Tag Archives: triệu chứng

Những triệu chứng bệnh sa dạ dày

Trong cuộc sống hàng ngày do công việc bận rộn nên ít ai để ý tới triệu chứng chứng sa dạ dày. Người bệnh rất hay nhầm lẫn giữa triệu chứng sa dạ dày với bệnh về đường tiêu hóa.

Triệu chứng bệnh sa dạ dày

Tính chất của cơn đau trong bệnh này tương tự như đau kiểu đói bụng; cũng có thể xuất hiện tình trạng trướng bụng, ợ hơi, đau thắt, các triệu chứng đi kèm là buồn nôn, nôn mửa, táo bón, khó tiêu. Khi nghiêm trọng có thể gây xuất huyết, nứt hậu môn. Người bị chứng sa dạ dày thường có những biểu hiện như: đau bụng ở vùng trên với những đặc điểm đau có tính nhịp điệu, mỗi lần phát bệnh có thể kéo dài trong vài ngày hay vài tuần…

trieu-chung-benh-sa-da-day

Sa dạ dày là hiện tượng dạ dày không nằm đúng vị trí của nó. Đây là một trong những chứng bệnh sa nội tạng rất thường gặp. Bình thường, dạ dày nằm chủ yếu ở phần xương sườn thứ 11 bên trái, một phần khác nằm ở phầm bụng trên. Khi mắc chứng bệnh này, dạ dày sa dài đến mào chậu, gây khó khăn cho việc có bóp và tiêu hóa.

Nhiều bệnh nhân mắc chứng sa dạ dày do tập luyện và vận động thái quá ngay sau khi ăn no. Bác sỹ Vinh phòng khám Năm Châu cho biết: Sau khi ăn, bạn cần nghỉ ngơi, vận động nhẹ nhàng để máu dồn nhiều về dạ dày, giúp tiêu hóa thức ăn.

Nếu tập luyện quá sức hoặc mang vác nặng lúc này, lượng thức ăn chưa kịp tiêu hóa có thể bị đẩy xuống phía dưới, làm dạ dày phải căng ra. Lâu dần, tình trạng trên khiến dạ dày giãn ra và bị sa xuống.

Cơ thể suy nhược, gầy yếu cũng là một lý do gây ra bệnh sa dạ dày. Lúc này, các gân cơ ở bụng thường lỏng lẻo, có thể thiếu mỡ ở vách bụng, áp suất bụng giảm xuống gây sa dạ dày.

Sa dạ dày còn xảy ra với những người cân giảm quá nhanh chóng, phụ nữ sinh đẻ nhiều, người có bụng dài, hẹp. Bệnh nhân bị tiểu đường lâu năm cũng thường gặp biến chứng này. Sa dạ dày cũng có thể do siêu vi trùng gây ra. Khi đó, người bệnh có thể bị sốt, đau cơ, buồn nôn và tiêu chảy. Những người uống nhiều thuốc co thắt, thuốc ức chế can-xi chữa cao huyết áp cũng có nguy cơ mắc bệnh.

Sa dạ dày không chỉ xảy ra do các bệnh ở đường tiêu hóa. Một số bệnh như viêm đa cơ, lupus ban đỏ, khối u, đau nửa đầu, chóng mặt, bệnh nội tiết chuyển hóa, viêm đường mật, viêm tụy hay viêm da dày điều có thể dẫn đến bệnh này.

Người bị chứng sa dạ dày thường có biểu hiện gầy ốm, ăn uống kém, bụng đầy trướng, khó chịu. Khi ăn cơm xong, cảm giác đầy trướng càng nặng hơn, có thể kèm theo đau bụng, ợ hơi, chóng mặt, mệt mỏi và đại tiện khô.

Nếu đứng, bạn có thể nhận thấy bụng trên phẳng, bụng dưới phình to và cơ bụng giãn ra. Về lâu dài, sa dạ dày khiến sức khỏe người bệnh ngày càng suy kiệt, khả năng lao động giảm, tinh thần căng thẳng. Do vậy, bạn nên có những biện pháp để phòng bệnh như tránh làm việc nặng ngay sau khi ăn, ăn uống điều độ và tập luyện vừa sức.

Cách khác phục dị ứng ở mắt

Dị ứng mắt thường xảy ra trên người có cơ địa dị ứng kèm theo các loại bệnh dị ứng khác của cơ thể. Khi bị dị ứng, mắt của bạn trở nên nhạy cảm quá mức với một số chất, mặc dù có thể những chất đó không phải là tác nhân độc hại. Lúc đó mắt trở nên ngứa đỏ, sợ sáng hoặc có cảm giác có vật lạ ở trong… Đây là triệu chứng thường gặp ở nhiều người, bệnh không chỉ gây khó chịu mà còn ảnh hưởng đến thị lực sau này của người bệnh.

Những năm gần đây sự ô nhiễm môi trường, mất cân bằng dinh dưỡng, tình trạng dùng thuốc, hóa chất, mỹ phẩm bừa bãi… đã khiến các ca dị ứng mắt ngày càng tăng. Kết mạc (dân gian gọi là lòng trắng) có hệ mạch phong phú, là cửa ngõ của mắt, tập trung nhiều tế bào có khả năng miễn dịch cao nên hay bị dị ứng nhất. Tháng 4, 5, 6 là những tháng đỉnh điểm của bệnh bởi lẽ các dị nguyên như phấn hoa, bụi cỏ, nấm mốc sẽ đạt đậm độ cao nhất trong môi trường. Bên cạnh đó là nhiệt độ và độ ẩm dao động mạnh khiến bệnh càng có cơ hội tái phát.

cach-khac-phuc-di-ung-o-mat

Các tổn thương dị ứng mắt thường gặp
Viêm kết mạc dị ứng: Là bệnh thường gặp nhất. Các triệu chứng chủ yếu là ngứa mắt, chảy nước mắt, tăng tiết dử mắt với các đặc điểm: màu trong, dai dính, lỏng như nước cháo, đôi khi đặc quánh; nặng hơn thì phù nề, co quắp mi, sợ ánh sáng. Các thể bệnh đặc biệt trong nhóm này đã được y văn nhắc tới nhiều như viêm kết mạc có nhú khổng lồ ở người mang kính tiếp xúc. Tại mi cũng có thể có các biểu hiện viêm nhiễm song hành.

Viêm giác mạc: Do là một tổ chức vô mạch, được nuôi dưỡng nhờ ôxy và thẩm thấu nên các biểu hiện dị ứng có vẻ âm thầm và hiếm gặp hơn. Các viêm nhiễm của giác mạc thường do dị ứng với những yếu tố nội sinh như: viêm giác mạc kẽ do dị ứng độc tố vi khuẩn lao – xoắn khuẩn giang mai, viêm giác mạc dạng nốt do dị ứng liên cầu, viêm giác mạc sau nhiễm virut herpes, thủy đậu, zona… Hiếm gặp hơn là viêm nhiễm tại củng mạc và thượng củng mạc, trong đó viêm thượng củng mạc dạng nốt cũng được nhiều người cho là do dị ứng.

Viêm bên trong nhãn cầu: Tuy khó có dị nguyên nào lọt vào được nhưng chúng ta vẫn có thể gặp các bệnh lý dị ứng. Điển hình là trong một số bệnh cảnh, chất nhân của thể thủy tinh đã lọt ra ngoài bao của nó và lần đầu tiên tiếp xúc với môi trường bên trong nhãn cầu. Chất nhân thể thủy tinh với bản chất là một dị nguyên nội sinh có thể gây ra những bệnh cảnh nặng nề cho mắt như: viêm màng bồ đào dị ứng chất nhân, glôcôm do thể thủy tinh.

Các viêm nhiễm tại mắt có thể là một phần hoặc đi kèm với các bệnh dị ứng của các hệ cơ quan khác như dị ứng phấn hoa, viêm mũi xoang dị ứng, dị ứng thức ăn, dị ứng thuốc, hen, chàm…

Xử trí thế nào?
Khi bị dị ứng mắt, việc đầu tiên cần làm là rửa mắt bằng nước lạnh, nước muối sinh lý hoặc nước mắt nhân tạo. Chườm lạnh cũng là phương pháp hữu hiệu để giảm phù mi, giảm ngứa và kích thích do làm co mạch và ổn định màng tế bào có chức năng miễn dịch. Bệnh nhân cần tránh day, dụi, xoa, ấn tại mắt. Bác sĩ nhãn khoa có thể cho dùng các thuốc nhỏ mắt thuộc nhóm co mạch, kháng histamin… Các thuốc này sẽ đẩy lui và giúp giảm nhanh các khó chịu tại mắt. Tuy nhiên, cần lưu ý tuân thủ nghiêm ngặt thời gian dùng và liều lượng thuốc, bởi việc dùng tùy tiện hay lạm dụng các thuốc này có thể gây một số biến chứng như bệnh khô mắt, viêm do bội nhiễm nấm – herpes – vi khuẩn. Thuốc kháng histamin đường uống, vitamin C cũng có khi được khuyên dùng tùy theo bệnh cảnh. Các sản phẩm có corticoid không nên dùng liên tục hay kéo dài, thêm nữa phải luôn thận trọng với các biến chứng như: glôcôm, đục thể thuỷ tinh

Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc, người bệnh cần phát hiện dị nguyên gây dị ứng để tránh tiếp xúc. Kính đeo các dạng tuy không ngăn cản triệt để được dị nguyên xâm nhập vào mắt, nhưng cũng giúp giảm đáng kể nguy cơ bị dị ứng và làm dịu các khó chịu tại mắt do dị ứng. Hãn hữu cũng gặp một số người bị dị ứng với chính gọng kính mà mình đang dùng, biểu hiện là đỏ da, mẩn ngứa, nổi mụn nước trên da mặt, da mi trùng với diện tiếp xúc của gọng kính và da.

Khi thấy khó chịu tại mắt, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa, không tự tiện mua thuốc nhỏ. Khi bác sĩ kê đơn thuốc, cần báo cho bác sĩ biết về tiền sử dị ứng của bạn. Ngay cả khi các bác sĩ đã cân nhắc kỹ trước khi kê đơn thì khả năng dị ứng thuốc tra hoặc nhỏ mắt vẫn có thể xảy ra. Trong trường hợp này, nên đem đơn và thuốc đã dùng đến cơ sở chuyên khoa mắt gần nhất để được chẩn đoán điều trị.

Lời khuyên của thầy thuốc
Không dụi mắt khi mắt bị ngứa hoặc bất cứ khó chịu nào vì điều này chỉ làm vùng da quanh mắt bị tổn thương và sớm để lại vết nhăn. Thay vào đó, bạn có thể dùng thuốc nhỏ mắt có tính kháng dị ứng, sát khuẩn hoặc có thành phần tương đương với nước mắt. Không nên tự mua các loại thuốc có cortisone để nhỏ mắt vì có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho mắt. Sau khi đã dùng các loại thuốc trên mà triệu chứng không giảm thì phải đi khám bác sĩ chuyên khoa. Ngoài ra còn có các loại viêm kết mạc do dị ứng khác như viêm kết mạc mùa xuân, dị ứng mắt do bệnh ngoài da… có khi rất nặng, chỉ có bác sĩ mới quyết định phương pháp và thời gian điều trị.

Theo sức khỏe đời sống

Sự nguy hiểm của viêm đường tiết niệu

Viêm bàng quang là hay gặp và thường không nghiêm trọng nếu được điều trị nhanh. Nhưng nếu nhiễm trùng lan lên thận, nó có thể gây bệnh nặng hơn.

1. Triệu chứng

Triệu chứng của viêm bàng quang

Phần lớn viêm đường tiết niệu là viêm bàng quang. Các triệu chứng của viêm bàng quang gồm:

– Đau và rát khi đi tiểu

– Tiểu gấp

– Đau bụng dưới

– Nước tiểu đục hoặc mùi hôi

– Một số người có thể không có triệu chứng

Triệu chứng của viêm thận

Viêm bàng quang không được điều trị có thể lan lên thận. Các dấu hiệu của viêm thận bao gồm:

– Đau một bên thắt lưng

– Sốt và rét run

– Buồn nôn và nôn

su-nguy-hiem-cua-viem-duong-tiet-nieu

2. Khi nào cần đi khám bệnh

Hãy đi khám bệnh nếu bạn có các dấu hiệu của viêm đường tiết niệu. Viêm bàng quang thường không phải là cấp cứu nội khoa, nhưng một số người có nguy cơ cao bị biến chứng. Những đối tượng này bao gồm phụ nữ có thai, người già, nam giới, người mắc bệnh tiểu đường, rối loạn thận, hoặc suy giảm hệ miễn dịch.

3. Chẩn đoán phân biệt

Mặc dù bỏng rát khi đi tiểu là một dấu hiệu cảnh báo của viêm đường tiết niệu, nhưng nó cũng có thể là triệu chứng của một số bệnh lây truyền qua đường tình dục (như nhiễm Chlamydia, bệnh lậu, và nhiễm Trichomonas). Các xét nghiệm đơn giản có thể phân biệt được viêm đường tiết niệu và bệnh lây truyền qua đường tình dục.

4. Biến chứng

Mối nguy hiểm chính liên quan với viêm đường tiết niệu không được điều trị là nhiễm trùng có thể lan từ bàng quang lên một hoặc hai thận. Khi vi khuẩn tấn công thận, chúng có thể gây tổn thương thận và làm giảm vĩnh viễn chức năng thận. Ở những người bị bệnh thận, điều này có thể làm tăng nguy cơ suy thận. Tuy hiếm gặp nhưng nhiễm trùng cũng có thể đi vào dòng máu và lan tới các tạng khác.

5. Yếu tố nguy cơ

Viêm đường tiết niệu hay gặp nhất ở phụ nữ có quan hệ tình dục. Các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ của bạn, bao gồm:

– Không uống đủ nước

– Tắm quá nhiều

– Nhịn tiểu

– Sỏi thận

6. Điều trị

Thường thì kháng sinh kê đơn sẽ chữa khỏi viêm đường tiết niệu. Các chuyên gia y tế có thể khuyên bạn uống nhiều nước và đi tiểu thường xuyên để tống khứ vi khuẩn. Viêm thận cũng có thể được điều trị bằng kháng sinh đường uống. Trường hợp viêm thận nặng có thể cần phải nằm viện để dùng một liệu trình kháng sinh đường tĩnh mạch.

Điều trị viêm đường tiết niệu tái phát

Một số phụ nữ bị viêm đường tiết niệu tái diễn nhiều lần. Nếu bạn bị từ 3 lần trở lên trong 1 năm, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về cách ngăn ngừa hoặc giảm thiểu nhiễm trùng này. Những lựa chọn của bạn có thể bao gồm:

– Dùng kháng sinh liều thấp trong thời gian dài

– Dùng một liều kháng sinh sau khi quan hệ tình dục

– Dùng kháng sinh tự điều trị ngay sau khi xuất hiện triệu chứng

7. Phòng ngừa

Một số cách dưới đây có thể làm giảm nguy cơ viêm đường tiết niệu:

– Uống nhiều nước

– Vệ sinh trước và sau khi quan hệ tình dục

– Lau, rửa vùng sinh dục từ trước ra sau

– Tắm dưới vòi hoa sen thay cho bồn tắm

Nguồn giáo dục

Sự khác biệt về bệnh lậu giữa nam và nữ

Ở điều kiện sinh lý bình thường, giữa nam và nữ có sự khác biệt về giải phẫu ở đường niệu đạo nên mức độ phức tạp của bệnh lậu cũng khác nhau.

Bệnh lậu được biết từ lâu, nhưng mãi đến năm 1897 mới được Neisser tìm ra, có tên khoa học là Neisseria Gonorrhoeae. Đây là bệnh cần được điều trị càng sớm càng tốt.

Vi khuẩn lậu có hình hạt cà phê xếp thành từng cặp nên còn gọi là song cầu, có chiều dài 1,6µm, rộng 0,8µm. Trên kính hiển vi, vi khuẩn bắt màu gram âm.

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Lậu cầu rất yếu khi ra ngoài cơ thể, và chết nhanh ở nhiệt độ thường; ngược lại sống rất mãnh liệt ở môi trường ẩm của cơ thể, cho nên giao hợp vẫn là cách lây bệnh chủ yếu. Tuy nhiên, lậu cầu cũng có thể lây qua vật dụng dùng chung.

Ở điều kiện sinh lý bình thường, giữa nam và nữ có sự khác biệt về giải phẫu ở đường niệu đạo. Niệu đạo của nữ giới tương đối ngắn so với nam giới, khoảng 3cm, vì vậy bệnh lậu ít rầm rộ hơn, có nhiều tuyến quanh niệu đạo là nơi ẩn náu của vi khuẩn như tuyến Skène, tuyến Bartholine ở 1/3 trước của môi lớn và môi bé.

Niệu đạo của nam giới chia làm 2 phần gồm niệu đạo trước và niệu đạo sau, được ngăn cách bởi cơ thắt niệu đạo, có chiều dài từ 14 – 16cm; niệu đạo trước có nhiều hang, là nơi trú ẩn của lậu cầu; niệu đạo sau càng phức tạp hơn cũng có nhiều ngóc ngách, xuyên qua tuyến tiền liệt, thông với túi tinh, ống dẫn tinh, mào tinh và tinh hoàn. Ngoài ra, còn có tuyến Morgagni và tuyến Littr cũng thuận lợi cho lậu cầu sinh sôi và phát triển.

Sau khi lậu cầu xâm nhập vào cơ thể thông qua niệu đạo, vi khuẩn có khuynh hướng ưa thích tế bào mô bì trụ ở niêm mạc đường tiết niệu, đưa đến phản ứng viêm tại chỗ, kéo theo bạch cầu đa nhân đến để thực bào, từ đó trở thành tổ chức hoại tử trong quá trình viêm, được thoát ra ngoài theo nước tiểu, màu trắng hơi vàng gọi là tiểu ra mủ, lậu cầu tiếp tục phát triển và đi dọc theo chiều dài của niệu đạo, đi đến đâu gây viêm đến đó.

Về triệu chứng, bệnh lậu ở nam và nữ có khác nhau, do niệu đạo của nam giới dài, giai đoạn cấp tính lậu ở nam giới có tính chất rầm rộ, còn ở nữ thì âm thầm dễ bỏ qua, vì thế là nguồn lây nhiễm rất đáng quan tâm. Thời gian ủ bệnh trung bình 3-5 ngày, nhưng có thể kéo dài 2-3 tuần.

Thời gian ủ bệnh càng ngắn thì bệnh càng nặng, triệu chứng thường âm thầm, không rõ. Theo thống kê, có khoảng 97% số ca bệnh không có triệu chứng, chỉ có 3% còn lại mới có triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, khó chịu, nếu không điều trị bệnh sẽ đi vào giai đoạn mãn tính không có biểu hiện gì đặc biệt, mà thường chỉ có huyết trắng, hoặc có những biểu hiện của biến chứng như viêm tuyến Bartholin, tuyến Skene, viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung, viêm bàng quang, viêm vùng chậu, viêm trực tràng. Viêm ống dẫn trứng có thể dày dính, gây thai ngoài tử cung, hoặc tắc tai vòi gây vô sinh.

Về điều trị, lậu cầu cứ 15 phút phân chia một lần do đó lan nhanh.Vì vậy, cần điều trị càng sớm càng tốt, điều trị đúng thuốc – đủ liều; điều trị cả với người tiếp xúc sinh lý. Thuốc hiện nay được chọn ưu tiên là spectinomycine với tên biệt dược là Trobicin hay Kirin, 4g – tiêm bắp một liều duy nhất; trường hợp bệnh mãn tính, tiêm liên tiếp 2 ngày, với nữ giới thì dùng liều gấp đôi nam giới.

Nếu không tiện tiêm thuốc có thể chọn giải pháp uống nhưng thường tỉ lệ thành công sẽ thấp hơn, thuốc thường dùng azithromycin (Zithromax) 250mg x 4 viên uống liều duy nhất. Nếu điều trị đúng thuốc, đủ liều thì triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu nhiều lần sẽ giảm nhanh sau 24 – 48 giờ, riêng tiểu ra mủ sẽ hết chậm hơn sau 48 – 72 giờ. Các triệu chứng chung sẽ biến mất hoàn toàn sau 5 – 7 ngày.

Về phòng bệnh, cho đến hôm nay, dùng bao cao su được xem như là phương tiện duy nhất để phòng bệnh lậu, tuy nhiên đó chưa phải là phương pháp đảm bảo tuyệt đối.

Nguồn giáo dục

Các giai đoạn của bệnh ho gà

1. Định nghĩa:
Ho gà là một bệnh nhiễm trùng cấp tính ở đường hô hấp do vi khuẩn Bordetella pertussis. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh là cơn ho đặc biệt.
2. Dịch tễ học:
Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở những nước đang phát triển. Hàng năm có khoảng 50 – 60 triệu ca mắc bệnh, trong đó khoảng 600.000 đến 1 triệu trường hợp tử vong. Tuy nhiên trong 2 thập niên vừa qua chương trình tiêm chủng mở rộng phát triển nên tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể. Trong những năm 1989, 1990, 1993 dịch ho gà xảy ra ở nhiều bang tại Mỹ với hơn 4.500 ca được báo cáo. Trong khi đó tại Trung tâm bệnh nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh cho thấy năm 1994 có 13 ca và năm 1996 có 1 ca.

cac-giai-doan-cua-benh-ho-ga1
Tại Bệnh viện trung ương Huế:
Từ năm 1980 – 1985 có 1410 ca, tỷ lệ tử vong 8,7%. Từ năm 1989 – 1993 có 246 trường hợp mắc bệnh, tỷ lệ tử vong 16,4%. Năm 2000: 104 ca, năm 2001: 70 ca, năm 2002: 62 ca và không có ca nào tử vong.
Dịch ho gà xảy ra theo chu kỳ 3 – 5 năm, không theo mùa rõ rệt. Bệnh lây trực tiếp qua đường hô hấp giữa người với người. Cường độ lây mạnh nhất trong giai đoạn viêm long và giảm dần từ tuần thứ 3 sau khi bắt đầu có giai đoạn ho cơn. Người là vật chủ duy nhất mang mầm bệnh.
Bệnh thường lây do tiếp xúc lâu, chẳng hạn như trong gia đình (70 – 100%), tại trường học (25 – 50%). Không có tình trạng mang mầm bệnh mạn tính.
Miễn dịch từ mẹ truyền sang cho con rất yếu, nên trẻ sơ sinh nếu gặp phải nguồn lây thì có thể mắc bệnh ngay trong những tuần lễ đầu. Trong khi đó miễn dịch chủ động tuy kéo dài nhưng có thể giảm dần theo thời gian. Do đó việc tiêm nhắc lại là điều rất cần thiết để hạn chế nguồn lây bệnh.
Đối tượng mắc bệnh:
– Trẻ nhũ nhi 50%.
– Trẻ nhỏ và trẻ lớn 15%.
Yếu tố tiên lượng nặng:
– Trẻ dưới 6 tháng tuổi.
– Ăn uống kém, nôn nhiều.
– Cơn ngưng thở kéo dài và tím tồn tại giữa 2 cơn ho.
– Co giật nhiều lần.
– Bạch cầu máu ngoại vi > 50.000/mm3.
3. Sinh bệnh học:

cac-giai-doan-cua-benh-ho-ga
– Người ta cho rằng vi khuẩn xâm nhập vào đường hô hấp trên, rồi khu trú và phát triển ở lông mao biểu mô trụ của đường thanh quản, khí quản. Vi khuẩn không xâm nhập màng niêm mạc cũng như không tràn qua đường tuần hoàn. Vi khuẩn gắn vào màng bằng hệ thống lông với những sợi ngưng kết hồng cầu (FHA: Filamentous hemagglutinin) và ở đó vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố hoặc độc tố ho gà (PT: Pertussis toxin). Ngày nay người ta biết rằng độc tố này chỉ do B. Pertussis tiết ra, đây là một loại protein độc lực chính đóng vai trò gây bệnh.
– Độc tố tế bào ở khí quản, adenylate cyclase và pertusis toxin (độc tố ho gà) xuất hiện đóng vai trò ức chế sự thanh thải vi khuẩn. Độc tố tế bào khí quản, yếu tố hoại tử biểu bì và adenylate cyclase là những chất chịu trách nhiệm gây tổn thương tại chỗ ở biểu mô, vì vậy gây nên triệu chứng bệnh lý ở đường hô hấp. Trong thời kỳ nung bệnh từ 5 đến 21 ngày, vi khuẩn tấn công vào bề mặt tế bào và người ta nhận thấy vào khoảng 140 vi khuẩn cũng đủ để gây bệnh ho gà. Đảo Langerhans của tụy được hoạt hóa làm tăng sản Insulin gây giảm đường huyết. Tổn thương não đôi khi cũng gặp trong ho gà nặng có thể liên quan đến tình trạng hạ đường máu hoặc thiếu oxy trong giai đoạn ho cơn.
– Ho kéo dài trong ho gà là do biểu mô phế quản bị viêm, hoại tử, các chất tiết trong lòng phế quản bị tích tụ lại và do ảnh hưởng của yếu tố gây độc LPS (Lipopolysaccharide), yếu tố gây độc tế bào khí quản TCT (tracheal cytotoxin) làm đình trệ thải các chất độc. Hơn nữa, sự sản xuất tế bào lympho bị thay đổi và do ảnh hưởng đến thực bào của adenylate cyclase nên chức năng miễn dịch bị suy giảm.
4. Lâm sàng:
– Thời kỳ ủ bệnh khoảng từ 7 – 14 ngày. Giai đoạn này bệnh nhi thường hoàn toàn yên lặng, khó xác định vì không biết một cách chính xác trẻ bị nhiễm bệnh. Diễn tiến của ho gà trải qua 3 giai đoạn:
4.1. Giai đoạn xuất tiết: Kéo dài 1 đến 2 tuần, các triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp trên thể hiện không rõ ràng, chỉ có ho là dấu hiệu gợi ý, phần nhiều ho về đêm.
4.2. Giai đoạn kịch phát: Dấu hiệu chính trong giai đoạn này là các cơn ho. Cơn ho xuất hiện một cách tự nhiên hay do một kích thích nhỏ. Cơn ho kéo dài rũ rượi không sao kiềm chế được và thể hiện 3 đặc điểm: ho, thở rít và khạc đàm hoặc nôn mửa. Tiếp theo cơn ho dữ dội là bệnh nhi vã mồ hôi, tĩnh mạch cổ và da đầu nổi rõ. Đặc biệt ở trẻ quá nhỏ và trẻ sơ sinh có những cơn ngưng thở ngắn thay thế cho hiện tượng rít khi hít vào.
Giữa các cơn ho, thông thường trẻ cảm thấy dễ chịu và có thể sinh hoạt bình thường. Ngoài ra trong giai đoạn này còn thấy một số dấu hiệu như: chảy máu cam, xuất huyết kết mạc mắt hay bầm tím quanh mi mắt dưới.
4.3. Giai đoạn hồi phục: Kéo dài trong vòng 1 – 2 tuần. Cơn ho ngắn lại, số cơn giảm. Ho còn có thể tồn tại trong vài tháng. Nếu bị nhiễm khuẩn gian phát chẳng hạn như cảm lạnh làm cho trẻ trở lại những cơn ho kịch phát đến mức có thể nhầm với một đợt tấn công mới của bệnh mà Lesage gọi là Tic ho gà .
5. Cận lâm sàng:
5.1. X quang phổi: Có thể có các hình ảnh sau:
– Hình mờ từ rốn phổi tỏa xuống tận cơ hoành cả 2 bên.
– Hình mờ tam giác, đỉnh ở rốn phổi đáy ở cơ hoành, thường thấy ở đáy phổi phải.
– Hình mạng lưới thấy cả phế trường nhưng thường đậm ở đáy và cạnh rốn phổi.
– Phản ứng màng phổi làm mờ góc sườn hoành, thường chỉ một bên.
5.2. Biến đổi huyết học: Chủ yếu là dòng bạch cầu trong giai đoạn xuất tiết và trong thời kỳ kịch phát. Số lượng bạch cầu tăng từ 20.000 đến 50.000 tế bào/mm3 ở máu ngoại vi, có khi lên tới 80.000 – 100.000/mm3. Tăng đặc biệt là bạch cầu lympho.
6. Biến chứng:
6.1. Biến chứng ở đường hô hấp:
– Viêm phổi: là biến chứng thường gặp nhất, chiếm 20%, thường xảy ra vào tuần thứ 2, thứ 3 của giai đoạn ho cơn. Tác nhân có thể do chính bản thân B. pertussis nhưng thường gặp nhất là do vi khuẩn thứ phát xâm nhập vào.
– Xẹp phổi: chiếm tỷ lệ 5%. Nguyên nhân do các nút nhầy làm bít tắc các phế quản nhỏ.
– Trong giai đoạn kịch phát, do cơn ho quá dữ dội dễ làm vỡ các phế nang gây ra tình trạng tràn khí mô kẽ hoặc tràn khí dưới da.
6.2. Biến chứng thần kinh:
– Co giật thường gặp ở trẻ nhỏ hoặc trẻ sơ sinh.
– Liệt nửa người, liệt chi và mất ngôn ngữ là do xuất huyết hoặc xung huyết não.
– Tetanie xuất hiện khi trẻ nôn mửa nhiều.
– Bệnh não cấp còn gọi là chứng kinh giật ho gà.
6.3. Biến chứng cơ học:
Loét hãm lưỡi, vỡ cơ hoành, thoát vị rốn, bẹn, sa trực tràng, tụ máu dưới kết mạc, bầm tím dưới mí mắt, và nguy hiểm nhất là chảy máu nội sọ.
7. Chẩn đoán:
– Có nguồn lây rõ ràng. Lâm sàng chứng kiến cơn ho điển hình của ho gà.
– Bạch cầu tăng cao trong máu ngoại vi và dòng lympho chiếm ưu thế.
– Cấy tìm trực khuẩn ho gà từ dịch xuất tiết ở mũi họng. Tỷ lệ dương tính khoảng 30 – 60% trong giai đoạn xuất tiết hay đầu giai đoạn ho cơn.
– Làm kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) để xác định ADN của vi khuẩn ho gà lấy từ dịch mũi họng, kỹ thuật này rất nhanh và đặc hiệu hơn cấy tìm vi khuẩn.
8. Chẩn đoán gián biệt: Gián biệt cơn ho với các nguyên nhân sau:
– B. parapertussis cũng gây ho giống ho gà nhưng lâm sàng nhẹ nhàng hơn.
– B. bronchiseptica chỉ gây bệnh cho loài gặm nhấm, mèo. Người mắc bệnh do tiếp xúc với các loại súc vật ấy.
– Adenovirus 1, 2, 3, 5, 12, 19.
– Viêm khí phế quản, viêm tiểu phế quản và viêm phổi kẽ.
– Viêm phổi do Mycoplasma: thông thường loại này sốt cao, ho dữ dội, đau đầu và nghe phổi có ran. Bệnh hay gặp ở trẻ lớn.
9. Dự phòng:
– Chủng ngừa vaccin cho trẻ để tạo miễn dịch chủ động (đạt hiệu quả từ 70 – 90%).
– Phát hiện và cách ly sớm cho những trẻ nghi ngờ bị ho gà trong thời kỳ xuất tiết.
– Dùng Erythromycine để dự phòng khi có nguồn lây ở gia đình hoặc tiếp xúc ở bệnh viện, đặc biệt cho trẻ dưới 2 tuổi. Thuốc dùng trong 10 ngày.
10. Điều trị:
– Với trẻ lớn và thể nhẹ thì có thể cho điều trị ngoại trú hay ở các tuyến cơ sở. Các thuốc an thần, giảm ho, long đàm, kháng histamine không có hiệu quả mà có thể gây nguy hiểm.
– Đối với trẻ nhỏ, mẹ phải cho ăn lỏng hoặc bú nhiều lần trong ngày và từng ít một. Khi trẻ ho phải bồng ngồi dậy và nghiêng đầu về một bên. Phải hướng dẫn cho bà mẹ biết cách móc đờm giải, biết cách hô hấp nhân tạo miệng-miệng khi trẻ ngưng thở, tím tái trong bối cảnh chưa cấp cứu kịp. Phải tránh khói bếp, nhất là khói thuốc lá.
– Những trường hợp nặng và trẻ quá nhỏ thì phải đưa vào bệnh viện để theo dõi tại phòng cấp cứu đặc biệt.
Điều trị thuốc:
– Erythromycine 30 – 50 mg/kg/24 giờ chia 4 lần uống hoặc Cotrimoxazole 30 – 50 mg/kg/24 giờ. Kèm theo Prednisolone 1 – 2 mg/kg/ngày. Salbutamol 0,2 mg/kg/ngày.
– Thời gian điều trị là 14 ngày. Đối với trẻ sơ sinh thì chống chỉ định với Cotrimoxazole.

Theo sức khỏe

Nguyên nhân dẫn đến viêm cơ tự phát ở trẻ

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới đau khớp trẻ em như đau mỏi xương khớp tuổi phát triển, viêm khớp cấp tính do vi khuẩn, do lao, viêm sau chấn thương…, cho đến những bệnh khớp mạn tính do một số rối loạn miễn dịch hoặc giai đoạn đầu của bệnh bạch cầu cấp. Một trong những bệnh khớp mạn tính thường gặp ở trẻ em là bệnh viêm khớp tự phát.

Bệnh viêm khớp tự phát ở trẻ em thuộc nhóm bệnh tự miễn, là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, bệnh nhân bị bệnh trước 16 tuổi. Bệnh thường khởi phát sau khi nhiễm virut hoặc nhiễm khuẩn (Chlamydia mycoplasma, Streptococcus, Salmonella, Shigella).

Bệnh này không hiếm gặp nhưng rất ít cha mẹ hiểu biết rõ nên đa số trẻ thường được đưa đến chuyên khoa khám muộn. Một số trẻ em trước khi đến Bệnh viện Nhi đã đi khám, chữa hàng năm trời ở nhiều nơi nhưng không phát hiện bệnh dẫn tới bệnh tiến triển nặng, biến dạng khớp và nhiều biến chứng khác.

nguyen-nhan-dan-den-viem-co-tu-phat-o-tre

Các triệu chứng của viêm khớp tự phát

Sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng thuốc giảm đau thông thường. Trẻ có thể bị nổi ban đỏ ở thân mình và các gốc chi, nhưng các mẩn đỏ này mất rất nhanh. Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, trẻ có thể bị sưng đau một vài hoặc nhiều khớp như khớp cổ tay, khớp gối, khớp háng, mắt cá chân…

Điều trị viêm khớp tự phát thế nào?

Mục đích của điều trị là kiểm soát tiến triển của bệnh càng sớm càng tốt nhằm hạn chế đến mức tối đa những thương tổn gây phá hủy và biến dạng khớp, tối ưu hóa các vận động khớp nhằm đạt tới chức năng khớp bình thường cho bệnh nhân. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc…

Biện pháp không dùng thuốc (vật lý trị liệu)

Có thể dùng các biện pháp như sóng ngắn, tia hồng ngoại, tắm suối khoáng, tập các bài tập phục hồi chức năng vận động khớp… Tuy nhiên, trong thời gian đau nhiều có thể tạm thời bất động khớp nhưng cần lựa chọn tư thế sao cho giữ được biên độ vận động lớn nhất.

Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày của trẻ như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những đứa trẻ khác. Tuy nhiên, trong những đợt tiến triển nên cho trẻ nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.

Biện pháp dùng thuốc bao gồm thuốc giảm đau thông thường, thuốc chống viêm giảm đau và các thuốc điều trị cơ bản tức thuốc tác động vào hệ thống miễn dịch của cơ thể nhằm làm giảm, khống chế quá trình viêm khớp.

Do đặc thù bệnh khởi phát ở tuổi trẻ em, tổn thương nhiều vị trí, có thể có những biến chứng ảnh hưởng xấu đến việc sinh hoạt của trẻ nên việc điều trị cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa như thấp khớp học, nhi khoa, phục hồi chức năng, chuyên gia tâm lý kết hợp với sự chăm sóc của gia đình.

Lời khuyên của thầy thuốc

Bệnh khớp tự phát ở trẻ em có khả năng gây tàn phế. Vì vậy khi thấy trẻ có những biểu hiện viêm khớp trên 6 tuần, sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng thuốc giảm đau liều thông thường cần phải đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế có chuyên khoa xương khớp để được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, tránh biến chứng teo cơ thậm chí tàn phế.

Ở trẻ lớn thường là thể viêm ít khớp, chủ yếu ở một vài khớp to như khớp gối, khuỷu tay, khớp háng, nhưng cũng có thể gặp ở khớp thái dương hàm và khớp cổ. Nơi khớp sưng thấy phù nề, sờ nóng nhưng không đỏ và ít đau. Khi sụn khớp đã bị dính và xơ thì khớp trở nên cứng và hạn chế sự vận động kèm theo các cơ ở chi đó bị teo. Ngoài các triệu chứng ở khớp ra, trẻ có thể sốt cao, phát ban, hạch to, viêm thanh mạc, viêm màng phổi…

Theo sức khỏe

Những biến chứng có thể gặp do uống nhiều thuốc kháng sinh

Khi uống thuốc kháng sinh, bạn hy vọng, sẽ chữa khỏi bệnh hoặc ngăn ngừa nó, song sử dụng thuốc kháng sinh cũng gắn liền với nguy cơ nhất định.

Trong thực tế đièu trị bằng kháng sinh có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh, nhất là khi khuẩn Clostridium difficile (viết tắt: C.diff.) sắm vai thủ phạm. Mặc dù các bác sĩ tích cực tìm cách hạn chế các bệnh đường ruột gây ra bởi C. diff., song tình trạng nhiễm bệnh vẫn ngày càng nhiều, ngày càng nghiêm trọng và khó chữa trị.

Những cư dân của ruột

Cơ thể con người tràn ngập vi khuẩn. Thân thể mỗi người bao gồm khoảng 10 ngàn tỷ tế bào, trái lại số lượng vi khuẩn ký sinh trong cơ thể lên tới 100 ngàn tỷ. Đa số vô hại, thậm chí những đặc tính hắc ám cũng cư xử “có tình”, nhất là khi chúng cộng sinh với những mô đã “thích nghi” với chúng.

nhung-bien-chung-co-the-gap-do-uong-nhieu-thuoc-khang-sinh

Đường tiêu hóa là thí dụ mẫu mực của sự cộng sinh của con người với những vi sinh vật ký sinh. Trung bình ở đó định cư từ 500 đến 1.000 loài vi sinh vật khác nhau. Đa số tuyệt đối sống ở bộ phận thấp của đường tiêu hóa, trong ruột già. Thành phần chủ yếu của phân và vi sinh vật.

Cư dân đông đảo nhất của đường tiêu hóa là khuẩn E. coli, Proteus, Klebsiella, Enterococcus và Bacteroides. Tất cả đều có thể gây bệnh nguy hiểm, nếu thâm nhập vào máu hoặc tấn công mô. Tuy nhiên sống trong ruột già chúng vô hại, thậm chí còn hữu ích. Bình thường vi khuẩn ruột già tạo ra vitamin K, kích thích hệ đề kháng và giúp xác lập trạng thái cân bằng giữa các thành phần của nó và vô hiệu hóa những hợp chất hóa học độc hại. Vai trò quan trọng khác của các loài vi sinh vật thông thường là chống lại và loại bỏ những nhân tố gây bệnh tiềm tàng, trong đó có khuẩn C. diff.

Số liệu thống kế trong vai chính

C.diff là nguyên nhân chính nhiẽm bệnh tiêu chảy, song nó chỉ đóng vai phụ trong các vi khuẩn đường ruột. Chỉ có từ 1 đến 3% người trường thành khỏe mạnh có C. diff. trà trộn trong các vi khuẩn đường ruột thông thường. Thậm chí khi ấy C. diff. cũng hiện diện với số lượng không nhiều và thường vô hại.

Chuyện gì xảy ra, khiến kẻ sắm vai phụ trở thành một trong những nhân tố gây bệnh chính? Thật phi lý, bởi tất cả vì lỗi của thuốc kháng sinh. Nhiệm vụ của thuốc kháng sinh là kìm hãm hoặc tiêu diệt vi trùng. Một khi sử dụng đúng, mục đích đánh phá của kháng sinh là những vi trùng hung hãn gây bệnh. Tuy nhiên thậm chí nếu như hoàn thành nhiệm vụ, cũng không tránh khỏi tình trạng thuốc kháng sinh gây tổn hại vi khuẩn vô tội sống trong cơ thể. Một khi thiếu hụt đội quân bình thường “vô tội”, khoảng trống này sẽ được C. diff. nhanh chóng tranh thủ thay thế. – Nhất là ở những bệnh nhân phải nằm viện, trong đó nhiều người đã suy nhược và khó sống với tình trạng tiêu chảy và sốt cao.

Nhận dạng C. diff.

Các nhà khoa học đã phát hiện chân tướng C.diff. từ năm 1935, song mãi đến năm 1978 người ta mới nhận ra nó là nguyên nhân chính dẫn đến tiêu chảy liên quan đến thuốc kháng sinh. Sự gia tăng các ca mắc bệnh trong những năm 70 thế kỷ XX liên quan với việc sử dụng phổ biến thuốc kháng sinh: clindamycyn. Suốt 20 năm tiếp theo sự bành trướng của C. diff. càng được kích động bởi việc sử dụng tràn lan các thuốc kháng sinh có phạm vi tác dụng rộng thuộc gia đình penicylin và cefalosporyn, còn đầu thế kỷ này fluorochinolon là tác nhân gây ra sự xuất hiện biến thể C.diff. nguy hiểm mới.

Clostrodium difficile được xếp loại vi khuẩn yếm khí, bởi nó phát triển trong điều kiện thiếu oxy. Các bào tử (mầm bệnh) C. diff. bất động và không tích cực về mặt trao đổi chất, vậy nên không gây bệnh. Nhưng đồng thời chúng có khả năng đề kháng cao, rất khó tiêu diệt bằng các biện pháp khử trùng và thậm chí cả thuốc kháng sinh mạnh nhất.

Nạn nhân C. diff. đào thải mầm bệnh trong phân ra khỏi cơ thể. Nếu không chú ý, mầm bệnh có thể dính vào tay, dụng cụ gia đình và thực phẩm, và tiếp theo có thể thâm nhập vào người khác. Mầm bệnh hồi sinh trong đường tiêu hóa người xa lạ, tuy nhiên trong những tình huống cơ thể khỏe mạnh những vi khuẩn thông thường khác kiểm soát sự bành trướng của chúng và bệnh không phát triển. Tuy nhiên C. diff sẽ giành ưu thế – nếu vi khuẩn hữu ích bị thuốc kháng sinh tiêu diệt. Chúng sinh sôi và phát triển, sản xuất độc tố gây tổn thương niêm mạc ruột già, dẫn đến tiêu chảy, viêm ruột và thậm chí tử vong. Các chủng C.diff. thông thường sản xuất hai độc tố gây tổn thương ruột có tên là độc tố A và B; những chủng C.diff. biến thể tạo ra tới 16 lần lớn hơn độc tố A và 23 lần lớn hơn độc tố B.

Ai mắc bệnh?

Đa số nạn nhân là bệnh nhân trong các bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão – chủ yếu điều trị bằng thuốc kháng sinh. Thực tế tất cả thuốc kháng sinh đều có thể mở đường cho C. diff. phát triển, song nhiều nhất là các kháng sinh mạnh sử dụng trong điều trị bệnh đường tiêu hóa. Tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm bệnh ngoài việc sử dụng clindamycyn, còn có penicylin phổ rộng, cefalosporyn và fluorochinolon. Đối tượng đặc biệt bị đe dọa là bệnh nhân những bệnh nghiêm trọng và nằm viện dài ngày, người cao tuổi (trên 65). Bởi lẽ axit dạ dày trợ giúp vi khuẩn hữu ích tiêu diệt C.diff., những thuốc đau dạ dày mạnh thuộc gia đình ức chế nhu động của cơ quan này cũng có thể làm gia tăng khả năng nhiễm bệnh.

Triệu chứng

Người khỏe mạnh có thể là vật mang C. diff. song không hề biết. Trong một số trường hợp vì lý do biến thể C. diff. không tạo ra độc tố, trong những trường hợp khác – số lượng cá thể C. diff. chưa đủ để gây bệnh và có thể vì trong máu vật chủ có sẵn kháng thể vô hiệu hóa độc tố A và B.

Một khi C. diff đã gây rắc rối, triệu chứng xuất hiện từ nhẹ đến nặng, thậm chí có thể đe dọa tính mạng. Người ta gọi tắt chứng bệnh nguy hiểm là CDAD (viêm màng nhầy ruột già).

Nhẹ nhất CDAD tiến triển dưới dạng tiểu chảy nước, tối thiểu ba lần/ngày kèm với tình trạng đau thắt bụng dưới. Không ra máu, không sốt, bệnh nhân có số lượng bạch cầu bình thường.

Nặng hơn, nạn nhân bị tiểu chảy nhiều hơn, đau bụng và sốt. Thường xuyên buồn nôn. Cho dù mắt thường không nhìn thấy máu trong phân, song qua xét nghiệm có thể phát hiện dấu tích ruột chảy máu. Xét nghiệm máu cho kết quả số lượng bạch cầu vượt chuẩn.

Trường hợp CDAD nghiêm trọng, thân nhiệt và số lượng bạch cầu của nạn nhân rất cao, áp huyết tụt (có thể nguy hiểm), bởi tiêu chảy cấp dẫn đến tình trạng cơ thể mất nước. Tình trạng ruột mất máu có thể nguy kịch. Ở dạng bi đát nhất, CDAD gây ra biến chứng có tên nhiễm độc ruột già mở rộng, hậu quả có thể dẫn đến ruột thủng nhiều chỗ.

Kìm hãm và kiểm soát

Có thể ngăn ngừa lây nhiễm C. diff., nếu chẩn đoán nhanh CDAD. Nếu có thể, nên lập tức chuyển bệnh nhân vào phòng cách ly có toa-lét. Các bác sĩ, hộ lý và nhân viên hỗ trợ cần rửa tay, đeo găng tay và sử dụng áo choàng trước khi tiếp xúc với người bệnh. Cần cởi găng tay, áo choàng và vứt bỏ trong thiết bị an toàn thích hợp – sau khi ra khỏi phòng bệnh.

Hầu hết các cơ sở y tế sử dụng cồn để rửa tay, tuy nhiên bào tử C.diff. đề kháng với cồn. Vì thế sau khi tiếp xúc với vi trùng này, sau khi rửa tay bằng cồn nên dùng thêm xà phòng. Cho dù không giết được bào tử C. diff., song xà phòng có thể làm sạch tay.

Bởi lẽ bào tử C. diff. có thể tồn tại trên bề mặt khô nhiều tháng, để khử trùng phòng ở bệnh nhân tốt nhất nên dùng podchloryn.

Một khi CDAD tấn công gia đình, việc thường xuyên rửa tay bằng xà phòng là việc làm cần thiết cả với người bệnh và những ai tiếp xúc với họ. Những bệnh nhân tiêu chảy không nên chuẩn bị món ăn cho người khác, nếu có điều kiện – nên sử dụng dụng cụ và toa-lét riêng.

Cẩn thận với thuốc kháng sinh

C.diff. là vi trùng cũ, song dịch bệnh CDAD vẫn còn mới mẻ. Chính thuốc kháng sinh đã biến chi tiết y học thú vị thành mối đe dọa nghiêm trọng.

Kháng sinh là tân duợc kỳ diệu, song các bác sĩ nên hướng dẫn người bệnh sử dụng hợp lý. Vấn đề là chỉ sử dụng khi thật sự cần thiết, cần lựa chọn loại thuốc đơn giản nhất, phạm vi tác dụng hẹp và ngừng ngay – khi đã khỏi bệnh.

Khuê Minh
Tri Thức Trẻ

Nguyên nhân, cách phòng tránh nhồi máu cơ tim

Tránh cảm xúc mạnh gây hại cho tim

Ngày lễ, nhiều người có cảm giác căng thẳng do áp lực tài chính khi phải mua quà tặng cho “sếp” hoặc đối tác, phí tổn do một chuyến du lịch, giải trí… Vì những căng thẳng thần kinh này rất dễ gây stress nguy hại đến thần kinh tim. Trái lại, đối với một số người, ngày nghỉ là thời gian cô đơn và buồn bã cũng dễ gây ức chế dẫn đến nhồi máu cơ tim. Các nghiên cứu cho thấy: trầm cảm, cô đơn, đau buồn cũng có thể ảnh hưởng xấu đến trái tim làm thiếu máu cơ tim.

Ngày nghỉ lễ, bạn nên tổ chức sum họp gia đình cùng các bữa cơm thân mật, với thức ăn lành mạnh như cơm, canh rau thịt cá tươi, một số món ăn nhẹ như chè, các loại bánh tự nấu và trái cây chín… vẫn là nếp sống khoa học vừa khỏe về thể chất vừa vui vẻ về tinh thần cho người thân trong gia đình.

nguyen-nhan-cach-phong-tranh-nhoi-mau-co-tim

Các yếu tố dễ gây nhồi máu cơ tim trong ngày lễ

Nghiên cứu tại Đại học California và Đại học Y Tufts cho thấy, có hơn 5% trường hợp tử vong liên quan đến tim mạch xảy ra trong những ngày lễ, ngày Giáng sinh và  ngày đón năm mới.

Nguyên nhân có thể là: trong ngày nghỉ con người thường làm những việc ảnh hưởng xấu đến sức khỏe như uống rượu, bia nhiều; ăn nhiều muối; bỏ tập thể dục; nếu đi du lịch trong ngày lễ thì thường bỏ lỡ những liều thuốc và không được chăm sóc đầy đủ.

Theo khảo sát của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ: có khoảng 40% phụ nữ và 31% nam giới cho biết họ cảm thấy căng thẳng hơn trong những ngày lễ Tết. Ở Việt nam tuy chưa có các công trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng theo thống kê ở các bệnh viện thì tỷ lệ người vào cấp cứu vì bệnh tim mạch cũng gia tăng trong những ngày lễ.

Các triệu chứng của nhồi máu cơ tim

Thường gặp các triệu chứng: áp lực, một cảm giác no hoặc đau ép ở giữa ngực kéo dài một vài phút. Đau ngực lan ra đến vai, cánh tay, lưng hoặc thậm chí đến răng và xương hàm, đau kéo dài ở vùng bụng trên. Khó thở. Vã mồ hôi. Bệnh nhân có cảm giác sắp chết. Bất tỉnh. Buồn nôn và nôn mửa. Ở phụ nữ có thể thấy đau bụng hoặc ợ nóng, khó tiêu; da dính; hoa mắt hoặc chóng mặt; mệt mỏi không rõ nguyên nhân; khó thở dù không phải gắng sức.

Trong khi đó ở nam giới biểu hiện của nhồi máu cơ tim thường có triệu chứng đau ngực nhiều hơn phụ nữ. Khi thấy một hay nhiều triệu chứng nói trên, bệnh nhân hoặc người nhà phải khẩn trương đưa bệnh nhân đến bệnh viện để khám và điều trị.

Làm gì để phòng ngừa nhồi máu cơ tim?

Hạn chế uống rượu, bia: Trong những ngày nghỉ lễ, chúng ta hay tổ chức những bữa tiệc thân mật cùng gia đình, bạn bè, trong đó thường mời nhau uống rượu bia. Nhưng rượu bia lại là vấn đề nguy hiểm vì rất dễ gây nhồi máu cơ tim.

Rượu, bia kích thích cơ tim, làm tăng huyết áp và nhịp tim. Nếu chỉ uống rượu vừa phải có thể tốt cho sức khỏe trong một số trường hợp, nên chúng ta cũng không cần phải kiêng cữ hoàn toàn. Chỉ có điều nên chú ý: không bao giờ uống các loại rượu pha 2 hay nhiều loại trở lên vì rất dễ say do gan không khử độc được nhiều hơn 2 loại rượu bia. Trái lại, nếu bạn uống quá nhiều quá say thì điều nguy hiểm rất dễ ập đến là tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim do tăng huyết áp đột ngột gây vỡ mạch máu não và tim đập quá nhanh thiếu máu cơ tim gây nhồi máu.

Bạn cũng cần tránh hút thuốc và uống nước chè hay cà phê đặc vì sẽ gây kích thích căng thẳng thần kinh, mất ngủ rất dễ làm bạn mệt mỏi, suy nhược và ảnh hưởng lớn đến tim mạch.

Tránh các loại thức ăn có nhiều chất béo

Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi ăn nhiều chất béo có thể dẫn đến rối loạn chức năng trong lòng động mạch từ 6-12 giờ sau khi ăn. Rối loạn dẫn đến co thắt tim. Nếu đã bị xơ vữa mạch máu thì có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim rất nguy hiểm. Vì vậy bạn không nên ăn các món chiên rán, các món nấu đông, da gà vịt, thịt mỡ lợn, trâu bò… Bên cạnh đó, bạn cũng không nên ăn mặn, ăn ít các loại thức ăn chứa nhiều muối như dưa, cà muối chua, mắm tôm, mắm tép…

Theo giáo dục

Phòng và phát hiện ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp ở Việt Nam, theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội đứng hàng thứ hai trong các bệnh ung thư. Ung thư dạ dày gặp ở người lớn và mọi lứa tuổi nhưng hiếm khi gặp ở người dưới 50 tuổi, ở nam nhiều hơn ở nữ.

Triệu chứng mơ hồ

phong-va-phat-hien-ung-thu-da-day1

Ung thư dạ dày nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời trước khi lây lan sang các bộ phận khác thì cơ hội điều trị thành công sẽ cao hơn.

Tuy nhiên, các triệu chứng của ung thư dạ dày thường là mơ hồ và không đặc hiệu. Hay gặp nhất là chứng khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ, chướng bụng, ợ hơi, buồn nôn, chán ăn. Những triệu chứng này dễ bị bỏ qua nhưng bạn phải đi khám nếu các triệu chứng này kéo dài hơn 2 tuần. Các biểu hiện khác có thể là: nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng hoặc đi ngoài phân đen.

Do đó, theo PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, Bệnh viện K, để chẩn đoán đúng bệnh, bác sĩ cần phải khám kỹ càng; bệnh nhân được chụp phim Xquang dạ dày dùng thuốc cản quang, nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, sinh thiết chẩn đoán và có thể được chụp ảnh dạ dày qua ống nội soi.

Nếu có chẩn đoán là ung thư dạ dày thì cần làm thêm một số xét nghiệm như chụp cắt lớp vi tính, siêu âm để đánh giá sự phát triển của ung thư đến các cơ quan khác.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

phong-va-phat-hien-ung-thu-da-day

Ung thư dạ dày có mối liên quan chặt chẽ với khẩu phần ăn chứa nhiều chất hun khói, chất bảo quản thực phẩm và ít hàm lượng rau, hoa quả tươi.

Các nghiên cứu được tiến hành tại Mỹ và một số nước phương Tây cho thấy có mối liên quan nhân quả giữa chế độ ăn nhiều chất béo, ít rau với ung thư đại trực tràng.

Còn theo Ban điều hành dự án phòng chống ung thư thuộc chương trình mục tiêu Quốc gia Dự án phòng chống ung thư, trong khẩu phần ăn có nhiều thực phẩm có nguồn gốc thực vật đặc biệt là rau, hoa quả có màu xanh hoặc vàng giảm được nguy cơ mắc ung thư phổi, đại – trực tràng, thực quản và dạ dày.

Ngoài ra, cần tránh xa các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng; ăn nhiều chất hun khói, chất bảo quản thực phẩm; lười vận động hoặc béo phì; cần điều trị viêm loét dạ dày triệt để cũng như  ngăn ngừa tình trạng lây nhiễm khuẩn helicobacter pylori bằng cách chế biến thức ăn an toàn (VD: chỉ mua các loại sữa đã khử khuẩn và đóng chai lọ kín); nấu thức ăn chín kỹ; ăn thức ăn vừa nấu xong; bảo quản cẩn thận thức ăn đã nấu chín; nấu kỹ lại thức ăn chưa sử dụng hết; tránh để lâu thức ăn chín và sống; rửa tay nhiều lần (trước khi ăn, nấu ăn …); dùng nước sạch.

Nguồn dân trí

Không thể chủ quan với viêm loét dạ dày

iêm loét dạ dày là một trong những bệnh khá phổ biến và ngày càng có xu hướng phát triển ở nước ta. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em. Tùy theo các vị trí của viêm và loét khác nhau mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ, loét hang vị… Bệnh tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng gây nhiều phiền toái cho người bệnh trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, viêm dạ dày, nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm.

Nguyên nhân đa dạng

Đau dạ dày có thể do rất nhiều nguyên nhân: do  nhiễm vi khuẩn HP – đây là một loại vi khuẩn gam âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng; do chế độ ăn uống vô độ không có quy luật, ăn thức ăn nóng quá, lạnh quá, cứng quá, khó tiêu, chua, cay quá, ăn không nhai kỹ, ăn vội… hoặc ăn phải một số thức ăn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc…

Ngoài ra, cũng có thể do uống rượu, chè đặc, cà phê đặc; do uống nhầm phải các chất ăn mòn: axit, kiềm, sút, một số hóa chất có chì, thuỷ ngân… có thể gây bỏng niêm mạc thực quản và dạ dày.

khong-the-chu-quan-voi-viem-loet-da-day

Một nguyên nhân nữa phải kể đến là do dùng các thuốc giảm đau, chống viêm điều trị các bệnh khớp. Những thuốc ấy có tác dụng phụ gây tổn thương niêm mạc dạ dày; những nhiễm khuẩn cấp: cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn… có thể gây viêm dạ dày. Người bị suy thận cũng rất dễ bị viêm dạ dày do ure máu tăng cao.

Yếu tố tinh thần, các trạng thái stress, cáu gắt, trầm cảm, lo nghĩ, căng thẳng… cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tổn thương dạ dày.

Triệu chứng

Đau bụng do bệnh lý ở dạ dày có trường hợp biểu hiện rõ, chẩn đoán tương đối dễ dàng, thường bệnh nhân có những triệu chứng như: Đau vùng bụng trên rốn, đau thường xuất hiện lúc đói hoặc ngay sau ăn nhưng vài trường hợp đau không liên quan gì tới bữa ăn, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội. Đau âm ỉ có khi kéo dài từ vài tháng đến vài ba năm, có khi hàng chục năm. Nhiều bệnh nhân đau có tính chất chu kỳ (một chu kỳ khoảng từ một tuần đến vài tuần trở lên) và thường xảy ra vào lúc giao mùa, đặc biệt là mùa rét.

Kèm theo đau là các biểu hiện của rối loạn tiêu hóa, bệnh nhân thường grain có cảm giác nặng bụng, khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn, nóng rát, trướng bụng, trung tiện, phân có khi nát có khi lỏng, có khi rắn như phân dê. Trong những trường hợp loét hành tá tràng lâu ngày gây co kéo làm hẹp môn vị thì ăn không tiêu, bụng ậm ạch khó chịu, nhiều khi phải móc họng nôn ra mới thấy thoải mái. Vì vậy, người bị loét dạ dày – hành tá tràng lâu năm thường gầy, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt.

Hiện nay, nội soi dạ dày có giá trị lớn trong chẩn đoán viêm, loét dạ dày – tá tràng. Ngoài việc xác định được vị trí tổn thương, tình trạng tổn thương… thì trong những trường hợp nghi ngờ bệnh ác tính có thể sinh thiết để tìm tế bào lạ. Sinh thiết còn giúp cho việc lấy bệnh phẩm để nhuộm gram, thử exam ureaza, nuôi cấy phân lập xác định vi khuẩn HP và làm kháng sinh đồ để xác định tính nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn này.

Tuy nhiên, đa số trường hợp triệu chứng mơ hồ rất khó chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng có vị trí hoặc tính chất gần giống với đau bụng do bệnh lý ở dạ dày, đặc biệt cần chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng đòi hỏi phải được bác sĩ chữa trị và can thiệp kịp thời nếu không sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng như viêm ruột thừa, tắc ruột…

Các biến chứng của viêm loét dạ dày

Hẹp môn vị: Biểu hiện đau bụng và nôn ói rất dữ dội, đặc biệt bệnh nhân ói ra thức ăn của ngày hôm trước, có mùi hôi thối.

Thủng dạ dày: Bệnh nhân đột ngột có cơn đau dữ dội như dao đâm, bụng gồng cứng như gỗ, phải được phẫu thuật kịp thời nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Xuất huyết tiêu hóa: Là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện ói ra máu và đi cầu phân máu có thể máu đỏ, hoặc phân có màu đen hôi thối.

Ung thư dạ dày: Ung thư dạ dày là một dạng ung thư rất thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa và cũng là một trong những biến chứng của các bệnh lý lành tính ở dạ dày mà không được điều trị triệt để.

Điều trị bệnh có khó?

Ăn uống hợp vệ sinh là khâu quan trọng hàng đầu. Cần có chế độ dinh dưỡng tốt, thích hợp cho người mắc bệnh về dạ dày: không nên ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng; không nên ăn quá nhiều chất béo, các chất kích thích như trà, cà phê…; không uống rượu, không hút thuốc lá; không nên ăn quá nhanh, nhai không kỹ; cần ăn đúng bữa, đúng giờ, không ăn quá khuya, bữa ăn cuối cùng trước lúc ngủ ít nhất 4 giờ, không ăn quá no hoặc nhịn đói quá lâu. Ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước và đặc biệt không được tự ý dùng thuốc, nhất là với các thuốc giảm đau, chống viêm mà không có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Kết hợp với chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, tránh làm việc quá sức, highlight kéo dài.

Ngoài ra, việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình điều trị căn bệnh này. Ngày nay, người ta khuyến cáo điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng dựa trên cơ chế tiêu diệt vi khuẩn HP, chống tăng tiết dịch vị và cần có thuốc bao phủ niêm mạc tránh tác dụng của dịch vị. Có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh dạ dày, tùy theo tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có sự lựa chọn thuốc thích hợp.

BS.Nguyễn Thị Phương Anh – skđs

Những hậu quả do bị sốt cao để lại

Nếu cơn sốt cao và quá dài, việc bỏ mặc cơ thể “tự chiến đấu” có thể dẫn đến các di chứng nặng nề.

Sốt là một trong những dấu hiệu căn bản nhất khi cơ thể bị nhiễm bệnh. Tùy cơ địa, loại bệnh, mức độ trầm trọng, độ tuổi… mà cơn sốt có thể nhẹ hay dữ dội, kéo dài hay sớm kết thúc. Tuy nhiên, những cơn sốt nguy hiểm nhất, dữ dội nhất thường tấn công trẻ em ở một số loại bệnh rất thường gặp như sốt xuất huyết, tay chân miệng, sốt siêu vi, cúm… Chúng có thể để lại hậu quả lâu dài nếu không được can thiệp kịp thời.

Di chứng não: Rất nguy hiểm

Đưa con đi tập vật lý trị liệu ở khoa nhi một bệnh viện (BV), chị N.H.A.N (32 tuổi, quê Lâm Đồng), nghẹn ngào cho biết bé L. (4 tuổi) khi sinh ra rất lanh lợi nhưng sau một cơn sốt cao hồi 12 tháng tuổi, cháu đã bị bại não, bị giảm sút cả về trí tuệ lẫn khả năng vận động. Nhà N. ở một huyện hẻo lánh, muốn đến trạm y tế phải đi bộ khá xa, nên khi con bị sốt vào giữa đêm, chị chỉ lấy khăn lau mát. Đến sáng tỉnh dậy thì bé L. đã gần như lịm đi, chị sợ quá đưa con đến cơ sở y tế nhưng đã muộn.

nhung-hau-qua-do-bi-sot-cao-de-lai

BS Đỗ Trọng Ánh, Giám đốc BV Chỉnh hình và Phục hồi chức năng TP HCM, cho biết BV này cũng từng tiếp nhận nhiều trường hợp tương tự, gặp nhiều nhất ở trẻ vùng sâu, vùng xa, ít có điều kiện được chăm sóc y tế đầy đủ.

“Một trong những di chứng ảnh hưởng đến trẻ nhiều nhất sau cơn sốt cao là di chứng về thần kinh, não bộ. Có những trẻ chỉ sau một đêm đã trở nên thiểu năng trí tuệ, tay chân vận động khó khăn do bại não. Ở trẻ em, các hệ cơ quan chưa hoàn chỉnh nên rất dễ có phản ứng sốt cao quá mức (trên 40 độ C). Điều này lại tác động rất lớn bởi chính hệ cơ quan chưa hoàn chỉnh khó có khả năng chống đỡ cơn sốt, đặc biệt là hệ thần kinh vốn dễ tổn thương. Tổn thương não tùy dạng, tùy mức độ, có thể hồi phục hoàn toàn hay một phần thông qua phục hồi chức năng nhưng cũng có thể không hồi phục, vậy nên tốt nhất là xử lý đúng cách cơn sốt cao ngay từ ban đầu” – BS Ánh cảnh báo.Biến chứng đa dạng

Theo BS Nguyễn Minh Tiến, Trưởng Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc BV Nhi Đồng 1, TP HCM, sốt là triệu chứng rất thường gặp, là phản ứng thông thường của cơ thể để chống lại các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, siêu vi… xâm nhập. Trong một số căn bệnh như sốt xuất huyết, tay chân miệng, viêm não, viêm màng não…người ta có thể sốt rất cao và khó hạ dù đã được uống thuốc và lau mát.

“Sốt trên 40 độ C, kéo dài mà không được can thiệp kịp thời có thể gây những biến chứng như co giật, mất nước, biến chứng về hô hấp và tim mạch, rối loạn đông máu, di chứng thần kinh, vận động…, thậm chí có thể tử vong nếu diễn tiến nặng gây suy đa cơ quan. Một dạng rất đáng chú ý là sốt do viêm não có thể gây rối loạn trung tâm điều nhiệt khiến trẻ tử vong hoặc để lại di chứng não dù được cứu sống” – BS Tiến nói.

Theo BS Tiến, cơn sốt từ 38 độ C trở lên (đo qua cặp nhiệt ở nách) cần được xử lý. Dễ dàng nhất là sử dụng thuốc hạ sốt (paracetamol – còn có các tên thương mại thông dụng là panadol, efferalgan, acemol…), kết hợp với lau mát ở những vùng tập trung nhiều dây thần kinh như nách, bẹn, cổ… Nếu sốt kéo dài trên 2 ngày, đã uống thuốc 2-3 lần mà không khỏi, lau mát nhiều lần không hạ… thì nên đến BV để kiểm tra. Trường hợp cơn sốt quá cao (trên 40 độ C), sốt kèm co giật, bứt rứt, da nổi bông, tay chân lạnh, nôn ói, lơ mơ… bệnh nhân cần được đưa đi cấp cứu ngay.

“Liều dùng thuốc hạ sốt paracetamol là khoảng 10-15 mg/kg/lần. Trẻ em nên được dùng những viên nhỏ, thuốc hạ sốt dạng siro… Đừng bao giờ nghĩ rằng dùng nhiều thuốc hơn thì sẽ mau hạ sốt hơn. Dùng 2 viên 1 lần không hề có tác dụng nhiều hơn 1 viên, trái lại còn hại gan. Khoảng cách giữa 2 lần uống thuốc phải từ 4-6 giờ, mỗi ngày chỉ nên dùng khoảng 60 mg thuốc/kg trọng lượng” – BS Tiến lưu ý.

Dưới 38 độ C: Chỉ cần theo dõi

BS Nguyễn Minh Tiến lưu ý nếu cơ thể sốt ít hơn 38 độ C thì không cần phải dùng thuốc hạ sốt. Đó thường là một phản ứng có lợi của cơ thể nhằm kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn, siêu vi đang tấn công. Sốt nhẹ chỉ cần theo dõi, nếu kéo dài và tăng lên vượt ngưỡng 38 độ C thì mới cần đến thuốc.

Theo NLĐ

Dấu hiệu trầm cảm của chị em phụ nữ

Những người thích những hoạt động nghiệp dư, một khi có chứng trầm cảm rất dễ bị mọi người xung quanh nhận ra. Tuy nhiên, kể cả người không có bất cứ sở thích ngoài lề nào, nếu công việc thường ngày áp lực, cuộc sống hưởng thụ hay giải trí đều không có hứng thú, không cảm nhận được niềm vui, tức là có thể khẳng định hứng thú giảm sút hoặc mất đi hoàn toàn. Đây là một triệu chứng biểu hiện của trầm cảm.

Hứng thú giảm sút, thậm chí biến mất

Những người thích những hoạt động nghiệp dư, một khi có chứng trầm cảm rất dễ bị mọi người xung quanh nhận ra. Tuy nhiên, kể cả người không có bất cứ sở thích ngoài lề nào, nếu công việc thường ngày áp lực, cuộc sống hưởng thụ hay giải trí đều không có hứng thú, không cảm nhận được niềm vui, tức là có thể khẳng định hứng thú giảm sút hoặc mất đi hoàn toàn. Đây là một triệu chứng biểu hiện của trầm cảm.
tram-cam
Cảm giác vô vọng

Người thường cảm thấy mọi thứ rất tồi tệ, tiền đồ tối tăm ảm đạm, tất cả đều không chút hi vọng hay cảm giác vô vọng luôn ùa đến. Tương phản với điều đó, người bình thường luôn có nhiều hi vọng, ví dụ như học tập tiến bộ, sự nghiệp có thành tựu, gia đình mạnh khỏe vvv. Đồng thời cũng có nhiều nguyện vọng nhỏ như tiết kiệm mua đồ thương hiệu, thưởng thức liveshow ca nhạc, đi du lịch đến vùng đất xa xôi… Tóm lại, mất đi niềm hy vọng vào tương lai là một biểu hiện của trầm cảm.

Cảm giác lẻ loi, không ai giúp đỡ

Cảm giác này thực sự đau khổ, đặc biệt họ khó biểu hiện ra và không ít người không muốn đi khám bác sỹ vì họ xác định bác sỹ không thể giúp gì được. Họ luôn cảm thấy họ không giống với những người khác, tựa hồ như đã rời bỏ khỏi trần gian rơi vào một vực sâu thâm cốc và tất cả đã không thể cứu vãn, không ai giúp đỡ được.

Những người như vậy có cuộc sống một ngày dài như một năm, luôn lẻ loi, cô đơn, luôn xa lánh với những người khác. Đây chính là một biểu hiện nổi trội của trầm cảm

Bình luận thấp bản thân

Những người cảm thấy bản thân mình trên thực tế chẳng có tài năng hay không làm tốt bất cứ việc gì kể cả việc nhỏ và đơn giản nhất. Họ luôn cho rằng mình là đồ thải, kiến thức của mình đã sụt giảm trầm trọng hay thậm chí là cảm giác tội lỗi tràn đầy, tội ác tràn ngập và chìm trong cảm giác ấy. Đây cũng là một biểu hiện tiếp theo của trầm cảm.

Mất đi linh hoạt

Họ cảm thấy toàn bộ con người của họ đã sụp đổ, nổ tung, tan ra như xác pháo. Họ xác định rõ cảm giác đó không phải là cơ thể họ không có sinh lực mà là tinh thần của họ đã mất đi động lực, làm việc gì (kể cả vệ sinh cá nhân) đều cần người khác thúc giục hoặc họ đẩy sang một bên không quan tâm, bản thân không muốn động đến cái gì.

Không ít người vật lộn, đấu tranh để hưng phấn hơn lên, nhưng đều kiên trì không nổi. Người bệnh cho rằng họ đã ở trong “một vũng bùn lầy, không ai kéo lên được”.

Cuộc sống không có ý nghĩa

Không phải phương thức cuộc sống không có ý nghĩa mà chính là họ cảm nhận cả cuộc đời nhân sinh cơ bản là vô nghĩa. Không chỉ như vậy mà còn nhận thấy sống tức là chịu tội tạo nghiệp ác, sống không bằng chết, họ thường xuyên âm ủ ý định tự sát, thậm chí thực hiện tự sát.
Bất cứ có một biểu hiện nào rõ ràng và nổi trội trong 6 biểu hiện trên, chúng ta đều nên nghĩ đến khả năng bị trầm cảm. Trầm cảm là một loại bệnh tổng hợp, đương nhiên không chỉ có một dạng triệu chứng, có thể có triệu chứng không rõ ràng. Nếu có nghi ngờ, khó xác định, chúng ta nên lập tức đi khám bác sỹ.

Theo Dân trí

Những triệu chứng của bệnh tiểu đường

Một số dấu hiệu chức năng có thể giúp dự báo tình trạng tiền tiểu đường. Chúng là những dấu hiệu đầu tiên về rối loạn chuyển hóa đường trong cơ thể bạn và nếu được chú ý phát hiện sớm, bạn có thể phòng tránh được bệnh tiểu đường thực sự trước khi nó xảy ra.

1. Cảm giác mệt mỏi hay buồn ngủ sau khi ăn

Hầu như mọi thức ăn đều có chứa một lượng glucose nhất định. Rất nhanh sau khi thức ăn vào dạ dày, số glucose này sẽ đi vào máu và phát tín hiệu cho tuyến tụy tiết ra thêm insulin – một hormone giúp đưa glucose vào tế bào. Nhưng quy trình này sẽ bị rối loạn khi lượng đường mà bạn ăn vào quá nhiều, khi đó tế bào sẽ từ chối tiếp nhận và gần như trơ với insulin, trong khi tụy vẫn tiếp tục tiết insulin. Tình trạng quá tải này gây hiệu ứng ức chế lên hệ thần kinh dẫn tới cảm giác mệt mỏi và buồn ngủ. Nếu cảm giác này xuất hiện thường xuyên sau mỗi bữa ăn, chính là dấu hiệu cho thấy đã có hiện tượng kháng insulin lặp lại.

393941nhungdauhieusomcuabenhtieuduong

Xử trí: Bạn có thể giảm sự quá tải về chuyển hóa glucose theo hai cách. Đầu tiên, tránh ăn những thực phẩm chứa quá nhiều đường đơn glucose (bánh kẹo, mứt, nước ngọt). Thay vào đó, bạn nên ăn những thực phẩm tự nhiên (như hạt ngũ cốc, rau cải, trái cây), nhằm trì hoãn sự phân hủy đường khi tiêu hóa. Cách khác là tạo ra thói quen vận động nhẹ sau bữa ăn: thay vì nằm yên một chỗ xem tivi, bạn có thể đi bộ hoặc rửa chén…

2. Cảm giác ghiền ăn vặt

Những thức ăn vặt như khoai chiên, bánh snack, sôcôla… đều rất ngon miệng và kích thích sự thèm ăn, bạn sẽ càng muốn ăn nhiều hơn. Nhưng chúng cũng chứa rất nhiều đường. Sự kết hợp giữa hai yếu tố: thói quen ăn liên tục và lượng đường cao sẽ tạo nên vòng lặp lẩn quẩn của chuỗi đáp ứng “tăng đường – tăng insulin” trong máu. Cơ thể phải liên tục trải qua những cơn “no đường” thoáng qua, rồi nhanh chóng bị “đói đường” dẫn tới thèm ăn vặt nhiều hơn nữa.

Xử trí: Bắt buộc phải bỏ thói quen ăn quà vặt, dù đây là một thử thách với các bạn. Bạn có thể vượt qua cơn ghiền bằng cách thay thế những món ăn đó với những thứ cùng kích thước và mùi vị nhưng an toàn hơn cho sức khỏe, ví dụ trái cây, đậu, cà rốt tươi…

3. Thừa cân

Sự liên hệ giữa béo phì và bệnh tiều đường là một điều xưa như trái đất, nhưng sự thật là đa số người ăn kiêng chỉ chú tâm đến lượng calorie trong bữa ăn chứ chưa hiểu được quan hệ tương tác giữa đường và mỡ. Khi tế bào không dung nạp đường nữa, cơ thể sẽ chuyển sang năng lượng từ mỡ, và tích trữ mỡ là khó tránh khỏi.

Xử trí: Khi bạn bị thừa cân, không nên quá lo lắng về việc giảm cân, thực ra bạn không cần phải làm biến mất ngay lập tức số cân nặng này. Chỉ cần giảm được 5-7% trọng lượng là có thể giảm 60% nguy cơ của bệnh tiểu đường.

4. Hình dáng cơ thể

Kiểm soát cân nặng dĩ nhiên là quan trọng, nhưng có lẽ ít người biết sự tích trữ mỡ cục bộ trên một số vùng của cơ thể có sự liên hệ nhiều hơn với tình trạng kháng insulin và tiền tiểu đường. Thật vậy, tăng lượng mỡ ở vùng eo và bụng sẽ nguy hiểm hơn là mỡ ỡ những vùng thấp hơn như đùi và chân. Những người có nhiều mỡ bụng thường có nguy cơ bị cao huyết áp, bệnh tim mạch và tiểu đường.

Xử trí: Ngoài việc ăn kiêng, nên tập thể dục 30-60 phút mỗi ngày để tránh nguy cơ tiểu đường, đặc biệt các bài tập ở bụng. Tập thể dục có lợi ích kép là làm giảm mỡ và phát triển cơ bắp, làm tăng lượng enzyme chuyển hóa glucose cho tế bào cơ.

5.Cao huyết áp

Phần lớn người có triệu chứng cao huyết áp thường chỉ lo nghĩ về vấn đề tim, mạch máu của họ, nhưng không biết rằng có sự liên hệ giữa lưu thông mạch máu và rối loạn chuyển hóa đường. Tăng inslulin và đường huyết là một yếu tố bệnh lý góp phần tạo ra tình trạng viêm trong mạch máu, làm thay đổi cấu trúc và tính đàn hồi của mạch máu tạo cản trở cho dòng máu lưu thông. Vì vậy, tăng huyết áp có thể là dấu hiệu của bệnh tiểu đường.
Xử trí: Người có triệu chứng cao huyết áp nên thay đổi chế độ ăn và thường xuyên vận động cơ thể. Cần kiểm tra đường huyết định kì và đặt ra vấn đề với bác sĩ điều trị của mình.

Theo báo sức khỏe

Những bệnh liên quan dị ứng thời tiết

Những bệnh thường gặp ở người có cơ địa quá mẫn cảm với thời tiết như: đau nhức đầu, viêm mũi dị ứng, bệnh mề đay, á sừng… thường chỉ điều trị được về triệu chứng, hầu như không thể điều trị dứt điểm. Tuy nhiên, có những tác động làm giảm các nguy cơ giúp tình trạng bệnh không bị nặng lên.

Viêm mũi dị ứng do thời tiết

Những thay đổi về thời tiết từ nóng sang lạnh và ngược lại; thay đổi hướng gió, gặp mưa… rất dễ gây viêm mũi dị ứng và bệnh đau đầu.

Triệu chứng điển hình của viêm mũi dị ứng là hắt hơi hàng tràng, sổ mũi, mắt đỏ và ngứa, khô họng, ngạt mũi. Nếu bị nặng có thể lên cơn khó thở, khò khè. Các biểu hiện này tồn tại trong vòng 15-20 phút, sau đó giảm dần. Số cơn xuất hiện trong ngày tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh.

dau-dau-do-di-ung

Bệnh thường xuất hiện vào mùa đông, khi thời tiết lạnh, độ ẩm cao. Còn nếu bệnh trở thành mạn tính thì chỉ cần thay đổi thời tiết là xuất hiện, bất kể mùa đông hay mùa hè.

Để phòng chống các cơn viêm mũi dị ứng, cách tốt nhất là tránh tiếp xúc với các dị nguyên. Cũng nên dự trữ sẵn các thuốc chống dị ứng phòng khi thời tiết thay đổi và uống thuốc ngay từ khi có biểu hiện nhẹ.

Đau đầu do thời tiết

Thời tiết thay đổi làm cho mạch máu não giãn ra là một nguyên nhân gây đau nhức đầu. Uống thuốc giảm đau lúc này chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng. Không nên lạm dụng thuốc giảm đau, mà chỉ nên uống thuốc khi quá đau, thấy không thể chịu đựng hơn được nữa.

Để phòng những cơn đau đầu dị ứng thời tiết, nên ăn nhiều rau xanh, rau quả có nhiều vitaminC. Cũng có thể uống các loại thuốc bổ B1, B6, B12… Tránh làm việc dưới trời nóng gắt. Về mùa đông, nên mặc ấm và giữ ấm đầu.

Bệnh về da

Nhiều người cứ đến mùa đông, ra gió lạnh hay ngồi quạt… là bị ban mề đay. Ở mức độ nhẹ, trên da xuất hiện một vài chấm nốt, chỉ trong một thời gian ngắn từ 1 đến vài tiếng rồi lại mất. Nặng hơn là các đám nhỏ, lớn với hình thù tròn, bầu dục, hình bản đồ… Có trường hợp, ban mề đay làm tổn thương niêm mạc ruột gây đi ngoài, nôn, thậm chí gây phù nề thanh phế quản làm suy thở cấp có thể gây tử vong ngay.

Dùng thuốc không có tác dụng phòng tránh ban mề đay, do vậy những người bị mề đay khi thời tiết thay đổi cần tránh lạnh, tránh gió, mặc quần áo ấm. Nên hạn chế một số chất cay; chất tanh như tôm, cua, cá, ốc, da gà; các chất kích thích như rượu bia, chè, cà phê.

Bệnh á sừng

Bệnh á sừng gặp ở nữ nhiều hơn nam và thường ở những người có cơ địa mẫn cảm với thời tiết. Thông thường, bệnh nặng về mùa đông, nhưng ở một số người, bệnh lại nặng về mùa hè.

Biểu hiện của á sừng là các vết nứt làm da hằn sâu, thậm chí nứt xuống, bong vẩy để lại một nền da đỏ, bóng. Người bị á sừng thường rất ngứa, đau.

Để phòng bệnh, cần phải hạn chế tiếp xúc với nước, kiêng xà phòng, nước rửa bát, dầu gội đầu, các chất tẩy rửa tuyệt đối.

Kiều Nga – Hồng Hải
Việt Báo (Theo_DanTri)

Đau vùng cổ tay và hội chứng De Quervain

Đau vùng cổ tay là một dấu hiệu thường gặp, do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó có tình trạng viêm của bao gân cơ dạng dài và duỗi ngắn ngón cái gọi là hội chứng De Quervain. Tình trạng này tương đối thường gặp và gây nên những biểu hiện đau của vùng cổ tay và phần dưới cẳng tay ngay phía trên ngón cái.

Thế nào là hội chứng De Quervain?

Hội chứng De Quervain ảnh hưởng đến hai gân chi phối vận động ngón cái, đó là gân cơ duỗi ngắn ngón cái và gân cơ dạng dài ngón cái. Hai gân này chi phối hai động tác rất quan trọng của ngón cái là duỗi và dạng ngón cái. Khi thực hiện động tác, hai gân này trượt đi trượt lại dọc theo bờ bên của khớp cổ tay. Ở vùng cổ tay, cả hai gân trượt trong một đường hầm nằm sát đầu dưới của xương quay. Chính vì vậy, một số trường hợp chẩn đoán nhầm với viêm mỏm trâm quay. Đường hầm này có tác dụng giữ cho gân và chuyển hướng lực thực hiện động tác.

Hai gân trượt trong đường hầm được bao bọc bởi bao hoạt dịch gân, có tác dụng làm trơn để hai gân trượt được dễ dàng. Tình trạng viêm của bao hoạt dịch gân và gân dẫn đến hạn chế vận động của gân trong đường hầm gọi là hội chứng De Quervain.

Những dấu hiệu nào cần nghĩ đến bệnh?

Khởi đầu, có thể chỉ là các biểu hiện khó chịu của ngón cái, ngay vị trí cổ tay, có thể là đau. Nếu không được điều trị, triệu chứng đau có thể lan lên cẳng tay và lan xuống ngón cái. Khi tình trạng ma sát tăng lên, hai gân này có thể cọ xát vào nhau khi di chuyển trong đường hầm dẫn đến các tiếng “lục cục”. Nếu tình trạng này tiếp tục, có thể sẽ có biểu hiện sưng nề nhẹ vùng cổ tay dọc theo đường hầm, các động tác của ngón cái sẽ bị hạn chế do đau.

dau_vung_co_tay_va_hoi_chung_de_quervain

Gân tay bình thường (trên) – Gân tay bị viêm (dưới)

Tại sao lại bị tổn thương này?

Những động tác lặp lại nhiều lần như cầm, nắm, xoay, vặn của cổ tay và ngón cái sẽ là điều kiện thuận lợi để tiến triển tổn thương này. Tình trạng viêm của bao hoạt dịch gân trong đường hầm sẽ dẫn đến sưng nề, cản trở vận động của gân. Các tình trạng tổn thương viêm khớp như thấp khớp, thoái hoá sẽ ảnh hưởng đến tình trạng viêm của bao gân và gân ngón cái. Một số yếu tố thuận lợi khác như chấn thương dẫn đến hình thành các sẹo cũng ảnh hưởng đến sự trượt của gân này.

Làm thế nào có thể cải thiện triệu chứng đau?

Điều trị nội khoa: Nếu có thể, bạn nên ngừng lại tất cả các động tác gây đau. Nên có thời gian nghỉ giữa chừng nếu bạn phải thực hiện các động tác lặp đi lặp lại của cổ tay. Tránh những động tác phải sử dụng cổ tay lặp đi lặp lại như nắm, duỗi, cầm, xoắn… Nên để cổ tay ở tư thế trung gian. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn mang nẹp để bất động cổ và bàn tay. Nẹp này cho phép bàn tay bạn nghỉ ngơi, tạo thuận lợi để cải thiện các triệu chứng viêm. Các thuốc điều trị có thể giúp kiểm soát triệu chứng viêm và các triệu chứng đau. Những thuốc này có thể là các thuốc chống viêm giảm đau thông thường như ibuprofen và aspirin.

Nếu các biện pháp này không cải thiện, bác sĩ có thể sẽ đề nghị với bạn kế hoạch điều trị tiêm corticoid tại chỗ vào đường hầm. Thuốc này có tác dụng giảm viêm tại chỗ và có thể cải thiện triệu chứng ngay lập tức.

Việc tập phục hồi chức năng là cần thiết, mục đích chính là giảm hoặc loại trừ nguyên nhân gây viêm gân. Bác sĩ phục hồi chức năng có thể kiểm tra lại công việc của bạn, cách thức bạn sử dụng cổ và bàn tay khi làm việc và gợi ý cho bạn về việc sử dụng cổ tay và bàn tay đúng và hợp lý, tránh tư thế xấu, các động tác để tập luyện và các cách để ngăn ngừa triệu chứng tái phát.

Phẫu thuật: Nếu tất cả các biện pháp trên không hiệu quả, bạn có thể cần đến can thiệp phẫu thuật. Mục tiêu của phẫu thuật là tạo ra nhiều không gian hơn cho gân hoạt động để gân không bị cọ xát vào đường hầm nữa. Phẫu thuật này có thể thực hiện dưới gây mê toàn thân hoặc tại chỗ. Bác sĩ sẽ thực hiện đường rạch mở đường hầm để  loại bỏ tất cả tổ chức xơ bên trong đường hầm và tạo ra nhiều khoảng trống để gân di chuyển.

Các biện pháp phục hồi chức năng

Nếu không cần can thiệp phẫu thuật, triệu chứng của bạn sẽ cải thiện trong vòng 4 -6 tuần. Bạn có thể phải đeo nẹp tiếp tục và hạn chế các vận động có hại đến cổ và bàn tay.

Phục hồi chức năng sau phẫu thuật đóng vai trò quan trọng. Quá trình này có thể kéo dài vài tháng. Đau và các triệu chứng toàn thân sẽ cải thiện sau phẫu thuật nhưng việc sưng nề sẽ còn kéo dài vài tháng sau mổ. Cắt chỉ sau 14 ngày, luôn giữ tay cao trong thời gian sau mổ. Cử động cổ và bàn tay thường xuyên. Sau mổ, bạn có thể tham gia phục hồi chức năng. Các bài tập chủ động thường bắt đầu sau khi cắt chỉ và là các bài tập tăng dần biên độ và sức mạnh của các cơ.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Trầm cảm sau sinh: Cần được can thiệp sớm

Đa số phụ nữ đều trải qua những thay đổi tâm lý ngay sau khi sinh. Các cảm xúc đó thường không kéo dài, chỉ vài ngày và hầu hết đều vượt qua nhẹ nhàng. Tuy nhiên cần chú ý những dấu hiệu tâm lý tiêu cực, kéo dài phải can thiệp và điều trị sớm.

Sau khi sinh, một số phụ nữ có thể chợt vui, chợt buồn, lo âu, dễ bị kích thích, khó tập trung, mất cảm giác ngon miệng hoặc khó ngủ,… Thường xảy ra ở những bà mẹ sinh con đầu lòng do trong quá trình sinh nở gặp biến cố, sau khi sinh bị áp lực về nuôi con, gia đình không có sự thống nhất về phương pháp,… chăm sóc trẻ, thiếu sự quan tâm của chồng gây căng thẳng cho sản phụ…

tram_cam_sau_sinh_can_duoc_can_thiep_som

Các triệu chứng trên thường xuất hiện khoảng vài ngày sau sinh, và có thể kéo dài trong khoảng 1 tuần thì chấm dứt. Hiện tượng này  được xem là một phản ứng bình thường của nhiều sản phụ. Tuy nhiên, nếu tình trạng đó kéo dài vài tuần với các triệu chứng ngày càng nghiêm trọng như: luôn cảm thấy buồn, thờ ơ với những sự việc chung quanh, ăn không ngon, sụt cân, khó ngủ, luôn cảm thấy mệt mỏi, thường khóc không lý do, cảm thấy bồn chồn, âu lo, dễ tức giận, bi quan về tương lai,… thì sản phụ đã bị rối loạn trầm cảm sau sinh cần có biện pháp can thiệp sớm.

Để điều trị và phòng ngừa các biểu hiện trầm cảm sau sinh, ngoài điều trị bằng phối hợp thuốc chống trầm cảm theo chỉ định của bác sĩ và tâm lý liệu pháp, trước khi sinh cả thai phụ và người chồng cần được giáo dục tiền sản để được cung cấp những kiến thức cơ bản về cách chăm sóc em bé, tình trạng sức khỏe và những nhu cầu tâm lý của người mẹ trong giai đoạn thai kỳ, hậu sản để người chồng có thể hỗ trợ vợ mình một cách tốt nhất.

Ngoài ra các thành viên trong gia đình cần chú ý tạo một bầu không khí vui vẻ, đầm ấm, cùng nhau chăm sóc em bé và quan tâm đến sức khỏe người mẹ để người mẹ cảm thấy được chia sẻ sau lần vượt cạn. Bản thân người mẹ cũng nên chủ động đề nghị những người trong gia đình chia sẻ những khó khăn, vất vả khi chăm sóc em bé để có thời gian nghỉ ngơi, hồi phục sức khỏe sau sinh.

Bác sĩ Thu Lan
Theo SKĐS

Hướng dẫn giữ sạch mũi cho bé

 Khi thời tiết thay đổi, nhất là vào mùa lạnh bé rất dễ mắc các bệnh về đường hô hấp. Một trong những triệu chứng gây khó chịu cho bé là chảy nước mũi. Với những bé nhỏ không thể tự hỉ mũi được sẽ gây tắc đường thở làm cho bé khó ngủ và bú kém.
Có nhiều cách để vệ sinh mũi cho bé như: dùng tăm bông, ống bơm hút. Nhưng khi dùng tăm bông, đầu bông quấn không chắc sẽ rơi lại gây dị vật đường thở; ống bơm hút mũi mua sẵn có thể gây trầy niêm mạc mũi của bé và không thể vệ sinh được bên trong ống bơm hút sẽ gây nhiễm khuẩn làm bệnh lâu khỏi hơn.

giu_sach_mui_be_01

Bước 1

giu_sach_mui_be_02

Bước 2

giu_sach_mui_be_03

Bước 3

giu_sach_mui_be_04

Bước 4

Để lấy gỉ, nước mũi cho bé an toàn và hiệu quả có thể dùng bấc sâu kèn, thực hiện theo các bước sau:

– Dùng khăn giấy sạch dai và mềm (có thể thay thể bằng vải xô) xếp dạng bấc sâu kèn. Một tay giữ trán, tay còn lại đưa bấc sâu kèn vào một bên mũi bé giữ cho đến khi thấm ướt giấy, thay bấc sâu kèn khác (ảnh).

Dùng khăn giấy mềm và dai xếp dạng bấc sâu kèn theo các bước 1, 2, 3, 4.

Thao tác vệ sinh mũi cho bé.

Một tay giữ trán, tay còn lại nhẹ nhàng đưa bấc sâu kèn vào một bên mũi bé. Thực hiện 2-3 lần hoặc đến khi sạch mũi.Thực hiện tương tự với bên mũi còn lại. (xem hình bước 5).

giu_sach_mui_be_05

Bước 5

Trường hợp mũi khô cần nhỏ nước muối sinh lý (NaCl 0.9%), thực hiện  các bước như trên sau khi nhỏ nước muối sinh lý.

Lưu ý: Trước khi làm sạch mũi cho bé, các mẹ phải rửa tay sạch bằng xà phòng để tránh nhiễm trùng cho con.

Đối với trẻ lớn các mẹ cần hướng dẫn trẻ tự xì mũi. Trẻ dùng ngón chỏ ấn vào cánh mũi bịt một bên mũi lại, xì thật sạch rồi lại đổi sang bên kia.

Đề phòng nghẹt mũi ở trẻ các mẹ cần giữ ấm cho trẻ khi trời lạnh, tránh cho trẻ tiếp xúc với người bị cảm, cúm, bệnh đường hô hấp. Cho trẻ ăn uống đầy đủ, đảm bảo dinh dưỡng để tăng cường sức đề kháng chống lại với các bệnh tật.

Theo suckhoevadoisong

Bệnh HIRSCHPRUNG hay bệnh phình đại tràng do vô hạch bẩm sinh

Một số bà mẹ có con nhỏ bị táo bón thường xuyên, có lên mạng tìm hiểu và nghi ngờ con mình bị một bệnh gọi là Hirschprung gây khó đi cầu; từ đó có tâm …

Một số bà mẹ có con nhỏ bị táo bón thường xuyên, có lên mạng tìm hiểu và nghi ngờ con mình bị một bệnh gọi là Hirschprung gây khó đi cầu; từ đó có tâm lý hoang mang. Vậy Hirschprung là bệnh gì, thực sự các bé đó có bị bệnh này không?

benh_hirschprung_hay_benh_phinh_dai_trang_do_vo_hach_bam_sinh

Bệnh Hirschprung hay còn gọi là phình đại tràng do vô hạch bẩm sinh được định nghĩa là sự vô hạch bẩm sinh của các đám rối thần kinh trên một đoạn ruột dẫn đến tình trạng là đoạn ruột đó không có sự dẫn truyền sóng nhu động ruột làm không tống xuất phân ra ngoài được. Có thể mô tả nôm na bệnh này như sau: toàn bộ hình ảnh của bệnh này giống như một cái phễu với bên trên là đoạn ruột lành dãn to còn đoạn ruột bệnh nằm bên dưới đoạn ruột lành có hình dáng gần như bình thường, đoạn chuyển tiếp giữa 2 đoạn ruột lành và bệnh là cổ phễu.

Bệnh này được một bác sỹ người Đan Mạch tên là Harald Hirschprung mô tả đầu tiên vào năm 1886 nên để tưởng nhớ ông, người ta lấy bệnh do ông phát hiện đặt thành tên ông. Đây là một bệnh bẩm sinh với tần suất cứ 5000 trẻ sinh ra sẽ có  một trẻ bị bệnh với ưu thế rõ rệt gặp ở trẻ nam; đôi khi phối hợp thêm các hội chứng khác như Down, bất thường hệ niệu sinh dục.

Tuỳ thuộc vào chiều dài của đoạn ruột không có hạch (loại ngắn, loại trung bình, loại dài và loại vô hạch toàn bộ ruột)mà ta có các thể loại bệnh lý và biểu hiện lâm sàng khác nhau; trong đó loại trung bình là hay gặp nhất, chiếm gần 80% trường hợp bệnh ở trẻ.

Triệu chứng đầu tiên hay gặp của bệnh thường xuất hiện trong tháng đầu tiên(chiếm 80-90% trường hợp) là rối loạn đi tiêu ở trẻ sơ sinh: bé chậm đi tiêu phân xu sau 24 giờ đầu tiên, sau đó là táo bón thừơng xuyên phải bơm đít mới đi tiêu được; bụng bé chướng và tăng dần do ứ đọng phân. Bé thường xanh xao, bứt rức, thở nhanh do bụng chướng làm cản trở hô hấp. Những bé này nếu được nhập viện và khi bác sỹ đưa một ống thông vào hậu môn bé thì sẽ thấy phân và hơi rất hôi xì ra  và bụng bé sẽ xẹp đi nhanh chóng mà từ chuyên môn gọi là dấu hiệu “tháo cống”(một trong những dấu hiệu đặc hiệu của bệnh này).

Một số trẻ thì có ít triệu chứng và biểu hiện ở tuần thứ 2 hoặc 3 một cách từ từ hoặc đột ngột; có những trường hợp bệnh biểu hiện không rõ ràng trong 6 tháng đầu (dạng vô hạch loại ngắn): bé chỉ có những đợt táo bón thường xuyên phải bơm đít mới đi cầu được, bé thường có những đợt viêm ruột , lên cân chậm hơn bé bình thường.

Đây là một bệnh khó ở trẻ em cả về chẩn đoán và điều trị. Nếu không được điều trị đúng bệnh có thể gây tử vong ở trẻ do biến chứng viêm ruột, thủng ruột, nhiễm trùng huyết.

Do dó nếu nghi ngờ bé mắc bệnh trên, cha me nên đưa bé đến phòng khám ngoại nhi của bệnh viện chuyên khoa để bác sỹ chẩn đoán và có hướng xử trí thích hợp.

Đăng bởi: BS Trương Anh Mậu, khoa Ngọai bệnh viện Nhi Đồng 2
Theo benhviennhi.org.vn

Xuất huyết giảm tiểu cầu ở trẻ nhỏ

Xuất huyết giảm tiểu cầu (XHGTC) là một trong những bệnh lý thường gặp ở trẻ em, nhất là ở lứa tuổi từ 2 – 9 tuổi. Vì thế những hiểu biết về bệnh này sẽ rất cần thiết cho các bậc cha mẹ có con nhỏ.

xuat_huyet_giam_tieu_cau_o_tre_nho

Bệnh biểu hiện như thế nào?

Bệnh thường biểu hiện bằng tình trạng xuất huyết dưới da (dạng chấm, dạng mảng bầm, có thể rải rác ở tay chân hay lan rộng toàn thân), xuất huyết niêm mạc (chảy máu mũi, máu chân răng), trường hợp nặng có thể xuất huyết nội tạng (đi tiêu ra máu) hoặc xuất huyết não tuy tỷ lệ thấp (1%) nhưng rất nguy hiểm.

Bệnh gây ra do tình trạng phá hủy tiểu cầu trong máu lưu hành, làm giảm số lượng tiểu cầu. Số lượng tiểu cầu < 150.000/mm3. (bình thường từ 150.000 – 300.000/mm3 máu) mà tiểu cầu là yếu tố quan trọng trong việc cầm máu và đông máu.

XHGTC do nguyên nhân nào gây ra?

Rất phức tạp. Các nguyên nhân xác định được như:

1/ Giảm sản xuất :

Do bẩm sinh,

Do di truyền

Hoặc do mắc phải : suy tủy, xâm lấn tủy.

Xét nghiệm tủy đồ là cách xác định chính xác nhất.

2/ Tăng hủy tiểu cầu :

Các bệnh tự miễn (ban đỏ rải rác, viêm nút động mạch, viêm đa khớp dạng thấp). Hội chứng tán huyết tăng urê huyết.

Đông máu nội mạch lan tỏa. Bướu máu, cường lách ..

3/ Phối hợp :

Do bị các bệnh nhiễm trùng nặng, Nhiễm trùng huyết, thương hàn.nhiễm ký sinh trùng (sốt rét…), nhiễm siêu vi trùng (cúm, sởi, quai bị, viêm gan siêu vi…).

Nhiễm độc.

Ngoài ra, còn phải kể đến các trường hợp giảm tiểu cầu do thuốc sinh, thuốc kháng viêm không-steroid, sau chủng ngừa.

Nhiều trường hợp giảm tiểu cầu không xác định được nguyên nhân còn gọi là xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn. Ngày nay, có nhiều bằng chứng kết luận do nguyên nhân tự miễn, nên còn gọi là giảm tiểu cầu miễn dịch (PTT).

Triệu chứng

Nhẹ: Xuất huyết dưới da dưới dạng chấm nhỏ li ti, dạng nốt như muỗi đốt hoặc thành đám, mảng lớn, khu trú ở một vài nơi hoặc rải rác khắp người; xuất huyết niêm mạc như chảy máu nướu răng, chảy máu cam, giác mạc.

Nặng: Có thể xuất huyết bất kỳ nơi nào như chảy máu đường tiêu hóa; tiết niệu, sinh dục…

Biến chứng nguy hiểm nhất là xuất huyết não – màng não.

Ở trẻ em, nguyên nhân nhiễm siêu vi là chủ yếu, do đó bệnh thường tự giới hạn trong khoảng 1 – 2 tuần, nhiều trường hợp không cần điều trị đặc hiệu.

Tuy nhiên có một số trường hợp nếu không được nhập viện điều trị, số lượng tiểu cầu trong máu giảm nặng, sẽ có nguy cơ xuất huyết ồ ạt, nguy hiểm nhất là xuất huyết não, có thể gây tử vong hoặc đưa đến những di chứng suốt đời.

Do đó, đứng trước các biểu hiện xuất huyết mô tả ở trên, phụ huynh cần sớm đưa trẻ tới cơ sở y tế, để trẻ được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Điều trị :

– Khi làm các thủ thuật chọc dò, phẫu thuật, nhổ răng phải có sự chuẩn bị kỹ.

Tại bệnh viện, tùy theo mức độ nặng của bệnh (căn cứ vào vị trí xuất huyết, số lượng tiểu cầu thực tế) để có hướng điều trị thích hợp.

– Truyền tiểu cầu chỉ là phương thức điều trị thay thế, tạm thời để cầm máu hoặc đề phòng biến chứng xuất huyết nặng, nguy hiểm có thể xảy ra.

1. Các trường hợp có căn nguyên: Ðiều trị chủ yếu theo căn nguyên.

2. Các trường hợp không có căn nguyên (PTI): Các loại corticoides là thuốc lựa chọn

Tùy theo độ nặng của bé mà dùng thuốc.

– Ở những trường hợp nhẹ hơn, thường dùng Prednison liều 1 – 2 mg/kg/ngày trong 5 – 10 ngày, sau đó giảm liều dần và ngưng hẳn. Có thể sử dụng thêm các thuốc làm bền thành mạch như Dicynone, Madécassol, vitamin C.

Ở trẻ em, đa số các XHGTC hồi phục hoàn toàn, không để lại di chứng sau thời gian điều trị, nhưng vẫn có một tỉ lệ nhỏ (10%) có thể diễn tiến sang mãn tính (kéo dài trên 6 tháng dù được điều trị). Những trường hợp này, trẻ cần được theo dõi và điều trị ở trung tâm chuyên khoa sâu, có thể phải sử dụng các biện pháp điều trị mạnh hơn như thuốc ức chế miễn dịch, cắt lách.

Một điều phụ huynh cần lưu ý ở những trẻ bị bệnh này là cần tránh tiêm bắp, cắt lể, sử dụng các thuốc làm giảm chức năng tiểu cầu như Aspirin, thuốc kháng viêm không steroid.

Đăng bởi: BS Nguyễn Văn Tân Minh – Khoa Huyết Học
Theo benhviennhi.org.vn

Khi con trẻ bị đau đầu

Hãy nhớ một chuỗi các triệu chứng để giúp bác sĩ có thể khoanh vùng tìm ra nguyên nhân

Nếu con bạn thường xuyên bị đau đầu, bạn có thể giúp bác sĩ nhi khoa chẩn đoán nguyên nhân bằng cách nhớ và kể lại các triệu chứng của đứa bé.

Tính thường xuyên và độ nghiêm trọng của đau đầu, lúc bắt đầu và khi chấm dứt, và bất kỳ những triệu chứng nào đi kèm với đau đầu.

khi_con_tre_bi_dau_dau

Khi bị đau đầu, cảm nhận cơn đau như thế nào ( đau nhói  hoặc đều đều,…) và những thay đổi trong những cơn đau đầu này.

Bất cứ chấn thương nào gần đây, những khởi phát đau đầu có thể nhận diện được, những thuốc gần đây hoặc là những vấn đề về sức khỏe.

Thói quen ăn uống và ngủ của con bạn.

Dị ứng của con bạn và bất kỳ tiền sử nào về đau đầu của gia đình.

Bất kỳ thuốc nào hoặc là bất kỳ hoạt động nào mà dường như là làm hết cơn đau đầu.

Đăng bởi: ĐD Kim Liên (Theo Healthday News)
Theo benhviennhi.org.vn

Hội chứng Guillain – Barré

Ngày 14/8/2010 khoa Thần Kinh bệnh viện Nhi Đồng 2 tiếp nhận một bé gái 10 tuổi – địa chỉ : Cà Mau. Cháu nhập viện trong bệnh cảnh liệt nhiều dây thân kinh sọ, gồm dây VII, VIII, IX, X, XI và dây XII bên trái kèm với yếu nhẹ tứ chi, sức cơ 3/5 đến 4/5, ngọn chi yếu nhiều hơn gốc chi, phản xạ gân cơ chỉ giảm nhẹ ở gối, cảm giác chủ quan rối loạn nhẹ với biểu hiện tê quanh môi.

Khai thác kỹ bệnh sử ghi nhận: Một tháng trước nhập viện cháu có sốt, sưng đau vùng cổ bên trái được nhập viện tại địa phương điều trị và can thiệp thủ thuật không rõ loại. Một tuần trước nhập viện cháu ghi nhận có tê quanh môi kèm tê tay chân thoáng qua sau đó xuất hiện triệu chứng nói khó, nói ngọng, khàn tiếng, nuốt khó, nghẹn đặc, sặc lỏng và sau đó là đi lại yếu.

hoi_chung_guillain_barré

Nhập viện cháu được chỉ định chụp MRI sọ não (ngày thứ 7 của bệnh), kết quả bình thường. sau đó được chọc dò tủy sống (ngày thứ 9 của bệnh) kết quả tế bào: 0, đạm 0,36mg/dl, và điện cơ (ngày thứ 10 của bệnh) kết quả bình thường.

Ngày thứ 11 của bệnh tình trạng có vẻ xấu hơn, lâm sàng không loại trừ viêm thân não nên được chỉ định điều trị Solumedrol liều 30mg/kg/ngày. Sau 2 ngày điều trị triệu chứng  xấu hơn với tình trạng liệt cơ hầu họng nặng hơn. Đánh giá lại lâm sàng nghĩ nhiều đến hội chứng Guillain- Barré nên ngưng Corticoide và điều trị với Immunoglobulin liều 0,4g/kg/ngày x 5 ngày. 2 ngày sau bắt đầu có biểu hiện suy hô hấp tuần hoàn, sốc do giảm trương lực mạch, Cháu được hỗ trợ hô hấp với máy thở và truyền dịch, dùng vận mach chống sốc. Sau 2 tuần cháu được cai máy thở, điều trị viêm phổi 1 tuần sau thì lâm sàng hoàn toàn cải thiện. Kết quả kiểm tra điện cơ lần 2 (ngày 30 của bệnh): Ghi nhận hình ảnh bệnh đa rễ dây thần kinh hủy myelin, không có hình ảnh block.

2 ngày sau cháu xuất viện trong tình trạng khỏe mạnh, đi lại sinh hoạt ăn uống gần như bình thường.

Chẩn đoán sau cùng: Hội chứng Guillain-Barré

BÀN LUẬN:

1/ Về chẩn đoán: Đây là biến thể ít găp của hội chứng Guillain- Barré, các triệu chứng trong bảng tiêu chuẩn chấn đoán hội chứng khá nghèo nàn cả về biểu hiện lâm sàng đến xét nghiệm. Việc chẩn đoán phải dựa vào diễn tiến bệnh và loại trừ các bệnh thần kinh khác đặc biệt là bệnh thần kinh trung ương như u não, viêm não hoặc huyết khối động mạch thân nền.

2/ Về diễn tiến: Các triệu chứng rối loạn chức năng thần kinh thực vật gồm tụt huyết áp và suy hô hấp xuất hiện vào ngày thứ 13 của bệnh là yếu tố nguy cơ tử vong của bệnh nếu không được hồi sức đúng mức và kịp thời.

3/ Về điều trị: Vai trò của Immunoglobulin đã được khẳng định ở mức độ chứng cứ I (I/MA-5RCTs-COCHRANE) và đã được kiểm chứng qua thực tế lâm sàng.

Vấn đề điều trị hỗ trợ là rất cần thiết nhất là khi có biểu hiện viêm phổi.

4/ Về xét nghiệm cận lâm sàng đặc biệt là điện cơ có thể có hình ảnh không rõ trong lần chẩn đoán điện đầu tiên nhưng lại rất rõ ràng trong lần sau.

Đăng bởi: BS.CK2. Lê Thị Khánh Vân – TK.Nội Thần Kinh
Theo benhviennhi.org.vn

Tìm hiểu viêm màng não do siêu vi

Viêm màng não do siêu vi là gì?

Viêm màng não là tình trạng viêm màng bao phủ não và tủy sống. Nhiễm siêu vi là nguyên nhân thường nhất của viêm màng não, nhiễm vi trùng là nguyên nhân thứ hai. Những cái khác, những nguyên nhân ít gặp hơn của viêm màng não là do nấm, ký sinh, và những nguyên nhân không gây viêm bao gồm những thứ có liên quan đến thuốc.

viem_mang_nao_do_sieu_vi

Có phải viêm màng náo do siêu vi là một bệnh nghiêm trọng không?

Viêm màng não do virus thì nghiêm trọng nhưng hiếm khi gây tử vong ở những người có hệ miễn dịch bình thường. Thông thường, triệu chứng kéo dài 7 đến 10 ngày và bệnh nhân khỏi hoàn toàn. Trái lại, viêm màng não do vi trùng có thể rất nghiêm trọng và có thể gây nên khuyết tât hoặc tử vong nếu không được điều trị sớm. Thường thường, triệu chứng của viêm màng não do siêu vi và viêm màng não do vi trùng thì giống nhau. Vì đặc điểm này, nếu bạn nghĩ hoặc con bạn bị viêm màng não , hãy đi khám bệnh càng sớm càng tốt.

Cái gì gây nên viêm màng não siêu vi?

Nhiễm các loại siêu vi khác nhau có thể đưa đến viêm màng não do virus. Nhưng hầu hết các trường hợp ở Hoa kỳ, đặc biệt là trong những thàng mùa hè và mùa thu, là do enterovirus gây nên ( bao gồm enterovirus, coxsakieviruses, và echoviruses). Hầu hết người bị nhiễm enterovirus hoặc có triệu chứng hoặc chỉ bị cảm lạnh, nổi mẫn, hoặc là đau họng với sốt nhẹ – vừa. Và, chỉ có 1 số nhỏ người nhiễm enterovirus bị viêm màng não.

Những nhiễm virus khác có thể đưa đến viêm màng não bao gồm quai bị, herpesvirus ( như là Epstein- Barr virus, herpex simple virus, và varicella -zoster virus- gây nên thủy đậu và zona), sởi và cúm.

Arbovirus ( virus hại cây gỗ) , muỗi và các côn trùng khác lây lan, cũng có thể gây nhiễm mà có thể đưa đến viêm màng náo siêu vi. Và, lymphocytic choriomeningi ( viêm màng não do virus lây từ chuột nhà sang ), lây lan qua gặm nhấm , thì hiếm khi gây nên viêm màng não siêu vi.

Dấu hiệu và triệu chững của viêm mang não do siêu vi là gi ?

Triệu chứng có thể xuất hiện nhanh chóng hoặc cũng có thể sau vài ngày , thường là sau khi bị cảm lạnh hoặc là chảy mũi, tiêu chảy, nôn ói, hoặc những dấu hiệu khác của lây nhiễm biểu hiện ra. Triệu chứng ở người lớn có thể khác với triệu chứng ở trẻ em:

Thường ở trẻ nhũ nhi:

– Sốt
– Bức rứt
– Ăn , bú kém
– Khó đánh thức

Thường ở trẻ lớn và người lớn:

– Sốt cao
– Đau đầu nhiều
– Cứng cổ
– Nhạy cảm với ánh sáng
– Buồn ngủ hoặc khó đánh thức
– Không muốn ăn uống

Chẩn đoán viêm màng não siêu vi như thế nào?

Viêm màng não do siêu vi thường được chẩn đoán bằng xét nghiệm dịch não tủy của bệnh nhân. Xét nghiệm có thể cho biết là bệnh nhân bị nhiễm virus hoặc là vi trùng. Nguyên nhân chính xác của viêm màng não siêu vi có thể thỉnh thoảng được tìm thấy qua các xét nghiệm mà nó chỉ ra loại virus nào đã bị nhiễm; tuy nhiên, nhận dạng chính xác loại virus gây nên viêm màng não có thể là khó.

Bởi vì triệu chứng của viêm màng não virus thì giống như của viêm màng não do vi trùng, là loại thường nặng hơn và có thể tử vong, cho nên việc xét nghiệm người theo dõi viêm màng não để có sự điều trị thích hợp và xét nghiệm dịch não tủy là quan trong. Việc nhập viện có thể cần thiết ở những trường hợp nặng hoặc là ở những người có hệ miễn dịch yếu.

Điều trị viêm màng não do virus như thế nào?

Không có điều trị đặc hiệu đối với viêm màng não siêu vi. Hầu hết bệnh nhân khỏi hoàn toàn trong vòng 2 tuần. Kháng sinh không có tác dụng với nhiễm siêu vi, vì vậy, chúng nó không có ích trong điều trị viêm màng náo siêu vi. Các bác sĩ thướng sẽ khuyến cáo bệnh nhân nghỉ ngơi tại giường, uống nước đầy đủ, và dùng thuốc để giảm đau và hạ sốt.

Nhập viện có lẽ cần thiết trong những trường hợp nặng hoặc ở những người có hệ miễn dịch suy yếu.

Virus lây lan như thế nào?

Virus khác nhau gây nên viêm màng não siêu vi thì lây lan qua những cách khác nhau. Enterovirus , nguyên nhân thường gặp của viêm màng náo siêu vi, thường lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với phân của người bị nhiễm. Virus này lây lan qua đường này chủ yếu trong số những trẻ nhỏ chưa được tập cho thói quen khi đi vệ sinh. Nó cũng có thể lây lan bằng cách này ở người lớn khi thay tả cho trẻ bị nhiễm.

Enterovirus và những virus khác ( như virus gây ra quai bị và thủy đậu) cũng có thể lây qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với dịch hô hấp ( như nước bọt, đàm hoặc là dịch mũi ) của người bị nhiễm. Điều này thường xảy ra qua việc hun hít hoặc bắt tay với người nhiễm hoặc là đụng vào vật nào đó mà đã được người nhiễm cầm, nắm và rồi sau đó chà ( sờ ) vào mũi hoặc miệng của bạn. Virus cũng có thể đọng lại trên mặt phẳng vài ngày và có thể lây lan tử các vật dụng. Virus cũng có thể lây lan trực tiếp khi người nhiễm ho hoặc hắt hơi và bắn những giọt chứa virus vào trong không khí mà chúng ta thở.

Thời gian tử khi một người bị nhiễm đến khi biểu hiện triệu chứng ( thời kỳ ủ bệnh) thường là khoảng 3- 7 ngày đối với enterovirus. Một người nhiễm thì thường lây từ lúc họ có triệu chứng cho đến khi triệu chứng biến mất. Trẻ nhỏ và người bị suy yếu miễn dịch có thể lây nhiễm thậm chí là sau khi triệu chứng đã được giải quyết.

Tôi có thể bị viêm màng não siêu vi nếu xung quanh tôi có ai đó bị không ?

Nếu bạn ở xung quanh ai đó bị viêm màng não siêu vi, bạn có thể có nguy cơ bị nhiễm virus đó. Nhưng bạn chỉ có một nguy cơ nhỏ bị viêm màng não như là biến chứng của bệnh.

Đăng bởi: ĐD Liên Kim ( theo CDC Hoa Kỳ)
Theo benhviennhi.org.vn

Cách xử trí và phòng ngừa những bệnh thường gặp ở trẻ em mùa tết – Phần cuối

Chấn thương do tai nạn giao thông: trong những ngày Tết trẻ thường được bố mẹ chở đi chúc Tết hoặc đi chơi, do mật độ giao thông dày đặc là một trong những nguyên nhân gây tai nạn. Nhiều bố mẹ chở con không chú ý để trẻ ngủ gật hay gặp phương tiện lưu thông ẩu va chạm sẽ làm các bé ngã và bị chấn thương.

Khi đó cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay khi xảy ra sự cố để trẻ được chăm sóc tốt nhất. Phòng ngừa: khi chở con đi du xuân, bố mẹ cần tuân thủ tốt luật giao thông, cho trẻ ngồi trên ghế riêng, có dây an toàn buộc ngang người đề phòng bé ngủ gật.

cach_xu_tri_va_phong_ngua_nhung_benh_thuong_gap_o_tre_em_mua_tet_phan_cuoi

Bị bỏng do điện, nước sôi: những ánh đèn nhấp nháy để trang trí trên các cây mai, đào rất dễ lôi kéo trẻ khám phá; nếu những dây điện này bị hở thì đó là một nguy cơ cao cho sự an toàn của trẻ. Bình thủy đựng nước sôi, ấm trà nóng pha sẵn đặt trên bàn chờ đón khách cũng là những nguyên nhân gây bỏng cho nhiều trẻ trong mùa Tết. Triệu chứng và hướng xử trí: nếu trẻ bị bỏng điện thì ngắt ngay nguồn điện, sau đó đưa trẻ đến bệnh viện. Nếu bị bỏng nước sôi thì cần sơ cứu ngay tại chỗ bằng cách làm giảm nhiệt độ chỗ bé bị bỏng (rửa vùng bị bỏng dưới vòi nước) rồi dùng khăn hay vải sạch để băng vùng da này lại, sau đó đưa bé đến bậnh viện để được điều trị. Phòng ngừa: luôn để mắt đến trẻ, không cho trẻ chạm vào dây điện, không để bình trà, bình thủy ở tầm mắt, tầm với của trẻ mà nên để ở nơi an toàn.

Hạ đường huyết: ngày Tết là những ngày mà các bậc phụ huynh thường cho trẻ vui chơi thoải mái với suy nghĩ “học cả năm chơi có mấy ngày không sao”. Vì vậy, có không ít trẻ mê chơi điện tử quên cả ngủ và bỏ cả bữa ăn. Một số trẻ đã ngồi chơi nhiều giờ liền mà không ăn uống gì nên dễ bị hạ đường huyết. Ngoài ra, có một số trẻ bị “bỏ đói” do bố thì nghĩ mẹ đã cho ăn còn mẹ lại nghĩ bố đã cho ăn. Việc bị “bỏ đói” cũng có thể khiến bé bị hạ đường huyết. Triệu chứng và hướng xử trí: trẻ bị hạ đường huyết thường có biểu hiện chóng mặt, vã mồ hồi, tay chây lạnh ngắt, hoặc thậm chí ngất xỉu. Cần nới lỏng quần áo, cho trẻ nằm đầu bằng (không gối), uống ngay một ly nước ấm pha đường, khi trẻ đã tỉnh thì cho trẻ ăn một chén cháo hay súp nóng. Phòng ngừa: nên duy trì lịch ăn uống hàng ngày cho trẻ một cách nghiêm túc. Có thể cho trẻ vui chơi nhiều hơn thường ngày một chút nhưng phải đảm bảo trẻ ngủ đủ giấc, nhất là giấc ngủ đêm.

Ngoài những bệnh và tai nạn nêu trên, ở trẻ em còn có thể gặp một số bệnh trong những ngày lạnh cuối năm như quai bị, thủy đậu, viêm màng não. Bệnh quai bị, thủy đậu ít khi gây ra các biến chứng nguy hiểm nhưng rất dễ lây lan cho những người trong gia đình và ít nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe và học hành của các cháu. Hiện tại đã có vắc xin phòng ngừa hai bệnh này.

Trẻ trẻ bị viêm màng não thường có các triệu chứng sốt, ói, bỏ bú, kích thích, quấy khóc, bức rức, hay nhức đầu (nếu trẻ lớn có thể nói được). Các phụ huynh cần nghi ngờ trẻ có thể bị viêm màng não khi thấy trẻ có sốt kèm bỏ bú, nôn ói liên tục, co giật, li bì, cổ cứng hoặc thóp phồng. Khi nghi ngờ cần cho trẻ đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa.

Đăng bởi: BS CKII. TRỊNH HỮU TÙNG – PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHTH
Theo benhviennhi.org.vn

Cách xử trí và phòng ngừa những bệnh thường gặp ở trẻ em mùa tết – Phần 2

Do tiết trời ẩm và không khí lạnh, trẻ em dễ bị cảm lạnh hoặc cúm, hoặc nặng sẽ dẫn đến viêm phổi, viêm phế quản, lên cơn hen suyễn… Ngày Tết, thời tiết ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung nước ta thường lạnh, thậm chí có nơi còn có mưa phùn. Các hoạt động du xuân và chúc Tết họ hàng sẽ khiến các bé phải đi lại và di chuyển thường xuyên ngoài đường do đó cơ thể sẽ rất dễ bị nhiễm sương, không tốt cho sức khỏe của trẻ em. Bên cạnh đó, mọi ăn uống sinh hoạt của trẻ còn bị thay đổi cho phù hợp với các hoạt động của gia đình. Do đó, có không ít trẻ nhập viện vì nhiễm lạnh dẫn đến viêm đường hô hấp cấp. Triệu chứng hay gặp nhất là bé hắt hơi, sổ mũi, họng bị viêm tấy đỏ… Thông thường, bệnh sẽ tự khỏi sau vài ngày ngày nếu bớt tiếp xúc với không khí lạnh. Tuy nhiên, nếu bệnh kéo dài thì cũng có nguy cơ bị bội nhiễm với vi trùng dẫn đến viêm họng, viêm phổi, viêm phế quản hay viêm xoang cần phải được các Bác sĩ điều trị bằng kháng sinh. Khi bị cảm lạnh nên giữ ấm cho trẻ, bổ sung thêm vitamin C, hạn chế đưa trẻ đến nơi đông người hoặc khu vực ô nhiễm, khói bụi, và cho trẻ đi khám ngay nếu có dấu hiệu sốt cao, khó thở, ho nhiều, khò khè. Phòng ngừa: cần chú ý giữ ấm cho trẻ khi có việc phải đi ra ngoài. Không cho trẻ ra khỏi nhà khi nhiệt độ dưới 10 độ C. Cần giữ ấm thân thể cho trẻ, nên che khẩu trang và choàng khăn cho trẻ khi đi ra ngoài, nhất là phần cổ, ngực, chân tay, không dùng chung khăn mặt với người khác, che miệng khi ho và hắt hơi.. Không cho trẻ ra đường khi quá sớm và về nhà quá trễ vì dễ bị nhiễm lạnh do sương.

cach_xu_tri_va_phong_ngua_nhung_benh_thuong_gap_o_tre_em_mua_tet_phan_2

Với những trẻ có cơ địa hen suyễn, thời tiết lạnh giá mùa Tết là điều kiện thuận lợi cho bệnh hen suyễn “hoành hành”. Để phòng ngừa căn bệnh này cho trẻ, hãy tuân thủ theo các nguyên tắc dưới đây: tránh xa khói thuốc lá, hạn chế cho trẻ đi ra ngoài khi thời tiết trở lạnh, sương, gió hay mưa, không nên ngủ chung với chó hoặc mèo, tránh cho trẻ ăn những loại thực phẩm dễ gây dị ứng như đậu phộng, hải sản, dâu tây, trứng, dùng kháng sinh không đúng cách và không phù hợp sẽ khiến cho tình trạng của bệnh sẽ ngày càng trở nên xấu hơn, tránh xa những loại thức ăn có chứa phẩm màu.

Dị vật đường hô hấp: các loại thức ăn bày biện nhiều màu sắc như mức tết, hạt dưa hấu, hạt bí, hạt đậu phộng…rất hấp dẫn trẻ, có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng tắt nghẽn đường hô hấp khi vô tình rơi vào đường hô hấp của trẻ. Dị vật đường hô hấp thường gặp ở trẻ lứa tuổi ăn dặm đến khoảng 3 tuổi, ở lứa tuổi này trẻ thường hay tò mò. Thấy người lớn cắn hạt dưa, hạt bí, hạt dẻ, hướng dương, đậu phộng… trẻ cũng tò mò bắt chước theo, thích nhét các loại đồ vật lạ vào miệng hoặc mũi. Ngoài ra, đồng tiền xu, đồ chơi có kích thước nhỏ cũng là một trong những thứ có thể khiến bé bị hóc dị vật. Do phản xạ đóng, mở thanh quản để bảo vệ đường thở chưa hoàn thiện nên trẻ rất dễ bị dị vật xâm nhập vào đường thở, gây khó thở đôi khi dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng là tử vong. Triệu chứng và hướng xử trí: dị vật đường thở cần được cấp cứu ngay vì có thể dẫn đến tử vong do ngạt hoặc viêm phổi kéo dài nếu dị vật bị bỏ sót. Thông thường, trẻ sẽ bị ho sặc sụa một cách đột ngột, khó thở, mặt tím tái, trợn mắt sau đó ngưng thở do tắc nghẽn đường thở cấp. Nếu dị vật gây tắc nghẽn đường thở hoàn toàn, tiếng thở của trẻ thường hay rít có kèm những cơn ho rũ rượi, mặt đỏ bừng. Vì vậy, cần đưa trẻ đến ngay bệnh viện để khám và gắp dị vật ra. Nếu thấy trẻ khó thở nặng, tím tái, hãy áp dụng phương pháp vỗ lưng ấn ngực để giúp trẻ không bị ngạt thở, sau đó  cho trẻ đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời. Phụ huynh nên chú ý hơn đến sinh hoạt, vui chơi của trẻ trong những ngày Tết là cách phòng ngừa dị vật đường hô hấp cho trẻ thiết thực nhất. Phòng ngừa: không cho trẻ ăn các loại hạt trên và trái cây khi chưa lấy hạt. Để những hạt này cách xa tầm nhìn, tầm với của trẻ. Nên có một dụng cụ đựng vỏ các loại hạt, tránh vứt lung tung trên sàn nhà vì trẻ cũng có thể nhặt lên bỏ vào miệng. Nếu thấy trẻ cho những thứ trên vào miệng thì nên nhẹ nhàng lấy lại, không la hét khiến trẻ hoảng sợ có thể nuốt vào gây tắc đường thở (Còn tiếp).

Đăng bởi: BS CKII. TRỊNH HỮU TÙNG – PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHTH
Theo benhviennhi.org.vn

U tinh hoàn ở bé trai

Khoa Ngoại Thân Niệu bệnh viện Nhi đồng 2 ngày 6/8/2010 đã tiến hành phẫu thuật  cùng lúc 2 trường hợp U tinh hoàn ở trẻ trai, 2 tuổi và 5 tuổi. Cả hai trường hợp này đều được bóc tách lấy trọn u và giữ lại phần tinh hoàn tốt còn lại. Tuy nhiên về tiên lượng và hướng xử trí tiếp theo còn phụ thuộc vào kết quả giải phẫu bệnh lý.

u_tinh_hoan_o_be_trai

Về triệu chứng học, khác với u tinh hoàn ở người lớn, mất cảm giác vùng tinh hoàn tổn thương  thường trẻ nhỏ không tự phát hiện được. Do đó thường triệu chứng ở trẻ nhỏ tinh hoàn to dần không đau, diễn ra âm thầm đến khi ăn lan trọn tinh hoàn hoặc di căn. Hơn nữa u tinh hoàn ở trẻ nhỏ cũng dễ lầm với các bệnh lý lành tính vùng bìu bẹn như nang thừng tinh, nước màng tinh hoàn, và những bệnh lý này thường không phẫu thuật liền, có khả năng tự hết nên nếu lầm lẫn để lại sẽ dẫn đến chẩn đoán trễ, u to hôn và di căn nơi khác. Do đó Một khối u Tinh hoàn cứng, không đau phải được xem như là ác tính cho tới khi chứng minh được là nguyên nhân khác.

Khi nghi ngờ u tinh hoàn thì siêu âm sẽ giúp cũng cố chẩn đoán hữu hiệu. . Tùy theo cấu trúc mô học của u, có thể thấy những dạng ÉCHO khác như: giảm ÉCHO so với chủ mô bình thường xung quanh, dạng ÉCHO đa nang hoặc cho hình ảnh ÉCHO lấm tấm.

Có nguyên nhân không rõ, gồm hai nhóm chính.

1. Nhóm sinh từ tế bào mầm :

Hoặc thuộc loại Seminoma, có tiên lượng khá tốt, hoặc thuộc loại Teratoma nếu biệt hoá tốt thì cũng có tiên lượng tốt, nếu biệt hoá kém thì tiên lượng xấu. Teratoma thường gặp ở trẻ em.

2. Nhóm không sinh từ tế bào mầm :

– U tế bào sertolie gây nhũ hoá

– U tế bào Leydig gây nam hoá sớm do tiết kích tố nam.

– Cả hai loại Ucó thể bành trướng tới Mào tinh hoặc lớp Tunica vaginalis nhưng hiếm khi vượt khỏi lớp này để xâm lấn ra da. U có thể di căn theo hạch bạch huyết do theo động mạch Tinh hoàn để đi đến các hạch vùng động mạch chủ, trung thất, phổi, thượng đòn nhưng ít khi có hạch ở vùng bẹn trừ khi có phẫu thuật trước đó ở vùng này. Các u sinh từ vùng không mầm thường làm cho AFP và HCG máu tăng cao hơn bình thường.

Về điều trị: gồm cắt bỏ U Tinh hoàn hoặc tinh hoàn và u,  phối hợp với hoá trị hoặc xạ trị tùy theo kết quả giải phẫu bệnh .

Đăng bởi: Khoa Ngoại Thận Niệu
Theo benhviennhi.org.vn

Những vấn đề cần biết về u nang buồng trứng ở trẻ gái

Bé gái P.T.T, 13 tuổi, đột ngột đau vùng bụng dưới kèm nôn, sốt nhẹ. Người nhà đưa bé đi khám thì phát hiện 1 u nang buồng trứng bên phải kích thước khá to có khả năng xoắn. Bé được tiến hành mổ nội soi cấp cứu sau đó và kết quả là bé bị u nang buồng trứng phải xoắn 3 vòng, hoại tử. Bé được cắt bỏ u, bảo tồn phần phụ. Phần u được gửi giải phẫu bệnh để biết lành hay ác.

Trên đây là 1 bệnh cảnh điển hình thường gặp của 1 trường hợp u nang buồng trứng xoắn ở bé gái tuổi dậy thì. Vậy u nang buồng trứng là gì? Nên làm gì khi trẻ tình cờ phát hiện có u nang buồng trứng? Bài viết nhỏ sau sẽ giải đáp 1 phần thắc mắc đó.

U nang buồng trứng là gì?

Một bé gái bình thường có 2 buồng trứng nằm 2 bên tử cung (dạ con). U buồng trứng là từ dùng để chỉ một khối phát triển bất thường ở buồng trứng.  U bao gồm 2 dạng: u đặc và u nang. Ở đây chủ yếu nói về u nang buồng trứng. Đó  là các túi chứa đầy dịch ở trong hoặc trên bề mặt buồng trứng. Ở các bé gái, một số trường hợp, u nang buồng trứng phát triển rất lớn, xuất huyết  sau đó xoắn hoặc  vỡ ra có thể gây nguy hiểm tính mạng của bé.

nhung_van_de_can_biet_ve_u_nang_buong_trung_o_tre_gai_01

Có mấy loại u nang buồng trứng?

U nang buồng trứng được chia làm hai loại: u nang cơ năng và u nang thực thể. U nang cơ năng của buồng trứng là những khối u xuất hiện do các rối loạn hoạt động nội tiết của buồng trứng. Các nang này thường tự biến mất trong vòng vài tháng và không gây triệu chứng.Nhưng cũng có trường hợp u to lên quá mức làm xuất huyết nang, vỡ nang…cần phải cấp cứu.  Còn u nang thực thể buồng trứng là những tổn thương xuất phát thật sự từ mô buồng trứng tiến triển thành những khối u to. Quá trình này thường diễn ra trong nhiều năm. Loại này khi to đến 1 kích thước nhất định thì cũng gây ra tình trạng phải mổ cấp cứu như xoắn cuống nang, vỡ nang hoặc do các biến chứng của khối u như chèn ép gây đau hay khó tiêu tiểu.

nhung_van_de_can_biet_ve_u_nang_buong_trung_o_tre_gai_02

U THỰC THỂ

nhung_van_de_can_biet_ve_u_nang_buong_trung_o_tre_gai_03

U CƠ NĂNG

Lứa tuổi nào dễ gặp u nang buồng trứng?

Như đã nói ở trên, các bé gái ở tuổi dậy thì, có sự thay đổi về hormon sinh dục là đối tượng dễ gặp u nang buồng trứng xoắn. Ngoài ra, đối với các u dạng thực thể thì đa số trường hợp người bệnh chỉ phát hiện được khi khối u đã to, có kích thước lớn nên tự sờ thấy được hoặc tình cờ phát hiện qua siêu âm bụng.

Triệu chứng của u nang buồng trứng?

Khi chưa có biến chứng, u nang buồng trứng  thường gây các triệu chứng rất mơ hồ, một số trường hợp trẻ có thể có kinh nguyệt không đều, trẻ có thể đau vùng bụng dưới âm ỉ hoặc từng cơn, một số trường hợp trẻ luôn thấy chướng bụng hoặc đầy hơi. Đặc biệt một số trường hợp u nang quá to gây chèn ép các cơ quan xung quanh ổ bụng thì có thể xuất hiện 1 số triệu chứng tưởng chứng như không liên quan đến bệnh  như tiểu rắt, tiểu khó ( nếu chèn ép bọng đái), tiêu bón (chèn ép trực tràng), phù 2 chi dưới (chèn ép hệ tĩnh mạch)… Nhưng đa số các trường hợp chỉ phát hiện được khối u nang buồng trứng một cách tình cờ khi đi siêu âm bụng kiểm tra vì một lí do nào đó như đau bụng, căng tức bụng chẳng hạn.

Các biến chứng của u nang buồng trứng lớn nếu không can thiệp?

Tùy theo kích thước của u mà các biến chứng có thể xảy ra sớm hay muộn.

-Xoắn u nang: nhất là đối với các u nang lớn mà có cuống.

-Vỡ u nang: do u quá lớn kèm xuất huyết bên trong u

– Chèn ép các tạng xung quanh: khi u phát triển quá lớn và phát hiện quá muộn.

Khi nào cần đi khám bệnh ngay?

Ở trẻ gái đã biết hoặc chưa biết có u nang buồng trứng chưa nhưng nếu trẻ có các triệu chứng sau thì nên đưa trẻ đi khám ngay:

– Đau bụng dữ dội liên tục hoặc đau co thắt vùng bụng dưới, kèm theo sốt và nôn, đôi khi có thể choáng vì đau.

-Bụng to bất thường, sờ thấy có 1 khối ở vùng bụng kèm đau.

Điều trị u nang buồng trứng như thế nào?

Tùy thuộc vào kích thước u và các triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ sẽ quyết định cách thức điều trị cho từng trường hợp cụ thể hoặc là theo dõi, hoặc là phẫu thuật cấp cứu hoặc lên lịch mổ chương trình.

Mổ mở hay nội soi tốt hơn trong u nang buồng trứng?

Trường hợp phải phẫu thuật thì hiện nay phẫu thuật nội soi đang có ưu thế hơn mổ mở vì ít xâm lấn, dễ dàng quan sát toàn bộ ổ bụng và buồng trứng bên kia, ít gây tổn thương cho mô buồng trứng hơn khi bóc tách và đặc biệt thẫm mỹ.

U nang buồng trứng thường lành hay ác?

Đối với các u nang cơ năng phần lớn là lành tính. Mẫu mô của u nang sau phẫu thuật sẽ được gửi thử giải phẫu bệnh lý để có kết quả chính xác là lành hay ác tính.

Đăng bởi: BS Trương Anh Mậu, khoa ngoại
Theo benhviennhi.org.vn

Cách phòng ngừa viêm kết mạc dị ứng

Các dị nguyên như bụi nhà, lông súc vật, ô nhiễm và phấn hoa có thể gây viêm kết mạc dị ứng, đây là căn bệnh không lây nhiễm dẫn tới đỏ mắt, chảy nước mắt và ngứa mắt.

cach_phong_ngua_viem_ket_mac_di_ung

Học viện Bác sĩ gia đình Mỹ đã đưa ra một số hướng dẫn về biện pháp ngăn ngừa các triệu chứng trên, bao gồm: sử dụng thuốc đặc hiệu để điều trị viêm kết mạc dị ứng. Một số trường hợp cần phải điều trị theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; dùng thuốc tra mắt nước, đôi khi phải dùng thêm dung dịch nước mắt nhân tạo để làm dịu mắt; có thể dùng thêm các thuốc kháng histamin theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cũng có thể dùng thêm khăn mát, sạch đắp lên vùng mắt để làm giảm cảm giác khó chịu; nếu đang mang kính áp tròng, nên ngừng sử dụng kính cho tới khi hết hẳn các triệu chứng ở mắt.

Hải Minh (Theo HealthScout, 28/10/2008)
Theo SKDS

Bệnh viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh

Viêm kết mạc là bệnh thường gặp khi trẻ mới sinh được vài ngày, với các triệu chứng hai mi sưng nề, đỏ, chảy nước mắt kèm dử mắt, trẻ khó mở mắt thậm chí không mở được mắt,… Nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến thị lực của trẻ, nặng hơn có thể dẫn đến mù lòa.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân chủ yếu gây viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh là do trẻ bị nhiễm khuẩn từ đường sinh dục của người mẹ khi sinh (hay gặp nhất là do lậu, chlamydia,…), do nhiễm khuẩn từ trong bụng mẹ (thường gặp trong những trường hợp vỡ ối sớm) hoặc do trẻ không được chăm sóc, vệ sinh tốt trong những ngày đầu sau sinh…

Triệu chứng

Ngay trong 1-2 ngày đầu sau sinh, trẻ có biểu hiện: hai mi mắt sưng nề, đỏ, trường hợp nặng mi sưng nhiều làm trẻ khó mở mắt hoặc không mở được mắt; mắt đỏ rực; chảy nhiều nước mắt, kèm theo ghèn (dử mắt), nặng hơn mủ nhiều,… Thường bị cả hai mắt, ít khi một mắt trước sau đó lan sang mắt kia. Đối với viêm kết mạc do lậu rất nguy hiểm với các triệu chứng là sưng mi mắt, đỏ mắt, chảy mủ mắt lượng nhiều,… nếu không điều trị ngay có thể gây loét giác mạc, để lại sẹo, dẫn đến mù lòa.

benh_viem_ket_mac_o_tre_so_sinh

Chăm sóc trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Từ Dũ 9TP.HCM). Ảnh: H.Cát

Ðiều trị ngay khi trẻ có triệu chứng

Do tính chất cấp tính của bệnh cho nên ngay sau khi sinh trẻ cần được theo dõi, chăm sóc mắt và vệ sinh thân thể tốt. Nếu thấy có biểu hiện viêm kết mạc trẻ cần được điều trị ngay tại cơ sở y tế chuyên khoa.

Viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh cần phải điều trị dứt điểm ngay bằng thuốc kháng sinh dạng tiêm, dung dịch, mỡ; rửa mắt thường xuyên bằng nước muối sinh lý theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Người chăm sóc trẻ cần chú ý khi vệ sinh, tra thuốc, nhỏ thuốc mắt cho trẻ sơ sinh phải hết sức cẩn thận, nhẹ nhàng, tránh gây xước da, niêm mạc mắt trẻ. Trước khi vệ sinh, tra thuốc mắt cho trẻ cần rửa tay sạch bằng xà phòng diệt khuẩn.

Để phòng bệnh viêm kết mạc, ngay sau khi sinh trẻ cần được tra thuốc mỡ tetracyclin 1% hoặc nhỏ mắt bằng dung dịch cloramphenicol 0,4%, argyrol 1% theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Trẻ mắc bệnh này chủ yếu do bị nhiễm khuẩn qua đường âm đạo của mẹ khi sinh (do bệnh nhiễm khuẩn sinh dục của người mẹ) nên trước khi mang thai người mẹ cần khám phụ khoa và điều trị dứt điểm các bệnh viêm nhiễm sinh dục để phòng bệnh cho trẻ khi sinh.

Bác sĩ Thu Lan
Theo SKDS

Trị bệnh đau mắt đỏ bằng đông y

Đông y gọi đau mắt đỏ là “Xích nhãn” hay “Hoả nhãn”. Khi mắc phải, người bệnh thường có triệu chứng: mắt đỏ, xung huyết, chảy nước mắt, nhiều dử, mắt cộm, khó mở, sợ ánh sáng, có thể bị một mắt rồi lây sang mắt thứ hai hoặc đồng thời cả hai mắt đều bị, một số trường hợp thị lực suy giảm làm mắt mờ, khả năng nhìn kém.

Nguyên nhân sinh bệnh chủ yếu do kinh can phong nhiệt gây nên, bệnh mang tính truyền nhiễm, lây lan thành dịch rất nhanh trong gia đình và cả cộng đồng, làm ảnh hưởng tới sinh hoạt, học tập và công tác.  Để ngăn chặn bệnh lây nhiễm, trước hết cần chú ý vệ sinh cá nhân sạch sẽ, hạn chế sự tiếp xúc với người bệnh. Về chữa trị, xin giới thiệu một số bài thuốc chữa đau mắt đỏ đơn giản thường dùng.

Thuốc dùng uống với tác động toàn thân làm thanh can sáng mắt, chữa chứng mắt đỏ, sưng đau, viêm kết mạc, chảy nhiều nước mắt. Tùy theo mức độ nhiễm bệnh mà chọn dùng.

tri_benh_dau_mat_do_bang_dong_y

Bài 1: Chi tử 10g, cúc hoa 10g, cam thảo 4g.

Bài 2: Tang diệp 12g, cúc hoa 12g, thảo quyết minh 10g,  sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Hạ khô thảo 12g, thảo quyết minh 10g, bồ công anh 12g.

Bài 4: Linh dương giác 2g, cúc hoa 12g, mạn kinh tử 12g.

Bài 5: Cúc hoa 9g, lá dâu 6g, câu đằng 6g, liên kiều 9g, cát cánh 6g, cam thảo 3g, sa tiền thảo 9g.

Bài 6: Thảo quyết minh 16g, cúc hoa 12g, hoàng liên 8g, hạ khô thảo 16g, hoặc nga bất thực thảo (cỏ cóc mẩn) 15g.

Bài 7: Bạch cúc hoa 6g, bạch tật lê 4g, khương hoạt 4 g, mộc tặc 6g, thuyền thoái 4g, nghiền thành bột, uống với nước chè sau bữa ăn hoặc đem sắc uống.

Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang.

Bài 8: Sa tiền tử 18g, bạch tật lê, hoàng cầm, thảo quyết minh, long đởm thảo, cúc hoa mỗi thứ 18g. Tán thành bột, uống mỗi lần 9g, ngày 3 lần với nước cháo.

Bài 9. Thục địa 32g, sơn thù 16g, hoài sơn 16g, trạch tả 12g, mẫu đơn bì 12g, bạch phục linh 12g, cúc hoa 12g, câu kỳ tử 12g (Kỷ cúc địa hoàng thang).

Bài 10: Thạch quyết minh 12g, tang diệp 16g, câu kỳ tử 12g, sắc uống hoặc dùng thạch quyết minh 24g nấu với gan dê hoặc gan lợn chia 2 lần ăn trong ngày.

Bài 11: Thanh tương tử (hạt cây mào gà trắng) 5g, quyết minh tử 10g, hoàng liên 2g, tần giao 2g, tiền hồ 3g, đại hoàng 3g, thăng ma 3g, hoàng cầm 2g, chi tử nhân 5g, trần bì 3g, chỉ xác 3g, địa cốt bì 3g, huyền sâm 4g, xích thược 5g, linh dương giác 0,5g, sa tiền tử 5g, cúc hoa 8g, cam thảo 5g,  tán thành bột,  mỗi lần uống 8 – 10g,  ngày 3 lần,  sau bữa  ăn.

Bài 12: Chữa đau mắt đỏ phù nề, mờ mắt: Thảo quyết minh, cam cúc hoa, sơn chi tử, cốc tinh thảo, mạn kinh tử, mỗi thứ 10g, xuyên khung, thuyền thoái, phòng phong, khương hoạt, cam thảo, hoàng cầm, mộc tặc, kinh giới, bạch tật lê, mật hồng hoa mỗi thứ 5g. Tán thành bột uống 3 – 6g/lần, ngày 2 – 3 lần.

Bài 13: Chữa nhức đầu, mắt đỏ, sưng đau: Thảo quyết minh 10g, mộc tặc 4g, thược dược 4g, hoàng cầm 4g, khương hoạt 4g, cam thảo, mạn kinh tử, xuyên khung, mỗi thứ 4 g, thạch quyết minh 10g, cúc hoa 8g, tán thành bột, uống mỗi lần 5g, ngày 2 – 3 lần.

Ngoài ra có thể kết hợp thuốc dùng tại chỗ:

Bài 1: Dùng tang diệp (lá dâu bánh tẻ), cúc hoa, lá tre, bạc hà mỗi thứ 1 nắm, nấu nước xông, ngày 2 lần. Hoặc lá dâu đem giã nhỏ, vắt lấy nước cốt tẩm vào miếng gạc sạch, đắp lên mắt ngày 2 – 3 lần sẽ làm tan xung huyết.

Bài 2: Lá diếp cá tươi (ngư tinh thảo) vừa uống trong vừa giã nhuyễn đắp ngoài, ngày dùng 50 – 100g, chia vài lần.

Bài 3. Dùng chi tử diệp (lá dành dành) giã nát vắt lấy nước cốt, tẩm vào gạc sạch, đắp lên mắt, ngày 2 – 3 lần.

Bài 4: Hòe giáp (quả hòe), bạc hà mỗi thứ 5g, sắc kỹ, xông, sau đó uống, ngày 3 lần, sau bữa ăn, liên tục 2 – 3 ngày. Kết hợp dùng lá thơm tử tô, kinh giới, bạc hà, lá chanh thái nhỏ, chà nát, bọc vào gạc sạch, đắp lên mắt.

DSCKI. Phạm Hinh
Theo SKDS

Thuốc chữa viêm phổi cộng đồng

Viêm phổi mắc phải trong cộng đồng (VPCĐ) thường do Steptococcus pneumoniae (chiếm đến 2/3), tiếp đến là Hemophilus influenzae…, khác với viêm phổi mắc phải trong bệnh viện (VPBV) thường do Klebsiela pneumoniae, Pseudomanas aeruginosa…

thuoc_chua_viem_phoi_cong_dong

Hình ảnh viêm phổi trên phim Xquang.

VPCĐ thường có các triệu chứng: ho, sốt, thở nặng nhọc nhưng những triệu chứng này không phải lúc nào cũng xuất hiện đầy đủ và hoàn toàn đặc hiệu (có thể gặp ở bệnh viêm phế quản cấp và mạn, các bệnh không nhiễm khuẩn khác…). Do vậy, trong thực tế, việc điều trị VPCĐ thường dựa vào dịch tễ và sự kháng thuốc từng vùng, lệ thuộc vào tính nhạy cảm, thói quen, kinh nghiệm thầy thuốc. Khi điều trị không thành công có thể dựa vào các xét nghiệm (đã lấy mẫu trước đó) để điều chỉnh hoặc dùng các kháng sinh dự phòng (đã khuyến cáo). Ở nước ta cũng như các nước phát triển khác đều chấp nhận cách điều trị thực tế này.

Các thuốc điều trị

Có thể dùng các nhóm kháng sinh sau đây:

– Nhóm betalactam thế hệ cũ (amoxicilin hay amoxicilin + acid clavulanic, penicilin G tiêm) và thế hệ mới (cephalothin, cefuroxim).

– Nhóm macrolid thế hệ cũ (erythromycin và mới (clarythromycin, azithromycin).

– Nhóm fluoroquinolon có phổ rộng: ciprofloxacin, ofloxacin, norfloxacin.

– Nhóm aminozid: gentamicin.

Do tiếp xúc với nhiều thuốc, nhiều thông tin mới và do kinh nghiệm, thói quen của thầy thuốc, người dùng ở từng vùng mà việc dùng các kháng sinh điều trị VPCĐ có dựa vào nhưng không hoàn toàn theo sát các tài liệu trên.

Có thể kể ra dưới đây một số trường hợp:

+ Khuyến cáo của Ban tư vấn về sử dụng kháng sinh Bộ Y tế (BTVSDKS) về thuốc uống dùng cho trẻ dưới 5 tuổi là cotrimoxazol và amoxicilin. Cotrimoxazol bị S.pneumoniae kháng tỷ lệ 62%, hơn nữa cotrimoxazol độc với thận, đường niệu (phải nghiền nhỏ, uống nhiều nước), không dùng được cho trẻ sơ sinh, trẻ đẻ non có vàng da nên tuyến cơ sở ngại, có nơi hầu như không dùng (dù được các chương trình cấp nhiều). Amoxicilin hấp thu tốt và vững bền, đỡ phải uống nhiều lần như ampicilin, được dùng khá rộng rãi. Có thể dùng biệt dược kết hợp amoxicilin + acid clavulanic, do thuốc dễ uống, hiệu quả điều trị cao hơn nhưng chi phí lại đắt hơn.

+ Khuyến cáo của BTVSDKS về thuốc tiêm bao gồm benzylpenicilin, chloramphenicol, cephalothin, cefuroxim. chloramphenicol bị S.pneumoniae kháng tỷ lệ 27% chưa phải là cao so với thuốc khác, nhưng có độc với tủy xương nên hầu như cả thầy thuốc và người bệnh đều không muốn dùng. Theo dõi nhiều năm hầu như chloramphenicol được cấp phát về trung tâm y tế đều bị hủy, trong khi các trường hợp VPCĐ nặng từ tuyến dưới chuyển lên đều được thay dùng bằng các kháng sinh khác.

+ Một số thuốc mới thuộc nhóm fluoroquinolon không được BTVSDKS nêu ra nhưng các thầy thuốc (chủ yếu ở phòng khám tư) vẫn dùng. Biệt dược được dùng nhiều là ciprofloxacin (kế đến là ofloxacin, norfloxacin). Ở Bắc Mỹ, fluoroquinolon cũng được khuyến cáo trong phác đồ điều trị VPCĐ, nhưng chỉ được xem là nhóm dự phòng khi các nhóm khác (macrolid và doxycyclin) ít hiệu quả. Tỷ lệ kháng thuốc của S.pneumoniae với fluoroquinolon ở ta đã khá cao (norfloxacin 10 – 22,2%, ofloxacin 3,2%, ciprofloxacin 9,1%), bằng với tỷ lệ ở các nước khác (chung là 4%, riêng ở Hồng Kông là 14%).

+ Nhóm macrolid thế hệ cũ như erythromycin bị S.pneumoniae kháng tỷ lệ 45,1% ít được dùng nhưng thế hệ mới như clarithromycin, azithromycin lại được bắt đầu (chủ yếu là ở các vùng thành thị, do giá thuốc cao). Nhóm macrolid là nhóm ưu tiên trong phác đồ điều trị VPCĐ ở Bắc Mỹ, nhưng ở ta chưa có một đánh giá nào cụ thể.

+ Nhóm aminozid nhiều nhất là gentamycin, tuy chỉ được hướng dẫn dùng trong tuyến trên ở một số trường hợp viêm phổi nặng (do tụ cầu, do nhiễm khuẩn gram âm Klebssiela pneumoniae…) thì hầu như ở cơ sở được dùng khá rộng rãi.

Hiện nay, do tình trạng kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh đang trở thành vấn đề nhức nhối, cản trở việc điều trị thì việc lựa chọn kháng sinh phù hợp là vô cùng cần thiết. Một gợi ý là: nên chọn một nhóm kháng sinh ưu tiên để điều trị, khi không thành công thì mới dùng đến một nhóm kháng sinh khác. Cách dùng này có thể được xem như “tiết kiệm” do vừa có thuốc tấn công vừa có thuốc dự trữ.

DS. Thủy Hà
Theo SKDS