Tag Archives: u nang buồng trứng

U nang buồng trứng gây hậu quả như thế nào

U nang buồng trứng thường phát triển âm thầm và không có nhiều dấu hiệu rõ rệt ở giai đoạn ban đầu. Tuy nhiên, bất cứ lúc nào bệnh cũng có thể đột ngột gây biến chứng cấp tính hoặc bán cấp tính: xoắn nang, chảy máu trong nang, vỡ nang, nhiễm trùng, chèn ép tiểu khung vì thế bạn nên cẩn thận nhé!

Một số trường hợp u nang buồng trứng còn gây ung thư, chủ yếu là loại u nang nước, nang nhầy. Tuy nhiên, còn tùy theo kích thước và tính chất khối u cũng như nguyện vọng sinh đẻ của bệnh nhân mà chọn phương pháp phẫu thuật triệt để cắt bỏ toàn bộ khối u và buồng trứng bên bệnh hay chỉ bóc tách khối u để lại phần buồng trứng lành.

u-nang-buong-trung

Nếu là nang buồng trứng cơ năng thường là những nang nhỏ, không có hại, có thể ở một hay ở cả 2 buồng trứng. Những nang này rất hay gặp ở những phụ nữ ở độ tuổi từ dậy thì đến mãn kinh tức là độ tuổi sinh sản khi 2 buồng trứng phóng ra nhiều trứng trưởng thành nhất.

U nang buồng trứng cơ năng (một hoặc 2 bên) có thể không ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và người bệnh vẫn có thể có con. Tuy nhiên, nếu cần phải mổ để lấy u nang thì thầy thuốc thường tư vấn trước cho người bệnh biết trường hợp có thể ảnh hưởng đến tiềm năng sinh sản: khi cả 2 buồng trứng đều nang hoá, không còn mô lành. Thông thường, chỉ với một buồng trứng hoặc thậm chí một phần lành của buồng trứng, người phụ nữ vẫn có thể sinh sản.

Trên siêu âm, người ta dựa vào kích thước khối u, cấu trúc vỏ u (dày hay mỏng), thành phần trong khối u (echo trống là dịch, echo dày là mô đặc), có hình ảnh chồi hay vách, ở một hay 2 bên buồng trứng, có dịch trong ổ bụng… để xếp loại khối u.

Theo đó, bác sĩ sẽ căn cứ vào kết quả thăm khám trực tiếp và các kết quả xét nghiệm vừa thực hiện và sẽ hướng dẫn bạn nên tiếp tục điều trị như thế nào và có lời khuyên chính xác nhất.

Theo ttvn

Nỗi lo vô sinh và cách đề phòng tốt nhất

Nhiều nguyên nhân dẫn đến vô sinh

Theo khảo sát của TS Vương Văn Vệ – Giám đốc Bệnh viện Nam học và hiếm muộn Hà Nội cho thấy, các thói quen thư giãn không hợp lý, thường xuyên tắm nước quá nóng hay ngâm mình trong các bồn tắm và xông hơi, dùng các loại máy masage nóng cho toàn thân… cũng là những yếu tố làm tổn hại đến lượng tinh binh đang ngày càng yếu đi của các chàng trai hiện đại. Theo TS Vệ thói quen đi sông hơi của đàn ông cũng là một nguyên nhân gây ảnh hưởng tinh trùng, vì nhiệt độ nước tăm từ 40-50 độ C hay nhiệt độ phòng xông hơi thậm chí có thể lên tới 70-80 độ C quá nóng thì chất lượng tinh trùng sẽ giảm

Nói về vấn đề vô sinh hiện nay ở giới trẻ, Thạc sĩ- BS Vũ Quốc Tuấn, Giám đốc Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Hà Nội chia sẻ: hiện nay, tỉ lệ các gặp vợ chồng bị vô sinh hay vô sinh thứ phát nhất nhiều mà bắt đầu từ nhiều nguyên nhân như cuộc sống môi trường ô nhiễm, mất vệ sinh an toàn thực phẩm… Người có tiền sử bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục, nhiễm độc chì, bệnh lý sang chấn về tinh thần, những người làm trong môi trường độc hại, cường độ làm việc cao, nghiện rượu, bia, nghiện ngập… cũng có nguy cơ vô sinh cao.

ảnh minh họa

ảnh minh họa

Còn đối với phụ nữ, nguy cơ vô sinh xuất phát từ những nguyên nhân như viêm vòi trứng, u nang buồng trứng, nạo hút phá thai nhiều, sử dụng các chất khích thích…

Bên cạnh đó, những trường hợp có chế độ sinh hoạt không đúng mức, các bệnh nhân sử dụng các loại thuốc như điều hòa huyết áp, dạ dày, giảm mỡ máu, thuốc kháng sinh…  cũng có thể làm giảm chất lượng tinh trùng và trứng dẫn đến vô sinh. Vì những thuốc này tác động đến thần kinh làm cơ thể tiết ra các hormone làm giảm stress từ đó cũng làm giảm khả năng sinh sản.

Đề phòng vô sinh là tốt nhất

Việc điều trị vô sinh tùy thuộc vào từng cá thể và nguyên nhân khác nhau. Nguyên tắc điều trị vô sinh là điều trị cả hai vợ chồng và điều trị toàn diện. Đối với nữ điều trị hỗ trợ sinh sản bằng thuốc thường dùng các thuốc kích thích buồng trứng.

Bác sĩ Vũ Quốc Tuấn cũng lưu ý rằng: việc sử dụng đồ uống cồn quá nhiều, nhất là các loại rượu nóng, các chất kích thích, tiêm chích, nghiện hút có thể tác động đến các tuyến hormone và là độc chất trực tiếp tác động đến khả năng tình dục. Rượu có thể gây yếu chức năng gan, và thiếu hụt dưỡng chất, là những yếu tó bất lợi cho quá trình sản xuất tinh trùng. Chính vì thế những nam thanh niên cần nhìn nhận đúng đắn hơn nữa các thói quen để có thể tự điều chỉnh hợp lý.

Ngoài ra, bạn cần đảm bảo một số chế độ vệ sinh thông thường, hạn chế các chất kích thích, không mặc quần lót quá chật, tắm nước quá nóng, biết cách làm việc nhằm hạn chế mức độ stress thấp nhất, nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý… để hồi phục sinh lực và tăng cường sức khỏe. Khi sinh hoạt vợ chồng phải thật thoải mái mới nhanh có con. Hiện nay ở nhiều người thường có thói quen đặt laptop lên đùi để sử dụng và đút điện thoại vào túi quần. Điều này rất có hại cho sức khỏe do sóng điện phát ra từ máy rất nóng nên ảnh hưởng một phần chất lượng tinh trùng và trứng.

Một số thực phẩm góp phần quan trọng làm tăng khả năng sinh sản ở cả nam giới và phụ nữ đó là các thực phẩm chứa nhiều kẽm như thịt, hải sản, vitamin B6 trong các loại gia cầm như gà vịt, ngan, vitamin E trong các loại hạt như các loại đậu, đỗ…

Nguồn afamily

Trinh nữ hoàng cung với tác dụng trong việc chữa phụ khoa

Trinh nữ hoàng cung là vị thuốc được nhân dân ta thường dùng để điều trị một số bệnh của phụ nữ rất hiệu quả, trong đó có u xơ tử cung.

Trong Y học cổ truyền Việt Nam, từ lâu trinh nữ hoàng cung đã được coi là vị thuốc quý. Trước đây, trinh nữ hoàng cung chỉ được dành riêng cho hoàng tộc, vì thế nó thường được gọi với các tên như “cây thuốc của hoàng cung” hay “cây thuốc dành cho nữ giới trong hoàng cung”. Nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã chứng minh trinh nữ hoàng cung có chứa 32 loại alkaloids, trong đó một số alkaloids có tác dụng chống sự phát triển của tế bào khối u, kháng khuẩn,… từ đó giúp phòng ngừa và điều trị các bệnh như u nang buồng trứng, u xơ tử cung, tăng cường sức khỏe, miễn dịch, đẩy lùi những rối loạn ở nữ giới. Sau đây là một số bài thuốc đơn giản, hiệu quả từ cây trinh nữ hoàng cung:

trinh nữ hoàng cung

trinh nữ hoàng cung

Bài thuốc dùng trong hỗ trợ điều trị các bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến tiền liệt: Lá trinh nữ hoàng cung thái nhỏ, sao vàng sắc uống: mỗi ngày dùng 3-5 lá.

Bài thuốc chữa u nang buồng trứng, u xơ tử cung và u tuyến tiền liệt: Ba lá trinh nữ hoàng cung tươi, thái ngắn từ 1 đến 2 cm, sao khô đến khi có màu hơi vàng, đem sắc với nước, uống thành 3 đợt, mỗi đợt 7 ngày, thời gian nghỉ giữa hai đợt là 7 ngày.

Tác dụng chữa bệnh u xơ tử cung, u nang buồng trứng, phì đại tuyến tiền liệt càng được tăng cường khi trinh nữ hoàng cung được sử dụng làm thành phần chính phối hợp với các dược liệu quý khác như: hoàng kỳ, hoàng cầm, khương hoàng để bào chế ra viên nang thực phẩm chức năng Nga Phụ Khang. Sản phẩm này có tác dụng ức chế phát triển của tế bào khối u, thu nhỏ kích thước khối u; giúp tăng cường hệ miễn dịch, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị u xơ tử cung, u nang buồng trứng hiệu quả mà bệnh nhân không cần phải đun sắc cầu kỳ. Sản phẩm này ra đời cũng đáp ứng được xu hướng lựa chọn các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, hiệu quả bền vững, an toàn khi dùng lâu dài và đã được chứng minh qua nhiều hội thảo khoa học uy tín đang được nhiều bác sĩ, bệnh nhân tin tưởng lựa chọn.

Bên cạnh duy trì sử dụng Nga Phụ Khang – sản phẩm điển hình chứa trinh nữ hoàng cung, bệnh nhân u xơ tử cung cần giữ tâm lý thoải mái, lạc quan, thực hiện khám sức khỏe định kỳ để được bác sĩ theo dõi và có hướng điều trị thích hợp.

Theo sức khỏe gia đình

Viêm ruột thừa và biến chứng nguy hiểm thường găp

Viêm ruột thừa là một bệnh khá phổ biến, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3 – 4 tuổi. Có những trường hợp viêm ruột thừa chưa biến chứng, việc xử trí đơn giản, nhưng cũng có những trường hợp viêm ruột thừa khi nhập viện đã có biến chứng như vỡ, áp-xe ruột thừa, mủ tràn khắp ổ bụng, sau khi mổ, hậu phẫu vẫn còn nhiều phức tạp… Do vậy, việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

Viêm ruột thừa là gì?

Ruột thừa là một túi nhỏ nhô ra hình con giun của manh tràng (đoạn đầu của ruột già), dài khoảng 5 – 6cm. Ruột thừa nằm ở phần dưới phải của ổ bụng, có thể thay đổi vị trí. Theo các chuyên gia tiêu hóa, ruột thừa không có chức năng gì nên việc cắt bỏ nó không ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của cơ thể.

Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa. Khi ruột thừa bị tắc nghẽn, các vi khuẩn bình thường trú trong lòng ruột thừa bắt đầu xâm lấn vào thành ruột thừa. Cơ thể đáp ứng với hiện tượng xâm lấn này bằng cách tấn công các vi khuẩn. Hiện tượng tấn công các vi khuẩn đó được gọi là viêm.

viem-ruot-thua-va-bien-chung-nguy-hiem-thuong-gap

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa là do lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng bị tắc nghẽn. Hiện tượng tắc nghẽn này là do tích tụ nhiều chất dịch nhầy trong lòng ruột thừa hoặc do phân từ manh tràng đi vào ruột thừa. Chất nhầy hay phân trở nên cứng, giống như đá và làm tắc nghẽn lỗ thông. Hiện tượng phân cứng như đá được gọi là “sỏi phân” (phân có kích thước bằng hạt đậu, cứng và bị canxi hóa gây tắc nghẽn lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng). Có thể có hiện tượng mô bạch huyết của ruột thừa bị phù và làm tắc nghẽn ruột thừa gây viêm.

Những triệu chứng của viêm ruột thừa đôi khi rất mơ hồ, nhất là ở trẻ em và người già nên một số người chủ quan đã tự mua thuốc về cho bệnh nhân uống vì tưởng bị rối loạn tiêu hóa… Điều này càng làm lu mờ các triệu chứng của bệnh, gây khó khăn cho quá trình chẩn đoán. Đây là việc làm hết sức nguy hiểm vì viêm ruột thừa nếu xử lý chậm sẽ bị vỡ, gây viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng và có thể dẫn đến tử vong. Chính vì vậy, việc phát hiện và xử trí bệnh kịp thời là điều vô cùng quan trọng để giảm thiểu những biến chứng nguy hiểm của viêm ruột thừa có thể xảy ra.

Triệu chứng phát hiện bệnh
Các triệu chứng ban đầu của viêm ruột thừa rất dễ nhầm với nhiễm virut đường ruột. Các triệu chứng bao gồm đầy bụng mơ hồ, khó tiêu và đau bụng ít thường được cảm nhận ở vùng quanh rốn. Khi nhiễm khuẩn nặng hơn, đau trở nên nổi bật hơn ở phần phải của bụng dưới. Bệnh nhân thường có buồn nôn, nôn và chán ăn. Ðau thường liên tục và ngày càng nặng. Bệnh nhân có thể tiêu chảy, sốt và lạnh run kèm theo căng cứng cơ bụng.
Mức độ đau tăng lên khi người bệnh di chuyển, ho, ngáy, hắt hơi và thở sâu. Nếu bụng mềm, phía phải bụng dưới (vị trí ruột thừa) bị đau khi ấn vào, thân nhiệt không cao thì chứng viêm còn nhẹ. Nếu viêm nặng, đã có mủ, hoại tử, hoặc đã thủng thì bệnh nhân đau bụng dữ dội, phạm vi bị đau cũng mở rộng kèm theo sốt cao. Khi ấn bụng thì cơ bụng căng cứng hoặc sờ thấy có cục cứng phía bên phải bụng dưới.

Những triệu chứng này tiến triển từ vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có thể không có đủ các triệu chứng trên. Vì thế việc chẩn đoán viêm ruột thừa chính xác thường gặp khó khăn. Đặc biệt là ở trẻ em và người cao tuổi.

Cần phân biệt viêm ruột thừa với các bệnh cảnh khác có thể giống như viêm dạ dày ruột, sỏi thận, nhiễm khuẩn đường tiểu, u nang buồng trứng và nhiễm khuẩn khung chậu… Nếu viêm ruột thừa không được điều trị, ruột thừa sẽ vỡ hoặc thủng. Ðiều này đưa đến các biến chứng như viêm toàn bộ ổ bụng (viêm phúc mạc), hình thành áp-xe ruột thừa và tắc ruột.

Làm thế nào để phát hiện?
Siêu âm và chụp Doppler cũng là phương tiện phát hiện viêm ruột thừa, nhưng có thể bỏ sót một số trường hợp (khoảng 15%), đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi chưa hình thành dịch, siêu âm hố chậu không cho thấy bất thường mặc dù đã có viêm ruột thừa. Tuy nhiên, đây là phương tiện phát hiện cận lâm sàng tốt, không gây hại. Siêu âm có thể thấy được hình ảnh ruột thừa to hơn bình thường, thấy được dịch trong ổ bụng… giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt nhiều loại bệnh lý khác nhau có cùng triệu chứng là đau bụng.

Nhưng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa mà tùy thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. Do đó, siêu âm nên được xem là một công cụ hỗ trợ trong công tác theo dõi viêm ruột thừa chứ không phải là tiêu chuẩn vàng quyết định viêm ruột thừa.
Chẩn đoán viêm ruột thừa chủ yếu dựa vào lâm sàng (các triệu chứng của bệnh) kết hợp với nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ và siêu âm hỗ trợ. Ở những nơi có trang bị CTscan hay chụp cắt lớp, đây là phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng được ưa dùng. Phim chụp cắt lớp CTscan thực hiện đúng quy cách có độ phát hiện (độ nhạy) hơn 95%.

Điều trị thế nào?

Nếu viêm ruột thừa, tốt nhất là phẫu thuật loại bỏ ruột thừa (cắt ruột thừa). Cắt ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt bỏ ruột thừa được thực hiện qua nội soi ổ bụng. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất tùy vào từng đối tượng bệnh nhân.

Nếu ruột thừa viêm không bị vỡ tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân thường được xuất viện trong vòng 1 – 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ, thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 – 7 ngày, tùy vào mức độ trầm trọng của bệnh. Kháng sinh đường tĩnh mạch được chỉ định trong khi nằm viện để giúp tránh  nhiễm khuẩn thêm và tạo áp-xe.

Tùy thuộc vào mức độ viêm của ruột thừa mà sau khi mổ xong có thể biến chứng gì khác không. Nếu là viêm ruột thừa cấp (mới chớm viêm trong vòng 6 tiếng), viêm ruột thừa mủ chưa vỡ thì khả năng biến chứng sau mổ là rất thấp. Nhưng đối với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa thì nguy cơ biến chứng tắc ruột do các dây dính tạo thành sau mổ là rất cao. Nhiều trường hợp tắc ruột phải mổ lại để gỡ các dây dính này.

Nguồn sức khỏe đời sống

Biến chứng và cách điều trị ruột thừa

Nhiều trẻ em gặp phải bệnh viêm ruột thừa vì vậy cần coi chừng biến chứng của nó.

Viêm ruột thừa là một bệnh khá phổ biến, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3 – 4 tuổi. Có những trường hợp viêm ruột thừa chưa biến chứng, việc xử trí đơn giản, nhưng cũng có những trường hợp viêm ruột thừa khi nhập viện đã có biến chứng như vỡ, áp-xe ruột thừa, mủ tràn khắp ổ bụng, sau khi mổ, hậu phẫu vẫn còn nhiều phức tạp… Do vậy, việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

Viêm ruột thừa là gì?

Ruột thừa là một túi nhỏ nhô ra hình con giun của manh tràng (đoạn đầu của ruột già), dài khoảng 5 – 6cm. Ruột thừa nằm ở phần dưới phải của ổ bụng, có thể thay đổi vị trí. Theo các chuyên gia tiêu hóa, ruột thừa không có chức năng gì nên việc cắt bỏ nó không ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của cơ thể.

bien-chung-va-cach-dieu-tri-ruot-thua

Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa. Khi ruột thừa bị tắc nghẽn, các vi khuẩn bình thường trú trong lòng ruột thừa bắt đầu xâm lấn vào thành ruột thừa. Cơ thể đáp ứng với hiện tượng xâm lấn này bằng cách tấn công các vi khuẩn. Hiện tượng tấn công các vi khuẩn đó được gọi là viêm.

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa là do lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng bị tắc nghẽn. Hiện tượng tắc nghẽn này là do tích tụ nhiều chất dịch nhầy trong lòng ruột thừa hoặc do phân từ manh tràng đi vào ruột thừa. Chất nhầy hay phân trở nên cứng, giống như đá và làm tắc nghẽn lỗ thông. Hiện tượng phân cứng như đá được gọi là “sỏi phân” (phân có kích thước bằng hạt đậu, cứng và bị canxi hóa gây tắc nghẽn lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng). Có thể có hiện tượng mô bạch huyết của ruột thừa bị phù và làm tắc nghẽn ruột thừa gây viêm.

Những triệu chứng của viêm ruột thừa đôi khi rất mơ hồ, nhất là ở trẻ em và người già nên một số người chủ quan đã tự mua thuốc về cho bệnh nhân uống vì tưởng bị rối loạn tiêu hóa… Điều này càng làm lu mờ các triệu chứng của bệnh, gây khó khăn cho quá trình chẩn đoán. Đây là việc làm hết sức nguy hiểm vì viêm ruột thừa nếu xử lý chậm sẽ bị vỡ, gây viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng và có thể dẫn đến tử vong. Chính vì vậy, việc phát hiện và xử trí bệnh kịp thời là điều vô cùng quan trọng để giảm thiểu những biến chứng nguy hiểm của viêm ruột thừa có thể xảy ra.

Triệu chứng phát hiện bệnh

Các triệu chứng ban đầu của viêm ruột thừa rất dễ nhầm với nhiễm virut đường ruột. Các triệu chứng bao gồm đầy bụng mơ hồ, khó tiêu và đau bụng ít thường được cảm nhận ở vùng quanh rốn. Khi nhiễm khuẩn nặng hơn, đau trở nên nổi bật hơn ở phần phải của bụng dưới. Bệnh nhân thường có buồn nôn, nôn và chán ăn. Ðau thường liên tục và ngày càng nặng. Bệnh nhân có thể tiêu chảy, sốt và lạnh run kèm theo căng cứng cơ bụng.

Mức độ đau tăng lên khi người bệnh di chuyển, ho, ngáy, hắt hơi và thở sâu. Nếu bụng mềm, phía phải bụng dưới (vị trí ruột thừa) bị đau khi ấn vào, thân nhiệt không cao thì chứng viêm còn nhẹ. Nếu viêm nặng, đã có mủ, hoại tử, hoặc đã thủng thì bệnh nhân đau bụng dữ dội, phạm vi bị đau cũng mở rộng kèm theo sốt cao. Khi ấn bụng thì cơ bụng căng cứng hoặc sờ thấy có cục cứng phía bên phải bụng dưới.

Những triệu chứng này tiến triển từ vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có thể không có đủ các triệu chứng trên. Vì thế việc chẩn đoán viêm ruột thừa chính xác thường gặp khó khăn. Đặc biệt là ở trẻ em và người cao tuổi.

Cần phân biệt viêm ruột thừa với các bệnh cảnh khác có thể giống như viêm dạ dày ruột, sỏi thận, nhiễm khuẩn đường tiểu, u nang buồng trứng và nhiễm khuẩn khung chậu… Nếu viêm ruột thừa không được điều trị, ruột thừa sẽ vỡ hoặc thủng. Ðiều này đưa đến các biến chứng như viêm toàn bộ ổ bụng (viêm phúc mạc), hình thành áp-xe ruột thừa và tắc ruột.

Làm thế nào để phát hiện?

Siêu âm và chụp Doppler cũng là phương tiện phát hiện viêm ruột thừa, nhưng có thể bỏ sót một số trường hợp (khoảng 15%), đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi chưa hình thành dịch, siêu âm hố chậu không cho thấy bất thường mặc dù đã có viêm ruột thừa. Tuy nhiên, đây là phương tiện phát hiện cận lâm sàng tốt, không gây hại. Siêu âm có thể thấy được hình ảnh ruột thừa to hơn bình thường, thấy được dịch trong ổ bụng… giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt nhiều loại bệnh lý khác nhau có cùng triệu chứng là đau bụng.

Nhưng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa mà tùy thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. Do đó, siêu âm nên được xem là một công cụ hỗ trợ trong công tác theo dõi viêm ruột thừa chứ không phải là tiêu chuẩn vàng quyết định viêm ruột thừa.

Chẩn đoán viêm ruột thừa chủ yếu dựa vào lâm sàng (các triệu chứng của bệnh) kết hợp với nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ và siêu âm hỗ trợ. Ở những nơi có trang bị CTscan hay chụp cắt lớp, đây là phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng được ưa dùng. Phim chụp cắt lớp CTscan thực hiện đúng quy cách có độ phát hiện (độ nhạy) hơn 95%.

Điều trị thế nào?

Nếu viêm ruột thừa, tốt nhất là phẫu thuật loại bỏ ruột thừa (cắt ruột thừa). Cắt ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt bỏ ruột thừa được thực hiện qua nội soi ổ bụng. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất tùy vào từng đối tượng bệnh nhân.

Nếu ruột thừa viêm không bị vỡ tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân thường được xuất viện trong vòng 1 – 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ, thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 – 7 ngày, tùy vào mức độ trầm trọng của bệnh. Kháng sinh đường tĩnh mạch được chỉ định trong khi nằm viện để giúp tránh  nhiễm khuẩn thêm và tạo áp-xe.

Tùy thuộc vào mức độ viêm của ruột thừa mà sau khi mổ xong có thể biến chứng gì khác không. Nếu là viêm ruột thừa cấp (mới chớm viêm trong vòng 6 tiếng), viêm ruột thừa mủ chưa vỡ thì khả năng biến chứng sau mổ là rất thấp. Nhưng đối với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa thì nguy cơ biến chứng tắc ruột do các dây dính tạo thành sau mổ là rất cao. Nhiều trường hợp tắc ruột phải mổ lại để gỡ các dây dính này.

Nguyễn Bá Khang
Theo Bs Sức khỏe đời sống

Phụ nữ trẻ cần đề phòng buồng trứng đa nang

Buồng trứng đa nang là hội chứng có thể ảnh hưởng tới chu kỳ kinh nguyệt, khả năng có thai, nội tiết, tim mạch, mạch máu và biểu hiện bên ngoài của người phụ nữ (PN).

“Khi người phụ nữ có hội chứng này, đặc trưng sẽ có nồng độ androgen cao (đôi khi được gọi là nội tiết tố nam mặc dù phụ nữ bình thường cũng sản xuất loại nội tiết tố này), không có hoặc kinh không đều, có rất nhiều nang ở buồng trứng” – TS-BS Phan Trung Hòa, BV Từ Dũ khuyến cáo.

Chuyện ghi tại phòng khám

Yến năm nay 15 tuổi, so với nhóm bạn cùng trang lứa thì cô bé đã ra dáng thiếu nữ với chiều cao, cân nặng khá lý tưởng, duy chỉ có “đường kinh nguyệt” bị chậm. Điều này khiến cô có những biểu hiện không bình thường: mái tóc đen dày dần thưa thớt, thay vào đó là lông chân, lông tay mọc rậm rì. Mẹ cô chia sẻ: “Thấy con gái gần đây cứ rón rén hỏi mẹ xem nhà mình có ai nhiều lông như nó không, ăn gì để giảm lông, làm sao để triệt lông khiến tôi băn khoăn. Khi đưa con đi khám mới hay con mình đang mắc chứng bệnh quái ác này…”.
buong-trung-da-nang-phu-nu-tre-cung-kho-tranh
Còn Hoa, cô gái có gương mặt bầu bĩnh ngồi cạnh bé Yến, thì ngược lại. Theo lời Hoa thì cô dậy thì rất sớm, từ năm 10 tuổi. Năm nay 26 tuổi, chưa lập gia đình nên Hoa cũng không quan tâm đến chuyện kinh nguyệt của mình ngày càng thưa thớt (hai-ba tháng mới hành kinh một lần). Cho đến gần đây, tuy không thấy kinh, nhưng hầu như tháng nào cô cũng bị chứng đau bụng kinh hành hạ. Đó là những cơn đau vùng thắt lưng, tuy diễn ra trong vài phút nhưng quặn thắt khiến cô hụt hơi, vã mồ hôi, không đứng thẳng được. Đến bệnh viện kiểm tra, mới hay cả hai bên buồng trứng của cô trứng mọc từng chùm.

Trẻ hơn Hoa là Minh, 24 tuổi, khá mập. Minh cho biết, thời con gái kinh nguyệt của cô rất đều đặn, nhưng không hiểu sao sau khi lấy chồng lại bị tắt kinh. Đi kiểm tra, bác sĩ cho biết cô bị buồng trứng đa nang (BTĐN), theo bác sĩ là vì nồng độ androgen của cô tăng cao, trong khi progesterone lại thấp. Hiện cô đang tuân thủ chế độ ăn kiêng giảm cân và uống thuốc để có kinh.

Mất cân bằng nội tiết

TS-BS Phan Trung Hòa, cho rằng, vấn đề chính trong hội chứng BTĐN là sự mất cân bằng nội tiết của PN. Ở người PN bị BTĐN, buồng trứng của họ sản xuất ra androgen nhiều hơn bình thường. Nồng độ nội tiết này cao sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển và phóng thích noãn (rụng trứng).

Nguyên nhân chính xác chưa được biết, nhưng các yếu tố nguy cơ đã được xác định. Yếu tố di truyền khá rõ khi thường thấy ở PN mà có mẹ hay chị gái cũng bị BTĐN.

Một vài triệu chứng của BTĐN thường gặp gồm: chậm có thai do rối loạn rụng trứng; không có kinh, kinh thưa hoặc không đều; rậm lông, buồng trứng có nhiều nang; mụn trứng cá, da nhờn, gàu; tăng cân, béo phì thường ở vùng hông eo; có những mảng da sậm màu, đen ở cổ, cánh tay, đùi, vú; đau vùng chậu; lo lắng hay bị ức chế, ngưng thở khi ngủ… Các dấu hiệu này có thể tồn tại đến tuổi mãn kinh.

BTĐN có thể xảy ra ở tuổi rất trẻ (11 tuổi). Nguy cơ bị các vấn đề sức khỏe khác: 50% sẽ bị đái tháo đường trước 40 tuổi, nguy cơ bị đột quỵ tim tăng gấp bốn-bảy lần người cùng tuổi, dễ bị cao huyết áp; cholesterol, mỡ trong máu cao và dễ bị ngưng thở khi đang ngủ.

Do mất cân bằng nội tiết, androgen làm suy yếu các nang noãn (trứng) khiến chúng tuy phát triển nhưng không thể trưởng thành (chất lượng trứng không tốt) và hiếm khi có hiện tượng rụng trứng xảy ra.

Các nghiên cứu cũng cho thấy sự liên quan giữa Insulin và BTĐN. Insulin là nội tiết kiểm soát sự thay đổi của đường, tinh bột và thức ăn giàu năng lượng khác để sử dụng và dự trữ. Mức Insulin cao quá mức sẽ làm gia tăng sản xuất androgen dẫn đến mụn trứng cá, rậm lông, tăng cân và rối loạn rụng trứng.

Điều trị như thế nào?

TS-BS Phan Trung Hòa cho biết: Cần thay đổi cách sống để cải thiện tình trạng béo phì, thừa cân bằng giảm ăn thức ăn nhanh, thức ăn nhiều đường, ngọt. Nên ăn nhiều gạo lức, rau, trái cây, thịt nạc. Chế độ ăn này sẽ giúp giảm lượng nội tiết Insulin để chuyển hóa đường, đặc biệt, việc giảm 10% cân nặng có thể giúp chu kỳ kinh nguyệt trở về bình thường và đều hơn.

Việc dùng thuốc vỉ tránh thai kết hợp sẽ giúp chu kỳ kinh đều hơn, giảm mụn, làm giảm được nội tiết androgen. Cũng có thể dùng nội tiết progesterone đơn thuần để điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt và giúp giảm nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung (nhưng không giúp giảm mụn và rậm lông).

Việc điều trị hiếm muộn, nguyên tắc cơ bản là tạo ra sự rụng trứng để tăng cơ hội có thai. Việc mổ nội soi đốt điểm trên buồng trứng (phá bỏ một số nang trứng không rụng) cũng giúp có hiện tượng rụng trứng sau đó. Nhưng loại bỏ các nang trứng không rụng không phải là cách điều trị bệnh triệt để.

Để dự phòng biến chứng, PN bị BTĐN nên được các bác sĩ sản phụ khoa, nội tiết tư vấn điều trị. Việc điều trị nên gồm nhiều mục tiêu chứ không chỉ vì điều trị cho có thai hay trị mụn. Quan trọng và lâu dài là ăn uống đúng, tập thể dục và không hút thuốc.

Nguồn afamily

Những cách phòng và “ngừa” U nang buồng trứng

Chiếm tỷ lệ gần 80% các khối u buồng trứng, u nang buồng trứng có thể gặp ở mọi phụ nữ, ở bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời. Bệnh thường “đánh lừa” chị em bằng các triệu trứng mơ hồ nên nếu không được chữa trị kịp thời, khối u có thể biến thành ung thư buồng trứng gây ảnh hưởng tới khả năng có con, thậm chí nguy hiểm tới tính mạng người phụ nữ.

Ai cũng có thể là “nạn nhân” của U nang buồng trứng

Theo đúng giấy hẹn, chị Trần Thị Minh (Từ Sơn – Bắc Ninh) đi khám thai định kỳ ở tháng thứ 3, thời gian khám kéo dài hơn mọi lần bởi chị phải làm thêm một số xét nghiệm. Linh tính có chuyện chẳng lành, chị Minh bàng hoàng khi được thông báo bị u nang buồng trứng. Dù được bác sỹ trấn an là khối u lành tính và mới chớm bị nhưng chị Minh vẫn không khỏi lo lắng bởi chị đang ở giai đoạn thai kỳ nên sẽ dễ đến những biến chứng khó lường cho cả thai phụ và thai nhi. Nguy hiểm hơn, chị cũng có thể đối mặt với việc sẩy thai, xuất huyết âm đạo, sinh non, băng huyết hoặc sót nhau sau sinh.
u-nang-buong-trung
Là sinh viên năm 2 của một trường ĐH ở Hà Nội, chị Trần Thanh Phương (Đan Phượng – Hà Nội) thời gian này bỗng xuất hiện những cơn đau âm ỉ bên hố chậu và trong những ngày kinh nguyệt. Kết quả kiểm tra cho thấy buồng trứng phải của chị xuất hiện khối u nang. Tai chị Phương như ù đi khi hay tin dữ. Chị Phương bảo từ trước đến giờ mình rất khỏe mạnh, lại chưa từng quan hệ tình dục bao giờ, làm sao lại bị u nang buồng trứng được.

U nang buồng trứng được hình thành bên trong buồng trứng và là bao nang chứa đầy dịch. Bệnh không trừ một ai bao gồm cả những phụ nữ đã từng hoặc chưa từng có quan hệ tình dục, đã có gia đình hay còn độc thân. Tuy nhiên, u nang buồng trứng vẫn thường gặp nhất ở chị em trong độ tuổi sinh sản. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, Phó giám đốc Bệnh viện K: “Khối u phụ khoa gặp rất nhiều ở chị em phụ nữ Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Đặc biệt, rất nhiều phụ nữ trẻ hiện nay đã có khối u ở buồng trứng, có thể u nang, có thể u đặc, có thể u ác tính ở buồng trứng”.
U nang buồng trứng được chia làm 2 loại là: u cơ năng và u thực thể. U cơ năng thường do rối loạn chức năng của buồng trứng gây ra, nó có thể tự mất đi sau một thời gian mà không cần bất cứ phương pháp điều trị nào. Đối với những khối u nang buồng trứng thực thể thì phương pháp điều trị hiệu quả nhất là phẫu thuật bóc tách và cắt bỏ. Nếu không được điều trị kịp thời các khối u này sẽ biến chứng: “xoắn” hoặc “khoá”.

Cũng giống như nhiều bệnh phụ khoa khác, u nang buồng trứng có các triệu chứng rất mơ hồ, khó phán đoán. Người bệnh vẫn có cuộc sống bình thường, vẫn có hành kinh và sinh đẻ bình thường. Đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng hay khi khám phụ khoa định kỳ.

90% u nang buồng trứng là u lành nhưng cũng có tới 10% là ác tính. Nếu không kịp thời chữa trị có thể chuyển sang ung thư buồng trứng, đe dọa rất lớn đến khả năng phát triển và rụng trứng, gây khó khăn trong quá trình thụ thai và có con của chị em.

Ngoài ra, u nang buồng trứng còn có thể dẫn đến biến chứng xoắn u gây đau quặn bụng cấp tính, vỡ u, chèn ép gây rối loạn tiêu hoá, đường tiết niệu, dẫn tới suy thận hoặc thành u ác tính.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, lạm dụng quá nhiều thuốc, làm việc quá sức, stress, tình trạng béo phì cùng chế độ ăn uống mất cân bằng là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng u nang buồng trứng ở chị em.

Khám phụ khoa định kỳ hàng năm hoặc 6 tháng/lần là một trong những cách tốt nhất để chị em kịp thời phát hiện và điều trị sớm u nang buồng trứng. Bởi u nang buồng trứng càng được phát hiện sớm thì càng ít có nguy cơ ảnh hưởng đến chức năng làm mẹ của người phụ nữ.
Bên cạnh đó, chị em cần có chế độ ăn uống sinh hoạt khoa học, điều chỉnh cân nặng phù hợp, tránh hút thuốc và bổ sung thêm các sản phẩm thảo dược có nguồn gốc thiên nhiên để ngăn chặn sự “hoành hành” của u nang buồng trứng. Khi phát hiện u nang buồng trứng, chị em cần điều trị ngay nhằm hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Nguồn gia đình

Điều trị u nang buồn trứng

 U nang buồng trứng là những túi chứa đầy dịch hoặc túi bên trong hoặc trên bề mặt của buồng trứng. Buồng trứng là cơ quan song phương, nằm trên mỗi bên của tử cung.

Định nghĩa
U nang buồng trứng là những túi chứa đầy dịch hoặc túi bên trong hoặc trên bề mặt của buồng trứng. Buồng trứng là cơ quan song phương, nằm trên mỗi bên của tử cung. Trứng (trứng) phát triển và trưởng thành trong buồng trứng và được phát hành theo chu kỳ hàng tháng.

Nhiều phụ nữ có u nang buồng trứng ở một số thời gian trong cuộc sống của họ. Hầu hết u nang buồng trứng hiện nay ít hoặc không có sự khó chịu và vô hại. Phần lớn u nang buồng trứng biến mất mà không cần điều trị trong vòng một vài tháng.

Tuy nhiên, u nang buồng trứng – đặc biệt là những người đã vỡ, đôi khi tạo ra các triệu chứng nghiêm trọng. Cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe là để biết các triệu chứng và các loại u nang buồng trứng có thể báo hiệu một vấn đề quan trọng hơn, và lên lịch kiểm tra định kỳ khung chậu.

u-nang-buong-trung

Các triệu chứng

Không thể phụ thuộc vào một mình các triệu chứng để biết có một u nang buồng trứng. Trong thực tế có thể không có triệu chứng nào cả. Hoặc nếu có, các triệu chứng có thể tương tự như của các điều kiện khác, chẳng hạn như endometriosis, bệnh viêm vùng chậu, thai ngoài tử cung hoặc ung thư buồng trứng. Ngay cả ruột thừa và viêm túi thừa có thể tạo ra các dấu hiệu và triệu chứng bắt chước u nang buồng trứng vỡ.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần được theo dõi của bất kỳ triệu chứng hoặc những thay đổi trong cơ thể và để biết những triệu chứng nghiêm trọng. Nếu có u nang buồng trứng, có thể gặp một hoặc nhiều trong những dấu hiệu và triệu chứng sau đây:

Kinh nguyệt không đều.

Đau vùng chậu – hằng số hoặc liên tục, đau âm ỉ có thể lan xuống thấp hơn trở lại và đùi.

Đau vùng chậu ngay trước khi thời gian bắt đầu hoặc ngay trước khi nó kết thúc.

Đau vùng chậu trong (giao hợp đau) giao hợp.

Đau trong khi ruột chuyển động hoặc áp lực lên ruột.

Buồn nôn, nôn hoặc đau vú tương tự như trải nghiệm trong khi mang thai.

No hoặc nặng ở bụng.

Áp lực lên trực tràng hoặc bàng quang – khó khăn hoàn toàn bàng quang.

Đến gặp bác sĩ khi

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu có:

Đột ngột, nặng bụng hoặc đau vùng chậu.

Đau đi kèm với sốt hoặc ói mửa.

Những dấu hiệu và triệu chứng – hoặc những cú sốc, chẳng hạn như da lạnh, thở nhanh, hoa mắt hoặc điểm yếu – cho biết trường hợp khẩn cấp và có nghĩa là cần gặp bác sĩ ngay.

Nguyên nhân

Buồng trứng thường phát triển kết cấu giống như u nang gọi là nang mỗi tháng. Nang sản xuất các hormone estrogen và progesterone và giải phóng một quả trứng khi rụng trứng.

Đôi khi bình thường hàng tháng nang giữ lại ngày càng tăng. Khi điều đó xảy ra, nó trở nên như một u nang chức năng. Điều này có nghĩa là nó bắt đầu trong chức năng bình thường của chu kỳ kinh nguyệt.

Có hai loại u nang chức năng:

U nang. Xung quanh điểm giữa của chu kỳ kinh nguyệt, của tuyến yên não phát hành một sự đột biến của luteinizing hormone (LH), tín hiệu các nang trứng nắm giữ để phát hành nó. Khi mọi thứ đi theo kế hoạch, trứng nổ trong nang lông của nó và bắt đầu cuộc hành trình của nó xuống ống dẫn trứng trong sự tìm kiếm của tinh trùng và thụ tinh.

U nang bắt đầu khi tăng LH không xảy ra. Kết quả là một nang trứng không bị vỡ hoặc phát hành trứng của nó. Thay vào đó nó phát triển và biến thành u nang. Nang này thường vô hại, ít khi gây đau và thường tự biến mất trong vòng hai hoặc ba chu kỳ kinh nguyệt.

Corpus luteum u nang. Khi LH không tăng và trứng được phát hành, các nang trứng vỡ bắt đầu sản xuất số lượng lớn của estrogen và progesterone để chuẩn bị cho thụ thai. Nang này thay đổi là bây giờ gọi là thể vàng. Đôi khi, tuy nhiên, việc mở cửa thoát của trứng ra khỏi chất lỏng tích tụ bên trong nang lông, gây ra các thể vàng mở rộng thành các u nang.

Mặc dù các u nang này thường tự biến mất trong một vài tuần, nó có thể phát triển đến gần 4 inches đường kính và có khả năng chảy máu vào chính nó hoặc làm cho buồng trứng xoắn vặn, cắt đứt nguồn cung cấp máu và gây ra đau vùng chậu hoặc bụng. Nếu nó đầy máu, các u nang có thể vỡ, gây xuất huyết nội và đau đột ngột. Các thuốc clomiphene citrate (Clomid, Serophene), được sử dụng để gây rụng trứng, làm tăng nguy cơ u nang thể vàng phát triển sau khi trứng rụng. Những u nang không ngăn chặn hoặc có nguy cơ kết quả mang thai.

Các biến chứng

U nang buồng trứng lớn có thể gây ra sự khó chịu ở bụng. Nếu u nang lớn ép lên bàng quang, có thể cảm thấy cần phải đi tiểu thường xuyên hơn bởi vì khả năng bàng quang giảm.

Một số phụ nữ phát triển các loại ít phổ biến của u nang có thể không có các triệu chứng, nhưng bác sĩ có thể tìm thấy trong một cuộc kiểm tra khung chậu. Khối nang buồng trứng phát triển sau khi mãn kinh có thể là ung thư (ác tính). Những yếu tố quan trọng này cần kiểm tra vùng chậu thường xuyên.

Các loại sau đây của u nang nhiều phổ biến hơn so với u nang chức năng:

U nang da (dermoid). Những u nang có thể chứa các mô như da, tóc hay răng bởi vì chúng hình thành từ các tế bào sản xuất trứng của con người. Hiếm khi ung thư, nhưng có thể trở thành lớn, gây ra buồng trứng di chuyển ra khỏi vị trí bình thường của nó trong khung chậu. Điều này làm tăng nguy cơ đau xoắn buồng trứng, gọi là buồng trứng xoắn.

U nội mạc tử cung (endometriomas). Những u nang phát triển như là kết quả của màng trong dạ con, một tình trạng trong đó các tế bào tử cung phát triển ngoài tử cung. Một số mô có thể đính kèm vào buồng trứng và tạo thành một sự tăng trưởng.

U nang tuyến (cystadenomas). Những u nang phát triển từ mô buồng trứng và có thể được lấp đầy với một chất lỏng nước hoặc nhầy. Có thể trở thành lớn – đường kính 12 inch hoặc nhiều hơn – và dẫn đến xoắn buồng trứng.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

U nang buồng trứng có thể được tìm thấy trong khám phụ khoa. Nếu nghi ngờ u nang, bác sĩ thường khuyên thử nghiệm thêm để xác định loại của nó và xem có cần điều trị.

Thông thường, bác sĩ hỏi một số câu để xác định chẩn đoán và để hỗ trợ trong các quyết định quản lý:

Hình dạng. Hình dạng u nang bất thường?

Kích thước. Kích thước nó?

Thành phần. Có chứa đầy chất lỏng, rắn hoặc hỗn hợp? U nang chứa đầy chất lỏng không có khả năng bị ung thư. Đặc hoặc pha trộn, đầy chất lỏng và rắn có thể yêu cầu đánh giá thêm để xác định có thể ung thư.

Để xác định loại u nang, bác sĩ có thể thực hiện các thủ tục sau đây:

Kiểm tra mang thai. Thử nghiệm mang thai dương tính có thể cho thấy u nang là một u nang thể vàng.

Siêu âm vùng chậu. Thủ tục này không gây đau đớn, một thiết bị giống như cây đũa (bộ chuyển đổi) được sử dụng để gửi và nhận sóng âm thanh tần số cao (siêu âm). Đầu dò có thể di chuyển qua vùng bụng và bên trong âm đạo, tạo ra hình ảnh của tử cung và buồng trứng trên một màn hình video. Hình ảnh này sau đó có thể được chụp ảnh và phân tích của bác sĩ để xác nhận sự hiện diện của u nang, giúp xác định vị trí của nó và xác định xem rắn, có chứa nước hay hỗn hợp.

Phẫu thuật nội soi. Sử dụng một ống nội soi, chèn vào bụng thông qua một đường rạch nhỏ – bác sĩ có thể thấy buồng trứng và loại bỏ các u nang buồng trứng.

Xét nghiệm máu CA 125. Mức độ protein máu được gọi là kháng nguyên ung thư 125 (CA 125) thường được nâng lên ở những phụ nữ mắc bệnh ung thư buồng trứng. Nếu phát triển u nang buồng trứng một phần rắn và có nguy cơ cao của bệnh ung thư buồng trứng, bác sĩ có thể kiểm CA 125 trong máu để xác định xem u nang có thể ung thư. CA 125 cao cũng có thể xảy ra trong điều kiện không phải ung thư, như u màng trong dạ con, u xơ tử cung và các bệnh viêm vùng chậu.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị tùy thuộc vào tuổi, loại, kích thước của u nang và các triệu chứng. Bác sĩ có thể đề nghị:

Chờ đợi và theo dõi. Có thể chờ đợi và được tái kiểm tra trong 1 – 3 tháng, nếu đang trong tuổi sinh sản, không có triệu chứng và siêu âm cho thấy có một chất lỏng đầy u nang. Bác sĩ có thể sẽ khuyên nên có siêu âm vùng chậu theo theo định kỳ để xem u nang đã thay đổi kích thước.

Cảnh giác chờ đợi, trong đó có giám sát thường xuyên với siêu âm, cũng là một lựa chọn điều trị thông thường được đề nghị cho phụ nữ sau mãn kinh nếu u nang chứa đầy chất lỏng và ít hơn 2 cm đường kính.

Thuốc tránh thai. Bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc tránh thai để giảm nguy cơ u nang mới phát triển trong chu kỳ kinh nguyệt trong tương lai. Uống tránh thai cung cấp các lợi ích bổ sung giảm đáng kể nguy cơ ung thư buồng trứng.

Phẫu thuật. Bác sĩ có thể đề nghị loại bỏ u nang, nếu nó quá lớn, không giống như một u nang chức năng, đang phát triển hay vẫn còn tồn tại qua hai hoặc ba chu kỳ kinh nguyệt. U nang gây đau hoặc các triệu chứng khác có thể được gỡ bỏ.

Một số u nang có thể được loại bỏ mà không cần loại bỏ buồng trứng trong một thủ tục gọi là cystectomy. Bác sĩ cũng có thể đề nghị loại bỏ buồng trứng bị ảnh hưởng và để lại nguyên vẹn thứ khác trong một thủ tục gọi là oophorectomy. Cả hai thủ tục có thể cho phép duy trì khả năng sinh sản nếu vẫn còn khả năng sinh con. Để lại ít nhất một buồng trứng còn nguyên vẹn cũng có lợi ích của việc duy trì một nguồn sản xuất estrogen.

Nếu một khối u nang là ung thư, tuy nhiên, bác sĩ sẽ tư vấn cắt bỏ tử cung để loại bỏ cả hai buồng trứng và tử cung. Sau khi mãn kinh, nguy cơ của tìm thấy nang buồng trứng tăng nguy cơ ung thư. Kết quả là, các bác sĩ thường khuyên nên phẫu thuật khi một khối u nang buồng trứng phát triển sau khi mãn kinh.

Phòng chống

Mặc dù không có cách nào xác định để ngăn chặn sự phát triển của u nang buồng trứng, khám phụ khoa thường xuyên là một cách để giúp đảm bảo rằng những thay đổi trong buồng trứng được chẩn đoán càng sớm càng tốt. Ngoài ra, phải cảnh giác với những thay đổi trong chu kỳ hàng tháng, bao gồm các triệu chứng có thể đi kèm với kinh nguyệt mà không phải là điển hình vẫn tồn tại trong suốt hơn một vài chu kỳ. Hãy chắc chắn để nói chuyện với bác sĩ về bất kỳ vấn đề liên quan đến kinh nguyệt.

Những căn bệnh đe dọa khả năng làm mẹ của người phụ nữ

Đúng là theo các chuyên gia sức khỏe, các cặp vợ chồng có quan hệ tình dục không sử dụng bất kì biện pháp tránh thai nào liên tục trong 1 năm mà không đậu thai thì có thể được xếp vào diện hiếm muộn, vô sinh. Thông thường, sau khoảng thời gian này, các cặp vợ chồng nên đi khám để biết nguyên nhân từ ai và nguyên nhân đó là gì.

– Tắc vòi trứng: Tắc vòi trứng, có thể do nhiễm khuẩn hoặc do lạc nội mạc tử cung và chiếm tỷ lệ khoảng 40-50% trường hợp hiếm muộn, vô sinh. Bệnh thường được phát hiện chính xác nhất nhờ chụp tử cung – vòi trứng. Tắc vòi trứng khiến cho nhiều khi trứng đã gặp tinh trùng ở vòi trứng nhưng không thể di chuyển về tử cung để làm tổ mà phát triển ngay tại vòi trứng, gây ra chửa ngoài tử cung.

Một số triệu chứng có thể gặp khi bị tắc vòi trứng bao gồm: Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, khí hư nhiều hơn bình thường, đau khi quan hệ tình dục, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, lao động làm việc không tập trung, những triệu chứng tâm lý hay ức chế tâm lý…

nhung-can-benh-de-doa-kha-nang-lam-me-cua-nguoi-phu-nu

– Bệnh viêm vùng chậu: Bệnh viêm vùng chậu (PID) là một bệnh nhiễm trùng cơ quan sinh sản nữ. Nó thường xảy ra khi vi khuẩn lây lan qua đường tình dục từ âm đạo vào tử cung và đường sinh dục trên.

Nhiều phụ nữ phát triển bệnh viêm vùng chậu có thể không gặp triệu chứng nào đặc biệt hoặc là có các dấu hiệu sau: Đau vùng bụng dưới, sốt, tiết dịch âm đạo bất thường kèm có mùi, đau khi giao hợp, ra huyết âm đạo giữa chu kỳ…

Bệnh viêm vùng chậu có thể dẫn đến vô sinh hoặc thai ngoài tử cung. Bệnh chỉ được phát hiện sau khi gặp vấn đề mang thai hoặc nếu phát triển đau vùng chậu kinh niên.

– U xơ tử cung: U xơ tử cung là bệnh khá phổ biến ở chị em. Đây là loại u lành tính thường thấy nhất trong tử cung, nó có thể nằm ở thành hoặc trong lòng dạ con.

Mặc dù là bệnh phổ biến và không làm tăng nguy cơ ung thư tử cung nhưng u xơ tử cung lại có thể làm cho chị em rất khó chịu và gây khó khăn cho việc trứng gặp tinh trùng. Đặc biệt, bệnh không có biểu hiện rõ ràng nên trong nhiều trường hợp, người bệnh có những triệu chứng có thể nhầm với mang thai.

Nếu u ở vị trí gần niêm mạc thì có thể gây chảy máu, băng huyết… Trong trường hợp này cần được can thiệp để xử lý kịp thời, tránh ảnh hưởng đến các khu vực lân cận, cản trở việc thụ thai.

– Bệnh viêm răng lợi: Các bệnh liên quan đến răng miệng xảy ra khi vi khuẩn trong miệng tạo thành một ổ viêm nhiễm quanh một chiếc răng và có thể lây lan vào hệ tuần hoàn. Bệnh này cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của người phụ nữ. Theo nhiều nghiên cứu thì phụ nữ bị bệnh răng lợi phải mất trung bình 7 tháng mới có thai, dài hơn 2 tháng so với những phụ nữ không mắc bệnh này.

– U nang buồng trứng: Buồng trứng có chức năng sản xuất trứng. U nang buồng trứng hình thành bên trong buồng trứng và là bao nang chứa đầy dịch. Cũng giống như nhiều bệnh phụ khoa khác, u nang buồng trứng có các triệu chứng rất mơ hồ, khó phán đoán từ sớm. Đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Khi bị u nang buồng trứng, chị em có thể gặp các triệu chứng như: Đau vùng bụng, kinh nguyệt thất thường, cảm giác đầy bụng, khó chịu ở âm đạo…

90% u nang buồng trứng là u lành nhưng cũng có tới 10% là ác tính. Nếu không kịp thời chữa trị có thể chuyển sang ung thư buồng trứng, đe dọa rất lớn đến khả năng phát triển và rụng trứng, từ đó gây khó khăn trong quá trình thụ thai và có con của chị em.

Mặc dù với mỗi bệnh lại có phương pháp điều trị khác nhau nhưng các bệnh lại có triệu chứng tương tự nhau nên các bác sĩ cũng có thể chẩn đoán nhầm nếu chỉ được nghe qua mô tả chứ không khám xụ thể. Vậy nên, để biết nguyên nhân chính xác thì bạn nên đi khám.

Theo afamily

Dấu hiệu khi bạn bị u nang buồng trứng

Khi các dạng u nang không được phát hiện điều trị, có thể gây biến chứng thành các dạng xoắn u nang, vỡ nan gây đau bụng dữ dội, kéo dài,buồn nôn, choáng vì đau.
Em năm nay 25 tuổi, đã có gia đình nhưng chưa có con. Thời gian gần đây, em thường bị đau bụng dưới, đau thành từng cơn, kể cả trong những ngày không có “đèn đỏ” cũng đau. Thậm chí có những hôm đau quá em phải uống thuốc giảm đau. Nhưng khi hết thuốc thì lại đau trở lại, có lần kèm theo đau đầu, buồn nôn.

Em đi khám thì được bác sĩ kết luận là u nang buồng trứng. Đi khám chỗ khác thì lại là xoắn buồng trứng. Em đang rất hoang mang và sợ bệnh có thể ảnh hưởng đến khả năng có con của em.

Mong bác sĩ tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn!

BS. Hoa Hồng tư vấn:

U nang buồng trứng là là bệnh phổ biến gặp ở nhiều chị em ở bất kì thời điểm nào trong cuộc đời. Mặc dù hầu hết các trường hợp u nang buồng trứng đều là lành tính nhưng bệnh này thường không có dấu hiệu bạn đầu nên rất khó nhận biết và chẩn đoán. Thậm chí, người bệnh còn không cảm nhận được các dấu hiệu bệnh.

Các dạng u nang buồng trứng thường gặp là u nang cơ năng, nang bọc noãn, u nang buồng trứng, nang hoàng tuyến, u nang thực thể, u nang nước buồng trứng, u nang nhày buồng trứng, u nang bì buồng trứng hay lạc nội mạc tử cung dạng u nang…
dau-hieu-cua-u-nang-buong-trung-1

Nhìn chung, u nang buồng trứng không phải là nguyên nhân gây vô sinh, trừ khi đó là u lạc nội mạc tử cung và phải phẫu thuật bóc u. Biến chứng của phẫu thuật bóc u lạc nội mạc tử cung thường là làm cho buồng trứng bị suy yếu, ảnh hưởng đến khả năng có con của người phụ nữ.

Tuy nhiên,  nếu không được phát hiện sớm, u nang có thể biến trứng thành ung thư buồng trứng, gây ảnh hưởng đến khả năng có con, thậm chí nguy hại đến tính mạng của phụ nữ.

Đau đớn là dấu hiệu lớn đầu tiên của u nang buồng trứng. Tuy nhiên, dấu hiệu đau đớn này lại rất dễ nhầm lẫn với những dấu hiệu bệnh tật khác vì nó cùng ở khoang bụng. Nếu bạn bị đau bụng kèm theo các dấu hiệu khác như đau khi quan hệ tình dục hoặc sau hoạt động vất vả, đau vùng xương chậu, chu kì kinh nguyệt thất thường, âm đạo đau và có nổi nốt đốm, cảm thấy áp lực ở bụng, đầy bụng… thì càng chứng tỏ bạn có khả năng bị u nang buồng trứng cao.

Khi các dạng u nang kể trên không được phát hiện điều trị, có thể gây biến chứng thành các dạng xoắn u nang, vỡ nang. Khi bị u xoắn bệnh nhân đau bụng dữ dội, kéo dài, có triệu chứng buồn nôn, choáng vì đau.

Khi khối u phát triển lớn, gây chèn ép các tạng xung quanh cũng gây đau, gây phù nề, u vỡ có thể dẫn đến các triệu chứng ung thư.

Để biết chính xác bạn bị dạng u nào, các khối u phát triển ra sao, cần được thăm khám nhiều lần ở khoa sản của các bệnh viện lớn, các bác sĩ có chuyên môn sẽ dễ dàng xác định được bệnh của bạn. Không nên dừng lại khi chưa thực sự biết chính xác bệnh, như thế đồng nghĩa với việc bạn không có cơ hội chữa trị dứt bệnh, mà lại tự đem nguy cơ ung thư về cho mình.

Chúc bạn vui, khỏe!

Theo TTVN

Những vấn đề cần biết về u nang buồng trứng ở trẻ gái

Bé gái P.T.T, 13 tuổi, đột ngột đau vùng bụng dưới kèm nôn, sốt nhẹ. Người nhà đưa bé đi khám thì phát hiện 1 u nang buồng trứng bên phải kích thước khá to có khả năng xoắn. Bé được tiến hành mổ nội soi cấp cứu sau đó và kết quả là bé bị u nang buồng trứng phải xoắn 3 vòng, hoại tử. Bé được cắt bỏ u, bảo tồn phần phụ. Phần u được gửi giải phẫu bệnh để biết lành hay ác.

Trên đây là 1 bệnh cảnh điển hình thường gặp của 1 trường hợp u nang buồng trứng xoắn ở bé gái tuổi dậy thì. Vậy u nang buồng trứng là gì? Nên làm gì khi trẻ tình cờ phát hiện có u nang buồng trứng? Bài viết nhỏ sau sẽ giải đáp 1 phần thắc mắc đó.

U nang buồng trứng là gì?

Một bé gái bình thường có 2 buồng trứng nằm 2 bên tử cung (dạ con). U buồng trứng là từ dùng để chỉ một khối phát triển bất thường ở buồng trứng.  U bao gồm 2 dạng: u đặc và u nang. Ở đây chủ yếu nói về u nang buồng trứng. Đó  là các túi chứa đầy dịch ở trong hoặc trên bề mặt buồng trứng. Ở các bé gái, một số trường hợp, u nang buồng trứng phát triển rất lớn, xuất huyết  sau đó xoắn hoặc  vỡ ra có thể gây nguy hiểm tính mạng của bé.

nhung_van_de_can_biet_ve_u_nang_buong_trung_o_tre_gai_01

Có mấy loại u nang buồng trứng?

U nang buồng trứng được chia làm hai loại: u nang cơ năng và u nang thực thể. U nang cơ năng của buồng trứng là những khối u xuất hiện do các rối loạn hoạt động nội tiết của buồng trứng. Các nang này thường tự biến mất trong vòng vài tháng và không gây triệu chứng.Nhưng cũng có trường hợp u to lên quá mức làm xuất huyết nang, vỡ nang…cần phải cấp cứu.  Còn u nang thực thể buồng trứng là những tổn thương xuất phát thật sự từ mô buồng trứng tiến triển thành những khối u to. Quá trình này thường diễn ra trong nhiều năm. Loại này khi to đến 1 kích thước nhất định thì cũng gây ra tình trạng phải mổ cấp cứu như xoắn cuống nang, vỡ nang hoặc do các biến chứng của khối u như chèn ép gây đau hay khó tiêu tiểu.

nhung_van_de_can_biet_ve_u_nang_buong_trung_o_tre_gai_02

U THỰC THỂ

nhung_van_de_can_biet_ve_u_nang_buong_trung_o_tre_gai_03

U CƠ NĂNG

Lứa tuổi nào dễ gặp u nang buồng trứng?

Như đã nói ở trên, các bé gái ở tuổi dậy thì, có sự thay đổi về hormon sinh dục là đối tượng dễ gặp u nang buồng trứng xoắn. Ngoài ra, đối với các u dạng thực thể thì đa số trường hợp người bệnh chỉ phát hiện được khi khối u đã to, có kích thước lớn nên tự sờ thấy được hoặc tình cờ phát hiện qua siêu âm bụng.

Triệu chứng của u nang buồng trứng?

Khi chưa có biến chứng, u nang buồng trứng  thường gây các triệu chứng rất mơ hồ, một số trường hợp trẻ có thể có kinh nguyệt không đều, trẻ có thể đau vùng bụng dưới âm ỉ hoặc từng cơn, một số trường hợp trẻ luôn thấy chướng bụng hoặc đầy hơi. Đặc biệt một số trường hợp u nang quá to gây chèn ép các cơ quan xung quanh ổ bụng thì có thể xuất hiện 1 số triệu chứng tưởng chứng như không liên quan đến bệnh  như tiểu rắt, tiểu khó ( nếu chèn ép bọng đái), tiêu bón (chèn ép trực tràng), phù 2 chi dưới (chèn ép hệ tĩnh mạch)… Nhưng đa số các trường hợp chỉ phát hiện được khối u nang buồng trứng một cách tình cờ khi đi siêu âm bụng kiểm tra vì một lí do nào đó như đau bụng, căng tức bụng chẳng hạn.

Các biến chứng của u nang buồng trứng lớn nếu không can thiệp?

Tùy theo kích thước của u mà các biến chứng có thể xảy ra sớm hay muộn.

-Xoắn u nang: nhất là đối với các u nang lớn mà có cuống.

-Vỡ u nang: do u quá lớn kèm xuất huyết bên trong u

– Chèn ép các tạng xung quanh: khi u phát triển quá lớn và phát hiện quá muộn.

Khi nào cần đi khám bệnh ngay?

Ở trẻ gái đã biết hoặc chưa biết có u nang buồng trứng chưa nhưng nếu trẻ có các triệu chứng sau thì nên đưa trẻ đi khám ngay:

– Đau bụng dữ dội liên tục hoặc đau co thắt vùng bụng dưới, kèm theo sốt và nôn, đôi khi có thể choáng vì đau.

-Bụng to bất thường, sờ thấy có 1 khối ở vùng bụng kèm đau.

Điều trị u nang buồng trứng như thế nào?

Tùy thuộc vào kích thước u và các triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ sẽ quyết định cách thức điều trị cho từng trường hợp cụ thể hoặc là theo dõi, hoặc là phẫu thuật cấp cứu hoặc lên lịch mổ chương trình.

Mổ mở hay nội soi tốt hơn trong u nang buồng trứng?

Trường hợp phải phẫu thuật thì hiện nay phẫu thuật nội soi đang có ưu thế hơn mổ mở vì ít xâm lấn, dễ dàng quan sát toàn bộ ổ bụng và buồng trứng bên kia, ít gây tổn thương cho mô buồng trứng hơn khi bóc tách và đặc biệt thẫm mỹ.

U nang buồng trứng thường lành hay ác?

Đối với các u nang cơ năng phần lớn là lành tính. Mẫu mô của u nang sau phẫu thuật sẽ được gửi thử giải phẫu bệnh lý để có kết quả chính xác là lành hay ác tính.

Đăng bởi: BS Trương Anh Mậu, khoa ngoại
Theo benhviennhi.org.vn

U nang buồng trứng đe dọa tính mạng bệnh nhân

U nang buồng trứng là tên thường gọi để chỉ một khối phát triển bất thường trên buồng trứng. U nang buồng trứng có thể phát triển từ các mô của buồng trứng hay từ mô của các cơ quan khác trong cơ thể. U nang buồng trứng tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau với nhiều biến chứng khác nhau, trong đó xoắn u nang buồng trứng là dạng biến chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng người bệnh, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là phụ nữ lứa tuổi 30 trở lên.

u_nang_buong_trung_de_doa_tinh_mang_benh_nhan

Để phát hiện sớm u nang buồng trứng

Khi chưa có biến chứng, khối u nang buồng trứng thường có các triệu chứng rất mơ hồ, đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Các triệu chứng có thể gặp:

– Sờ thấy khối u trên bụng.

– Đau bụng.

– Rối loạn kinh nguyệt.

– Rối loạn đi tiêu hay đi tiểu.

Các triệu chứng này có thể là triệu chứng của một bệnh lý khác như bệnh phụ khoa (viêm nhiễm, u xơ tử cung) hoặc khối u của một bệnh lý khác ở vùng bụng. U nang buồng trứng có thể dẫn tới biến chứng xoắn u với các triệu chứng như đau quặn bụng cấp tính, đau thành từng cơn, diễn biến ngày càng dồn dập và gia tăng về cường độ, thường kèm nôn mửa, nhiều khi trầm trọng dẫn đến mất nước và các chất điện giải hoặc dẫn tới suy thận. Khám phụ khoa định kỳ có thể giúp phát hiện được khối u buồng trứng, kết hợp với siêu âm bụng sẽ cho biết thêm tính chất khối u. Ngoài ra, có thể làm thêm một số xét nghiệm máu để giúp định hướng tính chất lành hay ác của khối u như xét nghiệm máu đo lượng chất Alpha Feto Protein (CA 125).

Các diễn biến tự nhiên có thể xảy ra

– Khối u không gia tăng thêm kích thước: thường hiếm gặp.

– Khối u biến mất: thường xảy ra đối với những khối u cơ năng sau theo dõi từ 2-3 tháng.

– Khối u ngày càng to ra: bụng ngày càng to, có thể kèm thêm các biến chứng do chèn ép như đau bụng dưới, bí tiểu, rối loạn tiêu hóa, trướng bụng…

Điều trị u nang buồng trứng

Điều trị u nang buồng trứng phụ thuộc vào kích thước của khối u, có thể uống thuốc, chích nang, mổ nội soi hay mổ mở. Trong trường hợp khối u nang quá lớn, xâm lấn toàn bộ cả hai bên buồng trứng phải phẫu thuật cắt bỏ cả hai bên. Nếu là khối u cơ năng thì nên chờ vài tháng để có chẩn đoán rõ ràng trong khi một khối u thực thể (do bệnh lý) thì cần được xử trí sớm nhằm xác định rõ tính chất lành hay ác, cũng như tránh các biến chứng có thể xảy ra. Một khối u nếu để quá to sẽ gây khó khăn cho phẫu thuật, gây mất nhiều máu và có nhiều nguy cơ tổn thương đến các cơ quan lân cận.

Phương pháp điều trị chủ yếu đối với u nang buồng trứng là phẫu thuật. Có thể phẫu thuật qua nội soi ổ bụng hay mổ bụng hở tùy theo kích thước và tính chất của khối u. Thuốc chỉ được dùng trong một vài trường hợp đặc biệt hoặc trong thời gian chờ đợi làm phẫu thuật đối với các trường hợp đã có chỉ định mổ.

Các dạng u nang buồng trứng thường gặp

Nang lạc tuyến buồng trứng

 Xoắn cuống nang là một biến chứng thường gặp của xoắn u nang, hay xảy ra ở u có cuống dài, đường kính khoảng 8 – 10cm. Vì khối u nhỏ lại có cuống dài nên dễ di động và bị xoắn. Xoắn hay vỡ là tình trạng cấp cứu cần phải được phẫu thuật ngay. Dễ xoắn nhất là u nang bì, nếu được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời, tiên lượng sẽ tốt. Nếu muộn, khối u hoại tử vỡ, bệnh nhân có nguy cơ tử vong. Ngoài ra, không có hiện tượng một khối u nang buồng trứng để lâu ngày sẽ trở thành ung thư buồng trứng mà chỉ có tình trạng ung thư buồng trứng không được chẩn đoán và xử trí sớm để khối ung thư ngày càng phát triển trầm trọng thêm.

Hay gọi đúng hơn là lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng. Nội mạc tử cung là lớp màng trong của tử cung, gồm 2 phần, phần nền hầu như không thay đổi và phần tăng trưởng là phần sẽ thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, trong quá trình mang thai và khi sinh nở. Thông thường, theo chu kỳ kinh nguyệt, phần tăng trưởng này sẽ phát triển ngày càng dày lên, tích tụ nhiều chất dinh dưỡng nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để trứng thụ tinh sẽ đến làm tổ khi có thai. Gần hết chu kỳ kinh, do thay đổi nội tiết tố sinh dục nữ, lớp tăng trưởng này sẽ bong ra và tạo ra hiện tượng hành kinh, sau đó phần này lại tiếp tục tăng trưởng vào chu kỳ kinh sau và cứ thế duy trì suốt giai đoạn tuổi sinh sản. Trong bệnh lý lạc nội mạc tử cung, nội mạc tử cung sẽ hiện diện ở nhiều nơi khác ngoài lòng tử cung như trong ổ bụng, tại vòi trứng, tại buồng trứng hoặc bám trên thành ruột… Mặc dù nằm lạc chỗ nhưng các phần nội mạc này vẫn bị ảnh hưởng bởi nội tiết tố sinh dục nên vẫn phát triển dày lên, cương tụ rồi bong ra và gây xuất tiết vào ngày hành kinh. Tuy nhiên, dịch xuất tiết và xuất huyết từ đám nội mạc này sẽ không được tống ra ngoài như máu kinh mà bị tích tụ lại tại chỗ và ngày càng nhiều lên. Khối lạc chỗ sẽ ngày càng to ra và tạo thành các khối nang chứa dịch, máu và nội mạc tử cung. Nguyên nhân của bệnh cho tới nay vẫn còn chưa rõ ràng, được giải thích là do nội mạc tử cung khi sinh ra đã có mặt ở các vị trí bất thường, hoặc do hiện tượng nội mạc bong ra khi hành kinh đã đi ngược dòng từ lòng tử cung trở ngược ra vòi trứng và có mặt tại các nơi khác trong ổ bụng.

Triệu chứng của tình trạng này là xuất hiện cơn đau bụng kinh ngày càng gia tăng kèm một khối u vùng bụng ngày càng to ra. Điều trị thuốc được ưu tiên chỉ định khi khối u còn nhỏ hoặc trước và sau khi phẫu thuật nhằm tiêu diệt triệt để các khối lạc chỗ. Tuy nhiên, bệnh rất thường hay tái phát.

U bì buồng trứng

Đa số là u lành. Tổ chức u là tổ chức phát triển từ mô thượng bì trong thời phôi thai. Khi phẫu thuật sẽ thấy bên trong khối u có chất bã đậu vàng, nhiều lông tóc, xương, răng…

Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng cũng được xếp vào trong các dạng đặc biệt của u nang vì tính chất ung thư chỉ biết được sau khi phẫu thuật, còn trước đó, khi thăm khám vẫn chẩn đoán là u nang. Ung thư buồng trứng có thể phát triển trên mọi độ tuổi và thường được phát hiện muộn do triệu chứng của khối u buồng trứng thường rất mơ hồ. Hơn nữa, vị trí của buồng trứng tiếp xúc nhiều với ổ bụng, do đó thường có di căn xa từ rất sớm. Điều trị ung thư buồng trứng gồm phẫu thuật và hóa trị bổ sung sau đó. Tùy theo mức độ bệnh, có khi đòi hỏi phẫu thuật lấy hết cả 2 buồng trứng và cả tử cung, dù tuổi đời bệnh nhân còn rất trẻ.

U nang buồng trứng là một bệnh hay gặp của phụ nữ. Có thể đây chỉ là khối u cơ năng do hoạt động nội tiết của cơ thể hoặc cũng có thể là khối ung thư cần được phát hiện sớm và xử trí kịp thời nhằm bảo toàn mạng sống và duy trì chức năng cho người phụ nữ.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ TS. Trần Văn Việt

U nang buồng trứng ảnh hưởng đến khả năng có con

U nang buồng trứng là bệnh phổ biến gặp ở các chị em. Giai đoạn dễ bị mắc bệnh nhất là khi chị em ở trong độ tuổi sinh đẻ. Nếu không được phát hiện sớm, u nang có thể biến chứng thành ung thư buồng trứng, ảnh hưởng đến khả năng có con, thậm chí nguy hại đến tính mạng của phụ nữ.

Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng các bác sĩ phụ khoa đưa ra 5 nguyên nhân cơ bản dẫn tới căn bệnh này đó là: do người phụ nữ đã từng bị sẩy thai, do có kinh sớm hơn bình thường, do nội tiết bị phá huỷ, do chức năng của tuyến giáp bị giảm và có thể các nang trứng đã chín vì lý do gì đó bị “tiêu hủy”.

Một số dấu hiệu của u nang buồng trứng: Đau đớn là dấu hiệu lớn đầu tiên của u nang buồng trứng. Tiếp đó, bệnh còn có các biểu hiện như chu kỳ kinh nguyệt bất thường, âm đạo bị đau và có nổi nốt đốm. Một dấu hiệu khác có thể là một cảm giác áp lực hoặc đầy bụng, đặc biệt gần khu vực xương chậu, cảm giác đó rất có thể là do u nang gây ra.

u_nang_buong_trung_anh_huong_den_kha_nang_co_con

Những dấu hiệu khác nhau của u nang buồng trứng cũng khá phổ biến, không phức tạp, và có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với một số bệnh khác. Tuy nhiên, khi những triệu chứng này xuất hiện cùng nhau, thì rất có thể chị em đã bị u nang và nên đi khám bác sĩ để xác định rõ ràng.

U nang có thể biến chứng thành ung thư buồng trứng, ảnh hưởng đến khả năng có con

Các dạng u nang buồng trứng thường gặp là u nang cơ năng, nang bọc noãn, u nang buồng trứng, nang hoàng tuyến, u nang thực thể, u nang nước buồng trứng, u nang nhày buồng trứng, u nang bì buồng trứng hay lạc nội mạc tử cung dạng u nang…

Khi các dạng u nang kể trên không được phát hiện điều trị, có thể gây biến chứng thành các dạng xoắn u nang, vỡ nang. Khi bị u xoắn bệnh nhân đau bụng dữ dội, kéo dài, có triệu chứng buồn nôn, choáng vì đau.

Khi khối u phát triển lớn, gây chèn ép các tạng xung quanh cũng gây đau, gây phù nề, u vỡ có thể dẫn đến các triệu chứng ung thư.

Có rất nhiều cách để chữa u nang buồng trứng. Đối với u nang buồng trứng lành tính, thường là sau phẫu thuật bệnh sẽ dứt điểm, cách phẫu thuật này không làm triệt sản. Đối với phụ nữ lớn tuổi (đã có đủ con, hay sau tuổi mãn kinh) bác sĩ sẽ áp dụng khuynh hướng cắt bỏ khối u lẫn tử cung và phần phụ còn lại.

Còn với nhóm u nang buồng trứng ác tính, bác sĩ có thể phẫu thuật cắt bỏ trọn khối u, đồng thời làm xét nghiệm tìm tế bào ung thư di căn được áp dụng cho phụ nữ trẻ, hoặc chưa có đủ số con. Đối với phụ nữ lớn tuổi (đã có đủ con), ngoài việc cắt bỏ khối u, còn cắt cả tử cung và cả phần phụ của bên còn lại.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Theo Người đưa tin

U nang buồng trứng, chớ xem thường!

U nang buồng trứng (UNBT) chiếm tỷ lệ khoảng 80% các khối u buồng trứng nói chung, là loại khối u rất hay gặp ở phụ nữ, đặc biệt phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, đại đa số là u lành tính, chỉ có một tỷ lệ nhỏ có biến chứng ung thư hóa. Khi phát hiện UNBT nên được điều trị sớm để tránh trường hợp bỏ sót ung thư buồng trứng – một trong những nguy cơ gây tử vong cao cho phụ nữ.

u_nang_buong_trung_cho_xem_thuong

Các dạng UNBT thường gặp

U nang cơ năng: Là những khối u phát sinh do rối loạn hoạt động nội tiết của buồng trứng, về mặt giải phẫu bệnh tổ chức buồng trứng không có thay đổi.

Nang bọc noãn: nang trứng chín không vỡ, không rụng trứng. Nang này tiếp tục lớn lên, có thể to trên 10cm, tiếp tục chế tiết oestrogen làm bệnh nhân chậm kinh. Khi nang vỡ đôi khi có thể gây chảy máu nhiều trong ổ bụng cần phải mổ cấp cứu.

Nang hoàng tuyến: Hay gặp ở những bệnh nhân chửa trứng, ung thư nguyên bào nuôi, đa thai, bệnh nhân điều trị vô sinh.

U nang thực thể: Ở những khối u này thực sự có biến đổi về tổ chức học buồng trứng, vì vậy đây là những khối u có nguy cơ ung thư hóa:

U nang nước buồng trứng: là dạng hay gặp nhất, chiếm khoảng 40% các khối UNBT. Nếu trên bề mặt u có các mạch máu tăng sinh hình lược, hay có các nhú trên bề mặt hoặc trong lòng u là những dấu hiệu nghi ngờ ung thư hóa.

U nang nhày buồng trứng: chiếm khoảng 20% các khối u buồng trứng, u thường to, có thể đến vài chục kg, thường hay dính vào các tổ chức xung quanh.

U nang bì buồng trứng: chiếm khoảng 25%, thường gặp u quái, tổ chức u rất đặc biệt, thành khối u có cấu trúc tương tự như da, có lớp sừng, tuyến bã.., bên trong nang thường chứa tóc, răng, bã đậu…

Lạc nội mạc tử cung dạng u nang: Tổ chức nội mạc tử cung phát triển ngay trên bề mặt buồng trứng, gây phá hủy tổ chức buồng trứng lành. Nang thường nhỏ, vỏ mỏng, dính vào các tổ chức xung quanh, bên trong chứa đầy dịch màu chocolate. U thường gây đau, dính nhiều làm tắc vòi trứng gây vô sinh.

u_nang_buong_trung_cho_xem_thuong02

Các biến chứng của UNBT

Các biến chứng này có thể xuất hiện sớm hay muộn tùy thuộc từng bệnh nhân, nhiều trường hợp biến chứng là cơ hội chẩn đoán bệnh:

Xoắn u nang: Có thể xảy ra với bất kỳ loại u nào, những u nhỏ, có cuống dài, không dính là những u dễ bị xoắn. Khi u xoắn bệnh nhân đau bụng dữ dội, liên tục, có thể buồn nôn, nôn, đôi khi có thể choáng vì đau. Bụng trướng, ấn đau hạ vị và hai hố chậu, có phản ứng thành bụng. Thăm âm đạo thấy khối u rất căng, ít di động, ấn đau chói.

Vỡ nang: Bệnh nhân thường đau bụng đột ngột, liên tục, hạ vị và hai hố chậu ấn đau, có phản ứng. Một số trường hợp vỡ nang gây chảy máu trong, bệnh nhân có thể choáng mất máu. Thăm âm đạo thấy khối u khó xác định, di động tử cung đau, cùng đồ sau đầy, đau. Thường xảy ra sau khi vỡ nang, bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, bụng trướng, có thể có cảm ứng phúc mạc, thăm âm đạo thấy u dính, ít di động, ấn đau.

Chèn ép các tạng xung quanh: Biến chứng này thường muộn, khi u đã phát triển lâu, kích thước lớn. U chèn ép bàng quang gây đái rắt, chèn ép trực tràng gây táo bón, đôi khi chèn ép niệu quản gây ứ nước bể thận, thậm chí có những khối u buồng trứng rất lớn chèn ép tĩnh mạch chủ dưới gây tuần hoàn bàng hệ, phù hai chi dưới, cổ trướng. Ung thư hóa có thể xuất hiện ở nang nước.

Các biểu hiện bệnh ít đặc hiệu

Khi chưa có biến chứng, khối UNBT thường có các triệu chứng rất mơ hồ, đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Một số bệnh nhân có thể chậm kinh, rối loạn kinh nguyệt, một số khác có cảm giác tức nặng ở vùng bụng dưới, nhưng các triệu chứng đều mơ hồ và không đặc hiệu. Trong đa số các trường hợp, thăm âm đạo sẽ thấy một khối u biệt lập với tử cung, thường căng, ấn không đau, di động. Khối u có thể dính trong một số ít trường hợp như u nang nhày, u nang dạng lạc nội mạc tử cung, u nang có biến chứng ung thư hóa.. Kích thước khối u to nhỏ tùy trường hợp, nói chung thường dưới  10cm.

Phát hiện sớm u nang buồng trứng

Siêu âm tiểu khung là phương pháp khá đơn giản, độ chính xác cao, có thể cho phép xác định loại u nang và phát hiện các yếu tố nghi ngờ ác tính. Chụp cắt lớp, cộng hưởng từ thường chỉ áp dụng trong những trường hợp khó, u quá to, để chẩn đoán phân biệt với các khối u khác của tiểu khung như u trực tràng, u mạc treo… Khám phụ khoa định kì có thể giúp phát hiện được khối u buồng trứng, kết hợp với siêu âm bụng sẽ cho biết thêm tính chất khối u. Ngoài ra, có thể làm thêm một số xét nghiệm máu để giúp định hướng tính chất lành hay ác của khối u như xét nghiệm máu đo lượng chất Alpha Feto Protein.

Phẫu thuật u nang khi nào?

Cần phân biệt u nang cơ năng và u nang thực thể vì 2 loại u này có cách xử trí rất khác nhau. Các u nang cơ năng thường không cần điều trị, tự mất đi sau vài vòng kinh. Cũng có thể cho bệnh nhân  dùng thuốc tránh thai kết hợp để điều trị u nang cơ năng, tuy nhiên hiệu quả chưa rõ ràng. Đôi khi các u nang cơ năng cũng có biến chứng như xoắn nang, vỡ nang chảy máu… đòi hỏi phải phẫu thuật cấp cứu, nhưng thường hiếm gặp. Ngược lại các u nang thực thể khi được phát hiện cần mổ càng sớm càng tốt để tránh biến chứng. Tùy theo kích thước và tính chất khối u cũng như nguyện vọng sinh đẻ của bệnh nhân mà chọn phương pháp phẫu thuật triệt để cắt bỏ toàn bộ khối u và buồng trứng bên bệnh hay chỉ bóc tách khối u để lại phần buồng trứng lành, mặc dù bóc tách khối u có thể làm tăng nguy cơ tái phát UNBT.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Lê Hoàng

Tìm hiểu bệnh Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Thống kê cho thấy, ở Việt Nam, tử vong do ung thư buồng trứng đứng hàng thứ ba sau ung thư cổ tử cung và ung thư vú. Nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ có kết quả tốt nhưng hiện nay hầu hết các bệnh nhân nhập viện điều trị đều đã ở giai đoạn muộn do các biểu hiện của ung thư buồng trứng thường diễn biến âm thầm, không rõ ràng.

Buồng trứng là một trong các cơ quan sinh dục của người phụ nữ có chức năng phóng noãn và tiết ra các chất nội tiết (estrogen, progesteron) từ lúc dậy thì cho đến tuổi mãn kinh. Phụ nữ có 2 buồng trứng, mỗi cái ở mỗi bên của tử cung. Ung thư buồng trứng là khi tế bào buồng trứng phát triển một cách bất thường, tạo ra những khối u ác tính ở một hoặc 2 bên buồng trứng.

Nguyên nhân gây ung thư thư buồng trứng đến nay vẫn chưa được xác định rõ nhưng có thể xác định những yếu tố nguy cơ như: Sự thay đổi về gen di truyền, tiền sử gia đình có người bị ung thư buồng trứng (những người đã có mẹ, chị em gái hoặc con gái từng mắc thì có đến 5% nguy cơ mắc bệnh này), độ tuổi ( thường gặp nhất ở phụ nữ sau mãn kinh và tăng lên khi tuổi càng cao), phụ nữ mất khả năng sinh sản, u nang buồng trứng ( nang hình thành sau khi mãn kinh có nhiều khả năng trở thành ung thư),…

07

Diễn biến âm thầm

Ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm thường diễn biến âm thầm, không có dấu hiệu đặc biệt. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ có ý thức quan tâm đến sức khỏe của mình sẽ phát hiện ra những dấu hiệu có thể đã mắc ung thư buồng trứng như: Rối loạn kinh nguyệt, đau hoặc nặng ở vùng bụng dưới, đau khi quan hệ tình dục, rối loạn tiểu (tiểu khó, són tiểu), mệt mỏi kéo dài, giảm cân, chán ăn, rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, khó tiêu, đại tiện táo hoặc tiêu chảy),…  Ở giai đoạn muộn, các dấu hiệu trên sẽ kéo dài và nặng hơn, thậm chí sờ được khối u ở vùng bụng dưới, di căn tới những bộ phận khác như tử cung, vòi trứng, màng bụng, hạch bạch huyết trong ổ bụng, các cơ quan ngoài ổ bụng,…

Điều trị như thế nào?

Khi có biểu hiện nghi ngờ các bác sĩ sẽ khám âm đạo, tử cung,… siêu âm để phát hiện khối u, làm các xét nghiệm khác như chụp Xquang, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ,… để chẩn đoán ung thư. Điều trị ung thư buồng trứng bao gồm phẫu thuật kết hợp điều trị hóa chất. Tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh sớm hay muộn bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp. Ở giai đoạn sớm khi tế bào ung thư khu trú ở buồng trứng chưa lan ra lớp vỏ của buồng trứng thì có thể sẽ phẫu thuật cắt tử cung và hai phần phụ. Ở giai đoạn muộn thì việc điều trị sẽ rất khó khăn vì tế bào ung thư đã di căn sang rất nhiều các cơ quan khác, tỷ lệ phẫu thuật thành công và thời gian sống sau phẫu thuật là rất ít. Do đó, khi thấy có những biểu hiện bất thường của cơ thể nghi ngờ ung thư thư buồng trứng như đã nêu trên cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị sớm.

Bác sĩ Thu Lan
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Dấu hiệu nhận biết u nang buồng trứng

Theo các chuyên gia, u nang buồng trứng là bao nang chứa đầy dịch hình thành trong buồng trứng của người phụ nữ.

06

Hình ảnh u nang buồng trứng.

Cơ quan Quản lý sức khỏe và con người (Mỹ) cho biết ở một số trường hợp, u nang buồng trứng rất khó phát hiện và không biểu hiện dấu hiệu cảnh báo rõ ràng. Tuy nhiên, có một số triệu chứng đáng chú ý khi bị u nang buồng trứng, bao gồm: đau hoặc tức vùng bụng, hoặc cảm giác đầy bụng; đau mơ hồ ở vùng thắt lưng và đùi; đi tiểu khó; đau khi giao hợp; tăng cân không rõ nguyên nhân; đau nhức vú, buồn nôn hoặc nôn; đau hoặc ra huyết bất thường trong chu kỳ kinh nguyệt.

Khi có một số triệu chứng trên, bệnh nhân nên khẩn trương tới cơ sở y tế để khám kiểm tra. Đặc biệt cần khám cấp cứu trong trường hợp có một trong những triệu chứng sau: đau kèm sốt và nôn; đột ngột đau bụng dữ dội; hoa mắt, chóng mặt hoặc suy kiệt; thở nhanh nông không rõ nguyên nhân.

Anh Tú (Theo HealthDay News, 4/6/2008)
Theo Sức Khỏe & Đời Sống