Tag Archives: ung thu

Hội thảo khoa học về ung thư đầu cổ

Ung thư ở vùng đầu cổ là một trong nhưng loại ung thư chiếm tỷ lệ cao trong những loại ung thư của con người gặp phải. Thông thường khó phát hiện bằng mắt thường ngoại trừ những ung thư ngoài da vùng đầu mặt đi vào trong nhưng chiếm tỷ lệ thấp. Các loại ung thư ở vùng đầu cổ thường gặp nhất là: ung thư vòm họng, ung thư sàng hàm, ung thư Amidal, ung thư hạ họng – thanh quản, ung thư hạch vùng cổ, ung thư tuyến giáp, ung thư lưỡi.

Hội thảo khoa học “Tiến bộ trong tầm soát và điều trị ung thư đầu mặt cổ” do Cục Quản lý Khám Chữa Bệnh – Bộ Y Tế, Đài truyền hình An Viên, Báo Điện tử Kiến Thức và Trung tâm điều trị Ung thư Hy vọng kết hợp tổ chức diễn ra tại Hà Nội mới đây đã tập trung giới thiệu và chia sẻ những tiến bộ trong tầm soát và điều trị ung thư đầu mặt cổ.

Phát biểu tại hội thảo, PGS. TS. Nguyễn Đại Bình – Phó giám đốc bệnh viện K cho biết: “Ở Việt Nam, ung thư vùng đầu cổ gặp khá nhiều, nổi bật ung thư vòm, hạ họng – thanh quản, lưỡi, khoang miệng. Người ở độ tuổi từ 49 – 53 thường mắc ung thư hạ họng – thanh quản, ung thư lưỡi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, ung thư này có đặc điểm khác với phương Tây. Nguyên nhân chính là do thói quen sinh hoạt như uống rượu, hút thuốc, ăn trầu…

hoi-thao-khoa-hoc-ve-ung-thu-dau-co1

Tại Việt Nam, ung thư vòm họng có chiến lược điều trị riêng biệt dựa vào xạ trị, hóa trị và thuốc chống vi rút. Tuy nhiên, điều trị chống vi rút ở giai đoạn 1 và 2 xạ trị đơn thuần có kết quả. Giai đoạn 3 cần kết hợp xạ và hóa trị. Ở giai đoạn 4 thì điều trị triệu chứng. Sau điều trị cần theo dõi tái phát, sống thêm, dùng thuốc và thực phẩm chống lão hóa, chống viêm nhiễm mạn tính ngừa tái phát”.

Nói về phương pháp điều trị ung thư cùng đầu cổ giai đoạn muộn, Đại tá TS. Bs Nguyễn Kim Lưu cho biết: “Ung thư đầu và cổ đề cập đến một nhóm các bệnh ung thư: môi, khoang miệng (vòm họng, amydal, sàn miệng), khoang mũi (bên trong mũi), các xoang cạnh mũi , hạ họng – thanh quản …

Theo đó, xạ trị áp sát là phương pháp đưa nguồn phóng xạ trực tiếp vào mô đích, đây là kỹ thuật nhằm tập trung liều xạ cao vào khối u, giảm liều chiếu và hạn chế biến chứng mô lành (như tuyến nước bọt mang tai, xương). Kỹ thuật này thường ít khi sử dụng riêng lẽ, mà thường phối hợp với xạ trị ngoài. Nguồn xạ sử dụng có thể là xuất liều thấp như césium. Ngày nay nguồn xạ Iridium – 192 trong xạ trị suất liều cao đã được sử dụng phổ biến”.

Triệu chứng lâm sàng không có gì nổi bật như: ngặt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ù tai, nuốt vướng, khạc ra máu, khàn tiếng, đau cổ và một số vết loét vùng đầu cổ, nổi hạch…, vì vậy để nhận biết được bệnh ung thư đòi hỏi người bệnh phải được khám bằng phương pháp nội soi, chụp City, siêu âm, MRI, đặc biệt giải phẫu bệnh là hết sức cần thiết.

Nếu phát hiện sớm ung thư đầu cổ thì việc phẫu thuật cắt khối u phối hợp với xạ trị đem lại kết quả rất tốt, tỷ lệ sống trên 5 năm đạt trên 95%, một số trường hợp sau khi phẫu thuật có thể khỏi hoàn toàn. Ngược lại, nếu không được phát hiện kịp thời khi khối u đã lan ra các tổ chức lân cận hoặc di căn khi đó việc điều trị gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ sống trên 5 năm là rất thấp.

hoi-thao-khoa-hoc-ve-ung-thu-dau-co

Để phòng ngừa ung thư, mọi người cần hạn chế sử dụng các chất kích thích như: rượu, bia, thuốc lá… Thường xuyên vệ sinh răng miệng, mũi họng; Làm việc trong môi trường độc hại phải có dụng cụ bảo vệ; Khám điều trị sớm bệnh đầu mặt cổ; Để phát hiện bệnh sớm đòi hỏi mỗi người bệnh khi có các biểu hiện như: khàn tiếng, nuốt vướng nuốt khó, ngạt mũi, ù tai một bên hoặc hai bên, có khối u – hạch vùng cổ, vết loét vùng cổ nên đến ngay có sở y tế để được khám xét nghiệm phát hiện kịp thời.

Đặc biệt, đối với những người từ 50 tuổi trở lên có tiền sử hút thuốc lá, nghiện rượu lâu năm hoặc một số người làm việc trong môi trường độc hại khi có các triệu chứng trên cần đến cơ sở y tế khám đồng thời để bảo vệ sức khỏa cho bản thân mọi người cần được kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần.

Ung thư có thể mắc phải do cách nấu ăn

Duy trì thói quen đun nấu dưới đây trong thời gian dài có thể sẽ đưa bạn chạm mặt tử thần do mắc các bệnh ung thư nguy hiểm.

Nêm quá nhiều muối
Các chuyên gia thuộc Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NIC) cho hay, khẩu phần ăn uống có quá nhiều muối chính là thủ phạm khiến dễ mắc ung thư dạ dày bởi nó làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn gây u xơ.

Lạm dụng đồ nướng
Khi nướng thịt, nó sẽ sản sinh các amin dị vòng (HCAs) và hydrocarbon thơm đa vòng (PAHs) – những hợp chất có khả năng tác động lên cấu trúc tế bào gây ung thư. Thực vậy, bàn về vấn đề này các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Oregon (OSU) từng khẳng định PAHs có thể làm thay đổi và tổn thương cấu trúc DNA, gây ung thư lớn hơn 400 lần so với những người ít tiếp xúc với thực phẩm nướng.

ung-thu-co-the-mac-phai-do-cach-nau-an

Đồ nướng tiềm ẩn nguy cơ ung thư

Dùng đồ nhôm tái chế
Vì giá thành rẻ nên nhiều bà nội trợ lựa chọn các loại xoong nồi tái chế. Song họ không biết rằng trong quá trình tái tạo, nhôm nhiễm bẩn còn được độn thêm nhiều loại hóa chất, phụ gia khiến các tạp chất này dễ bị bung ra khi đun nấu, cọ rửa hoặc chà xát mạnh.

Việc lưu trữ thức ăn trong nồi nhôm kém chất lượng thực sự rất độc hại vì chúng dễ hòa tan với thức ăn. Sau thời gian phơi nhiễm, lượng nhôm tích tụ trong các mô cơ thể có thể gây nhiễm độc nặng như suy thoái não, dị hình xương. Bên cạnh đó, nó cũng là nguyên nhân gây nên các vấn đề như: mất ngủ, căng thẳng, giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ và thậm chí là những bệnh ung thư nguy hiểm.

Đổ dầu mỡ quá tay
Các nhà khoa học Italy nhận thấy những phụ nữ có chế độ ăn nhiều chất béo làm tăng khoảng 30% nguy cơ phát triển ung thư vú. Cụ thể, hấp thu nhiều loại thực phẩm này làm tăng lượng calo trong cơ thể, gây tình trạng thừa cân, béo phì. Trong khi đó, phụ nữ béo phì có xu hướng đạt nồng độ estrogen và insulin cao hơn những người có vóc dáng tương đối. Đây cũng chính là nhân tố gây nên ung thư vú và nội mạc tử cung.

Hun khói thực phẩm tạo mùi
Phân tích thịt xông khói , gan, cá hun khói… cho thấy đây là những đồ ăn có chứa hàm lượng benzopyrene cao. Thực tế, benzopyrene từ lâu được biết đến là hợp chất làm tăng nguy cơ mắc ung thư dạ dày và thực quản.

Ướp quá nhiều đường
Tuy không trực tiếp gây ung thư nhưng hấp thu nhiều đường có thể gây nên tình trạng thừa cân và béo phì. Được biết, béo phì gây ra những thay đổi về hàm lượng insulin và hormon giới tính trong cơ thể. Sự thay đổi này tác động làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú, đại tràng và ung thư tử cung.

Theo sức khỏe đời sống

Ung thư da đã có thể ngăn chặn thành công

Các nhà khoa học của Trường đại học Wuerburg (Đức) đã phát hiện ra một hoạt chất mới có khả năng ngăn chặn sự tăng trưởng của tế bào ung thư da.

ung-thu-da-da-co-the-ngan-chan-thanh-cong

Kháng nguyên T, chất ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư da. Nguồn ảnh: neurope.eu

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra các protein được mã hóa có tên kháng nguyên T, có thể làm bất hoạt các tế bào ngăn không cho tế bào phát sinh các protein, hạn chế sự sinh sôi của tế bào gây ung thư.

Khi tương tác với kháng nguyên T, cần thêm một chất xúc tác có vai trò như trung gian gọi là protein sốc nhiệt Hsp70. Theo nghiên cứu công bố, trong số 7 loại tế bào hay gây ung thư da nhất, 5 loại đã bị tiêu diệt. Điều này mở ra hy vọng mới cho một loại thuốc điều trị ung thư da có hiệu quả cao.

Theo sức khỏe đời sống

Tuyệt đối không nên bỏ ăn sáng

Bữa ăn sáng đóng vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe. Thế nhưng vì nhiều lý do: bận công việc, con cái thậm chí sợ to vòng eo nên nhiều người không quan tâm, bỏ ăn sáng.

Họ không biết rằng, những người ăn sáng đều đặn không những khỏe hơn, vui vẻ hơn mà còn yêu đời và trẻ trung hơn. Và còn rất nhiều tác dụng tuyệt vời nữa sẽ giúp bạn hiểu vì sao không nên bỏ bữa sáng.

Buổi sáng chúng ta phải hoạt động nhiều cả thể lực và trí óc nên bữa ăn sáng rất cần thiết. Tuy nhiên không phải bạn ăn uống vô độ. Nên chọn thức ăn nhẹ dễ tiêu hóa. Thiếu bữa ăn sáng, sẽ khiến lượng vitamin và khoáng chất bị thiếu trầm trọng, đặc biệt là chất sắt và canxi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe… Vì sao không nên bỏ bữa ăn sáng?

tuyet-doi-khong-nen-bo-an-sang

Cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động: Sau giấc ngủ dài, cơ thể chúng ta thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng. Bữa sáng với đầy đủ các dưỡng chất là cách tốt nhất cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động trong ngày. Năng lượng được cơ thể thu nhận từ bữa sáng, sẽ giúp chuyển hoá và trao đổi chất trong cơ thể. Nhờ đó các cơ quan trong cơ thể sẽ “năng động” và “hăng hái” hơn.

Tăng cường trí não: Các tế bào thần kinh tiêu thụ năng lượng rất nhiều, vì thế, nếu để não đói, khả năng tư duy và ghi nhớ sẽ giảm sút. Để não hoạt động tốt hơn, bạn cần ăn sáng với các thực phẩm như ngũ cốc, rau quả có nhiều chất xơ, thực phẩm giàu protein, hạn chế các món ăn có hàm lượng đường và chất béo cao.

Ngừa ung thư và các bệnh tim mạch: Bữa ăn sáng sẽ giúp hệ tuần hoàn hoạt động tốt hơn, quá trình trao đổi chất cũng triệt để hơn, từ đó sẽ giảm được các nguy cơ gây ra bệnh tim mạch, huyết áp, ung thư… Bữa sáng nhiều rau quả và ngũ cốc là bữa sáng lý tưởng nhất, vì rau quả và ngũ cốc sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ung thư và các bệnh mạn tính khác.

Giảm cân: Khi chúng ta ăn vào, cơ thể sẽ diễn ra quá trình trao đổi chất, đây cũng là lúc cơ thể bắt đầu tiêu hao calo. Sau bữa ăn sáng, quá trình tiêu thụ calo diễn ra mạnh nhất, vì thế ăn sáng được xem là một trong những biện pháp giảm cân hữu hiệu.

Những người thường xuyên không ăn sáng rất dễ rơi vào tình trạng:

Mất cân bằng dinh dưỡng, sức đề kháng thấp: Do nguồn năng lượng ở mức rất thấp nên cơ thể buộc phải lấy năng lượng dự trữ từ gan, khiến gan luôn ở trong tình trạng quá sức. Hơn nữa, nếu buổi sáng không ăn, đến khoảng 9 giờ hoặc 10 giờ trưa bạn sẽ bị đói cồn cào, người nôn nao, huyết áp hạ thấp, gây tổn hại nghiêm trọng đến hệ tiêu hóa. Dần dần khả năng miễn dịch và sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút.

Ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc: Không ăn sáng ảnh hưởng nhiều đến năng suất làm việc do bụng đói cồn cào, dạ dày co bóp nhiều sẽ làm bạn không tập trung được vào công việc.

Đau dạ dày và kết sỏi ở bộ máy tiêu hóa: Dạ dày luôn co bóp không, dịch vị tiết ra nhưng không có gì để tiêu hóa, dần dần sẽ dẫn đến viêm loét dạ dày. Do ruột rỗng, nhu động giảm, các chất cặn bã trong ruột của ngày hôm trước không có cơ hội để đào thải ra ngoài, lâu dần nó sẽ kết lại thành sỏi.

Béo phì: Buổi sáng không ăn, nên buổi trưa và buổi tối bạn phải ăn nhiều hơn để có đủ năng lượng. Trong khi hoạt động vào buổi chiều và tối không nhiều, thức ăn sẽ không kịp tiêu hóa hết, khiến cho nhiệt lượng trong cơ thể bạn ngày một tăng, lượng mỡ tích tụ lại ngày càng nhiều. Kết cục bạn sẽ mắc bệnh béo phì.

Nhanh lão hóa: Do không ăn sáng nên cơ thể buộc phải huy động lượng đường và protein được dự trữ sẵn để hoạt động, làm cho bề mặt của lớp da bị khô, rám, mất dinh dưỡng, do vậy dễ xuất hiện nếp nhăn nhất là ở vùng mắt và mặt.

Nguồn sức khỏe

Không nên sử dụng đồ công nghệ khi đi ngủ

Báo Daily Mail đưa tin, các chuyên gia cho rằng việc gia tăng số lượng người sử dụng điện thoại, máy tính hay các thiết bị khác trước khi đi ngủ một hoặc hai tiếng là điều không tốt. Ánh sáng màu xanh phát ra từ màn hình làm giảm buồn ngủ, do đó sẽ rất khó để đi vào giấc ngủ.

Nhà tâm lí học Richard Wiseman đã ủy nhiệm viện nghiên cứu YouGov điều tra ý kiến của 2.149 người trưởng thành về thói quen vào ban đêm của họ. Kết quả điều tra cho thấy 59% số người ngủ 7 tiếng hoặc ít hơn trong một đêm. Con số này đã tăng lên 20% so với cuộc khảo sát vào năm ngoái.

do-cong-nghe

Giáo sư Wiseman thuộc đại học Hertforshire, nước Anh, cho biết: “Đây là một sự gia tăng rất lớn và kết quả này rất đáng lo ngại vì con người chỉ ngủ ít hơn 7 tiếng trong một đêm là dưới mức yêu cầu của cơ thể. Cùng với đó, nó sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như tăng cân, mắc bệnh tiểu đường hoặc ung thư”.

Giáo sư cũng nói thêm: “Cuộc điều tra cho thấy 79% người sử dụng những thiết bị có phát ra ánh sáng màu xanh trước khi đi ngủ. Ánh sáng màu xanh từ các thiết bị này ngăn chặn việc sản xuất hoocmon melatonin gây ngủ. Vì vậy, điều quan trọng là phải tránh sử dụng chúng khi chuẩn bị ngủ khoảng 2 tiếng”.

Cuộc khảo sát cũng phát hiện ra rằng khi ngủ, rất ít người có những giấc mơ đẹp. Chỉ 10% nói rằng họ có giấc ngủ sâu và mơ đẹp.

Giáo sư Wisemen khuyên rằng chúng ta không nên để điện thoại hay các thiết bị công nghệ khác trong phòng ngủ và tránh sử dụng chúng khoảng 2 giờ trước khi đi ngủ. Những lời khuyên khác cho bạn có một giấc ngủ ngon đó là tạm quên đi mọi thứ bằng cách liệt kê danh sách những việc phải làm trong ngày hôm sau. Cùng với đó là việc ăn chuối, rất giàu cacbon hydrat và khoáng chất thư giãn cơ bắp giúp gây buồn ngủ.

Theo Daily Mail/gia đình

Đột phá trong điều trị ung thư chính xác

Bệnh nhân có thể lưu giữ khối u của mình và bảo quản như dạng mẫu sống để giúp các bác sĩ hướng tới một lựa chọn nữa ngoài các phương pháp điều trị hiện có trong trường hợp bệnh tái phát.

Bằng cách lấy một phần khối u của bệnh nhân ung thư và cấy vào những con chuột suy giảm miễn dịch sẽ xác định loại thuốc có hiệu quả cao nhất trong trường hợp tái phát khối u hay sự tiến triển của khối u.

Các mẫu khối u sống ở những con chuột được thử nghiệm sẽ được điều trị bằng một hoặc nhiều loại thuốc để tìm ra một kết quả phù hợp nhất. Dựa trên kết quả đáp ứng thuốc trên chuột thử nghiệm các chuyên gia y tế sẽ đưa ra thuốc điều trị ung thư phù hợp cho bệnh nhân giúp quá trình điều trị ít tốn kém nhất.

dot-pha-trong-dieu-tri-ung-thu-chinh-xac-1

Ngoài ra với phương pháp này, bệnh nhân có thể lưu giữ khối u của mình và bảo quản như dạng mẫu sống để giúp các bác sĩ hướng tới một lựa chọn nữa ngoài các phương pháp điều trị hiện có trong trường hợp bệnh tái phát. Toàn bộ quá trình cấy ghép mất 12-16 tuần. Trong khoảng thời gian này bệnh nhân sẽ tiếp tục được điều trị bằng theo phác đồ chuẩn phù hợp với bệnh lý.

Phương pháp điều trị ung thư này có tên gọi TumorGraft™ giúp bệnh nhân được điều trị bằng thuốc theo quy định chính xác hơn với tác dụng phụ ít hơn bắt đầu được ứng dụng tại Singapore. Tiến sĩ David Sidransky một trong những nhà khoa học có ảnh hưởng lớn nhất trong công trình về phát hiện sớm ung thư cho hay, phương pháp này đã được ứng điều trị thuốc thành công trên bệnh nhân ở Mỹ, Anh, Canada và Israel. Kết quả cấy ghép này đạt được tương quan di truyền lên tới 94% giữa các khối u ở chuột và khối u ban đầu ở bệnh nhân.

Theo các nhà nghiên cứu, nguy cơ tái phát ở bệnh nhân ung thư là 50%. Nếu áp dụng các biện pháp điều trị hiện nay, tỉ lệ điều trị thành công ở bệnh nhân ung thư tái phát là 15% trong khi đó với phương pháp TumorGraft™, tỉ lệ này có thể lên tới 80%. Đây cũng là một trong những phương pháp điều trị mới nhắm vào đích tế bào ung thư để tìm ra phương thức điều trị hiệu quả hơn, ít tổn hại đến tế bào lành.

Ngọc Anh (từ Singapore)

Theo SKDS

Các dạng ung thư tinh hoàn thường gặp

Đối với seminomas, ung thư này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường xảy ra ở đàn ông lớn tuổi

Nói chung, seminoma không ác tính như ung thư dạng nonseminoma và đặc biệt có hiệu quả với phương pháp xạ trị

Seminomas chiếm tỷ lệ khá cao các trường hợp được chẩn đoán mắc ung thư tinh hoàn. Thống kê cho thấy, khoảng 40 đến 45% các ca mắc bệnh thuộc loại ung thư này

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap

Trong khi đó, nonseminoma gồm những loại ung thư không phải là seminoma, thường được phát hiện ở nam giới khi còn trẻ. Nó có tốc độ phát triển mạnh và di căn rất nhanh

Ung thư tinh hoàn dạng nonseminoma có thể chứa các tế bào như teratoma và một số tế bào ung thư biểu mô embryonal. Thậm chí đôi khi chỉ là một khối u đơn thuần

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap1

Dạng ung thư này cũng tỏ ra có hiệu quả đối với phương pháp xạ trị nhưng nó không “nhạy” như seminoma. Phương pháp hóa trị thường mang lại hiệu quả cao hơn cho nonseminomas, ngay cả khi ung thư đã lan rộng

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap2

Tuy nhiên, việc phân chia như vậy không phải lúc nào cũng có thể được thực hiện một cách rạch ròi. Bởi nhiều trường hợp được chẩn đoán mắc ung thư tinh hoàn bao gồm cả dạng seminoma và nonseminoma

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap3

Một điều bất ngờ nữa là rất hiếm các trường hợp ung thư khác bắt đầu ở tinh hoàn. Cho đến nay, ung thư phổ biến nhất được tìm thấy ở tinh hoàn nam giới trên 50 tuổi là ung thư hạch

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap4

Ung thư tinh hoàn xảy ra khi các tế bào trong tinh hoàn bị thay đổi tính chất, không còn phát triển và phân chia một cách có trật tự. Những tế bào ung thư này tăng trưởng không kiểm soát và tích tụ thành một khối u trong tinh hoàn

Nguồn kiến thức

Hội chứng mệt mỏi kéo dài ở phụ nữ

Bạn luôn uể oải, mắt nặng trĩu cả khi vừa ngủ dậy? Suốt buổi sáng bạn ngáp dài, đến chiều tình hình còn tệ hơn dù có ngủ trưa? Đó là biểu hiện của hội chứng mệt mỏi kéo dài.

Biểu hiện của hội chứng này rất dễ nhận thấy: Lúc nào bạn cũng mệt mỏi. Ban ngày đi làm thấy mệt đã đành, tối đến bạn cũng uể oải khi ăn cơm, rồi thiếp đi khi bộ phim bạn yêu thích trên tivi đang ở đoạn hấp dẫn nhất. Đi khám, bác sĩ nói bạn không có bệnh gì, chỉ cần nghỉ ngơi nhiều hơn là sẽ khỏi. Và bạn thực sự lo lắng vì biết rằng nghỉ ngơi chẳng giúp ích gì, mỗi ngày bạn ngủ ít nhất 10 giờ đồng hồ đấy thôi.

hoi-chung-met-moi-keo-dai-o-phu-nu

Mệt mỏi là dấu hiệu ban đầu của rất nhiều bệnh. Đó có thể là dấu hiệu rõ ràng nhất của sự phiền muộn, ung thư, mất ngủ, thiếu máu, huyết áp thấp, nhiễm virus, bệnh lupus, bệnh đa xơ cứng, viêm khớp, mất cân bằng tai trong, giảm glucoza huyết, tăng huyết áp, bệnh tim… Nhưng mệt mỏi kéo dài là cơn mệt mỏi suy kiệt không thể giải thích được, kéo dài trên 6 tháng và không do bất kỳ một bệnh tật thể xác tiềm ẩn nào gây ra.

Bệnh nhân bị hội chứng trên thường có cùng một lúc các biểu hiện như đau họng, sưng tuyến nước bọt, sốt nhẹ, đau cơ và đôi khi rối trí. Những triệu chứng này lúc có, lúc không gây khó chịu cho việc chẩn đoán. Vì mệt mỏi là một triệu chứng rất chung nên các bác sĩ thường cho rằng những người quá mệt mỏi là do họ làm việc nhiều hoặc do phiền muộn.

Về nguyên nhân gây ra mệt mỏi kéo dài, có một thuyết cho rằng đó là một sự rối loạn chức năng miễn dịch cụ thể kéo dài, bắt đầu bằng việc nhiễm virus. Người ta ngờ rằng virus epstein-ban, coxsackie là thủ phạm của hội chứng trên, nhưng vẫn chưa chứng minh được chắc chắn.

Một số nghiên cứu cho rằng, các stress lớn như ly hôn, mất việc làm, mất người thân… là khởi nguồn của hội chứng mệt mỏi kéo dài, do stress làm yếu hệ thống miễn dịch.

Một nghiên cứu mới của Mỹ đã bước đầu đem lại một chút ánh sáng về căn bệnh này. Các nhà khoa học đã đo huyết áp của 23 người bị mệt mỏi kéo dài và nhận thấy 22 người có bất thường trong việc điều chỉnh huyết áp: Tim họ đập chậm lại vào đúng lúc lẽ ra phải đập nhanh hơn. Chẳng hạn khi nhấc một vật nặng, tim bạn phải đập mạnh hơn để bơm máu đi khắp cơ thể. Nhưng ở những bệnh nhân mệt mỏi kéo dài thì ngược lại.

Điểm lạ thứ hai là khi cho bệnh nhân nghiêng một góc 70 độ so với sàn nhà để giả định đã đứng một lúc lâu, thì hầu hết bệnh nhân đều bị tụt huyết áp. Họ cảm thấy choáng váng, yếu, buồn nôn và mệt mỏi, bơ phờ nhiều ngày sau đó. Các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu phản ứng huyết áp thấp kể trên xảy ra nhiều lần trong ngày ở một mức độ nào đó có thể gây kiệt sức liên tục.

Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân trong nghiên cứu này đã được điều trị thành công bằng thuốc, tăng khẩu phần muối và nước để điều chỉnh huyết áp. 9 người đã hoàn toàn bình phục. 7 người thấy đỡ mệt hơn.

Theo các chuyên gia, bạn có thể bị hội chứng mệt mỏi kéo dài nếu có các dấu hiệu sau:

– Đột nhiên mệt mỏi triền miên, dai dẳng và không lý giải được.
– Dù đã nghỉ ngơi cũng không bớt mệt.
– Khó tập trung và ghi nhớ đến mức ảnh hưởng xấu đến năng lực làm việc.
– Đau các hạch bạch huyết ở cổ hoặc dưới cánh tay.
– Đau nhức các cơ nhưng không hề bị sưng hay tấy đỏ.
– Đau đầu dữ dội.
– Thức dậy sau một giấc ngủ dài cũng không thấy tỉnh táo hơn.

Cách điều trị hiện nay là làm giảm các triệu chứng. Chẳng hạn, dùng các thuốc chống viêm, giảm đau để điều trị cơn đau đầu và đau cơ; dùng thuốc chống phiền muộn để vực dậy tinh thần; tập thể dục thể thao, vật lý trị liệu, tập thở… để thư giãn cơ bắp và tinh thần… Kiên trì làm như vậy một thời gian, bệnh sẽ thuyên giảm và hết lúc nào không biết.

Theo sức khỏe đời sống

20 cách tránh ung thư đơn giản

Gần đây, tạp chí “Quốc Phòng” của Mỹ đã đúc rút ra nhiều nghiên cứu y học và chỉ ra 20 diệu kế phòng chống ung thư sau đây.

20-cach-tranh-ung-thu-don-gian-

Sưởi nắng

Vitamin D có thể phòng ngừa nhiều loại ung thư bên trong như ung thư hạch, ung thư tuyến sữa và ùng thư kết tràng vv, tuy nhiên vitamin D trong da cần tia tử ngoại chiếu vào mới có thể phát huy uy lực chống ung thư, vì vậy tốt nhất mỗi ngày nên sưởi nắng 10-15 phút.

Ăn 1 quả cam/ngày

Vitamin C trong cam có tác dụng trợ giúp giết chết trực khuẩn xoắn ốc ở hậu môn-đây là kẻ thù gây ra ung thư dạ dày.

Ăn nhiều hoa quả màu đỏ

Dưa hấu, cà chua và nho giàu carotein, đây là thành phần chống ung thư nổi danh, careotein trong cà chua sau khi làm nóng càng dễ được cơ thể hấp thụ.

Uống cà phê giải phóng cafein

Mỗi ngày uống 2 ly cà phê loãng này có thể làm cho tỉ lệ phát sinh ung thư trực tràng giảm thấp 52%.

Ăn nhiều súp lơ luộc

Súp lơ luộc hoặc hấp 4-5 phút có thể làm cho hiệu quả của công thần chống ung thư là Sulforaphane tăng lên bội phần, tuy nhiên cần chú ý không nên hấp bằng lò vi sóng, nếu không sẽ mất 50% công hiệu. Khuyến nghị kết hợp với các loại giàu selen như hạt hướng dương,quả hạt vỏ cứng hoặc nấm ăn …hiệu quả càng cao.

Ăn nhiều chuối

Thụy Điển phát hiện, phụ nữ mỗi tuần ăn 4-6 quả chuối, nguy cơ ung thư thận giảm thấp 54%.

Ăn nhiều tỏi

Chất xúc tác Alliin trong tỏi có tác dụng chống ung thư. Sau khi cắt tỏi, để trong không khí 10 phút, chất xúc tác Alliin sẽ phát huy tác dụng càng rõ rệt.

Bổ sung canxi hàng ngày

Mỗi ngày uống 3 cốc (khoảng 200ml) sữa tách béo và thêm 200ml sữa chua có thể khống chế sự phát triển của búi trĩ kết tràng, phòng ngừa ung thư kết tràng.

Nướng khoa học

Khi nướng thịt ở nhiệt độ cao dễ sinh ra các amin tạp tuần hoàn, vì vậy khi nướng không nên để nhiệt độ quá cao hoặc trước khi nướng cho thịt vào lò vi sóng làm nóng, như vậy sẽ rút ngắn được thời gian nướng và giảm thấp hàm lượng amin tạp tuần hoàn.

Không ăn xúc xích

Nghiên cứu phát hiện mỗi ngày ăn một cây xúc xích nhỏ cũng dễ làm cho nguy cơ mắc ung thư tuyến tụy tăng lên 67%, vì vậy nên hạn chế ăn các thực phẩm đã qua gia công, chế biến.

Rời xa bánh mỳ trắng

Bánh mỳ trắng và một số thực phẩm chế biến tinh có chỉ số đường huyết cao, sẽ thúc đẩy insulin và “các yếu tố tăng trưởng giống insulin” bài tiết ra, từ đó tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư. Vì vậy nên ăn nhiều thực phẩm toàn lúa mỳ hoặc ngũ cốc.

Giảm cân

Ung thư tuyến sữa, ung thư tuyến tụy và một số ung thư khác đều liên quan đến béo phì.

Vận động 30 phút/ngày

Vận động hàng ngày hoặc ít nhất duy trì 5 ngày/tuần. Luyện tập thể thao có hiệu quả điều tiết mức hoocmon trong cơ thể, phòng ngừa ung thư buồn trứng, ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến sữa và ung thư kết tràng.

Cai thuốc

Những nơi khói thuốc thơm đi qua bao gồm cổ họng, yết hầu, thực quản đều ẩn nấp các nhân tố biến thành ung thư. Không chỉ như vậy, nó còn tăng nguy cơ gây ung thư dạ dày, gan, tiền liệt tuyến, đường ruột, tử cung và bầu ngực vv.

Làm việc nhà

Nghiên cứu của Canada phát hiện, làm việc nhà rất có ích phòng chống ung thư, sau khi tắt kinh, nếu phụ nữ thường xuyên làm việc nhà, nguy cơ ung thư tuyến sữa sẽ giảm thấp 30%.

Hãy cẩn thận chất radon

Loại khí thể phóng xạ không mùi này là nguyên nhân lớn thứ 2 gây ung thư phổi ở Mỹ. Sau khi xây/sửa nhà xong nhất định phải kiểm tra kỹ không khí trong phòng, tốt nhất nên xây/sửa xong một thời gian mới chuyển đến ở.

Qua 50 tuổi, nên soi kết tràng hàng năm

Mặc dù lần kiểm tra sức khỏe , xét nghiệm phân gần đây nhất không có vấn đề gì nhưng cũng không thể lơ là bỏ qua, nếu trong gia đình có tiền sử ung thư kết tràng thì nên kiểm tra sớm hơn 50 tuổi.

Chụp scan ngực

Chụp X quang bầu ngực kết hợp với chiếu tia B kiểm tra tường tận có thể bắt được từng ke tơ sợi tóc của manh mối gây ung thư tuyến sữa. Nghiên cứu của Đại học California phát hiện, bác sỹ có kinh nghiệm trên 25 năm thì khả năng kiểm tra càng giỏi, càng chuẩn.

Kiểm tra gene

Nếu trong gia đình có tiền sử bệnh ung thư, tốt nhất nên đến việm kiểm tra gene để kịp thời phát hiện ẩn hoạn của ung thư đồng thời sử dụng biện pháp phòng chống.

Chú ý sự thay đổi của bề mặt da

Định kỳ và phối hợp với bạn đời hoặc cổ động bạn tốt đi kiểm tra bề mặt cơ thể cùng nhau, bao gồm sau lưng, da đầu và những nơi khó chú ý tới. Nếu có màu tàn nhang, vết bớt hay nốt ruồi và lớn bé khác nhau thì cần chú ý, có thể là dấu hiệu của ung thư da. Ngoài ra, phụ nữ trên 40 tuổi nên đi khám da mỗi năm/lần.

Theo SKDS

Giảm rủi ro ung thư da nhờ uống cà phê

Một tách cà phê mỗi ngày có thể giúp hạ thấp rủi ro phát triển bệnh ung thư da phổ biến nhất – ung thư tế bào đáy, theo Daily Mail.

Bác sĩ Jiali Han, giáo sư tại Bệnh viện Brigham and Women (Mỹ) cho biết: “Dữ liệu chúng tôi thu thập được cho thấy số lượng cà phê bạn tiêu thụ có thể hạ thấp rủi ro phát triển bệnh ung thư tế bào đáy”.

giam-rui-ro-ung-thu-da-nho-uong-ca-phe

Bệnh ung thư tế bào đáy mặc dù phát triển chậm nhưng là căn bệnh đáng chú ý và là gánh nặng lên hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Ước tính tại Anh mỗi năm có 80.000 ca mắc bệnh này.

Tổng cộng có 112.897 người tham gia nghiên cứu, trong đó có 22.786 người phát triển bệnh ung thư tế bào đáy trong 20 năm theo dõi.

Theo đó, các nhà nghiên cứu theo dõi ảnh hưởng qua lại giữa việc tiêu thụ cà phê và bệnh ung thư tế bào đáy của các đối tượng, cho thấy việc uống cà phê mỗi ngày giúp hạ thấp nguy cơ phát triển bệnh này.

Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Nghiên cứu ung thư.

Ung thư dương vật dễ nhầm với bệnh tình dục

Các chuyên gia cảnh báo, nam giới cần phải nhận biết rõ về những triệu chứng của bệnh ung thư dương vật vì chúng thường bị nhầm với các biểu hiện của một căn bệnh lây lan qua đường tình dục (STD).

Theo các số liệu thống kê mới nhất, số đàn ông được chẩn đoán mắc ung thư dương vật đã tăng 20% trong 30 năm trở lại đây. Ung thư có thể phát triển ở bất kỳ đâu trên dương vật, nhưng vị trí phổ biến nhất là dưới bao quy đầu và trên phần đầu “cậu nhỏ”.

Các chuyên gia tin rằng, những nguyên nhân chính cho hiện tượng này có thể là các thay đổi về hành vi tình dục, việc tiếp xúc nhiều hơn với virus HPV lây lan qua đường tình dục và việc giảm tỉ lệ cắt bao quy đầu thời thơ ấu cho bé trai.

ung-thu-duong-vat-de-nham-voi-benh-tinh-duc

Các triệu chứng của ung thư dương vật, chẳng hạn như mụn trên “cậu nhỏ” có liên quan đến virus HPV, dễ bị nhầm là biểu hiện của một căn bệnh STD. 

Mụn trên dương vật, có liên quan đến virus HPV gắn liền với 1/6 nguy cơ phát triển ung thư “cậu nhỏ” và phạm vi ảnh hưởng của nó đang tăng lên nhanh chóng ở nam giới trong giai đoạn 1970 – 2009. Có hơn 100 loại virus HPV và chỉ 2 chủng gắn liền với ung thư dương vật. Tuy nhiên, cả 2 chủng này cũng dính líu đến ung thư vòm họng, ung thư cổ và ung thư hậu môn.

Ngoài ra, nguy cơ bị ung thư dương vật của một người đàn ông cũng tăng lên nếu anh ta hút thuốc lá. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hút thuốc có thể đóng vai trò như đồng tác nhân làm tăng tiến nguy cơ từ lây nhiễm HPV trở thành các thương tổn tiền ác tính và ung thư dương vật ác tính. Bên cạnh đó, các hóa chất độc hại có trong thuốc lá được thải ra nước tiểu. Sự tích tụ của những hóa chất này dưới bao quy đầu có thể gây ra những thay đổi ở các tế bào da khỏe mạnh bình thường, dẫn tới sự hình thành các tế bào ung thư.

Các tổ chức nghiên cứu về ung thư kêu gọi nam giới phải nhận biết rõ về những triệu chứng của bệnh ung thư dương vật, vì chúng thường bị nhầm lẫn với các biểu hiện của một căn bệnh STD.

Ung thư dương vật có tỉ lệ chữa trị thành công cao nếu được phát hiện sớm. Tuy nhiên, may mắn đã không xảy ra đối với một số nam giới như ông Nigel Smithđến từ Wolverhampton, Anh do bị chẩn đoán nhầm.

Tại một trung tâm y tế về sức khỏe tình dục, ông Smith được thông báo rằng, ông bị mụn dương vật có thể biến mất theo thời gian. Ông Smith đã giấu vợ các triệu chứng bệnh suốt 12 tháng sau đó bằng cách đòi ngủ riêng với lí do kiểm soát chứng ngáy to.

Ông Smith cuối cùng được chẩn đoán mắc ung thư dương vật vào năm 2011, lúc 58 tuổi và đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ một phần “cậu nhỏ” vào năm ngoái. Ông hiện đang cân nhắc việc tiến hành phẫu thuật tái phục hồi “cậu nhỏ”.

Ông Smith thổ lộ, nếu được một chuyên gia tiết niệu thăm khám sớm, có lẽ bệnh ung thư dương vật của ông đã được chẩn đoán và chữa trị ở giai đoạn 1, thay vì giai đoạn 3 như thực tế (giai đoạn 4 là giai đoạn cuối của ung thư).

Hiện bệnh ung thư của ông tạm thời được kiểm soát, nhưng vẫn có cơ hội 50/50 là căn bệnh sẽ quay trở lại như ung thư ở phổi hoặc gan. Ông hiện cũng phải chấm dứt mọi sinh hoạt tình dục do di chứng của bệnh.

(Theo Daily Mail)

Nhận thức sai lầm về ung thư dễ gặp

Một số ý tưởng phổ biến về ung thư bắt đầu và lan rộng, mặc dù sai về mặt khoa học, nhưng dường như nhiều người lại cho rằng nó có lý, đặc biệt khi những ý tưởng này lại có gốc rễ từ những lý thuyết cũ.

Những tư tưởng sai lạc về ung thư có thể dẫn đến những lo lắng không cần thiết thậm chí cản trở quá trình ngăn ngừa ung thư hiệu quả và các quyết định điều trị đúng đắn. Bài viết này cung cấp những thông tin mới nhất dựa trên cơ sở khoa học về những lời đồn hoang đường và nhận thức sai lầm về ung thư thường gặp.

Ung thư có phải là án tử hình?

Tại Mỹ, khả năng chết vì ung thư đã giảm mạnh từ những năm 1990. Tỷ lệ sống sót 5 năm sau điều trị một số loại ung thư ví dụ như ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư tuyến giáp đã vượt trên 90%. Tỷ lệ sống sót sau điều trị ung thư 5 năm cho tất cả các loại ung thư kết hợp lại hiện nay là khoảng 66%.

Đó là điều quan trọng cần ghi nhớ, tuy nhiên rằng các tỷ lệ này dựa trên dữ liệu nghiên cứu một lượng bệnh nhân rất lớn. Một bệnh nhân ung thư cụ thể sẽ sống bao lâu và liệu rằng họ có chết vì căn bệnh ung thư mà họ mắc phải hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bao gồm ung thư của họ phát triển nhanh hay chậm, ung thư xâm lấn nhiều hay ít trên cơ thể, bệnh nhân có tiếp cận được phác đồ điều trị tốt hay không, sức khỏe tổng thể của người đó ra sao và nhiều yếu tố khác.

Việc ăn đường làm cho ung thư diễn biến xấu đi?

nhan-thuc-sai-lam-ve-ung-thu-de-gap

Không. Mặc dù có nghiên cứu chỉ ra rằng tế bào ung thư tiêu thụ nhiều đường (đường glucose) hơn tế bào khỏe mạnh bình thường, nhưng không có một nghiên cứu nào chứng minh được ăn đường sẽ làm cho ung thư diễn biến xấu đi hoặc là nếu bạn không ăn đường thì ung thư sẽ teo lại hoặc biến mất. Tuy nhiên, một chế độ ăn nhiều đường có thể khiến bệnh nhân ung thư tăng cân và béo phì có liên quan tới việc tăng nguy cơ phát triển một vài loại ung thư.

Các chất làm ngọt nhân tạo gây ra ung thư?

Không. Các nhà khoa học đã thực hiện nhiều nghiên cứu về sự an toàn của các chất làm ngọt nhân tạo (các chất thay thế cho đường tự nhiên) saccharin – đường sacarin (tên thương mại là Sweet ‘N Low®, Sweet Twin®, NectaSweet®); đường hóa học – cyclamate; đường hóa học ít năng lượng – aspartame (tên thương mại là Equal®, NutraSweet®); Kali đường – acesulfame potassium (tên thương mại là Sunett®, Sweet One®); đường sucralose – làm từ củ cải đường hoặc cây có vị ngọt (tên thương mại là Splenda®) và không tìm được bằng chứng chúng gây ra ung thư ở người. Tất cả các chất làm ngọt nhân tạo này đường gọi chung là đường hóa học và được thông qua bởi Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ. Để có thêm thông tin về vấn đề này, vui lòng tìm đọc báo cáo về “Chất làm ngọt nhân tạo và Ung thư – Artificial Sweeteners and Cancer.

Ung thư là bệnh truyền nhiễm?

Về cơ bản, ung thư không phải là bệnh truyền nhiễm tức là không dễ dàng truyền từ người này sang người khác. Tình huống duy nhất mà trong đó ung thư truyền từ người này sang người khác là qua cấy ghép nội tạng hoặc tế bào. Một người nhận nội tạng hoặc tế bào từ một người hiến tặng mắc ung thư trong quá khứ có thể tăng nguy cơ ung thư phát triển qua bộ phận cấy ghép của người nhận trong tương lai. Tuy nhiên, nguy cơ là vô cùng thấp – chỉ rơi vào khoảng 2 trường hợp trong số 10,000 ca cấy ghép nội tạng. Các bác sĩ luôn tránh sử dụng nội tạng và tế bào của người hiến tặng có tiền sử mắc ung thư.

Ở một số người, bệnh ung thư gây ra bởi một số loại vi – rút (ví dụ một vài loại vi-rút gây bướu ở người, hay vi-rút HPV gây ung thư cổ tử cung) hoặc vi khuẩn H.Pylori gây các bệnh về dạ dày (Helicobacter pylori). Trong khi một số loại vi-rút hoặc vi khuẩn có thể lây truyền từ người sang người, các loại ung thư do các loại vi-rút nêu trên gây ra lại không thể lây truyền từ người này sang người khác.

Thái độ tiêu cực và tích cực có liên quan đến rủi ro mắc ung thư hoặc quyết định sự hồi phục trong điều trị ung thư?

Tới nay, không có bằng chứng khoa học thuyết phục nào chỉ ra mối liên kết giữa thái độ của một người đối với việc người đó có nguy cơ phát triển bệnh ung thư hoặc chết vì ung thư. Nếu không may mắc ung thư, hoàn toàn là bình thường nếu người đó đôi khi cảm thấy buồn đau, tức giận, thậm chí tuyệt vọng đôi khi lại lạc quan và vui vẻ. Những người có thái độ lạc quan vẫn có thể duy trì các mối quan hệ xã hội, năng động và các hoạt động thể chất. Các hỗ trợ tinh thần có thể giúp họ đối mặt với ung thư một cách tốt nhất.

Phẫu thuật cắt u hoặc sinh thiết u có thể làm cho ung thư lan ra toàn cơ thể?

Khả năng phẫu thuật làm cho ung thư lan rộng ra các bộ phận khác của cơ thế là vô cùng thấp. Tuân theo những quy trình chuẩn mực, các bác sĩ phẫu thuật sử dụng những phương pháp đặc biệt và phải làm nhiều bước để ngăn ngừa tế bào ung thư lan rộng trong quá trình sinh thiết hoặc phẫu thuật để cắt bỏ khối u. Ví dụ, nếu họ phải cắt bỏ tế bào ung thư từ hai phần khác nhau của cơ thể, họ phải dùng hai bộ dụng cụ phẫu thuật khác nhau.

Ung thư sẽ tiến triển nhanh nếu nó bị phơi lộ ra ngoài không khí?

Không. Việc ung thư phơi lộ ra bên ngoài không khí sẽ không làm cho khối u phát triển nhanh hơn hoặc không làm cho ung thư xâm lấn tới các bộ phận khác của cơ thể.

Dùng điện thoại di động sẽ gây ung thư?

nhan-thuc-sai-lam-ve-ung-thu-de-gap1

Không. Nguyên nhân của ung thư là do đột biến gen và điện thoại di động là một phương tiện sử dụng năng lượng tần số thấp không gây ảnh hưởng tới gen.

Đường dây điện có thể gây ung thư?

Không. Đường dây điện phát ra năng lượng điện và từ trường. Năng lượng điện được truyền dẫn bởi hệ thống dây, cáp và rất dễ dàng bị che chắn và yếu đi bởi bờ tường và các vật thể. Năng lượng từ trường được truyền dẫn bởi hệ thống dây, cáp là loại phóng xạ năng lượng tần số thấp và cũng không gây hại cho gen.

Các sản phẩm thảo dược có thể cứu, chữa khỏi được ung thư?

Không. Mặc dù một vài nghiên cứu khuyến nghị rằng các phương pháp điều trị thay thế và điều trị bổ sung bao gồm một vài loại thảo dược có thể giúp bệnh nhân chiến đấu và vượt qua các tác dụng phụ của các phác đồ điều trị ung thư của tây y một cách tốt hơn, nhưng không có một sản phẩm thảo dược nào được chứng minh là có hiệu quả điều trị ung thư. Thực tế, một số sản phẩm thảo dược có thể gây hại khi uống chung trong thời kỳ truyền hóa chất hoặc xạ trị bởi vì nó ngăn cản phác đồ điều trị phát huy tác dụng. Bệnh nhân ung thư nên trao đổi với bác sĩ về bất kỳ sản phẩm dược bổ sung hoặc thay thế nào – bao gồm cả vitamin và các thực phẩm chức năng thảo dược – mà họ có thể sẽ sử dụng.

Nếu có ai đó trong gia đình mắc ung thư, tôi có thể cũng sẽ mắc ung thư đúng không?

Không nhất thiết. Nguyên nhân gây ra ung thư là sự biến đổi không bình thường của gen. Chỉ có khoảng từ 5-10% số người mắc ung thư là do gen gây ra do họ thừa kế gen từ bố mẹ mình. Trong các gia đình có thừa kế gen di truyền gây ung thư, thường thì nhiều thành viên trong gia đình sẽ cùng mắc một loại bệnh ung thư. Những loại ung thư này gọi là ung thư có tiền sử gia đình – ung thư có tính chất “cận hệ”.

90-95% số người mắc ung thư còn lại là do đột biến gen xảy ra trong quá trình sống như là một kết quả tự nhiên của việc già đi hoặc là phơi nhiễm một vài yếu tố môi trường ví dụ như khói thuốc lá hoặc nhiễm phóng xạ. Những người mắc ung thư dạng này thì được gọi là ung thư không có tiền sử gia đình hoặc là ung thư ngẫu nhiên.

Nếu như không ai trong gia đình tôi mắc ung thư thì tôi sẽ không có nguy cơ mắc ung thư?

Không. Dựa trên những dữ liệu nghiên cứu gần đây nhất khoảng 40% nam giới và phụ nữ sẽ nhận chẩn đoán mắc ung thư trong suốt cuộc đời của mình. Hầu hết các loại ung thư là do đột biết gen và có thể xảy ra trong suốt cuộc đời một con người như là kết quả tự nhiên của việc lão hóa, phơi nhiễm một vài yếu tố môi trường như khói thuốc là, phóng xạ. Các yếu tố khác như thực phẩm mà bạn ăn, bạn ăn bao nhiêu và liệu bạn có tập thể dục hay không cũng có ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển ung thư.

Các chất khử mùi, ngăn mồ hôi gây ra ung thư vú?

Không. Đến nay, những nghiên cứu tốt nhất đều không tìm ra được bằng chứng liên quan giữa các chất hóa học có trong thành phần của các sản phẩm khử mùi, ngăn mồ hôi và nguyên nhân thay đổi các tế bào vú.

Các sản phẩm nhuộm tóc tăng nguy cơ gây ung thư?

Không có bằng chứng thuyết phục nào về việc sử dụng thuốc nhuộm tóc làm tăng nguy cơ gây ung thư. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khuyến nghị rằng những thợ cắt tóc, thợ làm đầu thường xuyên tiếp xúc với một lượng lớn thuốc nhuộm và các sản phẩm hóa chất khác có thể tăng nguy cơ gây ung thư bàng quang.

(Theo cancer.org)

Giảm 60% nguy cơ ung thư nhờ uống sữa

Theo một nghiên cứu mới đây tại Mỹ, khi uống sữa có tăng cường canxi và và vitamin D sẽ giúp giảm ít nhất là 60% nguy cơ ung thư ở phụ nữ.

Trong 4 năm liên tục, hơn 1.000 phụ nữ trong độ tuổi 55 được chia thành 3 nhóm uống các viên bổ sung: canxi và vitamin D; chỉ canxi; giả dược. Kết quả cho thấy khả năng ngăn chặn các khối u ác tính là 60% ở những người uống canxi và vitamin D, 47% ở những người chỉ uống canxi so với những người uống giả dược.

giam-60-nguy-co-ung-thu-nho-uong-sua

Có thể thay thế viên bổ sung bằng các thực phẩm giàu vitamin-D như sữa và các sản phẩm từ sữa bởi sữa thực sự là nguồn canxi và vitamin D tuyệt vời nhất khi nó cùng với ánh nắng đáp ứng 70% nhu cầu của cơ thể về 2 vi chất này.

Trong 4 năm tiến hành nghiên cứu đã có 50 phụ nữ bị các bệnh ung thư (không phải ung thư da) bao gồm: ung thư vú, ung thư ruột, ung thư phổi và 1 số loại ung thư khác. Trong đó, 13 ca ung thư chẩn đoán ở năm đầu tiên đã từng tham gia 1 nghiên cứu trước đó với kết quả là giảm nguy cơ phát triển khối u tới 77% so với các nhóm uống giả dược khác.

“Đây là nghiên cứu đầu tiên cho thấy việc tăng cường vitamin D có thể ngăn chặn bệnh ung thư”, trưởng nhóm nghiên cứu, TS Joan Lappe, một chuyên gia nghiên cứu về dinh dưỡng của ĐH Creighton (bang Omaha, Mỹ) cho biết.

Một số nghiên cứu trước đó cũng cho kết quả tương tự rằng canxi và vitamin D có thể giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ tiền mãn kinh và ung thư ruột kết ở phụ nữ mãn kinh.

Theo AFP, Đài TH Tp. Hồ Chí Minh

20 cach nhằm tránh xa ung thư đơn giản

Gần đây, tạp chí “Quốc Phòng” của Mỹ đã đúc rút ra nhiều nghiên cứu y học và chỉ ra 20 diệu kế phòng chống ung thư sau đây.

20-cach-tranh-xa-ung-thu-don-gian

Sưởi nắng

Vitamin D có thể phòng ngừa nhiều loại ung thư bên trong như ung thư hạch, ung thư tuyến sữa và ùng thư kết tràng vv, tuy nhiên vitamin D trong da cần tia tử ngoại chiếu vào mới có thể phát huy uy lực chống ung thư, vì vậy tốt nhất mỗi ngày nên sưởi nắng 10-15 phút.

Ăn 1 quả cam/ngày

Vitamin C trong cam có tác dụng trợ giúp giết chết trực khuẩn xoắn ốc ở hậu môn-đây là kẻ thù gây ra ung thư dạ dày.

Ăn nhiều hoa quả màu đỏ

Dưa hấu, cà chua và nho giàu carotein, đây là thành phần chống ung thư nổi danh, careotein trong cà chua sau khi làm nóng càng dễ được cơ thể hấp thụ.

Uống cà phê giải phóng cafein

Mỗi ngày uống 2 ly cà phê loãng này có thể làm cho tỉ lệ phát sinh ung thư trực tràng giảm thấp 52%.

Ăn nhiều súp lơ luộc

Súp lơ luộc hoặc hấp 4-5 phút có thể làm cho hiệu quả của công thần chống ung thư là Sulforaphane tăng lên bội phần, tuy nhiên cần chú ý không nên hấp bằng lò vi sóng, nếu không sẽ mất 50% công hiệu. Khuyến nghị kết hợp với các loại giàu selen như hạt hướng dương,quả hạt vỏ cứng hoặc nấm ăn …hiệu quả càng cao.

Ăn nhiều chuối

Thụy Điển phát hiện, phụ nữ mỗi tuần ăn 4-6 quả chuối, nguy cơ ung thư thận giảm thấp 54%.

Ăn nhiều tỏi

Chất xúc tác Alliin trong tỏi có tác dụng chống ung thư. Sau khi cắt tỏi, để trong không khí 10 phút, chất xúc tác Alliin sẽ phát huy tác dụng càng rõ rệt.

Bổ sung canxi hàng ngày

Mỗi ngày uống 3 cốc (khoảng 200ml) sữa tách béo và thêm 200ml sữa chua có thể khống chế sự phát triển của búi trĩ kết tràng, phòng ngừa ung thư kết tràng.

Nướng khoa học

Khi nướng thịt ở nhiệt độ cao dễ sinh ra các amin tạp tuần hoàn, vì vậy khi nướng không nên để nhiệt độ quá cao hoặc trước khi nướng cho thịt vào lò vi sóng làm nóng, như vậy sẽ rút ngắn được thời gian nướng và giảm thấp hàm lượng amin tạp tuần hoàn.

Không ăn xúc xích

Nghiên cứu phát hiện mỗi ngày ăn một cây xúc xích nhỏ cũng dễ làm cho nguy cơ mắc ung thư tuyến tụy tăng lên 67%, vì vậy nên hạn chế ăn các thực phẩm đã qua gia công, chế biến.

Rời xa bánh mỳ trắng

Bánh mỳ trắng và một số thực phẩm chế biến tinh có chỉ số đường huyết cao, sẽ thúc đẩy insulin và “các yếu tố tăng trưởng giống insulin” bài tiết ra, từ đó tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư. Vì vậy nên ăn nhiều thực phẩm toàn lúa mỳ hoặc ngũ cốc.

Giảm cân

Ung thư tuyến sữa, ung thư tuyến tụy và một số ung thư khác đều liên quan đến béo phì.

Vận động 30 phút/ngày

Vận động hàng ngày hoặc ít nhất duy trì 5 ngày/tuần. Luyện tập thể thao có hiệu quả điều tiết mức hoocmon trong cơ thể, phòng ngừa ung thư buồn trứng, ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến sữa và ung thư kết tràng.

Cai thuốc

Những nơi khói thuốc thơm đi qua bao gồm cổ họng, yết hầu, thực quản đều ẩn nấp các nhân tố biến thành ung thư. Không chỉ như vậy, nó còn tăng nguy cơ gây ung thư dạ dày, gan, tiền liệt tuyến, đường ruột, tử cung và bầu ngực vv.

Làm việc nhà

Nghiên cứu của Canada phát hiện, làm việc nhà rất có ích phòng chống ung thư, sau khi tắt kinh, nếu phụ nữ thường xuyên làm việc nhà, nguy cơ ung thư tuyến sữa sẽ giảm thấp 30%.

Hãy cẩn thận chất radon

Loại khí thể phóng xạ không mùi này là nguyên nhân lớn thứ 2 gây ung thư phổi ở Mỹ. Sau khi xây/sửa nhà xong nhất định phải kiểm tra kỹ không khí trong phòng, tốt nhất nên xây/sửa xong một thời gian mới chuyển đến ở.

Qua 50 tuổi, nên soi kết tràng hàng năm

Mặc dù lần kiểm tra sức khỏe , xét nghiệm phân gần đây nhất không có vấn đề gì nhưng cũng không thể lơ là bỏ qua, nếu trong gia đình có tiền sử ung thư kết tràng thì nên kiểm tra sớm hơn 50 tuổi.

Chụp scan ngực

Chụp X quang bầu ngực kết hợp với chiếu tia B kiểm tra tường tận có thể bắt được từng ke tơ sợi tóc của manh mối gây ung thư tuyến sữa. Nghiên cứu của Đại học California phát hiện, bác sỹ có kinh nghiệm trên 25 năm thì khả năng kiểm tra càng giỏi, càng chuẩn.

Kiểm tra gene

Nếu trong gia đình có tiền sử bệnh ung thư, tốt nhất nên đến việm kiểm tra gene để kịp thời phát hiện ẩn hoạn của ung thư đồng thời sử dụng biện pháp phòng chống.

Chú ý sự thay đổi của bề mặt da

Định kỳ và phối hợp với bạn đời hoặc cổ động bạn tốt đi kiểm tra bề mặt cơ thể cùng nhau, bao gồm sau lưng, da đầu và những nơi khó chú ý tới. Nếu có màu tàn nhang, vết bớt hay nốt ruồi và lớn bé khác nhau thì cần chú ý, có thể là dấu hiệu của ung thư da. Ngoài ra, phụ nữ trên 40 tuổi nên đi khám da mỗi năm/lần.

Theo SKDS

Ung thư bạch cầu dạng tủy cấp tính

Thuốc azacitidine có thể kéo dài đáng kể cuộc sống cho những người bị rối loạn tủy, nguyên nhân thường dẫn đến bệnh ung thư bạch cầu dạng tủy cấp tính (AML).

Đây là phát hiện của các nhà nghiên cứu trường Đại học Paris, công bố trên tạp chí y học “The Lancet” của Anh ra ngày 18/2.

Trong nghiên cứu lâm sàng, nhóm đã thử nghiệm azacitidine trên 358 bệnh nhân có nguy cơ cao phát triển AML. Một nửa trong số này được tiêm azacitidine 7 ngày/tháng trong vòng 6 tháng. Số còn lại được điều trị bằng các phương pháp thông thường như sử dụng thuốc giảm đau và hóa trị liệu.

benh-bach-cau-cap

Kết quả cho thấy những bệnh nhân sử dụng azacitidine sống lâu hơn 9 tháng so với những bệnh nhân được điều trị bằng các phương pháp thông thường.

Các nhà nghiên cứu cho biết azacitidine phát huy tác dụng rõ ràng chỉ sau 3 tháng điều trị và thời gian kéo dài sự sống có thể tăng gấp đôi nếu bệnh nhân được sử dụng thuốc trong vòng hai năm.

Thuốc này còn có tác dụng làm chậm lại thời gian phát bệnh 6 tháng và làm tăng cơ hội không phát triển bệnh AML hoàn toàn hoặc một phần.

Tuy nhiên, thuốc azacitidine cũng gây tác dụng phụ giống các biện pháp điều trị AML khác. Tần xuất phát sinh sự cố nghiêm trọng liên quan đến máu ở bệnh nhân sử dụng azacitidine cao hơn một chút so với những bệnh nhân được chỉ định sử dụng thuốc giảm đau, nhưng thấp hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng hóa trị liệu.

Ung thư buồng trứng từ bột tan

Hiệp hội người tiêu dùng Malaysia cảnh báo rằng người tiêu dùng nên sử dụng các sản phẩm được sản xuất từ loại bột gạo và ngô truyền thống thay vì dùng bột đá vì loại bột này có nguy cơ gây hại cho sức khỏe.

Hiệp hội trên đã đưa ra lời cảnh báo sau khi tại Mỹ người ta phát hiện 40% số phụ nữ hay sử dụng bột tan có thể bị mắc ung thư buồng trứng. Một cuộc nghiên cứu của Trường Đại học Y khoa Harvard (Mỹ) với trên 3.000 phụ nữ cho thấy 36% những người sử dụng bột tan 1 lần/tuần có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng, trong khi 41% những người sử dụng hằng ngày có nguy cơ mắc căn bệnh này.

ung-thu-buong-trung-tu-bot-tan

Bởi vậy, người phụ trách nhóm nghiên cứu trên khuyến cáo chị em phụ nữ nên tránh dùng bột tan cho vùng kín cho tới khi các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu thêm.

Trong một cuộc họp báo ngày 17/2 tại George Town, Malaysia, Chủ tịch Hiệp hội người tiêu dùng Malaysia, ông Mohd Idris nói rằng bất chấp những nguy cơ do bột tan mang lại, trên thị trường, vẫn rất nhiều loại sản phẩm chứa bột tan được lưu hành, trong số này có cả các sản phẩm dùng cho trẻ nhỏ.

Đa số các sản phẩm bột tan đều do các hãng có tiếng tăm sản xuất và người tiêu dùng mua chúng vì thích cảm giác mềm mượt của làn da khi sử dụng. Loại bột này là một chất hút thấm nước có hiệu quả giúp khử mùi hôi và khiến người sử dụng không có cảm giác ướt át.

Thành phần cơ bản trong bột tan gồm hợp chất silic hydroxit magie và cũng là chất chủ đạo trong các loại bột phấn dùng cho trẻ em, y tế và phấn thơm cơ thể. Các phân tử bột tan có thể thâm nhập qua đường sinh dục và lưu lại trong buồng trứng.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy các phân tử bột tan trong các khối u buồng trứng và họ cũng phát hiện thấy rằng những phụ nữ bị ung thư buồng trứng hay sử dụng bột tan cho vùng kín hơn các phụ nữ không mắc căn bệnh này.

Giờ đây, thông điệp gửi đến chị em phụ nữ đó là hãy cảnh giác đối với các sản phẩm có chứa bột tan và ngừng tiếp thị các loại phấn bột dùng cho trẻ em có chứa chất bột này

Theo Vietnam+

Nguy cơ ung thư họng từ thói quen uống trà quá nóng

Theo một nghiên cứu mới công bố trên website bmj.com, chúng ta được khuyên là chỉ nên uống trà sau khi đã pha khoảng một vài phút. Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu uống trà của nóng (từ 70 độ C trở lên) có thể làm tăng nguy cơ ung thư thực quản – ống cơ dẫn thức ăn từ họng tới dạ dày.

Nghiên cứu được thực hiện ở miền bắc Iran nơi tiêu thụ một lượng lớn trà xanh mỗi ngày.

Nhưng một biên tập viên lại cho rằng những phát hiện này không phải là nguyên nhân để cảnh báo mọi người. Lời khuyên chung nhất chính là hãy đợi thức ăn và đồ uống nguội đi một chút trước khi nuốt.

tra-nong

Căn bệnh ung thư thực quản đã lấy đi sinh mạng của hơn 500.000 người trên toàn thế giới mỗi năm, và dạng ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản (OSCC) là dạng phổ biến nhất. Tại Châu Âu và Hoa Kỳ, nguyên nhân chính là hút thuốc lá và uống rượu, thói quen này phổ biến hơn ở đàn ông. Nhưng việc uống đồ uống nóng cũng là một yếu tố nguy cơ nữa.

Thành phố Golestan ở bắc Iran là một trong những nơi có tỷ lệ mắc OSCC cao nhất trên thế giới, nhưng tỷ lệ người hút thuốc lá và uống rượu lại khác thấp. Tại đây phụ nữ lại là người thường bị chẩn đoán mắc bệnh hơn đàn ông. Tuy nhiên uống trà lại là thói quen phổ biến. Do đó các khoa học đã bắt tay và tiến hành kiểm tra mối liên hệ giữa thói quen uống trà và nguy cơ mắc OSCC.

Họ đã nghiên cứu thói quen uống trà ở 300 người chẩn đoán mắc OSCC đồng thời kết hợp với kết quả của 571 người khỏe mạnh ở cùng khu vực đó. Hầu như tất cả người tham gia đều uống trà đen thường xuyên, thể tích trung bình mà họ uống mỗi ngày là trên 1 lít.

So với việc uống trà ấm (65 độ C trở xuống), việc uống trà nóng (65-69 độ C) có liên quan với nguy cơ mắc ung thư thực quản tăng gấp đôi, còn uống trà nóng (từ 70 độ C) trở lên lại gắn với con số nguy cơ tăng gấp 8 lần.

Tương tự, so với việc uống trà trong vòng 4 phút hoặc hơn sau khi rót ra, uống trà sau khi rót chưa đầy 2 phút sẽ làm tăng nguy cơ lên 4 hoặc 5 lần. Không có sự liên hệ nào giữa lượng trà uống vào và nguy cơ mắc bệnh ung thư.

Nhằm giảm tối thiểu sai sót trong nhiệt độ trà thực và nhiệt độ trà mà người tham gia thuật lại, các nhà nghiên cứu đã phải xác định nhiệt độ thực khi 50.000 người tham gia uống trà. Nhiệt độ nằm trong khoảng dưới 60 độ C đến trên 70 độ C. Có sự đồng nhất tương đối giữa nhiệt độ thực đo được và nhiệt độ mà người tham gia đề cập.

Các tác giả cho biết kết quả nghiên cứu của họ thể hiện mối liên hệ mạnh mẽ giữa nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào hình vảy thực quản và thói quen uống trà nóng hoặc quá nóng.

Các nghiên cứu trước đây thực hiện tại Anh Quốc cũng đưa ra con số trung bình là 56 đến 60 độ C ở những nhóm người khỏe mạnh.

Họ cũng đồng thời cho rằng việc thông báo với người dân về nguy cơ của thói quen uống trà nóng có thể rất hữu ích trong việc giảm tác động của bệnh ung thư thực quản tại Golestan cũng như các nhóm nguy cơ cao khác có chung một thói quen.

Theo David Whiteman thuộc Viện nghiên cứu y học Queensland tại Australia, kết quả cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng uống trà nóng ở nhiệt độ cao hơn 70 độ C có thể làm tăng nguy cơ ung thư tế bào biểu mô hình vảy thực quản.

Nghiên cứu cũng đồng thời hỗ trợ cho quan điểm rằng tổn thương về nhiệt có thể là nguyên nhân gây ung thư biểu mô mặc dù cơ chế nhiệt độ thúc đẩy sự phát triển khối u vẫn chưa được làm rõ và cần nghiên cứu bổ sung.

Tuy nhiên tác giả nhấn mạnh rằng các phát hiện này không phải là nguyên nhân để đưa ra cảnh báo, cũng không phải là căn cớ để buộc người dân giảm hứng thú của mình đối với thói quen uống trà tao nhã. Thay vào đó, chúng ta nên chờ ít nhất 4 phút hoặc hơn để trà và đồ uống nguội bớt từ mức có thể gây bỏng đến mức có thể uống được.

Theo PhysOrg

Những cách phòng chống ung thư hữu hiệu

Tuy đơn giản nhưng những thói quen mới này có thể giúp bạn tránh được căn bệnh đáng sợ của xã hội hiện đại – ung thư.

Mở cửa sổ
Không khí ô nhiễm không chỉ vì xe cộ và các công trình xây dựng mà còn từ bếp nhà bạn với các loại khí gas độc hại. Ngoài ra, trong quá trình sinh hoạt phải dùng đến hóa chất, căn nhà của chúng ta ngập tràn khí thải gây hại cho phổi và hệ hô hấp.Vì vậy, các chuyên gia y tế khuyên bạn nên mở cửa sổ, trồng thêm cây xanh trong nhà để làm trong lành bầu không khí, giúp tăng khả năng miễn dịch cho hệ hô hấp.

tam-nang

Tắm nắng
Mặc dù ánh nắng mặt trời gay gắt có thể hủy hoại làn da của bạn, nhưng nếu thiếu nó, cơ thể không tổng hợp được vitamin D và dẫn tới nhiều hệ lụy nghiêm trọng.
Bạn nên dành 15-20 phút mỗi sáng sớm để tắm nắng, vừa tốt cho da, vừa giúp tổng hợp vitamin D giúp năng ngừa nhiều loại ung thư khác nhau, nhất là ung thư da.

Uống sữa đậu nành
Đậu nành có các chất chống oxy hóa và estrogen rất tốt cho phụ nữ. Uống sữa đậu nành đều đặn không chỉ giúp bạn có làn da căng mịn, trẻ lâu mà còn góp phần thúc đẩy cơ thể gia tăng khả năng chống lại các bệnh, bao gồm cả ung thư.

Giảm ăn ngọt
Chính xác hơn là hạn chế lượng đường mà bạn hấp thụ mỗi ngày. Theo các nhà khoa học Nhật, chính đường là nguồn dinh dưỡng quan trọng nuôi lớn các tế bào ung thư. Càng ăn nhiều đồ ngọt như bánh kẹo, thức uống có gas, bạn càng gia tăng nguy cơ bị ung thư.

Nhai kỹ khi ăn
Nhiều nghiên cứu tại Mỹ đã chỉ ra rằng việc nhai thức ăn không kỹ dẫn đến áp lực tiêu hóa cho dạ dày rất lớn. Ngoài ra, nếu nhai thức ăn không kỹ, nước bọt chưa thấm đều vào thức ăn, các vi khuẩn có hại sẽ xuất hiện nhiều hơn, gây nguy cơ viêm dạ dày.

Nước bọt có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ tiêu hóa, trung hòa các chất độc hại có trong thức ăn, giúp bảo vệ sức khỏe của bạn. Nên nhai kỹ khi ăn, đặc biệt là với thực phẩm chiên xào.

Theo Afamily

Tăng cường sàng lọc ung thư cổ tử cung

Tần suất mắc ung thư cổ tử cung có xu hướng gia tăng tại Việt Nam. Nếu không có biện pháp can thiệp sàng lọc, dự phòng và điều trị thì trong khoảng 10 năm nữa, tỷ lệ mắc mới và tử vong do bệnh này sẽ tăng thêm khoảng 25%. Thông tin trên được đưa ra tại Hội thảo sàng lọc ung thư cổ tử cung vừa qua tại Hà Nội.

Mặc dù là bệnh có thể dự phòng và phát hiện sớm, nhưng hiện tại ung thư cổ tử cung vẫn là một trong những bệnh ung thư thường gặp nhất và gây tử vong cao thứ hai cho phụ nữ Việt Nam do phát hiện và chẩn đoán muộn.

tang-cuong-sang-loc-ung-thu-co-tu-cung

Tư vấn cho bạn trẻ cách phòng ngừa ung thư cổ tử cung. Ảnh: TL

Nguyên nhân gia tăng bệnh ung thư cổ tử cung tại Việt Nam, theo các chuyên gia y tế là do phụ nữ chưa được sàng lọc định kỳ có hệ thống để phát hiện sớm ung thư qua các xét nghiệm thích hợp. Có nhiều trường hợp khi phát hiện tổn thương tiền ung thư cũng chưa được điều trị kịp thời và hiệu quả. Chính vì vậy, mục đích của hội thảo về các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung là thảo luận, trao đổi và đưa ra các giải pháp tăng cường sàng lọc, phát hiện và điều trị sớm căn bệnh này.

Để đáp ứng nhu cầu kiến thức và kỹ năng đối với các cán bộ y tế trong việc cung cấp dịch vụ sàng lọc, dự phòng và điều trị ung thư cổ tử cung tại các tuyến y tế cơ sở, ngày 16/5/2011 Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 1476/QDD-BYT về việc phê duyệt tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn sàng lọc, điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp ung thư cổ tử cung” được áp dụng trong tất cả các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước, tư nhân có cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Dự án Hỗ trợ kỹ thuật tăng cường hệ thống y tế tuyến tỉnh là dự án hợp tác song phương giữa Bộ Y tế và Chính phủ Đức thông qua tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) cũng bắt đầu được thực hiện từ tháng 3/2009 với mục tiêu cải thiện sức khỏe người dân thông qua việc tăng cường các dịch vụ y tế có chất lượng và phù hợp cho người nghèo tại các tỉnh Yên Bái, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Phú Yên. Từ năm 2013 – 2015, dự án hướng tới tăng cường năng lực cho các Sở Y tế và các đơn vị y tế trong việc quản lý y tế, cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng dựa trên nhu cầu, tập trung vào sàng lọc, dự phòng và điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp ung thư cổ tử cung cho phụ nữ ở các khu vực chịu tác động của đói nghèo.

Theo sức khỏe đời sống

Ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới có liên quan đến Vitamin E

Các nhà nghiên cứu cho rằng khi bổ sung quá nhiều vitamin E cùng với selen, người đàn ông có nguy cơ mắc phải ung thư tuyến tiền liệt cao hơn.

Nghiên cứu được thử nghiệm trên 1700 nam giới bị mắc ung thư tuyến tiền liệt và 3100 nam giới khỏe vào năm 2001. Những người đàn ông trên được chỉ định ngẫu nhiên để nhận vào cơ thể liều cao vitamin E và selen, hoặc nhận vào cơ thể giả dược.

Trước khi tham gia, các nhà nghiên cứu đã đo lượng selen ở móng chân của những người tham gia thí nghiệm.

ung-thu-tuyen-tien-liet-o-nam-gioi-co-lien-quan-den-vitamin-e

Kết quả cho thấy, người sử dụng vitamin E đã mắc ung thư tuyến tiền liệt nhiều hơn những người đàn ông dùng giả dược. Đồng thời, vitamin E còn làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt ở những người có nồng độ selen thấp.

Tiến sĩ Eric Klein – chủ nhiệm khoa tiết niệu và thận của Bệnh viện Cleveland cùng các đồng nghiệp của ông đã nói trên tạp chí của Viện ung thư Quốc Gia rằng: “Đàn ông nên tránh bổ sung selen và vitamin E quá liều lượng”.

Những phát hiện này đã cho thấy sự tương tác phức tạp giữa selen và vitamin E. Đồng thời nghiên cứu cho thấy vitamin E làm tăng nguy cơ ung thư ở những người đàn ông có nồng độ selen thấp.

Đây là một sự bất ngờ bởi trước đó, Paul Frankel – một nhà thống kê sinh học của Trung tâm Ung thư hỗn hợp đã cho rằng vitamin E và selen có vai trò chống oxy hóa và việc bổ sung vitamin E có thể bù đắp cho sự thâm hụt chất chống oxy hóa do nồng độ thấp selen mà ra.

Ông Klein còn nói thêm: “Vitamin không phải không độc. Chúng có thể gây hại cho bạn”.

Các nhà nghiên cứu khuyên rằng, những người đàn ông lớn tuổi hơn 55 nên tránh bổ sung lượng lớn vitamin E hoặc selen trong chế độ ăn của mình.

Theo Vietnamnet, Dailymail

Phòng tránh ung thư phổi

Ngoài thuốc lá là nguyên nhân chủ yếu gây ra ung thư phổi, còn rất nhiều nguyên nhân khác, một nửa số người bị mắc bệnh này hiện là người không hút thuốc. Sau đây là các cách phòng tránh:

– Cai thuốc lá

Nếu bạn đang hút, hãy bỏ thuốc ngay lập tức

Nếu không phải là người hút thuốc, đừng bao giờ hút thử.

Tránh cả hút thuốc lá thụ động, hít phải khói thuốc của người hút.

Tránh cả hút thuốc lá thụ động là cách phòng tránh ung thư phổi. Ảnh minh họa

Tránh cả hút thuốc lá thụ động là cách phòng tránh ung thư phổi. Ảnh minh họa

– Tập thể dục:

Tập luyện thường xuyên có thể hữu ích trong phòng ngừa ung thư phổi. Nghiên cứu đã gắn hoạt động thể lực trong việc giảm nguy cơ ung thư phổi. Kể cả các hoạt động đơn giản như làm vườn 2 lần 1 tuần có thể giúp bạn giảm nguy cơ mắc ung thư phổi.

– Chế độ ăn giàu rau xanh và hoa quả: giúp ngăn ngừa ung thư phổi. Hãy ăn các loại rau đa dạng nhiều màu sắc khác nhau như súp lơ, rau chân vịt, hành, táo, cà chua, cam,…

– Tránh môi trường phóng xạ: cần kiểm tra nhà bạn để tránh các yếu tố phóng xạ.

Nguồn gia đình

Ung thư thường gặp ở những bộ phận nào

Tỷ lệ mắc ung thư đang ngày một gia tăng. Sau đây là 6 cơ quan trong cơ thể dễ bị tổn thương nhất.

1. Vú – Ung thư phổ biến nhất
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất cho phụ nữ trên thế giới. Nó có thể xảy ra do nhiều yếu tố: ăn nhiều chất béo, thực phẩm calo cao, tinh thần căng thẳng, chẳng hạn như trì hoãn hôn nhân và sinh đẻ…

2. Phổi – dễ bị tổn thương nhất
Cả đàn ông và phụ nữ đều có nguy cơ dễ mắc bệnh ung thư phổi. Tại sao phổi lại mong manh đến vậy? Nguyên nhân phổ biến chính là do hút thuốc, bao gồm cả chủ động và thụ động. Ung thư phổi 90% do hút thuốc lá.

ung-thu-thuong-gap-o-nhung-bo-phan-nao

Ung thư phổi

Theo thống kê, 30% tỉ lệ mắc khối u phổi đều liên quan tới hút thuốc dài hạn. Ngoài ra, do các chất gây ung thư có thể hấp thụ dễ dàng qua phổi, dẫn đến tổn hại hệ thống, và do đó gây ra ung thư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư miệng, ung thư bàng quang, ung thư thận, ung thư tuyến tụy.

Thứ hai là do ô nhiễm môi trường. Các dữ liệu cho thấy rằng ô nhiễm không khí là một trong những lý do nghiêm trọng gây ra ung thư phổi. Zhong Nanshan – Chủ tịch Hiệp hội Y khoa Trung Quốc – phát biểu, ô nhiễm môi trường cũng gây tổn hại cho phổi của con người tương tự như tác hại của hút thuốc lá.

3. Ung thư thực quản – do đường ăn
Nguyên nhân chính xác gây ung thư thực quản hiện nay chưa rõ. Nhưng có nhiều nghiên cứu cho thấy các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh ung thư thực quản gồm: Người hút thuốc lá hoặc dùng chế phẩm có thuốc lá là nguy cơ số 1 gây ung thư thực quản. Người nghiện rượu hoặc uống rượu thường xuyên cũng có nguy cơ cao bị ung thư thực quản.

Các bệnh lý gây viêm loét thực quản như trào ngược dạ dày – thực quản, uống phải axít. Bệnh thường gặp ở bệnh nhân trên 60 tuổi. Nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ…
Tuy nhiên ở một số người có từ một hay nhiều yếu tố nguy cơ nhưng lại không bị ung thư thực quản. Ngược lại một số khác bị ung thư thực quản nhưng không có bất cứ yếu tố nguy cơ nào.

4. Dạ dày dễ bị bỏ qua nhất
Ung thư dạ dày là một trong bốn loại ung thư đầu tiên, phổ biến nhất trên thế giới. Muối, thực phẩm ướp muối, hạt tiêu đỏ, thịt chế biến sẵn, thực phẩm hun khói hay thức ăn nướng là những yếu tố trực tiếp gây ra sự thay đổi niêm mạc dạ dày và viêm dạ dày dẫn đến ung thư.
Ngoài ra, ăn uống tập thể, ăn uống chung cũng là một trong những yếu tố góp phần truyền tải vi khuẩn Helicobacter pylori, loại vi khuẩn vốn được xác định là thủ phạm gây ra chứng bệnh loét và ung thư dạ dày ở người.

5. Ung thư gan – do đường uống
Ung thư gan là 1 trong 8 ung thư hay gặp nhất trên toàn thế giới, bệnh chiếm 4% trong tổng số các ung thư ở người. Có nhiều yếu tố thuận lợi giúp phát triển ung thư gan, bao gồm cả tuổi, phái tính, gia đình. Phái nam bị ung thư nhiều hơn nữ và tỉ lệ tăng dần sau 60 tuổi.

Ngoài ra có cả yếu tố di truyền. Hiện nay, có bằng chứng rằng vi rút viêm gan B, tiêu thụ độc tố aflatoxin trong ngũ cốc và đậu đỗ, uống rượu thường xuyên… là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ung thư gan.

6. Tuyến tụy – bệnh của người đàn ông giàu có
Sự ra đi của Steve Jobs có liên quan đến chứng bệnh gọi là ung thư tuyến tụy. Viện Ung thư Quốc gia ước tính trong năm 2010 đã phát hiện thêm 43.000 ca mắc ung thư tuyến tụy mới và gần 37.000 người đã không qua khỏi. Khoảng 20% số bệnh nhân có tuổi từ 55-64.

Vậy nhóm người nào có nguy cơ cao mắc bệnh này? Không một ai biết chính xác nguyên nhân. Các bác sỹ cũng hiếm khi giải thích tại sao người này lại mắc mà người kia thì không. Tuy nhiên mỗi nhà khoa học đều đúc kết được một số yếu tố ảnh hưởng thông quan nghiên cứu của mình.

Khả năng phát triển bệnh ung thư tuyến tụy đi kèm với tuổi tác của mỗi người. Hầu hết các trường hợp ung thư tuyến tụy xảy ra ở những người có độ tuổi trên 60. Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2-3 lần so với những người không có thói quen này.
Nguy cơ bị ung thư tuyến tụy ở những bệnh nhân tiểu đường cũng cao hơn so vói người bình thường. Ngoài ra, nam giới có khả năng mắc ung thư tuyến tụy cao hơn nữ giới.

Nguồn sức khỏe gia đình

Ung thư túi mật

Đây là một loại ung thư hiếm gặp nhưng điều trị khó do ung thư lan rộng, nhanh và thường di căn vào các cơ quan kế cận.

Ung thư túi mật là một bệnh lý tương đối hiếm gặp và có dự hậu xấu. Ở Việt Nam trước đây, ung thư túi mật ít được đề cập đến do thiếu phương tiện phát hiện, chỉ có một số trường hợp phát hiện qua phẫu thuật đường mật tụy; hiện nay nhờ phương tiện siêu âm, chụp cắt lớp tỉ trọng, chụp đường mật ngược và đặc biệt với sự phổ biến của phẫu thuật nội soi, ngày càng có nhiều báo cáo về ung thư mà trước đó hoàn toàn không có dấu hiệu nào nghi ngờ trước và trong khi mổ.

Dấu hiệu nhận biết thường không đặc hiệu

Về lâm sàng không có một triệu chứng đặc hiệu nào giúp chẩn đoán được ung thư túi mật. Những ung thư túi mật khi còn nhỏ thường không có triệu chứng, nó có thể được phát hiện tình cờ trong mảnh sinh thiết túi mật do viêm vả sỏi.

ung-thu-tui-mat

Khi ung thư túi mật đã có triệu chứng thì triệu chứng thường gặp nhất là đau hạ sườn phải thường xuất hiện trong 3/4 trường hợp hoặc đau vùng 1/4 trên bên phải, kế đến là bệnh nhân nhập viện trong tình trạng vàng da và gầy sút hoặc bệnh nhân nhập viện trong tình trạng buồn nôn và nôn.

Khoảng 10% bệnh nhân nhập viện với các triệu chứng gợi ý như viêm túi mật hoặc được phát hiện trong hoặc sau khi mổ túi mật.

Khám lâm sàng có thể phát hiện dấu hiệu vàng da, vàng mắt, sờ được khối hoặc mảng cứng nằm ở hạ sườn phải ngay dưới gan và di động theo nhịp thở trong khoảng 40% trường hợp. Triệu chứng cổ trướng hoặc các dấu hiệu của một ung thư màng bụng hoặc gan to do di căn ung thư xuất hiện trong khoảng 10% trường hợp.

Làm gì để chẩn đoán?

Siêu âm: Giúp chẩn đoán trong khoảng 70% trường hợp với các biểu hiện sau: dày thành túi mật, khối u trong túi mật kèm túi mật to với cấu trúc tăng âm hoặc hỗn hợp, đôi khi thấy được hình ảnh sỏi với bóng lưng.

CT scanner bụng giúp cho việc chẩn đoán với hình ảnh khối u ở vùng túi mật với bờ không đều hoặc hình ảnh di căn vào gan.

Ngoài ra, siêu âm và CT scanner còn giúp hướng dẫn chọc kim sinh thiết khối u giúp chẩn đoán tế bào học.

Nếu có điều kiện thì tiến hành siêu âm nội soi, độ nhạy của kỹ thuật này cao hơn hẳn siêu âm thông thường, ngoài ra, kỹ thuật này cũng giúp ích rất nhiều trong chẩn đoán sự lan rộng của ung thư, đặc biệt là phát hiện các hạch di căn quanh tế bào gan hoặc di căn vào đường dẫn mật chính.

Cần phân biệt với bệnh gì?

Các tổn thương túi mật sau đây có thể nhầm với ung thư túi mật:

Adenome túi mật, u mỡ, ứ đọng trong túi mật chất dạng cholesterol, polyp túi mật.

Trong trường hợp ung thư túi mật lan vào đường mật chính thì cần phân biệt với ung thư đường mật và ung thư đầu tụy.

Để phân biệt cần làm các xét nghiệm như siêu âm, CT scanner, chụp đường mật có cản quang hoặc nội soi ổ bụng.

Phương pháp điều trị

Do phần lớn trường hợp ung thư túi mật không được chẩn đoán sớm, do đó việc cắt bỏ để điều trị triệt để chỉ thực hiện được trong khoảng 15-30% trường hợp và hiện nay vẫn chưa có một sự thống nhất hoàn toàn trong việc cắt bỏ đến một mức độ nào. Sau cắt bỏ túi mật có thể bổ sung bằng chiếu xạ vùng quanh túi mật.

Trường hợp ung thư túi mật không cắt bỏ được mà có kèm theo vàng da thì một điều trị tạm thời được đề nghị là: đặt ống dẫn lưu qua nội soi hoặc qua gan hoặc xạ trị liệu cũng làm giảm đau và giảm vàng da vàng mắt trong 50% trường hợp, tuy nhiên, nó cũng không làm cải thiện được thời gian sống của bệnh nhân.

Trị liệu phối hợp nhiều thuốc cũng ít có kết quả trong trường hợp ung thư đường mật.

Tiên lượng ung thư túi mật phụ thuộc vào mức độ lan rộng của ung thư. Phần lớn ung thư túi mật khi phát hiện (75%) là đã quá giai đoạn mổ được. Trong trường hợp ung thư còn trong niêm mạc túi mật thì thời gian sống sót trên 5 năm lên đến 85%.

Khi ung thư chưa vượt quá lớp cơ thành túi mật thì thời gian sống sót trên 5 năm lên đến 70%, nhưng khi ung thư đã lan đến lớp thanh mạc thì thời gian sống trên 5 năm chỉ còn dưới 5% và khi ung thư đã lan đến hạch quanh túi mật thì không có trường hợp nào thời gian sống trên 5 năm. Khi không cắt bỏ được thì tỉ lệ tử vong sau 1 năm lên đến 95%, chỉ có khoảng 5% là có thể sống sót sau 5 năm.

Nguồn giáo dục

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là bệnh không chữa khỏi hoàn toàn, sẽ tiến triển nặng dần, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hiện có trên 600 triệu người trên thế giới bị COPD, hơn 3 triệu người chết mỗi năm. COPD là nguyên nhân gây tử vong cao thứ tư trên thế giới, sau các bệnh mạch vành, ung thư và tai biến mạch máu não.

COPD là gì ?

Đây là tình trạng bệnh lý ở phổi, với sự giới hạn thông khí không thể hồi phục hoàn toàn, gây nên tình trạng tắc nghẽn lưu thông khí, gia tăng lượng khí cặn trong phổi, làm bệnh nhân khó thở. Bệnh thường xảy ra ở các đối tượng: nam giới, tuổi trên 40; những người hút thuốc lá, thuốc lào; tiếp xúc thường xuyên với khói, bụi nghề nghiệp, với khói bếp than; bị nhiễm khuẩn hô hấp khi còn nhỏ.

benh-phoi-tac-nghen-man-tinh

Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của COPD (80-90% bệnh nhân COPD đang hút hoặc có tiền sử hút thuốc lá). Hít phải khói thuốc lá (do người khác hút) cũng có thể tăng nguy cơ COPD. Khi mắc bệnh này, đường dẫn khí hẹp lại, không khí khó đi vào phổi vì thành của đường dẫn khí dày lên, sưng phù, hóa xơ; tăng tiết đờm, cơ bao quanh đường dẫn khí co thắt lại. Các túi khí nhỏ (phế nang) bị phá hủy, gia tăng tình trạng ứ khí trong phổi và giảm khả năng trao đổi khí của phổi.

Các biểu hiện và chẩn đoán

Ho và khạc đờm dai dẳng thường xuất hiện nhiều năm trước tình trạng tắc nghẽn đường dẫn khí, mặc dù không phải tất cả mọi người ho và khạc đờm sẽ phát triển thành COPD. Bệnh thường khó phát hiện ở giai đoạn sớm. Vì vậy, nếu bạn thuộc nhóm có nguy cơ cao và có các triệu chứng ban đầu là ho, khạc đờm kéo dài, khó thở khi gắng sức, thì nên đến gặp ngay bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán. Muốn chắc chắn có phải COPD hay không, phải đo chức năng phổi. Bệnh nhân thổi qua một máy đo gọi là hô hấp kế. Máy sẽ cho biết bệnh nhân có bị tắc nghẽn hay không.

Lời khuyên cho người mắc bệnh

Đến bác sĩ ngay khi bạn có dấu hiệu mắc bệnh: ho, khạc đờm và khó thở khi làm nặng. Hãy đo chức năng hô hấp để xác định bệnh. Dùng đúng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cần khám lại định kỳ hằng tháng và mỗi khi có đợt bùng phát của bệnh.

Bỏ hút thuốc lá, thuốc lào. Giữ không khí trong nhà thật sạch, thoáng. Tránh tiếp xúc với khói và các loại khí gây khó thở.

Luyện tập, giữ cho thân thể khỏe mạnh. Tập thở theo hướng dẫn của bác sĩ, tập thể dục đều đặn, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng.

Nếu bạn bị COPD mức độ nặng, hãy sống lạc quan và hoạt động tối đa trong điều kiện sức khỏe cho phép. Làm mọi việc thường ngày một cách chậm rãi, đơn giản; chọn chỗ ngồi để có thể nghỉ ngơi thoải mái khi cần.

Đến bệnh viện hay gặp bác sĩ ngay nếu tình trạng của bạn của bạn xấu đi. Cần chuẩn bị sẵn: số điện thoại của bác sĩ, bệnh viện mà bạn có thể đến ngay được, danh sách các thuốc bạn đang dùng.

Đi cấp cứu ngay nếu bạn có dấu hiệu nguy hiểm: nói chuyện, đi lại khó khăn; môi hay móng tay tím tái; nhịp tim, mạch rất nhanh hay không đều; thuốc thường dùng không còn tác dụng đủ lâu, hay không còn tác dụng khiến thở vẫn gấp và khó.

Theo thanhnien

Ngừa ung thư vú bằng cách ăn đậu nành

Đó là khẳng định của một nghiên cứu thuộc Viện Ung thư Quốc gia Mỹ được trình bày tại một hội nghị ở Boston trong tuần qua.

Tiến sĩ Larissa Korde và các cộng sự đã phỏng vấn 597 phụ nữ Mỹ gốc châu Á mắc bệnh ung thư vú và 966 phụ nữ khác không mắc bệnh nhằm thu thập những thông tin về chế độ ăn và lối sống trước đây của những người này. Các nhà nghiên cứu đã đặc biệt tìm hiểu về việc tiêu thụ đậu nành của các phụ nữ này trong 3 giai đoạn là thời thơ ấu, tuổi vị thành niên và tuổi trưởng thành.

dau-hu

Kết quả là tác dụng của đậu nành càng rõ rệt khi được ăn thường xuyên từ nhỏ. Các phép tính cho thấy các phụ nữ ăn nhiều đậu nành nhất trong thời gian từ 5 đến 11 tuổi có nguy cơ phát triển bệnh ung thư thấp hơn 58% so với các phụ nữ ăn ít nhất. Nguy cơ này chỉ giảm 25% ở các phụ nữ ăn nhiều đậu nành trong tuổi vị thành niên hay trưởng thành.

Theo Tiến sĩ Karissa, đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá tác động của việc tiêu thụ đậu nành trong thời thơ ấu đối với nguy cơ ung thư vú. Tác động bảo vệ này có thể do sự có mặt của những chất isoflavon trong đậu nành có khả năng làm cho mô vú giảm nhạy cảm với các chất gây ung thư.

Theo Santé

Ung thư gan ở trẻ béo phì

Một nghiên cứu mới cho thấy những người trưởng thành bị béo phì khi nhỏ có nguy cơ mắc ung thư gan cao hơn người bình thường.

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành xem xét trọng lượng khi sinh và chỉ số khối cơ thể (BMI – chỉ số đo mức độ béo phì dựa trên cân nặng và chiều cao) của hơn 165.000 đàn ông và 160.000 phụ nữ ở Đan Mạch sinh từ năm 1930 đến 1989.

ung-thu-gan-o-tre-beo-phi

Trong số những người tham gia, 252 người đã mắc ung thư biểu mô tế bào gan, loại ung thư gan phổ biến nhất ở người trưởng thành.

Các tác giả của nghiên cứu tính toán rằng ở độ tuổi 7, nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan tăng 12% với mỗi mức tăng 1 điểm trong chỉ số BMI. Đến độ tuổi 13, nguy cơ này tăng lên 25%.

Do đó khi các đơn vị của BMI tăng lên khi bước vào tuổi trưởng thành, thì nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan cũng tăng. Điều này cũng đúng đối với cả hai giới tính và mọi độ tuổi.

Có nhiều nhân tố khác gắn liền với ung thư gan gồm bia rượu, virus viêm gan B, C lây nhiễm và các bệnh về gan khác. Tuy nhiên, kết quả vẫn không thay đổi khi những người tham gia mang các yếu tố này được loại khỏi nghiên cứu, chứng tỏ bệnh béo phì khi nhỏ là một tác nhân lớn trong quá trình phát triển ung thư biểu mô tế bào gan.

Tiến sĩ Frank Lammert, thành viên một ủy ban khoa học thuộc Hiệp hội nghiên cứu gan châu Âu khẳng định: “Béo phì khi nhỏ không chỉ làm xuất hiện nhiều tình trạng bất lợi về trao đổi chất như tiểu đường túyp hai và bệnh tim, mà còn gây ra gan nhiễm mỡ, căn bệnh có thể dẫn đến ung thư gan”.

Nguồn giáo dục

Cảnh báo nguy cơ mắc ung thư tụy tạng

Ung thư tuỵ tạng hay những bệnh liên quan đến tuỵ tạng đều rất nguy hiểm và bệnh nhân phải chịu đau đớn vô cùng. Ung thư tuỵ tạng hiếm khi gặp ở tuổi dưới 45, nhưng xuất độ sẽ tăng sau độ tuổi đó, đỉnh điểm ở tuổi 70. Các số liệu ghi nhận của Mỹ cho biết, xuất độ chuẩn/tuổi ở nam giới cao hơn nữ giới 30%; và 50% cao hơn ở người da đen.

Những yếu tố nguy cơ

Khoảng 5-10% ung thư tuỵ tạng liên quan đến yếu tố gia đình hay di truyền. Độ tuổi mắc bệnh sớm hơn ở những trường hợp không có tính di truyền. Hút thuốc lá làm thúc đẩy bệnh tiến triển nhanh, người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư tuỵ tạng cao hơn 1,5 lần. Béo phì và tình trạng thiếu vận động cũng liên quan đến ung thư tuỵ tạng: người có chỉ số BMI ≥ 30 dễ mắc bệnh hơn người có chỉ số BMI ≤ 23.

canh-bao-nguy-co-mac-ung-thu-tuy-tang

Chế độ ăn nhiều thịt, mỡ, thịt xông khói theo kiểu phương Tây cũng làm tăng nguy cơ ung thư này. Người thường ăn trái cây tươi, rau tươi thì ít thấy bị ung thư tuỵ tạng. Ngoài ra, lượng lycopen (carotenoid có trong trái cây) và selenium trong huyết thanh thấp cũng dễ gây ung thư tuỵ tạng.

Yếu tố nguy cơ còn gặp ở những người có bệnh viêm tuỵ mạn tính, người bị nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, những người có tiền sử cắt dạ dày hay cắt túi mật…

Triệu chứng thường gặp

Đau: thường gặp nhất, do khối bướu xâm lấn trực tiếp vào các mạng thần kinh của mạc treo ruột. Đau ở vùng bụng trên, đau như dao đâm, hướng đau vắt ngang lưng. Đau từng cơn, kèm cảm giác ăn mất ngon. Khoảng 80 – 85% bệnh nhân có triệu chứng đau được chẩn đoán ở giai đoạn trễ.

Sụt cân: do chán ăn, tiêu chảy, vã mồ hôi đầu.

Vàng da: vàng mắt, kèm theo ngứa ngáy, đi tiêu phân trắng, nước tiểu sậm màu.

Các triệu chứng biểu hiện đầu tiên còn tuỳ thuộc vị trí khối bướu. Bướu xuất hiện ở thân và đuôi tuỵ thường gây triệu chứng đau và sụt cân, trong khi bướu ở đầu tuỵ thường tạo triệu chứng vã mồ hôi đầu, sụt cân và vàng da. Khám lâm sàng, sờ thấy khối bướu hay tình trạng bụng báng, sờ chạm túi mật dưới bờ sườn phải, hoặc hạch trên đòn trái.

Làm sao phát hiện?

Khi bệnh nhân đến khám đã bị vàng da, siêu âm bụng là phương tiện hình ảnh đầu tiên thường được sử dụng. Những hình ảnh như giãn đường mật, khối bướu vùng đầu tuỵ sẽ gợi ý cho chẩn đoán.

Kỹ thuật chụp cắt lớp CT với độ nhạy và độ chuyên biệt cao có thể phát hiện bệnh ngay khi bệnh nhân chưa có triệu chứng vàng da, hình ảnh qua chụp cắt lớp cho biết sự lan rộng tại chỗ hoặc di căn như hạch bạch huyết, di căn gan… Các bác sĩ còn thực hiện kỹ thuật chụp đường mật tuỵ ngược dòng qua nội soi – ERCP, nội soi dạ dày và qua đó dùng chất cản quang bơm vào đường mật, chụp X-quang để khảo sát.

Những kỹ thuật khác cũng hiệu quả trong việc cho hình ảnh để chẩn đoán là siêu âm qua nội soi – EUS (có độ chính xác cao); chụp cộng hưởng từ – MRI; chụp cắt lớp bởi bức xạ pôsitrôn; xét nghiệm “chất đánh dấu bướu” trong huyết thanh CA19 – 9 (có giá trị trong việc theo dõi sau mổ và tiên lượng bệnh)…

Phẫu thuật sớm, sống lâu hơn

Ung thư tuỵ là bệnh lý ác tính khó phát hiện sớm, tiên lượng sống năm năm rất thấp. Tại Mỹ, phẫu thuật có thể trị khỏi ung thư này, nhưng không may là bệnh thường được chẩn đoán vào giai đoạn trễ, chỉ 15 – 20% bệnh nhân còn mổ được với tiên lượng rất xấu. Sống còn năm năm khoảng 25 – 30% khi hạch chưa bị di căn, và chỉ còn 10% khi đã có di căn hạch.

Hiện cách điều trị gồm các phối hợp đa mô thức: phẫu trị – hoá trị – xạ trị. Trong đó, phẫu thuật được chỉ định khi bệnh còn khu trú tại chỗ và ở giai đoạn sớm. Khi bệnh đã tiến xa hoặc di căn (di căn gan, lan tràn trong ổ bụng, bụng có dịch báng, đã có hạch trên đòn trái), là chống chỉ định mổ. Phẫu thuật thường được thực hiện gồm cắt khối tá tuỵ tiêu chuẩn (phẫu thuật Whipple), phẫu thuật có tính rộng lớn như phải cắt bỏ phần đầu tuỵ và khối bướu, cắt bỏ túi mật, cắt bỏ phần dưới của dạ dày và toàn bộ khung tá tràng, sau đó tái lập sự lưu thông của đường mật và dịch tuỵ.

Loại phẫu thuật thứ hai là cắt khối tá tuỵ biến đổi, phương pháp này có sự khác biệt là giữ lại cơ vòng môn vị. Khi bệnh đã ở vào giai đoạn muộn, thể trạng bệnh nhân suy sụp kèm theo vàng da vàng mắt (do bị tắc mật bởi khối bướu ở đầu tuỵ). Bệnh nhân được các bác sĩ thực hiện nội soi dạ dày và qua đó sẽ đặt một ống thông (stent) vào trong đường mật, hoặc được phẫu thuật nối thông mật – ruột, hoặc mở túi mật ra da nhằm giảm ứ mật trong gan.

Hoá trị hỗ trợ hay xạ trị hỗ trợ, hoặc kết hợp hoá/xạ trị có thể cải thiện thời gian sống còn cho bệnh nhân. Hiện nay, điều trị hỗ trợ sau mổ với sự kết hợp giữa các thuốc đặc trị ung thư cùng tia phóng xạ, cho thấy thời gian sống còn của bệnh nhân kéo dài hơn.

Nguồn giáo dục

Triệu chứng và những người hay bị ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung, một loại ung thư thường gặp ở phụ nữ, là một căn bệnh mà những tế bào ung thư ác tính xuất hiện trong mô cổ tử cung.
Ung thư cổ tử cung thường phát triển chậm. Trước khi phát hiện ra tế bào ung thư ở cổ tử cung, các mô ở cổ tử cung trải qua những thay đổi trong đó các tế bào bất thường bắt đầu xuất hiện (hiện tượng loạn sản). Những tế bào ung thư này thường được phát hiện nhờ việc làm phiến đồ âm đạo (xét nghiệm Pap). Muộn hơn, Tế bào ung thư bắt đầu phát triển và lan sâu thêm vào cổ tử cung và những vùng xung quanh.

trieu-chung-va-nhung-nguoi-hay-bi-ung-thu

Do ung thư cổ tử cung thường không có triệu chứng, bác sĩ phải tiến hành xét nghiệm hàng loạt để tìm bệnh. Xét nghiệm đầu tiên là làm phiến đồ âm đạo Pap, được tiến hành bằng cách dùng một miếng bông, một bàn chải, hoặc một que gỗ nhỏ để cạo nhẹ bên ngoài cổ tử cung để lấy tế bào.

Nếu phát hiện ra tế bào bất thường bác sĩ phải cắt một mẫu mô (gọi là sinh thiết) ở cổ tử cung và quan sát dưới kính hiển vi để xem có tế bào ung thư không. Sinh thiết mảnh mô nhỏ có thể được thực hiện tại phòng khám của bác sĩ. Nếu cần lấy một mảnh lớn hơn (cắt hình nón) bệnh nhân có thể phải đến bệnh viện.

Trong từng loại ung thư cổ tử cung, có những phương pháp điều trị riêng, Cần phải theo dõi và kiểm tra định kỳ để đảm bảo phát hiện ra những thay đổi trong sức khỏe .

Ai có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung?

– Phụ nữ độ tuổi 35-50 dễ mắc bệnh ung thư cổ tử cung.

– Phụ nữ có 5 con trở lên có nguy cơ mắc bệnh cao.

– Những phụ nữ có hoạt động tình dục trước 17 tuổi và có nhiều bạn tình.

– Những người có tiền sử mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh dục do virut papilloma hoặc herpes.

– Vệ sinh cá nhân kém

Các triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung

Các dấu hiệu khác thường dưới đây sẽ cảnh báo giúp bạn phát hiện sớm và ngăn ngừa bệnh:

Giai đoạn tiền ung thư thường không có triệu chứng. Sau đó có thể xuất hiện các triệu chứng:

– Huyết trắng dai dẳng, có mùi hôi hoặc có vấy một chút máu

– Chảy máu bất thường trong âm đạo

– Bạn bị chảy máu bất thường trong chu kì kinh nguyệt bình thường

– Chảy máu sau khi quan hệ tình dục, thụt rửa hoặc khám bệnh

– Chảy máu trong suốt thời gian dài, rong kinh

– Chảy máu nhiều sau thời kì mãn kinh

– Vùng xương chậu thường xuyên có cảm giác đau

– Cảm giác đau sau khi làm “chuyện ấy”

Khi bệnh nặng, có chảy dịch nhiều lẫn máu từ âm đạo, kèm với đau nhức vùng lưng, vùng chậu hoặc ở chân. Ở giai đoạn muộn, bệnh nhân bị vô niệu do ung thư chèn ép vào hai niệu quản.

Theo giáo dục

Ung thư do các thuốc nội tiết gây nên

Điều trị thay thế estrogen người ta dùng để giảm các triệu chứng mãn kinh, để giảm nguy cơ bệnh tim do mạch vành bằng cách làm tăng lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao và để bảo tồn nồng độ muối khoáng trong xương ngừa chứng loãng xương và gãy xương. Liệu pháp này làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Việc sử dụng thuốc ngừa thai uống có gây ung thư vú hay không vẫn còn đang bàn cãi, mặc dù có vẻ nguy cơ ung thư vú tăng cao ở các phụ nữ trẻ và phụ nữ sớm sử dụng thuốc ngừa thai đường uống loại phối hợp trong đời sống sinh dục của họ.

Người ta thấy các kiểu hóa trị ung thư khác nhau rõ ràng đã làm tăng nguy cơ bệnh bạch cầu ở những bệnh nhân còn sống hơn một năm sau khi được chẩn đoán.

Các thuốc chống ung thư quan trọng khác như adriamycin và cisplatin cũng có tính sinh ung thư ở động vật thực nghiệm, nhưng cho đến nay vẫn không thấy có tính sinh ung thư ở người. Mặc dù nguy cơ bệnh bạch cầu tăng cao sau khi điều trị một số ung thư chọn lọc nhưng người ta vẫn so sánh điều này với thuận lợi điều trị hóa chất các bệnh như bệnh bạch cầu limphô ở trẻ em, bệnh hodgkin và ung thư tinh hoàn loại tế bào mầm.

 Dùng thuốc nội tiết không đúng cách có thể gây ung thư vú.

Dùng thuốc nội tiết không đúng cách có thể gây ung thư vú.

Tuy nhiên, quan trọng là sự quan tâm nguy cơ mắc bệnh ác tính thứ hai khi đánh giá trong một thời gian dài các phác đồ hóa trị ung thư và tìm kiếm các cách điều trị xen kẽ làm giảm mối nguy cơ này.

Vấn đề áp dụng đặc biệt cho các bệnh như là hodgkin vì loại bệnh này có tiên lượng rất tốt với cách điều trị hiện nay.

Các ung thư phụ khác được báo cáo ở bệnh nhân sống sót lâu dài sau hóa trị ung thư như limphô không hodgkin sau bệnh hodgkin, ung thư phổi và bàng quang sau điều trị bằng cyclophosphamid bệnh limphô không hodgkin.

Các loại thuốc khác gây ung thư ở bệnh nhân được điều trị là các hỗn hợp giảm đau chứa phenacetin, chúng làm tăng nguy cơ ung thư thận và ung thư biểu mô đường niệu khác; thuốc ức chế miễn dịch azaathioprien gây các u da, limphô không hodgkin và các bệnh ác tính hiếm gặp khác; và sự phối hợp 8 – methoxypsoralen và tia cực tím loại A có thể gây ung thư da sau khi dùng để điều trị các rối loạn ở da như bệnh vẩy nến.

Sự ức chế miễn dịch sau khi cấy ghép cơ quan cũng làm bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư. Tuy nhiên, vai trò sinh ung của các thuốc dùng để làm ức chế miễn dịch vẫn còn được bàn cãi.

Một số loại nội tiết tố được dùng trong các lĩnh vực thực hành y khoa khác nhau, thực tế một số nhóm nội tiết tố làm tăng nguy cơ ung thư sau khi dùng chúng. Người ta xác định rằng, thuốc diethylstillbestrol (DES) đã từng được dùng rộng rãi vào đầu thai kỳ để giảm cơn buồn nôn và ngừa dọa sẩy thai thì có thể gây ung thư âm đạo ở các con gái của bệnh nhân được điều trị và làm tăng nguy cơ bị ung thư tinh hoàn cho các con trai của họ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Ung thư gan đã có thể điều trị

Hóa học trị liệu là phương pháp giúp nhanh chóng tiêu diệt các tế bào phát triển nhanh như tế bào ung thư, nhưng phương pháp này cũng gây ảnh hưởng xấu tới những bộ phận khỏe mạnh khác trong cơ thể.

Nguyên nhân là do thuốc hóa học trị liệu thường được tiêm thẳng vào ven, vì thế nó không chỉ tác động lên khối u mà còn có tác động lên toàn cơ thể. Hậu quả là bệnh nhân sẽ thấy mệt mỏi, ốm yếu, rụng tóc và mất khả năng sinh sản. Tuy nhiên, các bác sỹ ở bệnh viện đa khoa Southampton(Anh) cho biết nếu chỉ dùng phương pháp này tác động vào một cơ quan trên cơ thể sẽ thể hạn chế được tác động phụ của thuốc.

phuong-phap-dieu-tri-moi-cho-nguoi-ung-thu-gan-2

Hiện có 2 bệnh nhân ung thư tại Anh đang thử nghiệm phương thức điều trị mới này. Cả 2 đều bị một chứng bệnh ung thư mắt hiếm gặp, sau đó tế bào ung thư lan xuống gan.

Sau 3 tháng điều trị bằng phương pháp trên, sức khỏe của hai bệnh nhân này đều tiến triển tốt, đặc biệt, khối u ác tính trong gan của họ dường như đã bị thu nhỏ lại.

Tiến sỹ Stedman, một bác sỹ X-quang nói: “Những cơ quan có thể tách khỏi các mạch máu một cách dễ dàng, như thận, phổi, tụy đều có thể dùng phương pháp điều trị này”.

Tuy nhiên ông cho biết đây mới chỉ là giai đoạn đầu của phương pháp điều trị này và ông không đảm bảo rằng phương pháp này sẽ giúp điều trị khỏi hẳn bệnh ung thư.

Theo Báo Đất Việt