Tag Archives: trẻ sơ sinh

Những hội chứng gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh (hay còn gọi là bệnh màng trong) thường gặp ở trẻ sơ sinh non tháng, do phổi chưa trưởng thành, thiếu hoạt chất tạo tính bề mặt (surfactant) đưa đến giảm diện tích bề mặt phế nang dành cho việc trao đổi khí gây suy hô hấp, có thể dẫn đến tử vong ở trẻ sinh non.

Nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Ở phổi người bình thường, bên trong phế nang có chứa một chất surfactant – là chất giảm hoạt bề mặt có tác dụng duy trì tính ổn định của phế nang, giúp cho các phế nang không bị xẹp. Chất giảm hoạt bề mặt ở phổi của bào thai xuất hiện tương đối vào tuần thứ 20. Nó phủ vách trong của phế nang và có trong nước ối vào tuần thứ 28-36.

hoi-chung-suy-ho-hap-o-tre-so-sinh

Ở trẻ sinh non khi phổi chưa thực sự trưởng thành chất giảm hoạt bề mặt sẽ chưa hoàn thiện. Khi thiếu chất này, phế nang sẽ bị xẹp, dẫn đến hiện tượng huyết tương tràn vào phế nang, chất fibrin của huyết tương lắng đọng phía trong của các phế nang và các tiểu phế quản, tạo thành một lớp màng. Màng này cản trở sự lưu thông khí và sự trao đổi ôxy, lúc này CO2 từ phế nang qua các mao mạch dẫn đến suy hô hấp và tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Nhận biết

Thông thường, sau khi sinh khoảng vài phút hoặc vài giờ sau khi sinh trẻ xuất hiện hội chứng suy hô hấp nặng mà không tìm thấy các nguyên nhân như: Nhiễm khuẩn, ngạt nước ối, hít phải phân su… với biểu hiện là khó thở nhanh nông, nhịp thở trên 60 lần/phút. Các khoang liên sườn, hõm trên ức, co kéo, cánh mũi phập phồng, toàn thân tím tái. Cho thở ôxy không đỡ…

Nếu nhẹ và điều trị đúng thì sau khoảng 72 giờ các triệu chứng giảm dần và trẻ có thể được cứu sống. Nếu nặng, các dấu hiệu tím tái, khó thở tăng lên, huyết áp hạ, thân nhiệt hạ, trẻ có thể tử vong sau vài giờ. Tuy nhiên đối với trẻ được cứu sống, sau khi khỏi bệnh có thể để lại một số di chứng như thiếu ôxy não, xuất huyết não, hạ đường huyết…

Phòng tránh suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
Để phòng tránh suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, thai phụ phải đảm bảo sức khỏe, có chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt, lao động phù hợp, khám theo dõi thai đều đặn để hạn chế tối đa tình trạng đẻ non, đẻ con nhẹ cân. Ngoài ra ở các thai phụ có nguy cơ như: Phải mổ lấy thai, thời gian chuyển dạ quá lâu, bị băng huyết, sinh đôi, bị bệnh đái tháo đường, sử dụng chất corticoid kéo dài trong thời gian mang thai, tiền sử gia đình có trẻ bị bệnh màng trong,… cần được các bác sĩ chuyên khoa khám quản lý theo dõi chặt chẽ để phòng bệnh.

BS. Thu Lan

Bệnh chàm ở trẻ em

Chàm, còn gọi là eczema, thường xuất hiện ở một vùng da trên cơ thể trẻ như: mặt (đặc biệt là hai má, cằm), vùng đầu (sau tai, gáy) hoặc vùng bẹn, nách…
Trẻ bị chàm thường hay quấy khóc, kém ngủ, kém bú vì khó chịu, dưới đây là những điều cần làm để hạn chế bệnh cho trẻ.

Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến da của trẻ

Trước tiên, nên hạn chế tắm rửa, sử dụng dầu gội và sữa tắm cho trẻ sơ sinh dưới 10 ngày tuổi. Các nghiên cứu chứng minh rằng, việc tắm cho trẻ sơ sinh hàng ngày sẽ làm mất chất gây bảo vệ da của trẻ sơ sinh, gây khô da và tăng nguy cơ mắc bệnh chàm ở trẻ. Ngoài ra, cũng không nên dùng nước quá nóng khi tắm rửa cho trẻ, bởi vì nước nóng là nhân tố làm da trẻ bị mất nước.

ảnh minh họa

ảnh minh họa

Nên sử dụng dầu gội và sữa tắm cho trẻ vào một chậu tắm riêng biệt. Điều này tránh cho trẻ phải ngâm mình quá lâu trong chậu tắm có chứa xà phòng. Tốt nhất, sau khi thoa xà phòng, bạn nhanh chóng tráng người cho trẻ bằng nước ấm và đặt trẻ sang một chậu nước khác, trước khi tiến hành kì cọ người cho trẻ.

Chọn chất liệu quần áo cho trẻ bằng vải tự nhiên thay vì sợi hóa học. Tránh những bộ trang phục chất liệu sợi dặm, nhựa tổng hợp vì chúng dễ làm tổn thương làn da nhạy cảm của trẻ.

Chú ý đến chất liệu của chăn đệm dành cho trẻ để tránh hiện tượng dị ứng da ở trẻ; không nên lạm dụng kem dưỡng ẩm và tránh thay đổi đột ngột nhiệt độ phòng của trẻ.

Hạn chế nguy cơ tái phát do thực phẩm

Trẻ bị dị ứng dễ kèm theo triệu chứng tái phát của bệnh chàm. Một năm, trẻ có thể mắc bệnh chàm một vài lần hoặc tần suất tùy theo sự thay đổi thời tiết và thức ăn. Vì vậy, nếu trẻ bước vào tuổi ăn dặm, nên lưu ý những loại thức ăn dễ gây dị ứng cho trẻ bao gồm: sữa bò, trứng, bột mì, đậu nành, lạc, cá, tôm, cua… Riêng với sữa bò, chỉ nên sử dụng cho trẻ trên 1 tuổi. Với các loại thức ăn mới, nên cho trẻ làm quen trong một vài tuần để thử phản ứng cơ thể của trẻ. Nếu thấy trẻ có dấu hiệu dị ứng với bất kỳ loại thực phẩm nào, nên tạm thời ngừng lại và chờ cho đến khi trẻ lớn hơn.

Nếu trẻ bị chàm, nên lưu ý để không làm xây xước vùng da bị chàm của trẻ. Nếu bị tổn thương, vùng da bị chàm dễ bị chảy máu, viêm nhiễm (lúc này gọi là chàm nhiễm trùng). Khi ấy, việc điều trị chàm nhiễm trùng sẽ khó khăn hơn và có thể để lại sẹo xấu cho cơ thể trẻ.

Nguồn giáo dục

Tự chăm sóc rốn trẻ sơ sinh tại nhà

Cha mẹ, đặc biệt là các cha mẹ trẻ, thường rất lo lắng về cách chăm sóc rốn cho trẻ mới sinh. Lời khuyên quan trọng nhất là giữ cuống rốn khô và sạch cho đến khi rốn rụng.

Dây rốn nối bào thai với bà mẹ qua bánh nhau từ tuần lễ thứ sáu của thai kỳ cho đến lúc sinh. Là con đường sống, dây rốn cung cấp oxy, chất bổ dưỡng cho bào thai phát triển và mang đi các chất thải trong bào thai. Lúc sinh, bởi vì trẻ sơ sinh có khả năng thở, bú và tiêu tiểu nên dây rốn trở nên không cần thiết, vì vậy, nó được kẹp và cắt ngay sau sinh.

Điều quan trọng là chăm sóc đúng cách phần cuống rốn còn lại này cho đến khi cuống rốn lành và rụng – thường khoảng hai tuần sau sinh. Cuống rốn sẽ đổi màu từ màu vàng xanh sang màu đen khi khô teo.

Các bà mẹ cần giữ cuống rốn trẻ khô và sạch cho đến khi rốn rụng.

Các bà mẹ cần giữ cuống rốn trẻ khô và sạch cho đến khi rốn rụng.

Tự chăm sóc rốn tại nhà

Trong ngày đầu sau sinh, thường sau khi tắm bé, nhân viên y tế bôi dung dịch sát trùng lên cuống rốn để giảm nguy cơ nhiễm trùng.

24 giờ sau sinh, khi mặt cắt rốn khô, có thể tháo kẹp rốn an toàn khỏi cuống rốn. Nên tháo kẹp rốn tại bệnh viện, trước khi trẻ sơ sinh được xuất viện về nhà. Kẹp rốn có thể cản trở trong khi thay tã tại nhà và có thể bị kéo giật lên, gây tổn thương chân rốn.

Các bác sĩ cho phép che phủ rốn bằng một lớp gạc vô khuẩn trong 1 – 2 ngày đầu. Có nhiều nghiên cứu cho thấy bôi dung dịch cồn 70 độ lên rốn mỗi ngày có thể làm chậm rụng rốn, vì vậy bạn cần theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

Giữ cho cuống rốn khô, để hở, cho phép cuống rốn tiếp xúc với không khí giúp cuống rốn mau khô. Quấn tã phía dưới rốn. Sau khi trẻ tiêu, tiểu cần thay tã ngay.

Khi rốn chưa rụng, tránh không đặt trẻ vào thau tắm. Dùng khăn nhỏ mềm lau người trẻ, sau đó, dùng que gòn lau chân rốn trẻ. Khi rốn rụng, có thể nhúng trẻ vào thau tắm.

Một ít máu khô dính ở chân rốn có thể bình thường.

Khi nào mang trẻ đi khám

Khi trẻ sơ sinh sốt cần mang trẻ đi khám ngay. Có một số tình huống bệnh liên quan đến rốn cần mang trẻ đi khám:

– Nhiễm trùng rốn: nếu bạn thấy dấu hiệu đỏ, nóng, sưng hoặc ấn đau vùng da quanh rốn, hoặc có nhiều dịch tiết quanh chân rốn, đặc biệt có mùi hôi, cần mang trẻ đi bệnh viện khám ngay. Đây là trường hợp trẻ bị nhiễm trùng rốn và vùng da quanh rốn, có thể nguy hiểm, cần được điều trị tại bệnh viện.

– U hạt rốn: nếu bạn thấy chân rốn rỉ dịch vàng kéo dài, không kèm dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, hoặc ấn đau vùng da quanh rốn, trẻ không nóng sốt, có thể trẻ bị u hạt rốn. Tại bệnh viện, u hạt rốn được điều trị với nitrate bạc.

– Rỉ máu rốn kéo dài: nếu bạn thấy chân rốn rỉ máu nhiều và kéo dài, có thể là dấu hiệu của bệnh lý đông máu, cần đi khám bác sĩ.

Bác sĩ Cam Ngọc Phượng, Sức khỏe & Đời sống, VNE

Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non

Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (ROP) là bệnh lý thường thấy ở những trẻ sinh non, nhẹ cân (dưới 2kg). Nếu không được khám, phát hiện sớm từ tuần thứ ba hoặc thứ tư sau khi sinh và không được điều trị kịp thời, trẻ sẽ bị mù vĩnh viễn.

Bệnh lý ở trẻ sinh nhẹ cân, thiếu tháng

Bệnh này hay gặp ở trẻ đẻ non là vì trong quá trình phát triển của thai nhi, mạch máu ở võng mạc (võng mạc là màng mỏng lót mặt trong thành nhãn cầu giúp ta nhìn thấy) xuất phát từ phần trung tâm phía sau rồi phát triển dần về phía trước và kết thúc vào lúc cháu bé được đủ tháng.

Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (ROP) là bệnh lý thường thấy ở những trẻ sinh non, nhẹ cân (dưới 2kg). Nếu không được khám, phát hiện sớm từ tuần thứ ba hoặc thứ tư sau khi sinh và không được điều trị kịp thời, trẻ sẽ bị mù vĩnh viễn.

Bệnh lý ở trẻ sinh nhẹ cân, thiếu tháng

Bệnh này hay gặp ở trẻ đẻ non là vì trong quá trình phát triển của thai nhi, mạch máu ở võng mạc (võng mạc là màng mỏng lót mặt trong thành nhãn cầu giúp ta nhìn thấy) xuất phát từ phần trung tâm phía sau rồi phát triển dần về phía trước và kết thúc vào lúc cháu bé được đủ tháng.

benh-vong-mac-o-tre-so-sinh

Hiện nay, máy chụp hình võng mạc kiểm soát bệnh võng mạc gây mù ở trẻ đẻ non là một hệ thống chụp hình ảnh võng mạc bằng kỹ thuật số hiện đại và chính xác thuộc thế hệ tiên tiến nhất. Ðây là máy đầu tiên được tổ chức Orbis quốc tế trang bị cho Bệnh viện Mắt Trung ương. Máy được sử dụng để chụp những hình ảnh có độ chính xác cao các bệnh lý liên quan tới võng mạc, những hình ảnh bán phần trước và phát hiện sớm các khối u võng mạc. Máy chụp hình võng mạc sẽ hỗ trợ công tác khám, phát hiện bệnh võng mạc gây mù ở trẻ đẻ non, u nguyên bào võng mạc và một số tật mắt khác mà các thiết bị nhãn khoa hiện chưa phát hiện được… Việc khám và phát hiện sớm, chính xác các khối u, các bệnh liên quan tới võng mạc sẽ hỗ trợ tốt công tác điều trị và phòng, chống mù lòa hiệu quả cho trẻ em.

Trà My

Theo suckhoedoisong

Bệnh tim không tím ở trẻ sơ sinh

Lúc 14 giờ 30 ngày 3-12-2013, trinh sát Đội CSĐTTP về TTXH CAQ1 bất ngờ ập vào phòng chờ dành cho tài xế tại tầng hầm B2, tòa nhà Kumho số 39 Lê Duẩn, P.Bến Nghé, Q1, bắt quả tang hơn chục con bạc đang sát phạt bằng hình thức đổ xí ngầu ăn tiền. Tang vật thu giữ gồm 12.194.000 đồng, 3 hột xí ngầu, một bộ đĩa dùng để lắc xí ngầu và 10 ĐTDĐ… Các đối tượng khai nhận, sòng bạc do Lê Ngọc Thi, Nguyễn Văn Đức, Lê Duy Phước và Trần Huỳnh Trung Kiên hùn tiền làm nhà cái, thay nhau đổ xí ngầu đồng thời cá cược ăn thua với các con bạc. Được biết, sòng bài này hoạt động được một thời gian, trong đó các con bạc đều là tài xế của tòa nhà Kumho hoặc các công ty có trụ sở văn phòng tại tòa nhà.

Thanh HuyềnBệnh tim không tím là những dị tật bẩm sinh tim không gây triệu chứng tím. Loại bệnh tim bẩm sinh này thường gặp hơn nhưng ít trầm trọng hơn các dị tật tim gây tím; bao gồm các dạng: hẹp van động mạch chủ hoặc phổi bẩm sinh, thông liên thất, thông liên nhĩ (tồn tại lỗ thông bất thường giữa hai tâm thất hoặc hai tâm nhĩ, làm tăng lượng máu tuần hoàn lên phổi), hẹp eo động mạch chủ, còn ống động mạch (tình trạng ống động mạch đóng không kín lại sau khi sinh làm quá tải lượng máu lên phổi)…

Cách nào để nhận biết trẻ có bệnh tim không tím?

Nhiều trường hợp tim bẩm sinh không tím không biểu hiện triệu chứng. Nếu suy tim xuất hiện, đứa trẻ sẽ gặp khó khăn về dinh dưỡng do không đủ sức để bú, có xu hướng chậm tăng cân và khóc ít hơn bình thường. Trong trường hợp nặng, trẻ thường khó thở và thở nhanh. Nếu không được chẩn đoán ở giai đoạn sơ sinh, các triệu chứng có thể xuất hiện khi đứa trẻ lớn lên. Đó là chậm phát triển về thể chất, khó thở lúc đầu khi gắng sức và về sau là cả khi nghỉ ngơi.

benh-tim-ko-tim-o-tre-so-sinh

ảnh minh hoạ

Bệnh tim bẩm sinh không tím thường được phát hiện khi nghe tim thấy tiếng thổi bất thường. Các bước tiếp theo để chẩn đoán bao gồm chụp Xquang lồng ngực, ghi điện tâm đồ và siêu âm tim. Thông tim được tiến hành trong trường hợp chuẩn bị cho phẫu thuật.
Điều trị tuỳ thuộc vào loại dị tật. Hẹp van động mạch chủ và phổi bẩm sinh không cần phẫu thuật sớm mà có thể trì hoãn cho đến khi đứa trẻ lớn lên hoặc bước sang tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, các trường hợp nặng đòi hỏi phải xử trí ngoại khoa sớm. Các lỗ thông nhỏ trong tim (thông liên thất, thông liên nhĩ) không cần phải điều trị hoặc được đóng kín bằng dụng cụ qua thông tim. Phẫu thuật vá các lỗ thông lớn thường được thực hiện khi đứa trẻ lên 4 tuổi. Hẹp eo động mạch chủ nhìn chung cần được phẫu thuật khi đứa trẻ từ 4 – 8 tuổi.

Còn ống động mạch một số trường hợp được điều trị bằng thuốc, nếu thất bại, can thiệp ngoại khoa sẽ được tiến hành khi trẻ bắt đầu đi học. Nhìn chung, cần dùng kháng sinh dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn trước mọi thủ thuật răng miệng hoặc phẫu thuật đối với những trẻ bị dị tật bẩm sinh tim. Trẻ không cần phải hạn chế hoạt động thể lực trừ khi gắng sức gây mệt mỏi hoặc khó thở nhiều.

benh-tim-ko-tim-o-tre-so-sinh-1

Hẹp eo động mạch chủ trên phim chụp MRI.

Những biến chứng khi trẻ mắc bệnh

Thông liên thất và thông liên nhĩ có thể gây tăng áp lực động mạch phổi và suy tim nếu lỗ thông lớn và không được sửa chữa trước tuổi trưởng thành. Hẹp van hoặc eo động mạch chủ làm tăng gánh nặng cho tim, lâu ngày cũng sẽ dẫn tới suy tim.

Làm thế nào để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh?

Những người có tiền sử gia đình về bệnh tim bẩm sinh cần được tư vấn di truyền trước khi lập gia đình và sinh con. Phụ nữ chưa được tiêm phòng sởi cần được tiêm vắc-xin trước khi mang thai. Phòng ngừa bệnh tật và hạn chế dùng thuốc là biện pháp dự phòng duy nhất được biết. Trước khi tiến hành phẫu thuật sửa chữa dị tật, có thể giảm bớt triệu chứng bằng thuốc lợi tiểu hoặc digitalis.

ThS. Phan Đình Phong

Theo báo công an

 

Những bà mẹ hay lo cần biết

Khi mới sinh tâm lý lo lắng và hồi hộp luôn chiếm ngợp hoàn toàn tâm trí của các bà mẹ trẻ. Ai cũng mong muốn điều tốt nhất cho con mình và không khỏi bỡ ngỡ trước một sinh linh bé nhỏ vừa chào đời đang nằm trên tay mẹ. Nhưng có những nỗi lo lắng hoàn toàn không cần thiết xung quanh các vấn đề của trẻ sơ sinh mà mẹ nào cũng đắn đo, băn khoăn suốt thời gian dài. Sau đây là một số những nỗi lo vô căn cứ ấy.

Không được chạm vào thóp của con

Không hiểu sao rất nhiều mẹ có quan điểm sai lầm rằng không nên chạm vào thóp của trẻ mới sinh vì như thế là đang chạm vào não của bé. Đây là một nỗi lo hoàn toàn vô lý bởi thóp của trẻ thực chất là một màng cứng và bảo vệ não của bé ở bên trong, chạm vào thóp bé hoàn toàn không phải là chạm vào não bộ của trẻ. Khi hộp sọ của bé trở nên cứng cáp và trưởng thành hơn thóp của bé cũng sẽ dần ổn định và không còn mềm như hồi mới sinh nữa.

Sao trên thóp bé lại có gân mạch?

Những đường gân nổi trên thóp của trẻ mới sinh là điều hoàn toàn bình thường bởi gân nằm trong hệ thống cấu tạo của cơ thể. Do các đường liên kết trong khu vực thóp của hộp sọ chưa liền lại với nhau nên các mẹ mới có thể nhìn rõ đường gân, động mạch và mạch máu trên thóp của bé. Các mẹ hoàn toàn không cần thiết phải quá lo lắng và băn khoăn khi nhìn thấy chúng đâu nhé.

Hoảng hốt khi thấy máu trong tã của bé gái

me-hay-lo

Trong thời gian mang thai, chất estrogen dâng trào có trong cơ thể mẹ có thể tạo nên một chút phản ứng trong tử cung của thai nhi nữ. Vì thế trong tuần đầu tiên sau khi bé chào đời có thể xuất hiện hiện tượng chảy máu từ trong tử cung của bé như một chu kỳ nhỏ. Các mẹ hoàn toàn có thể yên tâm vì hiện tượng này chỉ sau một thời gian ngắn sẽ chấm dứt.

Lo lắng khi thấy một hõm nhỏ trên ngực của bé

Mẹ có thể thư giãn và không cần phải hoang mang khi nhìn thấy một vết lõm trên ngực của con.. Đó hoàn toàn không phải là dấu hiệu triệu chứng của các bệnh về tim như mẹ nghĩ. Theo các chuyên gia, xương ngực của bé được chia làm ba phần. Vết lõm sâu mà mẹ nhìn thấy là phần cuối cùng của xương ngực. Theo thời gian khi bé lớn lên, các cơ ngực và cơ bụng sẽ dần lấp đầy vết lõm đó, thậm chí trước đó những mô mỡ trong cơ thể bé cũng sẽ dần dần “ủi phẳng” vết lõm cũng như nỗi lo của mẹ ngay.

Con đi ngoài phân lỏng là bị tiêu chảy?

Những em bé được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ thường đi ngoài ngay sau mỗi cữ bú là vì sữa mẹ được tiêu hóa rất nhanh. Do sữa mẹ là chất lỏng nên việc bé ra phân lỏng và mềm là điều hoàn toàn bình thường.

Sao con nấc liên tục

Các chuyên gia vẫn chưa khẳng định được tại sao trẻ sơ sinh lại hay bị nấc. Có người cho rằng đó là do não và cơ hoàng, cơ bụng điều khiển hô hấp của bé không phối hợp nhịp nhàng. Nhưng bất kể một nguyên nhân nào thì nấc cụt ở trẻ là điều hoàn toàn vô hại và các mẹ không cần thiết phải quá lo lắng trước hiện tượng này.

Lo lắng khi bé khóc

Hệ thống thần kinh và não bộ của trẻ sơ sinh chưa trưởng thành và khiến bé rất dễ cảm thấy sợ hãi là hai nguyên nhân chính vì sao bé có rất nhiều nước mắt. Khóc là cách giao tiếp duy nhất giữa bé và mẹ để bé bộc lộ một đòi hỏi chính đáng của mình. Khi bé khóc mẹ đừng quá lo lắng mà hãy tìm hiểu nguyên nhân, nựng nịu và chiều chuộng bé vì khóc không làm bé đau một chút nào. Khi một nhu cầu được đáp ứng, hiện tượng này sẽ tự nhiên chấm dứt mà thôi.

Lo lắng khi bé có chút mụn nhọt trên da mặt

Do hormone của mẹ vẫn còn chạy nhảy trong cơ thể của con nên một số em bé có mụn trứng cá, hiện tượng thường xuất hiện trong khoảng thời gian từ 2 tuần sau sinh đến 2 tháng tuổi. Những mụn trứng cá nhỏ li ti này các mẹ hay gọi là mụn sữa và hoàn toàn vô hại đối với trẻ. Mẹ chỉ cần chăm chỉ vệ sinh da mặt cho bé là làn da của bé sẽ được bảo vệ an toàn.

Lo lắng khi thấy ti của bé bị sưng

Một vài hormone trong cơ thể mẹ có thể dẫn đến hiện tượng chu kỳ mini cho bé và cũng có thể làm cho hai ti của bé hơi sưng lên. Nhưng hiện tượng “sưng ti” này có thể xảy ra ở cả bé trai và bé gái. Điều này có thể làm mẹ ngạc nhiên nhưng đây là điều hoàn toàn bình thường và mẹ không cần thiết phải lo lắng. Ti của bé sẽ trở nên bình thường theo thời gian bé lớn lên..

Lo lắng khi bé lúc nào cũng hắt hơi
Trẻ sơ sinh nào cũng có một cái mũi tí hon các mẹ nhé! Chỉ một chút nhầy hoặc một hạt bụi nhỏ cũng có thể khiến bé hắt xì. Khi mang bầu, thai nhi sống trong môi trường nước ối của mẹ và vì thế sẽ có một chút tắc nghẽn khi bé chào đời. Trừ phi hắt hơi biểu hiện của cảm lạnh đi kèm với sổ mũi và đờm thì mẹ hoàn toàn không cần phải lo lắng trước những “cú hắt xì” vô hại của bé.

Theo Khampha

Đi tìm nguyên nhân bệnh vàng da ở trẻ em

Khi trẻ sinh ra được 2 ngày, trẻ được chuẩn đoán vàng da sinh lý, và bình thường chỉ sau 1 đến 2 tuần sẽ hết, nhưng thực tế nếu trẻ vẫn bị vàng da. Vậy trẻ có bị vàng da bệnh lý không? Cách điều trị chăm sóc vàng da ở trẻ sơ sinh thế nào?

Có nhiều nguyên nhân có thể gây vàng da, nhưng thông thường trẻ sơ sinh hay bị vàng da sinh lý sẽ hết trong vài tuần tuổi, song không loại trừ vàng da do bệnh lý, vì con bạn đã hơn 1 tháng tuổi. Để biết chắc chắn, bạn nên cho con đi xét nghiệm máu ở các cơ sở y tế có đủ điều kiện.

Nguyên nhân vàng da ở trẻ sơ sinh

Vàng da bệnh lý thường do tăng bilirubin gián tiếp: do tán huyết, thiếu men G6PD, suy giáp, bệnh nhiễm trùng mà hay gặp nhất là nhiêm trùng tiểu…

Sau khi loại trừ các nguyên nhân bệnh lý, thì có thể cháu bị vàng da lành tính do sữa mẹ. Trong trường hợp này, bé bú mẹ hoàn toàn, bú tốt, tăng cân bình thường, không có bằng chứng tán huyết.

Vàng da do sữa mẹ không đáng lo, sẽ tự hết sau 6 tuần đến 3 tháng tuổi. Nếu thử ngừng sữa mẹ 1 – 3 ngày, cho uống tạm sưa bột công thức bằng cách bón thìa thì cũng làm giảm vàng da.

Đây cũng là một cách để thử xem có phải bé bị vàng da do sưua mẹ hay không. Phơi nắng cũng làm giảm bớt bilirubin, giảm bớt vàng da.

Bạn không nói rõ về tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển của cháu, đồng thời chưa có đầy đủ các xét nghiệm cần thiết nên chưa thể xác định nguyên nhân vàng da của con bạn. Bạn nên đưa cháu đi khám sớm để có hướng chẩn đoán và điều trị thích hợp.

(Theo dantri)

Trẻ sơ sinh dùng kháng sinh có nguy cơ mắc bệnh chàm

Một nghiên cứu mới tại Anh phát hiện, trẻ dùng thuốc kháng sinh trong năm đầu đời thì nguy cơ mắc bệnh chàm tăng 40%, theo Daily Mail ngày 20.6.

Nhóm nghiên cứu tại Anh thuộc Trường cao đẳng King, Trường đại học Nottingham và Bệnh viện Aberdeen Royal đã xem xét lại 20 cuộc nghiên cứu với khoảng 293.000 trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Đây là cuộc xem xét đầu tiên có quy mô lớn và hệ thống về mối quan hệ giữa việc dùng kháng sinh trong năm đầu đời của trẻ và nguy cơ mắc bệnh chàm.

tre-so-sinh-dung-khang-sinh-co-nguy-co-mac-benh-cham

Họ nhận thấy những trẻ dùng thuốc kháng sinh trong năm đầu đời thì tăng 40% nguy cơ mắc bệnh chàm, đặc biệt kháng sinh phổ rộng càng có tác động rõ rệt.

Nên cân nhắc cho trẻ dưới 1 tuổi dùng thuốc kháng sinh, đặc biệt là những trẻ mà lịch sử gia đình mắc bệnh chàm hoặc các bệnh dị ứng, theo tiến sĩ Carsten Flohr, một thành viên của nhóm nghiên cứu.

Theo thanh niên

Mẹo giúp bạn xử lý nghẹt mũi cho bé

Bạn cần có dung dịch muối sinh lý và một dụng cụ hút mũi hình bóng đèn để làm giảm nghẹt mũi cho bé.
Chuẩn bị: Lọ nước nhỏ mũi muối sinh lý; dụng cụ hút mũi hình bóng đèn; khăn xô; phòng tắm bốc hơi nước nóng.

Lưu ý: Bạn có thể tự làm dung dịch nước muối nhỏ mũi với một thìa muối hòa trong một cốc nước ấm. Không dùng thuốc nhỏ mũi cho bé.

Chỉ nên nhỏ mũi và hút mũi cho bé khoảng 15 phút trước bữa ăn.

nghet-mui

Thực hiện:

– Trước tiên, bạn bế bé lên, nhỏ nước muối lần lượt vào hai bên mũi cho bé.

– Dùng dụng cụ hút mũi, hút từng bên mũi cho bé. Nếu bé hắt hơi và tống ra nước mũi thì nên loại bỏ dụng cụ hút mũi ra ngoài. Sau đó, dùng khăn mềm, lau sạch cho bé.

– Đưa bé vào phòng tắm đang bốc hơi. Giữ để bé được an toàn khi hít hơi nước nóng trong phòng tắm.

– Cho bé ra ngoài, có thể đặt bé nằm cao đầu trong cũi bằng cách cuộn tròn 2 chiếc khăn tắm lại rồi kê dưới đệm cũi. Hoặc cho bé ngồi trong xe đẩy, với phần đầu xe đẩy được nâng cao.

Những sai lầm bà mẹ hay mắc phải về chăm sóc da trẻ em

ô tình, mẹ có thể khiến bé có thể mắc các bệnh về da.

Thói quen, kinh nghiệm của bà và mẹ

Trước khi sinh con, mẹ đã đọc và nghiên cứu nhiều tài liệu, lại được nghe bà truyền lại kinh nghiệm. Sau khi sinh con, mẹ học tập kinh nghiệm dân gian, mua lá về tắm cho con. Mướp đắng, kinh giới, lá chanh hoặc cây sài đất… là những lá được lựa chọn nhiều nhất.

Mẹ không lường trước thực tế các loại cây có bị phun thuốc sâu không, bé có bị dị ứng với các loại lá này không. Vô tình, mẹ đã khiến bé có thể mắc cách bệnh về da.
datreem
Sai lầm cơ bản nữa là, khi thấy bé bị rôm sảy hay hăm kẽ… các mẹ thường cố gắng tắm cho bé nhiều lần trong ngày với mong muốn cho con nhanh chóng không bị hăm. Đây không phải là biện pháp và phương thuốc chữa bệnh hữu hiệu cho con, đôi khi lại có thể gây phản tác dụng.

Nếu  mẹ nào hiện đại hơn, có thể mua các loại kem, sữa tắm cho con. Nhưng nhiều mẹ lại cứ chọn đại  một loại sữa nào đó mà không biết có hợp với bé con không. Thế nên, có thể con cũng sẽ bị dị ứng với các loại sữa tắm và bị các bệnh về da.

Khi các bé gặp các bệnh về da, mẹ không nên lo lắng quá hoặc coi đó là chuyện bình thường, đứa trẻ nào cũng bị. Những bệnh về da lúc nhỏ có thể để lại những hệ quả về da cho bé khi lớn lên đấy!

Các bệnh về da phổ biến của bé dưới 1 tuổi

Nổi rôm sảy: Nguyên nhân là do da bị bít kín các ống bài tiết mồ hôi bên trong. Trên da trẻ xuất hiện nhiều hạt nhỏ, có màu hơi hồng, chứa nước, cứng, sờ vào sẽ có cảm giám nham nhám ở tay. Những hạt này thường nổi thành từng đám, tập trung ở vùng ra nhiều mồ hôi như cổ, cánh tay, cẳng chân… Rôm sảy gây ngứa từng cơn làm trẻ con bứt rứt, khó chịu.

Hăm kẽ: Là những mảng đỏ, hơi ướt ở vùng nếp gấp như cổ, nách, cánh tay, 2 bên mông. Nguyên nhân là do pH da tăng cao, và độ pH da càng tăng cao càng làm gia tăng bệnh hăm kẽ ở trẻ.

Ban sữa: Những nốt nhỏ, có màu trắng như sữa, thường nổi nhiều ở vùng mặt nhất là mũi, chân mày. Những bàn này do sự thay đổi hormone thường thấy ở trẻ mới sinh.
Ban đỏ: Những nốt đỏ, to hơn so với nốt rôm sảy, nhìn giống như nốt muỗi cắn. Một số có kèm đầu mủ trắng hay vàng. Loại ban này thường nổi thành từng mảng trên thân thể bé, có khi xuất hiện ở đầu hay tay, chân.

Những bệnh trên thường tự biến mất sau một thời gian ngắn nếu trẻ được vệ sinh thường xuyên và đúng cách. Riêng bệnh rôm sảy thường xuất hiện trên diện rộng và kéo dài. Ban đầu bệnh không nguy hiểm nhưng nếu kéo dài, trẻ sẽ gãi nhiều do ngứa ngáy khó chịu. Hậu quả là da trẻ sẽ bị viêm nhiễm, tổn thương.

Để đề phòng các bệnh về da cho con, sau khi sinh, mẹ nên nhờ y tá tắm cho con đến khi con rụng rốn. Những bác sỹ, y tá có kinh nghiệm sẽ chăm sóc làn da nhạy cảm cho bé thật vệ sinh và an toàn. Còn mẹ có thể tranh thủ học hỏi cách chăm sóc đó và hỏi thêm những kinh nghiệm của bác sỹ và y tá.

Mẹ nên chọn loại sữa tắm phù hợp với da của trẻ, không những làm sạch mà còn phải bảo vệ và nuôi dưỡng làn da vốn đã rất mỏng manh của trẻ. Một số gợi ý cho các bà mẹ là sữa tắm chứa hai thành phần tự nhiên Lactoserum và Acid Lactic – Sữa tắm lactacyd BB – hiện đang được nhiều bà mẹ trên thế giới tin dùng.
Hãy tắm cho con trong nước ấm khoảng 370C và hãy thử độ nóng bằng khuỷu tay của mẹ. Hãy gội đầu cho bé trước rồi tắm xuống thân, đồng thời hãy nâng niu bé, hát cho bé nghe nhạc trong khi tắm. Bởi khi ấy, bé cảm nhận được tình yêu thương của mẹ một cách trực tiếp và rõ ràng nhất.
Theo afamily.vn

Viêm phế quản phổi ở trẻ em

Thời tiết thay đổi, có rất nhiều bệnh mà trẻ em hay mắc phải như viêm phổi, sốt, sổ mũi, tiêu chảy… Viêm phế quản phổi là một trong số các bệnh hay gặp khi thay đổi thời tiết.

Viêm phế quản phổi là tổn thương viêm cấp diễn lan toả cả phế nang, mô kẽ lẫn phế quản, thường do các tác nhân virut khởi đầu, sau đó bội nhiễm vi khuẩn hoặc do cả hai. Bệnh nhân có tiền sử nhiễm khuẩn nhẹ đường hô hấp trên như ho, sổ mũi rất dễ bị viêm phế quản phổi. Bệnh viêm phế quản phổi giai đoạn khởi phát trẻ chỉ bị sốt nhẹ, người mệt mỏi, quấy khóc, ăn kém. Ở giai đoạn toàn phát trẻ sốt cao hoặc có thể lại bị hạ nhiệt độ, ho khan, chảy nước mũi và bắt đầu xuất hiện đờm. Lúc này, trẻ thấy khó thở, cánh mũi phập phồng, thở nhanh. Đối với trẻ sơ sinh, trẻ đang tuổi bú có những triệu chứng và dấu hiệu trướng bụng, da xanh tím, giảm trương lực cơ hoặc sốc…  Trẻ thấy mệt mỏi, cơ thể gầy yếu, nghe phổi thấy có ran ấm, ran rít, ran ngáy rải rác ở một hoặc hai bên phổi chụp Xquang có nốt mờ rải rác ở hai phổi; xét nghiệm máu, bạch cầu đa nhân trung tính cao.
1298022306-viem-phe-quan1
Điều trị: Bệnh viêm phế quản   phổi nếu được phát hiện và điều trị đúng, sớm sẽ rất tốt. Các bác sĩ sẽ chống nhiễm khuẩn cho bệnh nhi bằng cách dùng kháng sinh có thể uống, tiêm (theo chỉ dẫn của bác sĩ) nhưng tốt nhất nên dùng dưới dạng siro và nên cho trẻ uống trước khi bú, khi ăn như thế tránh để trẻ bị kích thích tiêu hoá gây nôn trớ thức ăn. Đối với trẻ sơ sinh, trẻ từ 2 tháng tuổi trở xuống nên đưa trẻ tới bệnh viện để có điều kiện chăm sóc, điều trị tích cực hơn. Tại cơ sở y tế, bác sĩ sẽ điều trị các rối loạn điện giải tim mạch, nôn trớ, khó thở cho bệnh nhi.

Chăm sóc:

Khi bị viêm phế quản phổi, nên chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ một cách toàn diện ngay từ giai đoạn đầu. Như thế sẽ tránh khi các dấu hiệu bệnh toàn phát, trẻ bị nặng hơn sẽ khó chữa, thậm chí sẽ dẫn tới tử vong. Ngay từ khi có thai, các bà mẹ nên tuân thủ đúng chế độ để tránh trường hợp sinh non, trẻ sẽ nhẹ cân. Bởi vì,  những đứa trẻ này khi sinh ra dễ mắc các các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là viêm phế quản phổi. Thực hiện tốt các chế độ vô trùng khi đỡ đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh. Đảm bảo môi trường sạch sẽ, thoáng mát cho trẻ…

Trẻ bị viêm phế quản phổi vẫn phải bú mẹ, nếu trẻ không tự bú thì phải vắt sữa ra bình, cốc hoặc cho trẻ ăn sữa ngoài nếu mẹ không có sữa. Bên cạnh đó,việc bù lại lượng nước đã mất do sốt cao, nôn trớ, tiêu chảy cho trẻ bằng cách cho uống nhiều nước hơn (tốt nhất cho uống oresol) là việc làm cần thiết. Không nên chườm ấm hay chườm lạnh, tránh làm tăng nhu cầu ôxy. Khi viêm phế quản phổi, trẻ bị ho sẽ rất rát cổ, làm dịu họng trẻ bằng cách cho trẻ uống nước quất, lá hẹ, mật ong, cả ba thứ đó cho vào chén, hấp cách thuỷ. Việc sử dụng kháng sinh dứt khoát phải tuân thủ chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ. Để đảm bảo chế độ dinh dưỡng, các bà mẹ vẫn duy trì chế độ ăn bình thường cho con (bú mẹ, ăn sữa bằng thìa cốc nếu trẻ không bú được, ăn tăng cường nếu trẻ trong thời kỳ ăn dặm…) Trong khi trẻ bị viêm phế quản phổi, bố mẹ không hút thuốc lá trong nhà, tránh cho trẻ ra ngoài vì bụi và các ô nhiễm khác khiến bệnh sẽ nặng hơn.

Nguồn eva

Bảo vệ răng bé không ngả màu

Một hàm răng trắng sáng, đều đẹp và khỏe mạnh sẽ giúp cho trẻ có khuôn mặt khả ái và nụ cười xinh tươi, khiến trẻ tự tin hơn lên và cười nhiều hơn.
Màu răng bình thường do yếu tố di truyền quyết định. Răng vĩnh viễn bình thường có màu trắng trong. Màu răng thường không đều ở tất cả các răng, các răng nanh thường có màu sậm hơn.

Có rất nhiều nguyên nhân gây ngả màu răng
danhrang.jpg4
Nguyên nhân phổ biến nhất là do trẻ không được bố mẹ quan tâm chăm sóc răng miệng đúng cách, không chải răng thường xuyên, khiến cho các loại vi khuẩn hay mảng bám hình thành trên bề mặt răng của trẻ lâu ngày khiến răng trẻ ngả màu. Trong quá trình ăn uống,các loại màu sắc trong thực phẩm sẽ bám vào bề mặt răng. Các vết dính này thường bám vào những trũng, rãnh trên bề mặt răng. Những vết dính này có thể có nhiều màu khác nhau như: vàng đậm, nâu nhạt đến nâu đậm, hay thậm chí có màu đen. Nếu vệ sinh răng miệng không đúng cách thì lâu ngày bề mặt răng trẻ sẽ sậm màu.

Men răng kém (sinh ngà bất toàn hay thiểu sản men): men răng phát triển không đầy đủ, chất lượng men răng kém có thể do gen thường làm cho răng trẻ bị chuyển màu.

Các bệnh lý tổn thương ở răng như: sâu răng, viêm nướu là những yếu tố tác động làm ngả màu răng. Sâu răng sẽ phân hủy các tế bào men, ngà răng dần dần, kết hợp với màu sắc trong thực phẩm, hoặc răng bị chết tủy sẽ tạo nên những lỗ sậm màu hoặc đen trên răng.
Do trẻ có thói quen bú bình: không những khiến trẻ dễ bị sâu răng hơn mà còn làm cho răng dễ bị ngả màu.

Bên cạnh đó, việc cho trẻ uống những loại thuốc dưới dạng dung dịch lỏng có chứa hàm lượng sắt lớn, cũng là một trong những lý do chính khiến cho răng bị ngả màu.

Ngoài ra, răng trẻ cũng có thể bị ngả màu do việc sử dụng các loại thuốc kháng sinh như: tetracycline, minocycline, oxytetracyclin và doxycycline khi người mẹ mang thai. Nếu bà mẹ uống các loại thuốc này khi đang mang thai hay trẻ uống thuốc này trước 7 – 8 tuổi thì có thể làm răng trẻ sậm màu. Tùy thuộc vào thời điểm và thời gian dùng thuốc, liều lượng và loại thuốc kháng sinh mà răng trẻ ngả màu có nhiều mức độ. Màu răng có thể trở nên vàng, nâu hay xám xanh.

Sử dụng quá nhiều fluor cũng khiến răng trẻ ngả màu. Nhiều bậc cha mẹ cho rằng, trẻ sử dụng kem đánh răng chứa càng nhiều fluor càng tốt để phòng ngừa sâu răng. Sai lầm này có thể dẫn đến những chấm trắng đục trên răng của trẻ, là dấu hiệu đầu tiên cho thấy răng bé bắt đầu ngả màu.

Do một số bệnh khác, trẻ có thể phát triển sự đổi màu trong răng như trẻ mắc phải chứng bệnh vàng da là chứng bệnh gây nên ngả màu răng ở trẻ.

Các triệu chứng của răng bị đổi màu

– Có những vết ố màu vàng, nâu, xám hay đen trên răng.

– Hơi thở của trẻ có mùi hôi.

– Tích tụ nhiều chất bẩn trên răng, có nhiều mảng bám vôi răng.

– Nướu trẻ sẽ có dấu hiệu bị ửng đỏ.

– Trong miệng trẻ thường có nhiều răng bị sâu.

Trên đây là những triệu chứng thường đi kèm với răng trẻ bị đổi màu.

Làm thế nào để hàm răng trẻ không bị ngả màu?

Phải giữ vệ sinh răng miệng tốt cho trẻ và chăm sóc răng miệng cho trẻ đúng cách. Răng chỉ khỏe và đẹp nếu biết làm sạch đúng cách. Chải răng đúng cách và đúng thời điểm, tốt nhất trẻ nên chải răng ngay sau khi ăn, ngay cả khi chỉ ăn bánh kẹo, hoặc ăn vặt.

Không nên để cho trẻ có thói quen bú bình và ngậm bình sữa hoặc nước hoa quả ngậm trong miệng những lúc trẻ đi ngủ nhất là ban đêm. Tránh tình trạng vừa ăn uống vừa ngủ, có thể làm vi khuẩn đọng lại trong miệng, gây ngả màu răng.

Chế độ ăn ngọt, ăn nhiều đồ ngọt, ăn nhiều lần trong ngày và chểnh mảng vệ sinh răng miệng sẽ gây sâu răng. Do vậy, nên hạn chế cho trẻ uống các loại đồ uống có đường sau khi đã đánh răng. Uống nước ngọt trước khi đi ngủ, sau khi đã đánh răng sẽ làm cho răng dễ ngả màu và sâu răng.

Dùng fluor trong nước súc miệng hay uống viên fluor phải có sự hướng dẫn của bác sĩ. Hầu hết trong kem đánh răng đều có fluor và chỉ sử dụng kem này cho trẻ đã lớn hơn 3 tuổi. Với trẻ dưới 3 tuổi, nên cẩn thận khi sử dụng kem đánh răng trẻ em có chứa fluor, chỉ dùng một lượng kem đánh răng nhỏ bằng hạt đậu khi đánh răng cho bé, tránh để trẻ nuốt kem đánh răng. Không được để trẻ đánh răng mà không có sự giám sát của người lớn. Việc nuốt thường xuyên kem chứa fluor sẽ gây ngộ độc có thể khiến trẻ mắc chứng nhiễm fluor, men răng trở nên đục và có thể bị nhuộm màu. Trường hợp nặng có thể gây khiếm khuyết cấu trúc răng.

Cha mẹ không được tự ý mua kháng sinh tetracycline cho con uống, không cho trẻ dưới 10 tuổi sử dụng bất kỳ loại tetracycline nào, vì những loại thuốc này sẽ ảnh hưởng đến men răng của trẻ gây tình trạng vàng răng vĩnh viễn do thuốc.

Để trẻ có một hàm răng trắng, đẹp và khỏe, khi trẻ được 1 tuổi nên thường xuyên đưa trẻ đi khám răng định kỳ mỗi 6 tháng một lần, để kịp thời phát hiện bất kỳ những dấu hiệu bất thường ở giai đoạn sớm. Không nên chờ đến khi trẻ có răng sâu hay răng đổi màu mới đến bác sĩ Răng hàm mặt.

Nếu dùng thuốc sắt cho trẻ em bị thiếu máu do thiếu chất sắt, khi cho trẻ uống thuốc sắt dạng sirô, không cho thuốc tiếp xúc trực tiếp với răng sau đó cần uống nhiều nước, súc miệng kỹ. Nên uống thuốc bằng ống hút để tránh răng bị đen do thuốc có chứa sắt.
Theo giadinh

Bé biếng ăn vì ăn nhiều cháo xay nhuyễn

Bình thường bé ăn uống rất tốt. Bỗng hơn một tuần nay, bé chán ăn, chán bú mà không hiểu nguyên nhân vì sao?

Bé trai của em được 11 tháng, được 8.8 kg (lúc sinh bé là 2.4kg), dài 75cm. Trước đây lịch ăn uống của bé như sau:

– Sáng: ăn 1 hũ váng sữa

– Bú 1 bình 120ml, rồi ngủ

– Dậy: ăn 1 chén cháo đầy (xay sinh tố như bột)

– Trưa: uống 1 trái cam

– Bú 1 bình 120ml rồi ngủ

– Chiều dậy ăn 1 chén cháo đầy

– Tối bú 1 bình 120ml, đêm bú thêm khoảng 2-3 bình sữa nữa (cũng 120ml). Bé không có bú sữa mẹ, bú bình ngay từ lúc mới sinh.
Bỗng hơn một tuần nay, bé chán ăn, chán bú.

áng không ăn váng sữa. Trưa: cháo ăn không tới nửa chén, cam lúc uống, lúc không. Chiều: cháo chỉ ăn vài muỗng, nhiều khi không ăn cháo cữ chiều (cứ đút vào là mím chặt môi, hoặc chịu há miệng thì sẽ nhả ra ngay sau đó). Tối chỉ bú 1 bình 120ml, rồi thêm 2 lần bú nữa, nhưng mỗi lần chỉ bú 50ml.

Chắc do chế độ ăn uống không hợp lý nên em thấy trên gần mỏ ác của bé hõm vào. Mong bác sĩ tư vấn dùm em chế độ dinh dưỡng của bé như hiện nay, nếu bé cứ ăn, bú ít vậy thì có ổn không?

Có nên dùng thuốc để kích thích bé ăn ngon không? Bé 11 tháng mà chỉ mới có 2 cái răng, vậy là có chậm hơn những bé khác nhiều không? Bé cũng chưa biết bò hay đứng. Mong bác sĩ tư vấn giúp em.

(Lưu Ngọc Phương Mai – mailuu…@yahoo.com).
be-an-chao-say
Trả  lời:

Vì bé đẻ non tháng nên nguy cơ còi xương rất cao, theo các dấu hiệu em mô tả thì cháu đã bị còi xương. Khi còi xương cũng gây tình trạng biếng ăn, ngoài ra vì cứ ăn cháo xay nhuyễn mãi như vậy cũng là nguyên nhân gây biếng ăn ở trẻ, em xem cháu có đang chuẩn bị mọc răng không (lợi có bị sưng không ). Tốt nhất em nên cho bé đi khám BS để được điều trị bệnh còi xương và tìm nguyên nhân làm trẻ biếng ăn.
Còn về chế độ ăn uống thì nên chuyển sang ăn cháo hạt, em nấu cháo trắng sau đó mỗi bữa ăn thay đổi các loại thực phẩm khác nhau để đổi khẩu vị cho trẻ, nếu trẻ vẫn không ăn thì có thể cho uống thêm kẽm và thuốc đa vitamin theo chỉ dẫn ở lọ thuốc.
Theo afamily.vn

Làm súp cho bé khi mùa đông về

Súp bí ngô và bông cải xanh là một món ăn ngon lý tưởng dành cho bé từ 6 – 9 tháng tuổi.

Súp bí ngô và bông cải xanh là một món ăn ngon lý tưởng dành cho bé từ 6 – 9 tháng tuổi. Hai loại thực phẩm dùng để nấu súp đều rất sẵn trong mùa đông này vì vậy mẹ sẽ không phải lo lắng để bé ăn rau quả trái mùa dễ chứa chất bảo quản.

Bí đỏ chứa nhiều chất caroten có tính chất chống ôxy hóa. Màu vàng cam càng nhiều thì hàm lượng caroten càng cao rất tốt cho trẻ em, đặc biệt là khi trẻ bị táo bón. Súp lơ xanh giàu sắt, canxi và vitamin C rất tốt cho hệ xương của bé.
sup-cho-be
Để làm món súp này cho bé, mẹ cần vài miếng bí đỏ, 1 – 2 bông súp lơ xanh, 1 muỗng canh dầu ôliu, 1/3 chén nước, lò nướng đến 425 độ.

Cách làm: trộn những miếng bí đỏ với dầu ôliu và nướng cho đến khi bí chín mềm.

Trong lúc chờ bí đỏ chín, mẹ cắt nhỏ bông súp lơ cho vào nồi hấp cách thuỷ.

Sau khi cả bí đỏ và súp lơ đã chín, mẹ cho cả hai loại rau này vào máy xay, thêm nước và nghiền cho thật nhuyễn thành kết cấu vừa miệng với bé. Món ăn có vị ngọt dịu của bí đỏ, béo của dầu ôliu nhưng lại dễ ăn vì có thêm súp lơ chống ngấy. Mẹ hãy làm cho bé ăn 1 tuần một lần với món ăn bổ dưỡng này nhé!
Theo afamily.vn

Thận trọng tránh da bị kích ứng mùa đông cho bé

Đến mùa đông, có thể dễ dàng nhận thấy da bé khô hơn. Dưới đây là một số hướng dẫn từ tiến sĩ Sarah Javis để đảm bảo cho bé một làn da khỏe mạnh vào mùa đông.

Vấn đề về da mùa đông

Bé đặc biệt dễ bị khô da, kích ứng da vào mùa đông. Một số yếu tố góp phần làm khô da bé là: Quạt sưởi, đèn sưởi làm không khí trong phòng bị khô và làm khô da bé. Bàn tay và khuôn mặt của bé là nơi ít được bảo vệ nhất; vì thế, chúng dễ bị khô và nứt nẻ. Gió cũng như bệnh cảm cũng gây ra khô nẻ.
da-be
Gợi ý đơn giản giúp giữ ẩm cho da bé:

– Không tắm cho bé nhiều hơn mỗi 2 ngày một lần và giảm thời gian tắm xuống.

– Không ủ ấm bé quá vì điều này gây đổ mồ hôi khiến da bị kích ứng.

– Nhớ rằng sự chênh lệch giữa nhiệt độ bên ngoài trời và trong phòng là rất lớn, nhất là trong mùa đông. Mặc cho bé nhiều lớp áo mỏng giúp bạn điều chỉnh quần áo cho bé thích hợp.

– Không mặc áo len bên trong, phải mặc áo lót rồi mới đến áo len.

Chuyện tắm rửa của bé

Làn da ở bé là khá mỏng manh và rất dễ bị mất nước. Vì thế, chăm sóc da mùa đông cho con càng cần đặc biệt lưu ý: Với bé, khi thay tã hoặc tắm chỉ cần dùng nước ấm sạch là đủ, không cần xà phòng hay sữa tắm. Khi bé được vài tháng tuổi, bé có thể bị khô da hoặc bị chàm. Lúc đó, bạn có thể dùng sữa tắm không mùi dành cho da bị chàm để tránh khô da cho bé. Sau khi tắm, có thể thoa kem dưỡng ẩm không mùi trước khi mặc quần áo cho bé.

Tủ quần áo mùa đông của bé

Hiện tại có rất nhiều kiểu dáng và chất liệu trang phục dành cho bé. Nhưng bạn cần nhớ rằng, da của bé rất mỏng và dễ bị kích ứng. Do đó, nên chọn quần áo có thể hút mồ hôi và thông thoáng:

– Áo len có thể gây kích ứng da và khiến bệnh chàm xấu đi. Kể cả da đầu của bé cũng có thể bị kích ứng do mũ len.

– Nên chọn quần áo vải tự nhiên thay cho vải tổng hợp. Vải tự nhiên giúp da dễ thở, ngăn ngừa đổ mồ hôi, vì thế, hạn chế kích ứng da.

– Sử dụng nhiều lớp quần áo mỏng hơn là một lớp quần áo dày. Điều này giúp bạn điều chỉnh quần áo của bé dễ dàng hơn ở những nền nhiệt khác nhau.

– Luôn đội mũ cho bé khi ra ngoài trời.

Trị các bệnh về da phổ biến

Rất ít bé sơ sinh có được làn da hoàn hảo. Khoảng 1/3 bé chào đời với những rắc rối trên da nhưng hầu hết trong số đó là không có gì phải lo lắng. Trong vài tháng đầu đời, bé có thể nổi ban hoặc mắc các bệnh về da. Vài mẹo dưới đây có thể giúp đỡ:

– Nghe có vẻ lạ nhưng nước có thể làm khô da của bé. Đối với những tháng đầu tiên trong đời, bé không cần được tắm mỗi ngày. 2-3 ngày một lần tắm là tốt nhất. Nếu con bạn bị chàm, bác sĩ có thể tư vấn về các sản phẩm tắm cho bé.

– Khá nhiều bé được sinh ra với mụn nhỏ màu trắng (hoặc màu đỏ) quanh mũi, môi và mắt.  Chúng được gọi là milia (hoặc các mụn sữa) và không cần điều trị trừ khi những nốt mụn ấy bị viêm.

theo eva.vn

Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ

Mỗi trẻ nhỏ có những mốc phát triển khác nhau. Một đứa trẻ chậm phát triển ở một kỹ năng nào đó thường có sự bứt phá và nhanh chóng bắt kịp với những đứa trẻ khác cùng trang lứa

Có nhiều yếu tố gây ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của một đứa trẻ. Bao gồm:

– Gene: Nếu lúc nhỏ bố hoặc mẹ của bé chậm phát triển như chậm biết đi, chậm biết nói thì có thể bé cũng sẽ vậy.

– Sức khỏe: Bé sẽ chậm phát triển nếu sức khỏe của bé không đảm bảo

– Môi trường: Bé cần có một môi trường tốt để kích thích sự phát triển

– Giới tính: Trung bình, những bé gái phát triển nhanh hơn những bé trai về ngôn ngữ và kỹ năng xã hội hơn các bé trai.

– Thứ tự sinh: Yếu tố này cũng khá quan trọng. Ví dụ, những đứa trẻ đầu lòng thường thông minh hơn những trẻ sinh sau.

– Stress: Những thay đổi trong gia đình có thể có tác động đến quá trình phát triển của trẻ ví dụ như: mẹ có em bé, chuyển nhà…

Cân nặng

Trong những tháng đầu tiên trong cuộc đời, bạn nên đưa bé đi kiểm tra thường xuyên để đảm bảo cho sự phát triển. Cân nặng trung bình của một đứa trẻ khi sinh ra là 3,5kg nhưng cân nặng từ 3-4kg cũng được xem là bình thường.

be-phat-trien

Chiều cao

Cân nặng không phải là yếu tố duy nhất để xác định tốc độ phát triển của một đứa trẻ (chiều cao cũng có liên quan đến chiều cao của bé). Cân nặng, giới tính và tuổi thai phụ thuộc vào chiều cao của bé. Sau khi chào đời, trẻ sẽ phát triển rất nhanh trong 3 tháng đầu tiên. Và sau đó tăng trung bình 15cm mỗi 9 tháng.

Điều gì quyết định đến các chỉ số tăng trưởng của trẻ

Cân nặng của bé khi sinh được xác định bởi quá trình khi bé còn nằm trong bụng mẹ. Có một số yếu tố ảnh hưởng đến cân nặng của bé bao gồm:

– Gene: Chiều cao của bố mẹ ảnh  hưởng đến chiều cao sau này của trẻ. Yếu tố di truyền cũng sẽ quyết định đến chiều cao của bé.

– Giới tính: bé trai thường cao hơn bé gái

– Thứ tự sinh: những đứa trẻ đầu lòng thường nhẹ hơn những đứa trẻ sinh sau.

– Sức khỏe: nếu như khi mang bầu mẹ ăn uống không điều độ và tiêu thụ ít calo thì bé sẽ ít cân hơn. Hút thuốc, uống rượu bia cũng có tác động tiêu cực đến cân nặng của bé.

– Thời gian mang thai: trong những tuần cuối khi mang thai, tất cả những phát triển bào thai chính được hoàn thành và bé sẽ tập trung vào phát triển cơ thể. Một đứa bé sinh đủ 9 tháng 10 ngày sẽ nặng cân hơn những trẻ sinh thiếu tháng.

Những đứa trẻ sinh ra nhẹ cân có thể mắc phải những vấn đề liên quan đến sức khỏe như cao huyết áp hay các vấn đề về nhau thai làm cản trở hấp thụ dinh dưỡng. Những đứa trẻ nặng dưới 2.27kg cần có sự chăm sóc đặc biệt hơn.

Những ngày đầu
Sau khi sinh bé sẽ giảm khoảng 6% cân nặng khi sinh nhưng sẽ lấy lại cân nặng trong khoảng 10-14 ngày. Điều này là do phân xu trong bụng và chất lỏng có trong cơ thể đã bị mất đi. Mặc dù sữa non chỉ có một số lượng ít nhưng có rất cần thiết cho trẻ sơ sinh, bao gồm cả yếu tố bảo vệ bé khỏi lây nhiễm.  Và sau đó, bé sẽ tăng khoảng 200g/tuần trong vòng 3 tháng. Sau đó thì tốc độ có giảm đi khoảng 150-170g/ tuần trong vòng 6 tháng.
Theo eva.vn

Điều trị cho trẻ sơ sinh bị đục thủy tinh thể

“Con tôi bị đục thủy tinh thể bẩm sinh cả hai mắt. Tới tháng thứ 10, cháu được mổ thay thủy tinh thể mắt trái, nhưng thị lực chỉ được 1/10…”

“… Theo kết quả kiểm tra gần đây, mắt trái bị mờ đục, bao thủy tinh thể dày lên. Còn mắt phải chưa điều trị gì, thị lực 4/10. Hiện cháu 3 tuổi rưỡi, không đeo kính. Tôi cần làm gì để cứu con mình?” (Hoàng)

duc-thuy-tinh-the-bam-sinh-o-tre

Con anh chị phẫu thuật đục thuỷ tinh thể mắt trái lúc 10 tháng tuổi là hơi muộn. Thời điểm lý tưởng nhất cho ca phẫu thuật này là sau khi sinh vài tuần. Tuy nhiên, ở thời điểm 10 tháng tuổi, cũng có những ca mổ đục thuỷ tinh thể thành công, thị lực có thể lên tới 6/12 hoặc 6/18. Tuy nhiên, trẻ cần đeo kính ngoài hoặc kính áp tròng.

Con anh đã hơn 3 tuổi mà vẫn không đeo kính thì dù thuỷ tinh thể nội nhãn chính xác đến đâu thì thị lực cũng không thể đạt mức độ tối đa. Miếng che mắt và kính đeo ngoài là rất cần thiết để nâng cao thị lực bởi mắt trái sẽ bị nhược thị nghiêm trọng. Điều trị chứng nhược thị sớm cũng quan trọng không kém phần phẫu thuật đục thuỷ tinh thể.

Một nguyên nhân khác gây thị lực kém là đục bao sau thuỷ tinh thể. Đôi khi triệu chứng này xuất hiện do mỡ bao thuỷ tinh thứ phát sau phẫu thuật. Nếu bao sau bị dày thì cần mổ bao sau trong điều kiện gây mê toàn thân.

(Theo VnExpress.net)

Nguyên nhân gây lác mắt ở trẻ nhỏ

Con tôi 1 tuổi, cả nhà tôi không ai bị lác mắt nhưng cháu lại bị. Vậy nguyên nhân nào, thưa bác sĩ? (Bùi Thị Hương – Nghệ An)

nguyen-nhan-gay-ra-benh-lac-mat

Lác mắt là do hiện tượng mất cân bằng giữa 2 mắt. Bình thường, các cơ của mắt hoạt động rất cân bằng dưới sự điều khiển của các dây thần kinh để hai tròng mắt nhìn đúng hướng. Khi sự cân bằng này mất đi, mắt không nhìn được đúng hướng và sinh ra lác.

Nguyên nhân gây lác có thể  có tật về mắt như cận thị, loạn thị, viễn thị, gặp bất thường ở các cơ vùng nhãn cầu, bị chấn thương mắt, sụp mí, lác mắt cũng do di truyền…

Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nhìn lệch, nhìn phải nghiêng đầu, không tập trung vào một đồ chơi, không có phản ứng với ánh sáng thì các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi khám để điều trị càng sớm càng tốt. Như thế, mắt bé có cơ hội trở lại bình thường. Bác sĩ nhãn khoa sẽ có phương pháp luyện tập mắt, cho trẻ đeo kính hoặc phẫu thuật…

(Theo Yeutretho.com)

Điều trị chứng lác mắt ở trẻ sơ sinh

Thưa bác sĩ, cháu nhà tôi hiện nay được hơn 5 tháng tuổi. Tôi cảm thấy mắt cháu có hiện tượng hơi lác. Vậy tôi có thể tập luyện cho cháu tại nhà để khắc phục dấu hiệu này không? Cách thức tập luyện như thế nào cho hiệu quả? Xin cảm ơn bác sĩ. (TKN)

benh-lac-mat-hay-gap-o-tre-em

Trong mấy tháng đầu kể từ khi mới chào đời, bạn có thể phát hiện ra mắt bé giống như hơi bị lác, nguyên nhân là do việc phối hợp giữa 2 mắt còn kém. Phần lớn trường hợp này, mắt bé sẽ trở lại bình thường sau đó. Tuy nhiên, nếu tình trạng bé bị lác mắt kéo dài, bạn nên đưa bé đi khám sớm.

Nguyên nhân

– Bé có thể xuất hiện tình trạng lác một bên mắt từ lúc mới sinh hoặc trong giai đoạn 1-2 tuổi (hay muộn hơn).

– Do hiện tượng mất cân bằng giữa 2 mắt: 2 mắt của bé hoạt động nhịp nhàng, thông qua sự chi phối của các dây thần kinh và các cơ chéo bám vào nhãn cầu. Vì một lý do nào đó, sự phối hợp này bị trục trặc. Khi ấy, mắt bé không cùng nhìn về một hướng nên xuất hiện dấu hiệu bị lác (lé).

– Bé mắc các tật về mắt như: cận thị, viễn thị, loạn thị. Cận thị thường gây ra lác ngoài, viễn thị gây lác vào trong.

– Do bất thường ở các cơ vùng nhãn cầu.

– Bé bị tổn thương thần kinh hoặc tổn thương não.

– Mắt bé bị nhiễm khuẩn, chấn thương, đục thủy tinh thể, sụp mí…

Lác cũng liên quan đến yếu tố di truyền. Nếu bố hoặc mẹ của bé bị lác thì cũng có khả năng bé mắc phải chứng bệnh này.

Điều trị

Cha mẹ nên phát hiện dấu hiệu lác mắt và đưa bé đi khám sớm. Chữa trị càng sớm thì bé càng có cơ hội khỏi bệnh. Nếu chữa lác trước 3 tuổi, tỷ lệ thành công lên tới 92%, 6-8 tuổi là 62%. Nếu để lâu, mắt bé sẽ thành tật nên khả năng phục hồi sẽ kém.

Bác sĩ có thể băng kín một bên mắt không bị tật, để giúp bé luyện tập hướng nhìn cho bên mắt còn lại. Hoặc, bác sĩ chỉ định cho bé đeo một loại kính đặc biệt để chỉnh hướng nhìn cho mắt của bé. Sau đó, bác sĩ sẽ tiến hành thêm một cuộc phẫu thuật nhỏ.

Lưu ý: phương pháp bịt mắt khi chữa lác cho bé phải được sự chỉ định của bác sĩ. Bởi tùy tình trạng bệnh, bé có thể được bác sĩ chỉ định việc bịt mắt bằng thuốc, bằng kính hay bằng miếng vải; bịt thường xuyên hay cách quãng…

Bé có thể được bác sĩ chỉ định điều trị lác mắt bằng các trò chơi như xếp hình, xâu hạt vòng để giúp bé tăng sự phối hợp tập trung của cả 2 mắt.

Dấu hiệu nên đưa bé đi khám sớm

Bé thường nhìn lệch, nhìn nghiêng hoặc quay đầu mới nhìn thấy đồ vật ở bên cạnh.

Mắt bé không có phản ứng với ánh sáng hoặc không tập trung vào một món đồ chơi.

Nếu bé xuất hiện các dấu hiệu trên bạn nên đưa bé đi khám để được tư vấn từ các bác sĩ chuyên khoa!

Theo Thuocbietduoc.com.vn

Biện pháp giảm hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh

Hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (SIDS) là hội chứng trẻ tử vong đột ngột. Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ từ 1 tháng đến 1 tuổi.

Mặc dù nguyên nhân chính xác chưa được tìm ra, song có nhiều cách để giữ bé tránh khỏi hội chứng này. Sau đây là một số biện pháp được các chuyên gia Ấn Độ đưa ra,
giam-hoi-chung-dot-tu-o-tre-so-sinh
Đặt bé nằm ngửa khi ngủ. Nguy cơ bị SIDS cao hơn gấp 3 lần đối với bé ngủ sấp. Hãy chắc chắn rằng bé ngủ ở tư thế nằm ngửa ngay từ khi sinh ra.

Không khói thuốc. Nên tránh hút thuốc tuyệt đối ngay từ khi bạn cố gắng thụ thai. Bạn càng hút thuốc lá, nguy cơ trẻ bị SIDS càng cao. Đừng để bé gần những nơi có khói thuốc lá hoặc những người hút thuốc lá vì điều này cũng làm tăng nguy cơ bị SIDS.

Tạo môi trường an toàn nhất. Đặt bé ngủ trong giường cũi riêng trong 6 tháng đầu tiên; không bao giờ nằm chung giường với bé khi bạn uống rượu bia; luôn luôn giữ cho nôi bé sạch sẽ và không để những vật như đồ chơi trong giường cũi của bé; không bao giờ để mền, khăn phủ đầu bé; dùng một tấm nệm mới, an toàn và vững chắc cho bé.

Nuôi con bằng sữa mẹ. Sữa mẹ lúc nào cũng tốt cho cả mẹ lẫn bé. Bú sữa mẹ cũng giúp giảm nguy cơ bị SIDS.

Tiêm chủng. Trẻ sơ sinh được tiêm chủng ít có nguy cơ bị SIDS và cũng được bảo vệ khỏi bệnh uốn ván, bạch hầu, ho gà, cùng một số bệnh tật khác.

Nguồn st

Bệnh vàng da có thể gây nguy hiểm cho trẻ sơ sinh

Phần lớn trẻ sơ sinh sau sinh từ 3 – 5 ngày có biểu hiện vàng da. Ðây là hiện tượng sinh lý bình thường do các hồng cầu thai nhi bị phá huỷ để được thay thế bằng hồng cầu trưởng thành. Khi hồng cầu bị vỡ sẽ phóng thích vào máu một lượng lớn chất có sắc tố vàng, tên gọi là Bilirubin làm cho trẻ bị vàng da.

Nhận biết dấu hiệu vàng da

Vàng da ở trẻ sơ sinh rất dễ nhận biết bằng mắt thường ở nơi có đủ ánh sáng. Vì vậy, trẻ sau sinh hàng ngày bà mẹ cần quan sát màu da toàn thân của trẻ ở nơi đầy đủ ánh sáng.

Trong trường hợp khó nhận biết (da trẻ đỏ hồng hoặc đen) thì ấn nhẹ ngón tay cái lên vùng da trong vài giây, sau đó buông tay ra, nếu trẻ bị vàng da, sẽ thấy được màu da vàng thật sự ở nơi ấn ngón tay.

benh-vang-da-o-tre-so-sinh

Mức độ vàng da

Vàng da nhẹ: Da vàng nhẹ ở mặt và thân, trẻ vẫn bú tốt, vàng da xuất hiện muộn sau ngày thứ ba.

Vàng da nặng: Da vàng sậm lan đến tay chân, kèm bú kém, bỏ bú, hoặc xuất hiện sớm trong vòng 1 – 2 ngày sau sinh. Những yếu tố góp phần làm cho trẻ bị vàng da nặng bao gồm: Trẻ sinh non tháng, sinh ngạt, nhiễm khuẩn,…

Làm gì khi trẻ vàng da?

Ða số các trường hợp vàng da ở trẻ sơ sinh thường nhẹ và tự khỏi sau 7 đến 10 ngày do chất Bilirubin được đào thải qua phân và nước tiểu.

Tuy nhiên có một số trường hợp vàng da nặng do chất Bilirubin tăng quá cao sẽ thấm vào não (tên y học gọi là vàng da nhân) gây nguy hiểm làm cho trẻ bị hôn mê, co giật, có thể gây tử vong hoặc di chứng về tâm thần vận động vĩnh viễn.

Đối với trường hợp vàng da nhẹ: Ðiều trị tại nhà bằng cách tắm nắng, đặt trẻ gần cửa sổ nơi có ánh sáng dịu của mặt trời và cho bú nhiều lần trong ngày, vì sữa mẹ giúp đào thải nhanh chất Bilirubin qua đường tiêu hóa. Tiếp tục theo dõi diễn tiến của vàng da hàng ngày cho đến ít nhất là 7 – 10 ngày sau sinh.

Vàng da nặng: Phải đưa trẻ nhập viện ngay. Tại bệnh viện, trẻ sẽ được điều trị tích cực. Cần theo dõi trẻ và đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay khi có một trong các dấu hiệu sau: Bú yếu hoặc bỏ bú; Vàng da lan đến tay chân; Vàng da xuất hiện sớm trong 24 – 48 giờ sau sinh; Vàng da kéo dài trên 15 ngày.

Việt An

(Theo tài liệu của BV Nhi đồng 1)
Theo SKDS

Rau ngót: Vị thuốc chữa đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em

Theo Đông y, lá rau ngót có vị bùi ngọt, tính mát, rễ vị hơi ngăm đắng, cả lá và rễ đều có tác dụng mát huyết, hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc. Lá rau ngót chữa ban sởi, ho, viêm phổi, sốt cao, đái rắt, tiêu độc. Rễ còn có tác dụng lợi tiểu, thông huyết, kích thích tử cung co bóp. Khi dùng làm thuốc thường chọn những cây sống 2 năm trở lên. Theo nghiên cứu, trong 100g rau ngót có chứa tới 0,08g chất béo, 9g đường, 503mg kali, 15,7mg sắt, 13,5mg mangan, 0,45mg đồng, 85mg vitamin C, 0,033mg B1, 0,88mg B2… Ngoài ra, rau ngót rất giàu đạm nên được khuyên dùng thay thế đạm động vật nhằm hạn chế những rối loạn chuyển hóa can xi gây loãng xương và sỏi thận. Với những thành phần trên, rau ngót được khuyên dùng cho người muốn giảm cân và người bị tăng huyết áp.

Rau ngót là loại rau lành và bổ dưỡng. Không chỉ là một món ăn thông thường, rau ngót còn có tác dụng chữa dị ứng, tưa lưỡi ở trẻ sơ sinh, chữa đổ mồ hôi trộm, chứng đái dầm ở trẻ em… Xin giới thiệu một số bài thuốc có sử dụng rau ngót:

rau_ngot_vi_thuoc_chua_do_mo_hoi_trom_tao_bon_o_tre_em

– Với chứng đái dầm ở trẻ em: 40g rau ngót tươi rửa sạch, giã nát, sau đó cho một ít nước đun sôi để nguội vào rau ngót đã giã, rồi khuấy đều, để lắng và gạn lấy nước uống. Phần nước gạn được chia làm hai lần để uống, mỗi lần uống cách nhau khoảng 10 phút.

– Đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em: lấy 30g rau ngót, 30g bầu đất, 1 quả bầu dục lợn rồi nấu canh cho trẻ ăn. Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng lại có tác dụng chữa bệnh, mà nó còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn. Đặc biệt, canh rau ngót nấu với thịt lợn nạc hoặc giò sống… không chỉ tốt cho trẻ em mà còn rất tốt cho cả người lớn bởi nó là một vị thuốc bổ, giúp tăng cường sức khoẻ với người mới ốm dậy, người già yếu hoặc phụ nữ sau khi sinh. Nhất là với phụ nữ sắp sinh, hàng ngày nếu được ăn canh rau ngót sẽ giúp tăng sức cho các bắp thịt, giúp việc sinh nở dễ dàng hơn.

– Chữa tưa lưỡi: lấy 10g lá tươi, rửa sạch, giã nhỏ vắt lấy nước, thấm vào gạc mềm, sạch, đánh trên lưỡi (tưa trắng), lợi, vòm miệng trẻ em. Đánh nhẹ cho tới khi hết tưa trắng.

– Đau mắt đỏ, nhức nhối khó chịu: lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

– Bàn chân sưng nhức: lá rau ngót giã, cho thêm nước muối pha nhạt, sau đó đắp vào chỗ chân sưng nhức.

Theo SKĐS/ Theo sách “Thức ăn vị thuốc”

Còi xương sớm ở trẻ sơ sinh

Hiện nay, sau khi sinh, vẫn nhiều phụ nữ áp dụng chế độ kiêng cữ quá kỹ như kiêng ra ngoài nắng, kiêng tắm, phòng ngủ phải kín gió, không có ánh sáng… Chế độ ăn của mẹ phải kiêng tôm, cua, ăn khô… Việc kiêng nhiều loại thực phẩm khiến sữa mẹ thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin D. Đây là những nguyên nhân khiến bé sơ sinh bị mắc bệnh còi xương sớm.

coi_xuong_som_o_tre_so_sinh

Biểu hiện của còi xương

Bệnh có thể xuất hiện ở tuần thứ 2 sau khi sinh. Biểu hiện của bệnh thông thường là hạ canxi máu, thể hiện bằng các triệu chứng: Trẻ giật mình và quấy khóc khi đang ngủ. Các cơn co thắt kéo dài làm bé khan tiếng, ngạt thở và có thể ngừng thở ngắn. Khi thở, có tiếng rít nhẹ. Dễ bị ọc sữa khi bú. Đi tiểu và tiêu són nhiều lần trong ngày.

Nặng hơn, có thể xuất hiện những biến dạng xương như bẹp hộp sọ do tư thế nằm. Nếu nằm ngửa, bé sẽ bẹp vùng dưới đỉnh đầu. Nếu nằm nghiêng, bé sẽ bị bẹp một bên thái dương. Do hộp sọ của bé còn mềm, não lại phát triển nhanh nên những nơi chưa được vôi hóa tốt, hộp sọ sẽ bị đẩy ra ngoài tạo thành bướu.

Phòng bệnh đơn giản

Để phòng bệnh còi xương sớm sau sinh, cách tốt nhất là sau sinh, các bà mẹ hãy thực hiện một chế độ sống khoa học, chứ không nên kiêng cữ theo những điều không còn phù hợp với điều kiện sống hiện tại.

Mẹ có thể uống thêm sữa, ăn các thực phẩm giàu canxi để bổ sung canxi cho bé thông qua nguồn sữa mẹ. Tắm nắng cho con vào lúc sáng sớm, nếu là mùa đông, từ 7h – 9h trong vòng 10 – 30 phút. Nếu là mùa hè, nên cho trẻ tắm sớm hơn, từ 7h – 8h và trong vòng 10 – 15 phút. Khi tắm nắng cho trẻ, cần chọn nơi thoáng mát, sạch sẽ, có nhiều ánh sáng mặt trời (không được ngồi sau cửa kính để tắm nắng vì ánh sáng mặt trời khi chiếu qua kính sẽ mất tác dụng của tia cực tím).

Sau 6 tháng, nếu sữa mẹ ít dần những chất dinh dưỡng, mẹ cũng tập cho con ăn thêm những thức ăn giàu canxi (các loại gan động vật, trứng, bơ, sữa) để bổ sung dinh dưỡng và năng lượng cần thiết cho sự phát triển của bé. Bổ sung vitamin D 400 đơn vị/ngày cho trẻ đẻ non, đẻ thấp cân nhưng phải theo chỉ định của bác sĩ.

Bác sĩ  Bùi Phương
Theo SKĐS

Vitamin D với phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh

Vitamin D có vai trò quan trọng chuyển hóa hấp thu calci, giúp cơ thể phát triển tốt với bộ xương cấu trúc vững chắc, giúp cho hoạt động bình thường của hệ thống thần kinh cơ. Thiếu vitamin D và calci gây nên những bệnh lý điển hình như còi xương, mềm xương ở trẻ em và người lớn, bệnh loãng xương ở người cao tuổi.

Đa số các bà mẹ chỉ thấy rõ dấu hiệu điển hình của bệnh còi xương, mềm xương khi trẻ được 1-2 tuổi; xương bị biến dạng: thóp rộng và lâu liền, đầu bị bẹp hoặc méo, chân hoặc tay bị cong biến dạng, với cổ tay, cổ chân, đầu gối to và cong hơn bình thường, trẻ chậm lớn, hay bị đau ốm… Để đến khi thấy rõ các dấu hiệu này mới đưa con đi khám bác sĩ thì đã muộn, có điều trị tích cực thì bệnh vẫn để lại di chứng về biến dạng xương trong cả cuộc đời cũng như nhiều hậu quả không tốt khác về sức khỏe cho trẻ.

vitamin_d_voi_phu_nu_co_thai_va_tre_so_sinh

Những dấu hiệu sớm để phát hiện bệnh còi xương do thiếu vitamin D ở trẻ

Thật ra các nhà khoa học đã chứng minh rằng còi xương ở trẻ bắt đầu rất sớm ngay trong thời kỳ thai nghén, mà nguyên nhân chính là do người mẹ bị thiếu vitamin D và calci trong thời kỳ mang thai. Thiếu calci và vitamin D của người mẹ, tiếp tục gây nên rối loạn chuyển hóa calci và bệnh còi xương của thai nhi, cũng như những năm đầu sau khi sinh.

Người ta thấy rằng trọng lượng của thai nhi tăng gấp đôi trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén, trong đó bộ khung xương với mật độ xương tăng 3 lần. Cơ và tế bào thần kinh của thai nhi cũng phát triển rất nhanh, nếu người mẹ không cung cấp đủ calci và vitamin D cho thai nhi trong 3 tháng cuối của thai kỳ sẽ dẫn đến rối loạn chuyển hóa xương của thai nhi. Rối loạn chuyển hóa xương thường song hành với bệnh suy dinh dưỡng thời kỳ bào thai: trẻ đẻ ra thấp bé nhẹ cân, kém phát triển về thể lực, trí tuệ, giảm miễn dịch…

Trong những tháng đầu sau khi sinh, trọng lượng trẻ cũng phát triển rất nhanh, nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cũng tăng cao và hoàn toàn phụ thuộc vào sữa mẹ. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng những người mẹ bị thiếu vitamin D trong thời kỳ có thai sẽ có lượng vitamin D sữa mẹ thấp, thậm chí giảm một nửa so với những người mẹ có đủ vitamin D, con của những người mẹ này ngay khi sinh ra đã có dấu hiệu mềm xương, thóp rất rộng, suy dinh dưỡng…

Ngay cả ở trẻ được sinh đủ tháng, cân nặng khi sinh ra là bình thường, nồng độ vitamin D trong máu cũng giảm thấp nhất vào ngày thứ 3 thứ 4 sau khi sinh, nồng độ này giảm và cạn kiệt ở những người mẹ không được cung cấp đầy đủ vitamin D khi có thai. Nguyên nhân của sự giảm này là do trẻ bị cắt nguồn cung cấp dinh dưỡng từ mẹ qua nhau thai, sữa mẹ chưa cung cấp đủ số lượng vitamin D trong 1-2 ngày đầu tiên.

Với trẻ đẻ non, thiếu tháng, lượng dự trữ calci và vitamin D của thai nhi trong những tháng cuối của thai kỳ càng thấp, nên nguy cơ hạ calci máu và vitamin D càng lớn hơn. Do vậy, hầu hết các nước đều có khuyến nghị bổ sung sớm các vitamin và chất khoáng, trong đó có vitamin D cho nhóm trẻ đẻ non thiếu tháng.

Hiệu quả của bổ sung vitamin D cho phụ nữ có thai

Trong những thập kỷ trước đây, tại các nước phát triển như Anh và Đức, người ta thấy cứ 4 trẻ sinh ra thì có 1 trẻ bị bệnh còi xương, mềm xương ngay khi sinh. Khuyến nghị bổ sung vitamin D và calci cho người mẹ mang thai bằng uống vitamin D và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng có tăng cường vitamin D đã mang lại hiệu quả rõ rệt, đặc biệt tốt cho phụ nữ thuộc tầng lớp bình dân, điều kiện sống khó khăn và những vùng thiếu ánh sáng mặt trời.

Ở Anh, khi so sánh giữa quần thể được uống sữa có bổ sung vitamin D và quần thể uống sữa không được bổ sung vitamin D, người ta thấy mật độ xương của nhóm được bổ sung vitamin D tăng cao hơn 20% so với nhóm không được bổ sung. Ở nhóm không được bổ sung, nồng độ vitamin D trong máu của thai phụ giảm nhanh trong 3 tháng cuối thai kỳ, ngay sau khi sinh có đến 36% số bà mẹ và 32% số trẻ bị cạn kiệt vitamin D. Có 5 trẻ em trong số 50 trẻ sinh ra có dấu hiệu hạ calci máu ngay khi sinh.

Nghiên cứu khác cho thấy bổ sung 1.000 UI/ngày (25microgam) trong 3 tháng cuối của thai kỳ cho phụ nữ cũng làm tăng trọng lượng của mẹ và giảm 50% số trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai. Một năm sau khi sinh, con của những bà mẹ được bổ sung vitamin D tăng nhiều hơn 0,4kg cân nặng và 1,6cm chiều dài so với nhóm đối chứng.

Thực trạng còi xương ở trẻ nhỏ và phụ nữ có thai ở nước ta

Tuy chưa có số liệu thống kê một cách đầy đủ, nhưng tại các phòng khám bệnh nhi khoa, một số lượng lớn trẻ đến khám có dấu hiệu còi xương sớm (ngay trong tháng đầu tiên hoặc tháng thứ 2 sau khi sinh, trẻ có dấu hiệu quấy khóc, ngủ không ngon giấc, thóp rộng, tóc rụng xung quanh đầu theo hình vành khăn…) và gặp nhiều ở trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn. Những trẻ này được chẩn đoán là còi xương, nếu được điều trị tích cực bằng vitamin D thì cho những kết quả rất tốt. Bởi vậy các bà mẹ nên chú ý các dấu hiệu sớm này và mang trẻ đến khám bác sĩ.

Yếu tố nguy cơ của bệnh thiếu vitamin D, còi xương, mềm xương ở nước ta

Một yếu tố phổ biến là thực phẩm sữa giàu calci và vitamin D chưa được sử dụng rộng rãi ở nước ta. Các thực phẩm được tăng cường vitamin D và calci chưa phổ biến đến mọi tầng lớp. Tại các vùng nông thôn, vùng khó khăn… tuy có được tiếp xúc nhiều hơn với ánh sáng mặt trời, giúp cơ thể tổng hợp được một phần vitamin D, nhưng khẩu phần ăn lại nghèo nàn, thiếu calci và vitamin D cho cả mẹ và con, do vậy bệnh vẫn có nguy cơ xuất hiện.

Tại các thành phố lớn, ngay cả các tầng lớp có thu nhập khá, bữa ăn có khá hơn vùng nông thôn nhưng bệnh vẫn hay gặp, yếu tố liên quan chính là mẹ và bé không được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, trẻ luôn được giữ kín trong nhà, mẹ ra đường cũng che kín sợ rám nắng, và kết quả là không tận dụng được nguồn vitamin D tự nhiên do cơ thể tổng hợp.

Phòng ngừa và điều trị

* Chế độ ăn cho người mẹ khi mang thai: chú ý đến sữa và chế phẩm có nhiều calci và vitamin D, các thực phẩm nguồn hải sản như cá, tôm, cua… Những thực phẩm có tăng cường vitamin D và calci cũng rất tốt.

* Bổ sung vitamin D, calci cho người mẹ khi mang thai: ngay khi ăn một khẩu phần khá sung túc, vẫn không cung cấp đủ nhu cầu calci và vitamin D cho người mẹ có thai trong 3 tháng cuối. Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng, khẩu phần ăn trung bình hiện nay của người Việt Nam chỉ đạt 50-70 nhu cầu calci và vitamin D, do vậy việc bổ sung thêm chế phẩm giàu calci và vitamin D là cần thiết. Phác đồ đang được nhiều nước áp dụng như sau:

– Bổ sung hàng ngày 400 đơn vị vitamin D (10microgam) trong suốt thời gian cóthai.

– Liều cao 1.000 đơn vị vitaminD/ngày (25microgam) trong suốt 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén, hoặc 100.000 đơn vị (2.500mg/d) một liều duy nhất vào ngày đầu của 3 tháng cuối mang thai. Phác đồ này được áp dụng cho những vùng tiêu thụ sữa ít, thiếu ánh sáng mặt trời, hoặc ít có điều kiện được chăm sóc y tế.

* Bổ sung sớm vitamin D và calci cho trẻ sau khi sinh.

– Với trẻ sinh đủ tháng: nhiều nước khuyến nghị bổ sung ít nhất 400 đơn vị/ngày cho trẻ bú mẹ. Với trẻ ăn sữa tăng cường vitamin D và calci cần được cân nhắc hơn.

– Trẻ sinh thiếu tháng, thiếu cân:

+ Hội nhi khoa Hoa Kỳ khuyến nghị trẻ non tháng cần được bổ sung thêm tối thiểu 400 đơn vị vitamin D mỗi ngày cùng với ăn sữa công thức có bổ sung vitamin D.

+ Hội tiêu hóa – nhi khoa châu Âu khuyến nghị cần bổ sung thêm 1.000 đơn vị (25 microgam) vitamin D mỗi ngày cho trẻ thiếu tháng bú sữa mẹ.

* Tắm nắng đúng cách, tận dụng ánh sáng mặt trời để giúp cơ thể tự tổng hợp vitamin D: tối thiểu 2 lần trong tuần, mỗi lần 20-30 phút, vào khoảng 7-8 giờ sáng hoặc 4-5 giờ chiều (với ánh nắng dịu) cho trẻ được cởi trần, đội mũ, để tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, cũng là biện pháp phối hợp quan trọng để có thêm vitamin D.

PGS.TS. Nguyễn Xuân Ninh
Theo SKĐS

Tìm hiểu bệnh cườm nước

Trong các loại bệnh ở mắt thì bệnh cườm nước (Glaucom), dân gian thường gọi là bệnh “thiên đầu thống”, là bệnh rất nguy hiểm, dễ gây mù mắt. Bệnh không chỉ xảy ra ở người lớn mà còn có ở trẻ sơ sinh, nếu không kịp thời phát hiện, điều trị thì trẻ sẽ bị mù vĩnh viễn. Bệnh cườm nước thường xuất hiện ở người trên 40 tuổi, đặc biệt là ở những phụ nữ hay lo nghĩ, căng thẳng. Bệnh có yếu tố di truyền. Trong gia đình có người mắc bệnh cườm nước thì những người ruột thịt có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5- 6 lần. Bệnh cườm nước không có biểu hiện nhiễm trùng, bệnh nhân là người lớn tuổi dễ nhầm lẫn với hiện tượng lão thị. Do đó, bệnh thường được phát hiện muộn, bệnh nhân đến khám khi mắt đã mờ hẳn thì đã quá muộn vì các tổn thương thần kinh thị giác không phục hồi được.

Có hai loại cườm nước: loại tiến triển nhanh (cấp tính) và loại tiến triển âm thầm, chậm chạp (mạn tính). Có trường hợp bệnh nhân bị cườm nước ở một mắt nhưng cũng có người bị bệnh ở cả hai mắt.

tim_hieu_benh_cuom_nuoc

Ở loại tiến triển cấp tính, người bệnh thấy nhức mắt, nhức nửa đầu, đôi khi rất dữ dội, có thể kèm theo nôn mửa, đau bụng, nhìn thấy các màu giống “cầu vồng”, hay thị lực giảm sút (nhìn mờ), mắt đỏ, cảm giác căng cứng, đồng tử giãn nở (con ngươi nở lớn). Dạng tiến triển âm thầm thì rất khó nhận biết, thường người bệnh chỉ có cảm giác hơi xốn, mắt mỏi, đôi khi cảm thấy mắt mờ. Cả hai trường hợp cấp tính hoặc mạn tính, bệnh nhân đều bị tổn thương thần kinh thị giác. Vì vậy, phát hiện bệnh sớm là điều cực kỳ quan trọng. Để sớm phát hiện bệnh cườm nước, khi mắt có triệu chứng mờ, đau nhức, người bệnh không tự ý dùng thuốc, mà phải đến cơ sở y tế chuyên khoa để được bác sĩ chỉ định thực hiện các xét nghiệm phù hợp, điều trị bệnh. Với người trên 40 tuổi (đặc biệt là phụ nữ), thường xuyên tiếp xúc với máy vi tính và làm việc trong điều kiện căng thẳng tinh thần, nên khám mắt định kỳ 6 tháng/lần.

Trẻ em bị bệnh cườm nước có các biểu hiện: sợ ánh sáng, khi bật đèn bé sẽ khóc thét lên, nếu bé còn bú mẹ thì lúc bú no bé vẫn úp mặt vào ngực mẹ, chảy nước mắt sống ròng rã ở cả hai bên mắt và hay nheo mắt. Trẻ bị bệnh cườm nước, từ 6 tháng trở lên, thị lực sẽ giảm dần, gia đình dễ phát hiện qua hội chứng mắt trâu, tức mắt của bé sẽ nở to tròn, con ngươi to như mắt trâu.

Việc điều trị bệnh cườm nước rất phức tạp, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. Việc phẫu thuật chỉ thực hiện khi điều trị bằng thuốc không hiệu quả và thường chỉ áp dụng với trường hợp bệnh cấp tính. Đối với người mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tim mạch, nếu mắc bệnh cườm nước thì phải điều trị kết hợp. Bệnh nhân hoặc người thân phải chủ động cung cấp cho bác sĩ điều trị bệnh cườm nước các thông tin về căn bệnh mạn tính của bệnh nhân.

Các phương pháp phẫu thuật chỉ nhằm giải quyết nguyên nhân gây bệnh cườm nước. Sau phẫu thuật bệnh nhân phải duy trì nhãn áp ở mức ổn định, phải khám mắt định kỳ 3 hoặc 6 tháng/lần, tốt nhất là dùng máy đo thị trường kế tự động để kiểm tra, theo dõi diễn tiến bệnh lý. Trường hợp bệnh nhân bị bệnh cườm nước cấp tính (thường chỉ xảy ra ở một bên mắt), khi đã phẫu thuật thì khả năng bệnh lây sang mắt thứ hai là rất cao, cần phải được theo dõi thường xuyên.

Ngoài ra, bệnh nhân phải có chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi thích hợp. Không dùng thực phẩm có chất kích thích (rượu, bia, cà phê, các chất cay,…), không thức quá khuya, khi làm việc đừng để có biểu hiện mỏi mắt mới nghỉ ngơi.

BS. Huỳnh Nhất Thống
Theo SKĐS

Bệnh đục nhân mắt ở trẻ nhỏ

Nhân mắt hay còn gọi là thể thủy tinh, nó là một thấu kính trong suốt, nằm ở ngay sau đồng tử. Nhân mắt bình thường trong suốt và có khả năng điều tiết và hội tụ các tia sáng lên võng mạc nơi điểm vàng, giúp chúng ta nhìn rõ mọi vật xung quanh. Nhưng khi có biểu hiện khác thường như nhân mắt bị đục, khiến cho những tia sáng không thể đi qua được, tùy theo mức độ đục mà trẻ có thể nhìn mờ hoặc không nhìn thấy gì. Khác với người lớn, đục nhân mắt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (dưới 8 tuổi) gây cản trở lớn cho sự phát triển chức năng thị giác, thường dẫn đến chứng nhược thị.

duc_nhan_mat_o_tre_nho

Nguyên nhân đục nhân mắt trẻ nhỏ

Đục nhân mắt tức là thể thủy tinh bị đục, còn gọi là cườm mắt (Catarac). Có nhiều nguyên nhân phát sinh ra chứng đục nhân mắt ở trẻ. Chẳng hạn như đục nhân mắt bẩm sinh hoặc ở trẻ nhỏ có thể xuất hiện ngay sau khi sinh, hoặc tiến triển trong những năm đầu của cuộc đời. Chủ yếu có 2 nguyên nhân chính, một là do di truyền, gặp 10 – 25%. Hai là do nhiễm khuẩn trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là các bệnh do virút (rubeon, herpes, cúm, quai bị…). Nó có thể xảy ra một cách tự nhiên và không kèm với một bệnh nào khác hoặc trong các hội chứng. Đục nhân mắt này có thể xảy ra ở 1 mắt hoặc cả 2 mắt.

Đục nhân mắt bệnh lý do các bệnh tại mắt như: viêm màng bồ đào, glôcôm, bong võng mạc, u nội nhãn… hoặc do các bệnh toàn thân như: đái tháo đường, bệnh galactoza huyết, têtani, bệnh da…

Đục nhân mắt do chấn thương khi vết thương xuyên, tình trạng này thường gây nên đục nhân mắt ở 1 mắt của trẻ em. Một số dạng đục này có đặc biệt là tiến triển từ từ sau hàng tuần hoặc nhiều tháng, dạng khác xuất hiện ngay trong lúc bị chấn thương.

Xử trí đục nhân mắt trẻ nhỏ

Cách xử trí được tiến hành cụ thể là: cho dù đục nhân mắt do nguyên nhân nào đi nữa thì mọi trường hợp đục nhân mắt đều ngăn cản sự phát triển của thị lực nên cần phải được lấy nhân mắt đục đi bằng phẫu thuật để phục hồi thị lực. Ở trẻ nhỏ, đây là một phẫu thuật khẩn cấp để phòng nhược thị.

Một đường rạch nhỏ ở trong mắt, qua đó nhân đục được lấy ra. Bệnh nhân cần được nằm viện khoảng từ 1 – 2 ngày. Cả phẫu thuật và phục hồi chức năng tiến bộ rất nhiều trong những năm gần đây. Cho dù mắt được mổ lành rất nhanh, nhưng trẻ cần được che mắt lại trong vòng 1 – 2 tuần để giữ cho trẻ không bị những va chạm hoặc những chấn thương vào mắt.

Mặc dù phẫu thuật đạt kết quả cao nhưng vẫn có thể xảy ra biến chứng. Khoảng 95% phẫu thuật nhân mắt ở trẻ em không có vấn đề gì, tuy nhiên có thể gặp xuất huyết, nhiễm khuẩn, bong võng mạc và glô-côm. Biến chứng nặng phải bỏ nhãn cầu rất ít gặp.

Khả năng tiến triển của mắt sau phẫu thuật sẽ có những diễn biến như sau khi lấy nhân mắt đục đi cần thiết phải điều chỉnh quang học cho con mắt này. Đeo kính gọng là dùng kính hội tụ có công suất khoảng +9 đến +12 điốp. Đây là phương pháp đơn giản nhất nhưng hiệu quả không cao do kính phóng đại hình ảnh lớn tới 30%.

Kính tiếp xúc thông thường và có kết quả ở trẻ nhỏ để thay thế cho nhân mắt tự nhiên. Các bà mẹ cần phải biết cách chăm sóc kính tiếp xúc, cách lắp vào, lấy ra và phải biết phát hiện những dấu hiệu không bình thường để báo kịp thời cho bác sĩ.

Đặt thể nhân mắt nhân tạo (thủy tinh nhân tạo) là xu hướng mới nhất, nhân mắt nằm ở vị trí tự nhiên của nhân mắt tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao thị lực và phục hồi chức năng thị giác.

Chú ý: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ phát triển nhược thị ngay cả khi đã được phẫu thuật đạt kết quả cao và điều chỉnh quang học tốt. Do vậy sau mổ, trẻ cần phải tập luyện bằng cách bịt mắt lành nhằm phục hồi thị lực lâu dài.

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
Theo SKĐS

Nguyên nhân chảy nước mắt sống

Chảy nước mắt sống làm cho bệnh nhân có cảm giác rất khó chịu, thường do tắc lệ đạo gây ra. Tắc lệ đạo có thể gây đau nhức, nhiễm khuẩn, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ dẫn tới những biến chứng tại mắt. Bệnh có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải.

nguyen_nhan_chay_nuoc_mat_song

Ai dễ bị tắc lệ đạo?  

Chảy nước mắt sống chủ yếu do tắc lệ đạo. Lệ đạo là ống thoát nước mắt dẫn từ góc trong của mi mắt dưới đến khe mũi dưới, gồm lỗ lệ, lệ quản, túi lệ, ống lệ mũi (ống lệ tỵ). Nước mắt sau khi làm “nhiệm vụ” bôi trơn và làm sạch bề mặt nhãn cầu sẽ được dồn về góc trong mắt rồi được dẫn vào lệ đạo, xuống mũi. Do đó bạn sẽ thấy ở những người khóc nhiều, nước mắt qua lệ đạo tăng lên, làm chảy cả ra mũi. Tắc lệ đạo có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào, nhưng hay tắc nhất là ống lệ mũi. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi: từ trẻ sơ sinh đến người cao tuổi.

Tắc lệ đạo bẩm sinh gặp ở trẻ ngay sau khi sinh ra (nhất là trẻ đẻ thiếu tháng), do quá trình hình thành lệ đạo trong bào thai chưa hoàn chỉnh nên ở đầu dưới của ống lệ mũi còn lại màng gây tắc. Các trường hợp này có thể tự khỏi khi trẻ lớn lên. Tắc lệ đạo mắc phải thường do các chấn thương vùng mắt, xoang; viêm nhiễm mạn tính ở mắt như bệnh mắt hột, viêm kết mạc… có thể làm chít hẹp lệ đạo và gây tắc không hoàn toàn. Thực tế, hầu hết các trường hợp tắc lệ đạo mắc phải đều không rõ nguyên nhân, phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn nam giới.

Dấu hiệu phát hiện bệnh

Nếu bị tắc lệ đạo, nước mắt không được dẫn xuống mũi nên sẽ trào ra ngoài từ góc trong của mắt, gây ra triệu chứng chảy nước mắt. Thời gian tắc kéo dài, nước mắt bị ứ đọng tại túi lệ có thể gây ra nhiễm khuẩn tại đường dẫn lệ. Khi đó túi lệ bị viêm, có nhầy mủ, nhất là khi ấn vào vùng góc trong mắt thấy mủ đùn ra. Bệnh nhân có thể thấy đau nhức. Trẻ nhỏ có thể có sốt, quấy khóc, hay dụi tay lên mắt.

Khi không được điều trị kịp thời, bệnh có thể gây ra các biến chứng như sau: nếu tắc lệ đạo, nhất là tắc ở ống lệ mũi, gây ra viêm túi lệ mạn tính, với biểu hiện thường xuyên chảy nước mắt, kèm theo có chảy nhầy mủ. Phù nề nhẹ vùng góc trong mắt. Ấn vào vùng này có thể thấy nhầy mủ đùn ra ở khóe mắt. Nếu không được điều trị, có thể tiến triển thành viêm cấp tính, gây áp-xe tại túi lệ, hoặc gây rò, thoát mủ ra ngoài da. Bệnh nhân, nhất là trẻ em thường kêu đau nhức nhiều, vùng góc trong mắt sưng nề, tấy đỏ, ấn vào đau, có thể có sốt.

Những điều cần chú ý trong điều trị và phòng bệnh

Khi phát hiện các triệu chứng tắc lệ đạo của bản thân hoặc của trẻ nhỏ hay người thân trong gia đình, cần đưa người bệnh đến khám ở chuyên khoa mắt để được chẩn đoán và điều trị đúng. Tùy theo tuổi của bệnh nhân và tổn thương bệnh mà người ta sử dụng các biện pháp điều trị thích hợp.

Nếu tắc lệ đạo bẩm sinh, ngoài việc chẩn đoán đúng bệnh, bác sĩ chuyên khoa còn phải xác định chính xác nguyên nhân chảy nước mắt để loại trừ các bệnh nguy hiểm khác ở mắt như glôcôm bẩm sinh, viêm nhiễm khác trong mắt. Biện pháp điều trị có thể được dùng là day, nắn vùng góc trong mắt, nơi có túi lệ, kết hợp với dùng kháng sinh nhỏ mắt và uống. Hầu hết các trường hợp lệ đạo sẽ được phục hồi thông hoàn toàn khi trẻ được điều trị bằng biện pháp này. Đến khi trẻ được 2-3 tháng tuổi, nếu vẫn không hết chảy nước mắt thì người ta có thể bơm rửa và thông lệ đạo, giúp cho nước mắt lưu thông xuống mũi. Bạn cần biết rằng khi trẻ được 4 – 6 tháng tuổi mới là thời gian để thông lệ đạo tốt nhất, vì để đến  trên 1 tuổi thì kết quả thông lệ đạo sẽ rất thấp. Khi đó bệnh nhân thường phải chờ đợi để có thể làm phẫu thuật, tạo nên đường thông lệ đạo mới.

Tắc lệ đạo mắc phải: nếu dùng phương pháp bơm thông lệ đạo hầu như không có kết quả. Vì vậy để phục hồi chức năng dẫn nước mắt, cần phải phẫu thuật để tạo nên đường dẫn nước mắt mới, từ mắt xuống mũi cho bệnh nhân. Phẫu thuật này là để điều trị dứt điểm triệu chứng chảy nước mắt, khỏi viêm nhiễm, mủ nhầy ở túi lệ. Trường hợp không thể mổ tạo đường thông nước mắt thì phải mổ cắt túi lệ để loại trừ ổ viêm tại mắt, tránh các biến chứng gây áp-xe túi lệ, nhưng bệnh nhân sẽ bị chảy nước mắt suốt đời.

Muốn phòng các trường hợp tắc lệ đạo mắc phải do chấn thương hoặc do phẫu thuật, biện pháp tốt nhất là tránh bị các tổn thương này. Đồng thời cần khám điều trị sớm và triệt để những bệnh viêm nhiễm mạn tính ở mắt như bệnh mắt hột, viêm kết mạc là nguyên nhân gây tắc lệ đạo.

BS. Nguyễn Thị Hường
Theo SKĐS

Chảy nước mắt do tắc nghẽn lệ đạo

Tắc hệ thống lệ đạo gây ra chứng chảy nhiều nước mắt. Bệnh thường gặp ở người lớn, song cũng xảy ra ở trẻ sơ sinh 1 – 2 tuần tuổi. Phương pháp điều trị hiện nay là phẫu thuật túi lệ mũi, tạo một đường thoát mới cho nước mắt. Nếu không điều trị sớm có thể dẫn đến tử vong.

Bình thường, người ta chỉ chảy nước mắt khi xuất hiện cảm xúc thái quá như buồn bã, giận dữ, đau khổ hoặc hạnh phúc… Ngược lại, khi không có cảm xúc nhưng nước mắt vẫn lưng tròng, thậm chí rơi thành giọt lã chã thường xuyên, thì đó là dấu hiệu của bệnh chảy nước mắt sống

chay_nuoc_mat_do_tac_nghen_le_dao

Có nhiều nguyên nhân gây tắc nghẽn hệ thống lệ đạo như người bệnh từng bị đau mắt hột, viêm mũi, viêm xoang, chấn thương vùng sống mũi… Tuy nhiên cũng có trường hợp vô căn, chủ yếu ở phái nữ. Lý giải trường hợp này, người ta nghĩ nhiều đến khả năng xáo trộn nội tiết tố làm phình trướng hệ thống lệ đạo gây tắc nghẽn.

Ở giai đoạn đầu, bệnh nhân chảy nước mắt sống thường trải qua tình trạng mắt ướt, nhìn mọi vật nhòe đi. Trường hợp nặng hơn, nước mắt có thể rơi xuống má. Lâu dài, sự tắc nghẽn lệ đạo làm ứ đọng chất nhờn gây viêm niêm mạc túi lệ và dẫn đến bệnh viêm túi lệ mạn tính. Lúc này, để có cảm giác nhẹ nhàng và dễ chịu, người bệnh thường dùng tay ấn vào vùng túi lệ để giải tỏa chất nhờn. Nếu không điều trị sớm, tình trạng này sẽ dẫn tới những biến chứng như viêm túi lệ cấp, sưng tấy hốc mắt, thậm chí viêm màng não, nhiễm trùng huyết và tử vong.

Hiện tượng chảy nước mắt sống ở trẻ sơ sinh:

Hiện tượng mắt ướt xảy ra ở trẻ từ 1 – 2 tuần tuổi thường kèm theo viêm kết mạc. Thông thường đây là chứng tắc lệ đạo bẩm sinh – hiện tượng các van trong lệ quản chưa được thông hoàn toàn. Tuy nhiên, khoảng 60 – 70% số trẻ mắc bệnh sẽ tự khỏi do hiện tượng tắc nghẽn được giải tỏa một cách ngẫu nhiên.

Lưu ý bệnh chảy nước mắt sống ở trẻ có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nếu trẻ vẫn tiếp tục chảy nước mắt sống hoặc bệnh viêm kết mạc tiến triển nặng hơn thì cần đưa trẻ đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt để xác định nguyên nhân và điều trị kịp thời.

BS. Nguyễn Hồng
Theo SKĐS

Tắc lệ đạo bẩm sinh

Lệ đạo là hệ thống đường dẫn nước mắt đi từ vùng hố lệ đến khe mũi dưới. Nước mắt vào lệ đạo qua điểm lệ, chảy trong lệ quản, túi lệ, ống lệ mũi và chảy vào vùng mũi họng qua khe mũi dưới. Tắc lệ đạo bệnh lý thường gặp ở trẻ sơ sinh (nhất là trẻ thiếu tháng). Khi bị tắc lệ đạo, nước mắt sẽ bị ứ đọng và gây chảy nước mắt nhiều, đôi khi kèm theo mủ và nhầy. Nếu để lâu không điều trị sẽ gây đau nhức, viêm nhiễm tái đi tái lại rất nguy hiểm.

tac_le_dao_bam_sinh

Tại sao tắc và biểu hiện?

Tắc lệ đạo bẩm sinh thường do các nguyên nhân sau:

Không có điểm lệ: Trẻ sẽ luôn bị chảy nước mắt và viêm kết mạc kéo dài.

Rò túi lệ bẩm sinh: Vùng da gần góc trong của mắt có lỗ rò nhỏ gây chảy nước mắt qua lỗ rò này.

Tắc ống lệ mũi bẩm sinh: Đây là trường hợp thường gặp nhất xảy ra ở khoảng 5% trẻ sơ sinh 12-20 ngày tuổi. Bệnh có thể xảy ra ở một hoặc hai bên mắt, thỉnh thoảng gây ra triệu chứng chảy nước mắt sống, nếu bị thường xuyên và kéo dài có thể tạo ra mủ nhầy, viêm kết mạc mắt, sưng túi lệ.

Nguyên nhân của tắc ống lệ mũi bẩm sinh còn do quá trình hình thành lệ đạo trong bào thai chưa hoàn chỉnh nên ở đầu dưới của ống lệ mũi còn lại màng tắc,  trong một số trường hợp khác thì lại do biến dạng ống xương của ống lệ mũi.

Khi tắc lệ đạo, vùng góc trong mắt có thể nề nhẹ, căng hơn. Nếu quá trình tắc kéo dài, đặc biệt là tắc ở ống lệ mũi nếu không được điều trị có thể gây ra viêm túi lệ mạn tính. Nước mắt bị ứ đọng tại túi lệ có thể gây ra nhiễm trùng tại đường lệ, túi lệ bị viêm, có nhầy mủ. Ấn vào vùng này có nhầy mủ trào ra ở khóe mắt, gây áp xe tại túi lệ, thậm chí gây dò, thoát mủ ra ngoài da, đau nhức nhiều, vùng góc trong mắt sưng nề, tấy đỏ.

Điều trị theo nguyên nhân và độ tuổi

Điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh sẽ được thực hiện theo độ tuổi và nguyên nhân gây tắc lệ đạo. Nếu nguyên nhân do không có điểm lệ do màng ngăn ở điểm lệ thì có thể rạch làm thông lệ đạo. Nếu nguyên nhân do rò túi lệ thì điều trị bằng cách phẫu thuật đóng lỗ dò. Nếu nguyên nhân do tắc ống lệ mũi bẩm sinh thì tùy theo độ tuổi các bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp.

Đối với trẻ dưới 3 tháng tuổi, việc điều trị chủ yếu là mát-xa túi lệ, lau mí với nước muối sinh lý, nếu như có nhầy mủ thì dùng thêm kháng sinh nhỏ mắt theo chỉ định của bác sĩ.

Đối với trẻ 3-12 tháng, điều trị bằng cách bơm rửa lệ đạo, kết hợp kháng sinh tại chỗ và thông lệ đạo. Tuy nhiên, việc thông lệ đạo chỉ được thực hiện sau khi bơm rửa day nắn vùng túi lệ và sử dụng kháng sinh không hiệu quả.

Đối với trẻ trên 1 tuổi, phương pháp bơm thông lệ đạo thường không hiệu quả nên cần cho trẻ đi khám để đánh giá việc phẫu thuật nối thông túi lệ mũi.

Đối với trẻ sơ sinh khi phát hiện thấy trẻ bị chảy nước mắt sống hoặc thường thấy đọng nước ở khe mi cha mẹ nên đưa trẻ đi khám ngay để các bác sỹ xác định chính xác nguyên nhân chảy nước mắt, loại trừ các nguyên nhân khác như glôcôm bẩm sinh, viêm trong mắt và có biện pháp điều trị phù hợp.

Bác sĩ  Thu Lan
Theo SKĐS

Chứng lác mắt ở trẻ sơ sinh

Trong mấy tháng đầu kể từ khi mới chào đời, bạn có thể phát hiện ra mắt bé giống như hơi bị lác, nguyên nhân là do việc phối hợp giữa 2 mắt còn kém. Phần lớn trường hợp này, mắt bé sẽ trở lại bình thường sau đó. Tuy nhiên, nếu tình trạng bé bị lác mắt kéo dài, bạn nên đưa bé đi khám sớm.

chung_lac_mat_o_tre_so_sinh

Nguyên nhân

Bé có thể xuất hiện tình trạng lác một bên mắt từ lúc mới sinh hoặc trong giai đoạn 1-2 tuổi (hay muộn hơn).

Do hiện tượng mất cân bằng giữa 2 mắt: 2 mắt của bé hoạt động nhịp nhàng, thông qua sự chi phối của các dây thần kinh và các cơ chéo bám vào nhãn cầu. Vì một lý do nào đó, sự phối hợp này bị trục trặc. Khi ấy, mắt bé không cùng nhìn về một hướng nên xuất hiện dấu hiệu bị lác (lé).

Bé mắc các tật về mắt như: cận thị, viễn thị, loạn thị. Cận thị thường gây ra lác ngoài, viễn thị gây lác vào trong.

Do bất thường ở các cơ vùng nhãn cầu.

Bé bị tổn thương thần kinh hoặc tổn thương não.

Mắt bé bị nhiễm khuẩn, chấn thương, đục thủy tinh thể, sụp mí…

Lác cũng liên quan đến yếu tố di truyền. Nếu bố hoặc mẹ của bé bị lác thì cũng có khả năng bé mắc phải chứng bệnh này.

Điều trị

Cha mẹ nên phát hiện dấu hiệu lác mắt và đưa bé đi khám sớm. Chữa trị càng sớm thì bé càng có cơ hội khỏi bệnh. Nếu chữa lác trước 3 tuổi, tỷ lệ thành công lên tới 92%, 6-8 tuổi là 62%. Nếu để lâu, mắt bé sẽ thành tật nên khả năng phục hồi sẽ kém.

Bác sĩ có thể băng kín một bên mắt không bị tật, để giúp bé luyện tập hướng nhìn cho bên mắt còn lại. Hoặc, bác sĩ chỉ định cho bé đeo một loại kính đặc biệt để chỉnh hướng nhìn cho mắt của bé. Sau đó, bác sĩ sẽ tiến hành thêm một cuộc phẫu thuật nhỏ.

Lưu ý: phương pháp bịt mắt khi chữa lác cho bé phải được sự chỉ định của bác sĩ. Bởi tùy tình trạng bệnh, bé có thể được bác sĩ chỉ định việc bịt mắt bằng thuốc, bằng kính hay bằng miếng vải; bịt thường xuyên hay cách quãng…

Bé có thể được bác sĩ chỉ định điều trị lác mắt bằng các trò chơi như xếp hình, xâu hạt vòng để giúp bé tăng sự phối hợp tập trung của cả 2 mắt.

Dấu hiệu nên đưa bé đi khám sớm

Bé thường nhìn lệch, nhìn nghiêng hoặc quay đầu mới nhìn thấy đồ vật ở bên cạnh.

Mắt bé không có phản ứng với ánh sáng hoặc không tập trung vào một món đồ chơi.

BS. NGỌC LAN
Theo SKĐS