Tag Archives: trẻ nhỏ

Phòng chống bệnh sởi cho con nhỏ

Tất cả trẻ em ở các nước đang phát triển được chẩn đoán bệnh sởi cần được bổ sung 2 liều vitamin A, cách nhau 24 giờ. Điều trị này nhằm khôi phục nồng độ vitamin A thấp trong thời gian mắc sởi, ngay cả với trẻ được nuôi dưỡng tốt, để giúp dự phòng tổn thương mắt và mù lòa. Bổ sung vitamin A đã được chứng minh là làm giảm 50% số lượng các trường hợp tử vong do bệnh sởi.

Sởi là một bệnh nghiêm trọng và dễ lây gây ra bởi một loại virus. Năm 1980, trước khi có chương trình tiêm chủng mở rộng, sởi đã gây tử vong khoảng 2,6 triệu người mỗi năm.

Sởi vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em trên toàn cầu mặc dù đã có vacxin an toàn và hiệu quả. Có khoảng 122.000 người tử vong do sởi trong năm 2012 – phần lớn là trẻ dưới 5 tuổi.

Bệnh sởi gây ra bởi một loại virus trong họ paramyxovirus. Virus sởi thường phát triển trong tế bào lót ở phía sau của họng và phổi. Sởi là một bệnh ở người và vẫn chưa biết có xảy ra ở động vật hay không.

Hoạt động tiêm chủng được đẩy mạnh đã có một tác động lớn trong việc làm giảm tử vong do sởi. Từ năm 2000, có hơn 1 tỷ trẻ em ở các nước có nguy cơ cao được tiêm phòng vacxin chống lại bệnh sởi thông qua chiến dịch tiêm phòng mở rộng – có khoảng 145 triệu trẻ được tiêm trong năm 2012. Tỷ lệ tử vong do sởi trên toàn cầu đã giảm 78%, từ 562.000 trường hợp xuống còn 122.000 trường hợp.

Dấu hiệu và triệu chứng

phong-chong-benh-soi-cho-con-nho


Dấu hiệu đầu tiên của bệnh sởi thường là sốt cao, sốt bắt đầu từ 10 đến 12 ngày sau khi tiếp xúc với virus, và kéo dài từ 4 đến 7 ngày. Chảy nước mũi, ho, mắt đỏ và chảy nước mắt, và các đốm trắng nhỏ bên trong má có thể xuất hiện trong giai đoạn đầu. Sau một vài ngày thì ban sởi (ban đỏ/nâu dạng chấm) bùng phát, thường ở mặt và cổ. Trong khoảng 3 ngày, ban sởi lan rộng xuống thân mình, và cuối cùng xuống tới tay và chân. Ban sởi kéo dài 5 – 6 ngày, và sau đó mất dần. Trung bình, ban sởi xuất hiện sau khi tiếp xúc với virus được 14 ngày (trong phạm vi 7 đến 18 ngày).

Sởi nặng thường gặp ở trẻ em được nuôi dưỡng kém (trẻ suy dinh dưỡng), đặc biệt những trẻ thiếu hụt vitamin A hoặc hệ thống miễn dịch của chúng bị suy giảm do HIV/AIDS hoặc các bệnh lý khác.

Hầu hết các trường hợp tử vong liên quan tới sởi là do biến chứng của bệnh. Các biến chứng chủ yếu gặp ở trẻ dưới 5 tuổi hoặc người lớn trên 20 tuổi. Các biến chứng nghiêm trọng nhất bao gồm: mù mắt, viêm não (nhiễm trùng gây phù não), tiêu chẩy nặng gây mất nước, nhiễm trùng tai, hoặc nhiễm trùng hô hấp như viêm phổi. Có gần 10% các trường hợp sởi tử vong trong quần thể có tỷ lệ suy sinh dưỡng cao và không được chăm sóc y tế đầy đủ. Phụ nữ bị sởi trong khi mang thai cũng có nguy cơ biến chứng nặng và thai kỳ có thể kết thúc do sẩy thai hoặc sinh non. Những người khỏi bệnh sởi sẽ có miễn dịch với sởi suốt đời.

Ai có nguy cơ ?


Trẻ em không được tiêm vacxin phòng bệnh có nguy cơ mắc sởi và các biến chứng cao nhất, bao gồm cả tử vong. Phụ nữ mang thai không được tiêm phòng cũng có nguy cơ. Bất cứ ai không có miễn dịch (người chưa được tiêm phòng hoặc đã được tiêm phòng nhưng không tạo được miễn dịch) đều có thể mắc sởi.

Sởi vẫn còn phổ biến ở nhiều nước đang phát triển – đặc biệt là ở một số vùng ở châu Phi và châu Á. Hơn 20 triệu người bị ảnh hưởng bởi bệnh sởi mỗi năm. Đại đa số (95%) các trường hợp tử vong do sởi xảy ra ở các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp và cơ sở hạ tầng y tế yếu kém.

Dịch sởi có thể đặc biệt nguy hiểm ở các nước đang trải qua hoặc đang phục hồi từ thảm họa tự nhiên hoặc xung đột. Các thiệt hại cho cơ sở hạ tầng y tế và dịch vụ y tế đã làm gián đoạn tiêm chủng định kỳ, và sự quá tải trong các trại dân cư tập trung làm tăng đáng kể nguy cơ mắc sởi.

Lây truyền


Virus rất dễ lây qua ho và hắt hơi, tiếp xúc gần hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết nhiễm bệnh của mũi hoặc họng.

Virus vẫn hoạt động và dễ lây trong không khí hoặc trên các bề mặt bị nhiễm trong gần 2 giờ. Nó có thể lây truyền từ người mắc bệnh trong vòng 4 ngày trước khi bắt đầu phát ban cho tới 4 ngày sau khi phát ban.

Dịch sởi có thể có thể phát triển thành vụ dịch lớn làm nhiều người tử vong, đặc biệt là giới trẻ, trẻ em suy dinh dưỡng. Ở những nước mà dịch sởi đã gần như được xóa sổ thì các trường hợp nhiễm bệnh đến từ các nước khác có dịch sẽ là nguồn lây nhiễm quan trọng.

Điều trị

phong-chong-benh-soi-cho-con-nho1


Không có phương pháp điều trị kháng virus đặc hiệu cho virus sởi. Các biện pháp điều trị khác chủ yếu nhằm hỗ trợ và làm cho người bệnh cảm thấy dễ chịu hơn:
– Paracetamol hoặc ibuprofen (phù hợp với lứa tuổi) có thể giúp hạ sốt và giảm đau.
– Uống nhiều nước để tránh mất nước, tốt nhất vẫn là dung dịch điện giải (oresol) với nồng độ phù hợp.
– Vệ sinh/làm sạch mắt bằng bông sạch (tăm bông).
– Đóng rèm cửa giúp làm giảm sự nhậy cảm với ánh sáng của mắt.

Bệnh sởi thường tự khỏi, nhưng nếu có triệu chứng khác thường xuất hiện như tiêu chảy, nôn, đau tai và đau họng, khó thở, hoặc rối loạn ý thức… thì cần nhanh chóng tìm kiếm tư vấn y tế. Trong một vài trường hợp bệnh sởi nặng, đặc biệt nếu có biến chứng, cần đưa trẻ vào viện để điều trị.
Biến chứng nặng do sởi có thể tránh được thông qua việc điều trị hỗ trợ nhằm đảm bảo dinh dưỡng tốt, uống đủ nước và điều trị mất nước bằng dung dịch bù nước và điện giải đường uống (oresol) được khuyến cáo bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Dung dịch này thay thế cho dịch và các yếu tố cần thiết đã bị mất qua tiêu chảy và nôn. Thuốc kháng sinh có thể được chỉ định điều trị các nhiễm trùng tai và mắt, và viêm phổi.

Tất cả trẻ em ở các nước đang phát triển được chẩn đoán bệnh sởi cần được bổ sung 2 liều vitamin A, cách nhau 24 giờ. Điều trị này nhằm khôi phục nồng độ vitamin A thấp trong thời gian mắc sởi, ngay cả với trẻ được nuôi dưỡng tốt, để giúp dự phòng tổn thương mắt và mù lòa. Bổ sung vitamin A đã được chứng minh là làm giảm 50% số lượng các trường hợp tử vong do bệnh sởi.
Trẻ em mắc sởi không nên đến trường cho tới sau khi ban sởi bắt đầu xuất hiện tối thiểu 5 ngày

Dự phòng


Dự phòng chống lại bệnh sởi cũng như quai bị và rubella bằng cách tiêm vacxin MMR khi trẻ được 13 tháng tuổi và sau đó tiêm tăng cường ở độ tuổi 3 – 5 tuổi. Nếu bạn là người lớn mà chưa được tiêm phòng hoặc chưa mắc sởi thì bạn cũng cần tiêm vacxin MMR để phòng bệnh.

Phụ nữ dự định có thai mà chưa được tiêm phòng sởi thì nói chuyện/đi khám với bác sĩ để được tư vấn và tiêm phòng vì khi đang mang thai sẽ không được tiêm phòng sởi. Mắc sởi khi đang mang thai có thể sẽ gây hại cho bào thai.

Tiêm vacxin phòng sởi định kỳ cho trẻ, kết hợp với chiến dịch tiêm chủng hàng loạt ở các nước có số trường hợp mắc và tỷ lệ tử vong cao, là những chiến lược y tế công cộng quan trọng để làm giảm tỷ lệ tử vong do sởi trên toàn cầu. Vacxin dự phòng sởi đã được sử dụng trong 50 năm. Nó an toàn, hiệu quả và không đắt. Chi phí ít hơn 1 đô la để tiêm chủng cho trẻ chống lại bệnh sởi.
Vacxin dự phòng sởi thường được kết hợp với vacxin dự phòng quai bị và/hoặc rubella (vacxin MMR) ở những nước mà những bệnh này hoành hành. Hiệu quả của dạng đơn và dạng kết hợp tương đương nhau.

Năm 2012, có khoảng 84% trẻ em trên toàn thế giới được tiêm một liều vacxin phòng sởi trong ngày sinh nhật đầu tiên của mình thông qua các dịch vụ sức khỏe định kỳ – tăng lên từ 72% trong năm 2000. Khuyến cáo sử dụng 2 liều vacxin dự phòng sởi để đảm bảo khả năng miễn dịch và dự phòng dịch sởi vì có khoảng 15% trẻ em được tiêm chủng thất bại trong việc tạo ra miễn dịch với liều đầu tiên.

ThS. BS. Lương Quốc Chính
Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch Mai

Nguyên nhân và cách phòng tránh trẻ hay ốm vặt

Hệ miễn dịch của trẻ còn non yếu và chưa hoàn thiện

Khi mới sinh ra hệ miễn dịch của trẻ còn non nớt, có sự nhạy cảm cao với điều kiện bên ngoài và sức chịu đựng kém. Sau khi sinh, trẻ nhận được một lượng kháng thể miễn dịch từ mẹ qua sữa tuy nhiên trong quá trình lớn lên, hệ miễn dịch của trẻ mới được hoàn thiện dần. Hàng ngày bé tiếp xúc với môi trường có nhiều tác nhân gây bệnh, với một hệ thống bảo vệ cơ thể chưa kịp hoàn chỉnh để đối phó, bé phải đối mặt với nguy cơ rất lớn về các bệnh nhiễm trùng. Ngoài ra hệ tiêu hoá của trẻ nhỏ, nhất là trong giai đoạn đầu đời thường non yếu, cơ thể thiếu men nên không tiêu hóa được đường lactose hoặc khó tiêu hóa đạm trong sữa công thức, đặc biệt những trẻ biếng ăn và có chế độ ăn chưa phù hợp khiến cho trẻ gặp các triệu chứng tiêu hoá như đau bụng, nôn trớ, đầy hơi, táo bón.

nguyen-nhan-va-cach-phong-tranh-tre-hay-om-vat

Sử dụng thuốc đặc biệt là kháng sinh cho cơ thể trẻ dễ dẫn đến việc mất cân bằng vi khuẩn đường ruột, làm cho hệ tiêu hóa kém đi và kết quả là thể trạng của trẻ không thể được cải thiện, lại càng dễ mắc bệnh hơn. Trong đường ruột mỗi chúng ta luôn tồn tại vi khuẩn có lợi, Vi khuẩn này giúp đường tiêu hóa chúng ta ổn định vì vậy khi uống kháng sinh sẽ tiêu diệt vi khuẩn đó dễ dẫn đến tình trạng rối loạn tiêu hóa. Các mẹ chú ý sử dụng thuốc theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ tránh tình trạng tự ý dùng thuốc rất nguy hiểm với cơ thể còn non nớt của các bé.

Thiếu vi chất dinh dưỡng

Việc ăn uống nhằm cung cấp các dưỡng chất cần thiết phục vụ sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên, nhiều bà mẹ chuẩn bị bữa ăn cho con chủ yếu theo cảm quan mà chưa chú ý tới sự cân bằng về dinh dưỡng. Các vitamin vốn có trong thực phẩm sẽ bị mất đi hay giảm trầm trọng trong một bữa ăn đầy đủ nhưng chất lượng thực phẩm không đảm bảo (rau bị héo, trái cây không còn tươi nên mất nhiều vitamin C), hoặc bảo quản, chế biến thực phẩm không tốt (thức ăn nấu quá kỹ, vitamin C không còn…). Đó là nguyên nhân nhiều bé bị các bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng, ảnh hưởng tới trí tuệ, học hành và chậm phát triển thể chất…

Hiện nay nước ta tình trạng trẻ thiếu khoáng chất, vitamin với tỉ lệ ngày càng cao. Bệnh lý do thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em có thể chia thành hai nhóm chính: nhóm thiếu khoáng chất và nhóm thiếu vitamin.

Nhóm thứ nhất thiếu vitamin: Thiếu vitamin A tác động xấu tới cả hệ miễn dịch và sự tăng trưởng của bé. Nhóm bệnh do thiếu vitamin ở trẻ còn phải kể tới là các bé bị thiếu vitamin nhóm B, C. Việc thiếu vitamin nhóm B ảnh hưởng tới chuyển hóa. Thiếu vitamin nhóm C khiến hệ miễn dịch yếu, dễ bị lây nhiễm và các bệnh về đường hô hấp, như suyễn hay viêm phổi.

Nhóm tiếp theo là trẻ bị thiếu sắt, kẽm, selen (khoáng chất).Thường hay xảy ra ở những bé độ tuổi ăn dặm. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do trẻ ăn thịt, cá hay nhả bã, hoặc cũng có thể do trẻ không chịu ăn rau, trái cây. Thiếu sắt nặng trẻ có thể dẫn tới thiếu máu. Đối với các bệnh nhi thiếu kẽm, selen sự thiếu hụt này ảnh hưởng nhiều tới miễn dịch. Bé hay chán ăn, mệt mỏi, dễ ốm vặt, nhiễm trùng hô hấp, tiêu hóa, viêm da, lở miệng.

Cách phòng tránh:

– Tổ chức WTO khuyên các bà mẹ nên cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu.

– Tiêm phòng đầy đủ các bệnh cho bé, giữ ấm cho bé khi đi ra ngoài.

– Các bậc cha mẹ nhớ thường xuyên rửa tay cho con bằng sữa tắm hoặc xà bông diệt khuẩn sau khi bé nghịch hoặc trước khi ăn cơm.

– Không cho bé tiếp xúc với trẻ đang bị ốm, người bệnh…
– Khi bé ốm, cha mẹ không nên lạm dụng thuốc kháng sinh. Nếu chỉ là bệnh hắt hơi, xổ mũi, ho thông thường, bạn có thể chế biến những cây thuốc sẵn có để trị bệnh cho bé. Ví dụ: Bé bị ho, bạn có thể dùng húng chanh, gừng, cây núc nác…

– Bổ sung những vi chất dinh dưỡng quan trọng, các vitamin, axit amin thiết yếu đặc biệt là Kẽm, Selen để giúp trẻ tăng cường sức đề kháng, ăn ngon hơn, hấp thu tốt hơn giảm tình trạng hay ốm vặt ở trẻ. Để cải thiện tình trạng hay ốm vặt ở trẻ, công ty cổ phần Biolife sử dụng công nghệ Bioenrich tăng hàm lượng vi chất Kẽm và Selen trong mầm hạt đậu xanh lên 1000 lần tạo ra sản phẩm cốm Upkid. Cốm Upkid chứa Kẽm, Selen hữu cơ tự nhiên, an toàn với trẻ nhỏ giúp các bé ăn ngon hơn, tăng hấp thu và tăng cường sức đề kháng cho trẻ.

Theo gia đình

Thực phẩm trị cảm cúm cực kỳ hiệu quả

 Có nhiều loại thảo dược trị cảm cúm cho trẻ nhỏ hiệu quả lại không gây tác dụng phụ.

1. Tỏi

Mẹ chọn nhánh tỏi ta, thơm, nướng kỹ nhưng không để cháy. Khi tỏi đã chín đều, mẹ bóc vỏ tỏi, giã nhuyễn, lọc lấy nước trong cho bé uống. Có thể pha thêm một chút nước ấm để bé dễ uống. Các mẹ yên tâm, tỏi đã nướng lên không còn vị cay, lại có vị thơm, nên chắc chắn bé sẽ thích.

Cách này làm tăng cường sức đề kháng của bé và phòng cúm rất hiệu quả.

2. Kinh giới

Kinh giới có vị cay, tính hơi nóng có tác dụng làm ra mồ hôi, chữa cảm gió. Cách dùng kinh giới chữa cảm cúm rất đơn giản. Các mẹ lấy kinh giới tươi (cành non, lá) 50g, gừng sống 10g. Hai thứ rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt cho trẻ uống, ngày uống 2 lần, bã thuốc xoa dọc xương sống từ trên xuống.

3. Uống nước gừng nóng

Mẹ thái vài lát gừng rồi cho vào nước đun sôi lên, thêm đường hoặc mật ong rồi cho trẻ uống khi nước còn ấm. Một ngày uống 3 lần hoặc uống mỗi khi trẻ có triệu chứng cúm, khó chịu sẽ cho hiệu quả tức thì.

Lưu ý: Bài thuốc này không áp dụng cho trẻ dưới 1 tuổi vì có mật ong.
tra-gung
4. Súp gà

Các chuyên gia sức khỏe tin rằng súp gà nóng làm tăng nhiệt độ trong mũi và cổ họng giúp tạo ra một môi trường khắc nghiệt đối với các virus thích khí hậu lạnh, khô. Đặc biệt, súp gà sẽ làm cho vùng mũi, họng trở nên ẩm ướt, các chất nhầy dễ dàng bong ra giúp thông mũi, đỡ đau họng.

Súp gà sẽ có tác dụng tốt hơn nếu cho trẻ ăn nóng.

5. Muối

Muối dùng để súc miệng rất tuyệt vời và có thể làm dịu cổ họng bị đau. Sử dụng nước ấm và có thể thêm một chút tinh chất từ củ nghệ để thêm tác dụng chống viêm.

Lưu ý:

– Những ‘bài thuốc’ trên đây chỉ hiệu quả cho những triệu chứng ban đầu khi trẻ bị cúm. Các mẹ cần theo dõi triệu chứng của trẻ để xác định thời điểm cần thiết cho trẻ đi khám và dùng thuốc theo đơn.

– Hiện nay nhiều cha mẹ có thói quen tự mua thuốc cho trẻ uống nhưng theo các chuyên gia, không nên tự ý cho trẻ uống thuốc khi trẻ dưới 6 tuổi.

theo kiến thức gia đình

Bé gái lên cơn hen tim tái được cứu sống

Lần đầu tiên khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) tiếp nhận bệnh nhi trong tình trạng sốt cao, khó thở, tím tái, co rút lồng ngực, nhịp tim 210 lần/phút.

Theo bác sĩ Nguyễn Thành Nam, khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), 3 tuần trước bé Nguyễn Minh H (Hoàng Mai, Hà Nội) nhập viện trong tình trạng khó thở rất nặng và được điều trị bằng thuốc giãn phế quản. Mới ra viện được 5 ngày thì đến 6/3, trẻ lại tiếp tục đến cấp cứu trong tình trạng nặng hơn, nhịp tim nhanh, kích thích, vật vã sau đó li bì. Tiền sử gia đình không có ai bị dị ứng hay hen phế quản.

Trẻ được chẩn đoán bị hen phế quản cấp rất nặng. Trước đó, bé chưa có đợt ho, khò khè nào. Bệnh nhi được điều trị tích cực, khí dung, kết hợp các loại thuốc tuy nhiên tình trạng vẫn không cải thiện, co thắt phế quản nhiều, thở kiệt sức. Cuối cùng các bác sĩ quyết định đặt nội khí quản cho thở máy và kết hợp các thuốc khác điều trị hen. Đến ngày 12/3, tình trạng bệnh dần cải thiện, trẻ được cai máy thở.

be_gai_len_hen_duc_cuu_songTheo PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng, những trường hợp trẻ nhỏ bị hen khoa vẫn gặp nhưng diễn biến bệnh thường nhẹ và chữa dễ hơn.

Phó giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cho biết, những trường hợp trẻ nhỏ bị hen khoa vẫn gặp nhưng diễn biến bệnh thường nhẹ và chữa dễ hơn. Trường hợp này bệnh rất nặng, việc cứu chữa cũng khó hơn rất nhiều. Thường trẻ lớn chỉ cần thở máy 1-2 ngày, thậm chí 3 ngày là đã ổn, trong khi bé này phải thở máy đến 6 ngày. Các biểu hiện lên cơn hen cấp ở trẻ cũng giống như người lớn, tuy nhiên trẻ kiệt sức rất nhanh, thời gian chữa cũng lâu hơn.

Theo ông, nguyên nhân khởi phát cơn hen ở bé Như có thể do bụi vải, gia đình có nghề làm may ở nhà. Vì thế, khi ra viện cha mẹ cần tránh cho trẻ tiếp xúc với vải vóc ở nhà, đặc biệt là phải xịt thuốc dự phòng hen.

PGS Dũng cho rằng chẩn đoán hen ở trẻ dưới 2 tuổi rất khó. Đối với trẻ dưới một tuổi lại càng khó hơn, dễ chẩn đoán nhầm sang viêm phổi, viêm tiểu phế quản. Nếu đúng là hen thì khi dùng thuốc giãn phế quản, trẻ sẽ có đáp ứng rất tốt. Hen phế quản là bệnh mãn tính của đường hô hấp gây ra hiện tượng tăng phản ứng phế quản. Nó thường có các đợt khò khè, thở ngắn hơi, nặng ngực và ho tái phát đặc biệt về đêm và sáng.

Đối với trẻ nhỏ, cha mẹ cần đăng ký kiểm soát hen lâu dài cho bé tại một một cơ sở chuyên khoa (ít nhất là 18 tháng). Trong thời gian này, dù con không bị lên cơn hen thì vẫn phải được khám theo chỉ định của bác sĩ, tránh tình trạng thấy con có vẻ đỡ thì không đưa con tới khám nữa.

Theo 24h

Dược liệu cho trẻ còi xương

Còi xương là tình trạng bệnh lý thường gặp ở trẻ nhỏ. Bệnh phát sinh do thiếu vitamin D làm cho chuyển hóa canxi và photpho bị rối loạn dẫn đến quá trình sinh trưởng của hệ xương bị trở ngại, thậm chí có thể gây nên biến dạng xương. Trong y học cổ truyền, còi xương thuộc phạm vi các chứng như “ngũ trì ngũ nhuyễn”, “quy hung quy bối”, “hãn chứng”, “cam chứng”, “bộ phận giải lư”…Người xưa cho rằng trẻ bị còi xương có thể do bẩm thụ các yếu tố từ cha mẹ không đủ (tiên thiên bất túc) hoặc do quá trình nuôi dưỡng kém điều hòa (hậu thiên thất điều) làm cho hai tạng tỳ và thận bị hư tổn. Thận chủ xương tủy, tỳ chủ cơ nhục, tỳ thận hư yếu khiến cho cơ xương mềm yếu, kém vững chắc và dễ bị biến dạng.

Để điều trị căn bệnh này, người xưa rất chú trọng việc sử dụng các thực phẩm và vị thuốc chế biến thành những món ăn rất đơn giản nhưng lại được trẻ dễ chấp nhận, vừa đạt hiệu quả trị liệu vừa cung cấp các chất dinh dưỡng lại rất rẻ tiền và dễ kiếm. Xin được dẫn ra dưới đây một số ví dụ điển hình

duoc_lieu_cho_tre_coi_xuong

– Trứng gà tươi vài quả, rửa sạch, đập lấy vỏ rồi sao vàng tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần 5g với nước cháo.

– Chân con cua 100g rửa sạch, sao vàng tán bột, mỗi ngày cho trẻ uống 5g với nước cháo.

– Trứng gà 1 quả, rửa sạch, luộc chín rồi bóc lấy lòng đỏ, dùng thìa nghiền nhỏ rồi hòa với cháo, ăn nóng.

– Hến 10 con rửa sạch, đánh đều với 1 quả trứng gà rồi hấp cách thủy, ăn nóng.

– Đầu tôm tươi lượng tùy ý, sắc lấy nước uống.

– Xương sụn lợn 500g rửa sạch hầm nhừ với 50g đậu tương rồi cho trẻ ăn làm vài lần với lượng thích hợp.

– Cá trắm đen 1 con, làm sạch (chú ý bỏ hết mật) rồi cắt khúc, xào qua với gừng tươi, hành và một chút dầu thực vật rồi đổ nước hầm thật nhừ, chế đủ gia vị, chia ăn nhiều lần.

– Hà thủ ô 100g, ngưu tất 100g ngâm với rượu trắng trong 7 ngày rồi lấy ra phơi khô, sao thơm tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi lần lấy 5 quả đại táo, khía dọc bỏ hột rồi cho bột thuốc vào trong, đem hấp cách thủy cho chín rồi ăn trong ngày.

– Ô tặc cốt 15g, quy bản 15g, tây thảo 5g. Tất cả sắc kỹ lấy nước, bỏ bã rồi hòa với một chút đường đỏ chia uống vài lần.

– Quy bản 15g, cốt toái bổ 15g, đẳng sâm 10g. Tất cả đem sắc kỹ trong 1 giờ rồi lọc lấy nước, hòa với một chút đường đỏ chia uống vài lần.

– Hoàng kỳ sao 60g, nhân sâm 5g, gạo tẻ 150g. Đem hoàng kỳ và nhân sâm sắc kỹ lấy nước rồi cho gạo vào ninh thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

– Quy bản 30g, chân gà 2 đôi, hồ đào 10g. Quy bản và chân gà chặt vụn, sắc kỹ lấy nước rồi cho hồ đào vào nấu nhừ, nêm đủ muối và gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

– Long cốt 30g, mẫu lệ 20g, sơn thù 10g, gạo tẻ 100g. Các vị thuốc đem sắc kỹ 2 lần, mỗi lần 40 phút rồi lọc lấy nước nấu với gạo thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

– Xương cá sao dấm, bột nhau thai 60g, vỏ trứng gà sao 18g, đường trắng 25g. Tất cả sao khô tán bột. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 0,5g.

– Bột thịt  cóc 10g, lòng đỏ trứng gà 2g, chuối ngự 12g. Đây là liều của một viên thuốc. Bột cóc nên mua ở các cơ sở y tế, chuối sấy khô nhưng còn dẻo, giã nhuyễn, trứng gà đánh tan sấy khô tán bột. Ba thứ trộn lại giã nhuyễn, đóng vào khuôn, sấy khô. Liều dùng: Trẻ em 8 – 20 tháng mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên; 20 – 30 tháng mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 viên; 30 – 40 tháng mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 3 viên.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn
Theo SKĐS

Cách phòng ngừa bệnh còi xương

Còi xương (CX) là bệnh loạn dưỡng xương do thiếu vitamin D hoặc do rối loạn chuyển hóa vitamin D trong cơ thể. Là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 1 tuổi. Tỷ lệ CX ở trẻ dưới 3 tuổi ở nước ta là 9,4% (theo Bệnh viện Nhi Trung ương).

Theo số liệu thống kê tại Trung tâm Khám tư vấn Viện Dinh dưỡng năm 2007 thì bệnh còi xương là bệnh hay gặp nhất tại trung tâm, chiếm tới gần một nửa số trẻ, đạt tỷ lệ 45,5%, đáng lo là bệnh còi xương có xu hướng không giảm qua nhiều năm theo số liệu thống kê từ năm 2003 tại trung tâm và thậm chí năm 2007 còn đạt tỷ lệ cao hơn những năm trước.

Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu nguyên nhân tại sao bệnh còi xương do thiếu vitamin D lại vẫn tồn tại qua nhiều năm nay và có xu hướng tăng lên?

cach_phong_ngua_benh_coi_xuong

Nguồn vitamin D của con người

Có 2 nguồn: ngoại sinh và nội sinh

Ngoại sinh: từ thức ăn. Nguồn này chỉ cung cấp rất ít vitamin D, khoảng 20-40UI/ngày (10UI/1 lít sữa bò, < 50 UI/lít sữa mẹ). Từ đó cho thấy nồng độ vitamin D trong sữa mẹ cao hơn hẳn và cũng dễ hấp thu hơn sữa bò, vì vậy tỷ lệ trẻ còi xương ở trẻ bú mẹ thấp hơn hẳn trẻ bú sữa ngoài.

Nội sinh: Khi da được tiếp xúc với tia cực tím, ví dụ ánh sáng mặt trời thì 7-dehydro cholesterol ở trong da sẽ chuyển đổi thành vitamin D3.

Nguyên nhân còi xương

Phòng bệnh còi xương
Với mẹ: Nên phòng từ khi có thai bằng cách: mẹ nên tiếp xúc ánh nắng hằng ngày.
Ở 3 tháng cuối cùng của thời kỳ thai nghén, người mẹ nên bổ sung vitamin D liều 1.000-1.200UI/ngày hoặc một lần duy nhất 100.000-200.000UI từ tháng thứ bảy, nếu mẹ không có điều kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Với con:
Ăn uống: tốt nhất là bú mẹ. Sau giai đoạn cai sữa vẫn tiếp tục uống sữa công thức tối thiểu 300ml/ngày. Khi ăn dặm phải tra đủ dầu/mỡ vào các bữa ăn dặm để bảo đảm đủ chất béo làm dung môi hấp thu vitamin D.
Tắm nắng, với thời gian thích hợp 15-20 phút mỗi ngày vào sáng hoặc chiều muộn.
Phòng bệnh đặc biệt bằng vitamin D với liều theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Thiếu ánh nắng mặt trời: đây là nguyên nhân hay gặp nhất do thói quen kiêng cữ, sợ trẻ tiếp xúc nắng sớm sẽ hay bị ốm. Điều này rất đáng buồn vì nước ta là nước nhiệt đới, hầu như quanh năm ánh sáng thừa thãi vậy mà tỷ lệ còi xương vẫn cao chỉ vì thiếu hiểu biết không cho con trẻ phơi nắng.

Các bà mẹ cần lưu ý trẻ 2 tuần tuổi đã cần được tắm nắng: tốt nhất là vào buổi sáng sớm (trước 8 giờ) nếu không có thời gian thì buổi chiều muộn. Trung bình yêu cầu 2 tiếng/tuần hay 10-15 phút/ngày tùy vào khả năng của trẻ và mức độ phát triển xương vận động (nếu trẻ ít ốm hoặc trẻ có biểu hiện của chớm còi xương có thể tắm nắng lâu hơn).

Sai lầm trong chế độ ăn dặm của trẻ: ăn sữa bò ở trẻ dưới 1 tuổi: là lứa tuổi nhu cầu vitamin D đang rất cao và nguồn dự trữ canxi hay thiếu hụt ở trẻ đẻ nhẹ cân, đẻ non, vì vậy ở những trẻ này rất thiếu vitamin D dẫn đến còi xương. Hoặc những trẻ ăn quá nhiều chất bột, đạm (thịt) gây tình trạng toan chuyển hóa – tăng đào thải canxi ra nước tiểu. Hoặc do trong chế độ ăn dặm hằng ngày không cho hoặc cho quá ít dầu/mỡ dẫn đến không có dung môi hòa tan để hấp thu được vitamin D.

Các yếu tố thuận lợi khác: tuổi (càng nhỏ càng dễ bị còi xương), đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, bệnh nhiễm khuẩn, trẻ rối loạn tiêu hóa kéo dài.

Chẩn đoán

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.

Triệu chứng lâm sàng:

Các biểu hiện ở hệ thần kinh:

Trẻ ra mồ hôi nhiều kể cả ban đêm (mồ hôi trộm); Trẻ kích thích khó ngủ, hay giật mình; Rụng tóc gáy (do trẻ ra mồ hôi nhiều); Đối với CX cấp có thể gặp: tiếng thở rít thanh quản, cơn khóc lặng, hay nôn, nấc khi ăn. Có thể co giật do hạ canxi máu; Trẻ chậm phát triển vận động: chậm biết lẫy, chậm biết bò.

Các biểu hiện ở xương:

Thóp chậm liền, bờ thóp mềm, bướu trán, bướu đỉnh; Chậm mọc răng, răng hay bị sâu, răng mọc lộn xộn; Lồng ngực hình gà, chuỗi hạt sườn; Vòng cổ chân, vòng cổ tay, xương chi cong.

Toàn thân: nếu không được điều trị, trẻ chán ăn, suy dinh dưỡng, da xanh thiếu máu, lách to.

Xét nghiệm cận lâm sàng:

Phosphatase kiềm tăng (bình thường 40-140UI/l). Phosphatase kiềm về bình thường khi còi xương điều trị khỏi.

Canxi máu: bình thường hoặc giảm (hay gặp trong CX cấp, nếu canxi ion giảm dưới 0,75mmol/l có thể gây co giật).

Phospho máu: giảm nhẹ.

25 (OH) cholecalciferol giảm dưới 25nmol/l (bình thường 25-105nmol/l).

XQ xương:

Xương chi: Xương mất chất vôi. Đầu xương to bè. Đường cốt hóa nham nhở, lõm. Điểm cốt hóa chậm.

Xương lồng ngực: có hình nút chai.

Điều trị: Nên theo đơn thuốc điều trị của bác sĩ chuyên khoa, vì vitamin D rất dễ bị quá liều gây ngộ độc thần kinh nguy hiểm cho trẻ.

Điều trị bằng vitamin D: ergocalciferol, cholecalciferol kéo dài từ 4-6 tuần (đặc biệt có bệnh cấp tính hoặc nhiễm khuẩn). Sterogyl (ergocalciferol tan trong cồn) 1 giọt chứa 400UI vitamin D. Infadin (ergocalciferol tan trong dầu) 1 giọt chứa 800UI vitamin D. Vitamin D 200.000UI 1 liều duy nhất. Dùng theo chỉ định của bác sĩ.

Điều trị phối hợp: uống thêm các loại vitamin, muối canxi.

Nếu có co giật do thiếu canxi: calcium gluconat truyền tĩnh mạch.

Ths.BS. Phan Bích Nga
(Phó Giám đốc TT Khám tư vấn Dinh dưỡng – Viện Dinh dưỡng)
Theo SKĐS

Trẻ em hưởng 40% trí thông minh từ bố mẹ

Phát hiện từ một cuộc nghiên cứu lớn chưa từng có về trí thông minh của trẻ nhỏ đã “đổ thêm dầu” vào cuộc tranh cãi rằng trí thông minh là sản phẩm của tự nhiên hay do di truyền.

Tiến sĩ Beben Benyamin, từ Đại học Queensland và cộng sự đã phân tích ADN từ 18.000 trẻ em tuổi từ 6 đến 18 ở Australia, Hà Lan, Anh và Mỹ, cùng với chỉ số thông minh IQ của các em. Họ tìm hiểm mối liên quan giữa sự khác biệt cấu trúc trong ADN của các em nhỏ với sự khác biệt trong chỉ số IQ.

Kết quả cho thấy, từ 20 đến 40% IQ của trẻ là do yếu tố gene, thấp hơn con số dự báo 40-50% như các nghiên cứu trước kia chỉ ra.

huong_tri_thong_minh_tu_ba_me_01

Ảnh: io9.com.

Cụ thể, một gene có tên gọi FNBP1L có liên hệ mật thiết với trí thông minh của trẻ nhỏ. Cũng chính gene này trước đây được khẳng định là gene có ý nghĩa nhất chỉ báo trí thông minh ở người trưởng thành.

Tiến sĩ Beben cho biết: “Ước ượng về tỷ lệ đóng góp của ADN lần này thấp hơn các nghiên cứu trong gia đình, nhưng nó cũng nhất quán với kết luận rằng trí thông minh thủa nhỏ là do thừa kế”.

Điều đó cũng có nghĩa có thể rất nhiều gene góp phần vào trí thông minh ở trẻ, mỗi gene một ít, nhưng cộng hưởng tạo nên tác dụng, nghiên cứu phỏng đoán.

Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ là rất quan trọng, bởi IQ là chỉ số tốt để chỉ báo về tuổi thọ, trình độ học vấn và thu nhập khi trưởng thành, giáo sư Benyamin cho biết.

Theo vnexpress

Nhìn con sống tự kỷ mà xót lòng

“Mỗi lần nhìn thấy con lớn lên trong cảnh khờ khạo, la hét ầm ĩ, nghịch ngợm vô thức mà lòng tôi thắt lại”. Chị Nguyễn Thanh Tâm (Hai Bà Trưng, Hà Nội) đau lòng nói về đứa con 2 tuổi mắc bệnh tự kỷ .

Hối tiếc vì phát hiện muộn

Chị Tâm chia sẻ, chị thấy con có biểu hiện khác so với các bạn. Chị chủ quan nghĩ rằng con không mắc bệnh tự kỷ. Năm  2 tuổi chị cho con đi khám ở bệnh viện Nhi Trung ương, bác sĩ kết luận: “Cần theo dõi tự kỷ”. Mặc dù có biểu hiện bệnh, và có kết luận của bác sĩ nhưng gia đình chị lại cho rằng đó là do cháu chậm nói nên chủ quan và bỏ lỡ cơ hội để chữa bệnh cho con.

Giờ đây, bệnh tự kỷ của con trai chị đã hiện rõ hơn trong cuộc sống của cả gia đình. Lúc thì cháu hờn dỗi lúc thì đập phá, la hét. Chị tuyệt vọng và cảm thấy bế tắc. “Có những lúc tôi bế tắc, tôi tự trách mình tại sao khi thấy con có biểu hiện khác thường lại không đi khám ngay. Chính tôi đã bỏ lỡ thời gian can thiệp vàng của con.” Chị Thanh ngậm ngùi.

Chị Thanh còn nhớ như in cái cảm giác đau đớn tủi hờn khi có một trường mẫu giáo không nhận con vào học. Chị đã ôm con chạy thẳng về nhà. Sau lần xin học đầu tiên bị từ chối, chị Thanh càng tự trách mình nhiều hơn. “Con mình đến đi học mẫu giáo còn không được thì có thể làm gì đây. Tôi cảm thấy như rơi xuống vực thẳm”. Chị Thanh chua xót.

Cháu V.H.N (Tây Hồ, Hà Nội) được các bác sĩ khoa Tâm bệnh, Bệnh viện Nhi Trung ương chẩn đoán mắc bệnh tự kỷ khi 6 tuổi.

Anh Vũ Đình Tuấn (cha của cháu N) cho biết, đi học nhưng cháu có nhiều hành vi lạ, nét mặt thờ ơ, kết quả học tập rất kém. Cuối năm lớp 1 cháu N vẫn không biết 1 cộng 1 bằng mấy. Gia đình cho đi khám thì biết N mắc bệnh tự kỷ. Cháu phải dừng việc học ở trường và phải có chế độ chăm sóc đặc biệt.

Xót lòng nhìn con sống với bệnh tự kỷ, Sức khỏe đời sống, Benh tu ky, tre tu ky, dau hieu nhan biet tre tu ky, can thiep som, hanh vi la, cham soc dac biet, suc khoe, tre nho, bao

tre_tu_ky

Trẻ tự kỷ cần được phát hiện sớm. (Ảnh minh họa)

Theo Th.s Nguyễn Thu Hà (Khoa Tâm bệnh), Bệnh viện Nhi Trung ương, ở Việt Nam hầu hết số trẻ bị bệnh tự kỷ đều phát hiện rất muộn. Còn tại Bệnh viện Nhi đồng TPHCM, trong khi năm 2000 có 2 trẻ chẩn đoán tự kỷ thì đến năm 2008 có đến 324 trẻ mắc bệnh tự kỷ. Trong số này, phần lớn trẻ được phát hiện và chẩn đoán khi quá 2 tuổi trong khi đó bệnh tự kỷ chẩn đoán sớm trước 2 tuổi  sẽ có cơ hội trở thành như người bình thường.

Không có thuốc điều trị

Theo TS Nguyễn Thị Hương Giang (Bệnh viện Nhi Trung ương), hiện nay không có thuốc điều trị khỏi bệnh tự kỷ mà chỉ có thuốc giảm tăng động, giảm tính hung hăng, điều trị cảm xúc và tăng tính tập trung.

TS Giang cho biết, chẩn đoán bệnh tự kỷ rất phức tạp. Khi đưa ra kết luận chẩn đoán một em bé bị tự kỷ, gia đình thường rất sốc nên phải thật chắc chắn mới khẳng định bệnh. Tuy nhiên, đối với các bé có các dấu hiệu “báo động sớm” của bệnh tự kỷ, gia đình cũng nên cho trẻ điều trị ngay.

PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Yến, Phó viện trưởng, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cũng cho rằng, bệnh tự kỷ chưa có phương pháp nào chữa khỏi. Việc điều trị cho trẻ tự kỷ mang ý nghĩa nâng đỡ, giúp trẻ đa dạng hóa kỹ năng, tự chăm sóc bản thân và dễ hòa nhập hơn. Tuy nhiên, trẻ bị bệnh tự kỷ được can thiệp sớm sẽ có nhiều cơ hội phát triển hơn.

Trẻ bị bệnh tự kỷ thường biểu hiện khi trẻ 7-8 tháng tuổi. Tuy nhiên, cần ít nhất 6 tháng khám, bao gồm các công đoạn như khai thác kỹ tình trạng và những biểu hiện của trẻ từ lúc mới sinh, theo dõi trẻ, thực hiện các bài test và khám kỹ nhiều lần thì mới có thể đưa ra kết luận.

Các chuyên gia khuyến cáo, cha mẹ thấy con có biểu hiện lạ về ngôn ngữ, hành vi nên đi khám ngay để được can thiệp sớm. Ngoài ra, cha mẹ cũng nên thường xuyên cho con đi khám và đánh giá theo định kỳ, phối hợp với các nhà chuyên môn vì chẩn đáon đúng và phát hiện sớm rất có ích cho trẻ.

Theo 24h

Trẻ nhỏ nên ăn mỗi ngày một quả trứng

Đó là khuyến cáo được GS-TS Lê Thị Hợp, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia, đưa ra tại buổi công bố kết quả khảo sát tình trạng dinh dưỡng trẻ em Việt Nam và khu vực Đông Nam Á được Viện Dinh dưỡng quốc gia và Hội Dinh dưỡng Việt Nam tổ chức cuối tuần qua.

Theo nghiên cứu này, hơn 50% trẻ em Việt Nam thiếu hụt các vi chất như vitamin A, B1, C, D và sắt trong khẩu phần ăn. Con số này cao hơn so với 3 nước khác được khảo sát là Malaysia, Thái Lan và Indonesia. Cũng theo GS Hợp, nguồn cung cấp vitamin D trong khẩu phần ăn chủ yếu từ các sản phẩm có nguồn gốc động vật, trong đó có trứng, sữa, thịt…

tre_nho_nen_an_moi_ngay_mot_qua_trung

Với trẻ nhỏ, trứng và sữa là sản phẩm rất cân đối. Với trẻ trên 2 tuổi, các bà mẹ có thể cho con ăn mỗi ngày một quả trứng, người trưởng thành có thể ăn 2-3 quả trứng/ngày. Trứng là thức ăn nhiều chất béo, các vitamin, khoáng chất, đặc biệt là vitamin D rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ.

Theo bác sĩ Lê Nguyễn Bảo Khanh, Viện Dinh dưỡng quốc gia, bữa ăn truyền thống của người Việt hiện chưa đáp ứng được nhu cầu của trẻ đang trong giai đoạn phát triển. Đáng lưu ý, trẻ ở khu vực thành thị có tỉ lệ thiếu vitamin D cao hơn trẻ nông thôn. Nhóm trẻ gái ở thành thị có tỉ lệ thiếu vitamin D cao nhất là hơn 58%.

Nghiên cứu này cũng cho thấy gánh nặng  kép về dinh dưỡng mà Việt Nam đang phải đối mặt. Đó là tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân vùng thành thị là 10,8 %, nông thôn là 20,8%. Trong khi đó, ở thành thị, trẻ béo phì lại cao hơn gấp 5 lần so với nông thôn (29% so với 5%).

Theo SKĐS/ Theo Người lao động

Bệnh não mô cầu – Nguyên nhân và cách phòng bệnh

Bệnh não mô cầu là bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi trùng Nesseria meningitidis gây ra, vi trùng có thể gây tổn thương nhiều nơi trong cơ thể nhưng chủ yếu là nhiễm trùng huyết và viêm màng não. Bệnh có thể xảy ra khắp nơi, gây thành dịch do lây lan nhanh.

Thể lâm sàng gây tử vong cao diễn tiến nhanh trong vòng 24 giờ kể từ khi khởi bệnh là nhiễm não mô cầu tối cấp. Đối tượng mắc bệnh chủ yếu là trẻ nhỏ dưới 2 tuổi và thanh thiếu niên trước đó khỏe mạnh.

benh_nao_mo_cau_nguyen_nhan_va_cach_phong_benh

Người là đối tượng tự nhiên, duy nhất mang mầm bệnh, bao gồm người bệnh và người lành mang trùng (mang vi trùng nhưng không mắc bệnh, vi trùng thường trú ở vùng họng mũi). Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp. Thường xảy ra ở những nơi đông người, điều kiện sống chật chội, kém vệ sinh, vào những tháng mùa lạnh và ở nước ta bệnh có thể xuất hiện vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa.

Bệnh não mô cầu thường biểu hiện với 3 thể lâm sàng: viêm màng não, viêm màng não kèm nhiễm trùng huyết và nhiễm trùng huyết không có viêm màng não.

Bệnh khởi phát đột ngột với sốt cao, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, nôn ói, xuất hiện chấm xuất huyết có màu đỏ (khi đè không mất) thường ở hông, mông, đầu gối, cẳng chân hay một số trường hợp có xuất huyết kết mạc. Trường hợp nặng trong vài giờ sau sốt người bệnh có thể thay đổi tri giác, không nhận thức được, tay chân lạnh, da xanh, vã mồ hôi, những chấm xuất huyết màu đỏ to ra, xuất hiện nhiều hơn và trở nên tím thẫm hay hoại tử đen.

Thể nhiễm trùng huyết tối cấp diễn tiến nhanh chóng đến suy tuần hoàn, suy hô hấp và thường tử vong trong vòng 6-12 giờ sau khởi bệnh. Người bệnh thường bứt rứt, thay đổi tri giác sớm, tay chân giá lạnh, không còn mạch và huyết áp, xuất huyết dưới da nhiều nơi và có màu tím thẫm hay đỏ bầm. Đối tượng có tỷ lệ tử vong cao cho thể lâm sàng này là trẻ nhỏ dưới 2 tuổi và thanh thiếu niên, đặc biệt là những thanh niên khỏe mạnh vạm vỡ, hay trẻ bụ bẫm. Tỷ lệ tử vong hay biến chứng thấp hơn với thể nhiễm trùng huyết hay viêm màng não.

Nếu bệnh được chẩn đoán và điều trị sớm với kháng sinh thích hợp có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và những biến chứng của bệnh lý này.

Bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắcxin, và dự phòng nhiễm bệnh cho người có tiếp xúc gần với người đang bị bệnh bằng kháng sinh (tiếp xúc gần là tiếp xúc với khoảng cách dưới 1 mét, trong thời gian hơn 8 giờ hay sống cùng người bệnh trong thời gian 1 tuần trước hay 1 ngày sau khi bệnh nhân phát bệnh mà chưa được dùng kháng sinh).

Vắc xin có thể phòng bệnh cho nhiều thể huyết thanh của vi trùng (A,C,Y, W135) nhưng hiện nay chưa có vắc xin cho thể huyết thanh B.

Khi xuất hiện triệu chứng sốt, nổi chấm đỏ xuất hiện sớm trong 1 hay 2 ngày đầu của bệnh, người bệnh nên đến khám sớm tại cơ sở y tế để được chẩn đoán, xử trí và hướng dẫn kịp thời.

Đăng bởi: Khoa Hồi Sức
Theo benhviennhi.org.vn

Lao sơ nhiễm ở trẻ

Theo số liệu thống kê, trong số 100 người nhiễm lao, khoảng 10 người sẽ trở thành bệnh nhân lao. Ở Việt Nam , lao sơ nhiễm thường xảy ra ở trẻ nhỏ Trong đại đa số trường hợp lao sơ nhiễm chỉ thể hiện bằng những triệu chứng không đặc hiệu như ho, sốt, đổ mồ hôi trộm, chậm lớn, biếng ăn, sụt cân.

Lao sơ nhiễm là  những biểu hiện của một cơ quan trong cơ thể sau lần đầu tiên tiếp xúc với vi khuẩn lao.

Những trường hợp không có biểu hiện lâm sàng mà chỉ có thay đổi sinh học với bằng chứng là có phản ứng dương tính với Tuberculin thì được gọi là nhiễm lao hay lao sơ nhiễm tiềm tàng.

lao_so_nhiem_o_tre

 Vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể gây tổn thương sơ nhiễm bằng ba con đường.

− Đường hô hấp: Do hít phải các giọt nước bọt có chứa từ 1 đến 2 vi khuẩn lao mà người bị lao phổi ho khạc bắn ra bên ngoài.

− Đường tiêu hoá: Lây nhiễm theo con đường này phần lớn là do uống phải sữa tươi của những con bò bị lao vú chưa tiệt trùng hoặc tiệt trùng không đúng nguyên tắc. Do nuốt phải vi khuẩn lao lẫn trong thức ăn, đồ uống khác. Thể đặc biệt là lao sơ nhiễm bẩm sinh, do thai nhi nuốt phải nước ối hoặc dịch âm đạo có vi khuẩn lao do người mẹ bị lao nội mạc tử cung hoặc lao âm đạo.

− Đường da – niêm mạc: Lây nhiễm theo đường này hiếm gặp hơn, vi khuẩn lao có thể xâm nhập vào những vùng da sây sát, chảy máu hoặc những vùng niêm mạc mắt, họng… bị tổn thương.

Vi khuẩn lao gây tổn thương sơ nhiễm ở những nơi xâm nhập: phế nang phổi, niêm mạc ruột,  mắt, họng hoặc , da hình thành ổ loét sơ nhiễm; sau đó theo đường bạch huyết lan vào các hạch khu vực, phát triển ở đây tạo thành phức hợp sơ nhiễm.

Tuổi càng nhỏ nguy cơ mắc lao sơ nhiễm càng cao, nhất là trẻ nhỏ chưa được tiêm ngừa hoặc ở trẻ suy dinh dưỡng, còi xương hay nhiễm khuẩn khác. Tuổi thông thường mắc bệnh lao sơ nhiễm là từ 1 đến 5 tuổi. ở các nước phát triển, bệnh lao không đáng kể, nguồn lây ít, tuổi mắc bệnh cao hơn, từ 8 – 12 tuổi.

Sự tiếp xúc gần gũi với nguồn lây cùng sống trong một gia đình, đặc biệt là những người trực tiếp chăm sóc trẻ như người mẹ, người giúp việc bị lao sẽ làm cho trẻ dễ bị lao sơ nhiễm.

Đa số bệnh nhân lao sơ nhiễm có triệu chứng âm thầm như sốt nhẹ về chiều, mệt mỏi, chán ăn, sút cân, đổ mồ hôi lúc ngủ dù là trời lạnh. Những thể nặng hơn có sốt dao động, thân nhiệt thay đổi trên dưới 380C và những biểu hiện toàn thân nhiều hơn.

Triệu chứng hô hấp: Ho dai dẳng, có thể lúc đầu ho khan sau đó ho đàm , hoặc ho ra chất như bả đậu. Khi hạch lớn có thể gây chèn ép : bệnh nhân thở khò khè, khó thở.

Ngoài ra lao sơ nhiễm còn biểu hiện nơi khác như đau bụng, tiêu chảy kéo dài , hoặc có hạch trong ổ bụng,v.v..

Nếu chẩn đoán điều trị không kịp thời lao sơ nhiễm phổi có các biến chứng như xẹp phổi, lao phế quản, lao phổi , lao kê phổi, lao xương, lao màng phổi,V.V…

Tiêm vaccin BCG : Tiêm vaccin BCG cho trẻ sơ sinh là biện pháp tốt ngăn chặn mắc lao sơ nhiễm, nhất là ở các nước bệnh lao còn nhiều trong đó có Việt Nam . Ở những trẻ đã có tiêm ngừa nếu vi khuẩn lao xâm nhập cũng chỉ gây nên 1 sơ nhiễm nhẹ, ít có biến chứng nguy hiểm như lao màng não hay lao kê v.v..

Trẻ không tiêm vaccin BCG có nguy cơ mắc bệnh cao hơn trẻ đã tiêm. Tuy nhiên trẻ đã được tiêm vaccin tiếp xúc gần gũi với nguồn lây mạnh vẫn có khả năng lây bệnh. Hiệu quả bảo vệ của BCG khoảng 80%.

 Phòng bệnh

– Điều kiện sống phải vệ sinh , thông thoáng, trẻ nên tiếp xúc nhiều với thiên nhiên, khí trời tự nhiên càng nhiều càng tốt.

– Những người tiếp xúc với trẻ nên được kiểm tra sức khỏe, đề phòng có nguồn lây nhiễm .

– Khi cho trẻ uống sữa tươi phải nấu kỹ hoặc dùng những sản phẩm sữa tươi có tiệt trùng bảo đảm.

– Phòng chống các bệnh khác như  suy dinh dưỡng, còi xương, nhiễm khuẩn, nhiễm virus v.v…

–  Ăn uống đầy đủ chất, trẻ nhỏ nên bú sữa mẹ sớm sau sinh đến 1- 2 tuổi và ăn dặm đúng cách.

– Chích ngừa đầy đủ bệnh lao sau sinh và những bệnh khác.

Đăng bởi: BS.CK2.Nguyễn Thị Thanh – TK.Dịch vụ 1
Theo benhviennhi.org.vn

Cách nhận biết trẻ bị viêm tai

Bệnh viêm tai là tình trạng  gây đau trong tai , sốt và một số vấn đề về thính giác. Viêm tai giữa rất phổ biến ở trẻ em. Viêm tai thường xảy ra ở trẻ em sau khi bé bị nhiễm lạnh. Mủ có thể hình thành ở  phần giữa của tai ,phía sau màng nhĩ. Mủ này có thể bị nhiễm trùng và ép vào màng nhĩ, làm cho màng nhĩ phồng có thể làm giảm thính lực và đôi khi có thể dẫn đến các vấn đề với ngôn ngữ và khả năng nói.

cach_nhan_biet_tre_bi_viem_tai

Các triệu chứng của viêm tai?  

Ở  trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, các triệu chứng bao gồm:

–  Sốt cao

–  Trở nên cáu gắt hơn hoặc kém năng động hơn bình thường

–  Biếng ăn hoặc ăn ít

–  Ói mửa hay tiêu chảy

Ở trẻ lớn hơn, thường bao gồm các triệu chứng đau tai hoặc mất thính lực tạm thời.

Làm thế nào để biết trẻ có bị viêm tai?

Nếu nghi ngờ con bạn bị viêm tai, hãy đưa  trẻ đến bệnh viện có chuyên khoa Tai – Mũi  – Họng.  Bác sĩ  sẽ thăm khám, hỏi triệu chứng và tiến hành soi tai  và cho bạn biết liệu con của bạn bị viêm tai hay không.

Làm thế nào điều trị nhiễm trùng tai?

– Các bác sĩ có thể điều trị viêm tai với thuốc kháng sinh. Những loại thuốc này tiêu diệt vi khuẩn là tác nhân gây ra một số bệnh nhiễm trùng tai. Nhưng các bác sĩ không phải lúc nào chỉ định những loại thuốc này ngay lập tức. Một số bệnh viêm tai do virus là tác nhân – không phải vi khuẩn – thuốc kháng sinh không thể diệt virus được. Thêm vào đó, nhiều trẻ em có thể vượt qua bệnh nhiễm trùng tai mà không cần dùng đến thuốc kháng sinh

Đối với trẻ lớn hơn 2 tuổi, bác sĩ đôi khi cân nhắc việc chỉ định  thuốc kháng sinh. Bác sĩ có thể đề nghị theo dõi  các triệu chứng của trẻ trong một hoặc hai ngày trước khi quyết định sử dụng thuốc kháng sinh để liệu xem:

–  Tổng quan, sức khỏe của bé  tốt

–  Những cơn đau và sốt không nghiêm trọng

–  Thăm khám tai không thấy biểu hiện nhiễm trùng tai

Khi nào nên đến gặp bác sĩ?

–  Sau 1-2 ngày theo dõi các triệu chứng của bé, nếu những cơn đau và sốt không  giảm.

–  Sau 2 ngày, nếu con bạn uống thuốc kháng sinh và triệu chứng không được cải thiện hoặc trở nên tồi tệ hơn.

– Nếu mủ tai vẫn không hết, bác sĩ có thể đề nghị thêm điều trị để giúp dẫn lưu mủ. Điều này liên quan đến một phẫu thuật, bác sĩ đặt một ống nhỏ ở màng nhĩ.

Có thể làm giảm số lần viêm tai giữa mắc phải của trẻ được không ?

Có. Nếu con của bạn bị viêm tai mãn tính, hãy hỏi bác sĩ những gì bạn có thể làm để ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng lặp lại. Các bác sĩ có thể đề nghị con bạn :

–  Dùng kháng sinh mỗi ngày  kéo dài nhiều tháng nhất định trong năm

–  Phẫu thuật để đặt một ống nhỏ ở màng nhĩ

–  Tiêm vắc xin định kỳ.

Dịch từ nguồn : Patient information: Inner ear infections – Uptodate.
Đăng bởi: CN.Phạm Lê Thiên Ngữ – Khoa Vi sinh (dịch từ nguồn Uptodate)
Theo benhviennhi.org.vn

Viêm tiểu phế quản hay gặp ở trẻ nhỏ

Viêm tiểu phế quản là bệnh hô hấp cấp tính, rất hay gặp ở trẻ nhỏ do viêm tắc các đường hô hấp nhỏ (hay còn gọi là tiểu phế quản). Bệnh xuất hiện trong 2 năm đầu, với tần suất cao nhất vào 6 tháng tuổi và ở nhiều nơi bệnh là một trong những nguyên nhân thường xuyên làm trẻ phải nhập viện.

Bệnh xuất hiện quanh năm, cao nhất vào mùa đông và đầu mùa xuân, có thể xuất hiện lẻ tẻ, đôi khi thành dịch. Nếu bệnh được phát hiện và điều trị sớm sẽ cho kết quả tốt, những trường hợp nặng gây suy hô hấp có thể bị tử vong.

Trẻ nào dễ mắc bệnh?

Tác nhân viêm tiểu phế quản ở trẻ thường là do các virut như: virut hợp bào hô hấp (VRS), chiếm 30 – 50% các trường hợp mắc bệnh. Virut cúm và á cúm cũng gây bệnh cho khoảng 25% số trẻ bị viêm tiểu phế quản. Ngoài ra phải kể đến Adenovirus với 10% số mắc.

Nếu trẻ sống trong vùng có dịch cúm hay viêm đường hô hấp trên (do virut hợp bào) thì tỷ lệ bị lây nhiễm rất cao do sức đề kháng ở cơ thể trẻ còn quá yếu, nhất là trẻ đang ở tuổi bú mẹ mà không được bú đầy đủ sữa mẹ.

Ngoài ra, các trường hợp trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, bệnh phổi bẩm sinh, sống trong môi trường hút thuốc lá thụ động, không khí ô nhiễm, nhà ở ẩm thấp, chật chội, hay bị suy giảm miễn dịch đều có nguy cơ cao mắc phải viêm tiểu phế quản.

viem_tieu_phe_quan_tre_nho_01

Virut Respiratoire Syncytial (VRS) – virut hợp bào hô hấp gây viêm tiểu phế quản.

Dấu hiệu để nhận biết

Viêm tiểu phế quản là bệnh chỉ xảy ra ở trẻ dưới 24 tháng tuổi, thường gặp nhất là 3 – 6 tháng tuổi. Khi mắc bệnh, các phế quản nhỏ này bị viêm, sưng phù, tiết nhiều dịch làm cho đường thở của trẻ bị chít hẹp thậm chí tắc nghẽn. Vì vậy, trẻ sẽ bị khò khè, khó thở và nặng hơn nữa trẻ sẽ bị thiếu ôxy để thở.

Triệu chứng ban đầu thường thấy nhất là tình trạng trẻ ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Bạn nên lưu ý vì sốt không phải triệu chứng đặc trưng của bệnh. Trên thực tế, có rất nhiều trẻ viêm tiểu phế quản không bị sốt hoặc chỉ bị sốt nhẹ. Trẻ có thể xuất hiện những cơn ho ngày một kéo dài, nhất là về nửa đêm hoặc gần sáng. Khi ấy, trẻ thường thở khò khè hoặc khó thở, thậm chí ngừng thở, bú kém, hay bị nôn trớ. Thông thường, trẻ sẽ khò khè kéo dài khoảng 7 ngày sau đó giảm dần rồi khỏi hẳn. Cá biệt có một số trường hợp ho sẽ kéo dài hơn.

Viêm tiểu phế quản là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp nặng ở trẻ nhỏ đặc biệt là các nước Âu – Mỹ vì bệnh có khả năng trở thành dịch lớn. Ở Hoa Kỳ: 120.000 trẻ nhập viện vì viêm tiểu phế quản hằng năm. Ở Việt Nam, theo một thống kê chưa đầy đủ cho thấy, đây cũng là bệnh phổ biến ở trẻ dưới 2 tuổi, với một con số ước tính khoảng 40% số ca bệnh nhi phải điều trị tại các khoa hô hấp.

Biến chứng nào có thể xảy ra?

Nếu không được chẩn đoán đúng bệnh và điều trị tốt sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như: rối loạn chức năng hô hấp, xuất hiện từng cơn khó thở tái phát, viêm tiểu phế quản lan tỏa. Nghiêm trọng hơn sẽ làm trẻ bị suy hô hấp cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi – trung thất, xẹp phổi và thậm chí tử vong.

Bệnh sẽ có biến chứng nặng hơn ở trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non – nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng nặng, trẻ có sẵn bệnh tim, phổi, suy giảm miễn dịch.

Điều trị và phòng bệnh

Với các trường hợp nhẹ chỉ cần chăm sóc tại nhà: tiếp tục cho trẻ bú hay ăn uống đầy đủ. Cần cho trẻ uống nhiều nước để tránh thiếu nước và làm loãng đờm. Có thể nhỏ mũi 2-3 giọt nước muối sinh lý sau đó làm sạch mũi cho trẻ. Để giảm ho, long đờm cho bé có thể sử dụng mật ong hấp với quả quất còn xanh hoặc mật ong hấp lá hẹ. Nếu các biện pháp trên không mang lại hiệu quả, cần đưa bé tới bác sĩ khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

viem_tieu_phe_quan_tre_nho_02

Hình ảnh viêm tiểu phế quản xơ hóa tắc nghẽn trên phim chụp Xquang.

Những trẻ có dấu hiệu nặng như khó thở, bú kém, tím tái… hoặc có các yếu tố nguy cơ như trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non, có bệnh tim phổi bẩm sinh, trẻ suy giảm miễn dịch thì cần nhập viện.

Để phòng bệnh hiệu quả, các bà mẹ hãy cho trẻ bú sữa mẹ đến 2 tuổi, không để trẻ bị lạnh, giữ cho môi trường sống của trẻ được trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói bếp than, khói thuốc lá, mầm bệnh.

Tránh cho trẻ tiếp xúc gần gũi với trẻ lớn, người lớn đang bị cảm lạnh cũng như các trẻ bệnh khác. Cần rửa tay sạch sẽ trước khi chăm sóc trẻ (vì virut gây bệnh lây lan chủ yếu qua việc tiếp xúc trực tiếp). Cha mẹ nên vệ sinh cơ thể, đặc biệt là khu vực tai, mũi, họng cho trẻ hằng ngày.

Phòng ngủ của trẻ cần được đặc biệt thông thoáng, trong lành. Không nên trải thảm trong phòng trẻ. Nên thường xuyên giặt chăn, gối dành cho trẻ, sau đó phơi nắng thật khô.

Theo suckhoevadoisong/24h

Khi “cậu bé” của bé bé hơn bình thường

Ở trẻ nhỏ, nếu dương vật ngắn dưới 2 cm thì nên đi khám sớm, tránh nhiễm trùng.

Nhận thấy “cậu bé” của con trai mình ngắn hơn rất nhiều so với đứa cháu sinh cùng tháng nhưng anh T. (Biên Hòa, Đồng Nai) vẫn tự nhủ chắc do con mình còn nhỏ nên “cậu bé” của nó chưa lớn. Đến khi lên hai, bé trai thường xuyên bí tiểu và tiểu đau, anh đưa con đi khám thì mới biết con mắc phải hội chứng vùi dương vật. Không bị tiểu đau hay bí tiểu như con anh T. nhưng bé MP (quận 11, TP.HCM) đã ba tuổi rồi mà dương vật dài chưa tới 1 cm. Hóa ra vì cậu ta quá béo khiến “cậu bé” bị lớp mỡ thành bụng che khuất.

khi_cau_be_cua_be_be_hon_binh_thuong

Theo Thạc sỹ bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (khoa Thận-Niệu, BV Nhi đồng 2), vùi dương vật là một dị dạng bẩm sinh của bộ phận sinh dục ngoài. Dương vật người bệnh vẫn có kích cỡ bình thường nhưng bị vùi trong lớp da quy đầu, thành bụng hoặc dưới lớp da xương mu khiến chúng trông ngắn hơn bình thường.

Phần lớn các trường hợp là do da quy đầu không bao phủ hết đầu dương vật khiến dương vật không nằm ở vị trí cố định như bình thường. Hẹp bao quy đầu cũng là một “thủ phạm” thường gặp khiến dương vật ẩn đi một phần do bị bọc trong bao quy đầu. Ngoài ra, trẻ béo phì cũng hay bị lớp mỡ thành bụng che lấp dương vật làm chúng ngắn lại. Với trường hợp trẻ béo phì, chỉ cần vận động, tập thể dục, khi lớp mỡ thành bụng giảm đi thì “cậu bé” sẽ tự động nhô ra. Còn hai trường hợp trên thì phải can thiệp ngoại khoa để trả lại vị trí đúng cho “cậu bé”.

Thông thường ở trẻ nhỏ, độ dài từ xương mu đến đầu dương vật nếu dưới 2 cm thì gọi là ngắn (ở người lớn là dưới 4-6 cm). Nếu thấy dương vật trẻ có kích thước dưới 2 cm thì nên đưa trẻ đi khám để phát hiện bệnh sớm. Bởi nếu không được điều trị sớm, nước tiểu tích tụ sẽ làm nhiễm trùng khoang giữa lớp trong của bao quy đầu và quy đầu, gây viêm quy đầu xơ và tắc, nhiễm trùng tiểu, tiểu đau, tiểu phồng bao quy đầu và bí tiểu.

Bác sĩ Thạch cũng khuyến cáo thêm vì đây là một loại bệnh mới nên nhiều bác sĩ cũng chẩn đoán nhầm lẫn và xử lý không đúng. Có trẻ không bị vùi lại chẩn đoán vùi và tiến hành phẫu thuật. Có trường hợp vùi thật nhưng bác sĩ lại chẩn đoán hẹp da quy đầu và cắt bỏ khiến da vốn thiếu lại càng thiếu và dương vật càng bị thụt vào trong hơn. Không ít trường hợp chẩn đoán đúng là vùi nhưng phẫu thuật không đúng cách khiến trẻ phải mang di chứng và phải phẫu thuật lại nhiều lần. Vì vậy, phụ huynh cần đưa trẻ đến khám tại những cơ sở chuyên khoa tin cậy để tránh rủi ro.

Đăng bởi: Ths.BS.Phạm Ngọc Thạch – Khoa Thận Niệu
Theo benhviennhi.org.vn

Dùng thuốc nhỏ mũi phải an toàn cho mũi.

Việt Nam là nước khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, khi chuyển mùa thì nóng lạnh thất thường nên hay gây ra viêm mũi họng. Hẳn là rất nhiều người đã từng dùng thuốc nhỏ mũi, xịt mũi do tự mua ở hiệu thuốc hoặc được bác sĩ kê đơn 1 lần rồi tự mua dùng những lần tiếp theo, nhưng liệu bạn có để ý các lọ thuốc này bao gồm những thành phần gì và dùng như thế nào để an toàn cho mũi?

Mỗi loại thuốc nhỏ, xịt mũi chứa các thành phần khác nhau và cách dùng chúng trong trường hợp nào, kéo dài bao lâu thì tốt cho mũi mà vẫn an toàn phụ thuộc vào chính các thành phần trong đó. Các thuốc xịt, nhỏ mũi dùng để điều trị triệu chứng của viêm mũi. Viêm mũi thường biểu hiện 3 triệu chứng chính là hắt hơi, chảy mũi và ngạt mũi. Dựa vào bản chất thành phần trong lọ thuốc xịt, nhỏ mũi thì trong hàng chục loại thuốc này có trên thị trường chỉ nằm gọn trong 4 nhóm sau:

Thuốc co mạch: ví dụ naphazoline, oxymethazoline, xylomethazoline. Đặc điểm chung của các thuốc này là có tính chất co mạch, qua đó làm giảm sung huyết các cuốn mũi, giúp thông mũi nhanh ngay sau khi dùng vài phút, tác dụng kéo dài từ 8-12 tiếng nên 1 ngày dùng 2-3 lần là đủ. Thuốc này chỉ có tác dụng làm thông mũi mà không có tác dụng đối với các triệu chứng khác của viêm mũi.

Naphazoline gây co mạch rất mạnh nên không được dùng cho trẻ dưới 7 tuổi, ngoài ra do tác hại mạnh đến hệ thông lông chuyển ở niêm mạc mũi nên thuốc này hiện nay được khuyến cáo không nên dùng ngay cả với người lớn.

Oxymethazoline và xylomethazoline được thay thế và tin dùng hơn. Hai nhóm này có chế phẩm riêng theo hàm lượng dùng cho người lớn và trẻ nhỏ. Tuy nhiên, các thuốc co mạch đều có chung tác dụng phụ là làm mất tính đàn hồi niêm mạc mũi, gây phì đại cuốn mũi, nhất là khi dùng thường xuyên và kéo dài. Do đó, chỉ nên dùng khi thật sự ngạt mũi nhiều, ảnh hưởng đến thở và sinh hoạt, không nên dùng quá 7 ngày một đợt. Khi dùng quá 7 ngày mà vẫn ngạt mũi thì nên đến khám bác sĩ tai – mũi – họng.

su_dung_thuoc_nho_mui_an_toan_01

Dùng thuốc nhỏ mũi phải an toàn cho mũi.

Thuốc corticosteroid:

Ví dụ dược chất fluticasone propionate, mometasone, budesonide…
Các thuốc này chứa các corticosteroid tổng hợp có tác dụng chống viêm, chống dị ứng, do đó có tác dụng giảm cả 3 triệu chứng là hắt hơi, chảy mũi và ngạt mũi. Các dòng thuốc này không có tác dụng ngay sau khi dùng, mà phải đợi sau 3-5 ngày dùng thuốc. Các dược chất này sau khi xịt vào mũi sẽ có tác dụng tại chỗ ở mũi, một phần sẽ được hấp thu vào máu chuyển hóa qua gan thành các chất không có hoạt tính, do đó không hoặc rất ít tác dụng phụ ảnh hưởng đến toàn thân như các thuốc dạng corticosteroid đường uống và tiêm.

Vì vậy, thuốc này có thể dùng kéo dài, thường được kê cho các loại viêm mũi mạn tính như viêm mũi dị ứng, viêm mũi vận mạch, polyp mũi… Tuy nhiên, thuốc vẫn có thể gây ra một số tác dụng phụ như rát mũi, khô mũi, chảy máu mũi, dùng lâu có thể nấm họng, với một số người nhạy cảm với các thành phần thuốc có thể gây buồn nôn và nôn, kích ứng dạ dày. Vì vậy, khi dùng thấy tình trạng trên phải thông báo cho bác sĩ.

Thuốc hỗn hợp: Thường do các hãng dược trong nước sản xuất, pha chế hỗn hợp thuốc corticosteroid, kháng sinh và co mạch với nhau như hadocort (chứa dexamethazone, neomycine và xylomethazoline), cortiphenicol (chứa cloramphenicol và hydrocortisone), nemydexan (chứa neomycine, dexamethazone), collydexa (chứa cloramphenicol, dexamethazone và naphazoline)… Các thuốc này ngoài tác dụng thông mũi thì còn có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và kháng khuẩn. Tuy nhiên, thuốc cũng gây tác dụng phụ mất tính đàn hồi niêm mạc mũi, quá phát cuốn mũi khi dùng kéo dài nên cũng không dùng thuốc quá 7 ngày trong 1 đợt điều trị.

Nước muối sinh lý: Là các chế phẩm chứa nước muối ở nồng độ đẳng trương so với dịch cơ thể người, có thể là từ các nguồn thiên nhiên (nước biển sâu) hoặc do tổng hợp. Chế phẩm này có tác dụng làm sạch mũi, làm loãng dịch tiết trong mũi và chống khô mũi. Các dịch tiết và bụi bẩn sẽ được tống ra khỏi mũi thông qua việc xì mũi, hắt hơi hoặc hút rửa mũi. Trên lý thuyết thì các chế phẩm này không có tác dụng phụ, dùng được cho phụ nữ có thai, cho con bú và trẻ sở sinh.

Tuy nhiên, chúng ta phải lưu ý vấn đề giữ vệ sinh các chai, lọ xịt nhỏ mũi, nhất là phần tiếp xúc với mũi để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng vào trong chai lọ, khi đó lần dùng tiếp theo vô tình đưa vi khuẩn này vào mũi khiến bệnh dai dẳng, kéo dài.

Tốt nhất không nên dùng chung lọ xịt, nhỏ mũi. Thông thường khi đã mở lọ ra, với các lọ nhỏ mũi nước muối không nên dùng quá 1 ngày, với các lọ xịt phải kích hoạt, không nén khí, khi dùng không khí ra vào 2 chiều thì không nên dùng quá 1 tuần, với lọ xịt có nén khí, khi dùng nước muối ra theo 1 chiều thì có thể dùng được 1 tháng sau khi đã mở lọ.

Khi bị ngạt mũi, bạn nên làm sạch mũi với nước muối sinh lý trước, nếu sau đó mà hết ngạt thì sẽ không còn cần tới thuốc xịt, nhỏ mũi co mạch nữa. Mong rằng mùa hè này bạn sẽ không còn phải lo ngại khi dùng thuốc xịt và nhỏ mũi nữa.

Theo 24h

Đề phòng các bệnh về da vào mùa nóng cho trẻ

Với khí hậu nắng nóng, ẩm ướt của mùa hè tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn, côn trùng, ký sinh trùng phát triển… Đây cũng là cơ hội để một số bệnh da có cơ hội phát triển hơn trong mùa này.

Rôm sảy

Là một trong những bệnh da phát triển khi thời tiết nóng bức với biểu hiện nổi nhiều đốm đỏ li ti gây ngứa mạnh ở các vùng ra nhiều mồ hôi như lưng, ngực, trán, cổ… Nguyên nhân là do thời tiết nắng nóng làm giãn các mao mạch trên da, tạo điều kiện cho các vi khuẩn xâm nhập gây nên hiện tượng viêm da (hay rôm sảy) và cũng chính thời tiết nóng bức thường gây tiết mồ hôi nhiều. Nếu mồ hôi không thoát hết sẽ gây ứ đọng trong các ống bài tiết trên da, các ống này bị bụi hay chất cặn bã bịt kín gây nổi các nốt viêm.

Rôm sảy xuất hiện ở mọi đối tượng, tuy nhiên, thường xuất hiện ở trẻ nhỏ do trẻ em có làn da mỏng và nhạy cảm hơn. Đa số trẻ chỉ bị rôm sảy khi nóng, còn khi thời tiết mát mẻ, rôm tự lặn hết không gây tác hại gì. Nhưng cũng có nhiều trẻ ít được chú ý tắm rửa, mụn rôm làm trẻ ngứa, gãi nhiều làm da sây sát, bị nhiễm khuẩn thêm thành những mụn mủ và nhọt.

Bệnh chữa trị đơn giản bằng cách giữ da sạch thoáng vào các ngày hè. Kinh nghiệm dân gian dùng mướp đắng giã nát pha với nước hoặc vò nát  (giã) kinh giới, hay sài đất với nước… rồi dùng nước này để tắm có tác dụng làm sạch da. Ngoài ra, có các loại phấn thuốc, phấn rôm, thuốc bôi, nhằm duy trì độ sạch của da, cản bụi nhằm phòng ngừa rôm sảy.

benh_da_lieu_vao_mua_nong_01

Rôm sảy nhiễm khuẩn.

Bệnh chốc

Bệnh chốc lây do liên cầu, thường gặp ở trẻ em, có khi ở cả người lớn ở vùng đầu mặt sau có thể lan ra thân mình, tay chân. Tổn thương là bọng nước vài mm, bùng nhùng sau vài giờ thành mụn mủ rồi vỡ thành chợt đỏ nông, đóng vẩy tiết vàng kiểu mật ong rồi lành. Dịch mủ chảy ra có thể lây lan ra vùng khác. Một số trường hợp có biến chứng cầu thận cấp.

Cần chấm rửa vết thương bằng dung dịch berberin 1%o, nước lá chè tươi, bôi dung dịch xanh-methylen 1% hoặc tím metin 1%, hoặc betadin. Khi thương tổn đã khô chuyển sang bôi thuốc mỡ kháng sinh như tetraxyclin, fucidin, bactroban. Uống một đợt kháng sinh (nếu cần) để bệnh nhanh khỏi và tránh những biến chứng nguy hiểm như viêm cầu thận.

benh_da_lieu_vao_mua_nong_02

Cần vệ sinh sạch sẽ tránh những biến chứng nguy hiểm như viêm cầu thận.

Đinh nhọt

Căn nguyên do tụ cầu vàng độc tính cao gây viêm toàn bộ nang lông. Nang lông bị hoại tử tạo thành “ngòi”. Biểu hiện lâm sàng là một khối đỏ viêm sưng tấy (1-5cm đường kính), đau, ban đầu cứng, sau mềm dần hoá mủ, tạo ngòi. Sau 8-10 ngày vỡ mủ thoát ngòi rồi lành sẹo. Triệu chứng toàn thân có khi sốt, mệt mỏi nhất là khi nhọt to hoặc nhiều nhọt.

Ở giai đoạn u tấy đỏ đau còn cứng chấm cồn iod 5% (chú ý không chích nặn sớm), uống hoặc tiêm kháng sinh tuỳ mức độ. Đến khi hoá mủ hoàn toàn chích nặn mủ ngòi để nhọt mau lành. Uống kháng sinh và thay băng đến khi lành.

Cần lưu ý nhọt ở vùng cằm mép gọi là “đinh râu” rất nguy hiểm dễ gây nhiễm khuẩn huyết không được chích nặn, chấm cồn iod 3-5%. Tiêm, uống kháng sinh liều cao và theo dõi chặt chẽ.

“Hậu bối” là cụm đinh nhọt có nhiều mủ, nhiều ngòi và có quá trình hoại tử phần mềm, thường ở người già yếu, suy giảm miễn dịch, đám tổn thương có đường kính từ 5-15cm, viêm tấy đỏ, có nhiều mủ, nhiều ngòi về sau hoại tử, có nguy cơ nhiễm khuẩn huyết, cần đi khám tại bệnh viện. Dùng kháng sinh liều cao và phối hợp kháng sinh, thay băng hàng ngày.

Bệnh HIRSCHPRUNG hay bệnh phình đại tràng do vô hạch bẩm sinh

Một số bà mẹ có con nhỏ bị táo bón thường xuyên, có lên mạng tìm hiểu và nghi ngờ con mình bị một bệnh gọi là Hirschprung gây khó đi cầu; từ đó có tâm …

Một số bà mẹ có con nhỏ bị táo bón thường xuyên, có lên mạng tìm hiểu và nghi ngờ con mình bị một bệnh gọi là Hirschprung gây khó đi cầu; từ đó có tâm lý hoang mang. Vậy Hirschprung là bệnh gì, thực sự các bé đó có bị bệnh này không?

benh_hirschprung_hay_benh_phinh_dai_trang_do_vo_hach_bam_sinh

Bệnh Hirschprung hay còn gọi là phình đại tràng do vô hạch bẩm sinh được định nghĩa là sự vô hạch bẩm sinh của các đám rối thần kinh trên một đoạn ruột dẫn đến tình trạng là đoạn ruột đó không có sự dẫn truyền sóng nhu động ruột làm không tống xuất phân ra ngoài được. Có thể mô tả nôm na bệnh này như sau: toàn bộ hình ảnh của bệnh này giống như một cái phễu với bên trên là đoạn ruột lành dãn to còn đoạn ruột bệnh nằm bên dưới đoạn ruột lành có hình dáng gần như bình thường, đoạn chuyển tiếp giữa 2 đoạn ruột lành và bệnh là cổ phễu.

Bệnh này được một bác sỹ người Đan Mạch tên là Harald Hirschprung mô tả đầu tiên vào năm 1886 nên để tưởng nhớ ông, người ta lấy bệnh do ông phát hiện đặt thành tên ông. Đây là một bệnh bẩm sinh với tần suất cứ 5000 trẻ sinh ra sẽ có  một trẻ bị bệnh với ưu thế rõ rệt gặp ở trẻ nam; đôi khi phối hợp thêm các hội chứng khác như Down, bất thường hệ niệu sinh dục.

Tuỳ thuộc vào chiều dài của đoạn ruột không có hạch (loại ngắn, loại trung bình, loại dài và loại vô hạch toàn bộ ruột)mà ta có các thể loại bệnh lý và biểu hiện lâm sàng khác nhau; trong đó loại trung bình là hay gặp nhất, chiếm gần 80% trường hợp bệnh ở trẻ.

Triệu chứng đầu tiên hay gặp của bệnh thường xuất hiện trong tháng đầu tiên(chiếm 80-90% trường hợp) là rối loạn đi tiêu ở trẻ sơ sinh: bé chậm đi tiêu phân xu sau 24 giờ đầu tiên, sau đó là táo bón thừơng xuyên phải bơm đít mới đi tiêu được; bụng bé chướng và tăng dần do ứ đọng phân. Bé thường xanh xao, bứt rức, thở nhanh do bụng chướng làm cản trở hô hấp. Những bé này nếu được nhập viện và khi bác sỹ đưa một ống thông vào hậu môn bé thì sẽ thấy phân và hơi rất hôi xì ra  và bụng bé sẽ xẹp đi nhanh chóng mà từ chuyên môn gọi là dấu hiệu “tháo cống”(một trong những dấu hiệu đặc hiệu của bệnh này).

Một số trẻ thì có ít triệu chứng và biểu hiện ở tuần thứ 2 hoặc 3 một cách từ từ hoặc đột ngột; có những trường hợp bệnh biểu hiện không rõ ràng trong 6 tháng đầu (dạng vô hạch loại ngắn): bé chỉ có những đợt táo bón thường xuyên phải bơm đít mới đi cầu được, bé thường có những đợt viêm ruột , lên cân chậm hơn bé bình thường.

Đây là một bệnh khó ở trẻ em cả về chẩn đoán và điều trị. Nếu không được điều trị đúng bệnh có thể gây tử vong ở trẻ do biến chứng viêm ruột, thủng ruột, nhiễm trùng huyết.

Do dó nếu nghi ngờ bé mắc bệnh trên, cha me nên đưa bé đến phòng khám ngoại nhi của bệnh viện chuyên khoa để bác sỹ chẩn đoán và có hướng xử trí thích hợp.

Đăng bởi: BS Trương Anh Mậu, khoa Ngọai bệnh viện Nhi Đồng 2
Theo benhviennhi.org.vn

Trẻ tự kỷ cần được phát hiện trước 2 tuổi

Ở nước ta, có khoảng 5% – 7% trẻ em tàn tật dưới 15 tuổi thì riêng trẻ tự kỷ và bại não chiếm trên 40%.

phat_hien_tu_ky_som_01

PGS-TS Nghiêm Hữu Thành, Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, vừa cho biết đơn vị châm cứu, điều trị và chăm sóc đặc biệt cho trẻ tự kỷ, bại não vừa được thành lập tại bệnh viện này với mục đích kết hợp y học cổ truyền, y học hiện đại, y học và giáo dục trong điều trị để sớm đưa trẻ tự kỷ, bại não tái hòa nhập cộng đồng.

Ở nước ta, có khoảng 5% – 7% trẻ em tàn tật dưới 15 tuổi thì riêng trẻ tự kỷ và bại não chiếm trên 40%. Chỉ riêng Bệnh viện Châm cứu Trung ương mỗi năm có trên 3.000 lượt trẻ bại não và tự kỷ đến điều trị.

Theo bác sĩ Dương Văn Tâm, Trưởng Khoa Nhi của Bệnh viện Châm cứu Trung ương, số lượng trẻ tự kỷ tăng lên một cách đáng lo ngại nhưng chỉ có 12% được phát hiện tự kỷ trước 2 tuổi, phần lớn trẻ đến khám và điều trị khi đã muộn. Có tới gần 20% số trẻ tự kỷ được giáo viên phát hiện. Ngay tại các gia đình, khi thấy con có dấu hiệu bất thường cũng chỉ có 47% trẻ được cha mẹ cho đi khám.

Qua 4 năm chữa bệnh tự kỷ cho trẻ bằng châm cứu, bác sĩ Dương Văn Tâm cho biết phương pháp này có tác dụng làm giảm mức độ nặng của các dấu hiệu lâm sàng. Cùng với đó, kỹ năng ngôn ngữ và hành vi bất thường sau điều trị đã có sự khác biệt rất lớn so với trước khi điều trị.

Khi trẻ bị nôn tró

Nguyên nhân:

Nôn trớ là hiện tượng cơ bụng và cơ hoành co bóp mạnh tống thức ăn trong dạ dày lên thực quản và trào ra miệng. Nôn trớ xảy ra khi dây thần kinh trong não nhạy cảm với một số kích thích như: do ngộ độc thức ăn, thuốc, hóa chất, nhiễm trùng dạ dày, ruột.

Nôn trớ có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Các nguyên nhân gây nôn ói thay đổi tùy thuộc theo tuổi trẻ.

khi_tre_bi_non_tro

Trẻ sơ sinh và nhủ nhi

Nôn vọt ở trẻ sơ sinh có thể là biểu hiện bệnh lý nặng và cần được đánh giá kỹ. Các nguyên nhân nôn ói ở trẻ sơ sinh và nhủ nhi bao gồm tắc dạ dày (hẹp môn vị) hoặc tắc ruột.

Trẻ cũng có thể nôn ói do nhiễm trùng đường ruột hoặc nhiễm trùng toàn thân. Bất cứ trẻ nhỏ nào sốt 380C hoặc sốt cao hơn, kèm nôn ói, nên được khám tại cơ sở y tế.

Trẻ em

Nguyên nhân thường gặp nhất gây nôn ở trẻ em là viêm dạ dày – ruột, thường do siêu vi trùng.Viêm dạ dày ruột có thể xảy ra khi trẻ ăn thức ăn bị nhiễm khuẩn hoặc trẻ ngậm tay bị nhiễm bẩn. Siêu vi trùng gây viêm dạ dày ruột rất dễ lây lan và có số lượng nhiều trong phân trẻ bệnh.

Rửa tay là yếu tố quan trọng giúp phòng lây lan. Ít gặp hơn, nôn ói do ăn thức ăn được chế biến, hoặc bảo quản không đúng cách gọi là ngộ độc thức ăn.

Nôn ói do viêm dạ dày – ruột thường bắt đầu đột ngột và hồi phục nhanh, thường trong vòng 24 giờ. Những dấu hiệu khác của viêm dạ dày – ruột bao gồm: tiêu chảy, sốt hoặc đau bụng.

Những bệnh khác cũng có thể gây nôn ói ở trẻ em bao gồm trào ngược dạ dày – thực quản, viêm loét dạ dày, tắc ruột.

Xử lý nôn trớ:

Khi bé nôn trớ, cơ thể bé sẽ mất một số lượng chất lỏng nhất định. Vì thế, điều quan trọng là phải bổ sung lại lượng chất lỏng đã mất này để cơ thể bé không bị khử nước. Cách đơn giản nhất là uống nước oresol, nước lọc, nước quả.

Oresol không điều trị nôn ói, nhưng giúp điều trị mất nước kèm nôn ói.

Dưới đây là một số khuyến nghị:

– Khi bé ngừng nôn trớ, hãy cho uống một lượng nhỏ nước lọc hoặc nước điện giải sau mỗi 30 phút đến 1 tiếng.
– Nếu bé tiếp tục trớ thì cần cho uống luân phiên 50ml nước oresol/50ml nước lọc sau mỗi nửa giờ.
– Sau khi cho bé uống loại nước này mà bé không nôn trớ nữa thì cho bé bú mẹ hoặc uống sữa bằng ly, tăng dần số lượng từ 80-100ml sau mỗi 3-4 giờ.
– Nếu bé không nôn trớ từ 12-24 giờ thì có thể cho bé ăn uống lại bình thường nhưng vẫn cho bé uống nhiều nước. Bắt đầu với những thực phẩm dễ tiêu hóa như ngũ cốc hay sữa chua. Bạn cũng có thể cho trẻ uống nước lạnh nếu bé trên 12 tháng tuổi.
– Đi ngủ cũng giúp bé nhanh hồi phục do dạ dày trống rỗng trong suốt thời gian này sẽ giúp bé dễ chịu hơn. Đừng cho trẻ dùng bất kỳ loại thuốc chống nôn trớ nào trừ khi được bác sĩ cho phép.
– Phòng ngừa lây lan: cha mẹ trẻ bị nôn ói nên chú ý phòng ngừa lây nhiễm trong gia đình và người xung quanh. Rửa tay với nước và xà phòng sau khi thay tã cho trẻ, trước và sau khi chuẩn bị thức ăn, cho trẻ bệnh nghỉ học giúp hạn chế lây lan.

Đăng bởi: Khoa Dịch vụ 3
Theo benhviennhi.org.vn

Tránh vô sinh ngay từ nhỏ

Ai đã từng làm cha, làm mẹ mới hiểu hết hạnh phúc lớn lao khi con mình ra đời khoẻ mạnh, lành lặn. Thế nhưng không phải ai cũng dễ dàng đón nhận được niềm vui này, bởi luôn có một tỷ lệ không nhỏ trẻ khi chào đời đã mắc vài bệnh lý bẩm sinh. Dị tật bẩm sinh chiếm khoảng 1/10.000 trẻ sinh ra, thay đổi tuỳ quốc gia, chủng tộc. Những khiếm khuyết này biến đổi từ đơn giản cho đến những dị tật phức tạp.

tranh_vo_sinh_ngay_tu_nho

Bệnh bẩm sinh thường gặp nhất

Bệnh lý ống bẹn biểu hiện bên ngoài bằng ba dạng: thoát vị bẹn, nước màng tinh hoàn và kén thừng tinh. Đây là một trong các bệnh lý bẩm sinh thường gặp nhất trong nhi khoa, chiếm khoảng 1 – 5% trẻ sinh ra, xảy ra ở cả trẻ trai và trẻ gái. Tuy vậy, tỷ lệ thoát vị bẹn gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái từ 8 – 10 lần.

Nguyên nhân thoát vị bẹn có thể gọi là một bệnh lý bẩm sinh hơn là một dị tật. Bệnh lý này do sự tồn tại của một ống phúc tinh mạc gây nên, có thể diễn giải như sau: khi còn là bào thai, tinh hoàn của trẻ nằm trong ổ bụng, đến khoảng tháng thứ bảy, tám của thai kỳ, tinh hoàn sẽ di chuyển dần xuống bìu, kéo theo nếp phúc tinh mạc, tạo nên một đường thông thương giữa ổ bụng và bìu, gọi là ống phúc tinh mạc. Sau sinh, ống phúc tinh mạc này sẽ bị xơ hoá và bít lại. Trong 1 – 5% các trường hợp, ống này không bít đi, hình thành một đường thông từ ổ bụng xuống bìu gây nên bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc.

Nếu như đường thông nhỏ, chỉ có nước trong ổ bụng đi xuống tinh hoàn, sẽ gọi là nước màng tinh hoàn, trong dân gian thường gọi là bìu nước. Nếu đường thông to, dẫn đến ruột từ trong bụng sa xuống bìu sẽ gây nên thoát vị bẹn hay trong dân gian thường gọi là sa ruột. Cuối cùng, nếu đường thông nhỏ chỉ có nước xuống và bít lại ở hai đầu hình thành nên một kén nước ở vùng bẹn, gọi là kén thừng tinh.

Làm thế nào để phát hiện sớm?

Các bậc phụ huynh có thể dễ dàng phát hiện nhờ vào một số dấu hiệu: ở trẻ vừa mới sinh ra, thấy vùng bìu hay vùng bẹn sưng to, sờ vào nghe tiếng óc ách của ruột, đó là thoát vị bẹn; hoặc trong trường hợp nước màng tinh hoàn, sẽ thấy bìu trẻ trai có thể căng bóng, mọng nước lên. Còn như sờ thấy ở vùng bẹn một kén nước nhỏ như trái nho, căng bóng nước, không đau thì đó là kén thừng tinh ở trẻ trai…; nếu như lỗ thoát vị nhỏ, khi trẻ ngủ ta thấy hai bìu bình thường nhưng khi trẻ khóc hay chạy nhảy vùng bìu sẽ to ra.

Không trị kịp thời dễ bị biến chứng

Phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật, tuy nhiên thời điểm phẫu thuật thay đổi theo từng bệnh lý. Đối với thoát vị bẹn, phẫu thuật sớm nhất khi phát hiện ra, để có thể đề phòng thoát vị bẹn nghẹt. Trường hợp nước màng tinh hoàn hay kén thừng tinh, có khả năng tự khỏi sau sáu tháng đến một năm, do vậy chỉ xem là bệnh lý phải phẫu thuật khi trẻ trên một tuổi. Đặc biệt đối với thoát vị bẹn, nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến biến chứng thoát vị bẹn nghẹt. Trong trường hợp này, ruột sa xuống bìu nhưng bị nghẹt không đẩy lên được, dẫn đến hội chứng tắc ruột, biểu hiện bằng các triệu chứng ói mửa, bụng chướng. Nếu không điều trị ngay sẽ dẫn đến hoại tử ruột, viêm phúc mạc rất nguy hiểm.

Riêng với bệnh lý ống phúc tinh mạc, nguyên tắc điều trị là đóng lại ống này, tức làm bít đi sự thông thương giữa khoang bụng bên trên và bìu bên dưới. Chỉ cần một đường rạch da nhỏ 2cm ở vùng bẹn, để lại một sẹo nhỏ nơi nếp gấp bụng thấp, gần như không thấy. Cuộc phẫu thuật này không hề ảnh hưởng đến việc sinh con của bé trong tương lai về sau.

Đăng bởi: TS.BS.Trương Quang Định
Theo benhviennhi.org.vn

Bổ sung vitamin D giảm nguy cơ nhiễm trùng hô hấp

Vitamin D được biết đến với vai trò quan trọng trong việc phát triển của xương, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nó có những vai trò quan trọng khác, trong đó có chức năng miễn dịch.

vitamind_d_giam_nhiem_trung_ho_hap

Cơ thể tự nhiên sản xuất vitamin D trong phản ứng với ánh sáng mặt trời, do đó nồng độ vitamin D thường tăng cao vào mùa hè. Điều đó cũng có nghĩa duy trì đủ lượng vitamin sẽ khó khăn hơn trong mùa đông hoặc cho những người sống ở những khu vực lạnh giá kéo dài. Trong trường hợp đó, người ta khuyên nên bổ sung vitamin D qua đường uống.

Một nghiên cứu mới đây cho thấy, bổ sung vitamin D có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em. Thử nghiệm được tiến hành ở 250 học sinh Mông Cổ với nồng độ vitamin D trong máu thấp vào mùa đông. Số học sinh này đã được bổ sung 300 đơn vị quốc tế (IU) vitamin D mỗi ngày, và kết quả là một nửa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp được loại trừ.

Nghiên cứu này đồng thời cung cấp bằng chứng rõ ràng về mối quan hệ giữa thiếu vitamin D và các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, chính vì vậy, các chuyên gia y tế khuyên bổ sung vitamin D an toàn và đúng cách để ngăn chặn một số bệnh nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ.

Theo 24h

Bệnh rôm sảy ở trẻ em

Mùa hè nắng nóng, nhiều người, đặc biệt là trẻ em thường bị bệnh rôm sảy. Khi các ống dẫn mồ hôi bị tắc nghẽn và mồ hôi bị ứ đọng lại dưới da, rôm sảy xuất hiện. Bệnh gây cảm giác rất khó chịu như bị châm chích và ngứa nhiều. Có thể bạn đã từng gặp nhiều người bị bệnh rôm sảy, nhưng hiểu biết về cách phòng chống bệnh này không phải ai cũng biết.

Rôm sảy “mọc” khi tắc nghẽn ống tuyến mồ hôi  

Trên da chúng ta có 2 loại tuyến mồ hôi là tuyến ngoại tiết và tuyến đầu tiết. Các tuyến ngoại tiết có ở hầu hết diện tích da của cơ thể và mở trực tiếp ra bề mặt của da. Còn các tuyến đầu tiết chỉ phát triển ở vùng có nhiều nang lông như da đầu, nách và bẹn. Khi thân nhiệt tăng, hệ thần kinh sẽ điều khiển các tuyến ngoại tiết bài tiết mồ hôi, mồ hôi di chuyển dọc theo các ống tuyến, thoát ra bề mặt của da để làm lạnh cơ thể và bốc hơi. Rôm sảy sẽ xuất hiện khi các ống tuyến tiết mồ hôi bị nghẽn, khi đó mồ hôi sẽ bị giữ lại dưới da gây tình trạng viêm và nổi mụn đỏ. Cho đến nay, khoa học vẫn chưa rõ vì sao các ống tuyến mồ hôi lại bị nghẽn nhưng người ta cho rằng có một số yếu tố liên quan đến sự tắc nghẽn này. Một là do thời tiết nóng, ẩm rất thuận lợi cho sự phát triển của rôm sảy, nhất là những người mới di chuyển từ vùng ôn đới sang vùng nhiệt đới. Sau một thời gian khi cơ thể đã thích nghi với khí hậu, các triệu chứng sẽ biến mất.

Hai là do hoạt động thể lực: đối với người vận động với cường độ cao, làm việc nặng gây tiết nhiều mồ hôi dễ bị bệnh rôm sảy. Ba là các ống tuyến mồ hôi chưa hoàn chỉnh ở trẻ nhỏ, rất dễ bị tổn thương gây tắc nghẽn khiến mồ hôi không có đường thoát ra ngoài mà bị lưu giữ lại dưới da gây rôm sảy. Bốn là một số loại thuốc chữa bệnh khác nhưng có liên quan đến việc phát triển của rôm sảy như : bethanechol, clonidine, thuốc điều trị mụn trứng cá có vitamin A… Năm là do vi khuẩn: có vài loại vi khuẩn thường trú trên da như Staphylococcus epidermidis có thể bài tiết một loại chất nhờn làm bít các ống tuyến mồ hôi. Ngoài ra còn có các yếu tố như: nằm một chỗ lâu ngày, sưởi quá nóng, mặc một số loại vải không làm mồ hôi bốc hơi được cũng có thể bị rôm sảy.

benh_rom_say_o_tre_em

Biểu hiện do bệnh rôm sảy  trên mặt trẻ nhỏ.

Biểu hiện bệnh

Rôm sảy ở trẻ em, chủ yếu thấy ở da đầu, cổ, vai, ngực và lưng nhưng cũng có thể có ở kẽ nách, háng. Ở người lớn, rôm sảy phát triển nhiều ở các nếp gấp của da và những vị trí cọ sát của quần áo. Có 3 dạng rôm sảy được phân loại dựa theo vị trí ống dẫn mồ hôi bị tắc nghẽn. Rôm sảy kết tinh: là dạng nhẹ của rôm sảy, do tổn thương ống tuyến mồ hôi ở lớp sừng, lớp ngoài cùng của da. Dạng này biểu hiện bởi những mụn nước nông, nhỏ, trong và những sẩn dễ vỡ nhưng không ngứa, không đau. Tổn thương loại này có thể tự biến mất sau vài ngày nhưng có thể tái phát khi thời tiết nóng ẩm. Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ sơ sinh hoặc ở người lớn, nhất là những người di chuyển từ vùng khí hậu ôn đới sang vùng khí hậu nhiệt đới.
Rôm sảy đỏ: là tổn thương ở vị trí sâu hơn trong lớp thượng bì của da. Đó là những sẩn đỏ có cảm giác đau nhói và ngứa nhiều. Thường có ít hay không có mồ hôi ở vùng da bị ảnh hưởng. Rôm sảy sâu: là dạng bệnh ít gặp, xảy ra chủ yếu ở người lớn đã bị nhiều đợt rôm sảy đỏ. Bệnh gây tổn thương ở lớp bì là lớp sâu hơn của da và xuất hiện sớm sau khi vận động hay các hoạt động làm đổ nhiều mồ hôi. Bệnh có thể gây tình trạng không có mồ hôi lan rộng đưa đến hội chứng kiệt sức do nóng với biểu hiện chóng mặt, buồn nôn, mạch nhanh.

Rôm sảy có thể gây ra các biến chứng bội nhiễm với triệu chứng da sưng phù, nóng, đỏ, đau, có mủ, sưng hạch vùng cổ, nách, bẹn, tạo ra mụn mủ đau và ngứa nhiều.

Đối phó với bệnh rôm sảy có khó không?

Phương pháp tốt nhất để đối phó với bệnh rôm sảy là làm mát da và chống tiết mồ hôi. Giảm tiết mồ hôi bằng cách sử dụng máy lạnh, quạt thông khí, mặc quần áo thoáng mát và hạn chế vận động. Khi da được làm mát, rôm sảy sẽ biến mất nhanh chóng. Đối với dạng rôm sảy nhẹ thường không cần phải điều trị. Nhưng ở các dạng nặng hơn thì cần điều trị bằng các loại thuốc bôi để giảm cảm giác khó chịu và ngăn ngừa biến chứng. Các loại thuốc bôi thường dùng điều trị rôm sảy là dung dịch calamine làm dịu ngứa. Thuốc anhydrous lanolin có thể giúp ngăn ngừa tình trạng bít các ống tuyến mồ hôi và ngưng phát sinh các tổn thương mới.

Các loại thuốc bôi có chứa steroid dùng trong trường hợp rôm sảy nặng. Có thể dùng vitamin C uống để giúp làm dịu các tổn thương rôm sảy. Có thể dùng các bài thuốc nam chữa rôm sảy như dùng các loại cây, quả có tính mát như mướp đắng, bồ công anh, sài đất, chanh… để tắm cho trẻ cũng có tác dụng tốt. Lưu ý khi khi sử dụng các loại lá này cần phải rửa sạch kỹ trước khi nghiền, lọc hay đun nước tắm. Chọn loại phấn rôm chất lượng tốt chấm lên vùng da bị rôm sảy sau khi tắm cho trẻ nhỏ là cách hạn chế bệnh tốt. Người lớn và trẻ lớn có thể uống các đồ mát như bột sắn dây, nước cam, chanh…

BS. Trần Thanh Tâm
Theo SKDS