCL làm tổn thýõng niêm mạc dạ dày.

– Suy dinh dưỡng: thiếu Fe, thiếu B12, thiếu a xít folic, vitamin C, vitamin PP, thiếu protein.

– Rối loạn nội tiết : trong suy yếu tuyến yên, bệnh Hashimoto, thiểu năng cận giáp, bệnhAddison, tiểu đường …

– Dị ứng: Một số bệnh ngoài da ( mày đay, eczema, licben…) hoặc do ăn uống

– Yếu tố miễn dịch: mới đây phát hiện thấy có các kháng thể kháng tế bào thành, kháng yếu tố nội sinh (chỉ thấy trong bệnh Biermer ), song cõ chế bệnh lý chưa rõ.

– Các rối loạn tâm lý rối loạn thần kinh thực vật, có thể gây nên viêm dạ dày và rối loạn tiêu hoá.

– Yếu tố di truyền: thấy rõ hơn cả trong bệnh Biermer (Hấp thu B12 kém )

3. Triệu chứng

– Cảm giác nặng bụng, chướng bụng, ợ hơi, nhức đầu, mặt đỏ cảm giác đắng miệng vào buổi sáng, buồn nôn, nôn, chán ăn, táo lỏng thất thường.

– Nóng rát vùng thượng vị : xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, đặc biệt rõ sau ăn uống một số thứ như : bia, rýợu, vang trắng, gia vị cay, chua hoặc ngọt. Sau ăn mỡ xuất hiện nóng rát có thể là do trào ngược dịch mật vào dạ dày. Có một số trường hợp nóng rát xuất hiện muộn sau bữa ăn.

– Đau vùng thượng vị : Không đau dữ dội, thường chỉ là cảm giác khó chịu, âm ỉ thường xuyên tăng lên sau ăn.

– Toàn trạng bệnh nhân có thể gầy đi một chút ít, da khô tróc vẩy, có vết ấn của răng trên rìa lưỡi, lở loét, chảy máu lợi, Lưỡi rêu trắng.

4. Nguyên tắc điều trị

– Điều trị các nguyên nhân nếu có,

– Bảo vệ niêm mạc dạ dày, kích thích bài tiết nhầy

– Duy trì tái sinh niêm mạc, Cải thiện tuần hoàn niêm mạc

– Điều trị chống vi khuẩn H. pylori.

– Chống co thắt,

– Chống stress

– Ăn chậm, nhai kỹ, ăn những loại thức ăn dễ tiêu, nấu chín kỹ, khoảng cách giữa các bữa ăn hợp lý, tránh loại thức ăn nhiều chất xơ, quá nóng, qua lạnh, cứng rắn. Kiêng các chất cay, chua, mỡ rán, rượu, cà phê, thuốc lá.

5. Tiến triển biến chứng

Viêm dạ dày mạn tiến triển từ từ, hình thái niêm mạc thay đổi dần dần từ viêm phì đại đến viêm teo (thể teo đơn thuần, thể teo có loạn sản) có thể gây ra một số biến chứng như: Ung thư dạ dày, Xuất huyết tiêu hoá, Viêm quanh dạ dày, tá tràng, Viêm túi mật mạn, viêm tụy mạn

Những thói quen có thể gây nên bệnh ung thư

Các chuyên gia chỉ ra rằng, hầu hết các căn bệnh ung thư nguy hiểm đều có nguồn gốc từ thói quen sinh hoạt thiếu khoa học.

Ăn quá nhiều thịt tăng nguy cơ mắc ung thư vú

Một nghiên cứu gần đây của Anh cho thấy, những loại thực phẩm được chế biến từ thịt có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Bởi vậy, để tránh xa căn bệnh ung thư vú, phụ nữ cần cẩn trọng trong việc chế biến và giảm lượng các thức ăn từ thịt động vật.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên nói “không” với tất cả các loại thịt. Các chuyên gia khuyên rằng mỗi ngày chỉ nên ăn 100g thịt và tốt nhất nên hầm hoặc luộc.

Ngồi quá lâu gây ung thư dạ dày
ung-thu-da-day
Tổ chức y tế thế giới chỉ ra rằng mỗi năm có hơn 2 triệu người chết do ngồi quá lâu. Tổ chức này còn dự tính, đến năm 2020, toàn thế giới sẽ có khoảng 70% bệnh tật là do ngồi quá lâu, không vận động.

Những người thường xuyên phải làm việc nhiều giờ với máy tính sẽ bị giảm năng lực hoạt động của gen miễn dịch, tăng nguy cơ gây các bệnh ung thư.

Các nhà y học Nhật Bản phát hiện ra rằng những bệnh nhân mắc các bệnh liên quan đến dạ dày đều có đặc điểm chung là thường xuyên ăn quá no và không vận động nhiều. Thời gian lâu dần, hoạt động của gen miễn dịch trong cơ thể sẽ trở nên chậm chạp và không hiệu quả.

Sử dụng giấy vệ sinh chất lượng kém tăng nguy cơ gây bệnh bạch cầu

Phụ nữ thường không tiết kiệm tiền mua mỹ phẩm, quần áo nhưng đôi khi lại hay ky bo trong việc mua giấy vệ sinh. Có rất nhiều phụ nữ thường lựa chọn những loại giấy rẻ tiền. Nhưng họ không hề hay biết những loại giấy này mặc dù cũng rất trắng nhưng lại gây nhiều ảnh hưởng bởi nó được sử dụng nhiều chất tẩy.

Các chuyên gia cho rằng thường xuyên sử dụng những loại giấy này sẽ tăng nguy cơ gây bệnh bạch cầu. Các loại giấy như vậy sẽ có chứa virus viêm gan và E. coli.

Nguồn vietnam+

Lợi ích của việc uống trà xanh

Uống trà tốt giúp tăng cường hệ miễn dịch, giữ dáng và làm đẹp da.

Chất chống ôxy hóa

Trà chứa các chất chống ôxy hóa như polyphenols làm giảm nguy cơ ung thư da, ung thư buồng trứng và ung thư dạ dày. Đó là lý do vì sao bạn nên thưởng thức một ly trà mỗi ngày.

Giúp giữ dáng

Trà, đặc biệt là trà xanh, có tác dụng chống hấp thu chất béo vào cơ thể. Do uống trà sẽ đẩy nhanh tiêu hóa và cải thiện trao đổi chất. Tuy nhiên, không nên uống trà với sữa vì nó sẽ làm mất tác dụng giảm cân.

loi_ich_cua_uong_tra_xanh_01

Trà xanh, có tác dụng chống hấp thu chất béo vào cơ thể

Tốt cho răng

Trà chứa fluoride giúp bảo vệ men răng. Tuy nhiên đừng bao giờ cho thêm sữa hoặc đường vào trà nếu bạn không muốn làm mất tác dụng của fluoride.

Tăng cường hệ miễn dịch

Uống trà hàng ngày giúp tăng cường hệ miễn dịch, nhờ vậy bạn có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh như cảm lạnh, sốt…

loi_ich_cua_uong_tra_xanh_02

Uống trà xanh giúp tăng cường miễn dịch

Tốt cho xương

Một nghiên cứu cho thấy uống trà hàng ngày có thể củng cố xương. Ngoài ra, hầu hết các loại trà như trà xanh, trà đen hoặc trà ô long, đều có tác dụng cải thiện mật độ xương.

Theo 24h

Pháp hiện sớm ung thư thực quản

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn bệnh UTTQ xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Điều đặc biệt là triệu chứng của bệnh thường không xuất hiện cho tới khi khối u đã phát triển rõ. Vì vậy việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn đọc phần nào hiểu biết về bệnh lý này.

Những biểu hiện của UTTQ

phat-hiem-som-ung-thu-thuc-quang-1

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Các triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc… Khối u ảnh hưởng tới toàn thân làm bệnh nhân sốt, mệt mỏi, xanh xao, ăn uống kém, gầy sút cân rõ rệt. Thậm chí khi được phát hiện muộn đã có nhiều biến chứng như viêm thủng thực quản vào trung thất gây khó thở đột ngột, tràn khí dưới da; rò thực quản vào khí phế quản làm thức ăn vào đường hô hấp gây viêm phổi, áp-xe phổi…

Nếu không được điều trị kịp thời, phần lớn bệnh nhân UTTQ sẽ suy kiệt và chết do không ăn uống được mặc dù vẫn có cảm giác thèm ăn.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây UTTQ

UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống các thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

Có thể chẩn đoán sớm UTTQ không?

Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần tới thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Về điều trị

Thầy thuốc sẽ căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết đinh phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

Phòng ngừa UTTQ cần tránh các yếu tố nguy cơ đồng thời với tăng cường các yếu tố bảo vệ. Rất nhiều yếu tố nguy cơ có thể phòng tránh được ví như bạn không nên hút thuốc lá, giảm uống rượu, tránh các thực phẩm có hại, kiểm soát và phòng ngừa các bệnh lý thực quản. Tăng cường các yếu tố bảo vệ bằng cách ăn nhiều rau quả và các chất xơ, bổ sung các vitamin và yếu tố vi lượng cần thiết đặc biệt là vitamin A, B2, C, E, selen. Một điều cần nhấn mạnh là triệu chứng của UTTQ thường không xuất hiện cho tới khi khối u đã phát triển rõ vì vậy bệnh cần được phát hiện sớm, chỉ có như vậy việc điều trị mới cho kết quả tốt nhằm mục tiêu kéo dài và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Theo SKDS

Hướng nghiên cứu điều trị ung thư dạ dày

Nghiên cứu mới nhất được đăng tải tại tạp chí Ung thư Hoàng gia Anh, các nhà khoa học tại Trường đại học Trung Quốc ở Hồng Kông (Hồng Kông) đã xác định vài trò quan trọng của protein RAMP trong việc quyết định sự hình thành và phát triển ung thư dạ dày ở người. Việc phát hiện protein RAMP sẽ mở ra con đường mới trong chẩn đoán sớm và điều trị ung thư dạ dày hiệu quả hơn.

huong-nghien-cuu-ung-thu-da-day

Sự biểu hiện ở mức cao của protein RAMP trong các khối u dạ dày và các dòng tế bào ung thư dạ dày khi so sánh với các mô bình thường xung quanh chúng đề nghị rằng protein RAMP có vai trò then chốt trong sự quyết định việc hình thành và phát triển ung thư dạ dày. Sự biểu hiện ở mức cao của protein RAMP được xác định tại giai đoạn rất sớm của ung thư dạ dày và duy trì sự biểu hiện ở mức cao cùng với sự phát triển của ung thư dạ dày. Hơn thế nữa, protein RAMP còn có vai trò thúc đẩy sự sinh trưởng các tế bào ung thư và cung cấp nguyên liệu để phát triển tới ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Kết quả nghiên cứu này đã mở ra con đường mới trong điều trị ung thư dạ dày bằng cách loại bỏ chức năng của protein RAMP dẫn tới kìm hãm sự sinh trưởng của các khối u và làm giảm kích cỡ của khối u dạ dày trong cơ thể.

ThS. Dương Hồng Quân

(Theo Medical Research News, 12/8/2009/SKDS)

Giảm nguy cơ ung thư dạ dày

Các nhà khoa học Nhật Bản cho biết chế độ ăn uống nhiều các sản phẩm từ sữa có thể làm giảm nguy cơ phát triển ung thư dạ dày ở nam giới. Trong nghiên cứu này các nhà khoa học đã tìm cách kiểm tra mối liên hệ giữa các mô hình chế độ ăn uống và nguy cơ tử vong do ung thư dạ dày.

sua-chua-lam-giam-nguy-co-ung-thu-da-day-1

Phân tích các yếu tố trong bảng câu hỏi về tần số thực phẩm được thực hiện trên 25.730 nam và 37.673 nữ, theo đó ba mô hình chế độ ăn uống đã được xác định về tỷ lệ nguy hiểm có liên quan tới tử vong do ung thư dạ dày đó là: rau, thực phẩm động vật và sản phẩm từ sữa. Kết quả cho thấy mô hình chế độ ăn uống nhiều rau cho thấy có liên quan tới tỷ lệ tử vong do ung thư dạ dày ở cả hai giới, trong khi đó chế độ ăn giàu các sản phẩm từ sữa lại cho kết quả đáng kể trong việc giảm nguy cơ ung thư dạ dày ở nam giới. Ngoài ra, chế độ ăn uống nhiều thực phẩm động vật có xu hướng liên quan tới việc tăng nhẹ nguy cơ mắc bệnh ở nữ giới.

Các nhà khoa học đã kết luận rằng, một chế độ ăn uống nhiều các sản phẩm từ sữa có thể liên quan tới việc giảm nguy cơ tử vong do ung thư dạ dày ở nam giới.

Hoàng Dương  (Theo Medindin GPL)