Tag Archives: trẻ em

Chăm sóc trẻ nhỏ trước mùa dịch thủy đậu

Thủy đậu có tính lây nhiễm rất cao. Có đến 9 trong 10 trẻ sẽ bị bệnh thủy đậu trước 12 tuổi. Đây là căn bệnh truyền nhiễm mà trẻ em rất khó tránh khỏi nếu chưa được chủng ngừa bằng vắc- xin.

Đến hẹn lại lên, mỗi năm vào khoảng tháng 2, thủy đậu trở thành mối lo của các bậc phụ huynh có con nhỏ, đặc biệt là trẻ từ 1 – 13 tuổi, vì đây là thời điểm dịch thủy đậu xảy ra. Có đến 90% trẻ em mắc bệnh trong giai đoạn 1- 10 tuổi. Bệnh biểu hiện qua các ban sần – mụn nước gây khó chịu và ngứa toàn thân, kèm theo sốt.

Trẻ thường gãi móng tay vào mụn nước khiến chúng vỡ ra gây nhiễm trùng, do đó, lẽ ra con siêu vi trùng này chỉ gây tổn thương nông ở bề mặt da, nay bị các vi khuẩn làm tổn thương sâu da bé, khi lành bệnh tạo thành những sẹo. Lúc ấy, con trẻ sẽ mất tự tin khi lớn lên, đặc biệt là bé gái.

cham-soc-tre-nho-truoc-mua-dich-thuy-dau

Viêm não do thủy đậu là một trong những biến chứng nguy hiểm của bệnh này, xảy ra ở những trẻ suy dinh dưỡng, đề kháng kém. Vi-rút chẳng thèm ở ngoài lớp da bên ngoài, mà chạy thẳng vào máu, tàn phá các cơ quan như thận, não, gan… gây tình trạng sốt dao động, trẻ li bì, quờ quạng tay chân, có thể co giật.

Những trường hợp này nếu tích cực hồi sức, chữa trị khỏi thì cũng để lại di chứng thần kinh như: điếc, động kinh, trí tuệ chậm phát triển.

Một biến chứng khác không kém phần nguy hiểm là bị viêm phổi do thủy đậu. Nếu trẻ sốt cao, ho nhiều thì coi chừng. Một con siêu vi tưởng như chỉ hoành hành ngoài da rồi hô biến nhưng chúng vẫn không từ bỏ cơ hội để chui vào trong cơ thể của bé mà gây hại, để lại di chứng cay đắng suốt cuộc đời.

Bệnh xuất hiện chủ yếu tại các trường học, cơ quan hay xí nghiệp và thường gây thành dịch vì siêu vi có tốc độ lây lan nhanh chóng qua đường hô hấp khi tiếp xúc với người bệnh ở những nơi đông người; qua tiếp xúc với dịch tiết của các bong nước vỡ ra; và từ mẹ sang con khi bị nhiễm thủy đậu trong thai kỳ; bệnh còn có thể lây lan từ những người bệnh trong giai đoạn ủ bệnh chưa có triệu chứng.

Nguy hiểm và dễ lây lan nhưng không ít người vẫn cho rằng thủy đậu là bệnh nhẹ, nên chủ quan và không chú ý đến việc phòng ngừa.

Rất nhiều trường hợp cha mẹ chỉ khi nhìn thấy đứa trẻ bên cạnh nhà bị thủy đậu mới hốt hoảng mang con đi chủng ngừa, nhưng con vẫn bị thủy đậu cho dù đã chích ngừa. Kiểu nước đến chân mới nhảy này vô tình khiến con em họ phải gánh chịu những hậu quả không mong muốn do thủy đậu gây ra.

Nên chủng ngừa thủy đậu

Ngoài việc cách ly, vệ sinh và chăm sóc cẩn thận cho trẻ khi trẻ bệnh, chủng ngừa vắc-xin là chính là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ trẻ và cả người lớn tránh khỏi thủy đậu.
Tốt nhất là thực hiện tiêm ngừa cho trẻ trước mùa trước khi mùa bệnh xảy ra. Nếu con bạn chưa được chủng ngừa thủy đậu, đây chính là lúc tốt nhất để chủng ngừa cho con bạn. Hãy đưa trẻ đến các bệnh viện và trung tâm y tế dự phòng để chủng ngừa trước khi mùa dịch bắt đầu.

Lưu ý khi tiêm chủng ngừa

Chủng ngừa 2 liều vắc-xin cho cả trẻ em và người lớn để bảo vệ tối ưu nhất.
Vắc-xin có thể áp dụng cho cả trẻ em từ 12 tháng trở lên, thanh thiếu niên và người lớn chưa nhiễm bệnh. Phụ nữ có thai thì không chích ngừa vắc-xin này, và chỉ nên có thai tốt nhất là 3 tháng sau khi chủng ngừa.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng chống bệnh sởi cho con nhỏ

Tất cả trẻ em ở các nước đang phát triển được chẩn đoán bệnh sởi cần được bổ sung 2 liều vitamin A, cách nhau 24 giờ. Điều trị này nhằm khôi phục nồng độ vitamin A thấp trong thời gian mắc sởi, ngay cả với trẻ được nuôi dưỡng tốt, để giúp dự phòng tổn thương mắt và mù lòa. Bổ sung vitamin A đã được chứng minh là làm giảm 50% số lượng các trường hợp tử vong do bệnh sởi.

Sởi là một bệnh nghiêm trọng và dễ lây gây ra bởi một loại virus. Năm 1980, trước khi có chương trình tiêm chủng mở rộng, sởi đã gây tử vong khoảng 2,6 triệu người mỗi năm.

Sởi vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em trên toàn cầu mặc dù đã có vacxin an toàn và hiệu quả. Có khoảng 122.000 người tử vong do sởi trong năm 2012 – phần lớn là trẻ dưới 5 tuổi.

Bệnh sởi gây ra bởi một loại virus trong họ paramyxovirus. Virus sởi thường phát triển trong tế bào lót ở phía sau của họng và phổi. Sởi là một bệnh ở người và vẫn chưa biết có xảy ra ở động vật hay không.

Hoạt động tiêm chủng được đẩy mạnh đã có một tác động lớn trong việc làm giảm tử vong do sởi. Từ năm 2000, có hơn 1 tỷ trẻ em ở các nước có nguy cơ cao được tiêm phòng vacxin chống lại bệnh sởi thông qua chiến dịch tiêm phòng mở rộng – có khoảng 145 triệu trẻ được tiêm trong năm 2012. Tỷ lệ tử vong do sởi trên toàn cầu đã giảm 78%, từ 562.000 trường hợp xuống còn 122.000 trường hợp.

Dấu hiệu và triệu chứng

phong-chong-benh-soi-cho-con-nho


Dấu hiệu đầu tiên của bệnh sởi thường là sốt cao, sốt bắt đầu từ 10 đến 12 ngày sau khi tiếp xúc với virus, và kéo dài từ 4 đến 7 ngày. Chảy nước mũi, ho, mắt đỏ và chảy nước mắt, và các đốm trắng nhỏ bên trong má có thể xuất hiện trong giai đoạn đầu. Sau một vài ngày thì ban sởi (ban đỏ/nâu dạng chấm) bùng phát, thường ở mặt và cổ. Trong khoảng 3 ngày, ban sởi lan rộng xuống thân mình, và cuối cùng xuống tới tay và chân. Ban sởi kéo dài 5 – 6 ngày, và sau đó mất dần. Trung bình, ban sởi xuất hiện sau khi tiếp xúc với virus được 14 ngày (trong phạm vi 7 đến 18 ngày).

Sởi nặng thường gặp ở trẻ em được nuôi dưỡng kém (trẻ suy dinh dưỡng), đặc biệt những trẻ thiếu hụt vitamin A hoặc hệ thống miễn dịch của chúng bị suy giảm do HIV/AIDS hoặc các bệnh lý khác.

Hầu hết các trường hợp tử vong liên quan tới sởi là do biến chứng của bệnh. Các biến chứng chủ yếu gặp ở trẻ dưới 5 tuổi hoặc người lớn trên 20 tuổi. Các biến chứng nghiêm trọng nhất bao gồm: mù mắt, viêm não (nhiễm trùng gây phù não), tiêu chẩy nặng gây mất nước, nhiễm trùng tai, hoặc nhiễm trùng hô hấp như viêm phổi. Có gần 10% các trường hợp sởi tử vong trong quần thể có tỷ lệ suy sinh dưỡng cao và không được chăm sóc y tế đầy đủ. Phụ nữ bị sởi trong khi mang thai cũng có nguy cơ biến chứng nặng và thai kỳ có thể kết thúc do sẩy thai hoặc sinh non. Những người khỏi bệnh sởi sẽ có miễn dịch với sởi suốt đời.

Ai có nguy cơ ?


Trẻ em không được tiêm vacxin phòng bệnh có nguy cơ mắc sởi và các biến chứng cao nhất, bao gồm cả tử vong. Phụ nữ mang thai không được tiêm phòng cũng có nguy cơ. Bất cứ ai không có miễn dịch (người chưa được tiêm phòng hoặc đã được tiêm phòng nhưng không tạo được miễn dịch) đều có thể mắc sởi.

Sởi vẫn còn phổ biến ở nhiều nước đang phát triển – đặc biệt là ở một số vùng ở châu Phi và châu Á. Hơn 20 triệu người bị ảnh hưởng bởi bệnh sởi mỗi năm. Đại đa số (95%) các trường hợp tử vong do sởi xảy ra ở các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp và cơ sở hạ tầng y tế yếu kém.

Dịch sởi có thể đặc biệt nguy hiểm ở các nước đang trải qua hoặc đang phục hồi từ thảm họa tự nhiên hoặc xung đột. Các thiệt hại cho cơ sở hạ tầng y tế và dịch vụ y tế đã làm gián đoạn tiêm chủng định kỳ, và sự quá tải trong các trại dân cư tập trung làm tăng đáng kể nguy cơ mắc sởi.

Lây truyền


Virus rất dễ lây qua ho và hắt hơi, tiếp xúc gần hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết nhiễm bệnh của mũi hoặc họng.

Virus vẫn hoạt động và dễ lây trong không khí hoặc trên các bề mặt bị nhiễm trong gần 2 giờ. Nó có thể lây truyền từ người mắc bệnh trong vòng 4 ngày trước khi bắt đầu phát ban cho tới 4 ngày sau khi phát ban.

Dịch sởi có thể có thể phát triển thành vụ dịch lớn làm nhiều người tử vong, đặc biệt là giới trẻ, trẻ em suy dinh dưỡng. Ở những nước mà dịch sởi đã gần như được xóa sổ thì các trường hợp nhiễm bệnh đến từ các nước khác có dịch sẽ là nguồn lây nhiễm quan trọng.

Điều trị

phong-chong-benh-soi-cho-con-nho1


Không có phương pháp điều trị kháng virus đặc hiệu cho virus sởi. Các biện pháp điều trị khác chủ yếu nhằm hỗ trợ và làm cho người bệnh cảm thấy dễ chịu hơn:
– Paracetamol hoặc ibuprofen (phù hợp với lứa tuổi) có thể giúp hạ sốt và giảm đau.
– Uống nhiều nước để tránh mất nước, tốt nhất vẫn là dung dịch điện giải (oresol) với nồng độ phù hợp.
– Vệ sinh/làm sạch mắt bằng bông sạch (tăm bông).
– Đóng rèm cửa giúp làm giảm sự nhậy cảm với ánh sáng của mắt.

Bệnh sởi thường tự khỏi, nhưng nếu có triệu chứng khác thường xuất hiện như tiêu chảy, nôn, đau tai và đau họng, khó thở, hoặc rối loạn ý thức… thì cần nhanh chóng tìm kiếm tư vấn y tế. Trong một vài trường hợp bệnh sởi nặng, đặc biệt nếu có biến chứng, cần đưa trẻ vào viện để điều trị.
Biến chứng nặng do sởi có thể tránh được thông qua việc điều trị hỗ trợ nhằm đảm bảo dinh dưỡng tốt, uống đủ nước và điều trị mất nước bằng dung dịch bù nước và điện giải đường uống (oresol) được khuyến cáo bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Dung dịch này thay thế cho dịch và các yếu tố cần thiết đã bị mất qua tiêu chảy và nôn. Thuốc kháng sinh có thể được chỉ định điều trị các nhiễm trùng tai và mắt, và viêm phổi.

Tất cả trẻ em ở các nước đang phát triển được chẩn đoán bệnh sởi cần được bổ sung 2 liều vitamin A, cách nhau 24 giờ. Điều trị này nhằm khôi phục nồng độ vitamin A thấp trong thời gian mắc sởi, ngay cả với trẻ được nuôi dưỡng tốt, để giúp dự phòng tổn thương mắt và mù lòa. Bổ sung vitamin A đã được chứng minh là làm giảm 50% số lượng các trường hợp tử vong do bệnh sởi.
Trẻ em mắc sởi không nên đến trường cho tới sau khi ban sởi bắt đầu xuất hiện tối thiểu 5 ngày

Dự phòng


Dự phòng chống lại bệnh sởi cũng như quai bị và rubella bằng cách tiêm vacxin MMR khi trẻ được 13 tháng tuổi và sau đó tiêm tăng cường ở độ tuổi 3 – 5 tuổi. Nếu bạn là người lớn mà chưa được tiêm phòng hoặc chưa mắc sởi thì bạn cũng cần tiêm vacxin MMR để phòng bệnh.

Phụ nữ dự định có thai mà chưa được tiêm phòng sởi thì nói chuyện/đi khám với bác sĩ để được tư vấn và tiêm phòng vì khi đang mang thai sẽ không được tiêm phòng sởi. Mắc sởi khi đang mang thai có thể sẽ gây hại cho bào thai.

Tiêm vacxin phòng sởi định kỳ cho trẻ, kết hợp với chiến dịch tiêm chủng hàng loạt ở các nước có số trường hợp mắc và tỷ lệ tử vong cao, là những chiến lược y tế công cộng quan trọng để làm giảm tỷ lệ tử vong do sởi trên toàn cầu. Vacxin dự phòng sởi đã được sử dụng trong 50 năm. Nó an toàn, hiệu quả và không đắt. Chi phí ít hơn 1 đô la để tiêm chủng cho trẻ chống lại bệnh sởi.
Vacxin dự phòng sởi thường được kết hợp với vacxin dự phòng quai bị và/hoặc rubella (vacxin MMR) ở những nước mà những bệnh này hoành hành. Hiệu quả của dạng đơn và dạng kết hợp tương đương nhau.

Năm 2012, có khoảng 84% trẻ em trên toàn thế giới được tiêm một liều vacxin phòng sởi trong ngày sinh nhật đầu tiên của mình thông qua các dịch vụ sức khỏe định kỳ – tăng lên từ 72% trong năm 2000. Khuyến cáo sử dụng 2 liều vacxin dự phòng sởi để đảm bảo khả năng miễn dịch và dự phòng dịch sởi vì có khoảng 15% trẻ em được tiêm chủng thất bại trong việc tạo ra miễn dịch với liều đầu tiên.

ThS. BS. Lương Quốc Chính
Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch Mai

Phòng biến chứng từ bệnh sởi

Bệnh sởi ở trẻ tại nhiều địa phương đang diễn biến rất phức tạp và có khả năng gây biến chứng nặng, nguy hiểm, do đó các phụ huynh không được chủ quan, cần cảnh giác cao với bệnh này.

Diễn biến của bệnh sởi ở nước ta trong thời gian gần đây
Theo thống kê của Bệnh viện Nhi Trung ương, trong tháng 3 có tới 345 bệnh nhi nhập viện vì bệnh sởi, nhiều nhất là trẻ biến chứng mắc viêm phế quản phổi. Trong mấy ngày gần đây số trẻ bị sởi có biến chứng nặng vào viện rất đáng kể (trên 200). Theo các nhà chuyên môn thì đặc điểm khác biệt của dịch sởi năm nay là có nhiều trẻ dưới 9 tháng tuổi (độ tuổi tiêm phòng mũi đầu tiên), thậm chí có bé 4 ngày tuổi đã bị mắc sởi (ở tuổi này đang có kháng thể của mẹ truyền cho).

Năm nay, theo thống kê thì trong thời gian vừa qua, tình hình dịch sốt phát ban nghi bệnh sởi đang có diễn biến tăng cao tại một số quận nội thành Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Theo đó, số người mắc bệnh sởi ở Hà Nội tập trung ở trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 80%, trong đó trẻ dưới 9 tháng tuổi chiếm 22,9% (đây là những đối tượng chưa đến tuổi tiêm vaccin phòng bệnh sởi); 31 trẻ lớn hơn 9 tháng tuổi mắc bệnh sởi không có trẻ nào được tiêm đủ 2 mũi vaccin sởi; 37,8% trẻ được tiêm 1 mũi vẫn mắc bệnh, số còn lại chưa được tiêm chủng. Trong khi mầm bệnh sởi đang lây lan, nếu trẻ chưa được tiêm phòng vaccin sởi thì nguy cơ mắc bệnh là rất cao, bởi vì, sởi là một bệnh lây lan rất nhanh, bệnh lây qua những giọt tiết của đường hô hấp khi bệnh nhân ho, hắt hơi. Thời gian lây bệnh cho người lành là giai đoạn viêm long hô hấp trên và thời kỳ phát ban.

phong-bien-chung-tu-benh-soi

Biểu hiện của bệnh sởi
Khoảng 10-12 ngày sau khi tiếp xúc với người bệnh thì bắt đầu có các triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Đối với bệnh sởi thì thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên và có thể gặp ở những trẻ lớn mà chưa có miễn dịch chống virut sởi. Thời kỳ nung bệnh của bệnh sởi khoảng từ 7 – 10 ngày. Bệnh khởi phát sốt đột ngột trên 38oC, mắt ướt, nhiều ghèn làm cho mắt bị kèm nhèm, chảy mũi nước, ho và có thể bị rối loạn tiêu hoá (tiêu chảy). Đặc biệt, khi bệnh toàn phát thì sốt rất cao có khi thân nhiệt lên tới 39-40oC, thể trạng li bì, mệt mỏi nhiều. Khoảng 2, 3 ngày sau, đốm Koplik nổi lên ở mặt trong má, đây là một dấu hiệu đặc biệt của bệnh sởi. Ban xuất hiện đầu tiên ở sau tai rồi lan ra mặt, mắt, cổ, thân mình và tứ chi trong vòng từ 1 – 2 ngày.

Khi hết sốt thì ban sởi bắt đầu mất dần (sởi bay) và sau khi sởi bay có để lại các nốt thâm trên da trong một thời gian làm cho da bị loang lổ trông giống da hổ. Các ban của sởi mất dần theo tuần tự, tức là nơi nào xuất hiện trước thì ban bay trước (sau tai, mặt). Bệnh sởi có thể gây ra nhiều biến chứng, thậm chí biến chứng đe dọa đến tính mạng người bệnh.

Cách ngăn chặn bệnh sởi lây lan

phong-bien-chung-tu-benh-soi1
Các chuyên gia khuyến cáo, phụ huynh cần đưa trẻ đi tiêm phòng để vừa phòng bệnh cho trẻ vừa tạo miễn dịch bền vững để khi thế hệ này trưởng thành, đến tuổi sinh đẻ có đủ miễn dịch truyền cho con (nữ giới). Vì vậy, đợt tiêm vét vaccin sởi này các phụ huynh cần cho trẻ đi tiêm phòng không nên chậm trễ.

Tại gia đình có trẻ bị sởi thì không cho trẻ tiếp xúc với trẻ lành và trẻ bị sởi phải nghỉ học để tránh lây lan cho trẻ khác trong lớp học, trong trường. Cần đeo khẩu trang khi tiếp xúc với trẻ bệnh sởi và người nghi bị sởi (nếu trẻ lớn có thể đeo khẩu trang để hạn chế mầm bệnh lây sang người khác). Rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với trẻ bị sởi và người nghi bị bệnh. Trẻ mắc sởi nhẹ có thể chăm sóc tại gia đình nhưng phải theo dõi thật cẩn thận, không được chủ quan, khi thấy trẻ sốt trở lại hoặc bất thường cần cho trẻ đi bệnh viện ngay.

Cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ bệnh (uống nhiều nước, ăn thêm trái cây hoặc uống nước ép trái cây, ăn lỏng, đủ chất dinh dưỡng, dễ tiêu hóa và không nên kiêng khem quá mức).

Theo sức khỏe đời sống

Phòng và điều trị bệnh viêm xoang cho trẻ

Tăng cường miễn dịch

Cha mẹ cần bổ sung cho con một số chất quen thuộc như sắt, kẽm, DHA, omega 3,… trong bánh mì, một số loại nấm, hạt ngũ cốc… Nên cho bé ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi để giúp hệ miễn dịch của bé được tăng cường.

Trong tiết trời lạnh, cha mẹ nên mặc ấm cho bé. Cho bé tiêm chủng đầy đủ theo lịch tiêm phòng của Quốc gia.

Thường xuyên vệ sinh chân tay cho bé. Không nên cho bé ăn đồ ăn lưu cũ từ lâu vì khả năng có vi khuẩn trong đó là rất cao.

Khi trẻ có dấu hiệu bị viêm xoang cha mẹ cần đưa trẻ tới cơ sở chuyên khoa để khám. Tuyệt đối cha mẹ không tự bắt bệnh, tự kê đơn cho trẻ, không cho trẻ dùng thuốc dành cho người lớn. Việc sử dụng thuốc cần có sự tư vấn của chuyên gia.

phong-va-dieu-tri-benh-viem-xoang-cho-tre

Theo Tiến sĩ Dược Nguyễn Hoàng Phong tư vấn: Cơ thể trẻ non yếu, sức đề kháng kém hơn người lớn và dễ bị tác động bởi các loại thuốc gây phản ứng phụ, vì vậy cần sử dụng cho trẻ loại thuốc tiêu chuẩn cao, được kiểm nghiệm lâm sàng lâu năm. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các loại thuốc nhỏ mũi, xịt mũi dành cho trẻ em, tuy nhiên hầu hết các sản phẩm này đều gây ra những phản ứng phụ không mong muốn. Các bậc cha mẹ có thể tin tưởng sử dụng sản phẩm XyloBalan cho con em mình, vì XyloBalan là một thương hiệu nổi tiếng của Ba Lan về chăm sóc điều trị viêm mũi, và hỗ trợ điều trị viêm xoang đã được tin dùng trên toàn thế giới hơn 50 năm nay, đặc biệt an toàn với trẻ, chưa nhận được phản hồi tiêu cực nào. Với thành phần Xylometazoline hydrochloride thuốc có công dụng đặc trị viêm mũi dị ứng, viêm mũi cấp do virut hoặc vi khuẩn, hỗ trợ điều trị viêm xoang cấp hoặc mãn tính, viêm mũi do dị ứng, viêm tai giữa cấp, giảm tắc vòi nhĩ. Đặc biệt sản phẩm có loại 0.05% dành riêng cho trẻ em từ 3 tháng tuổi trở lên.

Thời tiết thay đổi

Thời tiết trở lạnh hoặc buổi trưa hanh khô… Đây là điều kiện tốt cho vi khuẩn phát triển. Những lúc giao mùa như thế này, đối tượng trẻ em thường bị viêm mũi với các triệu chứng: hắt hơi, sổ mũi, ngạt mũi… và nếu không chữa kịp thời, dứt điểm bệnh sẽ tiến triển thành viêm xoang.

Bệnh viêm xoang đối với người lớn đã khổ, nhưng đối với trẻ em còn đáng quan tâm hơn nhiều. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, nguyên giám đốc Viện Tai Mũi Họng TƯ chia sẻ, đau là triệu chứng thường gặp nhất của viêm xoang. Tùy thuộc vị trí xoang bị viêm mà vị trí đau thay đổi: đau vùng trán, đau vùng má hay hàm trên, đau sau hốc mắt, đau ở đỉnh đầu. Cơn đau tăng khi bệnh nhân nghiêng người về phía trước. Bệnh nhân cũng thường bị nghẹt mũi, chất tiết mũi trở nên đặc và đục, ho vì nước mũi chảy xuống họng gây ngứa. Tùy theo tình trạng viêm mà bị nghẹt một hay cả hai bên mũi, nghẹt từng lúc hay liên tục, có khi mất khứu giác. Người bệnh có thể sốt, đau nhức, mệt mỏi, đau răng, ngủ không yên giấc…

Làm bậc cha mẹ ai cũng lo lắng cho sức khỏe của con cái. Tuy nhiên không ít bà mẹ đã tự ý mua thuốc kháng sinh điều trị viêm xoang cho trẻ. Song, các bác sĩ khuyến cáo, tự ý điều trị như vậy, không những không thuyên giảm bệnh, mà còn nặng hơn, bởi lẽ có thể gây kháng kháng sinh và một số thuốc không thể dành cho trẻ em. Mặt khác, với các thuốc giúp thông mũi, chống nghẹt mũi khi dùng cần cẩn trọng vì có thể ảnh hưởng đến huyết áp, tim mạch hay gây chảy mũi bù trừ hoặc khô mũi quá mức. Không tự ý sử dụng các thuốc này kéo dài mà không có ý kiến bác sĩ.

Chế độ dinh dưỡng

Nên uống nhiều nước (2 lít nước/ ngày) và ăn nhiều các loại hoa quả chứa vitamin A, C. Giai đoạn đầu có thể bị “công thuốc”, các triệu chứng có thể nặng lên ở một vài người. Nhưng qua giai đoạn này, các triệu chứng sẽ giảm dần và hết hẳn…

Ngoài ra, theo PGS Dinh việc giữ gìn vệ sinh là khá cần thiết trong điều trị. Cha mẹ cần dạy cho trẻ cách giữ sạch môi trường xung quanh, không để trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá, bụi và các chất ô nhiễm. Đeo khẩu trang khi ra đường, vệ sinh cơ thể, rửa tay thường xuyên….

Theo tổng hợp

Giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

Thiên chức của người phụ nữ là được làm vợ, làm mẹ. Truyền thống của các bà mẹ Việt Nam đều mong muốn nuôi con bằng chính dòng sữa của mình, đó là một tập quán tốt và đúng khoa học. Trong những năm qua, nhiều thông tin quảng cáo về các chất bổ sung vào sữa làm cho trẻ phát triển, thông minh cùng với nhận thức chưa đúng của một số phụ nữ trẻ, nhiều gia đình có điều kiện đã coi sữa công thức có thể thay thế được sữa mẹ. Việc dùng sữa công thức đã làm cho trẻ từ chối sữa mẹ, khi trẻ đã quen các bà mẹ phải mua cho con, dù giá sữa không hề rẻ, nhất là thời kỳ bão giá như hiện nay. Nhiều bà mẹ than phiền và thực sự khó khăn khi trẻ ốm, trẻ không chịu ăn sữa công thức, trong khi đó sữa mẹ lại không có do việc lạm dụng sữa ngoài. Đồng thời các bà mẹ cũng than phiền đã thay đổi nhiều loại sữa mà tình trạng dinh dưỡng của con không được cải thiện. Sự kỳ vọng vào sữa theo các thông tin quảng cáo đã trở thành sự thất vọng cho các bà mẹ. Các nhà dinh dưỡng khuyên các bà mẹ không có thực phẩm, thức ăn nào thay thế được sữa mẹ vì vậy duy trì và bảo về nguồn sữa mẹ là rất cần thiết và quan trọng.

giai-phap-phong-chong-suy-dinh-duong

Vì sao sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ em?

Khi cai sữa cho trẻ cần chú ý:

Không cai sữa quá sớm, khi chưa đủ thức ăn thay thế hoàn toàn sữa mẹ.

Không nên cai sữa vào mùa hè nóng nực, trẻ kém ăn.

Không nên cai sữa đột ngột dễ gây sang chấn tinh thần làm trẻ quấy khóc, biếng ăn.

Không cai sữa khi trẻ bị ốm, nhất là khi bị tiêu chảy vì thức ăn thay thế trẻ chưa thích nghi được càng làm rối loạn tiêu hoá, dễ gây hậu quả suy dinh dưỡng.

Sau khi cai sữa, cần có các chế độ ăn thay thế đảm bảo đủ chất cho trẻ, nhất là chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa, đậu đỗ…), chất béo (dầu, mỡ) và các loại rau, quả…
Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ, vì trong sữa mẹ có đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết như đạm, đường, mỡ, vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thụ và phát triển cơ thể trẻ.  Bú mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinh dưỡng.

Sữa mẹ chứa nhiều chất kháng khuẩn, tăng cường sức đề kháng cho trẻ, chống các bệnh đường ruột và bệnh nhiễm khuẩn. Trong sữa mẹ có những yếu tố bảo vệ cơ thể trẻ mà không một thức ăn nào có thể thay thế được. Do tác dụng kháng khuẩn của sữa mẹ nên trẻ được bú sữa mẹ sẽ ít mắc bệnh.

Trẻ bú mẹ ít bị dị ứng, eczema như ăn sữa bò.

Cho con bú sữa mẹ sẽ thuận lợi và kinh tế vì không phụ thuộc vào giờ giấc, không cần phải đun nấu, dụng cụ pha chế. Trẻ bú sữa mẹ sẽ kinh tế hơn nhiều vì sữa mẹ không mất tiền mua. Khi người mẹ ăn uống đầy đủ, tinh thần thoải mái sẽ có đủ sữa cho con bú.

Nuôi con bằng sữa mẹ có điều kiện gắn bó mẹ con, người mẹ có nhiều thời gian gần gũi tự nhiên, đó là yếu tố tâm lý quan trọng giúp cho việc phát triển hài hoà của đứa trẻ.

Cho con bú góp phần hạn chế sinh đẻ và giảm tỷ lệ ung thư vú.

Cách cho con bú

Nhiều bà mẹ sau khi sinh chỉ thường cho con bú khi căng sữa, người ta thường quen gọi là xuống sữa, như vậy là không đúng, càng làm sữa xuống chậm và dễ bị mất sữa. Tốt nhất, ngay sau khi sinh trong vòng nửa giờ đầu người mẹ nên cho trẻ bú. Bú càng sớm càng tốt. Vì sữa mẹ tiết ra theo phản xạ, bú sớm có tác dụng kích thích bài tiết sữa sớm. Trẻ được bú sữa non sẽ phòng bệnh được tốt. Trẻ bú có tác dụng co hồi tử cung và cầm máu cho người mẹ sau đẻ.

Số lần cho trẻ bú không gò bó theo giờ giấc mà tuỳ thuộc vào yêu cầu của trẻ. Ban đêm vẫn có thể cho trẻ bú nếu trẻ khóc đòi ăn. Ở những bà mẹ ít sữa, nên cho trẻ bú nhiều để kích thích bài tiết sữa tốt hơn.

Khi cho trẻ bú, người mẹ ở tư thế thoải mái, có thể nằm hoặc ngồi cho bú, để toàn thân trẻ sát vào người mẹ: miệng trẻ ngậm sâu vào quầng đen bao quanh núm vú để động tác bú được tốt hơn. Thời gian cho bú tuỳ theo đứa trẻ. Cho trẻ bú đến khi trẻ no, tự rời vú mẹ. Sau khi bú xong một bên, nếu trẻ chưa đủ no thì chuyển sang vú bên kia.

Cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Khi trẻ bị bệnh, ngay cả khi trẻ bị tiêu chảy, vẫn tiếp tục cho trẻ bú. Trẻ đẻ non yếu không bú mẹ được, hoặc trường hợp mẹ bị ốm nặng, bị mắc 1 số bệnh không cho trẻ bú được, cần vắt sữa cho trẻ ăn bằng cốc.

Nên cho trẻ bú kéo dài 24 tháng hoặc có thể lâu hơn, không cai sữa cho trẻ trước 12 tháng. Khi trẻ 6 tháng tuổi cần kết hợp cho ăn thức ăn bổ xung theo nguyên tắc từ lỏng đến đặc, từ ít đến nhiều.

giai-phap-phong-chong-suy-dinh-duong-1

Bảo vệ nguồn sữa mẹ

Muốn có sữa cho con bú thì người mẹ ngay trong thời kỳ có thai cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, có chế độ nghỉ ngơi, lao động hợp lý, tinh thần thoải mái, giúp người mẹ tăng cân tốt (10-12 kg), đó là nguồn dự trữ mỡ để sản xuất sữa sau khi sinh.

Khi cho con bú, điều trước tiên cần phải quan tâm là người mẹ cần phải ăn đủ, uống đủ, ngủ đủ giấc. Khẩu phần ăn cần cao hơn mức bình thường. Hàng ngày ăn thêm vài bát cơm, một ít thịt, cá, trứng hoặc một ít rau đậu. Nên ăn thêm quả chín để có đủ vitamin. Các món ăn cổ truyền như cháo chân giò gạo nếp, ý dĩ hoặc vừng rang muối giã nhỏ ăn với xôi có tác dụng kích thích bài tiết sữa. Nên hạn chế các thức ăn gia vị như ớt, hành, tỏi vì nó qua sữa gây mùi khó chịu, trẻ dễ bỏ bú.

Khi cho con bú, nên hạn chế dùng thuốc vì một số thuốc có thể qua sữa gây ngộ độc cho trẻ và làm giảm tiết sữa.

Người mẹ cho con bú nên uống nhiều nước nhất là cháo, nước quả, sữa… (mỗi ngày khoảng 1,5 – 2 lít).

Vì sữa mẹ được tiết theo cơ chế phản xạ, cho nên tinh thần của người mẹ phải thoải mái, tự tin tránh những căng thẳng, buồn phiền, lo âu, mất ngủ. Chế độ lao động nghỉ ngơi sau khi sinh đẻ có ảnh hưởng đến bài tiết sữa.

Để phòng chống suy dinh dưỡng và phòng chống bệnh cho trẻ, các bà mẹ cần thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ.

BS.Nguyễn Văn Tiến

Theo báo công an

Không thể chủ quan với viêm loét dạ dày

iêm loét dạ dày là một trong những bệnh khá phổ biến và ngày càng có xu hướng phát triển ở nước ta. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em. Tùy theo các vị trí của viêm và loét khác nhau mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ, loét hang vị… Bệnh tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng gây nhiều phiền toái cho người bệnh trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, viêm dạ dày, nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm.

Nguyên nhân đa dạng

Đau dạ dày có thể do rất nhiều nguyên nhân: do  nhiễm vi khuẩn HP – đây là một loại vi khuẩn gam âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng; do chế độ ăn uống vô độ không có quy luật, ăn thức ăn nóng quá, lạnh quá, cứng quá, khó tiêu, chua, cay quá, ăn không nhai kỹ, ăn vội… hoặc ăn phải một số thức ăn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc…

Ngoài ra, cũng có thể do uống rượu, chè đặc, cà phê đặc; do uống nhầm phải các chất ăn mòn: axit, kiềm, sút, một số hóa chất có chì, thuỷ ngân… có thể gây bỏng niêm mạc thực quản và dạ dày.

khong-the-chu-quan-voi-viem-loet-da-day

Một nguyên nhân nữa phải kể đến là do dùng các thuốc giảm đau, chống viêm điều trị các bệnh khớp. Những thuốc ấy có tác dụng phụ gây tổn thương niêm mạc dạ dày; những nhiễm khuẩn cấp: cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn… có thể gây viêm dạ dày. Người bị suy thận cũng rất dễ bị viêm dạ dày do ure máu tăng cao.

Yếu tố tinh thần, các trạng thái stress, cáu gắt, trầm cảm, lo nghĩ, căng thẳng… cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tổn thương dạ dày.

Triệu chứng

Đau bụng do bệnh lý ở dạ dày có trường hợp biểu hiện rõ, chẩn đoán tương đối dễ dàng, thường bệnh nhân có những triệu chứng như: Đau vùng bụng trên rốn, đau thường xuất hiện lúc đói hoặc ngay sau ăn nhưng vài trường hợp đau không liên quan gì tới bữa ăn, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội. Đau âm ỉ có khi kéo dài từ vài tháng đến vài ba năm, có khi hàng chục năm. Nhiều bệnh nhân đau có tính chất chu kỳ (một chu kỳ khoảng từ một tuần đến vài tuần trở lên) và thường xảy ra vào lúc giao mùa, đặc biệt là mùa rét.

Kèm theo đau là các biểu hiện của rối loạn tiêu hóa, bệnh nhân thường grain có cảm giác nặng bụng, khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn, nóng rát, trướng bụng, trung tiện, phân có khi nát có khi lỏng, có khi rắn như phân dê. Trong những trường hợp loét hành tá tràng lâu ngày gây co kéo làm hẹp môn vị thì ăn không tiêu, bụng ậm ạch khó chịu, nhiều khi phải móc họng nôn ra mới thấy thoải mái. Vì vậy, người bị loét dạ dày – hành tá tràng lâu năm thường gầy, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt.

Hiện nay, nội soi dạ dày có giá trị lớn trong chẩn đoán viêm, loét dạ dày – tá tràng. Ngoài việc xác định được vị trí tổn thương, tình trạng tổn thương… thì trong những trường hợp nghi ngờ bệnh ác tính có thể sinh thiết để tìm tế bào lạ. Sinh thiết còn giúp cho việc lấy bệnh phẩm để nhuộm gram, thử exam ureaza, nuôi cấy phân lập xác định vi khuẩn HP và làm kháng sinh đồ để xác định tính nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn này.

Tuy nhiên, đa số trường hợp triệu chứng mơ hồ rất khó chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng có vị trí hoặc tính chất gần giống với đau bụng do bệnh lý ở dạ dày, đặc biệt cần chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng đòi hỏi phải được bác sĩ chữa trị và can thiệp kịp thời nếu không sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng như viêm ruột thừa, tắc ruột…

Các biến chứng của viêm loét dạ dày

Hẹp môn vị: Biểu hiện đau bụng và nôn ói rất dữ dội, đặc biệt bệnh nhân ói ra thức ăn của ngày hôm trước, có mùi hôi thối.

Thủng dạ dày: Bệnh nhân đột ngột có cơn đau dữ dội như dao đâm, bụng gồng cứng như gỗ, phải được phẫu thuật kịp thời nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Xuất huyết tiêu hóa: Là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện ói ra máu và đi cầu phân máu có thể máu đỏ, hoặc phân có màu đen hôi thối.

Ung thư dạ dày: Ung thư dạ dày là một dạng ung thư rất thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa và cũng là một trong những biến chứng của các bệnh lý lành tính ở dạ dày mà không được điều trị triệt để.

Điều trị bệnh có khó?

Ăn uống hợp vệ sinh là khâu quan trọng hàng đầu. Cần có chế độ dinh dưỡng tốt, thích hợp cho người mắc bệnh về dạ dày: không nên ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng; không nên ăn quá nhiều chất béo, các chất kích thích như trà, cà phê…; không uống rượu, không hút thuốc lá; không nên ăn quá nhanh, nhai không kỹ; cần ăn đúng bữa, đúng giờ, không ăn quá khuya, bữa ăn cuối cùng trước lúc ngủ ít nhất 4 giờ, không ăn quá no hoặc nhịn đói quá lâu. Ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước và đặc biệt không được tự ý dùng thuốc, nhất là với các thuốc giảm đau, chống viêm mà không có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Kết hợp với chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, tránh làm việc quá sức, highlight kéo dài.

Ngoài ra, việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình điều trị căn bệnh này. Ngày nay, người ta khuyến cáo điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng dựa trên cơ chế tiêu diệt vi khuẩn HP, chống tăng tiết dịch vị và cần có thuốc bao phủ niêm mạc tránh tác dụng của dịch vị. Có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh dạ dày, tùy theo tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có sự lựa chọn thuốc thích hợp.

BS.Nguyễn Thị Phương Anh – skđs

Thực phẩm dễ gây sâu răng

Nguyên nhân khiến bé bị sâu răng chủ yếu là do khi bé ăn các thực phẩm có chứa nhiều chất đường mà không vệ sinh răng sạch sẽ. Thông thường, chỉ 15 phút sau khi ăn, các vi sinh vật sinh này sẽ hấp thu và tiêu hóa chất đường, biến đường thành axit hữu cơ làm mất khoáng men răng dẫn đến sâu răng. Những thực phẩm dễ gây sâu răng cho trẻ gồm:

– Thực phẩm có chứa chất đường:

thuc-pham-de-gay-sau-rang

Trẻ em thường thích ăn thức ăn ngọt như: Kẹo trái cây, kẹo bông gòn, “si rô đá bào”, các loại trà sữa, nước ngọt… các thực phẩm này chủ yếu được chế biến từ đường (đường saccarose, loại đường gây sâu răng nhiều nhất), hương liệu, phẩm màu… Ngoài ra, trong nước ngọt có gas còn có chứa hàm lượng lớn axit gây bào mòn men răng.

– Các loại thức ăn có tính dính như:

Khoai lang, khoai tây, thức ăn được chế biến từ nếp và các loại bột (xôi, bánh trung thu, bánh cốm), bánh snack… Các thực phẩm này, ngoài đường còn có chứa nhiều tinh bột, là một loại đường đa cũng có khả năng gây sâu răng, ngoài ra nó tạo những mảng bám rất khó làm sạch, giúp các vi khuẩn gây sâu răng như streptococcus mutans, lactobacillus acidophillus… phát triển thuận lợi.

– Thực phẩm có tính axit:

Các loại “thức ăn đường phố” yêu thích của trẻ như: Cóc ngâm, xoài  dầm chua, me ngào, mứt chùm ruột, cà na … bên cạnh lượng đường cho vào khi chế biến dễ gây sâu răng, bản thân các loại trái cây chua có chứa nhiều axit gây mòn men răng.

Nguồn gia đình

Vitamin nào thực sự cần thiết cho trẻ em

Vitamin và các chất khoáng là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển cơ thể trẻ em. Trẻ có sức khỏe bình thường, được bú mẹ và ăn uống đầy đủ sẽ không bị thiếu vitamin và khoáng chất.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp như trẻ sinh non, sinh đôi, trẻ lớn quá nhanh, chất lượng bữa ăn không bảo đảm, không được bú sữa mẹ, bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, rối loạn hấp thu, mắc các bệnh về gan, mật… sẽ bị thiếu vitamin và khoáng chất.

Biểu hiện của trẻ thiếu vitamin

Ths. Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng quốc gia cho biết, khi cơ thể bị thiếu vitamin và khoáng chất, trẻ sẽ chậm lớn, mắc một số bệnh, chẳng hạn: thiếu vitamin A có thể gây bệnh ở mắt, nhiễm khuẩn đường hô hấp và đường tiêu hóa; thiếu vitamin B1 dễ bị phù, viêm các dây thần kinh, suy tim; thiếu vitamin C dễ gây chảy máu dưới da và niêm mạc, làm giảm sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn; thiếu vitamin K dễ bị xuất huyết, đặc biệt xuất huyết não, màng não; thiếu vitamin D và canxi sẽ bị còi xương; thiếu kẽm dễ mắc các bệnh ngoài da; thiếu fluor dễ mắc bệnh răng miệng, thiếu sắt dẫn đến thiếu máu….
vitamin
Nếu trẻ có biểu hiện nguy cơ bị thiếu vitamin và khoáng chất, thì bổ sung các chất này cho trẻ là việc làm cần thiết. Ngoài ra, nếu bạn nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đầy đủ thì ngay cả những trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin và khoáng chất. Nhưng, việc bổ sung vitamin và khoáng chất cho trẻ phải hết sức thận trọng, vì chúng cũng có nhiều tác dụng phụ không mong muốn như bất kỳ thuốc chữa bệnh nào.

Nguyên nhân gây thiếu vitamin ở trẻ

– Trẻ sống trong những gia đình kinh tế khó khăn nên bữa ăn cho trẻ không bảo đảm chất lượng.
– Trẻ ăn phải gạo bị mốc hoặc để lâu ngày thiếu vitamin B1. Rau quả để bị héo hoặc bảo quản lạnh quá lâu. Do chế biến thức ăn không đúng như đun đi đun lại nhiều lần. Do các tục lệ ăn uống kiêng khem quá mức hoặc trẻ khôngđược bú sữa mẹ…

Ngoài ra, những trẻ bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, rối loạn hấp thu, các bệnh về gan, mật… là những trẻ hay bị thiếu Vitamin và chất khoáng. Trẻ bị bệnh sốt rét có thể gây thiếu vitamin B1 và tình trạng thiếu vitamin B1 có thể làm phức tạp thêm bệnh sốt rét.

Bên cạnh đó, những trẻ đẻ non, sinh đôi, các trẻ lớn quá nhanh do nhu cầu vitamin quá cao so với sự cung cấp của chúng ta hàng ngày.

Tuy nhiên, việc bổ sung thừa vitamin cho trẻ có thể gây nguy hiểm cho cơ thể trẻ, chẳng hạn như:
– Thừa Vitamin A có thể gây ngộ độc làm tăng áp lực nội sọ dẫn đến trẻ bị nôn nhiều, đau đầu, ảnh hưởng đến sự phát triển xương có thể làm trẻ chậm lớn, rối loạn thần kinh.
-Thừa Vitamin B6 có thể dẫn tới viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ, giảm tiết prolactin.
– Do không có hiện tượng tích lũy nên hầu như không gặp thừa Vitamin C,nhưng nếu dùng liều cao theo đường uống có thể gây viêm loét dạ dày tá tràng, tiêu chảy.
– Thừa Vitamin D có thể làm cho trẻ chán ăn, mệt mỏi, nôn, dày màng xương, có trường hợp có thể bị thiểu năng, kém trí tuệ, thậm chí gây suy thận và tử vong rất nhanh.
– Thừa Vitamin K thường chỉ gặp khi dùng đường tiêm kéo dài có thể gây tan máu và vàng da.
– Thừa canxi dẫn đến gây mệt mỏi, chán ăn, sỏi thận, tăng huyết áp…xương cốt hoá sớm có thể bị thấp chiều cao
– Thừa sắt dẫn đến gan nhiễm săt, tim nhiễm sắt dẫn đến suy tim
-Thừa kẽm dẫn đến biếng ăn, nôn, rối loạn tiêu hoá…

Lưu ý khi bổ sung vitamin cho trẻ

– Nên cho trẻ dùng dạng lỏng như dung dịch uống vì vừa dễ uống vừa dễ hấp thu.
– Sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm.

Vitamin tự nhiên có rất nhiều trong các loại rau quả, thực phẩm. Do vậy cần duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý để đảm bảo cung cấp đủ vitamin cho cơ thể. Để tránh hậu quả khôn lường do lạm dụng vitamin, cần thực hiện nguyên tắc chỉ bổ sung vitamin khi thực sự cần thiết, không được coi vitamin như là “thuốc bổ” phải dùng liên tục.

Cần đi khám bác sĩ khi có vấn đề về sức khỏe để được có các tư vấn, chỉ dẫn cần thiết. Việc xác định đúng loại vitamin mà cơ thể thiếu để bổ sung thay vì ăn uống tràn lan nhiều loại vitamin là rất quan trọng.

Nguồn vnmedia

Vitamin D thấp làm tăng nguy cơ thiếu máu ở trẻ

Một nghiên cứu mới ở Mỹ cho thấy hàm lượng vitamin D thấp có thể làm tăng nguy cơ bị thiếu máu ở trẻ.

Theo hãng tin ANI dẫn lời các nhà khoa học thuộc Trung tâm trẻ em Johns Hopkins (Mỹ), nghiên cứu của họ là bằng chứng của sự tương tác phức tạp giữa hàm lượng vitamin D thấp và chỉ số huyết học hemoglobin (chỉ số giúp nhận biết bệnh thiếu máu).
vitamin-thap-lam-tang-nguy-co-thieu-mau-o-tre
Để tìm hiểu mối liên hệ giữa vitamin D và thiếu máu, nhóm chuyên gia nghiên cứu mẫu máu của hơn 10.400 trẻ em, đo hàm lượng vitamin D và hemoglobin.

Kết quả là nồng độ vitamin D luôn thấp ở trẻ em có nồng độ hemoglobin thấp so với nhóm không bị thiếu máu. Nguy cơ thiếu máu xảy ra khi thiếu vitamin D nhẹ, được xác định là nồng độ vitamin D dưới 30 nanogram mỗi ml.

Các chuyên gia cho rằng đó có thể là vitamin D tác động đến việc sản sinh hồng cầu trong tủy xương, cũng như khả năng của vitamin D giúp điều chỉnh tình trạng viêm miễn dịch, vốn là chất xúc tác của bệnh thiếu máu.

Có thể bổ sung vitamin D từ tắm nắng thường xuyên cũng như qua ăn uống các món như sữa, cá…

Nghiên cứu này được công bố trên chuyên san Pediatrics.

Huỳnh Thiềm

Theo thanh niên

Điều cần biết trước khi phẫu thuật amidan

Không phải tất cả trẻ em đều có thể cắt amidan, đặc biệt là những trẻ lặp đi lặp lại tình trạng nhiễm trùng như viêm họng. Thậm chí có trẻ càng bị viêm nặng hơn sau khi cắt bỏ amidan.

Theo số liệu của Viện Hàn lâm Tai Mũi Họng Mỹ, hơn 530.000 trẻ em dưới 15 tuổi nước này đã cắt bỏ amidan mỗi năm. Khoảng 80% trẻ có vấn đề khi ngủ như ngáy, thở không đều do nhiễm trùng. Có một số phương pháp các bác sĩ sử dụng cắt bỏ amidan, phổ biến nhất là phương pháp đốt điện. Tuy nhiên, do sử dụng nhiệt, các mô mềm của cổ họng bị đốt cháy, gây đau nhiều hơn và hồi phục lâu hơn.
amidan
Trong vòng 10 năm trở lại đây, các bác sĩ đã sử dụng một phương pháp ít gây đau đớn. Các bác sĩ phẫu thuật “cạo” các amidan với một lưỡi dao quay và sử dụng ống hút để cầm máu. Phương pháp này ít ảnh hưởng đến vòm họng, ít đau, ít bị chảy máu và thời gian hồi phục nhanh hơn.

Sau khi phẫu thuật, amidan có thể phát triển trở lại? Không phải tất cả trẻ em đều có thể cắt amidan, đặc biệt là những trẻ lặp đi lặp lại tình trạng nhiễm trùng như viêm họng. Thậm chí có trẻ càng bị viêm nặng hơn sau khi cắt bỏ amidan. Theo các nhà nghiên cứu, ước tính 10% khả năng amidan sẽ phát triển trở lại trong vòng 2-3 năm sau. Khi quyết định cho trẻ cắt amidan, bạn cần sự tư vấn của bác sĩ để lựa chọn phương pháp phù hợp và biện pháp để tránh amidan tái phát.

Theo ANTĐ

Không nên cho trẻ ăn kem trong mùa hè

Mùa hè, thời tiết trở nên ngày càng nóng vì vậy kem đã trở thành món ăn ưa thích cho rất nhiều người. Kem có thể mang lại cho chúng ta một cảm giác mát mẻ và tươi mới, nhưng không phải ai cũng thích hợp để ăn kem.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, bốn nhóm người sau đây không nên ăn kem, nếu không, nó có thể gây tác hại nghiêm trọng trên cơ thể của họ.

Nhóm người đang giảm cân

Kem có chứa một hàm lượng đường và chất béo, làm bạn dễ dàng tăng cân. Ngoài ra, một số kem có chứa axit béo trans. Theo nghiên cứu chỉ ra rằng, axit béo là một trong những nguyên nhân chính của bệnh béo phì. Tác dụng chính của nó là để tích lũy chất béo trên bụng. Do vậy, đối với những người muốn giảm cân thì không nên ăn kem.
06fd61suckhoe-tre-em
Phụ nữ mang thai

Tại sao phụ nữ mang thai không nên ăn kem? Điều này chủ yếu bởi vì khi phụ nữ trong thời kỳ mang thai, sự tiết nước tiêu hóa và men tiêu hóa sẽ giảm, và các chức năng tiêu hóa sẽ yếu đi. Nếu ăn kem lạnh quá nhiều, nó sẽ làm cho các mạch máu đường tiêu hóa đột nhiên thay đổi đột ngột và dẫn đến các triệu chứng như đau bụng và tiêu chảy. Hơn nữa, kem luôn luôn có chứa một số lượng lớn đường, chất béo và các chất phụ gia thực phẩm, nó cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của bào thai.

Trẻ em đang trong giai đoạn phát triển

Kem thuộc về thực phẩm có chứa nhiều đường và chất béo, có thể dễ dàng làm cho trẻ em tích tụ chất béo. Ngoài ra, trẻ em dễ bị dị ứng hơn với phụ gia thực phẩm có trong kem. Hơn nữa, ăn kem quá nhiều trước bữa ăn không chỉ có thể ảnh hưởng đến sự thèm ăn của trẻ mà còn có thể gây kích thích mạnh mẽ trên đường tiêu hóa, dẫn đến khó chịu đường tiêu hóa.

Bệnh nhân tiểu đường

Kem có chứa một hàm lượng đường cao, có thể làm cho mức độ đường trong máu tăng lên nhanh chóng trong các bệnh nhân tiểu đường, do đó làm trầm trọng thêm tình trạng của bệnh tiểu đường. Do vậy, các bác sĩ luôn khuyên bệnh nhân tiểu đường không nên ăn kem. Tuy nhiên, hiện nay có một số loại kem dành riêng cho bệnh nhân tiểu đường. Các loại kem không chứa đường mà chỉ có một số chất làm ngọt như sorbitol và maltitol. Bởi vì sorbitol và maltitol có một hương vị ngọt ngào, chúng chứa ít calo. Hơn nữa, sự trao đổi chất của sorbitol và maltitol không được kiểm soát bởi insulin.

Theo VnMedia.vn

Trung tâm bảo vệ bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia

trung-tam-bao-ve-ba-me-va-tre-em1

Địa chỉ Số 4, tổ 27, TP Hòa Bình, HÒA BÌNH

Điện thoại 018.894.948

18 điều có thể bạn chưa biết về stress

Chắc hẳn ai cũng từng bị căng thẳng do công việc, cuộc sống hay rất nhiều lí do khác. Nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguyên nhân, cách giải tỏa căng thẳng cũng như ảnh hưởng của nó với sức khỏe.

1. Kẻ giết người thầm lặng

Căng thẳng có thể dẫn đến bệnh tim, cao huyết áp, đau ngực và nhịp tim bất thường. Tất cả những yếu tố này đều không tốt cho tim của bạn và có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm hơn như cơn đau tim và đột quỵ.

2. Những thành phố gây căng thẳng
stress
Nơi bạn sống có thể góp phần gây ra mức độ căng thẳng của bạn. Không có gì ngạc nhiên nếu bạn sống ở những thành phố lớn, mọi người luôn sống gấp gáp, hối hả, bạn sẽ càng dễ rơi vào tình trạng căng thẳng.

3. Uống rượu bia và hút thuốc

Uống rượu bia và hút thuốc sẽ khiến tình trạng căng thẳng của bạn trở nên tồi tệ hơn, mặc dù bạn nghĩ đó là cách giúp bạn bình tĩnh trở lại và quên đi hiện tại.

4. Mụn trứng cá

Nếu bạn thấy mụn trứng cá xuất hiện nhiều, rất có thể tình trạng căng thẳng của bạn chính là nguyên nhân. Căng thẳng làm tăng viêm nhiễm dẫn đến mụn trứng cá.

5. Cười nhiều hơn

Nếu bạn muốn giải tỏa căng thẳng, hãy dành thời gian thư giãn với bạn bè, xem những bộ phim hài… Khi bạn cười, cơ thể sẽ giải phóng những hóc-môn có lợi cho sức khỏe và giảm căng thẳng.

6. Làm bạn tăng cân

Căng thẳng khiến cơ thể giải phóng hóc-môn cortisol, dẫn đến tích tụ mỡ bụng và làm cho các tế bào mỡ phát triển lớn hơn.

7. Cần cho sự sống

Đôi khi sự căng thẳng và áp lực chính là động lực giúp bạn hoàn thành công việc tốt hơn.

8. Giảm ham muốn tình dục

Sự căng thẳng cũng liên quan đến hóc-môn kiểm soát ham muốn tình dục của bạn và thời gian đạt cực khoái của bạn. Tuy nhiên, tình dục lại chính là một cách tuyệt vời giúp bạn giảm căng thẳng.

9. Sô-cô-la

Sô-cô-la đen có khả năng giúp bạn giảm hóc-môn căng thẳng, vì vậy, mỗi khi bạn căng thẳng, hãy ăn một chút sô-cô-la đen.

10. Rụng tóc
stress1
Chứng rụng tóc cũng có thể bắt nguồn từ nguyên nhân là bạn bị căng thẳng. Vì vậy, rụng tóc sẽ được cải thiện nếu tình trạng căng thẳng của bạn được giải tỏa.

11. Công việc căng thẳng

Theo một nghiên cứu, các công việc căng thẳng nhất thuộc về lĩnh vực y tế, hàng không, quảng cáo và bất động sản, trong khi những người làm việc trong ngành công nghệ máy tính và thiên văn học thì ít căng thẳng hơn. Còn công việc của bạn? Bạn có thể làm gì để công việc của mình bớt căng thẳng hơn?

12. Khả năng sinh sản

Sự căng thẳng còn ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của bạn. Phụ nữ bị căng thẳng khó có thể rụng trứng. Còn ở nam giới, căng thẳng có thể ảnh hưởng đến số lượng tinh trùng và khả năng di chuyển của chúng. Nếu bạn khó thụ thai, bạn nên nghĩ đến việc cải thiện tình trạng căng thẳng của bản thân hoặc người bạn đời.

13. Trẻ em cũng bị căng thẳng

Ngay cả trẻ em cũng có thể bị căng thẳng. Trẻ bị căng thẳng mạn tính có thể bị rối loạn phát triển tâm thần bởi nó làm giảm sự sản sinh các hóc-môn tăng trưởng trong tuyến yên. Vì vậy, điều quan trọng là bạn cần tạo cho trẻ một môi trường ít căng thẳng để trẻ phát triển toàn diện.

14. Chảy máu

Đây là một thực tế rất thú vị về căng thẳng. Căng thẳng cũng có thể cứu được mạng sống của bạn. Phản ứng của cơ thể với sự căng thẳng khi bị thương như vết đứt, khiến các mao quản của mạch máu co lại và máu chảy chậm lại. Căng thẳng cũng làm máu kết dính nhanh hình thành cục máu đông, giúp ngưng chảy máu.

15. Tiền bạc

Tiền bạc chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến căng thẳng. Nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay, nhiều người phải lo lắng về tiền bạc dẫn đến số người bị căng thẳng nhiều hơn.

16. Lứa tuổi vị thành niên

Theo Hiệp hội Tâm thần Mỹ, căng thẳng chính là mối quan tâm sức khỏe hàng đầu đối với những trẻ ở tuổi vị thành niên. Nhiều chuyên gia lo ngại rằng nếu trẻ không biết cách kiểm soát căng thẳng, chúng có thể gặp những vấn đề sức khỏe về lâu dài.

17. Tập thể dục

Tập thể dục là một phương pháp hiệu quả để giảm căng thẳng. Vì vậy, bạn hãy tăng cường vận động bằng các hoạt động thể chất phù hợp.

18. Giấc ngủ

Giấc ngủ ngon, đủ và sâu sẽ giúp bạn giải tỏa căng thẳng một cách hiệu quả. Vì vậy, nếu bạn bị căng thẳng, hãy chắc chắn rằng bạn phải ngủ đủ giấc mỗi đêm.

Gia Minh

Phòng ngừa viêm tiểu phế quản ở trẻ

Viêm tiểu phế quản là bệnh phổ biến ở trẻ, thường gia tăng vào thời điểm giao mùa, khi thời tiết chuyển lạnh – yếu tố thuận lợi cho virut gây bệnh phát triển tấn công trẻ nhỏ có sức đề kháng yếu.

Nguyên nhân và biểu hiện

Viêm tiểu phế quản là bệnh viêm nhiễm cấp tính của các phế quản kích thước nhỏ, thường là do các virut, đứng hàng đầu là virut hợp bào hô hấp (virut Respiratoire Syncytial), chiếm 30 – 50% các trường hợp mắc bệnh.
phong-ngua-viem-tieu-phe-quan-o-tre
Viêm tiểu phế quản thường xảy ra ở trẻ dưới 24 tháng tuổi, chủ yếu là trẻ dưới 6 tháng tuổi, vì giai đoạn này phổi và hệ miễn dịch của trẻ chưa phát triển hoàn thiện.

Biểu hiện ban đầu thường là ho, chảy nước mũi trong, sốt, sau đó trẻ có triệu chứng khò khè, thở nhanh nông, bú càng ngày càng kém… Biến chứng thường gặp của bệnh là suy hô hấp, viêm phổi xẹp phổi, viêm tai giữa.

Nếu không được điều trị bệnh sẽ diễn tiến nặng, trẻ khó thở, bỏ bú, tím tái, suy hô hấp và có thể tử vong. Đặc biệt, đối với trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non – nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng nặng, trẻ bị bệnh tim, phổi, suy giảm miễn dịch thì nguy cơ càng cao.

Chăm sóc tốt để phòng bệnh cho trẻ

Để phòng ngừa viêm tiểu phế quản ở trẻ cần chăm sóc trẻ đúng cách, tăng cường sức đề kháng cho trẻ:

Cho trẻ bú mẹ ngay từ lúc mới sinh đến 2 tuổi. Điều quan trọng là người mẹ cần duy trì một chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh nhằm đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng và năng lượng. Người mẹ sẽ cần ít nhất thêm 500kcal so với mức năng lượng thường ngày trong giai đoạn cho con bú. Trong suốt thời kỳ cho con bú, cần lưu ý đặc biệt tới các loại đồ ăn giàu canxi như các chế phẩm từ sữa, ngũ cốc, ngũ cốc nguyên cám, rau lá xanh, các loại hạt hay các loại cá. Các chế phẩm bổ sung vitamin sẽ giúp tăng thêm nguồn vitamin trong sữa mẹ.

Chú ý dinh dưỡng cho trẻ, ăn dặm đúng cách. Tùy thể trạng từng bé, có thể tập cho trẻ ăn dặm từ từ, bắt đầu từ 5 – 6 tháng tuổi trở đi, bữa ăn của trẻ phải bao gồm đầy đủ bốn nhóm dinh dưỡng chính: Tinh bột; chất đạm; rau, trái cây; dầu thực vật.

Cho trẻ uống đủ nước. Chú ý mặc quần áo thích hợp cho trẻ, thoáng mát về mùa hè, giữ ấm trong mùa đông, không để trẻ bị lạnh hay ra quá nhiều mồ hôi. Giữ cho môi trường trẻ ở được trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói bụi, khói thuốc lá. Cha mẹ và người chăm sóc trẻ cần rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ. Tránh để trẻ tiếp xúc với người bệnh bị viêm đường hô hấp và tiêm phòng đầy đủ.

Đối với trẻ bị bệnh tim, phổi bẩm sinh càng cần được chăm sóc và lưu ý kỹ hơn vì trẻ dễ mắc bệnh và tiến triển xấu. Đối với trẻ bình thường, khi có những biểu hiện sốt, ho, sổ mũi, bú kém, bỏ bú… cần đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.

(Bác sĩ Vũ Minh)

Bệnh nhiễm trùng tiểu ở trẻ

Nhiễm trùng tiểu là bệnh lý gây ra do sự hiện diện của vi trùng trong nước tiểu, thường gặp là vi trùng E.coli.

E.coli là vi trùng của đường tiêu hóa, đi từ đường ruột là hậu môn sang lỗ tiểu ngoài, đi ngược dòng vào đường niệu. Nhiễm trùng tiểu còn có thể do nhiễm trùng huyết gây ra, vi trùng từ máu bệnh nhân bị nhiễm đi khắp cơ thể, đến đường niệu và gây nhiễm trùng tiểu. Dạng này rất nặng và nguy cơ cao.  Ở trẻ không bị bệnh thận hoặc tim, nên cho trẻ uống nhiều nước rải ra trong ngày.

Ngoài ra, bệnh nhi có sức đề kháng kém hoặc có dị dạng đường niệu thì dễ mắc nhiễm trùng tiểu hơn. Nhiễm trùng tiểu thường gặp ở trẻ gái nhiều hơn ở trẻ trai do niệu đạo ở trẻ gái ngắn hơn, vi trùng dễ dàng vào cơ thể và gây nhiễm trùng. Tương tự, đàn bà, phụ nữ cũng dễ mắc nhiễm trùng tiểu hơn đàn ông, nam giới.
nhiem-trung-duong-tieu-o-tre
Để có thể nhận biết bệnh, chúng ta cần lưu ý những dấu hiệu sau đây: Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhủ nhi, triệu chứng thường không rõ ràng, do trẻ nhỏ không diễn tả và biểu hiện được cho chúng ta biết, nên cần tìm những dấu hiệu gián tiếp như sốt không rõ nguyên nhân, sốt kéo dài, bỏ bú, rối loạn tiêu hóa, không tăng cân hoặc vàng da kéo dài trong thời kỳ sơ sinh.

Nhiễm trùng tiểu rất nguy hiểm do biến chứng thường gặp là sẹo thận. Sau một đợt nhiễm trùng tiểu nặng hoặc nhiễm trùng tiểu tái phát nhiều lần, 10 đến 15% trẻ sẽ bị tổn thương ở thận dưới dạng sẹo thận. Sẹo thận có thể gây cao huyết áp và dẫn đến suy thận mãn sau này. Để phòng ngừa nhiễm trùng tiểu, ở trẻ nhỏ và trẻ gái, sau mỗi lần đi tiêu tiểu, nên rửa vệ sinh và lau chùi đúng cách. Lau chùi đúng cách có nghĩa là lau chùi từ trước ra sau, chứ không từ sau ra trước, do lỗ tiểu ở phía trước và hậu môn nằm phía sau. Động tác làm vệ sinh phải đúng cách để không đưa vi trùng từ đường tiêu hóa vào đường niệu. Ngoài ra, các bà mẹ nên thường xuyên kiểm tra tã lót và nên thay tã ngay sau khi bé tiêu tiểu.

Nhịn đi tiểu do e ngại hoặc không có chỗ đi vệ sinh rất nguy hiểm vì nước tiểu gồm các chất cơ thể cần thải ra ngoài, khi bị ứ lại trong bàng quang, các chất này sẽ là môi trường cho vi trùng dễ xâm nhập vào cơ thể và gây nhiễm trùng tiểu. Do vậy mà các khu vui chơi giải trí, trường học cần có nhà vệ sinh sạch sẽ, nguồn nước đầy đủ, giúp trẻ không phải nhịn tiểu do tâm lý ngại đi tiểu.

Khi trẻ ngại đi vệ sinh sẽ làm cho trẻ không dám uống nhiều nước, điều này rất hại cho cơ thể. Mỗi ngày cơ thể cần 1,5 – 2 lít nước cung cấp từ thức ăn và nước uống. Uống nhiều nước sẽ giúp thận thải tốt các chất bã, làn da sẽ tươi tắn hơn. Nên cho trẻ mang theo bình nước khi đi học hoặc đi chơi xa, cũng như khi vận động thể lực, trẻ cần nghỉ một chút và uống từng ngụm nước nhỏ. Khi ở trong phòng có máy lạnh, nên cho trẻ uống nhiều nước hơn do máy điều hòa không khí hút nước của cơ thể và làm khô da.

Lời khuyên của chúng tôi là ở trẻ bình thường, không mắc bệnh thận hoặc bệnh tim, thì nên cho trẻ uống nhiều nước, luôn luôn giữ nước tiểu thật trong và không nên nhịn đi tiểu.

Theo sức khỏe đời sống

Trẻ nhỏ tiếp xúc với một số loại nấm mốc sẽ có nguy cơ cao hơn bị hen.

Theo một nghiên cứu mới đây thì trẻ nhỏ tiếp xúc với một số loại nấm mốc sẽ có nguy cơ cao hơn bị hen.

Các nhà khoa học ở Bệnh viện Nhi Cincinati và Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ đã theo dõi quá trình mắc bệnh dị ứng và sức khỏe hô hấp ở gần 300 trẻ nhỏ. Tất cả những trẻ này đều có ít nhất bố hoặc mẹ bị dị ứng.

Chúng được khám mỗi năm một lần trong 4 năm đầu đời và tái khám khi chúng lên 7 tuổi để xác định xem liệu chúng có mắc bệnh hen hay không.
tre-de-bi-benh-hen-neu-nha-nhieu-nam-moc
Trong nghiên cứu, các nhà khoa học cũng tính đến yếu tố môi trường trong gia đình trẻ để đánh giá mức độ phơi nhiễm với các chất gây dị ứng và nấm, mốc. Ẩm ướt thường là nguyên nhân gây ra nấm mốc trong nhà.

Kết quả nghiên cứu cho thấy 25% số trẻ bị hen khi lên 7 tuổi. Nấm mốc là nguyên nhân duy nhất được xác định là yếu tố nguy cơ gây bệnh ở những đối tượng nghiên cứu này.

Sử dụng dụng cụ phân tích nấm mốc dựa trên phân tích ADN, các nhà nghiên cứu thấy có 3 loại nấm mốc liên quan đến phát triển bệnh hen ở trẻ nhỏ, đó là Aspergillus ochraceus,Aspergillus unguisvàPenicillium variabile.

Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Journal of Allergy and Clinical Immunology.

Viêm tai xương chũm cấp ở trẻ nhỏ vì chủ quan

Viêm tai xương chũm cấp (VTXCC) là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, nhất là khi trời nắng nóng, giao mùa như hiện nay. Các bác sĩ (BS) cho biết, đây là biến chứng của bệnh viêm tai giữa do không điều trị kịp thời hoặc điều trị không đúng cách.

Bệnh nặng vì chủ quan

Em N.N.B.M. (hai tuổi, ngụ Biên Hòa, Đồng Nai) vừa nhập viện tại Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 2 (TP.HCM) trong tình trạng sốt, sưng rãnh sau tai bên trái nhưng không chảy mủ. Người nhà cho biết, trước đó bé bị sốt, chảy nước mũi, bề mặt rãnh sau tai sưng đỏ, nhưng không đưa đi khám mà chỉ mua thuốc cho bé uống. Sau ba-bốn ngày sốt cao, rãnh sau tai của bé M. sưng đỏ hơn, cảm giác đau nhiều hơn khi chạm vào.
viem-tai-xuong-chum-cap-o-tre-nho
BS Cao Minh Thức – Trưởng khoa Tai Mũi Họng, BV Nhi Đồng 2 cho biết, trường hợp của bé M. là viêm sào bào xương chũm cấp (hay còn gọi là VTXCC). Tuy nhiên, chính vì tai không bị chảy mủ nên nhiều phụ huynh chủ quan cho rằng bé chỉ bị sốt, chảy nước mũi thông thường như mọi khi mà bỏ qua các dấu hiệu của VTXCC như bề mặt rãnh sau sưng, nề đỏ.

Tại BV Nhi Đồng 1 (TP.HCM), em H.N.T.A. (17 tháng tuổi, ngụ Khánh Hòa) cũng nhập viện trong tình trạng sốt, rãnh sau tai sưng to. Theo anh Hồ Nghĩa Chiến – cha của bé A., cách đây một tháng, A. có biểu hiện sốt, rãnh sau tai sưng đỏ, đụng vào bé cứ khóc. Anh Chiến đưa con đến phòng khám gần nhà, BS cho biết bé bị viêm tai giữa và cho thuốc uống. Vài ngày sau, bé hết sốt, vết sưng cũng xẹp nên anh chủ quan không đưa bé đi tái khám đúng hẹn, khiến bệnh trở nặng.

Dễ tái phát

BS Cao Minh Thức cho biết, xương chũm là một khối xương nằm lồi gần ngay sau vành tai. Nguyên nhân gây bệnh thường gặp nhất là do bệnh viêm tai giữa không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách như: người nhà không đưa đến BS chuyên khoa tai mũi họng khám kịp thời khi bé bị sốt, sổ mũi, đau tai; lỗ thủng không dẫn lưu được mủ; hoặc do mắc một số bệnh nhiễm trùng (sởi, cúm) làm bé mất sức đề kháng; cơ thể trẻ ốm yếu, suy dinh dưỡng; độc tố của vi khuẩn quá mạnh… nên tình trạng sưng viêm không ở tai giữa mà tiến vào xương chũm.

Lý giải nguyên nhân bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ này, ThS-BS Nguyễn Thị Thanh Thúy – Phó trưởng khoa Nhi tổng hợp BV Tai Mũi Họng TP.HCM cho biết, ở trẻ nhỏ, do các vách xương rất mỏng nên từ bệnh viêm tai giữa thông thường rất dễ diễn biến thành VTXCC. Vi trùng từ tai giữa đã xâm nhập vào phần xương chũm phía sau tai, tạo ổ mủ và có thể tạo áp-xe lan ra cả phía sau tai. Triệu chứng là trẻ thường sốt, đau tai, chảy mủ tai, sưng sau tai, mất rãnh sau tai. Nếu chụp phim có thể thấy hình ảnh mờ xương chũm; thử máu sẽ thấy bạch cầu tăng trong bệnh cảnh nhiễm trùng.

Bệnh VTXCC thường gặp nhất vào lúc giao mùa, trời nắng nóng. Bởi, khí hậu thay đổi dễ làm trẻ bị ho, sổ mũi, cảm tạo điều kiện cho siêu vi trùng, vi trùng tấn công tai giữa làm viêm tai giữa cấp. Trung bình mỗi tháng, khoa Nhi tổng hợp BV Tai Mũi Họng tiếp nhận điều trị khoảng 10 – 20 ca, trong đó số nặng phải mổ từ ba-năm ca.

Theo BS Thanh Thúy, việc đánh giá trẻ bị VTXCC đang trong giai đoạn nào để điều trị nội khoa theo dõi hay phải mổ cấp cứu là điều rất quan trọng, bởi vẫn có thể xảy ra tình trạng mổ lầm không cần thiết hay mổ quá trễ để xảy ra biến chứng. Nếu bệnh diễn tiến cấp trong vòng ba ngày đầu, chưa tạo áp-xe, có thể điều trị nội khoa tích cực: kháng sinh – kháng viêm đầy đủ, bệnh có thể giảm dần rồi hết. Nếu trẻ đến muộn hơn hay diễn tiến tự nhiên dẫn đến tạo ổ áp-xe lan ra sau tai, lúc đó bắt buộc phải mổ cấp cứu để dẫn lưu mủ. Biến chứng có thể xảy ra nếu không xử lý kịp thời là: liệt mặt; áp-xe lan vào não, màng não; nhiễm trùng huyết…

BS Nguyễn Thế Huy, Phó trưởng khoa Tai Mũi Họng BV Nhi Đồng 1 cho biết, bệnh VTXCC nếu được điều trị đúng phác đồ và kịp thời sẽ không để lại di chứng. Trong bệnh viêm tai giữa cấp, nhiều trường hợp khoảng năm ngày sau khi điều trị, trẻ hết bệnh, ngưng chảy mủ, không đau nên người nhà thường có tâm lý chủ quan không tiếp tục điều trị và theo dõi, vì thế chỉ vài ngày sau bệnh tái phát từ đó rất dễ biến chứng thành VTXCC. Đối với những trẻ có tiền sử viêm tai giữa, khi trẻ bị cảm cúm thì bệnh dễ tái phát và có thể tái phát thành nhiều đợt trong năm.

“Khi thấy trẻ có dấu hiệu ôm tai vì đau, sốt, sưng sau tai, phụ huynh nên đưa trẻ khám ngay tại BV chuyên khoa tai mũi họng vì đây là tình trạng nặng. Nếu trẻ chỉ viêm mũi họng, sổ mũi, chảy mủ tai thì cũng nên khám tại BS chuyên khoa nhi hoặc tai mũi họng để xử trí kịp thời, tránh biến chứng nặng hơn” – BS Thanh Thúy khuyến cáo.

Theo sức khỏe

Những bệnh về máu thường gặp ở trẻ em

Theo BS Nguyễn Đình Văn, Phó khoa Ung bướu – Huyết học, BV Nhi Đồng 2 TP.HCM, bệnh lý về máu ở trẻ em thường nguy hiểm.

Tuy nhiên, một số bệnh lý về máu có thể phòng ngừa, hoặc nếu phát hiện sớm, tỷ lệ chữa khỏi rất cao. BS Văn cho biết, có ba loại bệnh lý về máu trẻ em hay mắc phải nhất, Đó là thiếu máu – thiếu sắt, bạch cầu cấp dòng lympho (ung thư) và xuất huyết dạng tiểu cầu miễn dịch.

Có thể phòng ngừa

Trước tiên là bệnh thiếu máu – thiếu sắt. BV Nhi Đồng 2, TP.HCM mỗi tháng tiếp nhận khoảng 30 bệnh nhi thiếu máu do thiếu sắt phải điều trị nội trú. Trẻ bị thiếu máu do thiếu sắt có biểu hiện da nhợt nhạt, môi tái, móng tay biến dạng, học hành giảm sút, hay bị mệt khi chạy, vận động… Nếu không điều trị kịp thời, bệnh nhi chậm phát triển tâm thần vận động, bệnh nặng sẽ suy tim và ngất xỉu. Ngoài ra, bệnh nhi rất dễ bị nhiễm trùng, nhiễm siêu vi…
nhung-benh-ve-mau-thuong-gap-o-tre-em2
Nguyên nhân thiếu máu – thiếu sắt ở trẻ nhỏ do chế độ ăn uống chưa hợp lý. Chẳng hạn, khi bé đã đến tuổi ăn dặm, nhiều bà mẹ vẫn chỉ cho trẻ uống sữa. “Sau sáu tháng tuổi, trẻ cần ăn dặm để bổ sung thêm sắt và một số dưỡng chất cần thiết cho cơ thể. Nhiều bà mẹ không hiểu điều này, cho trẻ bú quá nhiều sữa làm bé không có cơ hội ăn thêm món khác”, BS Văn nói. Với các bé lớn hơn, nguyên nhân gây thiếu máu – thiếu sắt chủ yếu do bị mắc các bệnh lý như: viêm dạ dày, ký sinh trùng, rong kinh (với bé gái tuổi dậy thì) hoặc ruột hấp thu kém.

Phụ huynh hoàn toàn có thể phòng ngừa bệnh thiếu máu – thiếu sắt cho các bé. Với những bé do chế độ ăn uống chưa hợp lý, cha mẹ hãy thêm vào thực đơn của con các thực phẩm giàu sắt như thịt động vật, gan, rau muống… Ở những bé lớn, nếu bé đau bụng ói ra máu, cha mẹ cần đưa đi khám xem con có bị viêm dạ dày không. Các bé gái tuổi dậy thì bị rong kinh phải chữa dứt điểmbệnh này.

Đặc biệt, phụ huynh nên lưu ý cho con uống thuốc tẩy giun định kỳ. Nhiễm ký sinh trùng cũng là nguyên nhân gây thiếu máu – thiếu sắt ở trẻ. Các bé bị thiếu máu – thiếu sắt sẽ được bác sĩ kê toa cho uống bổ sung viên sắt và hướng dẫn chế độ dinh dưỡng phù hợp.

Khỏi hẳn nếu trị sớm

Bệnh máu nguy hiểm hơn cả mà trẻ em hay gặp chính là bạch cầu cấp dòng lympho (ung thư). Cũng là bệnh này nhưng nếu người lớn mắc phải gần như đối mặt với thần chết. Riêng trẻ em lại may mắn hơn, nếu phát hiện, điều trị sớm, tỷ lệ khỏi bệnh lên tới 70%.

Hiện tại, số trường hợp bị bạch cầu cấp dòng lympho tại khoa Ung bướu – Huyết học BV Nhi Đồng 2 rất đông (30/90 ca nội trú). Đây là bệnh lý chiếm tới 70% các bệnh máu ác tính ở trẻ em.

Các biểu hiện đặc trưng của bệnh bạch cầu cấp dòng lympho là trẻ bỗng dưng bị thiếu máu. Chỉ trong vòng từ hai tuần tới một tháng, trẻ xanh xao nhanh chóng, sốt kéo dài, mảng bầm da ngày một nhiều, nổi hạch, gan – lách to. Một số trẻ không có biểu hiện thiếu máu nhưng lại bị đau nhức xương tới mức không đi được, thậm chí nằm liệt giường. Điều trị bệnh bạch cầu cấp dòng lympho chủ yếu bằng hóa trị. Phương pháp này không đắt tiền. Một phác đồ điều trị từ hai-ba năm.

Tiếp đến, xuất huyết dạng tiểu cầu miễn dịch cũng là một bệnh hay gặp ở trẻ em. Đây tuy là bệnh máu lành tính nhưng nếu phát hiện, điều trị chậm, trẻ có thể bị xuất huyết ở não, các cơ quan nội tạng dẫn tới tử vong.

Trẻ từ hai-sáu tuổi là đối tượng hay mắc bệnh này nhất. Biểu hiện của bệnh: Bé bị nổi ban, xuất huyết dưới da cấp tính (trong vòng một vài ngày), chảy máu mũi, răng, thậm chí đi tiểu ra máu. Trước khi có các triệu chứng trên khoảng một tuần, bệnh nhi hay bị nhiễm siêu vi hoặc có đi chích ngừa. Nếu tiểu cầu của trẻ giảm quá mức cho phép, sẽ được điều trị bằng cách dùng thuốc giúp tăng tiểu cầu.

Theo Phụ Nữ TP.HCM

Dùng mỹ phẩm có tốt cho bé hay không

Để bé thơm tho, tươi mát, các bậc cha mẹ thường “cầu viện“ sữa tắm, lotion… Song, các sản phẩm này cũng gây dị ứng, ho, vô sinh…

Sản phẩm nồng hương

Trẻ sau khi sinh ra đã có mọi nhu cầu về tắm rửa, gội đầu dù tóc chỉ mới loe hoe vài cọng. Thông thường, các bậc phụ huynh mua sản phẩm có hương thơm mình yêu thích để tắm gội cho bé. Hương thơm tuy khiến người lớn thích thú, nhưng với trẻ em, có thể là nguồn gây kích ứng da, viêm da, đỏ da… nhất là các loại làm từ hóa chất.
my-ham-be

Theo BS Đinh Tấn Phương – Khoa Cấp cứu – BV Nhi Đồng 1 TP.HCM, các sản phẩm có mùi hương nồng nặc có khả năng gây mệt cho bé, nhẹ thì dị ứng, hắt hơi, ho… còn nặng thì bị suyễn. Một số hương thơm còn “kích hoạt” nội tiết tố nữ nếu dùng cho bé trai. BS Hồ Mạnh Tường – Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM cho biết: “Trên thế giới có các báo cáo ghi nhận một số bé trai khi tiếp xúc với tinh dầu lavender thường xuyên có một số biểu hiện nữ hóa. Nguyên nhân là tinh dầu lavender có thể làm rối loạn hoạt động nội tiết tố nam (androgen) và tác động như một nội tiết tố nữ (estrogen). Vì thế, người ta khuyến cáo không cho trẻ trai tiếp xúc nhiều với tinh dầu lavender. Ngoài lavender, các mùi khác cũng là nguồn gây bệnh cho bé”.

Phấn rôm

Ngày nay, việc vệ sinh của bé cũng được “bó gọn” trong tã giấy. Để bé khỏi bị hăm da khi mặc tã, các vị phụ huynh dùng phấn rôm để làm da khô thoáng. Nhưng, việc sử dụng phấn cũng mang lại nhiều bất trắc. Cũng theo BS Phương: “Các bé có thể hít phải những hạt phấn rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy được vì chúng bay lẫn vào không khí. Những gì dùng ngoài da mà vào cơ thể đều gây hại: dị ứng, tăng tiết đàm nhớt…”.

Lotion dưỡng ẩm

Chỉ dùng cho các bé có da bị khô do trời lạnh (nằm phòng điều hòa nhiệt độ) hoặc có cơ địa da khô. Với một số trẻ bị bệnh chàm (nổi các vết mẩn đỏ), khi điều trị bác sĩ cũng sẽ cho dùng kem dưỡng ẩm để bảo vệ. Tuy nhiên, BS Huỳnh Huy Hoàng – BV Da liễu TP.HCM khuyên, nên có sự định bệnh của bác sĩ trước khi thoa bất kỳ sản phẩm nào lên da đang bệnh. Trường hợp bé ra mồ hôi nhiều, cần lau người và làm sạch lotion trên người bé, vì chất cặn bã trong cơ thể và kem dưỡng ẩm sẽ làm bít lỗ chân lông dễ gây bệnh.

Kem đuổi muỗi

Là giải pháp được chọn lựa để bảo vệ bé khỏi các bệnh nguy hiểm: sốt xuất huyết, sốt rét… Nhưng theo BS Lê Đức Thọ – Trưởng khoa Da liễu, Bệnh viện Fortis Hoàn Mỹ TP.HCM, đối với trẻ em, nhất là trẻ dưới năm tuổi, không nên sử dụng hoặc cho tiếp xúc với các sản phẩm thuốc xịt diệt côn trùng, nhang trừ muỗi, kem bôi da chống muỗi. Ngoài ra, kem chống muỗi chỉ có tác dụng ngắn hạn, khi thuốc bay hết lại phải bôi tiếp để duy trì tác dụng. Việc bôi kem nhiều lần và bôi trong thời gian kéo dài sẽ dễ gây kích ứng, có hại cho làn da non của các bé.

Làm đẹp

Các bé gái, khi được ba-bốn tuổi thường được mẹ làm đẹp bằng các loại mỹ phẩm hoặc cho uốn tóc, xịt keo, xịt nước hoa… Điều này không nên vì da đầu bé mỏng, tóc cũng yếu. Các loại hóa chất này dễ dàng thấm vào da đầu gây kích ứng hoặc bệnh mãn tính làm hư da đầu. BS Nguyễn Trọng Hào, BV Da liễu TP.HCM khuyên: “Da bé mỏng manh, nhạy cảm hơn người lớn và khó xác định “thủ phạm”. Khi phát hiện bị mẩn đỏ, dị ứng… cần ngưng dùng những loại hóa mỹ phẩm thường dùng với tần suất cao. Nếu ngưng dùng vẫn không thuyên giảm, cần đi khám để tìm nguyên nhân điều trị.

Bệnh thiếu máu ở trẻ em nguy hiểm như thế nào

Chứng thiếu máu ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi dễ khiến bé xanh xao, gầy gò, khóc đêm. Thiếu máu do nhiều nguyên nhân, trong đó có do bệnh lý và sinh lý.

Theo Ths.BS Lê Bích Liên, Phó giám đốc BV Nhi Đồng 1,bệnh lý thiếu máu ở trẻ gồm có thiếu máu sinh lý và thiếu máu bệnh lý. Phụ huynh cần phân biệt rõ để có hướng xử trí hợp lý.

Bác sĩ Liên cho biết, tình trạng thiếu máu sinh lý có thể xảy ra ở trẻ nhũ nhi (dưới 1 tuổi). Trẻ có số lượng hồng cầu thấp hơn bé lớn một chút. Ở tuổi này các cơ quan tạo máu có sự thay đổi. Gan lách là cơ quan tạo máu chủ yếu trong thời kỳ bào thai sẽ được thay thế bằng tủy.
thieu-mau-tre-em
“Hemoglobin là yếu tố quan trọng trong cấu tạo hồng cầu, giúp hồng cầu chuyên chở oxy cũng thay đổi. Thời kỳ bào thai Hemoglobin chủ yếu là HbF , sau sinh  Hb này sẽ được thay thế dần bằng HbA trong thời gian 6-12 đầu sau sinh ”, bác sĩ Liên nói.

Ở tuổi này trẻ cũng bắt đầu làm quen với chế độ ăn dặm với thức ăn đặc dần và đủ bốn nhóm thực phẩm (bột, dầu, đạm, rau) thay thế từ từ cho chế độ ăn bằng sữa. Chính vì điều này, trẻ dễ thiếu các chất cần thiết cho việc tạo máu do khả năng tiêu hóa, hấp thu các chất chưa hoàn chỉnh (chất sắt, chất đạm, acid forlic…)

Tình trạng thiếu máu sinh lý ở trẻ chỉ nhẹ, không ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Trẻ vẩn có thể ăn bú tốt, chơi, vân động, phát triển bình thường. Thông thường sau 2 tuổi, nếu trẻ có chế độ dinh dưỡng đúng, tình trạng thiếu máu này sẽ hết.

Đối với các trường hợp thiếu máu bệnh lý, trẻ sẽ có các dấu hiệu của bệnh thiếu máu. Trẻ thường biếng ăn, ít chơi, mau mệt khi vận động, khó thở, đánh trống ngực khi gắng sức, khó ngủ, ít tập trung. Trẻ có thể than nhức đầu, chóng mặt, ù tai. Nhìn lòng bàn tay thấy nhạt màu, móng tay nhạt.

Thiếu máu có rất nhiều nguyên nhân. Do đó, về điều trị thiếu máu trước hết chúng ta cần tìm xem trẻ thiếu máu do nguyên nhân gì, nguyên nhân đó có chữa được không.

“Ví dụ trẻ thiếu máu do thiếu sắt, chúng ta cần điều chỉnh chế độ ăn sao cho đảm bảo cung cấp đủ chất sắt cho trẻ, đồng thời uống chất sắt bổ sung tình trạng thiếu máu thiếu sắt sẽ khỏi”, bác sĩ Liên cho hay.

Theo sức khỏe gia đình

Cách điều trị ngạt mũi cho trẻ sơ sinh

Nếu trẻ không thở được bằng mũi do ngạt, tắc mũi, trẻ phải thở bằng miệng thì tất cả vi trùng, bụi bậm trong không khí… sẽ đi theo vào họng thanh, khí, phế quản. Hơn nữa, tắc mũi còn làm cho thông khí ở phổi kém do thở nông, dẫn đến thiếu oxy. Tuy không phải là một bệnh nặng, nghiêm trọng nhưng ngạt tắc và chảy mũi lại thường lặp đi lặp lại nên ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của đứa trẻ, trẻ quấy khóc, ăn ngủ kém…Dưới đây là nguyên nhân và cách điều trị ngạt mũi cho trẻ dưới 1 tuổi.
Nguyên nhân gây bệnh

Tuy không phải là một bệnh nặng, nghiêm trọng nhưng ngạt tắc và chảy mũi lại thường lặp đi lặp lại nên ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của đứa trẻ, trẻ quấy khóc, ăn ngủ kém… khiến các bậc cha mẹ lo lắng.

Bình thường nếu trẻ thở được qua đường mũi, không khí sẽ được lọc sạch, sưởi ấm và tăng độ ẩm; bụi, vi trùng cũng như các dị vật nhỏ bị chặn lại ở tiền đình mũi, bởi lông mũi và niêm mạc mũi. Như vậy, khi không khí vào đến phổi nó đã được thanh lọc ở mức đáng kể.
nho-mui
Nếu trẻ không thở được bằng mũi do ngạt, tắc mũi, trẻ phải thở bằng miệng thì tất cả vi trùng, bụi bậm trong không khí… sẽ đi theo vào họng thanh, khí, phế quản. Hơn nữa, tắc mũi còn làm cho thông khí ở phổi kém do thở nông, dẫn đến thiếu oxy.

Thở bằng mũi có lợi hơn thở bằng miệng, vì những vi khuẩn bụi khí khi đi qua mũi sẽ bị chất nhày của mũi làm mất độc lực hoặc bị hủy diệt. Chất nhày của mũi còn có khả năng trung hòa tác hại của khói, chất hóa học… Sự tắc nghẽn hoàn toàn hoặc một phần của mũi có thể dẫn đến một số bệnh của đường hô hấp như V.A, viêm họng, VTG cấp, viêm phế quản…

Ở trẻ em đặc biệt là trẻ nhỏ do đặc điểm giải phẫu của hố mũi hẹp nên dễ bị ngạt, tắc mũi và rất nhanh chóng chuyển thành viêm mũi do ngạt tắc mũi, viêm V.A (Végetation Adenoide) hay đi cùng viêm mũi.

Biểu hiện của bệnh

– 2 lỗ mũi trẻ bị tắc vì xung huyết, vì tiết nhày làm trẻ thở khó khăn phải thở bằng miệng, có tiếng khò khè khi thở. Trẻ khó bú, mỗi lần ngậm vú thì bị ngạt thở vì thế trẻ phải bỏ bú, quấy khóc, ngủ không yên giấc, ảnh hưởng toàn thân, gầy sút…

– Có thể sốt 38-39oC, nhiều khi cao hơn nữa, có khi gây co giật.

– Đôi lúc có thể nôn hoặc rối loạn tiêu hóa. Bệnh kéo dài vài ba ngày, sau đó nhiệt độ giảm, mũi bớt chảy.

– Bệnh hay gây ra các biến chứng: VTG cấp, viêm phế quản… Nếu kéo dài có thể gây rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng.

Điều trị bệnh

– Việc cần thiết là làm thông 2 lỗ mũi. Mũi có thở thông thì sức đề kháng của niêm mạc mũi mới hồi phục và trẻ mới bú được (hút tiết nhày bằng quả bóng cao su có ống hút hiện nay loại này có bán rộng rãi ở nhiều cơ sở bán dụng cụ y tế.

– Nếu có máy hút dịch chuyên dụng của y tế là lý tưởng nhất, nhưng điều này chỉ thực hiện được ở cơ sở y tế.

– Ngoài ra, trong dân gian có nơi vẫn áp dụng phương pháp dùng miệng bà mẹ hút dịch mũi cho con, điều này áp dụng được nhưng với điều kiện bà mẹ không có bệnh về đường hô hấp và truyền nhiễm.

– Nhỏ mũi bằng các loại thuốc thông thường sau:

+ Efedrin 1%.

+ Aogyrol 1%

+ Otrivin 0,05%

– Nếu có nhiều dịch tiết nhày có thể dùng Narivion 0,025%, Pivalon.

– Nếu dịch tiết có nhày, đục là có bội nhiễm có thể dùng Pivalondomyxin nếu trẻ hơn 6 tháng tuổi.

(Tuyệt đối không dùng các loại thuốc nhỏ mũi mà thành phần có chất cacain hay menthol cho bé.
Kháng sinh chỉ nên dùng khi có chỉ dẫn của y bác sĩ sau khi đã khám và xác định có VA, VTG, VP quản…)
Phòng bệnh cho trẻ

– Không nên để người lạ bế bồng, hôn hít trẻ.

– Ở các vườn trẻ, mẫu giáo, khi có trẻ bị cảm mạo nên nhất loạt nhỏ mũi tất cả các cháu bằng 1 trong các loại thuốc trên ngày 2-3 lần.

– Trẻ ngạt tắc mũi, nếu có điều kiện nên đến khám tại các cơ sở y tế để đề phòng các biến chứng.

Khuyến cáo

Để bảo vệ chức năng sinh lý của mũi, tuyệt đối các bà mẹ không nên tự ý nhỏ thuốc mũi cho con những thuốc có nồng độ hoặc thành phần không thích hợp như đã nói trên. Và tuyệt đối không tự pha lấy thuốc nhỏ mũi để dùng cho trẻ.

Cho trẻ đến khám tại các bác sĩ chuyên khoa khi trẻ ngạt tắc mũi vài ba ngày mà không thuyên giảm. Đó là cách để phòng biến chứng nặng một cách hiệu quả nhất.

Theo sức khỏe gia đình

4 Triệu chứng của bệnh tiểu đường ở trẻ

Khoảng 90% phụ huynh không nhận thức rõ về 4 triệu chứng quan trọng của bệnh tiểu đường loại 1 ở con trẻ, theo một nghiên cứu mới tại Anh.

Tại Anh, mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ dưới 18 tuổi được chẩn đoán bệnh tiểu đường loại 1. Những dấu hiệu chính của bệnh này là mệt mỏi, đi vệ sinh thường hơn, rất khát nước và sụt cân.
4-trieu-chung-cua-benh-tieu-duong-o-tre
Tiểu đường loại 1 xuất hiện trước tuổi 40, thường gặp ở trẻ nhỏ. Bệnh tiểu đường loại 1 có thể chữa trị nhờ thuốc insulin hằng ngày, cũng như bổ sung qua chế độ ăn uống lành mạnh và hoạt động thể chất đều đặn.

Cuộc khảo sát với 1.170 cha mẹ bỏ phiếu trên website của hãng tin BBC cho thấy, chỉ có 38% phụ huynh nhận biết con trẻ bị bệnh tiểu đường loại 1 thông qua kết quả kiểm tra nước tiểu, và 28% nhận biết qua sụt cân.

Theo các nhà nghiên cứu, trẻ được phát hiện bệnh tiểu đường loại 1 khi bệnh tình đã nặng hơn.

Barbara Young, giám đốc điều hành của Viện Tiểu đường Anh cho biết: “Những triệu chứng của bệnh tiểu đường loại 1 rất rõ ràng và phụ huynh cần nhận thức rõ những triệu chứng này”.

Nguồn st

Lao sơ nhiễm ở trẻ nhỏ

Hỏi: Con tôi 7 tuổi, bị sốt nhẹ về chiều tối, ra mồ hôi đêm, chán ăn, sút cân, đi khám bác sĩ chẩn đoán lao sơ nhiễm. Xin hỏi, đó là bệnh gì? Nguyên nhân và cách điều trị, phòng tránh?

BSCK II Nguyễn Hoàng Anh, Bệnh viện E trả lời: Lao sơ nhiễm là lần đầu trẻ bị sơ nhiễm trực khuẩn lao. Bệnh thường gặp ở trẻ chưa tiêm văcxin phòng lao hoặc đã tiêm nhưng chưa đủ liều gây miễn dịch. Nguyên nhân mắc bệnh là do trực khuẩn lao sống trong thiên nhiên, trong đờm người lao phổi mà chị em hít phải. Ngoài ra, các em tiếp cận thường xuyên với người bị lao phổi.
tre-em14
Biểu hiện lao sơ nhiễm xuất hiện từ từ, vài tuần đến vài tháng sau khi tiếp cận với trực lao. Phần lớn lao sơ nhiễm có tính chất kín đáo. Bệnh nhi bị sốt về chiều tối, ra mồ hôi đêm, chán ăn, gầy sút, mệt mỏi, ho khan nhẹ, học tập sút kém. Thể này khó phát hiện, chỉ có chụp X-quang và phản ứng dưới da giúp phát hiện. Biểu hiện rầm rộ khi bệnh nhi sốt cao, nhiệt độ 39 độ C, kéo dài hàng tuần, sụt cân hay đôi khi có biểu hiện của viêm phế quản thông thường.

Tuổi bệnh nhân càng nhỏ lao sơ nhiễm càng nặng. Bệnh thường gây biến chứng như rối loạn thông khí do hạch viêm đè vào phế quản gẫy giãn phế nang, xẹp phổi, viêm phổi, ngạt thở… Điều trị tại cơ sở chuyên khoa lao. Dự phòng là tiêm đủ liều văcxin BCG, tránh tiếp xúc với người bị bệnh.

(Theo Bee)

Thừa canxi có thể hạn chế chiều cao

Bổ sung quá nhiều canxi có thể khiến cơ thể trẻ dư thừa và ảnh hưởng tới sự phát triển chiều cao.

Vì cả hai vợ chồng chị Loan (Hà Nội) đều có chiều cao khá khiêm tốn nên khi mới sinh cháu đầu lòng, cả hai vợ chồng đều rất chú ý tới việc bổ sung các chất cho con, đặc biệt là canxi để cải thiện chiều cao cho bé. Bé Bin, con của chị càng lớn, chị lại càng tìm cách để con được hấp thụ nhiều canxi hơn. Thậm chí, chị còn mua thêm các loại thuốc bổ sung canxi trên thị trường để cho bé uống mỗi ngày.

Tuy nhiên, mặc dù được ăn uống đủ chất, vậy nhưng cu Bin vẫn còi và còn hay bị chứng táo bón. Lo lắng, chị Loan đưa con đi khám thì được bác sĩ cho biết rằng, con chị bị táo bón là do… thừa canxi. Không chỉ vậy, bác sĩ còn đưa ra lời cảnh báo rằng “Việc dư thừa canxi ở trẻ không những không tốt mà nó còn gây ra nhiều hậu quả khác như việc trẻ có thể bị sỏi thận và hạn chế phát triển chiều cao”…
chieu-cao-o-tre
Có rất nhiều yếu tố quyết định đến chiều cao của trẻ như gene, hàm lượng vi chất (sắt, kẽm, vitamin A, canxi…). Do đó, để trẻ đạt chiều cao tốt, cần tăng cường chế độ ăn với thực phẩm nhiều vi chất, khuyến khích trẻ tập luyện thể dục thể thao thường xuyên.

Cha mẹ tuyệt đối không nên tự mua thuốc tăng cường canxi cho trẻ mà nên đi khám để dùng theo tư vấn của bác sĩ. Dư thừa canxi sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển chiều cao ở trẻ nhỏ. Việc hấp thụ canxi còn phụ thuộc vào thể trạng của từng trẻ, bởi vậy việc người lớn tìm cách bổ sung canxi cho con sẽ không mấy tác dụng nếu thể trạng của trẻ bị yếu và khó khăn trong việc hấp thị canxi.

Cách bổ sung canxi an toàn, hiệu quả là qua đường thực phẩm, như sữa, ăn tôm, tép, ốc, cua, trứng và các loại rau, đậu… Khi trẻ có biểu hiện táo bón, đau bụng, đi tiểu ra sỏi, máu…, cần đưa đi khám để xác định có bị thừa canxi không và điều trị theo chỉ định của bác sĩ.

Hàng ngày, cơ thể trẻ có thể hấp thụ canxi thông qua các thực phẩm. Tỷ lệ hấp thụ canxi của cơ thể không phải là vô hạn mà nó có mức độ.  Chính vì vậy mà việc cung cấp canxi quá nhiều sẽ chỉ dẫn đến dư thừa và lãng phí chứ không hề làm cho xương phát triển tốt.

Những trẻ em nào cần được bổ sung canxi

Thiếu hụt canxi ở trẻ sẽ dẫn đến chứng còi xương, tóc mọc chậm và lâu biết đi. Thông thường, các bậc cha mẹ thường khó nhận biết rằng con đang bị thiếu hụt canxi. Khi thấy con có những triệu chứng đó thì dễ nhầm với các bệnh khác.

Để biết con đang bị thiếu hụt canx hay không, các mẹ hãy quan sát tới giấc ngủ của con qua những biểu hiện, con khó ngủ, thường hay giật mình tỉnh giấc. Ngoài ra, còn có những biểu hiện khác như trẻ mọc răng muộn. Tuy nhiên, ngay cả khi biết con đang bị thiếu canxi, các bậc cha mẹ cũng nên đưa con tới các bác sĩ để xin tư vấn chứ không nên tự ý bổ sung canxi cho con.

Vitamin D chính là cách bổ sung canxi tốt nhất cho con

Vitamin D có hiệu quả thúc đẩy sự hấp thụ canxi của cơ thể, vì thế nó được coi là chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cửa dẫn đến chuyển hóa canxi. Trẻ em cần bổ sung 400 đơn vị vitamin D mỗi ngày để trợ giúp sự hấp thụ canxi của cơ thể. Vitamin D trong cơ thể có thể tổng hợp dựa vào các chế phẩm canxi có chứa vitamin D hay qua việc phơi nắng hàng ngày.

Theo afamily

Trẻ thiếu cân nguyên nhân vì đâu

Hiện nay, tình trạng trẻ chậm tăng cân hay tăng cân không đúng tuổi, nhất là trẻ dưới 3 tuổi là mỗi lo của rất nhiều các bà mẹ. Vậy “thủ phạm” khiến trẻ khó tăng cân là gì?

Theo các bác sĩ dinh dưỡng, trẻ dưới 3 tuổi là giai đoạn trẻ bắt đầu tập ăn, mọc răng và cơ thể có nhiều thay đổi ảnh hưởng đến thói quen ăn uống, nên hay gặp lười ăn ở lứa tuổi này.

Chậm tăng cân ở các bé có một số nguyên nhân, trong đó nhiều trường hợp do chế biến thức ăn chưa phù hợp, mà đáng lưu ý là khá nhiều trẻ được ăn đủ đạm, rau xanh nhưng lại thiếu chất béo trong khẩu phần ăn. Do vậy, trẻ cần ăn đủ lượng chất đạm, bột, béo. Chất béo rất cần cho cơ thể vì nó cung cấp năng lượng và là thành phần tạo nên tế bào, bên cạnh đó còn đóng nhiều vai trò quan trọng khác.
thủ-phạm-khien-trẻ-cham-tang-can
Ngoài ra, có khá nhiều nguyên nhân khiến bé chậm tăng cân như chế độ dinh dưỡng, tiền sử sức khỏe, các hoạt động thể chất hay rối nhiễu về tinh thần.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng, Viện dinh dưỡng Quốc gia, nguyên nhân quan trọng khiến trẻ khó tăng cân là do thiếu kẽm và selen. Thiếu kẽm và selen sẽ gây biếng ăn do rối loạn vi giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ.

Kẽm giúp duy trì, bảo vệ các tế bào vị giác và khứu giác. Trẻ thiếu kẽm sẽ biếng ăn do rối loạn vi giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ. Thiếu kẽm, dấu hiệu thường thấy là ăn không ngon, vị giác bất thường, rụng tóc, tiêu chảy kéo dài, thương tổn ở da và mắt, chậm lớn, cơ quan sinh dục chậm trưởng thành, sụt cân, thiếu máu, chậm lành vết thương và kém minh mẫn.

Selen cần cho chuyển hóa i-ốt và có chức năng như một loại enzyme trong quá trình tạo hormone tuyến giáp nhằm kích thích đầu vào năng lượng, cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì. Thiếu kẽm làm tổn thương chức năng miễn dịch, tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, từ đó khiến trẻ giảm phát triển, tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng và tử vong. Thiếu selen ở mức trầm trọng có liên quan đến bệnh Keshan, một bệnh loạn ở tim và tổn thương cơ tim nặng nề. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở trẻ em và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ; thiếu ở mức độ nhẹ thường khó thấy các triệu chứng đặc biệt. Tuy nhiên, nó góp phần làm xuất hiện các tổn hại tế bào quan trọng cũng như thúc đẩy quá trình lão hóa và nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa. Đặc biệt, việc thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài có thể gây nguy cơ bị ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch.

Kẽm và selen cho cơ thể có trong nhiều loại thực phẩm. Trong đó, thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng..). Đối với trẻ sơ sinh, để không thiếu chất này mẹ nên cho con bú đầy đủ vì chất này trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò. Lượng kẽm trong sữa mẹ ở tháng đầu tiên là cao nhất (2-3 mg/lít), sau 3 tháng thì giảm dần còn 0,9 mg/lít. Lượng kẽm mà người mẹ mất qua sữa trong 3 tháng đầu ước tính khoảng 1,4 mg một ngày. Do đó, bạn cần ăn nhiều thực phẩm giàu chất này để có đủ cho cả hai mẹ con.

Selen có nhiều trong cá, hải sản và trứng, vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt và thấp ở sữa bò, ngũ cốc, rau và hoa quả.

Theo vnmedia

Nhận biết và điều trị tình trạng thiếu canxi

Các bà mẹ đều biết nếu thiếu canxi trẻ sẽ còi cọc, chậm lớn và đặc biệt sẽ rất khó cao. Nhưng làm thế nào để nhận ra con mình đang thiếu canxi?

Trong thời gian đầu đời, trẻ cần rất nhiều vi chất dinh dưỡng – đặc biệt là canxi – cho quá trình phát triển xương, khớp và các cơ quan chức năng khác trong cơ thể. Nếu lượng canxi trẻ được cung cấp hoặc hấp thu không đủ sẽ dẫn đến tình trạng thiếu canxi.
dau-hieu-tre-bi-thieu-canxi-550x365
Dấu hiệu nhận biết trẻ thiếu canxi

– Trẻ quấy khóc, ngủ không ngon giấc, khi ngủ hay giật mình. Mỗi lần như vậy, trẻ có những cơn khóc thét, co cứng toàn thân, đỏ và tím mặt, cơn khóc kéo dài và có thể nhiều giờ hoặc suốt đêm. Càng dỗ, càng ru, càng cho bú, trẻ càng khóc nhiều, có thể ngưng thở trong cơn khóc.

– Ra nhiều mồ hôi, nhất là khi ngủ.

– Tóc rụng thành đường hình vành khăn sau gáy.

– Hay có những cơn co thắt thanh quản gây khó thở, nấc cụt, ọc sữa…

Những trường hợp nặng có thể ngưng thở và thở nhanh, có các cơn tăng nhịp tim và có thể gây suy tim. Trẻ bị còi xương nặng do thiếu canxi thì thóp chậm liền, đầu bẹt, lồng ngực dô, chân vòng kiềng hoặc chữ bát, chậm mọc răng, chậm phát triển kỹ năng vận động.

Trẻ lớn hơn thường có những biểu hiện mệt mỏi, biếng ăn, gầy yếu, chóng mặt, đổ nhiều mồ hôi, ngủ không ngon giấc…

Nguyên nhân

– Trẻ sơ sinh thiếu chế độ tắm nắng phù hợp nên phải đối mặt với chứng thiếu vitamin D và nguy cơ tụt canxi trong máu.

– Tình trạng thiếu canxi kéo dài có thể do bé thiểu năng tuyến giáp trạng.

– Do chế độ dinh dưỡng của bé chưa hợp lý.

– Do mẹ mắc chứng tiểu đường, nhiễm độc thai nghén…

– Do bé bị ngạt, bị thiếu oxy trong máu trong quá trình sinh.

Phòng và điều trị tình trạng trẻ thiếu canxi

– Nhiều trường hợp thiếu canxi nhẹ, bác sĩ có thể cho bé uống canxi, kết hợp với vitamin D hàng ngày cho đến khi nào lượng canxi trong cơ thể bé ở mức cân bằng.

– Để chủ động phòng ngừa bệnh còi xương và chứng hạ canxi máu do còi xương, các bà mẹ có con nhỏ cần bảo đảm nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ.

– Bạn cũng nên cho bé tắm nắng hàng ngày (trước 9h sáng) để bé tăng cường hấp thu canxi thông qua quá trình tổng hợp vitamin D. Nên bế con ra ngoài phòng, ngồi ở nơi không có gió lùa, để lộ tay, chân, lưng, ngực, bụng của trẻ ra ánh nắng mặt trời chừng 10 – 15 phút. Cho trẻ uống vitamin D mỗi ngày.

– Bữa ăn hàng ngày của mẹ cũng cần có thêm những thực phẩm giàu canxi như tôm, cua, cá, sữa, rau muống, rau ngót, rau dền, rau đay, rau mồng tơi, vừng, đậu tương… (chú ý nếu bé bị dị ứng).

– Khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung, cần ưu tiên những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và canxi, nhớ cho trẻ ăn thêm dầu, mỡ, uống nước hoa quả tươi và ăn thêm quả chín. Phòng ở của trẻ cần thoáng, sạch sẽ, nhiều ánh sáng.

Những cách đưa canxi vào chế độ dinh dưỡng của trẻ

– Bữa sáng: Cho trẻ ăn loại ngũ cốc điểm tâm giòn luôn có sữa tươi kèm theo. Nếu trẻ không “chịu” món sữa này, có thể thay thế bằng bún riêu cua mềm dễ nuốt có tàu hũ hoặc bánh đúc đậu phụ chiên chấm tương vốn rất giàu canxi.

– Đăng ký cho con vào danh sách uống sữa ở trường lớp.

– Trời nóng, khuyến khích trẻ ăn kem hay uống loại đồ uống từ sữa ướp lạnh, có thêm cacao hay trái cây như dâu, cam mà trẻ thích hơn sữa đơn thuần rất nhiều.

– Trời mưa lạnh, cho trẻ uống sữa cacao nóng với vài chiếc bánh quy giòn lạt hay mặn có tăng cường canxi.

– Tận dụng máy xay sinh tố sáng chế ra những đồ uống hấp dẫn có sữa, kem (làm từ sữa) hay sữa chua đông thành kem với hương vị vani, chuối, dứa, sầu riêng, mãng cầu, ca cao…

– Cho trẻ ăn bánh có nhân trộn thêm sữa.

– Thêm sữa bột gầy vào xốt những món ăn mặn như ra-gu, ca-ri thịt, đậu, khoai…

– Cho trẻ ăn pho mai và sữa chua vào những bữa phụ.

– Giải khát: Cho uống nước cam, quýt.

– Cho trẻ ăn nhiều rau xanh như rau muống, bó xôi, bông cải xanh giàu canxi hoặc các rau khác.

Quan trọng hơn cả là giải thích cho con bạn hiểu rằng nếu muốn cao, khỏe, đẹp thì cần uống sữa mỗi ngày hoặc ăn sữa chua, pho mai, kem làm từ sữa.

Mỗi bữa ăn, thay vì uống nước, các cháu nên uống ¼ lít sữa (1 ly lớn), người lớn cũng uống 1 ly. Nếu sợ các bé béo vì sữa, có thể dùng sữa “gầy”; trẻ đang tuổi học sinh nên uống sữa có 2% chất béo, các bé lẫm chẫm biết đi thì uống sữa nguyên kem.

Nguồn sưu tầm

Nhận dạng trẻ thiếu vitamin

Thừa vitamin sẽ nguy hiểm cho trẻ nhưng thiếu hụt cũng nguy hiểm không kém. Do đó, nên theo dõi trẻ có biểu hiện thiếu vitamin hay không để có cách bổ sung hợp lý nhất.

Theo báo cáo của Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO), hiện ở các nước chậm tiến mỗi năm vẫn có trên nữa triệu trẻ em bị mù vì thiếu vitamin A. Trong khi phương thức phòng ngừa tình trạng thiếu hụt viatmin A lại rất đơn giản. Để đề phòng tình trạng thiếu hụt viatmin A ở con, bạn nên quan sát những triệu chứng, những biến đổi bất thường ở trẻ.

Khi đó, bạn chỉ cần điều chỉnh một chút chế độ ăn uống, tăng cường bổ sung cho trẻ các loại thực phẩm chứa nhiều vitamin mà trẻ thiếu hụt là được.

– Vitamin A:

+Triệu chứng thiếu: Trẻ chậm lớn, hay mệt mỏi, biếng ăn, biếng chơi, bị khô mắt, sợ ánh sáng, ít nước mắt, da không mịn màng thường khô ráp, bông vảy, sần sùi.

nhan-biet-tre-bi-thieu-vitamin

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn nhiều rau củ có màu đỏ như gấc, đu đủ, cà rốt, bí đỏ,…ăn nhiều gan, trứng gà.

– Vitamin B1:

+ Triệu chứng thiếu: Bị tổn thương các chức năng thần kinh, hay rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy, táo bón thường xuyên), không tăng cân,..

+ Cách điều trị: Cho trẻ uống nhiều sữa tươi, ăn nhiều ngũ cốc, trứng,..Tham khảo ý kiến bác sĩ về việc uống bổ sung vitamin B1.

– Vitamin B3:

+ Triệu chứng thiếu: Bị rối loạn tiêu hóa thường xuyên, viêm miệng lưỡi, không ngủ được.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn nhiều thịt, cá, ngũ cốc, rau xanh. Không lạm dụng kháng sinh vì sẽ làm rối loạn hệ vi sinh trong đường ruột, làm giảm hấp thụ vitamin B3. Đồng thời cho trẻ uống vitamin B3 theo hướng dẫn của bác sĩ.

– Vitamin C:

+ Triệu chứng thiếu: Bị viêm nướu, sưng lợi, răng vàng và yếu, dễ sún răng, hay đau mỏi toàn thân.

+ Cách điều trị: Bổ sung cho trẻ 1 trái cam tươi hoặc 1 ly cam vắt mỗi ngày. Cho trẻ ăn nhiều bưởi, cà chua…Đồng thời, cho trẻ uống viên sủi vitamin C nếu có chỉ định của bác sĩ.

– Vitamin D:

+ Triệu chứng thiếu: Bị còi xương, hay đổ mồ hôi trộm, tóc rụng, răng mọc chậm, khi ngủ hay bị giật mình.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn trứng gà, dầu cá, tắm nắng mỗi ngày. Bổ sung vitamin D theo chỉ định của bác sĩ.

– Vitamin E:

+ Triệu chứng thiếu: Bị thiếu máu

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn nhiều sinh tố bơ, bổ sung dầu hướng dương, dầu cải vào các món canh cho trẻ.

– Vitamin K:

+ Triệu chứng thiếu: Chảy máu đường tiêu hóa, chảy máu ở da, niêm mạc, rối loạn tiêu hóa, dễ co giật, quấy khóc. Nếu ở tuổi sơ sinh có nguy cơ xuất huyết não.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn đậu hủ, uống sữa bò tươi.

Điều thuận lợi ở nước ta là có nhiều loại rau củ quả với đầy đủ các chất cần thiết cho cơ thể. Bạn chỉ cần tìm hiểu thông tin, xin tư vấn của bác sĩ là có ngay một thực đơn rất đa dạng để trẻ ăn không ngán mà vẫn đều đặn bổ sung vitamin mỗi ngày.

Nguồn sưu tầm

Một số nguy hiểm khi cho bé ăn sữa chua

Không phải mọi bé đều có thể ăn sữa chua hàng ngày.

Sữa chua tuy cung cấp nhiều lợi ích sức khỏe cho các bé nhưng không phải mọi bé đều có thể ăn sữa chua hàng ngày. Nếu con có vấn đề về sức khỏe, mẹ bé hãy nói chuyện với bác sĩ về việc đưa sữa chua vào chế độ ăn uống hàng ngày của bé.

Tuy cung cấp protein và chế phẩm sinh học, nhưng không có nghĩa là tất cả các bé đều có thể ăn được sữa chua. Nếu con có vấn đề về sức khỏe, mẹ bé hãy nói chuyện với bác sĩ về việc đưa sữa chua vào chế độ ăn uống hàng ngày của bé. Đối với một số trẻ em, một lượng sữa chua vừa phải có thể phù hợp, trong khi những đứa trẻ khác có thể cần phải tránh nó hoàn toàn. Tuy nhiên, khi cho bé ăn sữa chua, mẹ bé hãy lưu ý một số nguy hiểm rình rập sau nhé.

cho-tre-an-sua-chua

1. Chứa Hormone tăng trưởng

Trong khi nhiều thương hiệu sản xuất sữa chua của các nhà sản xuất lớn tuy đã được sản xuất trên dây chuyền hiện đại nhưng chúng vẫn có thể chứa nội tiết tố. Hormone tăng trưởng này hiện diện trong thức ăn gia súc nhằm thúc đẩy tăng trưởng và tăng số lượng sữa mà những con bò sản xuất. Sau đó, nó vẫn tồn tại dư lượng qua sữa bò. Điều này cũng đặt ra một số rủi ro nghiêm trọng cho sức khỏe khi bé tiêu thụ sữa chua.

Khi uống sữa chua, một số bé có thể đối mặt với vấn đề dậy thì sớm, sự gia tăng kích thích tố trong cơ thể hoặc đối mặt với nguy cơ phát triển bệnh ung thư trong tương lai.
2. Chứa khá nhiều đường

Mặc dù lợi ích sức khỏe của sữa chua là không thể phủ nhận nhưng sữa chua cũng có chứa nhiều đường. Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo bé từ 4-8 tuổi, uống không quá 3 muỗng cà phê, hoặc 12,5 gram sữa chua mỗi ngày. Thanh thiếu niên nên hạn chế uống sữa chua và uống 5-8 muỗng cà phê khoảng 25 đến 40 gram/ ngày.

Nguyên nhân là do một thùng chứa sữa chua có thể chứa đến 26 gram đường. Điều này khiến nó dễ dàng vượt quá các khuyến nghị tiêu thụ đường hàng ngày của bé. Nếu con bạn thực sự rất thích sữa chua, hãy tìm những loại sữa chua có đường thấp hơn hoặc sữa chua không đường. Đọc nhãn mác là cách tốt nhất để tìm một loại sữa chua phù hợp cho sức khỏe của con bạn.

3. Chứa Lactose

Những trẻ em không dung nạp lactose có thể phải loại bỏ sữa chua ra khỏi chế độ ăn của bé. Lý do là vì sữa chua có chứa lactose, một loại protein trong sữa rất khó tiêu hóa nếu một đứa trẻ không dung nạp lactose.

Từ đó, bé có thể phải đối mặt với các triệu chứng bao gồm đau dạ dày, buồn nôn, đau bụng, đầy hơi hoặc tiêu chảy. Một số bé có thể có thể chịu đựng được một lượng nhỏ sữa chua khi tiêu thụ nhưng một số bé sẽ cảm thấy khó chịu ngay lập tức khi ăn một lượng sữa chua dù nhỏ. Trong trường hợp này, mẹ bé nên thay thế cho con bằng sữa dê hoặc sữa chua sữa đậu nành nhé. Đây là những lựa chọn thay thế cho bé không dung nạp lactose, nhưng lại thực sự thích ăn sữa chua.

4. Chất béo và calo

Một số loại sữa chua có chứa rất nhiều chất béo và calo và khiến là thủ phạm làm bé tăng cân. Thừa cân ở bé khiến bé sẽ đối mặt với nhiều nguy cơ sức khỏe, bao gồm bệnh tiểu đường, bệnh tim, khó ngủ và trầm cảm. Vì thế, mẹ bé nên lựa chọn sữa chua đã tách béo cho con nhé vì vẫn bao gồm đủ dinh dưỡng cho con.

Nguồn sưu tầm

Bệnh thoái hóa xương sụn tuổi thiếu niên: Những điều cần biết

Thoái hóa xương sụn thiếu niên (Juvenile Osteochondrosis) là một nhóm bệnh hay gặp ở trẻ em đang tuổi phát triển nhưng chưa rõ nguyên nhân. Người ta cho rằng có thể yếu tố vi chấn thương lặp đi lặp lại là nguyên nhân khởi phát bệnh. Từ đó dẫn đến sự giảm hay mất máu nuôi dưỡng tới vị trí trung tâm cốt hóa ở đầu xương của một số xương, gây tổn thương trung tâm cốt hóa, hoại tử tại chỗ, mọc xương tân tạo, hậu quả là xương phát triển không bình thường.

benh_thoai_hoa_xuong_sun_tuoi_thieu_nien_nhung_dieu_can_biet_01

Thoái hóa xương sụn cột sống trước (a) và sau điều trị (b) trên phim Xquang

Các dạng thoái hóa xương sụn tuổi thiếu niên

Do trong quá trình phát triển, cơ thể có rất nhiều xương với nhiều điểm cốt hóa khác nhau cho nên bệnh có thể gặp ở rất nhiều vị trí với các tên bệnh khác nhau. Nhóm có tổn thương ở cột sống gọi là bệnh gù đau thiếu niên Scheuermann. Nhóm có tổn thương ở khớp, xương như bệnh dẹt chỏm xương đùi có tổn thương ở chỏm xương đùi. Nhóm có tổn thương biểu hiện ở ngoài khớp hoặc không có đầy đủ những đặc điểm của nhóm bệnh thoái hóa xương sụn tuổi thiếu niên (do không còn ở tuổi thiếu niên hoặc do vị trí bệnh không đặc hiệu). Dấu hiệu nhận biết bệnh tương đối khó khăn do bệnh tiến triển âm ỉ, đau ít tại vị trí xương bị tổn thương. Đa số các các trường hợp mắc bệnh Sever hay bệnh Freiberg bệnh tự khỏi, không đau, xương không biến dạng. Ngược lại bệnh Legg- Perthes-Calve hay gây đau nhiều, để lại di chứng nặng nề, thường cần phải thay chỏm xương đùi.

Một số bệnh thường gặp

benh_thoai_hoa_xuong_sun_tuoi_thieu_nien_nhung_dieu_can_biet_02

Hình ảnh dẹt chỏm xương đùi trên phim Xquang

Thoái hóa xương sụn cột sống (Spinal Osteochondrosis) là một bệnh gây biến dạng cột sống ngực hoặc cột sống thắt lưng hay gặp ở trẻ em. Lâm sàng bao gồm triệu chứng đau âm ỉ tại khu vực tổn thương, cảm giác tức nặng, thường cách quãng không liên tục và liên quan đến hoạt động thể lực, giảm khi nghỉ ngơi. Khám bệnh nhân thấy gù cột sống, có thể có vẹo gây giảm, hạn chế vận động rõ. Co cơ cạnh cột sống, đặc biệt ở ngay trên và dưới vị trí gù. Các triệu chứng thần kinh do chèn ép hiếm khi gặp. Xét nghiệm thường không có bất thường. Hình ảnh Xquang điển hình của bệnh: trên phim nghiêng thấy hình gù cột sống, mất tư thế ưỡn; thân đốt sống hình chêm, tăng đường kính trước sau thân đốt, khe khớp giữa các đốt sống bị hẹp, có thể có calci hóa ở sụn khớp. Bề mặt thân đốt sống không đều, có thoát vị nội khớp tạo thành hình ảnh khuyết ở bề mặt đốt sống (hạt Schmorl). Trên phim thẳng thấy cột sống có thể vẹo. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Scheuermann bao gồm: cột sống gù tạo thành một góc trên 400, hẹp khe đốt sống kèm bất thường bề mặt thân đốt sống, góc xẹp hình chêm trên 500 của ít nhất 3 thân đốt sống kế tiếp. Điều trị bao gồm bảo tồn nội khoa và chỉnh hình ngoại khoa. Điều trị nội khoa phục hồi chức năng, dùng thuốc giảm đau, nghỉ ngơi, tránh công việc mang vác nặng. Khi gù nặng hơn cần mặc áo nẹp cột sống giữ cho lưng thẳng kèm các biện pháp phục hồi chức năng cột sống kết hợp thư giãn nghỉ ngơi, nằm trên giường cứng. Điều trị phẫu thuật ít khi chỉ định trong bệnh Scheuermann, chủ yếu khi đau nhiều không đáp ứng với điều trị bảo tồn nội khoa và gù gây mất thẩm mỹ. Nhìn chung điều trị cần căn cứ vào tuổi tác, mức độ biến dạng cột sống, mức độ đau và đánh giá hiệu quả chức năng đạt được sau mỗi giai đoạn.

Bệnh dẹt chỏm xương đùi: do tổn thương ở đĩa sụn phát triển ở đầu xương gần chỏm xương đùi. Bệnh hay gặp ở tuổi từ 3-12, hay gặp ở nam giới hơn (gấp 4-5 lần nữ). Tổn thương thường ở một bên, có thể gặp ở hai bên (15- 20% trường hợp). Triệu chứng đau tự nhiên ở khớp háng, gối hoặc vùng đùi, đi lại khập khiễng. Khám thấy hạn chế vận động khớp háng, đặc biệt động tác xoay trong hay dạng, có thể teo cơ nếu ở giai đoạn muộn. Chân tổn thương thường ngắn hơn chân lành. Xét nghiệm máu thường không phát hiện gì đặc biệt. Chụp Xquang khớp háng, đặc biệt ở tư thế dạng chân (chân ếch) có giá trị chẩn đoán: chỏm xương đùi bên tổn thương nhỏ hơn bên lành, có thể dẹt hẳn chỏm; có xơ hóa và hình ảnh giảm thấu quang ở vùng tổn thương dưới sụn; có thể có các nang xương nhỏ ở vùng cổ xương đùi. Thường chia 5 giai đoạn tổn thương trên Xquang và tiến triển bệnh: giai đoạn ngừng phát triển của đầu xương biểu hiện bên tổn thương chỏm xương đùi nhỏ hơn, khe khớp rộng hơn; giai đoạn gãy xương dưới sụn: hình vạch tăng thấu quang ở vùng cổ nối với chỏm; tiêu xương; thoái hóa thứ phát với mọc xương tân tạo; giai đoạn ổn định. Mục đích điều trị: cải thiện, duy trì biên độ vận động khớp háng, giảm sức nén lên chỏm, giữ cho chỏm ở trong ổ cối, kéo giãn khớp háng tránh co cơ. Việc điều trị bao gồm nghỉ ngơi hợp lý, tránh vận động mạnh, tập phục hồi chức năng, nẹp khớp háng khi cần để tránh trật khớp khỏi ổ cối. Thuốc điều trị triệu chứng giảm đau, giãn cơ. Phẫu thuật chỉnh sửa những biến dạng nhiều ở chỏm xương, khi cần có thể xét thay khớp háng (thường khi trẻ đến tuổi trưởng thành). Nhìn chung tuổi khởi phát bệnh càng nhỏ tiên lượng càng tốt, khởi phát sau tuổi lên 10 thì trẻ dễ bị thoái hóa khớp háng thứ phát.

ThS. Bùi Hải Bình
(Khoa Cơ Xương Khớp-Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Những sai lầm bà mẹ hay mắc phải về chăm sóc da trẻ em

ô tình, mẹ có thể khiến bé có thể mắc các bệnh về da.

Thói quen, kinh nghiệm của bà và mẹ

Trước khi sinh con, mẹ đã đọc và nghiên cứu nhiều tài liệu, lại được nghe bà truyền lại kinh nghiệm. Sau khi sinh con, mẹ học tập kinh nghiệm dân gian, mua lá về tắm cho con. Mướp đắng, kinh giới, lá chanh hoặc cây sài đất… là những lá được lựa chọn nhiều nhất.

Mẹ không lường trước thực tế các loại cây có bị phun thuốc sâu không, bé có bị dị ứng với các loại lá này không. Vô tình, mẹ đã khiến bé có thể mắc cách bệnh về da.
datreem
Sai lầm cơ bản nữa là, khi thấy bé bị rôm sảy hay hăm kẽ… các mẹ thường cố gắng tắm cho bé nhiều lần trong ngày với mong muốn cho con nhanh chóng không bị hăm. Đây không phải là biện pháp và phương thuốc chữa bệnh hữu hiệu cho con, đôi khi lại có thể gây phản tác dụng.

Nếu  mẹ nào hiện đại hơn, có thể mua các loại kem, sữa tắm cho con. Nhưng nhiều mẹ lại cứ chọn đại  một loại sữa nào đó mà không biết có hợp với bé con không. Thế nên, có thể con cũng sẽ bị dị ứng với các loại sữa tắm và bị các bệnh về da.

Khi các bé gặp các bệnh về da, mẹ không nên lo lắng quá hoặc coi đó là chuyện bình thường, đứa trẻ nào cũng bị. Những bệnh về da lúc nhỏ có thể để lại những hệ quả về da cho bé khi lớn lên đấy!

Các bệnh về da phổ biến của bé dưới 1 tuổi

Nổi rôm sảy: Nguyên nhân là do da bị bít kín các ống bài tiết mồ hôi bên trong. Trên da trẻ xuất hiện nhiều hạt nhỏ, có màu hơi hồng, chứa nước, cứng, sờ vào sẽ có cảm giám nham nhám ở tay. Những hạt này thường nổi thành từng đám, tập trung ở vùng ra nhiều mồ hôi như cổ, cánh tay, cẳng chân… Rôm sảy gây ngứa từng cơn làm trẻ con bứt rứt, khó chịu.

Hăm kẽ: Là những mảng đỏ, hơi ướt ở vùng nếp gấp như cổ, nách, cánh tay, 2 bên mông. Nguyên nhân là do pH da tăng cao, và độ pH da càng tăng cao càng làm gia tăng bệnh hăm kẽ ở trẻ.

Ban sữa: Những nốt nhỏ, có màu trắng như sữa, thường nổi nhiều ở vùng mặt nhất là mũi, chân mày. Những bàn này do sự thay đổi hormone thường thấy ở trẻ mới sinh.
Ban đỏ: Những nốt đỏ, to hơn so với nốt rôm sảy, nhìn giống như nốt muỗi cắn. Một số có kèm đầu mủ trắng hay vàng. Loại ban này thường nổi thành từng mảng trên thân thể bé, có khi xuất hiện ở đầu hay tay, chân.

Những bệnh trên thường tự biến mất sau một thời gian ngắn nếu trẻ được vệ sinh thường xuyên và đúng cách. Riêng bệnh rôm sảy thường xuất hiện trên diện rộng và kéo dài. Ban đầu bệnh không nguy hiểm nhưng nếu kéo dài, trẻ sẽ gãi nhiều do ngứa ngáy khó chịu. Hậu quả là da trẻ sẽ bị viêm nhiễm, tổn thương.

Để đề phòng các bệnh về da cho con, sau khi sinh, mẹ nên nhờ y tá tắm cho con đến khi con rụng rốn. Những bác sỹ, y tá có kinh nghiệm sẽ chăm sóc làn da nhạy cảm cho bé thật vệ sinh và an toàn. Còn mẹ có thể tranh thủ học hỏi cách chăm sóc đó và hỏi thêm những kinh nghiệm của bác sỹ và y tá.

Mẹ nên chọn loại sữa tắm phù hợp với da của trẻ, không những làm sạch mà còn phải bảo vệ và nuôi dưỡng làn da vốn đã rất mỏng manh của trẻ. Một số gợi ý cho các bà mẹ là sữa tắm chứa hai thành phần tự nhiên Lactoserum và Acid Lactic – Sữa tắm lactacyd BB – hiện đang được nhiều bà mẹ trên thế giới tin dùng.
Hãy tắm cho con trong nước ấm khoảng 370C và hãy thử độ nóng bằng khuỷu tay của mẹ. Hãy gội đầu cho bé trước rồi tắm xuống thân, đồng thời hãy nâng niu bé, hát cho bé nghe nhạc trong khi tắm. Bởi khi ấy, bé cảm nhận được tình yêu thương của mẹ một cách trực tiếp và rõ ràng nhất.
Theo afamily.vn