Tag Archives: trầm cảm

Tự mình đánh tan stress

Mùa hè với cái nóng oi bức sẽ khiến chúng ta luôn cảm thấy mệt mỏi và stress cũng dễ bề tấn công. Chúng tôi sẽ bật mí giúp bạn cách tự mình giải tỏa stress để đón mùa hè với tậm trạng tuyệt vời hơn.

Bạn hãy dựa vào chính những giác quan của mình vì nguồn cơn của những stress cũng bắt nguồn từ sự cảm nhận của bạn.

Nghe những bản nhạc êm ái

tu-minh-danh-tan-stress

Hãy để cho đôi tai của mình được nghe những bản nhạc mà bạn yêu thích thông qua vật bất li thân – chiếc điện thoại có cắm tai phone để có thể thư giãn cùng những bản nhạc êm dịu ở ngay nơi bàn làm việc hoặc tại nhà. Hãy nghe những ca khúc, chương trình làm bạn cảm thấy vui vẻ.

Nhìn ngắm những khung cảnh yên bình, dễ chịu

Không nên ngồi lì trong phòng làm việc hay ở lì trong nhà mà hãy ra hành lang hay di chuyển đến những nơi có thể phóng tầm mắt của mình đến những nơi đẹp đẽ, quyến rũ và dễ chịu. Trong phòng ngủ hay ở cơ quan có thể treo một bức tranh phong cảnh nơi có thể cho bạn cảm thấy bình yên hoặc gợi nhớ cho bạn về những khoảng thời gian bạn đã rất hạnh phúc, hay ảnh “thiên thần bé nhỏ – kết tình từ tình yêu của bạn đang cười rạng rỡ…

Nhờ chồng/vợ massage

tu-minh-danh-tan-stress1

Bàn tay của người khác giới nhất lại là người mà mình yêu quý, vợ/chồng massage lên cơ thể vì trong thời điểm đó stress sẽ không còn đất sống. Việc mặc những bộ quần áo mềm mại, thoáng mát và dễ chịu, chân đi xăng-đan đế thấp rộng rãi, êm ái sẽ khiến bạn cảm thấy thư thái hơn.

Lưỡi đảo những món ngon mà mình thích

Điều này không có nghĩa là liên tục đánh chén để tạo cơ hội cho lưỡi đảo thức ăn để giải stress. Vì thực tế mùi vị, bố cục và nhiệt độ của thức ăn và nước uống đã được chứng minh là có tác dụng trong việc giảm stress nên khi ăn uống bạn thích, tất nhiên món đó phải có lợi cho sức khỏe. Đường, cà phê là những thức ăn kích thích stress vì vậy không nên dung nạp đồ uống này khi tâm trạng chưa tốt. Đồ uống tốt lúc này là trà thảo mộc và sữa nóng có thể giúp bạn thư giãn.

Ngửi mùi dầu thơm, nước hoa mình yêu thích

tu-minh-danh-tan-stress2

Mùi hương mình yêu thích sẽ là phương thuốc rất hữu hiệu trong việc giảm stress đây cũng chính là lý do vì sao người ta có thể chữa bệnh bằng xoa bóp dầu thơm. Một chút dầu thơm lên thái dương, thắp những ngọn nến thơm hoặc xức loại nước hoa bạn thích… rồi đắm chìm trong đó sẽ cho bạn những cảm giác tuyệt vời.

Theo giadinh.net

Hậu quả do thiếu hụt nội tiết tố nữ

Nội tiết tố nữ estrogen có vai trò quan trọng cho sức khỏe phụ nữ. Sự thiếu hụt estrogen khiến cơ thể có nhiều thay đổi và ở mỗi độ tuổi có ảnh hưởng khác nhau.

Lứa tuổi dậy thì cũng thiếu hụt estrogen?
Tuổi dậy thì của bạn gái đánh dấu bằng sự xuất hiện kinh nguyệt. Trong độ tuổi dậy thì từ 12 – 16 tuổi, nội tiết tố estrogen được buồng trứng tiết ra làm cho cơ thể thay đổi. Từ đó, một cô gái lớn nhanh để trở thành một người phụ nữ. Lượng estrogen tự nhiên của cơ thể ở giai đoạn này rất dồi dào. Estrogen kích thích để bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt, làm cơ thể cô gái có những đường cong gợi cảm hơn và ngực cũng nở nang, săn chắc hơn, da dẻ mềm mại, trắng trẻo và giọng nói trở nên nhẹ nhàng hơn. Tuy nhiên, khi tuổi dậy thì dừng lại, mức độ estrogen trong cơ thể giảm đáng kể, để lại bộ ngực vẫn ở kích thước đó trong suốt cuộc đời trưởng thành.

Để tăng cường estrogen, chị em cần tập luyện thể dục thường xuyên.

Để tăng cường estrogen, chị em cần tập luyện thể dục thường xuyên.

Sự thiếu hụt estrogen trong giai đoạn này gây ra nhiều rối loạn trong quá trình phát triển cơ thể của các cô gái: thấp bé, còi xương, da dẻ kém mềm mại là những hệ quả đầu tiên. Những cô gái thiếu hụt nội tiết tố nữ estrogen khi dậy thì có nguy cơ mắc các bệnh về tim cao hơn, chưa kể ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản sau này.

Làm sao nhận biết được sự thiếu hụt estrogen ở giai đoạn này? Đây là câu hỏi không dễ vì khi mới bước vào tuổi dậy thì, chu kỳ kinh nguyệt của các em còn chưa ổn định trong khoảng 2 – 3 năm nên việc thiếu estrogen rất khó phát hiện. Tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt, việc thiếu hụt vẫn xảy ra. Khi đó cha mẹ nên biết để giúp con gái phát triển cơ thể hoàn thiện hơn thông qua chế độ ăn.

Thiếu hụt nội tiết tố nữ ở độ tuổi sinh sản
Ở độ tuổi sinh sản, cơ thể phụ nữ có nhiều thay đổi, gián đoạn bởi những lần mang thai sinh nở, do vậy lượng estrogen tự nhiên được sản sinh ra không đều và không phải lúc nào cũng dồi dào. Estrogen không đủ có thể gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt, khó đậu thai – một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng hiếm muộn, hoặc thiếu sữa khi nuôi con (do tuyến vú không phát triển khi mang thai). Bên cạnh đó, sự rối loạn sản sinh estrogen dẫn đến thiếu hụt còn làm giảm ham muốn cũng như chứng khô âm đạo, khiến chị em có tâm lý ngại gần gũi với chồng – đôi khi đây lại là thủ phạm làm tan vỡ hạnh phúc. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới thiên chức làm mẹ, làm vợ của họ. Sự thiếu hụt estrogen dẫn tới nguy cơ loãng xương sớm và bệnh xơ vữa động mạch ở phụ nữ. Cùng với đó, chị em có khả năng bị nám da, làn da nhăn và kém tươi tắn ở độ tuổi mà đáng lẽ làn da và nhan sắc đang sung sức nhất.

Suy giảm estrogen ở độ tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh
Tình trạng thiếu estrogen thường xảy ra ở phụ nữ bước sang giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh. Đây là điều không thể tránh khỏi do sự lão hóa của các cơ quan sinh sản như buồng trứng, tử cung. Không có trứng chín đồng nghĩa với việc không có thể vàng để tạo ra estrogen và progesteron, thay vào đó, gan, tuyến thượng thận cùng các u mỡ ở tuyến vú có nhiệm vụ sản sinh nội tiết tố nữ. Sự thiếu hụt trong giai đoạn này gây ra nhiều rối loạn về sinh lý, làm suy giảm hệ miễn dịch và sức khỏe phụ nữ. Loãng xương và nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, thận luôn đe dọa cuộc sống chị em. Làn da bị nám, sạm đen và nhăn nheo, chùng xuống. Chị em gặp nhiều rối loạn về tâm lý và sinh lý như khô âm đạo, bốc hỏa, giảm trí nhớ, mất ngủ và trầm cảm, mất ham muốn tình dục…

Cách khắc phục chứng thiếu hụt nội tiết tố nữ
Để tăng cường estrogen, chị em cần có chế độ luyện tập thể dục thường xuyên và hợp lý. Bởi tập thể thao quá nặng cũng có thể làm giảm nồng độ estrogen. Ngoài ra, chị em cũng nên bổ sung dinh dưỡng toàn diện và hợp lý như tránh ăn những thức ăn nhiều ngọt và béo, nên ăn các loại thịt nạc, thực phẩm ít béo và nhiều chất xơ, giàu vitamin C như: kiwi, cà chua, cam, quýt, đào, chuối, măng tây, cà rốt, súp lơ, ngô, đậu… hay các thức ăn giàu caroten như ớt, cải xoăn, rau bina, cà rốt, củ cải đường, rau bồ công anh, bắp cải, bí đỏ…; thực phẩm giàu vitamin nhóm B: gan, thịt bò, cá ngừ, yến mạch, thịt gà tây, chuối, khoai tây, bơ; các loại thực phẩm có chứa các chất tương tự estrogen của cơ thể phụ nữ như các sản phẩm từ đậu nành, hạt hướng dương, hạt điều, hạt lạc (đậu phộng), sắn dây… Đây đều là những thực phẩm giúp tăng estrogen trong cơ thể một cách tự nhiên.

Khi sự thiếu hụt estrogen ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thì chị em cần đi khám bác sĩ để được tư vấn điều trị cụ thể.

Nguồn sức khỏe đời sống

Trầm cảm – căn bệnh dễ mắc phải

Trầm cảm là một căn bệnh làm suy nhược thể chất và tinh thần, làm mất đi năng lượng, sự tập trung và niềm vui của mỗi người. Những người mắc bệnh trầm cảm không tìm thấy bất kỳ niềm đam mê nào đối với công việc, thậm chí là mất đi niềm tin vào cuộc sống. Dưới đây là một số thói quen dẫn đến trầm cảm mà bạn cần tránh:

Lười tập thể dục

Tập thể dục có ảnh hưởng rất lớn đối với thể chất và tinh thần của bạn. Khi ở trong nhà cả ngày và không tham gia vào bất kỳ hoạt động thể chất nào dễ khiến cho bạn trở nên lười biếng hoặc ăn quá nhiều. Lười biếng và tăng cân có khả năng là dấu hiệu cho thấy bạn đang rơi vào trạng thái trầm cảm. Do đó, bạn nên dành 40 phút mỗi ngày để tập thể dục. Khi tập thể dục, não sẽ sản sinh ra một lượng serotonin và dopamine, những chất thúc đẩy cảm xúc tốt cho trí não khiến bạn sẽ cảm thấy sảng khoái và năng động hơn.

tram-cam-can-benh-de-mac-phai

Chế độ ăn uống không hợp lý

Chế độ ăn uống hợp lý luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống bệnh trầm cảm. Những thực phẩm có chứa chất béo Omega-3 được gọi là “thực phẩm não” vì nó là chất dinh dưỡng cần thiết số 1 cho giúp trí não khỏe mạnh. Nếu thiếu đi Omega-3, não dễ tổn thương, và trầm cảm chính là dấu hiệu đầu tiên. Cơ thể của chúng ta không thể tự sản xuất ra Omega-3, do đó chúng ta cần nhận được đủ lượng Omege-3 trong khẩu phần ăn hàng ngày. Bạn nên ăn nhiều cá và hải sản, chúng là nguồn cung cấp Omega-3 tốt nhất giúp bạn chống lại bệnh trầm cảm.

Ngủ ít

Các chuyên gia y tế khuyến cáo bạn nên ngủ ít nhất 7-8 tiếng mỗi đêm. Nếu bạn ngủ đủ giấc thì tinh thần sẽ luôn được thoải mái và tỉnh táo. Khi thiếu ngủ, bạn sẽ rất dễ bị kích động và đôi khi còn mắc chứng hoang tưởng, một yếu tố gây bệnh trầm cảm. Bên cạnh đó, việc ngủ ít sẽ khiến bạn mệt mỏi, làm việc thiếu hiệu quả, bạn sẽ rất dễ “stress”.

Cô lập bản thân

Khi chán nản, bạn thường hay tách bản thân mình ra khỏi bạn bè và gia đình. Thói quen “tự kỷ” này tạo cơ hội cho trầm cảm “tấn công” bạn nhanh hơn. Theo các nhà nghiên cứu, những người thích giao tiếp với mọi người xung quanh ít có nguy cơ bị trầm cảm nhất. Những mối quan hệ với bạn bè, người thân trong gia đình thúc đẩy sự trao đổi chất trong não được tốt hơn, từ đó làm giảm mức độ căng thẳng một cách tối đa. Nếu không có những mối quan hệ với mọi người xung quanh, khả năng trí tuệ của bạn sẽ bị phá vỡ và bạn không thể đối phó với những áp lực khác nhau trong cuộc sống.

Suy nghĩ tiêu cực

Suy nghĩ tiêu cực là một trong những nguyên nhân chính của bệnh trầm cảm. Nếu bạn không ngừng suy nghĩ về các mối đe dọa, những lời từ chối, sự mất mát hay thất bại thì chắc chắn bạn sẽ bị trầm cảm. Có nhiều việc xảy ra xung quanh nằm ngoài tầm kiểm soát của bạn, vì vậy không cần phải “bám víu” những suy nghĩ của bạn vào chúng. Suy nghĩ về những chuyện bạn không thể thay đổi được không chỉ dẫn tới bệnh trầm cảm, mà còn có thể sẽ khiến bạn “phát điên” lên. Điều quan trọng là bạn phải luôn cố gắng nghĩ về những điều tích cực hơn, thay vì mãi “gặm nhấm” những chuyện đã qua.

Theo ANTĐ

Trầm cảm ở trẻ nhỏ

Thiếu sự chăm sóc của người thân, đặc biệt là mẹ, trẻ nhỏ dưới 3 tuổi dễ mắc bệnh “trầm cảm vắng mẹ”, ảnh hưởng đến phát triển tinh thần và thể chất của trẻ

Do chồng công tác trong ngành hàng hải thường xuyên vắng nhà, bản thân cũng phải đi làm nên chị Nguyễn T.H.T (quận 5 – TPHCM) buộc phải để người vú nuôi đảm đương hầu hết việc chăm sóc con gái T.H.Nh từ lúc 4 tháng tuổi. Mỗi ngày, chị ra khỏi nhà từ sáng sớm khi con còn ngủ, đến tối mới về và thời gian dành cho con cũng hạn hẹp bởi nhiều đêm chị cũng bận rộn với công việc.

Sự cô đơn của con trẻ

tram-cam-o-tre-nho
Khi bé Nh. được hơn 1 tuổi, công việc thư thả hơn, có thời gian chơi với con, chị lại nhận ra dường như cháu bé cũng không thích chơi với mẹ mà chỉ loay hoay một mình với đồ chơi. Nh. thờ ơ với mọi nỗ lực giao tiếp của mẹ, cứ nhìn sang chỗ khác mỗi khi chị chuyện trò, nói chuyện với con. Qua sách vở, chị T. thấy con có những dấu hiệu hay gặp ở trẻ tự kỷ nên đưa đi khám. Rất may, Nh. không bị tự kỷ, cháu chỉ rơi vào trạng thái trầm cảm nhẹ vì gần một năm trời thiếu vòng tay mẹ.

“Khi ở trong bụng mẹ, đứa bé với mẹ là một. Khi ra đời, trẻ cần được cảm nhận hơi ấm, mùi của mẹ. Tuy nhiên ngày nay, người mẹ thường tham gia vào công việc xã hội chứ không ở nhà chăm con như những thế hệ trước. Đa phần sau 4 tháng bà mẹ nghỉ thai sản, đứa bé đã phải xa mẹ và thường được giao cho bà, người thân trong gia đình hay người giữ trẻ chăm sóc. Thậm chí có nhiều phụ nữ phải đi làm sớm hơn. Nếu công việc của mẹ quá bận rộn khiến bé cảm thấy thiếu hơi ấm, tình thương, sự vuốt ve của mẹ, không được bú mẹ… rất có thể bé sẽ bắt đầu tự cô lập mình và có những dấu hiệu xa cách với mẹ” – BS Phạm Ngọc Thanh, cố vấn Khoa Tâm lý Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 1, phân tích.

Trong trầm cảm ở trẻ em nói chung, sự thiếu vắng mẹ trong những năm tháng đầu đời cũng có thể dẫn đến một dạng trầm cảm đặc trưng ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi – “trầm cảm vắng mẹ”. Trẻ mắc bệnh này có những biểu hiện khá giống với bệnh tự kỷ: không nhìn mẹ, phớt lờ nỗ lực giao tiếp của mẹ; không chịu bú, bú vào là ói hoặc các dạng rối loạn ăn uống khác; khó ngủ, hay khóc… BS Thanh lý giải: “Khi vắng mẹ, ban đầu trẻ sẽ cố gắng tìm cách để được gần mẹ, kêu gọi sự chú ý của mẹ. Nhưng nếu làm mãi không được, trẻ dần cô lập mình và “không thèm” mẹ nữa rồi rơi vào trạng thái trầm cảm. “Trầm cảm vắng mẹ” ở trẻ nhỏ có thể kéo dài đến 3 tuổi, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ về thể chất lẫn tinh thần”.

Trầm cảm ở trẻ em có thể bám theo trẻ cho đến tuổi trưởng thành và có thể hình thành từ những bất ổn tinh thần ở giai đoạn sơ sinh đối với trẻ không được gần gũi mẹ. BS Phạm Văn Trụ, Phó Giám đốc BV Tâm thần TPHCM, cho biết: “Trẻ ở giai đoạn sơ sinh đã cần có sự tiếp xúc với người thân, đặc biệt là mẹ. Nếu quan sát một đứa trẻ sơ sinh vừa mở mắt, chúng ta sẽ nhận ra khi trẻ nhìn thấy người đầu tiên – thường là mẹ – trẻ sẽ chúm chím cười. Khi cảm nhận được khuôn mặt người mẹ trong một thời gian dài, trạng thái tâm thần của trẻ sẽ phát triển ổn định nhất”.

Trẻ cần môi trường ổn định
BS Thanh cho biết một số trẻ em lại bắt đầu bị trầm cảm ở tuổi đi nhà trẻ – khoảng 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi. Thiếu mẹ, bị gửi đến môi trường lạ, nhiều trẻ không đủ khả năng thích nghi và bị stress. Cha mẹ thấy con có biểu hiện lạ, nghĩ rằng nhà trẻ ấy không phù hợp, trẻ bị đối xử không tốt, bị bạn bè bắt nạt… lại vội vàng tìm nhà trẻ khác. Càng bị thay đổi về môi trường, trẻ càng stress và lâu ngày sẽ trầm cảm. Điều này cũng khiến trẻ bị ảnh hưởng về thể chất, giảm sức đề kháng, dễ bị ho, sốt, tiêu chảy… Gia đình thấy bé bệnh, để bé ở nhà chăm sóc. Được gần mẹ, người thân, trẻ tự dưng khỏi bệnh nhưng khi cha mẹ gửi nhà trẻ trở lại thì trẻ lại bị… bệnh tiếp.

“Trẻ bị trầm cảm thường dễ cáu gắt, khóc, từ chối mẹ sau một thời gian vô vọng đòi mẹ, thu mình vào thế giới riêng. Nhiều trẻ sẽ có xu hướng gắn bó với người nuôi dưỡng – có thể là người thân nào đó hay người giúp việc. Người nuôi dưỡng này nếu bị thay đổi nhiều lần cũng dễ ảnh hưởng đến tinh thần của trẻ” – BS Thanh lưu ý.

Nguồn báo người lao động

Tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm

Khảo sát của nhóm nghiên cứu người Anh tại ĐH Liverpool ghi nhận những tác dụng phụ về mặt tâm lý của thuốc chống trầm cảm mà trên thực tế cho thấy nghiêm trọng hơn người ta vẫn tưởng.

Trang tin Science Daily dẫn lời trưởng nhóm nghiên cứu, GS John Leed: “Tác dụng phụ về sinh học của thuốc chống trầm cảm như tăng cân, buồn nôn đã được ghi nhận nhưng ảnh hưởng về tâm lý và giao tiếp chưa được nhận biết rõ. Chúng tôi thấy những ảnh hưởng đó phổ biến một cách đáng báo động”. Các nhà khoa học đã khảo sát trên 1.829 người uống thuốc chống trầm cảm theo toa của bác sĩ. Bệnh nhân được yêu cầu điền vào để trả lời bảng câu hỏi về 20 tác dụng không mong muốn có thể xảy ra.

thuoc-chong-tram-cam

Kết quả cho thấy hơn một nửa cho biết họ có ý định tự sát. Tỉ lệ người cảm thấy trở ngại trong sinh hoạt tình dục là 62%, tê liệt về cảm xúc là 60%, cảm giác không giống như chính mình là 52%, giảm cảm giác tích cực là 42% và ít quan tâm chăm sóc người khác là 39%. Khảo sát cũng cho thấy bệnh nhân ít khai báo những điều nêu trên với thầy thuốc.

Nhóm nghiên cứu khuyến cáo các bác sĩ nên cân nhắc khi ra toa thuốc chống trầm cảm, đồng thời khuyến khích nghiên cứu thêm về lợi ích và khả năng tác hại do có đến 82% người trong số này cho rằng chứng trầm cảm của họ thuyên giảm nhờ dùng thuốc.

Nguồn báo lao động

Hội chứng mệt mỏi

Hội chứng mệt mỏi mạn tính (CFS) là căn bệnh không lây lan được phát hiện lần đầu tiên như là một căn bệnh thể chất vào những năm 1980 và hiện là căn bệnh đang gây ra nhiều tranh cãi.

Hiện nay, khi số người được chẩn đoán mắc bệnh này đang tăng lên, vẫn còn nhiều người trong và ngành y khoa hoài nghi về sự tồn tại của nó hay vẫn còn cho đó là căn bệnh thuộc về tâm lý.

Nhưng các cuộc nghiên cứu kéo dài trong nhiều năm đã xác định CFS là một căn bệnh thuộc về thể chất, có điều hiện nó vẫn chưa được nhận thức đầy đủ. Theo Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa bệnh tật Mỹ (CDC), căn bệnh này hiện đang ảnh hưởng đến nửa triệu người dân Mỹ.

Các dấu hiệu của CFS được xem như triệu chứng bệnh như: mệt mỏi không thể cưỡng lại, cơ thể yếu ớt khiến cho người bệnh rất khó khăn trong thực hiện các công việc và hoạt động hàng ngày như thức dậy, thay quần áo, ăn uống…

hoi-chung-met-moi

Sự mệt mỏi này không hề được cải thiện tốt hơn mặc dù bệnh nhân đã được nghỉ ngơi trên giường. Nó ảnh hưởng mạnh đến chuyện học hành, làm việc và các hoạt động vui chơi giải trí khác, gây ra các bệnh về thể chất và tâm lý khác có thể kéo dài trong nhiều tháng hay thậm chí là nhiều năm.

CFS thường xảy ra ở giới nữ nhiều hơn so với nam và ảnh hưởng đến tất cả các nhóm chủng tộc và dân tộc. Hầu hết những người mắc bệnh này nằm trong độ tuổi từ 20-40. Nó cũng xảy ra ở cả thanh thiếu niên. Một căn bệnh tương tự như CFS cũng được xác nhận xuất hiện ở trẻ em dưới 12 tuổi. Cho đến nay, con số trẻ nhỏ và trẻ trong độ tuổi thanh thiếu niên bị ảnh hưởng bởi bệnh này vẫn chưa thống kê được.

Nguyên nhân gây bệnh CFS

Hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân gây bệnh CFS. Các nghiên cứu hiện nay đang nhắm đến có khả năng những người mắc bệnh CFS có thể do các hoạt động khác thường của hệ miễn dịch và hệ thần kinh trung ương. Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu các bất thường trong trao đổi chất và các yếu tố nguy cơ khác như các rối loạn gen, tuổi tác, giới tính, tiền sử bệnh, môi trường và cả stress có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và quá trình của bệnh này.

Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng có thể có một loại virus nào đó gây bệnh CFS, nhưng họ chưa chứng minh được giả thiết này. Một thời gian, các nhà khoa học quy trách nhiệm cho virus Epstein-Barr (EBV), cho rằng virus này giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của CFS, nhưng nhiều người được chẩn đoán mắc bệnh CFS lại không có bằng chứng bị nhiễm EBV. Tuy nhiên, nguyên nhân gây bệnh CFS là do một virus nào đó hiện vẫn còn đang là mối nghi ngờ do các triệu chứng của bệnh thường giống với một bệnh nhiễm trùng do virus. Hiện các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu để chứng minh virus có liên quan đến bệnh CFS.

Ngoài ra cũng có các giả thiết khác cho rằng các nhân tố gây bệnh CFS còn có: bệnh thiếu sắt trong máu, lượng đường trong máu thấp, dị ứng với môi trường, nhiễm trùng men khắp cơ thể, bệnh tâm thần hay các vấn đề liên quan đến thần kinh.

Triệu chứng của bệnh CFS

Do các triệu chứng của bệnh CFS khá mơ hồ và có thể rất khác nhau tùy theo từng người bệnh khác nhau nên CDC đã đưa ra các thống kê chi tiết để giúp nhận dạng bệnh CFS vào năm 1993 để giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh. Các triệu chứng gồm: mệt mỏi nhiều, kinh niên trong thời gian ít nhất là 6 tháng hoặc nhiều hơn, kèm theo các bệnh khác có thể được chẩn đoán và điều trị, kèm theo đó là có 4 hoặc nhiều hơn các triệu chứng dưới đây:

– Hay quên hoặc khó tập trung.
– Đau họng.
– Bướu ở cổ hay nách.
– Đau cơ hay đau các khớp đi kèm với sưng hoặc đỏ.
– Nhức đầu.
– Ngủ không ngon và mơ hồ cảm thấy bị bệnh hoặc bị trầm cảm…

Ngoài ra, bất kỳ triệu chứng nào trong số các triệu chứng ở trên có liên quan với mệt mỏi xảy ra trong thời gian ít nhất là 6 tháng hoặc lâu hơn cũng được cho là một trong các dấu hiệu của CFS. Bên cạnh đó, việc bị mệt mỏi liên miên cũng cần được xem là dấu hiệu đầu tiên của bệnh.

Các triệu chứng khác của CFS có thể là sốt nhẹ, nhìn không rõ, ớn lạnh, ra mồ hôi vào ban đêm, tiêu chảy, thay đổi bất thường khẩu vị và cân nặng.

Chẩn đoán bệnh CFS

CFS khó được chẩn đoán chỉ với một xét nghiệm đơn, và do vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh. Một nguyên nhân nữa là các bệnh khác cũng có những triệu chứng gần giống với CFS như nhiễm trùng do virus, bệnh thận, bệnh tim, trầm cảm và các bệnh thuộc hệ thần kinh. Do đó, điều đầu tiên bác sĩ chẩn đoán phải làm là chắc rằng một người bị mệt mỏi và có các triệu chứng khác không phải do những căn bệnh trên hoặc các bệnh khác như rối loạn giấc ngủ, các vấn đề về hormone như sự giảm hoạt động của tuyến giáp.

Tuy nhiên, có thể nhận dạng CFS với đặc trưng riêng của nó. “Các triệu chứng của CFS thường phát triển đột ngột và bao gồm hiện tượng mệt mỏi thấy rõ, đến và đi hoặc vẫn còn trong nhiều tháng”, Joel D. Klein, một bác sĩ y khoa cho biết. Các bác sĩ có thể tiến hành khám tổng quát, làm nhiều xét nghiệm máu để xác định bệnh.

TƯỜNG VY

(Theo KidsHealth)

Quần Jean có thể gây trầm cảm cho phụ nữ

Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Hertfordshire đã tìm ra được sự liên quan giữa việc mặc quần bò (jeans) và chứng trầm cảm ở phụ nữ.

Theo một nghiên cứu do giáo sư Karen Pine, Trường ĐH Hertfordshire chủ trì, các nhà nghiên cứu đã rút ra một kết luận thú vị về thói quen mặc chiếc quần bò thông dụng của nhiều người, đặc biệt là phụ nữ.

tram-cam-phu-nu

Có mối liên hệ nhất định giữa mặc quần jeans và chứng trầm cảm ở phụ nữ.

Chiếc quần bò được xem là trang phục phổ biến nhất, có thể mặc trong rất nhiều trường hợp nhưng không phải bất cứ ai mặc quần bò cũng đẹp và thuận lợi.

“Cấu tạo của những chiếc quần bò không hẳn là hợp vệ sinh hiểu theo nghĩa tạo ra sự thoải mái khi làm việc. Nó chưa chắc đã làm nổi bật được những nét đẹp riêng ở từng người. Quần bò phát ra một tín hiệu: nó thể hiện người mặc nó không quan tâm lắm đến việc chăm chút ngoại hình của bản thân mình” – giáo sư Karen khẳng định.

“Mà không hề để ý đến hình thức bên ngoài của mình nữa và chỉ muốn mình không bị mọi người để ý đến là đặc trưng của chứng trầm cảm. Do vậy có mối liên quan rõ ràng giữa trầm cảm và mặc quần bò”, ông kết luận.

Nhiều nhà tâm lý học cho rằng, giữa việc lựa chọn quần áo và tâm trạng của một người có một mối quan hệ nhất định. Vì thế đối với các bệnh nhân trầm cảm các bác sĩ điều trị thường khuyên họ mặc những bộ đồ màu sáng, thậm chí có thể loè loẹt, những bộ quần áo gắn liền với những kỷ niệm vui và tránh mặc quần bò.

Theo Vietnamnet

Hành vi nhận biết trẻ bị tự kỷ

Nếu một bên là trẻ tự kỷ, một bên là trẻ bình thưởng thì trẻ mắc hội chứng Asperger – rối loạn phát triển – ở giữa. Bệnh mới được biết đến từ chục năm nay. Nhóm trẻ này sẽ gặp bất lợi cuộc sống do thiếu nhiều kỹ năng. Dưới đây là các dấu hiệu trẻ mắc bệnh mà cha mẹ cần lưu ý:

– Để ý nếu con bạn có dấu hiệu thiếu kỹ năng xã hội trầm trọng. Đây là một trong những biểu hiện chính của các bệnh nhân mắc hội chứng Asperger. Trẻ mắc bệnh này khó duy trì tình bạn, khó chơi với trẻ cùng tuổi mình và thậm chí là duy trì được một cuộc trò chuyện.

Autism research story

– Chú ý đến tinh thần của trẻ cũng như các biểu hiện thể chất. Thường thì trẻ Asperger cảm thấy lo lắng, trầm cảm, rối loạn phản kháng.

– Để ý nếu con bạn có những sở thích đặc biệt. Trẻ Asperger thường có một mối quan tâm đặc biệt nào đó và quá bị ám ảnh với nó. Đó có thể là việc yêu thích các con tàu, khủng long hoặc thậm chí các trường đoạn phim. Chúng học hỏi rất nhiều về các sở thích đặc biệt này và thường trở thành chuyên gia trong lĩnh vực ấy.

– Để ý kỹ năng vận động tinh tế của trẻ. Một trẻ Asperger có xu hướng kém cỏi trong lĩnh vực này. Chẳng hạn, chúng khó khăn trong việc phối hợp nên không thể thả được một khối vuông vào trong một ô vuông.

– Lưu ý nếu con bạn có bất cứ trục trặc nào về giác quan. Chẳng hạn, con bạn sẽ không ăn sữa chua vì bé không thích cảm giác của nó ở trong miệng.

– Kiểm tra kỹ năng ngôn ngữ của bé. Trẻ Asperger thường thể hiện trí thông minh bằng hoặc trên trung bình, và có thể nhận diện các từ vựng vượt quá trình độ của mình. Tuy nhiên, cùng lúc, chúng lại khó khăn trong việc sử dụng các kỹ năng ngôn ngữ. Chúng có thể biết nghĩa của một từ, nhưng không thể luận ra xem cách sử dụng nó trong một câu.

– Ghi lại tất cả các hành vi khác thường của trẻ, và đưa trẻ đến gặp chuyên gia thần kinh, đã từng tiếp xúc với nhiều trẻ mắc các rối loạn trong phổ tự kỷ.

Điều trị suy nhược tinh thần

Suy nhược thần kinh còn gọi là tâm căn suy nhược do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng có liên quan chặt chẽ đến căng thẳng tâm lý, tinh thần gây mệt mỏi, tư tưởng phân tán, mất ngủ, trầm cảm,… Người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn và điều trị đúng. Ngoài ra có thể dùng một số món ăn, bài thuốc có tác dụng hỗ trợ tốt trong quá trình điều trị như sau:

Bài 1: Long nhãn (cùi nhãn sấy khô) 10g, gạo lứt 50g. Cách dùng: Ngâm long nhãn vào nước ấm một lúc, sau đó rửa sạch. Gạo lứt cho vào nồi thêm nước nấu thành cháo. Khi gạo chín cho long nhãn vào, đun nhỏ lửa ninh nhừ, mỗi ngày ăn 2 lần. Món ăn này có tác dụng hỗ trợ điều trị tốt với người bị suy nhược thần kinh, mất ngủ, tim đập hồi hộp, hay quên.

dieu-tri-suy-nhuoc-tinh-than

Gạo lứt

Bài 2: Óc lợn 1 cái, thiên ma 10g. Cách dùng: Thiên ma rửa sạch, óc lợn bỏ màng ngoài và tia máu, rồi rửa sạch. Tất cả cho vào tô canh, để vào nồi đổ nước hầm cách thủy khoảng 2 giờ, khi ăn cho thêm gia vị. Công dụng: Hỗ trợ điều trị suy nhược thần kinh do căng thẳng tâm lý, ức chế, buồn bực, rối loạn chức năng gan, tâm thần không yên.

Bài 3: Khiếm thực 30g, ý dĩ 30g, mạch môn 30g, hạt sen 30g, đường phèn lượng vừa đủ. Cách dùng: Hạt sen bỏ tâm, mạch môn không bỏ lõi, khiếm thực và ý dĩ rửa sạch, tất cả đem ngâm với nước sạch khoảng 20 phút. Sau đó, cho khiếm thực và ý dĩ vào nồi, đổ nước, đun to lửa cho sôi rồi dùng lửa nhỏ hầm nhừ chừng 30 phút rồi cho hạt sen và mạch môn vào, đun tiếp khoảng 20 phút nữa là được, cho thêm đường phèn, ăn trong ngày. Công dụng: Thanh tâm, an thần, thích hợp cho những người mất ngủ, bồn chồn, bứt rứt không yên, tinh thần suy sụp.

Bài 4: Tim lợn 1 quả, nhân sâm 10g, đương quy 10g. Nhân sâm, đương quy rửa sạch, thái mỏng, tim rửa sạch, bổ ra cho nhân sâm và đương quy vào trong, đặt trong bát sứ, đổ nước sôi vào, hầm cách thủy 3 giờ, cho thêm gia vị ăn với cơm. Dùng thích hợp với người bị suy nhược thần kinh do suy nhược cơ thể sau ốm, sức yếu, thiếu máu, tâm thần bất an, ngủ không yên giấc. Lưu ý: Những người bụng thường xuyên bị đầy trướng, căng tức, sôi bụng, phân nát, lỏng hoặc tiêu chảy; phụ nữ có thai; người bị tăng huyết áp không được dùng.

Bài 5: Trứng chim cút 4 quả luộc chín, bóc bỏ vỏ; hạt sen 15g bỏ tâm, long nhãn 10g rửa sạch. Cho tất cả vào nồi thêm nước ninh trong 30 phút. Khi ăn thêm chút đường phèn, ăn cái, uống nước. Món ăn này thích hợp với người bị suy nhược thần kinh biểu hiện: mệt mỏi, mất ngủ, hay mê mộng, hồi hộp, trí nhớ giảm sút, chán ăn

Nguồn sức khỏe gia đình

Nguyên nhân bệnh tâm lý ở trẻ em

Nguyên nhân nằm ở đâu?

Chúng ta đã từng biết đến những vụ việc đáng tiếc khi có những trẻ vị thành niên đang ở lứa tuổi thích khẳng định bản thân đã bị tổn thương vì bị thầy cô giáo nghi ngờ lấy cắp tiền, bị cha mẹ mắng mỏ, bị người thân miệt thị… rơi vào trầm cảm và tìm đến cái chết. Sau mỗi mùa thi đại học sẽ có bao nhiêu học sinh rơi vào thất vọng vì không vươn tới cánh cửa trường đại học mà mình mơ ước? Chắn chắn con số thi rớt sẽ gấp nhiều lần số thi đỗ và như vậy thì bao nhiêu trái tim non nớt cần được cảm thông an ủi, đặc biệt là từ gia đình mình. Một chuyên gia về tâm lý lứa tuổi tại một trung tâm tư vấn tình cảm cho biết, sẽ là rất bất nhẫn nếu như có thái độ nhiếc móc hoặc tỏ ra thất vọng khi thấy con em mình không đỗ đại học. Vào đại học không phải là con đường duy nhất để tiền vào đời. Có rất nhiều người thành công và đạt được những ước mơ của mình mà không hề trải qua một trường đại học nào. Nhiều khi cha mẹ cưng chiều con mình quá, chỉ cho ăn và học đến khi thi đại học. Khi đứa trẻ thì không đỗ, vừa không được trang bị kỹ năng sống đã rơi vào tình trạng không lối thoát, luôn sống trong mặc cảm và trở thành thui chột ý chí, suốt đời sống một cuộc sống khép mình, kém tự tin và từ bỏ ước mơ. Mùa thi đến là lúc mà các trung tâm tư vấn luôn đón nhận những cuộc điện thoại bày tỏ nỗi lo lắng của học sinh trung học. Có em ko sợ không đáp ứng được kỳ vọng của bố mẹ còn hơn cả việc lo thi cử. Nắm được tâm lý này, các bậc phụ huynh nên giải tỏa tâm lý cho con em mình, khuyến khích hy vọng nhưng không kỳ vọng thái quá, vì hơn hết, tâm lý có thỏa mái thì hành vi mới hiệu quả. Đây là một nguyên tắc của mỗi cuộc thi tài, dù là thi trong nhà trường. Như vậy sức khỏe tâm thần của trẻ em phụ thuộc rất nhiều vào người lớn – những người có thể trợ giúp về mặt tâm lý cũng như có thể đưa trẻ vào những sang chấn tâm lý nếu thiếu hiểu biết.

nguyen-nhan-benh-tam-ly-o-tre-em

Bàn luận của giới chuyên môn

Việc những trường hợp bệnh lý

Việc những trường hợp bệnh lý trẻ em tăng đột biến trong thời gian gần đây được xem là hiện tượng của đời sống hiện đại cùng với sự gia tăng của nhiều chứng bệnh khác. Có ý kiến cho rằng, ở thời điểm nào cũng có thể phát sinh những vấn đề ảnh hưởng đến xúc cảm và ý chí của mỗi người song cuộc sống càng phát triển thì sức khỏe tầm thần càng được quan tâm một cách thấu triệt. Hàng loạt các dự án nghiên cứu về các sang chấn tâm lý có thể gặp phải ở lứa tuổi thiếu niên và nhi đồng được thực hiện. Tuy nhiên vẫn còn những lỗ hổng rất lớn trong cộng đồng do thiếu hiểu biết của cha mẹ, thầy cô giáo khi nuôi dạy con em mình, nhiều bậc cha mẹ chỉ che chở bao bọc chứ không dạy con cái biết cách tự đấu tranh với những vấn đề của cuộc sống dẫn tới hậu quả đáng tiếc.

Nguy cơ trẻ em bị mắc các chứng bệnh tâm lý ở cộng đồng hiện naylà rất lớn và đáng báo dộng. Theo báo Tuổi trẻ mỗi ngày Viện sức khỏe Tâm thần TP. Hồ Chí Minh tiếp nhận từ 400 đến 500 lượt trẻ em đến khám và điều trị về các chứng bệnh liên quan đến tâm lý. Phó trưởng khoa Tâm thần – Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, hàng ngày ở đây phải tiếp nhận khám và điều trị cho khoảng 70 cháu mắc các chứng bệnh này và càng ngày thì con số càng gia tăng, trong đó trẻ mắc nhiều nhất là chứng bệnh tự kỷ.

Vấn đề trẻ mẳc bệnh tâm lý mặc dù đã được các nhà nghiên cứu chú ý tới nhưng chưa thực sự được quan tâm một cách triệt để và thấu đáo. Trẻ em vô cùng nhạy cảm, đôi khi chỉ một hành động, cử chỉ của người lớn cũng có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ đến suốt đời.

Trao đổi với chúng tôi, TS. Trương Bích Hà – Giám đốc Trung tâm tư vấn Truyền thông sức khỏe sinh sản và phát triển cộng đồng cho biết, hầu như các bậc cho mẹ chỉ bắt đầu lo lắng về con cái khi chúng ở tuổi vị thành niên, khi ở chúng xuất hiện những biểu hiện bất thường quá rõ rệt thì cha mẹ mới tìm mọi cách để thay đổi. Đối với một số trẻ em, tới lúc đó mới tìm cách thay đổi thì đã quá muộn. Ở bất kỳ lứa tuổi nào, cha mẹ và xã hội cũng phải chú ý tới tâm lý trẻ, thậm chí phải quan tâm tới trẻ từ khi vừa chào đời.

Áp lực từ chính kỳ vọng của người lớn

Trẻ em hiện nay bị rất nhiều áp lực, lớn nhất chính là áp lực học tập. Trẻ phải biết tiếp cận với các chương trình mà ngay cả Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng phải thừa nhận là quá tải. Điều này thì tất cả mọi người đều rõ. Trẻ em chịu quá nhiều áp lực từ người lớn. Mới ở lứa tuổi mẫu giáo các cháu đã phải học chữ, tập đánh vần, tập viết chữ đẹp… chúng không còn thời gian nghỉ ngơi, vui chơi. Áp lực khiến trẻ bị già trước tuổi, chúng không còn hồn nhiên, ngây thơ như lứa tuổi đáng lẽ chúng được hưởng. Khi đến tuổi đi học, cha mẹ lại đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái. Đáng lo ngại và cũng là điều nguy hiểm là chính gia đình và nhà trường đã tạo ra cho trẻ em ý thức phải cạnh tranh khiến chúng luôn thường trực tâm lý phải ganh đua để hơn nhau. Ở một khía cạnh nào đó, điều đó đáng khuyến khích, tuy nhiên nhiều bậc cha mẹ đặt ra cho chúng và nuôi dưỡng những khát vọng ở trẻ mà không quan tâm tới khả năng thực sự của chúng. Đó là mầm mống cho tính ích kỷ và đố kị, tính ghen ghét đối với người khác, thậm chí khi trưởng thành có thể chà đạp lên người khác để sống.

Theo các nhà tâm lý, sự căng thẳng tâm lý luôn thường trực khiến trẻ em hiện nay đang tiềm ẩn nguy cơ “không bình thường”. Ranh giới giữa một trẻ bình thường và không bình thường là rất mong manh, chúng có thể bị thay đổi tâm lý bất kỳ lúc nào. Sẽ có hai trường hợp xảy ra, đối với những trẻ có hệ thần kinh yếu, trẻ sẽ mắc chứng tự ti, trầm cảm; còn trẻ có hệ thần kinh mạnh, trẻ rất dễ trở nên hung tính hoặc mắc chứng nổi loạn, tính thiện ở trẻ dần mất đi, nhân cách của chúng dần bị thoái hóa.

Các nhà tâm lý biết, các nhà giáo dục cũng không lấy làm lạ, vậy đây thực sự là một vấn đề nan giải?

Theo PGS.TS Phan Trọng Ngọ – chuyên gia tâm lý của trường Đại học Sư phạm Hà Nội thì hiện nay chúng ta mới chỉ chú ý đến khai thác con người chứ chưa quan tâm triệt để, chưa nhìn sâu cũng như chưa có chiến lược cụ thể về con người. Vấn đề định hướng và các chính sách từ cấp lãnh đạo mới là điều đáng phải bàn nhất, phải bắt nguồn từ chính ý thức trách nhiệm của những nhà quản lý và các cấp giáo dục. Trẻ em không tự tạo ra áp lực cho mình mà chính là do xã hội tạo ra áp lực cho chúng, vì vậy những gì cần làm không phải là thay đổi trẻ em mà phải tìm ra căn nguyên của hiện tượng để giải quyết triệt để.

Trẻ em cần được bảo vệ và cần được bảo vệ một cách khoa học, đó cũng là thông điệp của y học hiện đại.

Cáu gắt thường xuyên

Đột nhiên thấy mình hay cáu gắt, dù một mâu thuẫn nhỏ cũng dễ thành chuyện lớn. Có những chấn động tinh thần thoáng qua lẽ ra cần được chăm sóc thì hầu hết mọi người đều cho rằng chả sao cả hoặc từ từ sẽ hết, nhưng rồi lại trầm trọng hơn.

Trong cuộc sống có những tác động thay đổi tình trạng tâm lý của mình. Thông thường cái sự buồn sau một thời gian sẽ hết một cách tự nhiên. Nhưng có những bực tức mình không thể tự giải quyết được. Sự kéo dài quá lâu khiến chúng ta mất ăn mất ngủ, sa sút tinh thần, có thể dẫn mình đến những hành động liều lĩnh khác. Đó là điều mà chúng ta cần quan tâm đến vấn đề sức khỏe tâm lý sớm.

Người Việt Nam chúng ta nói riêng và người châu Á nói chung thường có cảm giác ngại, sợ người khác biết mình có vấn đề về tâm lý nên giấu, không muốn chia sẻ, đấy lại là nguyên nhân làm tình trạng tệ hơn.

Theo thống kê ở Mỹ, người Việt tìm đến chuyên gia để được giải quyết vấn đề tâm lý chỉ được 10%. Khác với người châu Âu, chỉ cần vợ chồng cãi nhau mà không giải tỏa được là họ đã tìm đến bác sĩ tâm lý chứ chưa nói đến những người có vấn đề tâm lý cá nhân quá lâu dài, quá sâu sắc.

cau-gat-thuong-xuyen

Có thể do văn hóa từ ngàn xưa của mình sống trong nếp nhà nhiều hơn là giao du xã hội rộng rãi. Lúc nào cũng cố gắng nhịn nhục vì nghĩ là gia đình với nhau. Tất cả tạo nên trở ngại cho bản thân người bệnh là không được chữa trị, tác động tới công ăn việc làm, tới giá trị tinh thần của bản thân và tồi tệ hơn là chỉ vì một chấn động tâm lý nhỏ để quá lâu ngày trở thành tâm bệnh mà chúng ta quen gọi là bệnh tâm thần.

* Người ta sợ nói đến bệnh tâm thần, nhưng cần hiểu tách bạch vấn đề tâm lý và bệnh tâm thần thế nào cho đúng, thưa bác sĩ?

– Theo định nghĩa của môn tâm lý tâm thần học, tâm lý bất thường được xem như là một bệnh tâm thần. Tuy nhiên tâm lý bất thường có mức độ từ nhẹ đến nặng. Nhiều người thường hiểu bệnh tâm thần ở mức nặng chứ không phải là triệu chứng tâm lý bất thường. Quan niệm như thế không chính xác.

Ví dụ: một người có cảm giác bất an, lo âu khi đứng một mình trong thang máy là một dạng của bệnh tâm thần nhẹ, hay người không biết gì đến thực tại xung quanh là bệnh tâm thần phân liệt – bệnh tâm thần nặng. Nói tóm lại, tâm lý bất thường hay bệnh tâm thần cũng chỉ là hai cách nói, nhưng ý nghĩa của chúng không có gì khác nhau, chỉ khác nhau là ở mức độ mà thôi.

* Các dấu hiệu rối loạn tâm lý thường gặp nào bắt buộc chúng ta cần sớm đến gặp chuyên gia tâm lý?

– Có những triệu chứng bất thường về tâm lý có thể tự nhiên sau một thời gian sẽ biến mất. Nhưng cũng có những triệu chứng tâm lý bất thường cứ mãi kéo dài nếu như chúng ta không có được sự giúp đỡ của người khác. Các dấu hiệu rối loạn tâm lý cũng rất đa dạng. Ví dụ như bị mất ngủ kinh niên, tự nhiên đột xuất sợ sệt, hoặc thường ở trong trạng thái lo âu, buồn bã chán nản, cảm giác trống trải trong một thời gian dài, mất niềm tin và không còn muốn sống…

* Vậy làm sao để không từ một chấn thương tâm lý trở thành bệnh tâm thần?

– Việc đầu tiên là chúng ta cần có thói quen tìm hiểu, nhận dạng tâm lý chính bản thân mình bằng cách trau dồi kiến thức. Kiến thức về tâm lý càng nhiều thì sự hiểu biết tâm lý của chính mình càng tốt hơn. Kiến thức tâm lý vừa giúp trị liệu cho mình và cũng có thể giúp trị liệu, trực tiếp hay gián tiếp người thân trong gia đình.

Có những sự việc khi bạn đau buồn tột độ, thâm tâm lại nghĩ mình có thể giải quyết được nhưng thật sự những nỗ lực tự giải quyết ấy chỉ khiến bạn bước vào vòng luẩn quẩn, rối trí. Có người sẽ vượt qua được những cú sốc về tinh thần nhưng cũng có người lại tìm đến cái chết là vì vậy. Cần tìm sự trợ giúp từ gia đình, bạn bè… Tốt nhất là đến chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ điều trị tâm lý.

Một điều đáng lưu ý là khi cá nhân hiểu được vấn đề tâm lý tâm thần thì hoặc người đó tự có khả năng vực dậy hoặc tìm đến những nguồn giúp đỡ khác. Vấn đề là do mình tự quyết định chứ không phải ai khác.

Cũng như các bệnh khác, việc phát hiện bệnh tâm thần đóng vai trò quyết định trong kết quả điều trị bệnh. Nếu không kịp thời phát hiện, bệnh không những khó điều trị mà có khi không thể điều trị khỏi được.

Triệu chứng stress càng ngày càng gia tăng

Theo các bác sĩ, stress đang gia tăng trong tình hình cuộc sống có nhiều tâm trạng, nhiều áp lực như hiện nay.

Cách đây một tháng, Viện Sức khỏe tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội) nhận một bệnh nhân nam 35 tuổi là giám đốc doanh nghiệp. Trên người bệnh nhân toàn áo quần hàng hiệu, trông có vẻ khá giả nhưng lại luôn lẫn lộn những người xung quanh. Theo các bác sĩ, bệnh nhân đang gặp một số vướng mắc liên quan đến công việc, dẫn đến lo lắng thái quá và rối loạn hành vi.

Quá nhiều nguy cơ

Theo bác sĩ Lý Trần Tình – giám đốc Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, mặc dù không có thống kê chính thức, nhưng qua thực hành lâm sàng có thể thấy số lượng bệnh nhân có các vấn đề về stress liên quan đến công việc đang có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Trong năm năm trở lại đây, cơ cấu bệnh lý ở bệnh nhân có các rối loạn về tâm thần đã có sự thay đổi. Trước kia, bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm tỉ lệ rất cao từ 70-80%, gần đây số lượng bệnh nhân có vấn đề về stress, căng thẳng, mất ngủ, trầm cảm lại gia tăng, chiếm tỉ lệ tương đương nhóm bệnh nhân tâm thần phân liệt.

trieu-chung-stress-cang-ngay-cang-gia-tang

Theo phân tích của ông Lý Trần Tình, xã hội ngày nay tiềm ẩn quá nhiều nguy cơ tác động tiêu cực đến đời sống và sức khỏe tâm thần của con người. Có thể thấy những nguy cơ lớn như ô nhiễm môi trường, sự phát triển nhanh chóng, ồ ạt và khó kiểm soát của công nghệ, lối sống mới. Tình hình an ninh trật tự có dấu hiệu đi xuống, chính sách cho an sinh, giáo dục còn nhiều bất cập… tất cả những điều này tạo thành những sức ép, áp lực cho từng cá thể xã hội. Khi những nguy cơ này tác động cùng một lúc và trong một thời gian ngắn lên một người nào đó sẽ trở thành thách thức sức chịu đựng, nếu không thích nghi được rất dễ bị “quỵ ngã” về tinh thần và mắc các chứng rối loạn về tâm thần.

Cũng theo ông Lý Trần Tình, tình hình kinh tế suy thoái như hiện nay kéo theo nhiều hệ lụy, nhiều nguy cơ đến sức khỏe tâm thần của con người. Bệnh viện Tâm thần Hà Nội ghi nhận được rất nhiều trường hợp bệnh nhân trước kia là người thành đạt, là chủ doanh nghiệp phải vào điều trị sau khi phá sản, thất bại trong kinh doanh. Những bệnh lý tâm thần liên quan đến công việc phổ biến nhất là liên quan đến stress trường diễn hoặc stress cấp.

Bệnh nhân bị stress cấp phải chịu một cú sốc quá lớn với sức chịu đựng, từ đó có thể mắc chứng trầm cảm, tâm thần phân liệt. Đối với stress trường diễn, người có bệnh lý này đã phải chịu những cú sốc rất lớn, thất bại trong cuộc sống về công danh, tiền tài hoặc tình cảm suốt một thời gian dài. Những bệnh nhân này thường tìm đến các chất kích thích như rượu, ma túy để giải sầu và mong muốn chấm dứt cơn sầu, nhưng rượu và ma túy chỉ làm tổn hại thêm tinh thần của bệnh nhân, bệnh nhân rất dễ bị sa lầy vào nỗi buồn, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến hậu quả giống như ở stress cấp – bệnh nhân rơi vào trầm cảm hoặc có thể bị tâm thần phân liệt.

Tăng cường lối sống lành mạnh

Bác sĩ Nguyễn Minh Tuấn, phó viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, cho rằng những lo lắng trong cuộc sống, công việc… không những dẫn đến các hiện tượng như mất ngủ, căng thẳng, ăn kém ngon, còn dẫn đến các bệnh thực thể như huyết áp, dạ dày. Hiện tượng lo âu, căng thẳng kéo dài và không được điều trị hiệu quả sẽ trở thành trầm cảm. Theo bác sĩ Tuấn, nhiều trường hợp trầm cảm có triệu chứng nặng luôn tự nghĩ mình đang mắc bệnh hiểm nghèo, không thể chữa được, chỉ có chết mới có thể giải thoát và đã tự tử. Với những trường hợp này, bác sĩ Tuấn khuyên gia đình đưa bệnh nhân đến bệnh viện chuyên khoa để điều trị.

Để chống lại stress và lo âu quá mức trong tình hình kinh tế khó khăn, bác sĩ Tuấn khuyên những người đang có khó khăn liên quan đến tài chính và công việc nên quy hoạch lại chi tiêu, giảm bớt những chi phí không cần thiết, không hợp lý, chấp nhận điều kiện mới để vực dậy tình trạng hiện tại. “Trong tình hình tài chính khó khăn mà vẫn thích đi ăn nhà hàng, sắm đồ hiệu, khoe khoang sự giàu có sẽ càng chịu áp lực tinh thần. Nên thay đổi theo hướng trước tiêu 10, nay kiếm được ít hơn chỉ tiêu 6-7 thì sẽ dễ chịu hơn”- ông Tuấn chia sẻ.

Theo bác sĩ Lý Trần Tình, tất cả mọi người đều có nguy cơ mắc các chứng rối loạn về tâm thần và có thể mắc nhiều lần trong đời. Muốn hạn chế được hậu quả do các chứng rối loạn tâm thần gây ra, trước tiên phải dự phòng các nguy cơ có hại bằng cách sắp xếp hợp lý giữa lao động và nghỉ ngơi, tăng cường tập luyện thể dục, thể thao, giải trí, loại trừ cảm xúc âm tính… Bác sĩ Tình cũng cho rằng cần phải ăn uống hợp lý, tăng cường chất xơ, vitamin trong bữa ăn; chú trọng giấc ngủ không để tình trạng mất ngủ kéo dài. Không đặt ra những mục tiêu, ham muốn quá xa khả năng thực hiện của bản thân, vì nếu không đạt được mục tiêu, ham muốn đó con người rất dễ cảm thấy mình bị thất bại, dẫn đến các cảm xúc tiêu cực khác. Bác sĩ Tình cũng khuyến cáo hạn chế mức tối đa việc sử dụng chất kích thích như rượu bia để giải sầu.

Những dấu hiệu trầm cảm ở trẻ lứa tuổi 7-8 tuổi

Nghiên cứu mới cho thấy các dấu hiệu của trầm cảm, dạng rối loạn sức khỏe trí tuệ phổ biến nhất ở Mỹ, có thể được nhận biết ngay từ khi trẻ học lớp 2 – sớm hơn rất nhiều so với người ta vẫn nghĩ.

Một nghiên cứu do trường đại học Washington tiến hành trên gần 1000 trẻ em ở độ tuổi theo học từ lớp 2 đến lớp 8 đã đưa ra 5 nhóm kết quả khác nhau về sự phát triển các dấu hiệu trầm cảm ở thanh thiếu niên.

“Một số trẻ nói rằng chúng không có nhiều bạn, cảm thấy cô đơn hơn và lo âu hơn so với bạn bè cùng trang lứa,” James Mazza, giáo sư tâm lý giáo dục thuộc đại học Washington, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết. “Chúng tiết lộ rằng chúng thấy mình khác biệt so với một đứa trẻ học lớp 2 vô tư lự thông thường.”

“Chúng tôi có thể bắt đầu xây dựng những mô tả sơ lược về sức khỏe tinh thần của trẻ học lớp 2. Điều này là rất quan trọng bởi những em có triệu chứng trầm cảm từ sớm có nguy cơ cao hơn về các vấn đề sức khỏe tinh thần ở tuổi vị thành niên, đây là kết quả đã công bố của nhiều công trình khoa học khác. Chúng tôi muốn khẳng định lại với các bậc phụ huynh rằng, tất cả mọi người, bao gồm cả trẻ em, đều có thể cảm thấy buồn bã hay phiền muộn, nhưng điều này không có nghĩa là chắc chắn chúng sẽ mắc phải chứng trầm cảm sau này. Chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu trầm cảm bắt đầu và phát triển ra sao ở trẻ để từ đó có các biện pháp phòng tránh cho các em, ” Mazza nói.

Nghiên cứu mới này dựa trên các bản tự đánh giá của trẻ cũng như báo cáo từ các bậc phụ huynh và giáo viên trong khảo sát Nâng cao Sức khỏe Trẻ em – một cuộc điều tra dài hạn với qui mô lớn nhằm xem xét sự phát triển sức khỏe và các vấn đề cư xử ở trẻ trong phạm vi 10 trường ngoại ô vùng Pacific Northwest. Khảo sát trầm cảm hiện tại sử dụng dữ liệu từ 511 em trai và 440 em gái, trong số đó 81% là trẻ da trắng.

Nghiên cứu đã xác định được 5 nhóm kết quả về trầm cảm ở trẻ; trong đó 56% trẻ không có hoặc ít có biểu hiện trầm cảm ở tuổi học lớp 2. Thông tin về 5 nhóm đối tượng cụ thể như sau:

• Kết quả dấu hiệu thấp và ổn định – 26%: những đứa trẻ này không có hoặc hầu như không có dấu hiệu trầm cảm ở năm học lớp 2, và tỉ lệ dấu hiệu không thay đổi theo thời gian cho tới tận năm lớp 8.

Trẻ em trầm cảm

Trẻ em trầm cảm

• Thấp nhưng tăng dần – 30%: Trẻ thuộc nhóm này cũng không có hoặc hầu như không có dấu hiệu trầm cảm khi học lớp 2, nhưng số dấu hiệu tăng lên chút ít trong những năm tiếp theo.

• Trung bình & ổn định – 24%: Nhóm này có ít dấu hiệu nhưng số dấu hiệu tăng lên chút ít trong những năm tiếp theo.

• Vừa phải & thay đổi – 11%: Những trẻ này bắt đầu với nhiều biểu hiện hơn so với nhóm kể trên và số lượng biểu hiện tăng dần qua các năm tiểu học, nhưng sau đó lại giảm ở bậc trung học cơ sở.

• Vừa phải & tăng dần – 9%: Nhóm này ở lớp 2 có số triệu chứng tương đương với nhóm trên, nhưng các biểu hiện không giảm đi mà tiếp tục tăng ở bậc trung học cơ sở.

Nghiên cứu xác định các yếu tố rủi ro liên quan tới bệnh trầm cảm ở các em trai và em gái. Đối với em trai, các vấn đề về hành vi và sự tập trung cho biết trẻ thuộc nhóm nào. Ở các em gái, sự lo lắng là một yếu tố rủi ro xuất hiện sớm. Nghiên cứu cũng tái khẳng định những kết quả trước đây từng chỉ ra sự khác nhau giữa hai giới trong các dấu hiệu trầm cảm, trong đó nữ giới biểu hiện nhiều dấu hiệu hơn nam giới ở tuổi học lớp 8.

“Trẻ em là nguồn thông tin đáng tin cậy nhất về cảm giác, cảm xúc bên trong bản thân chúng. Nhưng cũng cần có cái nhìn đa chiều. Việc thu thập dữ liệu từ các bậc phụ huynh, giáo viên và trẻ để xác định sớm nguy cơ trầm cảm là một biện pháp tốt phát hiện ra những trường hợp có thể gặp phải các vấn đề liên quan sức khỏe tinh thần sau này,” Mazza nói.

G2V Star (Theo ScienceDaily)

Mất cân bằng nội tiết do quá căng thẳng

Sự mất cân bằng nội tiết tố có thể được chữa được bằng thuốc hoặc thay đổi trong lối sống.

5 dấu hiệu dưới đây sẽ giúp bạn nhận thấy mình đang bị mất cân bằng nội tiết tố.

1. Căng thẳng hoặc trầm cảm

Một trong những dấu hiệu quan trọng nhất khi bạn bị mất cân bằng nội tiết tố đó là tình trạng cơ thể khởi phát đột ngột căng thẳng hoặc trầm cảm. Điều này có thể là do mức độ hormone melatonin trong cơ thể của bạn thấp. Hormone này là yếu tố quan trọng để giúp cơ thể bạn cân bằng nhịp điệu hàng ngày.

Do đó nếu lượng hormone melatonin giảm – thấp, sẽ dẫn đến sự trì trệ, căng thẳng, mệt mỏi kéo dài. Điều này thường xảy ra khi bạn có tuổi.

Sự mất cân bằng nội tiết có thể do các yếu tố như lối sống, dinh dưỡng, ô nhiễm, rối loạn cảm xúc và tuổi tác… gây ra. Ảnh minh họa

Sự mất cân bằng nội tiết có thể do các yếu tố như lối sống, dinh dưỡng, ô nhiễm, rối loạn cảm xúc và tuổi tác… gây ra. Ảnh minh họa

2. Huyết áp cao

Tỷ lệ giữa natri và nước trong cơ thể của bạn ổn định là do sự cân bằng của hormone aldosterone. Và tuyến thượng thận vốn là nơi sản xuất ra aldosterone. Nếu thận của bạn có vấn đề, khiến lượng kali và natri không ổn định. Natri dư thừa sẽ làm tăng tình trạng trữ nước trong cơ thể, từ đó dẫn đến tăng huyết áp. Do đó khi cơ thể mất cân bằng hormone aldosterone thì cơ thể bạn bị tăng huyết áp (huyết áp cao).

3. Giảm ham muốn tình dục

Nếu bạn nhận thấy ham muốn tình dục của mình có dấu hiệu kém đi, thì nguyên nhân có thể là sự mất cân bằng của nội tiết tố. Nói chung, trước khi mãn kinh, phụ nữ có thể bị sụt giảm testosterone do chức năng của buồng trứng giảm và tuyến thượng thận không duy trì được tốc độ sản xuất hormone sinh dục, kéo theo việc ảnh hưởng đến sự ham muốn tình dục của mình.

Vấn đề rối loạn nội tiết tố cũng có thể dẫn đến khô âm đạo và kinh nguyệt không đều ở nhiều chị em.

4. Cảm thấy nóng ran và ớn lạnh

Đây là một trong những triệu chứng thường gặp ở phụ nữ trung niên thời kỳ mãn kinh và sau mãn kinh. Cơ thể họ sẽ thường xuyên gặp triệu trứng lúc ớn lạnh lúc lại nóng ran bất kể khoảng thời gian nào trong ngày và đặc biệt là vào ban đêm.

Trong thời kỳ mãn kinh, sự suy giảm của estrogen kéo theo sự rối loạn điều hoà vận mạch. Quá trình này dẫn đến các mạch máu mở rộng, giải phóng nhiệt và gây nóng bừng, đổ mồ hôi và ớn lạnh.

5. Tăng cân

Sự mất cân bằng hormone trong cơ thể của bạn có thể dẫn đến tăng cân. Nếu cơ thể của bạn mức độ hormone cortisol và insulin cao, sẽ khiến bạn ăn nhiều hơn và tăng cân nhanh hơn. Hãy nhớ rằng, tăng cân có thể dẫn đến sự thay đổi lớn các hormone sinh dục như estrogen và testosterone. Và sự mất cân bằng này có thể dẫn đến thừa cân, đặc biệt là ở giai đoạn sau khi mãn kinh.

Ngoài năm có dấu hiệu đã nói ở trên, bạn có thể sẽ gặp phải các triệu chứng khác khi mất sự cân bằng nội tiết tố do thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt như bị mụn trứng cá, nhức đầu… Do đó, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ nếu bạn có những triệu chứng gây khó chịu khiến cuộc sống hàng ngày của bạn bị đảo lộn.

Theo afamily

Phương pháp mới trong việc điều trị trầm cảm

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại, các nhà sinh lý học thuộc Đại học Oxford cho biết.

Kết quả của một thí nghiệm trên quy mô nhỏ của phương pháp này, gọi là phương pháp trị liệu nhân thức dựa trên sự lưu tâm (MBCT), ở những bệnh nhân bị trầm cẩm, được công bố trên tạp chí Behaviour Research and Therapy.

dieu-tri-tram-cam

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

28 người hiện mắc chứng trầm cảm, đồng thời có những giai đoạn trầm cảm trước đó cùng ý định tự tử, được ngẫu nhiên chia thành 2 nhóm. Một nhóm được trị liệu thêm bằng MBCT ngoài những phương pháp trị liệu thông thường, trong khi nhóm còn lại chỉ nhận điều trị thông thường. Việc chữa trị bằng MBCT giảm số lượng bệnh nhân trầm cảm nặng, trong khi nhóm còn lại tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm nặng không thay đổi.

Giáo sư Mark Williams và các đồng nghiệp thuộc Khoa tâm thần học Đại học Oxford sẽ tiếp tục công việc nghiên cứu từ những bằng chứng đáng khích lệ này. Họ hy vọng sẽ thực hiện nghiên cứu với những bệnh nhân để chứng tỏ rằng MBCT có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát bệnh. Nhóm nghiên cứu của Oxford hiện đang thực hiện một nghiên cứu quy mô lớn hơn so sánh MBCT với một nhóm sử dụng trị liệu thần kinh để xác định yếu tố nào hoặc phương pháp trị liệu nào phù hợp với dạng bệnh nhân khác nhau.

Giáo sư Williams, người phát triển phương pháp trị liệu này đồng thời chỉ đạo nghiên cứu, cho biết: “Chúng ta đang đứng trước việc phát hiện những điều thực sự quan trọng về việc làm thế nào các bệnh nhân có thể duy trì sức khỏe sau trầm cảm. Mục đích của phương pháp trị liệu này là giúp các bệnh nhân có được sự giải thoát về lâu dài khỏi cuộc chiến hàng ngày với trạng thái tâm lý của bản thân”.

Nguồn khoa học

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

Trầm cảm có thể gây ra nhiều nguy hiểm

Bệnh trầm cảm là một biểu hiện của bệnh tâm thần. Bệnh có thể gặp ở bất kì đối tượng nào. Những người thường xuyên gặp áp lực trong cuộc sống, công việc mà không thể giải tỏa thường có nguy cơ rơi vào trạng thái trầm cảm cao.

Ngoài ra, bệnh trầm cảm còn có thể gây ra một loạt các bệnh mãn tính và cấp tính khác như suy giảm hệ miễn dịch, mất ngủ, bệnh tim, đau lưng…

Dưới đây là những hệ quả mà bệnh trầm cảm có thể gây ra cho bạn. Hãy tham khảo để biết cách giải tỏa tâm lý cho mình và khỏe mạnh hơn nhé.

1. Bệnh tim

Bệnh trầm cảm có thể có ảnh hưởng khủng khiếp trên trái tim của bạn. Nếu mức độ trầm cảm là quá nghiêm trọng, nó thậm chí có thể gây tử vong hoặc nhồi máu cơ tim. Đó là bởi vì, khi bạn chán nản, cơ tim của bạn dễ bị viêm do thiếu oxy, có thể dẫn đến cơn đau tim. Vậy nên, những bệnh nhân có vấn đề về tim nên cẩn thận để tránh bệnh trầm cảm dù là trầm cảm ở mức nhẹ nhất.

nhung-nguy-hiem-cho-suc-khoe-do-benh-tram-cam-gay-ra

2. Giảm sức mạnh của hệ miễn dịch

Liên tục bị trầm cảm có thể làm suy yếu sức mạnh của hệ thống miễn dịch và khiến bạn dễ bị cảm lạnh và cúm hơn. Hệ thống miễn dịch bị suy giảm là do hormone gây stress được sản sinh và tồn tại lâu dài trong cơ thể. Điều này cũng giải thích tại sao ngày nay chúng ta dễ bị cảm lạnh và cúm thường xuyên hơn, đó là bởi vì chúng ta thường hay rơi vào trạng thái căng thẳng và chán nản.

3. Mất đi cảm giác ngon miệng

Khi bạn đang chán nản, trầm cảm hay căng thẳng, bạn sẽ có hai xu hướng ăn uống: ăn rất nhiều hoặc là không là không ăn gì cả. Thay đổi trong thói quen ăn uống sẽ dẫn đến thay đổi về cơ chế trao đổi chất và có ảnh hưởng đến sự thèm ăn của bạn, từ đó có thể khiến bạn tăng hoặc giảm cân nhanh chóng.

4. Mất ngủ đêm

Khi bạn chán nản, có thể bạn sẽ cảm thấy khó ngủ do tâm trí bạn không bình tĩnh, liên tục suy nghĩ. Giấc ngủ của bạn cũng dễ bị gián đoạn, dễ tỉnh giấc giữa đêm và khó ngủ trở lại. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự tỉnh táo của bạn, thậm chí còn làm cho tình trạng căng thẳng tăng lên.

5. Nhức đầu và đau lưng

Bệnh trầm cảm thậm chí có thể gây ra đau đầu và đau nhức lưng. Mặc dù bệnh trầm cảm không trực tiếp gây ra đau lưng nhưng nó có thể dẫn đến các hậu quả khác là tăng cân, giảm cân, căng thẳng về thể chất, thiếu ngủ, dinh dưỡng thấp, cơ thể mất nước… và các hệ quả này sẽ kéo theo hệ quả khác là đau đầu và đau lưng.

6. Biến động trong áp lực máu

Khi bạn đang chán nản, cơ thể của bạn tự nhiên phát hành hormone stress như cortisol và epinephrine. Những hormone căng thẳng này có thể ảnh hưởng đến huyết áp và nhịp tim, làm cho động mạch của bạn bị yếu đi. Điều này dẫn đến việc hình thành các mảng bám trong động mạch, ngăn chặn lưu lượng máu và cuối cùng gây ra các cơn đau tim và đột quỵ.

7. Mệt mỏi

Khi bạn đang chán nản, bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và mất năng lượng nhanh hơn. Bạn sẽ không thể thực hiện thậm chí các hoạt động đơn giản do không đủ năng lượng. Tuy nhiên, sự mệt mỏi cũng có thể là do thiếu ngủ hoặc đau nhức.

8. Giảm ham muốn tình dục

Những người đã bị bệnh trầm cảm một thời gian dài có thể gặp rắc rối trong đời sống tình dục, cụ thể là trầm cảm làm suy giảm ham muốn tình dục. Đối với nam giới, hậu quả của bệnh trầm cảm gây ra cho đời sống tình dục có thể là không xuất tinh, với nữ giới là bôi trơn âm đạo không đủ, xuất tinh sớm và rối loạn chức năng cương dương.

Nguồn afamily

Điểm danh những yếu tố đe dọa sức khỏe dân công sở

1. Thiếu ngủ

Thiếu ngủ trong thời gian dài sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, trầm cảm và béo phì, thiếu ngủ có thể làm hại chức năng nhận thức, trí nhớ và hệ miễn dịch, đồng thời còn dẫn tới các tại nạn giao thông. Ngủ không đủ còn làm thay đổi nhịp điệu của sự trao đổi chất, giảm cảm giác ngon miệng.

Người trưởng thành nên đảm bảo ngủ tối thiểu 6,5 tiếng/ngày.

Giải pháp: Nên ngủ ở những nơi ít tiếng ồn, ít ánh sáng. Giảm các hoạt động như online, lướt facebook, đánh máy… trước khi ngủ, duy trì thời gian ngủ cố định.

2. Thiếu chất

Ăn kiêng để giảm béo nên dễ khiến cơ thể thiếu một số chất dinh dưỡng nào đó hoặc thiếu năng lượng. Người lớn mỗi ngày tối thiểu cần 1500kcal, nếu khối lượng công việc nhiều, thì cần khoảng 2000kcal, liên tục bổ sung dinh dưỡng là điều kiện làm việc đạt hiệu quả tối đa.

8-sat-thu-de-doa-suc-khoe-cua-dan-cong-so

Giải pháp: Bữa sáng là bữa quan trọng nhất trong ngày, nhịn ăn sáng có thể khiến bạn hạ đường huyết, dẫn tới thiếu máu hoặc tinh thần giảm sút. Bữa sáng nên ăn những món ít béo, ít muối, nhiều chất xơ, hoa quả, sữa và một số loại thịt và trứng.

3. Thiếu máu

Người thiếu máu không thể được cung cấp đủ oxy, năng lượng cơ thể thiếu sẽ cảm thấy yếu ót, chóng mặt, lo lắng, nếu kéo dài móng tay trở nên rất yếu, sắc mặt nhợt nhạt, thiếu sức sống. Thiếu máu còn khiến não thiếu oxy, trí nhớ kém, hay quên, rối loạn tâm thần và trầm cảm.

Giải pháp: Nên ăn nhiều thịt nạc, gan, sò ốc và ngũ cốc, những thứ này có thể xoa dịu triệu chứng mệt mỏi do thiếu máu gây ra.

4. Trầm cảm

Cơ thể liên tục mệt mỏi và thiếu sức sống có thể khiến bạn mất hứng thú với nhiều việc, hay quên đặc biệt không có những quyết định sáng suốt.

Những người bị trầm cảm thường bị mệt mỏi mãn tính, rối loạn giấc ngủ, khó ngủ, tâm trạng tệ, bất lực, hay khóc, thường muốn tự sát, phải cố gắng rất nhiều mới giải quyết được các công việc hàng ngày, không thể kiểm soát được suy nghĩ.

Giải pháp: Tự đánh giá trạng thái tinh thần tâm lý để điều chỉnh. Nghiêm trọng hơn đến bệnh viện kiểm tra tâm lý.

5. Suy giảm chức năng tuyến giáp

Cảm thấy mệt mỏi khi dậy vào buổi sáng. Dù ngủ 10 tiếng/ngày vẫn không thèm ngủ hoặc nếu không thiết đi một lát sẽ không thể tiếp tục công việc, các triệu chứng này có thể do sự suy giáp gây ra. Còn những người bị cường giáp có thể do buổi tối mất ngủ khiến ban ngày cảm thấy mệt.

Giải pháp: Hãy đi xét nghiệm máu và tự điều chỉnh đồng hồ sinh học của mình.

6. Mất nước

Cơ thể mất nước thể nhẹ sẽ gây mệt mỏi, bởi vì khi thiếu nước lưu lượng máu giảm xuống, lúc này tim phải tăng nhịp đập để duy trì đủ lượng máu. Đừng đợi đến khi khát mới uống nước, bởi vì khi bạn thấy khát, tức là cơ thể bạn đã mất đi 2-3% lượng nước.

Giải pháp: Hãy uống đủ lượng nước cần thiết. Bởi vì nước có thể tăng sức sống cho hemoglobin, cải thiện chức năng miễn dịch.

7. Bệnh tim

Mệt mỏi chính là dấu hiệu cơ thể bắt đầu thiếu oxy, do cảm giác mệt mỏi thường hay gặp nên ít người để ý. Triệu chứng mệt mỏi do bệnh tim gây ra thường khiến tuần hoàn máu kém, chất thải của sự trao đổi chất có thể tích lũy trong cơ thể, kích thích các dây thần kinh gây mệt mỏi.

Giải pháp: Để ý xem cơ thể có mệt mỏi và bị rối loạn giấc ngủ hay không, để sớm phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh tim.

8. Hội chứng mệt mỏi và hội chứng đau xơ cơ

Hội chứng đau xơ cơ là bệnh viêm khớp dạng thấp, 90% người bệnh gặp khó khi ngủ; trên 50% người bệnh cảm thấy mệt mỏi. Triệu chứng thường nặng hơn khi thời tiết chuyển lạnh, tâm lý căng thẳng, mệt mỏi quá mức. Nếu bạn thường xuyên thấy mệt mà không rõ nguyên nhân, hãy đi bệnh viện kiểm tra xem có mắc chứng đau xơ cơ hay không.

Giải pháp: Nên dành 30 phút đạp xe/ngày để giảm bớt tình trạng mệt mỏi của cơ thể.

Nguồn afamily

Bệnh hay gặp ở gan và cách điều trị

Chăm sóc gan bao gồm việc tuân thủ một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn và tránh những thứ gây hại cho gan.

Gan là bộ phận có “nhiệm vụ” giải độc cho cơ thể. Gan có tác dụng làm đông máu nhằm ngăn chặn tình trạng chảy máu trong trường hợp cơ thể bị thương, viêm nhiễm. Gan đóng vai trò quan trọng trong quá trình giúp cơ thể tiêu hóa, trao đổi chất và sản xuất ra những enzym cần thiết cho cơ thể. Ngoài những chức năng trên, gan còn là nơi giúp máu được lưu thông khắp cơ thể. Gan giúp vận chuyển và hấp thu thức ăn. Gan giúp ổn định cảm xúc trong con người bạn (sự tức giận, trầm cảm và lo âu, căng thẳng)… Chăm sóc gan bao gồm việc tuân thủ một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn và tránh những thứ gây hại cho gan.

Rối loạn gan là một vấn đề rất phổ biến mà nhiều người mắc phải. Thông thường phải qua xét nghiệm máu thì người bệnh mới phát hiện ra gan của mình bị suy giảm chức năng. Dưới đây là những bệnh thường gặp về gan:

Hội chứng gan nhiễm mỡ

benh-thuong-gap-o-gan-va-cach-cham-soc-gan-khoe-manh

Đây là loại rối loạn gan rất hay gặp trong cuộc sống hiện đại. Nguyên nhân phát sinh thường do ăn uống không hợp lý, béo phì, tâm lý căng thẳng, sự thay đổi lối sống quá nhanh, gặp nhiều khó khăn. Tất cả những vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến chức năng gan và gây ra hội chứng gan bị suy yếu, gan nhiễm mỡ.

Những người bị hội chứng gan nhiễm mỡ có thể gặp các triệu chứng sau đây: đau cứng cổ và vai, nhức đầu thường xuyên, đau nửa đầu, đau ở vùng bụng, dễ chóng mặt, thiếu năng lượng, mất ngủ, trầm cảm, căng thẳng, rất dễ xúc động, dễ khó chịu, đau bụng hành kinh, cholesterol cao, gan nhiễm mỡ, hội chứng ruột kích thích, vấn đề tuyến giáp, viêm màng dạ con,…

Nóng gan

Đây là loại rối loạn gan do quá nhiều nhiệt sinh ra trong gan, gây ảnh hưởng tới chức năng gan. Các nguyên nhân phổ biến của nhiệt gan là: căng thẳng lâu dài, ăn thức ăn nóng và cay, uống quá nhiều rượu,…

Những người này có thể gặp các triệu chứng sau đây: đỏ mặt, cơ thể nóng, hay hồi hộp, mất ngủ, mơ nhiều, ngủ không sâu, táo bón hoặc đi tiêu chậm chạp, đầy hơi trong bụng, đầy hơi có mùi, ợ nóng, trào ngược axit, khó chịu, kinh nguyệt không đều (chu kỳ thường ngắn hơn) ở phụ nữ và xuất tinh sớm ở nam giới, huyết áp cao, hội chứng ruột kích thích…

Suy gan

Gan hỗ trợ lưu thông máu toàn cơ thể. Khi nồng độ sắt thấp, gan sẽ bị suy. Triệu chứng: khô, rát hoặc ngứa mắt, móng tay trở nên mỏng và dễ gãy, tóc khô, yếu và mỏng và rơi ra dễ dàng, da khô, cứng khớp, mất ngủ, giấc ngủ không sâu (thức dậy suốt đêm), thiếu năng lượng và kinh nguyệt ở phụ nữ thất thường.

Tăng cường sức khỏe cho gan

Y học Trung Quốc truyền thống tin rằng các rối loạn gan sẽ không xuất hiện nếu như bạn có được một lối sống lành mạnh. Hầu hết các rối loạn gan có thể được trị dứt điểm, đặc biệt là ở giai đoạn sớm, điều trị đúng và thường xuyên, vì vậy, bạn cần duy trì sức khỏe của gan thật tốt.

– Thường xuyên đi khám sức khỏe định kì để phát hiện ra bệnh sớm, trong đó có cả các bệnh về gan.

– Cân bằng cuộc sống của bản thân, giảm tải công việc, chú ý tới sức khỏe của bản thân.

– Tập thể dục rất quan trọng trong việc giảm rối loạn gan, tuy nhiên, bạn không nên tập thể dục nặng và quá sức. Bạn nên tập thể dục những bộ môn nhẹ nhàng với ba mươi phút mỗi ngày: bơi lội, yoga, đi xe đạp, nhảy múa với âm nhạc nhẹ nhàng mềm mại… Nếu có thể, tốt nhất là bạn nên thể dục ở ngoài trời là tốt hơn cả.

– Điều chỉnh chế độ ăn uống: Có nhiều loại thực phẩm giúp chức năng gan được phục hồi: cần tây, cà rốt, rau mùi, trà xanh, trà hoa cúc, trà bạc hà, cam, chuối, chanh…

– Bất cứ loại thuốc nào cũng cần dùng theo chỉ định của bác sĩ, tránh dùng quá liều.

– Tránh uống nhiều rượu.

Theo afamily

Sự thật về trầm cảm

1. Không có những mục tiêu cụ thể

Người bị trầm cảm có xu hướng khái quát hóa quá mức và trừu tượng. Đó là lí do tại sao người trầm cảm có xu hướng có nhiều mục tiêu chung chung hơn những người không bị trầm cảm (Dickinson, 2013).

Ví dụ, người trầm cảm có thể nói với bản thân: “Tôi muốn trở nên hạnh phúc”, nhưng điều này không đưa ra chỉ dẫn nào về làm thế nào đạt được hạnh phúc.

Ngược lại, người không bị trầm cảm có nhiều khả năng có những mục tiêu cụ thể như: “Tôi giữ liên lạc với gia đình bằng cách gọi điện cho họ một lần một tuần”.

Vì chúng là những mục tiêu cụ thể, rõ ràng nên có thể đạt được hơn những mục tiêu chung chung.

tram-cam

2. Nghiền ngẫm

Một triệu chứng quan trọng của trầm cảm là sự nghiền ngẫm: khi những suy nghĩ chán nản, thất vọng lặp đi lặp lại trong tâm trí.

Điều không may là bạn không thể yêu cầu một người bị trầm cảm dừng suy nghĩ về những điều gây chán nản; nó thật vô nghĩa. Đó là vì việc điều trị những triệu chứng của trầm cảm một phần là giành quyền kiểm soát với sự chú ý của một người.

Một phương pháp có thể đạt được điều này là sự chú tâm (mindfulness). Chú tâm nói về việc sống trong hiện tại hơn là tập trung vào những hối tiếc trong quá khứ hoặc lo lắng về tương lai.

Một đánh giá gần đây về 39 nghiên cứu về chú tâm phát hiện thấy nó có lợi trong việc điều trị trầm cảm (Hofmann et al., 2010).

3. Học sự chú tâm khi còn là trẻ em

Sự chú tâm rất có lợi trong việc chống lại trầm cảm, vậy tại sao không dạy nó cho trẻ em?

Một nghiên cứu gần đây cho thấy dạy chú tâm trong trường học làm giảm khả năng mắc bệnh trầm cảm ở tương lai (Raes et al., 2013).

Nếu một đứa trẻ có thể học cách kiểm soát sự chú ý của chúng ở độ tuổi còn nhỏ thì chúng sẽ có được món quà này trong suốt quãng đời còn lại của chúng.

4. Trầm cảm che mờ kí ức/trí nhớ

Một trong những triệu chứng ít biết về trầm cảm là ảnh hưởng có hại của nó lên trí nhớ.

Qua nhiều năm, các nghiên cứu cho thấy người bị trầm cảm thì mắc phải những vấn đề về trí nhớ quy nạp, đó là trí nhớ về những sự kiện cụ thể như tên gọi hoặc nơi chốn (Porter et al., 2003).

Nguyên nhân có thể là vì người trầm cảm đánh mất khả năng phân biệt được giữa những kinh nghiệm giống nhau (Shelton & Kirwan, 2013). Nó là mặt khác của xu hướng khái quát hóa quá mức.

Trầm cảm cũng che mờ những kiểu trí nhớ khác, bao gồm khả năng nhớ lại những ý nghĩa và điều khiển qua không gian.

5. Khó nhớ lại những thời điểm tốt đẹp

Vì những khó khăn về trí nhớ và tâm trạng chán nản, nó có thể khó khăn với người trầm cảm để nhớ được những thời điểm tốt đẹp.

Một kĩ thuật có thể giúp người trầm cảm là tạo ra một “lâu đài ký ức” cảm xúc: một nơi lưu giữ trong tâm trí về những kí ức hạnh phúc cụ thể để quay trở lại khi đang ở vào những thời điểm khó khăn.

6. Chủ nghĩa hiện thực trầm cảm

Có một số bằng chứng cho rằng cách người trầm cảm nhìn thế giới là chính xác hơn người không bị trầm cảm: Lý thuyết này được gọi là chủ nghĩa hiện thực trầm cảm (depressive realism).

Người không bị trầm cảm có xu hướng hơi quá lạc quan: họ nghĩ rằng họ thực hiện tốt hơn trong các nhiệm vụ so với thực tế và dự đoán kết quả tốt hơn so với kết quả họ thực sự đạt được trong tương lai (Moore & Fresco, 2012).

Ngược lại, người trầm cảm đánh giá thành tích, khả năng thực hiện của họ chính xác hơn.

Vì vậy, người bị trầm cảm là người sống thực tế hơn.

7. Kiểu suy nghĩ

Mọi người thường nghĩ rằng trầm cảm bị gây ra bởi những sự kiện to lớn, tồi tệ trong cuộc sống.

Điều này đúng, nhưng trầm cảm cũng nói về cách con người phản ứng trước những sự kiện đó và những sự kiện gây stress thông thường hằng ngày.

Trong một nghiên cứu, những người tham gia có những phản ứng cảm xúc to lớn trước những sự kiện tương đối nhỏ thì có nhiều khả năng mắc phải những triệu chứng trầm cảm khi họ được theo dõi 10 năm sau.

Tầm quan trọng của kiểu suy nghĩ, thêm vào đó là yếu tố di truyền và hoàn cảnh sống được ủng hộ bởi nghiên cứu gần đây phát hiện thấy con người suy nghĩ như thế nào về những vấn đề của họ ảnh hưởng đến những mức độ trầm cảm mà họ trải nghiệm (Kindeman et al., 2013).

Tác giả dẫn đầu nghiên cứu, Giáo sư Peter Kinderman giải thích: “Dù chúng ta không thể thay đổi lịch sử gia đình hoặc những kinh nghiệm sống của một người thì chúng ta vẫn có thể giúp họ thay đổi cách nghĩ của họ và dạy họ những chiến lược đương đầu tích cực có thể giảm bớt mức độ stress”.

Theo khoa học

Trầm cảm và đái tháo đường

Trầm cảm là tình trạng rối loạn tâm thần phổ biến nhất có liên quan với đái tháo đường (ĐTĐ). bệnh có thể xảy ra ở nhiều giai đoạn trong diễn tiến tự nhiên của ĐTĐ. Tuy nhiên, đa số người bệnh không được phát hiện và điều trị trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Tỉ lệ trầm cảm trong ĐTĐ là gấp đôi so với dân số chung, với tỉ lệ gộp là 9% nếu chẩn đoán bằng phỏng vấn, và 26% nếu chẩn đoán bằng cách tự chấm điểm triệu chứng trầm cảm theo thang điểm.

tram-cam-va-dai-thao-duong

Tác hại của trầm cảm trong ĐTĐ

Trầm cảm làm tăng 37% nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2.  Ngược lại, ĐTĐ làm tăng 3 lần nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, nhất là ở những người ĐTĐ đã xuất hiện biến chứng.

Nguy cơ tử vong tăng lên gấp 5 lần. Trầm cảm có liên quan với tử vong ngay cả khi bệnh nhân bị trầm cảm nhẹ hoặc chưa có biểu hiện lâm sàng. Bệnh nhân cao tuổi có bệnh ĐTĐ týp 2 và những người có biến chứng thuộc nhóm có nguy cơ cao.

Khi bị trầm cảm, các gánh nặng liên quan đến ĐTĐ được xem là nghiêm trọng hơn, và sự hài lòng với việc điều trị ĐTĐ là thấp hơn. Bệnh nhân có trầm cảm và ĐTĐ thường ít hoạt động thể lực, tăng xu hướng hút thuốc lá, thói quen ăn uống ít có lợi cho sức khỏe và tuân thủ điều trị ĐTĐ kém. Trầm cảm có liên quan đến cách đánh giá tiêu cực về các liệu pháp insulin ở người chưa từng sử dụng insulin, và điều này có thể gây trì hoãn việc điều trị ĐTĐ, chẳng hạn như chậm khởi đầu điều trị bằng insulin trong ĐTĐ týp 2. Trong một nhóm bệnh nhân được lựa chọn ở bệnh viện cho thấy tình trạng trầm cảm kéo dài hơn, tái phát nhiều hơn và mức độ nặng hơn ở người có bệnh ĐTĐ.

ĐTĐ là một bệnh tốn kém, và đồng mắc bệnh trầm cảm làm tăng thêm chi phí chăm sóc sức khỏe lên 4 lần.

Chẩn đoán trầm cảm ở người ĐTĐ

Việc chẩn đoán và điều trị sớm trầm cảm ở người ĐTĐ là rất quan trọng, tuy nhiên trên 50% trường hợp trầm cảm trong ĐTĐ là không được chẩn đoán. Ba lý do khiến bệnh khó phát hiện, đó là: nếu bệnh ĐTĐ là kiểm soát kém cũng có các triệu chứng tương tư như trầm cảm: mệt mỏi, sụt hoặc tăng cân, thay đổi cảm giác ngon miệng, rối loạn giấc ngủ…; người bệnh không tự nhận ra các dấu hiệu trầm cảm, hoặc có biết cũng ít khi thông báo cho bác sĩ; thầy thuốc thiếu sự quan tâm hoặc do khả năng hạn chế.

Trên thực tế, chỉ có khoảng 1/3 số trường hợp trầm cảm ở người ĐTĐ được chẩn đoán. Vì vậy, khi người thân phát hiện người bệnh có các biểu hiện hoặc hành vi bất thường thì nên sớm thông báo cho thầy thuốc.

Các dạng bệnh tâm thần đồng mắc trong ĐTĐ

Các rối loạn tâm thần khác có thể cùng tồn tại với trầm cảm trong ĐTĐ. Tỉ lệ về các rối loạn lo âu và các vấn đề về ăn uống cũng gia tăng ở bệnh nhân ĐTĐ so với những người khỏe mạnh. Vì những rối loạn này có xu hướng đồng xảy ra với trầm cảm trong dân số chung, nên điều này cũng có thể xảy ra trong bệnh ĐTĐ.

Điều trị người trầm cảm và ĐTĐ

Việc đầu tiên là tìm ra các nguyên nhân thực thể gây ra trầm cảm và loại trừ chúng. Các chiến lược đồng chăm sóc sẽ giúp cải thiện sức khỏe người ĐTĐ và trầm cảm, giúp giảm gánh nặng của bệnh. Dùng thuốc chống trầm cảm, cùng với thay đổi lối sống như tập thể lực thường xuyên, chế độ ăn… sẽ giúp cải thiện tốt cho cả bệnh trầm cảm và ĐTĐ. Ngoài ra, người trầm cảm cần có sự quan tâm giúp đỡ của người thân trong gia đình và các chuyên gia tâm lý.

Phòng ngừa trầm cảm ở người ĐTĐ

Mỗi bệnh nhân có những hoàn cảnh riêng biệt và ứng xử với bệnh hoàn toàn khác nhau. Do đó, người bệnh ĐTĐ nên sớm chấp nhận rằng mình mắc bệnh ĐTĐ và cần điều chỉnh một số hành vi sống như: bỏ ngay thuốc lá, giữ tinh thần lạc quan, duy trì luyện tập thể lực, tìm hiểu nhiều về bệnh ĐTĐ và việc điều trị bệnh. Tự chịu trách nhiệm chăm sóc cho chính mình. Đặt mục tiêu điều trị, nhưng nên hiểu rằng cần có thời gian đạt được mục tiêu đó để tránh tâm lý bi quan, chán nản, dễ dẫn đến không tuân thủ chế độ điều trị.

Chia sẻ cảm xúc với người thân trong gia đình và bạn bè, giúp họ hiểu về bệnh ĐTĐ và tạo điều kiện cho mình thực hiện chế độ ăn cũng như các chế độ điều trị và luyện tập một cách nghiêm túc.

Tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ khi có bất kỳ thay đổi nào trong cơ thể, đặc biệt là những tổn thương ở bàn chân để có các biện pháp xử trí kịp thời, tránh nguy cơ cắt cụt chi.

 

BS.CKI. NGUYỄN THANH HẢI

Theo báo công an

Căng thẳng kéo dài có ảnh hưởng như thế nào

Căng thẳng kéo dài thực sự không tốt cho sức khỏe. Nó có thể là nguyên nhân gây ra một loạt bệnh như: huyết áp cao, bệnh tim, bệnh nhiễm trùng, nhức đầu, trầm cảm…

Dưới đây là một vài ảnh hưởng xấu mà bạn phải đối phó khi liên tục rơi vào trạng thái căng thẳng.

1. Tăng cân

Một trong những mối nguy hiểm dễ thấy nhất của căng thẳng là tăng cân. Nhiều phụ nữ có xu hướng đối phó với stress bằng cách ăn liên tục mà không hề chú ý đến những gì mình ăn. Từ đó tăng cân xảy ra và phần lớn là chủ yếu là tích tụ mỡ ở phần bụng. Vì vậy, một mẹo hữu ích để bạn tránh tăng cân là hãy cố gắng giải tỏa căng thẳng.

cang-thang-keo-dai-co-anh-huong-nhu-the-nao

2. Cao huyết áp

Rõ ràng là tình trạng căng thẳng dẫn đến cao huyết áp. Khi bạn căng thẳng, tim bạn phải làm việc với một cường độ cao hơn để đảm bảo cho hoạt động cơ thể diễn ra đúng cách. Nếu tình trạng căng thẳng liên tục kéo dài sẽ làm tăng áp lực trong máu và ngược lại, làm tăng nguy cơ huyết áp cao. Vì vậy, bất cứ khi nào bạn thấy có dấu hiệu căng thẳng, hãy dành vài phút để nghỉ ngơi để huyết áp giảm xuống.

3. Tăng nguy cơ bị bệnh tim

Cùng với huyết áp cao, sự căng thẳng theo thời gian có thể làm cho chúng ta dễ bị bệnh tim mạch và suy giảm sức k hỏe tổng thể nói chung. Hãy chọn những biện pháp đơn giản để đối phó với căng thẳng như: chạy bộ hoặc tập yoga. Các biện pháp này không những rất hữu ích trong việc giảm căng thẳng mà còn làm cho tim bạn khỏe mạnh hơn để ngăn ngừa các bệnh về tim trong tương lai.

4. Nhức đầu

Đau nhức đầu là một trong những nguy cơ tồi tệ nhất của sự căng thẳng. Khi bạn trở nên căng thẳng, cơ thể của bạn gây trở ngại cho não trong việc kiểm soát các suy nghĩ và hành động, khiến bạn đau nhức đầu. Thuốc giảm đau có thể giúp bạn giảm đau tạm thời nhưng cách tốt nhất để ngăn chặn đau đầu sẽ được để có được loại bỏ căng thẳng trong cuộc sống của bạn.

5. Trầm cảm

Một sự nguy hiểm rất phổ biến của căng thẳng là nó có thể khiến bạn buồn bã vô độ và cuối cùng dẫn đến trầm cảm. Sau một thời gian, cơ thể của bạn bị kiệt sức. Vào thời điểm đó bạn không tìm thấy hạnh phúc và không có động lực cho bất kì việc gì. Điều này đặc biệt nguy hiểm bởi vì nếu lý do bạn bị căng thẳng là vì công việc hay chăm sóc trẻ em thì bạn sẽ không có động lực để tiếp tục làm việc, trở nên căng thẳng và nhập vào một vòng luẩn quẩn đó là rất khó thay đổi. Hãy loại bỏ căng thẳng để ngăn chặn tình trạng bệnh tâm thần này rất nghiêm trọng này xảy ra.

6. Nhiều khả năng bị bệnh

Khi cơ thể bạn đang phải chịu nhiều áp lực nó sẽ phải đối mặt với khả năng bị nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do hệ miễn dịch và đề kháng bị suy giảm. Những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất mà bạn có thể mắc phải là từ cảm lạnh thông thường đến viêm phổi. Làm thế nào để cơ thể bạn chống lại được các bệnh nhiễm trùng? Cách tốt nhất là hãy nghỉ ngơi và giải tỏa tâm trạng căng thẳng.

7. Ảnh hưởng đến em bé trong bụng mẹ

Phụ nữ mang thai nếu bị căng thẳng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của em bé. Những đứa trẻ của những người phụ nữ đã trải qua mức độ cực kỳ căng thẳng khi mang thai sẽ có nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn so với những đứa trẻ khác. Đồng thời, chúng cũng có khả năng đối phó với căng thẳng trong cuộc sống kém hơn, sức khỏe cũng yếu hơn so với những đứa trẻ khác. Vì vậy, khi mang thai, hãy tạo cho mình môi trường sống thanh thản, tránh căng thẳng để giảm ảnh hưởng xấu đến em bé trong bụng.

Theo afamily

Trẻ có nguy cơ bị trầm cảm cao nếu từng bị chấn động não

Trẻ em từng tổn thương hoặc chấn động não (thường do chấn thương đầu) có thể bị nguy cơ trầm cảm cao gấp 5 lần so với trẻ bình thường, theo nghiên cứu gần đây tại Hoa Kỳ.

Trong một thống kê của Chương trình giám sát quốc gia về sức khỏe trẻ em, với 81.936 bé được khảo sát, có tần suất bị tổn thương não là 1,9% thì tỉ lệ trầm cảm chung là 3,7%. Nhưng ở những bệnh nhân tổn thương và chấn động não, tỉ lệ cao hơn nhiều: 15%. Sau khi điều chỉnh các yếu tố nguy cơ như thành phần gia đình, chậm phát triển não, sức khỏe thể chất yếu, nguy cơ trầm cảm vẫn cao gấp đôi ở những bé tổn thương và chấn động não.

Teenage Problems, Social Issues and Bullying

Các chuyên gia đề nghị cần theo dõi trong nhiều năm sau khi bé bị chấn động não hoặc thương tổn não. Một khi trẻ được chẩn đoán trầm cảm và kèm theo triệu chứng rối loạn tính khí hoặc cảm xúc, các bác sĩ nhi khoa cần chuyển bệnh nhi đến ngay các chuyên gia sức khỏe tâm thần để được điều trị phù hợp.

ThS.BS MAI VĂN BÔN
(A.A. Pediatrics 2013 National Conference)

Theo tuổi trẻ

Đọc sách – những lợi ích không nhỏ cho sức khỏe

Đọc sách không chỉ giúp nâng cao kiến thức, mà còn vô cùng có lợi cho sức khỏe của bạn

Có phải từ lâu bạn đã bỏ đi thói quen đọc sách? Lướt web hay “nấu cháo” điện thoại đã trở thành thói quen hàng ngày của bạn? Nếu đúng như vậy thì bạn hãy xem xét lại các thói quen của mình nhé.

Thay vì cả ngày ôm máy tính, điện thoại, bạn hãy dành cho mình một thời gian nhất định để đọc sách. Đọc sách không chỉ giúp nâng cao kiến thức, mà còn vô cùng có lợi cho sức khỏe của bạn.

Dưới đây là những lợi ích cho sức khỏe từ việc đọc sách.

1. Phòng chống lão hóa não: Cũng giống như cơ bắp của cơ thể, não bộ cũng cần phải rèn luyện để trở nên tráng kiện và khỏe mạnh hơn. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng đọc sách cũng có thể kích thích não bộ hoạt động liên tục, từ đó phòng ngừa lão hóa não rất tốt.

doc-sach-nhung-loi-ich-khong-nho-cho-suc-khoe

2. Giảm stress: Theo nghiên cứu của “Phòng thí nghiệm trí tuệ” thuộc trường Đại học Sussex (Anh), trong số các cách giảm stress, hiệu quả của việc đọc sách là cao nhất.

Đọc sách có thể khiến mức độ stress giảm tới 68% chỉ trong 6 phút, hiệu quả cao hơn rất nhiều so với nghe nhạc và đi bộ. Các nhà tâm lý cho rằng, khi đọc sách, suy nghĩ của mọi người sẽ tập trung vào văn bản nên thể chất và tinh thần căng thẳng có thể sẽ được thư giãn.

3. Cải thiện trí nhớ: Mỗi một cuốn sách đều có hàng triệu thông tin, bao gồm bối cảnh, cốt truyện, tên nhân vật, những miêu tả chi tiết, nên khi đọc sách não bộ sẽ dễ dàng ghi nhớ những thứ này.

Một khi não liên tục được làm việc với các thông tin, xử lý thông tin thì khả năng nắm bắt, nhạy bén với thông tin cũng tăng lên. Từ đó, trí nhớ của bạn cũng được cải thiện tốt hơn.

4. Lối sống lành mạnh hơn: Một cuộc nghiên cứu ở Mỹ phát hiện, những người thích đọc sách thì cũng sẽ có thói quen nghỉ ngơi hợp lý và thói quen ăn uống lành mạnh hơn.

Nguyên nhân lý giải cho điều này là do nhờ đọc sách, họ học hỏi được vô vàn kiến thức về sức khỏe từ trong sách vở. Mặt khác đọc sách cũng giúp họ quý trọng cuộc sống cũng như yêu quý bản thân mình hơn.

5. Nâng cao sự tập trung: Trong thời đại internet, chúng ta phải hoàn thành rất nhiều nhiệm vụ trong thời gian ngắn như kiểm tra thư, nói chuyện qua mạng, nghe điện thoại… Các hoạt động này diễn ra liên tục có thể khiến bạn làm việc “như một cái máy” và sự tập trung của bạn cũng bị giảm đi.

Nhưng khi đọc sách, mọi sự chú ý của bạn đều tập trung vào những trang sách. Điều này có thể giúp bạn rèn được tính tập trung, chuyên tâm hơn, nâng cao hiệu quả công việc.

6. Điều trị chứng trầm cảm: Các bác sĩ về thần kinh học tại Anh đang thử nghiệm một phương pháp trị liệu chứng trầm cảm mới, đó là đưa ra một danh sách đầu mục các loại sách cho người bệnh. Kết quả là những người chăm đọc sách thì ít bị căng thẳng và trầm cảm hơn những người ít đọc.

Vậy nên, theo các chuyên gia, đọc sách có thể phát huy hiệu quả tích cực đối với những người mắc bệnh trầm cảm ở thể nhẹ hoặc vừa phải.

Kiến thức sức khỏe

Chữa mất ngủ và cách chữa trị

 Giấc ngủ là nhu cầu không thể thiếu với mỗi người, nó tạo diều kiện cho sự nghỉ ngơi tạm thời của não bộ và tất cả các cơ quan trong cơ thể.
Do vậy, nếu ngủ quá ít sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, cuộc sống và công việc của chúng ta. Những phiền phức đầu tiên của chứng mất ngủ là sự căng thẳng thần kinh, cảm giác ức chế, khó chịu, hay cáu gắt, giảm tập trung trong công việc… Ban đầu, những triệu chứng này sẽ ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống hàng ngày, nếu không được chữa trị và khắc phục kịp thời, sẽ gây ra những tổn thương về hệ thần kinh như trầm cảm, tâm thần, gây một số bệnh nguy hiểm như tiểu đường, cao huyết áp, tim mạch, béo phì…

Những nguyên nhân gây mất ngủ cần lưu ý:

1. Mất ngủ do sinh hoạt

– Những lo âu, căng thẳng trong cuộc sống, công việc hàng ngày không được giải tỏa kịp thời sẽ gây cảm giác khó chịu, ức chế cho não bộ, lâu dần dẫn đến khó ngủ và mất ngủ.

– Thói quen hút thuốc lá, uống nhiều cà phê, ăn quá no vào ban đêm gây cảm giác đầy bụng, khó chịu khi ngủ.

– Công việc ca kíp, thường xuyên thức đêm cũng là thói quen không tốt cho một giấc ngủ ổn định và sâu giấc.

– Do phân bổ giờ giấc ngủ không hợp lý, ngủ quá nhiều vào ban ngày, ngủ ít vào đêm.

nhung-phien-phuc-cua-benh-mat-ngu-va-cach-chua-tri

2. Mất ngủ do bệnh lý

– Một số bệnh như viêm xoang, viêm loét dạ dày, đại tràng, zona thần kinh, xương khớp… gây cảm giác đau đớn, ngứa ngáy, khó chịu, làm người bệnh không ngủ được.

– Tác dụng phụ của một số loại thuốc trị bệnh cũng gây ra chứng mất ngủ.

– Ảnh hưởng của các bệnh về hệ thần kinh như trầm cảm, đau đầu kinh niên…

Các cách cải thiện giấc ngủ, hỗ trợ cho chứng bệnh mất ngủ:

Đa số người bệnh khi gặp phải triệu chứng mất ngủ đều tìm đến các loại thuốc ngủ. Phương pháp này có thể cải thiện ngay lập tức giấc ngủ nhưng về lâu dài sẽ gây hiện tượng nhờn thuốc, phụ thuộc vào thuốc và những tổn thương cho hệ thần kinh, có thể gây trầm cảm. Để cải thiện tốt nhất căn bệnh mất ngủ, người bệnh nên thực hiện các phương pháp tự nhiên, giúp cải thiện và nâng cao dần dần chất lượng cũng như thời gian ngủ như:

– Thường xuyên vệ sinh nơi ngủ sạch sẽ.
– Tập thể dục nhẹ nhàng vào buổi tối trước khi đi ngủ.
– Uống 1 ly sữa nóng trước khi đi ngủ: giúp cung cấp axit amin Phenylalanine, Tryptophan giúp ngủ tốt.
– Không ngủ trưa nhiều, tránh tối khó ngủ.

Ngoài ra, một chế độ ăn uống đầy đủ dưỡng chất cũng là một phương pháp lý tưởng giúp bạn cải thiện giấc ngủ của mình. Một bữa ăn cung cấp đầy đủ các vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B, các chất khoáng và axit amin thiết yếu sẽ giúp điều tiết, ổn định giấc ngủ, an thần cho hệ thần kinh, tăng khả năng tập trung, chống mệt mỏi. Cơ thể có thể được bổ sung tất cả các chất dinh dưỡng trên nếu được bổ sung Tảo Mặt trời Spirulina hàng ngày.

Theo các nghiên cứu dinh dưỡng, Tảo Mặt trời là một loại thực phẩm có gần như đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể: lượng đạm chất lượng cao, cấu thành từ 18 trong tổng số 20 axit amin thiết yếu, tập hợp đầy đủ của các vitamin nhóm B từ B1 – B12, các chất khoáng như Sắt, Kẽm, Canxi, Magie… chiếm hàm lượng cao. Tổ Chức Y Tế Thế Giới công nhận: “Tảo Spirulina là thực phẩm bảo vệ sức khỏe tốt nhất của loài người trong thế kỷ 21″.

Nguồn ttvn

Lợi ích không ngờ của hạt tiêu đen

Hạt tiêu đen không chỉ là gia vị hữu ích cho các món ăn, mà còn được biết đến như một vị thuốc có tác dụng ngừa ung thư, chữa cảm lạnh, trầm cảm và giảm cân hiệu quả….

Hạt tiêu đen là một trong những loại gia vị có hương vị mạnh và thơm. Người ta thường thêm tiêu đen xay hoặc hạt tiêu thô vào các món ăn để tăng thêm hương vị. Từ món trứng tráng đến các món chè, hạt tiêu đen được sử dụng cho nhiều mục đích. Đôi khi tiêu đen được sử dụng như một biện pháp để điều trị các vấn đề sức khỏe như ho, đau họng hay cảm lạnh.

Bên cạnh đó, hạt tiêu đen còn đem đến cho bạn nhiều lợi ích sức khỏe khác. Nó là gia vị giúp ngăn ngừa ung thư vú, hỗ trợ giảm cân và chống cảm lạnh. Tiêu đen cũng được sử dụng để điều trị một số vấn đề dạ dày như chứng khó tiêu, đầy hơi, táo bón. Tiêu đen cũng giúp da mịn màng và giảm gàu.

Ăn tiêu đen giúp cơ thể tăng năng lượng. Nó chống lại trầm cảm ở mức độ cao. Vì vậy, nếu bạn cảm thấy đang bị thờ ơ hay chán nản ở mức độ nhẹ, hãy ăn tiêu đen. Dưới đây là một số lợi ích sức khỏe của loại hạt này.
hat-tieu
Ngăn ngừa ung thư vú

Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi Trung tâm Ung thư tổng quát của ĐH Michigan, Anh, tiêu đen ngăn chặn sự phát triển của các khối u ung thư vú. Chất piperine tìm thấy trong hạt tiêu đen giúp ngăn ngừa ung thư. Loại gia vị này cũng chứa vitamin C, A, flavonoid, caroten và chất chống oxy hóa khác, giúp ngăn chặn các gốc tự do gây tổn hại sức khỏe.

Hỗ trợ tiêu hóa

Thức ăn không được tiêu hóa gây ra đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy, táo bón và dư axit. Do đó ăn tiêu đen có lợi cho sức khỏe vì nó làm giảm sự tiết axit clohydric gây ra các vấn đề về dạ dày.

Giảm cân

Đây là một trong những lợi ích sức khỏe của việc ăn hạt tiêu đen. Bởi nó chứa dưỡng chất thực vật mạnh làm phá vỡ các tế bào chất béo đang dần tích tụ trong cơ thể.

Chống lại các vấn đề về dạ dày

Tiêu đen có đặc tính giống như loại thuốc giúp cơ thể “xì hơi”, giúp ngăn chặn sự hình thành của khí trong dạ dày. Hãy thêm tiêu đen cho bữa ăn hàng ngày thay vì ớt bột sẽ giúp giảm đầy hơi, chướng bụng.

Chăm sóc da

Dùng tiêu đen xay nhỏ chà mặt sẽ giúp loại bỏ tế bào da chết và cung cấp nhiều oxy, chất dinh dưỡng cho da. Tính chất kháng khuẩn của tiêu đen giúp ngăn ngừa mụn trứng cá.

Giảm gàu

Hạt tiêu đen có tính chất kháng khuẩn và kháng viêm, do đó làm giảm gàu và giết chết vi khuẩn gây nhiễm trùng da đầu.

Chữa cảm lạnh và ho

Đây là một trong những lợi ích sức khỏe nổi bật của tiêu đen. Hương vị cay của tiêu đen giúp làm loãng đờm và giảm nghẹt mũi.

Chống lại chứng chán ăn

Chán ăn là tình trạng sức khỏe chung và phổ biến, khi đó bạn sẽ không muốn ăn và có cảm giác ăn không ngon. Nếu bạn mắc chứng chán ăn, nên ăn tiêu đen, nó giúp hỗ trợ tiêu hóa và giúp bạn có cảm giác thèm ăn hơn.

Tạo thêm hương vị cho món ăn

Với hương thơm mạnh, nồng và cay, tiêu đen trở thành một trong những gia vị tốt nhất cho những món ăn của bạn.

Chữa bệnh trầm cảm
Piperine trong tiêu đen chính là chất tự nhiên chống lại bệnh trầm cảm. Ăn tiêu đen thường xuyên sẽ giúp não hoạt động tốt hơn, ngăn ngừa chứng trầm cảm.

Theo VnExpress

Nguyên nhân gây mãn dục nam do tuổi tăng và giảm nồng độ testosteron

Mãn dục nam là thuật ngữ để chỉ hậu quả của sự suy giảm nồng độ testosteron trong máu, dẫn tới suy giảm khả năng hoạt động tình dục, rối loạn cương dương, suy giảm sinh tinh và dưỡng tinh cũng như sức khỏe thể chất, tinh thần…

Những biểu hiện mãn dục nam

Biểu hiện của mãn dục nam thường là: giảm ham muốn tình dục, rối loạn cương dương, không giao hợp được, tinh trùng yếu nên khó sinh con, có những rối loạn về hệ thống tim – mạch (như huyết áp cao thấp bất thường, tim đập nhanh, mặt đỏ bừng, hồi hộp… (rối loạn hô hấp); khó thở về ban đêm, ngáy to), loãng xương, rất dễ gãy xương ở những tư thế bất thường hoặc bị các chấn thương dù nhẹ, giảm thể tích và trương lực cơ cho nên lười vận động vì dễ mỏi mệt. Bên cạnh đó toàn thân teo tóp dần, lượng mỡ cơ thể tăng nhất là béo bụng; da mất nước và nhăn nhúm tạo ra các nếp nhăn, mất sự nhạy cảm của các phản xạ tâm thần (trầm cảm, thích cô độc, dễ tủi thân), rối loạn hệ thống tạo máu: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu.
man-duc-nam-gioi
Người bệnh chỉ cần một triệu chứng về tình dục và 2 triệu chứng toàn thân là cần định hướng việc chẩn đoán về mãn dục nam. Tiêu chuẩn vàng để xác định mãn dục nam là lượng testosterone trong máu hạ thấp dưới mức bình thường (bình thường: 10 – 35 nanoml mỗi lít). Vì vậy, để chẩn đoán chắc chắn mãn dục nam thì cần làm xét nghiệm lượng nội tiết tố testosterone.

Nguyên nhân

Khoảng 40% đàn ông tuổi ngoài 40 bị rối loạn sinh lý. Cứ sau 10 năm, tỷ lệ này tăng thêm 10%. Nguyên nhân mãn dục nam là do tuổi tăng, hàm lượng hormon sinh dục nam (testosterone) sản sinh ít hơn.

Không giống như mãn kinh ở nữ giới, giai đoạn quá độ chuyển sang tắt dục của nam diễn ra chậm hơn, có thể kéo dài trong nhiều thập niên. Cách sống, những stress tâm lý, uống nhiều rượu, bị chấn thương hay trải qua nhiều lần phẫu thuật, dùng các loại thuốc, béo phì, nhiễm khuẩn… đều là những yếu tố góp phần vào sự bộc lộ hiện tượng mãn dục.

Mãn dục nam ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi lối sống, phong tục tập quán của chính con người. Tại các nước phương Đông, do thói quen “khép kín” đời sống tình dục, lại kiêng kỵ khi gặp sự cố và ít nhiều nam giới hay mặc cảm nên bỏ qua sự thăm khám sức khỏe khiến bệnh càng trầm trọng hơn.

Có nhiều bác sĩ thừa nhận rằng đàn ông ở độ tuổi trung niên sẽ phải trải qua những thay đổi, nhưng họ lại cho rằng những thay đổi này là do tâm lý chứ không phải do các hormon gây ra.

Những thay đổi này xuất hiện khi người đàn ông cảm thấy họ không còn trẻ nữa, các nếp nhăn bắt đầu xuất hiện, tóc thưa dần và cơ thể ngày càng mập lên.

Bên cạnh đó, những bất hòa trong cuộc sống vợ chồng, rắc rối trong công việc, vấn đề tài chính, bệnh thiếu máu, rối loạn tuyến giáp, suy nhược cơ thể và nghiện rượu cũng là những nguyên nhân gây ra tình trạng này.

Các yếu tố thuận lợi đưa đến mãn dục nam gồm một số bệnh như đái tháo đường, suy tuyến yên, các khối u vùng tuyến yên – tinh hoàn, u tuyến thượng thận và các khối u ở các phủ tạng khác; tinh thần căng thẳng, stress, lo lắng, mất ngủ, ăn uống không điều độ, lười vận động thân thể; một số thói quen xấu: nghiện rượu, thuốc lá, ma túy…; dùng nhiều các loại thuốc có tính chất kháng androgen và dùng kéo dài (ví dụ dùng quá nhiều nội tiết tố estrogen…).

Các phương pháp cải thiện tình trạng mãn dục nam

Các quý ông khi gặp phải tình trạng về mãn dục nam, nên sớm đến cơ sở y tế uy tín để được tư vấn, khám và điều trị hợp lý. Các bác sĩ nhận định rằng, bệnh mãn dục nam có thể chữa trị ngay từ giai đoạn sớm.

Liệu pháp hormon thay thế

Muốn điều trị chứng mãn dục ở nam giới thì cần phải xác định rõ nguyên nhân. Nếu là do giảm nội tiết tố nam (androgen) thì người ta có thể dùng hormon testosterone để thay thế. Loại hormon thay thế này xuất hiện dưới dạng miếng dán trên da, thuốc viên hay thuốc tiêm. Nhiều bệnh nhân sau khi được chữa trị bằng phương pháp này cho biết tình trạng của họ đỡ hơn rất nhiều.

Để điều trị tình trạng này, một phương pháp được đánh giá cao hiện nay là sử dụng liệu pháp thay thế hormon nam giới. Phương pháp này có tác dụng làm giảm các triệu chứng khó chịu và cải thiện chất lượng cuộc sống, không có rủi ro và đã được kiểm chứng qua các nghiên cứu lâm sàng và thực tế điều trị.

Liệu pháp testosterone thay thế (TRT) có thể điều trị các triệu chứng bao gồm: giảm ham muốn tình dục, cơ thể rụng tóc, trầm cảm, giảm năng lượng, giảm tự tin, rối loạn giấc ngủ và giảm khối lượng cơ bắp. Tuy nhiên, để thực hiện liệu pháp này, cần kiểm tra kỹ lưỡng và có sự tư vấn của bác sĩ. Bởi vì phương pháp này có thể gây ra một số tác dụng phụ tiềm ẩn như viêm tắc tĩnh mạch, đông máu, gia tăng độc tính máu, gan và làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.

Chính vì vậy, liệu pháp trên chỉ thích hợp cho những người bị thiếu hụt testosterone do không sản xuất được testosterone hoặc chỉ sản xuất ở một mức độ vô cùng thấp. Đối với những người có mức testosterone bình thường, không nên dùng testosterone bổ sung. Cơ bắp chỉ có được từ một chế độ tập luyện nghiêm túc, kèm theo một chế độ dinh dưỡng thích hợp.

Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào cho thấy những thay đổi tích cực này là do tác dụng của thuốc hay là do tâm lý. Liệu pháp chữa trị bằng việc bổ sung hormon không được áp dụng bừa bãi vì nó có liên quan đến sự phát triển của các tế bào ung thư tuyến tiền liệt.

Ngoài ra những phương pháp chữa trị khác cũng cần phải có sự giám sát chặt chẽ của các bác sĩ chuyên khoa.

Thay đổi lối sống của bạn

Những người duy trì các hoạt động thể chất còn có thể duy trì sinh hoạt tình dục và sự trẻ trung. Tập thể dục 30 phút mỗi ngày có thể cân bằng hàm lượng hormon và thúc đẩy sức khỏe. Tập luyện cũng là liệu pháp điều trị cho những người bị giảm nồng độ testosterone. Các hoạt động thể chất như: đi bộ, đi xe đạp, chạy và tham gia các lớp học thể dục là một trong những cách tốt nhất giúp tăng hoạt động thể chất. Tăng cường vận động thể dục thể thao thường xuyên, tích cực tham gia các môn thể thể thao như chạy bộ, bóng bàn, cầu lông, bơi lặn, tennis… giúp cơ thể dẻo dai, các cơ bắp được săn chắc, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, hạ cholesteron trong máu, nhằm kéo dài độ sung mãn của cơ thể.

Tình trạng quá tải caffeine, rượu và thuốc lá cũng liên quan đến andropause, vì chất nicotine trong máu và caffeine trong cà phê làm các mạch máu bị thu hẹp lại, từ đó có thể dẫn đến những tổn hại cho các động mạch và tĩnh mạch. Những mạch máu bé nhỏ ở dương vật cũng rất dễ bị tổn hại. Vì vậy, bạn nên giảm lượng caffeine, hạn chế uống rượu, bỏ thuốc lá để khắc phục tình trạng này.

Chế độ ăn tăng cường kẽm

Kẽm đặc biệt cần thiết cho hệ thống nội tiết tố và sức khỏe tình dục nam giới. Đàn ông khi bước vào tuổi 50 trở lên, nồng độ kẽm trong cơ thể giảm một cách tự nhiên. Sự thiếu hụt kẽm có thể dẫn đến sự mất cân đối, từ đó dẫn đến giảm ham muốn tình dục và ung thư tuyến tiền liệt. Nguồn thực phẩm giàu kẽm bao gồm: gan, hải sản, thịt nạc, các loại hạt, trứng và ngũ cốc, đặc biệt là hàu có chứa lượng kẽm cao. Ngoài ra, bạn có thể bổ sung kẽm bằng cách uống kẽm, tuy nhiên cần phải tham khảo ý kiến bác sĩ.
Ngoài ra, đàn ông trung niên cũng cần tăng cường dưỡng chất, ăn uống, bổ sung dầu cá và ăn các loại cá như cá hồi, cá ngừ… là thức ăn giàu axit béo omega 3, giúp giảm mãn dục nam và tốt cho tim mạch. Bên cạnh đó, cần tăng cường trái cây, rau quả trong khẩu phần ăn hàng ngày, nhất là cà chua, bởi đây là loại quả giàu lycopene, rất hữu ích cho tuyến tiền liệt và hệ thống sinh sản nam giới. Không nên dùng các chất kích thích và thức uống nhiều cồn để giảm thiểu tình trạng khó chịu, mất ngủ, lo lắng. Thực phẩm và trái cây có trái màu đỏ cũng tốt cho nam giới tuổi trung niên.

Theo sức khỏe đời sống

Phòng bệnh nguy hiểm có nguy cơ di truyền cao

Tiểu đường, huyết áp, bệnh tim, viêm khớp, ung thư, ….là những bệnh di truyền phổ biến nhất. Do vậy nếu trong gia đình có người bị bệnh bạn nên có biện pháp phòng ngừa là hết sức cần thiết.

Bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường là một rối loạn di truyền, vì vậy nếu cả bố và mẹ mắc bệnh tiểu đường thì con có nhiều nguy cơ mắc bệnh. Nếu một trong hai bố hoặc mẹ mắc bệnh thì sẽ làm tăng nguy cơ ở con chứ không chắc chắn. Chế độ ăn uống, lối sống, béo phì cũng là nguyên nhân gây ra bệnh tiểu đường.

Vì vậy, với những người có tiền sử gia đình bị bệnh tiểu đường thì nên bắt đầu thực hiện các thay đổi nhỏ trong lối sống của mình như cắt giảm lượng đường, tăng lượng chất xơ trong chế độ ăn uống và tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày, năm ngày một tuần.

Bệnh cao huyết áp

Theo thống kê của nhiều tác giả cho thấy bệnh cao huyết áp có thể có yếu tố di truyền. Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh cao huyết áp thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn. Vì vậy, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị cao huyết áp càng cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ mới có thể phòng tránh được bệnh cao huyết áp.

Điều này có thể được thực hiện bằng cách tập thể dục, ngồi thiền và tập thở. Đồng thời cũng nên giảm lượng muối tiêu thụ hàng ngày bằng cách tránh các thực phẩm đóng gói và những thực phẩm có chất bảo quản.
benh-tim
Bệnh tim

Nếu một trong hai người, cha hoặc mẹ bạn có bệnh tim, thì nguy cơ bạn bị bệnh là khó tránh khỏi. Nếu bạn hút thuốc hoặc uống rượu, nguy cơ của bệnh tim mạch còn cao hơn. Bạn có thể bắt đầu bằng cách giữ một mức cholesterol ổn định sau khi 30 tuổi.

Do vậy, bạn cũng nên giữ cho trọng lượng của mình ở mức vừa phải và bắt đầu tập thể dục để giảm lượng chất béo không lành mạnh trong chế độ ăn uống để giữ cho trái tim khỏe mạnh.

Bệnh xương khớp

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh phổ biến và có tính chất di truyền. Với những người có mẹ đã bị viêm khớp thì sẽ có nguy cơ bị bệnh này cao hơn 50% so với người bình thường. Mặc dù các liên kết di truyền là thấp, nhưng nó có thể được truyền từ cha mẹ cho con. Để ngăn ngừa các bệnh về khớp, nên bổ sung các khoáng chất trong chế độ ăn uống như canxi và phốt pho trong chế độ ăn uống của bạn. Các bài tập như đi bộ hoặc chạy sẽ giữ cho đầu gối của bạn luôn trong tình trạng tốt. Duy trì tư thế đúng để bảo vệ cột sống tránh các thiệt hại.

Nếu mẹ của bạn đã được chẩn đoán dễ bị bị loãng xương, gãy xương hoặc thậm chí chỉ đơn giản là xương mỏng, nhỏ xương… thì bạn cũng cần chú ý đến sức khỏe của xương của mình. Cấu trúc xương bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tính di truyền và có tính tương quan đáng kể về kích thước, độ dày, mật độ xương. Mức độ loãng xương của mẹ bạn có thể cho bạn biết kích thước hay độ dày của xương, bạn có nguy cơ loãng xương hay không. Nhưng việc chăm sóc xương khỏe mạnh lại phụ thuộc vào bạn vì sức khỏe xương của bạn còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường, thói quen sống, bệnh tật mà bạn mắc phải.

Vấn đề thị lực

Theo nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, các vấn đề phổ biến về mắt phần lớn là di truyền. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là trẻ em đọc và chơi vi tính quá nhiều. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng di truyền vẫn là yếu tố chính.

Nếu trẻ cónhững triệu chứng như đau đầu, nheo mắt khi đọc sách, xem tivi hoặc chảy nước mắt khi học bài thì nên đưa trẻ đến bệnh viện thăm khám sớm.

Hói đầu

Hói đầu là hiện tượng phổ biến ở đàn ông, hiện tượng này có thể do gen của bố hoặc mẹ hoặc cả hai bên biến đổi di truyền. Gen di truyền chính là một trong những nguyên nhân của rụng tóc, hói đầu, song điều này có thể ngăn chặn nếu biết chăm sóc tóc từ sớm.

Phụ nữ bị rụng tóc do di truyền thường có xu hướng tóc mỏng và thưa dần ở vùng quanh chỏm đầu trở xuống. Hiện nay, các bác sĩ da liễu có thể kiểm tra mô hình rụng tóc để xác định xem đó có phải do di truyền hay không, đồng thời có thể yêu cầu xét nghiệm máu để loại trừ các nguyên nhân khác. Với tình trạng này, đã có thuốc bôi da đầu cho cả nam và nữ giới để làm chậm việc rụng tóc.

Ung thư vú

Ung thư vú có thể xảy ra với bất kỳ ai. Nhưng nếu trong gia đình đã có các trường hợp ung thư vú thì khả năng xảy ra còn cao hơn. Đó là bởi vì các gen gây ung thư có thể được truyền từ mẹ sang cho con gái. Vì vậy, nếu mẹ hoặc bà của bạn đã bị ung thư vú, bạn sẽ cần thường xuyên quan tâm hơn đến ngực của mình và tiến hành các xét nghiệm cũng như chụp chiếu cần thiết theo định kì.

Stress

Nghiên cứu của các nhà khoa học Anh đã tìm ra bằng chứng chắc chắn đầu tiên cho thấy biến thể gen có thể là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm ở người.
Vì vậy, nếu người thân trong gia đình có tiền sử bệnh trầm cảm, hưng cảm, rối loạn tâm thần… thì phải chú ý xem trẻ nhỏ có tình trạng khóchịu, lo lắng, sự tập trung giảm sút và chánăn hay không để gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.

Theo VnMedia

Dấu hiệu trầm cảm của chị em phụ nữ

Những người thích những hoạt động nghiệp dư, một khi có chứng trầm cảm rất dễ bị mọi người xung quanh nhận ra. Tuy nhiên, kể cả người không có bất cứ sở thích ngoài lề nào, nếu công việc thường ngày áp lực, cuộc sống hưởng thụ hay giải trí đều không có hứng thú, không cảm nhận được niềm vui, tức là có thể khẳng định hứng thú giảm sút hoặc mất đi hoàn toàn. Đây là một triệu chứng biểu hiện của trầm cảm.

Hứng thú giảm sút, thậm chí biến mất

Những người thích những hoạt động nghiệp dư, một khi có chứng trầm cảm rất dễ bị mọi người xung quanh nhận ra. Tuy nhiên, kể cả người không có bất cứ sở thích ngoài lề nào, nếu công việc thường ngày áp lực, cuộc sống hưởng thụ hay giải trí đều không có hứng thú, không cảm nhận được niềm vui, tức là có thể khẳng định hứng thú giảm sút hoặc mất đi hoàn toàn. Đây là một triệu chứng biểu hiện của trầm cảm.
tram-cam
Cảm giác vô vọng

Người thường cảm thấy mọi thứ rất tồi tệ, tiền đồ tối tăm ảm đạm, tất cả đều không chút hi vọng hay cảm giác vô vọng luôn ùa đến. Tương phản với điều đó, người bình thường luôn có nhiều hi vọng, ví dụ như học tập tiến bộ, sự nghiệp có thành tựu, gia đình mạnh khỏe vvv. Đồng thời cũng có nhiều nguyện vọng nhỏ như tiết kiệm mua đồ thương hiệu, thưởng thức liveshow ca nhạc, đi du lịch đến vùng đất xa xôi… Tóm lại, mất đi niềm hy vọng vào tương lai là một biểu hiện của trầm cảm.

Cảm giác lẻ loi, không ai giúp đỡ

Cảm giác này thực sự đau khổ, đặc biệt họ khó biểu hiện ra và không ít người không muốn đi khám bác sỹ vì họ xác định bác sỹ không thể giúp gì được. Họ luôn cảm thấy họ không giống với những người khác, tựa hồ như đã rời bỏ khỏi trần gian rơi vào một vực sâu thâm cốc và tất cả đã không thể cứu vãn, không ai giúp đỡ được.

Những người như vậy có cuộc sống một ngày dài như một năm, luôn lẻ loi, cô đơn, luôn xa lánh với những người khác. Đây chính là một biểu hiện nổi trội của trầm cảm

Bình luận thấp bản thân

Những người cảm thấy bản thân mình trên thực tế chẳng có tài năng hay không làm tốt bất cứ việc gì kể cả việc nhỏ và đơn giản nhất. Họ luôn cho rằng mình là đồ thải, kiến thức của mình đã sụt giảm trầm trọng hay thậm chí là cảm giác tội lỗi tràn đầy, tội ác tràn ngập và chìm trong cảm giác ấy. Đây cũng là một biểu hiện tiếp theo của trầm cảm.

Mất đi linh hoạt

Họ cảm thấy toàn bộ con người của họ đã sụp đổ, nổ tung, tan ra như xác pháo. Họ xác định rõ cảm giác đó không phải là cơ thể họ không có sinh lực mà là tinh thần của họ đã mất đi động lực, làm việc gì (kể cả vệ sinh cá nhân) đều cần người khác thúc giục hoặc họ đẩy sang một bên không quan tâm, bản thân không muốn động đến cái gì.

Không ít người vật lộn, đấu tranh để hưng phấn hơn lên, nhưng đều kiên trì không nổi. Người bệnh cho rằng họ đã ở trong “một vũng bùn lầy, không ai kéo lên được”.

Cuộc sống không có ý nghĩa

Không phải phương thức cuộc sống không có ý nghĩa mà chính là họ cảm nhận cả cuộc đời nhân sinh cơ bản là vô nghĩa. Không chỉ như vậy mà còn nhận thấy sống tức là chịu tội tạo nghiệp ác, sống không bằng chết, họ thường xuyên âm ủ ý định tự sát, thậm chí thực hiện tự sát.
Bất cứ có một biểu hiện nào rõ ràng và nổi trội trong 6 biểu hiện trên, chúng ta đều nên nghĩ đến khả năng bị trầm cảm. Trầm cảm là một loại bệnh tổng hợp, đương nhiên không chỉ có một dạng triệu chứng, có thể có triệu chứng không rõ ràng. Nếu có nghi ngờ, khó xác định, chúng ta nên lập tức đi khám bác sỹ.

Theo Dân trí

Nguyên nhân và cách điều trị bệnh trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh (postpartum depression) là một tình trạng bệnh tương đối nghiêm trọng có thể xảy ra trong vòng vài tháng đầu tiên sau khi sinh. Nó cũng có thể xảy ra sau khi người mẹ bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Trầm cảm sau sinh có thể khiến bạn cảm thấy rất buồn bã, tuyệt vọng và cảm thấy mình không còn giá trị gì nữa (vô dụng). Và điều này có thể khiến bạn gặp trở ngại trong việc chăm sóc và tạo mối liên kết tình mẫu tử giữa đứa bé và bạn.

Trầm cảm sau sinh không đơn giản chỉ là tình trạng trầm uất, chán nản mà nhiều phụ nữ gặp phải trong vài tuần đầu sau khi sinh. Với tình trạng trầm uất, chán nản bạn có thể sẽ cảm thấy khó ngủ, tính khí thất thường, đôi khi khóc. Những cảm xúc này cũng sẽ đi kèm với cảm giác hạnh phúc và tự hào về đứa con bé bỏng. Nhưng tình trạng trầm uất, chán nản này thường không kéo dài lâu và biến mất trong vòng vài tuần. Nếu kéo dài trong vòng vài tháng thì đó chính là triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh.

tramcam1

Trong một số trường hợp hiếm gặp thì người mẹ có thể mắc phải dạng trầm cảm nghiêm trọng, thường được gọi là chứng loạn trí sau sinh. Người mẹ có thể có những hành động bất thường, nhìn thấy hay nghe thấy những thứ không hiện diện trong thực tại, và có thể là một mối nguy hại cho chính mình và cho con mình. Trường hợp này cần phải cấp cứu ngay bởi tình trạng bệnh có thể diễn tiến xấu đi rất nhanh gây nguy hiểm cho người mẹ hay những người xung quanh.

Điều quan trọng là phải nhanh chóng điều trị tình trạng trầm cảm ở người me, bởi vì thời gian điều trị càng sớm thì khả năng sớm hồi phục càng cao.

Nguyên nhân của chứng trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh được cho là bắt nguồn từ sự thay đổi ngưỡng hormone trong cơ thể người phụ nữ xảy ra sau thai kỳ. Bất kỳ người phụ nữ nào cũng có thể mắc chứng trầm cảm này trong vòng vài tháng đầu sau sinh, sau khi bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Bạn sẽ có nguy cơ cao bị mắc chứng trầm cảm sau sinh nếu :

Bạn đã bị trầm cảm hoặc là trầm cảm sau sinh trước đó

Bạn không có được sự hỗ trợ tốt từ người bạn đời, bạn bè hay người thân

Bạn bị bệnh hay là bị đau bụng trong khi mang thai

Bạn bị nhiều căng thẳng khác trong cuộc sống.

Bạn sẽ dễ mắc chứng loạn trí sau sinh nếu bạn hay bất kỳ thành viên nào trong gia đình mắc phải chứng rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder).

Các triệu chứng

Các triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ có thể là :

Cảm thấy buồn, tuyệt vọng và trống rỗng. Một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy lo lắng.

Mất hứng thú vào các hoạt động thường ngày

Không có cảm giác đói và có thể sụt cân ( nhưng một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy đói hơn bình thường và ăn rất nhiều, dẫn đến tăng cân)

Khó ngủ

Không thể tập trung được

Những triệu chứng này có thể xảy ra vào ngày đầu tiên hay là ngày thứ 2 sau sinh. Hoặc là chúng có thể theo sau các triệu chứng của tình trạng trầm uất sau sinh vài tuần.

Một phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sinh có thể cảm thấy như là mình bị tách xa ra khỏi đứa con. Bà mẹ có thể tưởng tượng ra những hình ảnh và âm thanh hoàn toàn không có thực (ảo giác và ảo thanh). Bất kỳ người phụ nữ nào bị mắc chứng trầm cảm sau sinh đều có suy nghĩ thoáng qua về việc tự tử hoặc là làm hại đứa con của mình. Nhưng những phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sanh có thể có cảm giác như là có ai đó ép buộc mình phải hành động theo những suy nghĩ phải tự tử và làm hại con mình.

Làm thế nào chẩn đoán trầm cảm sau sinh

Bác sĩ sẽ thăm khám và hỏi về các triệu chứng bệnh của bạn.

Hãy thành thật kể cho bác sĩ nghe về mọi cảm xúc chán nản, trầm uất trong lần thăm khám đầu tiên sau khi sinh. Bác sĩ muốn theo dõi xem liệu cảm xúc của bạn đang diễn ra ra sao.

Điều trị như thế nào ?

Trầm cảm sau sinh có thể được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm hoặc là bằng liệu pháp tâm lý. Với tình trạng trầm cảm nhẹ thì có thể chỉ cần dùng liệu pháp tâm lý là đủ. Nhưng đa phần các trường hợp phải dùng kết hợp cả hai liệu pháp thuốc và liệu pháp tâm lý lại với nhau. Nhiều thuốc chống trầm cảm đã được chứng minh là an toàn cho đứa trẻ trong giai đoạn bú sữa mẹ.

Để tự giúp bản thân cảm thấy tốt hơn, hãy cố gắng ăn uống điều độ, tập thể dục mỗi ngày, và ngủ đủ giấc. Tìm kiếm sự giúp đỡ từ gia đình và bạn bè nếu có thể.

Đừng cảm thấy buồn hay chán nản vì bạn bị mắc chứng bệnh này. Đều đó không có ngĩa rằng bạn là một là một người mẹ tồi. Bởi rất nhiều phụ nữ mắc phải chứng trầm cảm sau sinh này. Có thể sẽ mất thời gian, nhưng chắc chắn là bạn sẽ khá hơn sau khi được điều trị.

Nguồn sức khỏe đời sống

Nhận biết các biểu hiện của trầm cảm

”Nếu bạn đang ở vào thời điểm mà bạn nghĩ rằng mình cần có 1 liệu pháp hỗ trợ thì rất có thể bạn đang bị trầm cảm”, Tracey Lipsig Kite, một chuyên gia liệu pháp tâm lý Mỹ, cho biết.

Nhiều người bị trầm cảm bị cơ và đau khớp, đau đầu và mệt mỏi Biểu hiện của trầm cảm Trầm cảm là một bệnh kết hợp của những cảm xúc đặc trưng: buồn bã, sự thờ ơ, cảm giác vô dụng và đánh mất đi sự quan tâm đối với các hoạt động xã hội. Những cảm giác này có thể kéo dài đến 2 tuần hoặc tiếp tục trong nhiều năm sau. Sự khác nhau giữa sự chán nản và bệnh trầm cảm là sự kéo dài và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng.

tram-cam_16-26910

Trầm cảm không có nghĩa là lúc nào cũng có những cảm xúc tồi tệ. “Dễ cáu kỉnh là một trong những triệu chứng điển hình của trầm cảm”, ông Rakesh Jain, MD, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu lâm sàng (Texas, Mỹ), nói. Các bác sĩ cũng thường bỏ qua các biểu hiện thể chất trong khi đó 67-69% người bị trầm cảm bị đau cơ, khớp, đau đầu và mệt mỏi. Sharon Charles Haznedar, Giám đốc hành chính Các dịch vụ y tế công New York cho biết trầm cảm là căn bệnh âm thầm và thường làm cho nạn nhân không thể yêu cầu sự giúp đỡ. “Tôi đã từng gặp những bệnh nhân nói rằng họ cần có 1 kế hoạch để đi qua 1 căn phòng”. “Trầm cảm rút cạn năng lượng của một người. Việc đi khám, tìm hiểu về lịch khám và điền thông tin vào tờ đơn có thể là rất khó khăn khi bạn bị trầm cảm”. Sự khác nhau về giới tính trong trầm cảm Phụ nữ mắc trầm cảm cao gấp đôi nam giới.

Tuy nhiên, nam giới thường có xu hướng tự tử do bệnh nặng hơn. Trầm cảm sinh ra trầm cảm Như một vết thương hở hay gãy xương, trầm cảm không thể tự khỏi. Một nửa số người có biểu hiện trầm cảm đã không uống thuốc chống trầm cảm sẽ dễ tái hơn. Và sự tái phát lần 2 sẽ làm tăng nguy cơ của lần 3. Và sau 3 lần bị trầm cảm mà không uống thuốc sẽ có tới 90% nguy cơ tái phát ở lần thứ 4. Và cứ như vậy, những lần tái phát sau sẽ nặng và thường xuyên hơn. Vậy nên nếu nghĩ mình bị trầm cảm thì cần đi khám ngay.

Theo dantri/Health