Tag Archives: tin tức

Bệnh dạ dày nào thường gặp nhất

Áp lực từ công việc, căng thẳng trong cuộc sống, chế độ ăn uống bất hợp lý, đều có ảnh hưởng lớn đến khả năng hoạt động tự nhiên của cơ thể, gây ra các bệnh về dạ dày.
Các bệnh về dạ dày phổ biến nhất là bệnh viêm loét dạ dày và trào ngược dạ dày.

Viêm loét dạ dày – tá tràng
Nhiều năm chạy chữa bệnh đau dạ dày không khỏi, chị Loan nhân viên kế toán của một công ty liên doanh nước ngoài ở Đông Anh, Hà Nội vẫn phải sống chung với tình trạng đau thượng vị, ợ hơi.

Do đặc thù công việc, chị phải chịu nhiều áp lực, ăn uống thất thường, không có giờ giấc. Có những hôm nhiều việc chị thường xuyên bỏ bữa hoặc chỉ ăn cái bánh mỳ lót dạ. Chính vì chế độ sinh hoạt thiếu điều độ, mât cân bằng nên bộ máy tiêu hóa xuất hiện những triệu chứng khó tiêu, đau thượng vị.

Chủ quan chị tự mua men tiêu hóa về uống mỗi khi thấy đầy bụng, khó tiêu. Nhưng cũng chính vì chị để tình trạng này kéo dài nên bệnh ngày càng nặng, lúc đói hay ăn hơi quá một tý dạ dày lại đau quặn. Đến cơ sở y tế khám chị được chẩn đoán loét dạ dày – tá tràng.
nhung-benh-ve-da-day-thuong-gap-nhat
Trong cuộc sống hiện đại, những trường hợp như chị Loan không hiếm, thậm chí còn khá phổ biến, đăc biệt là người làm việc văn phòng.

Khi bị loét dạ dày – tá tràng thường có dấu hiệu ban đầu là ợ hơi, ợ chua, chậm tiêu hóa… đau thượng vị theo chu kỳ, rõ ràng nhất là khi ăn thức ăn chua, cay hay khi bị căng thẳng thần kinh. Đặc biệt, nếu không chữa trị kịp thời bệnh nặng sẽ dần chuyển sang mạn tính rất khó điều trị và dễ gây biến chứng như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày – tá tràng, hẹp môn vị…

Trào ngược dạ dày – thực quản
Không phổ biến như viêm loét dạ dày – tá tràng nhưng trào ngược dạ dày – thực quản cũng có khuynh hướng gia tăng nhanh theo lối sống hiện đại, công nghiệp hóa.

Chị Minh Phương ở Gia Lâm, Hà Nội lo lắng đi khám bác sĩ vì suốt thời gian dài chị mắc chứng ợ nóng, ợ chua, nôn mửa rất khó chịu. Không những thế, chị còn mắc chứng khó nuốt, chị luôn có cảm giác thức ăn, nước uống mắc nghẹn ở ức ngay khi nuốt… ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe. Bác sĩ cho biết chị bị trào ngược dạ dày – thực quản cần điều trị ngay tránh diễn biến xấu, phức tạp.

Bệnh trào ngược dạ dày – thực quản là tình trạng trào ngược từng lúc hay thường xuyên các chất từ dạ dày lên thực quản, bệnh không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân mà còn có nguy cơ gây ra những biến chứng nặng nề như loét, hẹp, chảy máu thực quản, thậm chí dẫn tới ung thư. Việc chẩn đoán sớm, điều trị hợp lý và kịp thời giúp giảm thiểu biến chứng nguy hiểm.

Với các triệu chứng điển hình như ợ nóng, ợ chua, nôn, khó nuốt dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở bộ máy tiêu hóa việc xác định đúng bệnh rất quan trọng. Những người uống rượu, hút thuốc, ăn thức ăn nhiều gia vị, mỡ, cà phê, sô-cô-la; người béo phì, đái tháo đường, phụ nữ có thai… nguy cơ bị trào ngược dạ dày – thực quản cao hơn.

Chủ động phòng các bệnh lý của dạ dày
Dạ dày là cơ quan tiêu hoá trực tiếp xử lý thức ăn hàng ngày, dạ dày bị tổn thương không chỉ làm xáo trộn mọi sinh hoạt còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm.

Theo Ths.bs Trần Thị Khánh Tường, bộ môn Nội, Đại học Y Hà Nội nên phòng bệnh hơn chữa bệnh. Dù công việc bận rộn cũng cần sắp xếp thời gian biểu phù hợp và tạo thói quen sinh hoạt khoa học.

Chú ý chế độ ăn uống: Ăn đúng giờ, không được bỏ bữa, khoảng cách giữa các bữa ăn khoảng 5 giờ đồng hồ, không ăn quá no, không nên ăn quá nhiều vào buổi tối, không nên vừa ăn vừa uống nước, đọc báo hay xem tivi. Ăn chậm, nhai kỹ và đừng vội vận động ngay sau bữa ăn, thư giãn khoảng 30 phút rồi mới vận động.

Kiêng uống các đồ uống có vị chua, rượu bia, không hút thuốc lá, uống các chất kích thích… Ăn canh sau mỗi bữa ăn rất có lợi cho sức khỏe vì canh có thể giúp “làm sạch” khoang miệng, thực quản, dạ dày, ruột… giúp thức ăn tiêu hóa dễ dàng.

Nếu đã bị bệnh, bệnh nhân nên chia bữa ăn thành nhiều bữa nhỏ (4 – 5 bữa/ngày), chọn loại thực phẩm mềm, dễ tiêu như sữa, bột… để giúp dạ dày tiêu hóa tốt. Không nên ăn trái cây khô, lương thực khô gây khó tiêu, tránh thức ăn cay, chua kích thích dạ dày… đặc biệt, cần tránh để cơ thể mệt mỏi, căng thẳng.
Theo afamily

Vắt và bảo quản sữa mẹ sao cho tốt

Làm ấm sữa bằng cách đặt bình vào một bát nước nóng hoặc đổ nước nóng quanh bình chứa sữa, không làm nóng sữa mẹ bằng cách đun sôi hoặc cho vào lò vi sóng.

Cơ quan có đến 3 người nghỉ thai sản nên vừa sinh con được hơn 3 tháng là chị Trà, quận 2, TP HCM phải đi làm trở lại. Muốn nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu nên chị Trà chọn cách vắt sữa rồi bảo quản trong tủ lạnh nhờ bà nội ở nhà cho bé bú trong ngày.

“Lúc đầu bà nội bé kiên quyết không cho bé dùng sữa bảo quản lạnh vì sợ bé tiêu chảy, đòi cho bé ăn sữa công thức. Mình đã tìm hiểu kỹ và tham khảo ý kiến bác sĩ nên cố thuyết phục bà, trộm vía sau một thời gian dùng bé tiêu hóa tốt, ít ốm vặt nên bà mới thôi cằn nhằn”, chị Trà tâm sự.
vat-sua-me
Công việc chính của chị Hòa, quận Bình Tân, TP HCM là ở nhà nội trợ và chăm con nhưng chị vẫn phải thường xuyên vắt sữa cho con bú. Mỗi ngày chị vắt 4-5 lần, mỗi lần khoảng 300ml.

“Bé chê ti mẹ ngắn nên không chịu bú. Lúc đầu mình cũng băn khoăn không biết làm sao, định cho bé bú sữa ngoài nhưng bầu vú nhiều sữa cứ cương tức. Sau nhờ cách vắt rồi cho vào túi đựng chuyên dụng để bảo quản lạnh nên bé vẫn được bú sữa mẹ đến tận 2 tuổi”, chị Hòa cho biết.

Theo các bác sĩ Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TP HCM, mẹ nên vắt sữa khi không có điều kiện gần con, cho con bú vì nếu sữa không được vắt ra thì sẽ bị cạn dần. Vắt sữa giúp mẹ giúp mẹ dễ chịu, đỡ bị hiện tượng cương bầu vú, giúp bé nhận được lượng sữa mẹ cần thiết, đặc biệt là trong giai đoạn 6 tháng đầu đời.

Mẹ cần nắm vững những cách thức vắt sữa, bảo quản và sử dụng để đảm bảo nguồn sữa hợp vệ sinh, đạt chất lượng tốt cho sự phát triển của trẻ.

Chuẩn bị trước khi vắt sữa

Chuẩn bị dụng cụ đựng sữa như cốc, ly, lọ hoặc bình đựng có miệng rộng.

Rửa dụng cụ đựng sữa bằng xà phòng và nước sạch. Rót nước sôi vào dụng cụ đựng sữa, để trong vài phút rồi đổ đi. Rửa tay thật kỹ bằng xà phòng.

Đứng hoặc ngồi một cách thoải mái như khi cho con bú, đặt bình sữa sát kề vú.

Các bước vắt sữa bằng tay

– Massage nhẹ nhàng đầu vú hoặc đặt một chiếc khăn ấm lên vú để tạo cảm giác dễ chịu giúp sữa về dễ dàng hơn.

– Đặt ngón tay cái lên phía trên núm vú và quầng vú, ngón tay trỏ ở phía dưới, đối diện với ngón tay cái thành hình chữ C. Đỡ vú bằng các ngón tay khác.

– Ấn ngón cái và ngón trỏ một cách nhẹ nhàng vào phía thành ngực. Ấn vào rồi thả ra, ấn vào rồi thả ra.

– Ấn xung quanh quầng vú tương tự từ nhiều phía.

Lưu ý, tránh chà xát hoặc trượt ngón tay trên da. Các ngón tay vắt bằng cách lăn trên da. Tránh ấn vào núm vú. Ấn hoặc kéo núm vú không thể vắt được sữa.

Vắt một bên tối thiểu 3-5 phút cho tới khi thấy sữa chảy chậm lại thì chuyển sang bên kia, sau đó vắt cả 2 bên. Có thể sử dụng bơm hút sữa để vắt dễ dàng hơn.

Cách bảo quản sữa mẹ được vắt ra

– Sử dụng bình chứa bằng thủy tinh hoặc nhựa cứng có nắp đậy kín hoặc túi bảo quản sữa chuyên dụng.

– Không nên đổ đầy sữa vào bình, để lại một khoảng trống nhỏ vì sữa đông lạnh chiếm nhiều thể tích hơn sữa.

– Mỗi bình chứa sữa chỉ nên để 60-120ml, vừa đủ cho 1 lần ăn của trẻ để tránh lãng phí và đảm bảo vệ sinh.

Thời gian bảo quản sữa mẹ

Nhiệt độ phòng 19-20 độ C, có thể bảo quản được 4 giờ. Với nhiệt độ dưới 4 độ C của ngăn mát tủ lạnh, sữa có thể bảo quản được 3 ngày. Ở nhiệt độ ngăn đá tủ lạnh -18 đến -20 độ C, sữa mẹ có thể bảo quản được 6 tháng.

Cách sử dụng sữa mẹ đã bảo quản

– Khi sử dụng, làm ấm sữa bằng cách đặt bình chứa sữa vào một bát nước nóng hoặc đổ nước nóng quanh bình chứa sữa.

– Không làm nóng sữa mẹ bằng cách đun sôi hoặc cho vào lò vi sóng.

– Nên cho trẻ ăn bằng cốc và thìa.

Theo VnExpress

Đũa càng trắng càng độc hại

Với mức giá chỉ khoảng 100đ/đôi, đũa dùng một lần đang được sử dụng phổ biến tại các cửa hàng, quán ăn, tiệc cưới… Các chuyên gia cho rằng, phải kiểm định lại chất lượng của các loại đũa này, đặc biệt là khi người tiêu dùng Trung Quốc phát hiện sản phẩm có chứa các loại hóa chất dẫn đến rối loạn hệ tiêu hóa, chức năng gan và gây ra nhiều căn bệnh nan y.

Rẻ như bèo

Thông tin đũa dùng một lần ngâm tẩm hóa chất đang khiến dư luận Trung Quốc (TQ) xôn xao. Theo đó, người tiêu dùng (NTD) TQ phát hiện sản phẩm khi đem ngâm rửa sẽ khiến nước chuyển sang màu vàng đục và bốc mùi hăng nồng. Các chuyên gia nước này khẳng định, sản phẩm có sử dụng lưu huỳnh, hydrogen peroxide, sodium sulfite và chất chống mốc không đúng với quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm.

Tại Việt Nam, NTD cũng không khỏi lo ngại khi loại sản phẩm này ngày càng được sử dụng phổ biến. Đũa dùng một lần đặc biệt được ưa chuộng tại cửa hàng ăn uống bình dân, quán cóc vỉa hè tới các tiệc, cưới hỏi… Chủ một hàng phở trên phố Kim Mã (Ba Đình, Hà Nội) cho biết, trước đây bà sử dụng loại đũa gỗ, song nhiều khách hàng đề nghị sử dụng đũa dùng một lần để… đảm bảo vệ sinh. Loại đũa này được đánh giá là “tiện đủ đường” bởi không chỉ tiết kiệm thời gian lau rửa mà chi phí cũng rất thấp. Tuy nhiên, tại nhiều cửa hàng, để tiết kiệm chi phí tối đa, đũa lại được tái sử dụng, thay thế sản phẩm thông thường.

dua_tam_doc_01

Đũa dùng một lần không rõ nguồn gốc được bày bán tràn lan

Không khó để tìm mặt hàng này ở bất cứ cửa hàng, ki-ốt bán đồ gia dụng hay các chợ lớn nhỏ. Trong vai khách mua đồ phục vụ đám cưới, tại chợ đầu mối Đồng Xuân, chúng tôi được người bán hàng nhiệt tình tư vấn: “Đám cưới thì nên mua đũa dùng một lần cho đỡ phí. Loại đũa trần (không có vỏ bọc, nhãn mác – PV) rẻ nhất là 10.000đ/chục, tính ra cũng đã là 1.000đ/đôi. Trong khi đó, đũa dùng một lần có giá rẻ hơn gấp chục lần. Loại đũa này được đóng gói thành hai loại, túi nhỏ gồm 50 đôi có giá 8.000đ, túi to 100 đôi có giá 12.000đ. Tính ra, mỗi một đôi đũa ăn chỉ có giá hơn 100đ”. Chúng tôi hỏi nguồn gốc thì nhanh chóng bị chủ hàng xua tay, đuổi đi vì… mất thời gian. Tham khảo tại một số gian hàng khác, loại đũa dùng một lần do cơ sở sản xuất tại Việt Nam cũng được bày bán khá phổ biến với mức giá tương đương, chỉ đắt hơn từ 1.000 – 2.000đ/100 đôi. Tất cả đều được quảng cáo là “đũa sạch”!

Nhiều nguy hại đến sức khỏe

Theo PGS-TS Trần Hồng Côn, Khoa Hóa, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, sản phẩm mây tre đan thường được các cơ sở xông lưu huỳnh để làm trắng. Tiếp theo là dùng hydrogen peroxide để giúp sản phẩm trắng hơn tùy theo nồng độ. Với sản phẩm đũa ăn, PGS-TS Trần Hồng Côn cho rằng, sản phẩm càng trắng thì càng độc bởi liều lượng hóa chất tẩy lớn.

dua_tam_doc_02

Dù có mức giá bèo song đũa dùng một lần vẫn được “tái sử dụng” tại nhiều của hàng

Ông Trần Đáng, nguyên Cục trưởng Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm (Bộ Y tế) khẳng định, các loại hóa chất như lưu huỳnh, hydrogen peroxide, sodium sulfite đều không được sử dụng trong thực phẩm và những sản phẩm tiếp xúc với con người qua đường miệng. Mặc dù lượng hóa chất tồn dư trên đũa có thể không nhiều, khó xảy ra trường hợp ngộ độc cấp tính, nhưng sẽ dẫn đến tổn thương mạn tính. Các hóa chất có gốc lưu huỳnh có thể gây loét niêm mạc đường tiêu hóa; gây rối loạn tại chỗ đường tiêu hóa; rối loạn vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là những vi khuẩn dẫn đến tiêu chảy. Nguy hiểm hơn, nếu sử dụng thường xuyên, hóa chất có thể ngấm vào máu và tích lũy, từ đó dẫn tới rối loạn chức năng gan, thận, cơ quan tạo máu… Đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những căn bệnh mạn tính và ung thư. Ông Trần Đáng cho rằng, cơ quan chức năng phải mau chóng vào cuộc để kiểm tra các sản phẩm đũa ăn dùng một lần. “Trước đây, đũa Việt Nam xuất sang Nhật Bản từng bị phát hiện tẩm hắc ín. Cơ quan chức năng phải vào cuộc vì hiện nay các phương tiện dùng cho đồ ăn tại Việt Nam còn bị thả nổi”, ông Đáng nói.

Theo 24h

Không hẳn uống vàng là có lợi cho sức khoẻ

Giờ đây mốt ăn vàng, uống vàng đang trở thành một trào lưu. Nhưng thứ kim loại quý hiếm này có thực sự giúp bồi bổ cơ thể, làm người ta khỏe hơn hay có tác dụng ngược lại.

Đua nhau ăn, uống vàng

Vàng được xem là biểu tượng của sự vương giả, quyền quý. Với những đặc tính hiếm có của mình vàng đã chinh phục sở thích của rất nhiều người. Không chỉ dùng để trang sức, giờ đây mốt ăn vàng, uống vàng còn trở thành một trào lưu. Nhiều người đua nhau ăn hay uống thứ kim loại quý hiếm này mà chẳng hiểu tác dụng thực sự của nó đến đâu đối với sức khoẻ.

Các thực phẩm chứa vàng được dịp tung ra thị trường với đủ chủng loại nhằm đáp ứng trào lưu này như bánh dát vàng, rượu vàng, gel tắm chứa bột vàng, sữa rửa mặt tinh chất vàng, mặt nạ vàng và đến cả thuốc hoàn tán cũng rắc thêm mọt lớp vàng mỏng ở bên ngoài.

Dân sành điệu không chỉ ăn vàng mà còn rủ nhau đi uống rượu vàng. Trên thị trường hiện nay có đến hơn chục thương hiệu rượu (chủ yếu hàng nhập khẩu) được quảng cáo có pha bột vàng hoặc vụn vàng. Để sở hữu được những loại bánh dát vàng hay một chai rượu chứa vàng, không ít người đã phải bỏ ra vài triệu đồng đến hàng chục triệu đồng mà không hề đắn đo gì. Vì đơn giản họ chỉ nghĩ rằng ăn vàng, uống vàng thì sẽ cung cấp một vi lượng Au tốt cho đường tiêu hoá.

Đặc biệt, với các quý ông việc sử dụng thức ăn, đồ uống có chứa vàng còn được xem như một cách để chứng tỏ đẳng cấp. Vàng còn được đưa vào đồ ăn, thức uống như một thứ gia vị với niềm tin rằng đã là kim loại quý hiếm thì sẽ có lợi cho sức khoẻ của con người.

khong_han_uong_vang_la_tot

Nhiều người nghĩ uống rượu vàng sẽ có lợi cho sức khỏe nhưng không hẳn vậy. (Ảnh minh họa)

Giá trị thực của vàng với sức khỏe

TS. Vũ Đắc Lợi, Phó viện trưởng Viện Hoá học cho biết, rất nhiều tài liệu khoa học trên thế giới đã khẳng định vàng kim loại không có tác dụng đối với cơ thể. Lý do vì vàng trơ về mặt hoá học, không tan trong axit, đơn axit như axit clohydric. Trong khi đó trong dạ dày của chúng ta có PH từ 2 – 2,5, hàm lượng axit clo trong dạ dày bằng 1 phần 1.200 lần so với axit clohyđric đậm đặc. Nhưng vàng lại không tan trong axit clohyđric đậm đặc, do vậy vàng không thể tan trong dạ dày. Điều này khẳng định nếu chúng ta ăn vàng, uống vàng kim loại cơ thể hoàn toàn không thể hấp thu được và sẽ đào thải ra theo đường tiêu hoá.

Cập nhật thông tin từ Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, đến nay Việt Nam chưa có trường hợp nào ngộ độc vì vàng kim loại. Còn theo quy định của Codex (Uỷ ban đánh giá tiêu chuẩn thực phẩm Quốc tế), vàng là phụ gia thực phẩm mang màu, có ký hiệu là E175. Vàng là một nguyên tố trơ về mặt hoá học nên trong quá trình sử dụng vàng không thể hấp thu vào cơ thể, vàng chỉ thể hiện tính mang màu để tạo ra sản phẩm có màu.

Cũng theo quan điểm của TS. Vũ Đắc Lợi, vàng kim loại không có hại cho sức khỏe. Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều thú chơi như uống rượu vàng, ăn bánh vàng, nhưng khó ai có thể đảm bảo chất lượng của những loại vàng trong những sản phẩm này có phải là vàng tinh khiết hay không. Nếu chúng ta sử dụng những loại vàng không tinh khiết rất dễ xảy ra nguy cơ ngộ độc. Vì khi vàng không tinh khiết rất dễ dính các nguyên tố kim loại nặng như: nicken, thiếc, chì… Những nguyên tố này khi chúng ta sử dụng gây ra hiện tượng ngộ độc kim loại rất nguy hiểm.

Vì vậy TS. Vũ Đắc Lợi có lời khuyên đối với người tiêu dùng: Hãy nhớ vàng kim loại không có tác dụng đối với cơ thể. Nếu mua sản phẩm cần tránh những loại không phải là vàng tinh khiết mà chỉ là màu vàng. Đừng nghĩ vàng là một nguyên tố quý hiếm thì có khả khả năng chữa bệnh. Vàng không phải là vi chất hay siêu vi chất cần thiết đối với cơ thể con người.

Ông ví von cụ thể như 1 chiếc xe ô tô có giá trị hàng chục tỷ đồng nhưng không đi được dưới hồ, trong khi đó một chiếc thuyền chỉ có giá 500 nghìn đồng lại vẫn hoàn toàn có thể đi được dưới hồ. Vì vậy, chúng ta cần phân biệt rõ giá trị vật chất và giá trị sử dụng.

Một lần nữa chúng ta cần nhớ, mặc dù vàng là một thứ kim loại quý hiếm nhưng việc ăn vàng, uống vàng không hề mang lại lợi ích gì cho sức khỏe.

Theo 24h

Ăn gạo mốc xuất hiện bệnh lạ

Bộ Y tế nhận định, các trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân là do nhiễm độc tố vi nấm, trong đó chủ yếu là Aflatoxin do ăn gạo cũ bị mốc trên cơ địa người bị thiếu vi chất dinh dưỡng.

Trong công điện của Bộ Y tế gửi UBND tỉnh Quảng Ngãi mới đây giải thích về căn nguyên bệnh “lạ”, Bộ này nhận định: các trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân là do nhiễm độc tố vi nấm, trong đó chủ yếu là Aflatoxin do ăn gạo cũ bị mốc trên cơ địa người bị thiếu vi chất dinh dưỡng.

Với lời giải thích này thì rõ ràng Bộ Y tế cũng mới dừng lại ở mức “nhận định” nguyên nhân gây bệnh là do nhiễm độc tố vi nấm, trong đó chủ yếu là Aflatoxin do ăn gạo cũ bị mốc chứ chưa khẳng định đó là nguyên nhân gây bệnh.

an_gao_moc_bi_benh_la_01

Bộ Y tế nhận định trong gạo dân vùng bệnh “lạ” có chứa chất độc gây ra căn bệnh “lạ”

Theo đó, Bộ Y tế đề nghị UBND tỉnh Quảng Ngãi hướng dẫn cho người dân sử dụng gạo không bị mốc, trong trường hợp cần thiết phải thay thế gạo mới cho người dân để tránh để tránh bị mắc và tái mắc bệnh, chỉ đạo kiểm tra giám sát việc sử dụng gạo của người dân. Bộ Y tế cũng yêu cầu UBND tỉnh chỉ đạo ngành y tế địa phương cấp vitamin, các loại thuốc bổ gan và nâng cao thể trạng  cho toàn bộ người dân sống trong vùng có nguy cơ, kịp thời phát hiện và điều trị các trường hợp mắc bệnh; tăng cường tuyên truyền để người dân yên tâm; chỉ đạo làm tốt công tác vệ sinh môi trường, cải thiện điều kiện sống cho người dân vùng bệnh “lạ”.

Trong ngày 14/3, Cục y tế dự phòng do Phó giáo sư, Tiến sỹ Phan Trọng Lân – Phó Cục trưởng dẫn đầu cùng với các chuyên gia Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam; Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã vào vùng bệnh “lạ” tại hai huyện Ba Tơ và Sơn Hà để khảo sát thực địa, tìm nguyên nhân gây bệnh “lạ”.

Bệnh “lạ” do dân ăn gạo mốc!, Sức khỏe đời sống, benh la o quang ngai, benh la, gao moc, thieu vi chat di duong, viem da day sung, tin tuc, tin nhanh, tin hot, vn

an_gao_moc_bi_benh_la_02

Dân vùng bệnh “lạ” thì bảo gạo ủ ăn lâu đời nay nhưng sao bây giờ mới có bệnh?

Phó Giáo sư Tiến sĩ Phan Trọng Lân cũng một lần nữa khẳng định, qua kết quả nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành, Bộ Y tế nhận định các trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân (lâu nay gọi bệnh “lạ”)  là do nhiễm độc tố vi nấm, trong đó chủ yếu là Aflatoxin do ăn gạo cũ bị mốc trên cơ địa người bị thiếu vi chất dinh dưỡng. Mặc dù các bộ ngành địa phương đã triển khai nhiều biện pháp ngăn chặn bệnh nhưng thiếu đồng bộ, xuyên suốt  nên bệnh tái phát trở lại.

Tuy nhiên, về phía chính quyền địa phương vùng bệnh “lạ” thì cho rằng, nói trong gạo dân ăn là gạo mốc gây ra bệnh “lạ” là không đúng vì từ bao đời nay, người dân địa phương vẫn có thói quen ủ gạo để ăn, trong khi bệnh “lạ” chỉ mới xuất hiện và cho rằng nếu bị thì dân đã mắc bệnh từ lâu.

an_gao_moc_bi_benh_la_03

Nhiều hộ gia đình ủ gạo nhưng phơi trong nhà dùng quạt điện hanh khô

Trong ngày hôm nay (14/3), Đoàn công tác của Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới đã kiểm tra thực tế việc ăn ở, sinh hoạt, môi trường tại các gia đình có người đang bệnh “lạ” tại thôn Làng Rêu, xã Ba Điền, huyện Ba Tơ và xã Sơn Ba, huyện Sơn Hà. Tại các nơi kiểm tra, đoàn đã kiểm tra nơi dự trữ lúa, gạo, kiểm tra nguồn nước sinh hoạt, các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh “lạ”. Các chuyên gia Tổ chức y tế thế giới WHO  tại Việt  Nam đã tiến hành phỏng vấn, điều tra các diễn biến liên quan đến thân nhân gia đình người mắc bệnh và lấy mẫu thực phẩm ngẫu nhiên của người dân phục vụ công tác nghiên cứu.

an_gao_moc_bi_benh_la_04

Đoàn giám sát bệnh “lạ” của Bộ y tế và WHO kiểm tra vùng bệnh “lạ” trong ngày hôm nay

Sau khi khảo sát thực địa, các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam; Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương; Viện Paster Nha Trang đã báo cáo kết quả các đợt khảo sát dịch tễ, khảo sát thực địa tại vùng bệnh. Theo đánh giá của các chuyên gia, công tác vệ sinh môi trường, sinh hoạt của các hộ dân thực hiện đúng như hướng dẫn của ngành y tế, người dân đã có ý thức trong phòng bệnh. Tuy nhiên, kiểm tra nguồn thực phẩm tại các hộ dân có người mắc hội chứng viêm da và những trường hợp tái phát, thì vẫn còn một số hộ dân đã sử dụng gạo cũ, gạo mốc sau khi hết nguồn gạo được cấp. Nhiều hộ vẫn còn thói quen trữ lúa, gạo tại các khu vực ẩm thấp, có nhiều côn trùng gây hại. Đây là điều kiện cho các loại vi nấm phát triển dễ gây bệnh

an_gao_moc_bi_benh_la_05

Đoàn tập trung vào mục tiêu kiểm tra chòi ủ lúa của dân vùng bệnh

Trong chiều 14/3,  Bệnh viên Bạch Mai cũng đã tổ chức hội chẩn  trực tuyến 2 ca mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân vừa mới phát hiện tại xã Sơn Ba, huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi).  Trong thời gian tới, Bộ Y tế phối hợp với chuyên gia Tổ chức y tế thế giới WHO tại Việt Nam và các chuyên gia Việt Nam tiếp tục nghiên cứu, giám sát bệnh “lạ” để làm rõ nguyên nhân cụ thể của bệnh. Từ cuối tháng 2 đến nay, tại 2 huyện Ba Tơ và Sơn Hà (Quảng Ngãi) có 16 trường hợp mắc bệnh “lạ”.

Theo 24h

Phòng mạch tư thản nhiên bơm tinh trung vào bệnh nhân

Theo bà Thảo – người môi giới bán tinh trùng ở hẻm A1 đường Cống Quỳnh, P.Phạm Ngũ Lão, Q.1, TP.HCM, điều trị hiếm muộn, vô sinh ở phòng mạch tư hoặc trong Bệnh viện Từ Dũ thì “đều ok”.

Bà Thảo khẳng định tuy làm ở phòng mạch tư mắc tiền hơn trong bệnh viện nhưng luôn nhanh hơn vì “chỉ cần các xét nghiệm ổn, có tiền nhiều là bác sĩ làm ngay”. Còn làm trong bệnh viện bác sĩ thường hẹn nhiều lần, có khi mất mấy tháng mới được điều trị.

Đến phòng mạch là… bơm

Bà Thảo hướng dẫn cách nói chuyện với bác sĩ Lê Tấn Cảnh, người nhận bơm tinh trùng tại phòng mạch tư, rằng: “Em muốn lấy tinh trùng trực tiếp từ người em quen biết và dẫn tới chứ không thích lấy tinh trùng trong ngân hàng bệnh viện. Nếu bác sĩ làm, em sẽ bồi dưỡng thêm cho bác sĩ…”. Bà Thảo khẳng định từng hướng dẫn nhiều khách làm cách này và “ông Cảnh nhận bơm tinh trùng luôn”.

Còn bà Nga – cũng là người môi giới bán tinh trùng ở hẻm A1- quả quyết: “Bác sĩ Cảnh làm hết. Trong nhà chị, mấy người đã bơm rồi đó. Bơm tinh trùng mà có gì đâu, đơn giản lắm. Ở đây có mấy cặp vợ chồng đều làm theo cách đó, bây giờ có bầu rồi”. Nói rồi bà Nga rút điện thoại gọi cho một người ở phòng mạch bác sĩ Cảnh: “Chị, Cảnh còn làm không? Rồi, qua liền nhé”. Xong, bà quay qua giục chúng tôi: “Em qua lẹ đi, cứ nói là bên chị Nga nhé”.

Tối 27/5, chúng tôi đến phòng mạch của bác sĩ Lê Tấn Cảnh (công tác tại Bệnh viện Từ Dũ) trên lầu hai phía sau căn nhà số 189C Cống Quỳnh. Phòng mạch có hai phòng. Bác sĩ Cảnh khám ở phòng lớn. Phòng nhỏ hơn dành cho người vừa được bơm tinh trùng xong nằm nghỉ. Phòng mạch chật kín các bà bầu và cặp vợ chồng hiếm muộn.

moi_gioi_phong_mach_hiem_muon_tu

Bà Nga (phải) – người môi giới bán tinh trùng – trao đổi với khách hàng về việc mua tinh trùng

Chị Thủy, nhà ở Q.8, đang mang thai ba tháng nhờ thụ tinh ống nghiệm, rỉ tai: “Bác sĩ Cảnh nổi tiếng mát tay chữa hiếm muộn đó. Bơm tinh trùng ở đây nhanh chóng chứ không cần chờ và làm lắm thủ tục như ở bệnh viện”.

Đến lượt khám, chúng tôi trình bày vợ chồng cưới nhau bốn năm chưa có con, kết quả khám ở Bệnh viện Từ Dũ cho biết chồng tinh trùng yếu, vợ bình thường và được tư vấn làm bơm tinh trùng (IUI). Bác sĩ Cảnh nói: “Muốn bơm tinh trùng phải xác định ngày có kinh để canh trứng mới làm được”. Rồi ông hẹn mang kết quả đến để xem xét và sẽ bơm tinh trùng vào thời kỳ hợp lý. Thấy khách lo lắng, bác sĩ Cảnh trấn an: “Ở đây làm cho em được mà. Bơm tinh trùng hay làm gì ở đây cũng làm cho em được hết”.

Nhiều bà bầu đã điều trị vô sinh thành công ở hẻm A1 kể họ đã đến phòng mạch của bác sĩ Cảnh để thụ tinh nhân tạo (bơm tinh trùng vào buồng tử cung). Quy trình điều trị ở phòng mạch này: khi làm xong các xét nghiệm để kiểm tra, người vợ sẽ được tiêm thuốc kích trứng. Đến ngày bơm tinh trùng, người chồng (hoặc người bán tinh trùng sẽ có mặt) lấy tinh trùng tại phòng mạch của bác sĩ Cảnh. Phòng lấy tinh trùng ở đây là nhà vệ sinh. Nếu muốn, hai vợ chồng có thể ra thuê khách sạn gần đó để lấy tinh trùng được dễ dàng hơn. Y tá Oanh – người làm ở phòng mạch này – khẳng định bơm tinh trùng tại phòng mạch của bác sĩ Cảnh không cần giấy kết hôn vẫn thực hiện được.

Tối 29/5, chúng tôi đến phòng mạch bác sĩ Nguyễn Hoàng Tuấn (386/24 Lê Văn Sĩ, Q.3). Bác sĩ Tuấn là phó khoa sản A Bệnh viện Từ Dũ, được nhiều người hiếm muộn giới thiệu là “làm thụ tinh nhân tạo rất nhanh và nhiệt tình”. Giá một lần bơm tinh trùng ở đây dao động 5-7 triệu đồng (trọn gói tiền thuốc và tiền công), tùy theo thể trạng, sức khỏe từng người.

Phòng mạch bác sĩ Tuấn có hai phòng, phòng siêu âm và phòng khám. Phòng khám đồng thời cũng là nơi thực hiện bơm tinh trùng. Đằng sau phòng khám là một gian bếp, kê tủ lạnh đựng các loại thuốc. Y tá giải thích phải siêu âm mới làm các bước tiếp theo. Thấy khách ngần ngừ, người này kêu lên: “Muốn có con không? Muốn có con thì phải khám rồi bác sĩ mới bơm được chứ. Chờ đến ngày trứng rụng thì đến đây lấy tinh trùng bơm bình thường”.

Một phụ nữ nhà ở Q.Gò Vấp, vừa được bác sĩ Tuấn bơm tinh trùng trước đó 30 phút đang nằm nghỉ trên giường, cho biết: “Hai vợ chồng tôi đến phòng mạch lúc 17g, ra khách sạn gần đây lấy tinh trùng và đưa vào để bác sĩ Tuấn bơm. Ở đây không cần khám chồng đâu”. Phòng mạch này cũng không hỏi giấy đăng ký kết hôn, chỉ cần có người cho tinh trùng, người vợ sức khỏe bình thường là sẽ thực hiện bơm tinh trùng.

“Vì kẹt quá… nên phải làm”

Chiều 31/5, trả lời PV, bác sĩ Nguyễn Hoàng Tuấn và bác sĩ Lê Tấn Cảnh đều xác nhận giấy phép hành nghề của các ông chỉ cho phép khám sản phụ khoa. Về khám vô sinh, bác sĩ Tuấn cho rằng ông chỉ khám nội khoa và cho thuốc uống, canh chu kỳ rụng trứng cho người chậm có con để vợ chồng “quan hệ” cho có thai. Ông Tuấn khẳng định đây là hoạt động được phép ở phòng mạch tư. Tuy nhiên, bác sĩ Tuấn và bác sĩ Cảnh đều thừa nhận có thực hiện việc bơm tinh trùng vào buồng tử cung tại phòng mạch tư cho một số trường hợp. Biết làm vậy là sai quy định nhưng “vì kẹt quá… nên phải làm”.

Ông Tuấn giải thích: “Có những trường hợp khi canh trứng, bác sĩ biết trứng sẽ rụng vào thời điểm tối ngày mai thì có cái kẹt là buổi tối bệnh viện hết giờ làm việc. Bệnh viện không chờ bệnh nhân được nên tôi phải đem tinh trùng đã lọc rửa ở bệnh viện về phòng mạch bơm cho bệnh nhân”. Trong khi đó, giải thích về việc làm sai chức năng cho phép khi hành nghề, ông Cảnh cho rằng canh trứng để điều trị hiếm muộn thì không biết được thời điểm trứng rụng lúc nào, mà phải ước chừng thời điểm rụng. Với trường hợp trứng rụng trễ quá, ông hướng dẫn “quan hệ” tự nhiên dù biết tỉ lệ thành công sẽ thấp.

Ông Cảnh lý giải: “Phải khó khăn lắm mới canh được một chu kỳ có trứng. Khi đến chu kỳ có trứng rồi mà bỏ qua chu kỳ đó thì mình tiếc. Vì vậy, với một số ít trường hợp lấp lửng trong giờ giấc rụng trứng, tôi phải làm sai quy định nhằm bơm tinh trùng cho bệnh nhân để tăng tỉ lệ có thai, làm giảm áp lực và tâm lý lo lắng cho họ. Nếu mình làm sai quy định, hôm nay chưa có người hỏi đến mình thì ngày mai cũng có người hỏi. Nhưng việc bơm tinh trùng ở phòng mạch không phải là cố ý làm trái quy định”.

Theo 24h

Nhận biết về bệnh hạt cơm

Hạt cơm là một dầy sừng khu trú gồm các tổn thương da và niêm mạc gây nên bởi virus gây sùi ở người (human papilloma virus – HPV).

benh_hat_com

Biểu hiện lâm sàng

Có nhiều dạng khác nhau do các type HPV khác nhau gây nên.

 Hạt cơm bàn chân: thường gặp là dạng myrmecie (do HPV typ 1 gây nên).

Tổn thương cơ bản: là một điểm dầy sừng hình tròn sùi vào sâu, đau nhất là khi vận động hoặc đụng chạm vào nó, thường đơn độc hoặc có một vài tổn thương đơn lẻ. Tổn thương dạng đĩa xung quanh vòng bởi một hình nhẫn dầy sừng, phần trung tâm dầy sừng mà bề mặt tạo thành những điểm đen (có thể do mao mạch bị tắc hoặc bị bít bởi bụi). Đây là loại tổn thương thường gặp.

Hạt cơm thường: do HPV type 2 gây nên.

Thương tổn là tổn thương sùi ra ngoài bề mặt hình bán cầu hoặc dẹt đường kính vài mm đến 1- 2cm, ở trung tâm có thể lõm xuống. Bề mặt hạt cơm tăng gai, thậm chí tạo thành rãnh, thành khía. Quanh các đám dầy sừng lại có những đám dầy sừng kế cận tạo thành như miệng giếng. Số lượng thay đổi từ một vài cái đến vài chục cái, đôi khi tập hợp lại.

Vị trí hay gặp ở mu tay và các ngón, ít gặp ở lòng bàn tay.

Hạt cơm filiformes vị trí ưu thế của các hốc tự nhiên (bán niêm mạc) hoặc vùng cổ, vùng mọc râu (tự lây nhiễm bởi cạo râu) thường kết hợp với các tổn thương hình bán cầu, bề mặt bóng. Hạt cơm ở tay được gây ra bởi HPV2 và HPV1 (13%). Hiếm gặp hơn là những tổn thương sùi ở trong hoặc ra ngoài, kết hợp với HPV4 hoặc HPV7.

Hạt cơm phẳng: Do HPV type 3,10 gây nên.

Tổn thương là những sẩn nhỏ hiếm khi nổi cao, màu vàng hoặc màu vàng nhạt, bề mặt bóng, mảnh, thường tập trung thành dải (do khi bệnh nhân gãi hạt cơm có thể mọc theo vết xước gọi là hiện tượng Kobner) hoặc tạo thành mảng, cảm giác thường hơi ngứa. Vị trí ưu thế ở mặt mu tay, ngón tay, cánh tay, đầu gối và mặt trước cẳng chân. Thường gặp ở người suy giảm miễn dịch, thương tổn nổi cao hoặc kích thước lớn. Nó tồn tại dai dẳng nhiều tháng hoặc nhiều năm, có thể có dấu hiệu viêm ở xung quanh hoặc có vòng giảm sắc tố.

Điều trị:

Tại chỗ:

– Loại bỏ tổn thương bằng các biện pháp sau:

+ Dùng thuốc phá huỷ tổ chức bệnh: Axit salicylique 10-20%, podophylline 15-20% bôi 2 lần mỗi tuần, rửa sạch sau 6 giờ; dung dịch glutiradehyde 20%, axit trichloracetique bão hoà, thận trọng khi dùng phương pháp này ở mặt. Có thể dùng axit retinoique dạng crem hoặc nhũ tương  trong 3- 6 tuần. Dùng dung dịch bléomycine 0,1% tiêm trong tổn thương điều trị các hạt cơm ở da. Hoặc có thể dùng retinoide tiêm trong tổn thương.

+ Dùng phương pháp vật lí:

Làm lạnh phá huỷ tổ chức bệnh bằng Nitơ lỏng. Phương pháp điều trị tốt nhất hiện nay là phá huỷ thương tổn bằng lazer CO2, đốt điện siêu cao tần hoặc plasma.

Toàn thân:

Liệu pháp miễn dịch tại chỗ hoặc toàn thân(lévamyzole) dùng trong trường hợp kháng những điều trị trên, kết quả thay đổi, hoặc tiêm bắp interferon- anpha2.

Liệu pháp  tâm lý cũng có thể điều trị được bệnh này.

Theo suckhoevadoisong

Thông tin về bệnh chai chân

Chai chân

Là một bệnh dầy sừng khu trú ở bàn chân, thường xảy ra ở những vùng bị tì đè nhiều do chịu một áp lực mạnh liên tiếp. Bệnh thường gặp ở những người có dị tật ở bàn chân: bàn chân khum, hoặc người có di chứng bại liệt ảnh hưởng tới tư thế của lòng bàn chân, một số có thể do tính chất di truyền.

chai_chan_01

Biểu hiện lâm sàng: Tổn thương là những  đám dầy sừng màu ngà, màu vàng, khum lên, hình tròn hay bầu dục, sờ vào rất cứng, vùng ranh giới với da lành có thể bị nứt, từ đó gây bội nhiễm, đau đớn, đôi khi ở trung tâm bong sừng tạo nên một lõm ở giữa. Vị trí chai chân thường gặp: Lòng bàn chân (gan bàn chân trước và gót), mu chân, mặt trong của ngón cái, ô mô út bàn tay, vai, mông (Vùng bị ma sát, tì đè nhiều trong sinh hoạt và lao động). Ngoài ra, còn có thể thấy ở những vùng xương bị lồi ra như mắt cá ngoài, khuỷu tay.

Tổ chức bệnh lý: quá sản các lớp thượng bì, đặc biệt là ở lớp sừng. ở tổ chức đệm là một khối xơ do tổ chức xơ quá phát triển.

 Điều trị:Nguyên tắc điều trị chung là loại bỏ nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây tì đè.

Điều trị tại chỗ: còn khó khăn, thường chỉ bạt mỏng khi lớp sừng quá dầy, đi giầy chỉnh hình bằng mút để phân bố lại lực tì đè của bàn chân cho hợp lý, hoặc phẫu thuật chỉnh hình nếu có chỉ định.

Có thể tiêm filatov trực tiếp vào tổn thương.

Có thể ngâm nước muối ấm cho mềm da và dùng dao gọt bỏ lớp sừng dầy tạo điều kiện cho bệnh nhân lao động và sinh hoạt thuận lợi.

Bạt mỏng lớp sừng bằng đốt điện hoặc laser CO2, có khi phải phẫu thuật cắt bỏ cả khối.

– Điều trị toàn thân chống dầy sừng, xơ hoá bằng vitamin A liều cao.

 Mắt cá chân

Bệnh mắt cá chân là một bệnh dầy sừng khu trú ở bàn chân có thể do bệnh nhân có dị vật ở bàn chân làm cho các tổ chức xung quanh dị vật bị xơ hoá hình thành mắt cá.

Lâm sàng: Thương tổn là khối sừng nhỏ bẳng phằng với mặt da, có khi nổi cao hơn  mặt da, bề mặt trơn  hoặc bong vẩy. Khối sừng này nằm ở trong trung bì được bao bọc bởi một lớp tế bào gai và tế bào cơ bản. Mắt cá gây  đau khi đi lại hoặc va chạm và đặc biệt khi ấn vào có một điểm đau chói rõ.

Vị trí: thường gặp ở vùng tì đè dễ bị sang chấn như 10 đầu ngón chân, gót, mu khớp bàn đốt, đốt 1 các ngón chân, ô mô cái của 2 bàn tay.

Số lượng thường là một nhưng đôi khi gặp nhiều hơn. Mắt cá thường không mang tính chất đối xứng vì phần lớn là do sang chấn.

Mắt cá chân có thể gây nhiễm trùng, vỡ mủ và gây viêm đường bạch mạch. Bệnh rất hay tái phát.

Điều trị: Cần phải lấy được nhân mắt cá thì điều trị mới được hiệu quả. Có thể phẫu thuật lấy bỏ toàn bộ nhân mắt cá hoặc phá huỷ nhân bằng đốt điện, plasma, laser CO2 . Thường dùng một số thuốc mỡ bong vẩy: Mỡ salisylic 10% bôi làm tổn thương bong vẩy và mềm da, sau đó phải phẫu thuật loại bỏ nhân của mắt cá.

Nếu nhiễm khuẩn, dùng sát khuẩn tại chỗ và kháng sinh toàn thân.

Theo suckhoevadoisong

Bệnh mụn rộp hay còn gọi là bệnh Herpes simplex

Virus gây bệnh herpes simplex còn gọi là virus gây bệnh mụn rộp. Nhưng thuật ngữ herpes simplex (herpes đơn dạng) đã được Việt hóa. Đây là loại virus mà acid nhân là ADN. Kích thước từ 150 – 200 nm.

Herpes_simplex_01
Có 2 loại HSV (có tài liệu viết là HHV: Human Herpes Virus):

+       HSV 1: Gây bệnh ở da, niêm mạc phần trên của cơ thể như mắt, mũi, miệng. Lây truyền bằng tiếp xúc trực tiếp với virus qua thương tổn của chúng hoặc qua nước bọt.

+       HSV2: Gây bệnh ở da niêm mạc bộ phận sinh dục. Bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Sự phân loại này không hoàn toàn tuyệt đối vì người ta có thể phân lập thấy HSV 1 ở những thương tổn tại bộ phận sinh dục và HSV2 cũng được phân lập từ những thương tổn ở môi, miệng.

Biểu hiện lâm sàng:

Nhiễm herpes sơ phát:

·   Viêm niêm mạc/niêm mạc miệng lợi, nguyên nhân do HSV1 gây ra. Bệnh thường gặp ở trẻ em, ở tuổi từ 6 tháng đến 3 tuổi. Thời gian ủ bệnh: 6 ngày.Thời kỳ toàn phát: Viêm niêm mạc miệng, lợi; khó nuốt; tăng tiết nước bọt; thể trạng mệt mỏi; sốt 390C, kèm theo hạch dưới hàm sưng đau. Khám: Có thể thấy mụn nước mọc thành chùm hoặc trợt nông hình đa cung, màu đỏ, có thể có giả mạc. Vị trí: niêm mạc má, môi, lợi, lưỡi. Tiến triển trong vòng 10 – 15 ngày sẽ lành.

·      Herpes bộ phận sinh dục: Nguyên nhân do HSV2. Bệnh gặp ở cả nam lẫn nữ. Triệu chứng: Đau, ngứa, nóng rát kèm theo sốt, mệt mỏi. Thương tổn là những mụn nước bằng hạt kê, hạt tấm mọc thành chùm hoặc những vết trợt nông (do mụn nước dập vỡ) hình đa cung, kèm theo nổi hạch bẹn. Thường xuất hiện ở dương vật, môi lớn, môi nhỏ, âm đạo, cổ tử cung, cũng có khi ở hậu môn. Sau 10 – 15 ngày sẽ khỏi, có thể để lại sẹo nông.

·      Các thể lâm sàng khác của herpes sơ phát:

–   Herpes da đơn thuần: chỉ gây bệnh ở da. Thương tổn là những mụn nước mọc thành chùm. Kích thước đám thương tổn có thể bằng hoặc hạt đậu, trôn chén hoặc to hơn. Có thể có 1, 2 hoặc nhiều đám thương tổn herpes.

– Herpes ở mặt: Gây viêm kết mạc, giác mạc hoặc vừa viêm kết mạc giác mạc. Mi mắt có những mụn nước như hạt tấm mọc thành chùm. Mi mắt có thể sưng phù. Vị trí thường ở một mắt, hiếm khi hai mắt cùng bị herpes cùng lúc.

– Herpes ở người suy giảm miễn dịch (HIV/AIDS) ở những người nhiễm HIV/AIDS rất hay bị nhiễm herpes lan toả. HSV1 vừa gây thương tổn ở niêm mạc miệng, mũi, mắt, thương tổn da, thương tổn nội tạng như viêm não, màng não, viêm gan do herpes. Các thương tổn do herpes gây ra có xu hướng hoại tử, lan tràn, trên lưng rất nặng.

– Herpes ở người viêm da cơ địa. Những người bị viêm da cơ địa nếu bị nhiễm virus HSV sẽ gây ra chàm dạng herpes. Tại nơi có thương tổn chàm có thể có các thương tổn mụn nước, kèm theo bọng nước lõm giữa, mụn mủ lõm giữa, hoặc mụn nước, bọng nước chứa máu. Triệu chứng toàn thân nặng, có thể tử vong, nhất là ở trẻ nhỏ.

–   Herpes trẻ sơ sinh (Herpes néonatal): Herpes ở trẻ sơ sinh hiếm gặp so với herpes ở trẻ em và người lớn. Tỷ lệ herpes trẻ sơ sinh  1/1.500 – > 1/10.000 trẻ sơ sinh.

Nguyên nhân do HSV2 lây từ herpes sinh dục của người mẹ trong thời kỳ thai nghén, nhất là tuần thứ 20 của thai kỳ trở đi hoặc lây truyền từ mẹ sang con lúc chuyển dạ.

Trẻ bị herpes sơ sinh có thể tử vong sau khi đẻ, dị dạng, não úng thuỷ, viêm màng đệm (chorioremites). Biểu hiện lâm sàng của herpes trẻ sơ sinh thường xuất hiện trong khoảng ngày thứ 5 đến ngày thứ 17, sau khi sinh. Chẩn đoán khó vì các biểu hiện da chỉ xuất hiện khoảng 20% các trường hợp. Tỷ lệ tử vong cao (15-20%).

– Viêm não do Herpes: Bệnh có thể gặp ở trẻ em và người lớn; nguyên nhân phần lớn do HSV1; có thể gặp ngay thời kỳ nhiễm herpes sơ phát hoặc tái phát.

Herpes tái phát:

100% các trường hợp herpes đều tái phát. Điều kiện thuận lợi cho herpes tái phát xuất hiện: Nhiễm trùng toàn thân; trên trẻ sơ sinh; dùng thuốc chống viêm có corticoid; bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, nhất là HIV/AIDS; tiến triển trong vòng 1 – 2 tuần sẽ khỏi.

–  Triệu chứng herpes tái phát:

Có thể có sốt hoặc không; có thể có sưng hạch phụ cận hoặc không. Thương tổn da niêm mạc giống như herpes sơ phát. Vị trí thương tổn: Môi, mũi và tiền đình mũi, niêm mạc miệng, mắt, cơ quan sinh dục. Nhịp độ tái phát: 2 – 3 – 4 lần trong năm. Nếu bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, nhất là HIV/AIDS, herpes sẽ rất nặng tái phát liên tục 1 tháng 1 lần, mỗi đợt tái phát thường kéo dài tới 15 ngày, thương tổn có khi là những vết loét, có những mụn nước, bọng nước mụn mủ hoại tử.

Điều trị:

–    Toàn thân: acyclovir; valaciclovir; famciclovir; mangoherpin; mediplex; isopresinosine. Mangoherpin là một sản phẩm có nguồn gốc thảo mộc, thuốc có hiệu quả điều trị, ít tai biến, lại rẻ tiền.

–  Tại chỗ: acyclovir; poscarrnet; mangoherpin.

Theo suckhoevadoisong

Phương pháp thở tốt cho những người bị bệnh hô hấp

tap_tho

Hô hấp là yêu cầu cấp thiết hàng đầu để đảm bảo sự sống cho con người. Tiếng khóc chào đời vang khỏe của trẻ sơ sinh báo hiệu công năng hô hấp bình thường và bảo đảm đủ ôxy của chúng. Ở tuổi thanh thiếu niên, sự vận động hợp lý giúp các cơ, đặc biệt cơ quanh ngực phát triển mạnh, nâng cao dung tích sống (DTS), hấp thu được nhiều ôxy và bài khí thải ra ngoài. Còn khi đã luống tuổi, sức yếu dần, DTS cũng sẽ giảm theo. Ai hay bị cảm nhiễm đường hô hấp cùng với viêm khí quản mạn tính, giãn phổi với các mức độ khác nhau, lại thêm nghiện hút thuốc lá, hoặc làm việc lâu dài tại những nơi nhiễm khói bụi, hóa chất sẽ bị giảm diện tích hô hấp hữu hiệu của phổi cũng như tỷ lệ ôxy cần thiết trong tế bào. Như thế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể, sức bền kém sút, tăng mỡ máu, xơ cứng động mạch, dễ bị những chướng ngại vi tuần hoàn.

Muốn hô hấp được thêm nhiều ôxy, dự phòng các bệnh tật trên, làm chậm quá trình lão hóa thì không thể chỉ dựa vào thuốc. Một trong những cách dự phòng tốt nhất là rèn luyện có hệ thống từ nhỏ bằng thể dục, chạy bộ, bơi, võ dưỡng sinh… cùng với chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng hợp lý, giữ cho tâm hồn luôn vui khỏe. Đương nhiên còn phải gắn với sự chủ động cải thiện môi trường sống tự nhiên và xả hơi của từng người và cộng đồng. Còn khi đã bị tình trạng trên, nhất là với người luống tuổi, cần lựa chọn những cách sau:

– Mỗi ngày đi bộ, chạy chậm hoặc bơi (về mùa hè là chính) từ 30 phút trở lên.

– Tranh thủ hàng ngày đi dạo ít phút tại công viên, vườn hoa, ven rừng, hồ, sông, biển… để hít thở không khí trong lành. Chú ý đứng tư thế hai tay chống ngang eo, thở sâu đều, mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần 10 – 30 phút.

Đặc biệt với người lao động trí óc đã luống tuổi, cần vận động thích hợp (qua tập luyện và lao động thể lực) để tăng cường hô hấp và tuần hoàn.

– Ở những nơi cần thiết và có điều kiện, nhất là vùng thành thị không khí bị ô nhiễm nhiều, có thể lập các trạm thu hít ôxy định kỳ hoặc không định kỳ cho nhiều người. Ở những nơi nghiêm trọng, còn nên có các túi đựng có ống hít ôxy cho từng người.

– Người cao tuổi bị viêm khí quản mạn tính kéo dài, hen suyễn, thiếu máu cơ tim và não, độ bão hòa ôxy huyết ở động mạch quá thấp, có thể định kỳ hít thở 50-60% ôxy. Nếu không có đủ điều kiện thì hít thêm cách quãng từ các túi đựng ôxy.

– Những người bị viêm phổi, bị các bệnh khác về hô hấp hoặc có những chướng ngại về công năng thông khí và trao đổi khí… cần đi khám để kịp thời trị liệu.

Hô hấp của không ít người bị giãn phổi (thường do viêm khí quản mạn tính, thông khí trắc trở… kéo dài gây nên) khác nhiều so với người thường. Người thường lúc hít vào, lồng ngực mở rộng, cơ hoành võng xuống, cơ bụng thả lỏng, bụng phồng lên. Còn khi thở ra, khoang ngực óp lại, cơ hoành nhô lên, cơ bụng co bóp lại, bụng lõm xuống. Như vậy, cơ bụng hỗ trợ cho cơ hoành nhô lên, võng xuống tốt hơn. Theo tính toán, cứ cơ hoành hạ xuống thêm 1cm thì có thể hít thêm 300ml không khí vào phổi. Với những người bị giãn phổi, những cử động trên ngược lại nên không có sự hỗ trợ đó.

Dưới đây là 4 cách tập góp phần khắc phục tình trạng trên:

Tập nằm thở: nằm ngửa, co gối, bụng thả lỏng, hai khuỷu tay hơi co, hai tay đặt trên bụng. Mũi hít mạnh vào làm bụng phồng lên, đồng thời hai tay vươn dang ra hai bên ngang với vai, rồi lại thở ra từ từ, bụng đồng thời hóp lại, hai bàn tay thu về đặt trên bụng như cũ.

Tập ngồi thở: ngồi ngay ngắn, hai tay hơi co, hai tay đặt sát bụng, mũi hít vào, đồng thời bụng phồng lên, hai tay vươn dang sang hai bên, rồi mồm lại thở ra từ từ, bụng xẹp xuống, hai tay đặt trở về trên bụng.

Tập đứng thở: đứng hai chân rộng ngang vai, hai khuỷu tay hơi co, hai tay đặt trên bụng, mũi hít vào, bụng phồng lên, đồng thời hai tay mở ra thành góc 45 độ chếch với thân người, rồi thở ra từ từ, hóp bụng lại, hai cánh tay cũng đồng thời thu lại, hai tay đặt trên bụng, thân hơi khom về trước.

Tập đi thở: đi từ từ, hai tay xếp chéo trước thân, hít vào, phồng bụng lên đồng thời hai tay mở dang ra hai bên gần ngang vai, rồi lại thở ra từ từ, hai tay đặt chéo về trước thân.

Từng người nên căn cứ vào đặc điểm của mình mà chọn tập theo 1-2 cách trên. Mỗi ngày tập 2 lần, mỗi lần khoảng nửa giờ. Tập nơi thoáng khí. Chỉ cần kiên trì tập đúng khoảng nửa năm, bệnh tình về hô hấp trên sẽ đỡ rõ.

Để theo dõi kết quả, tăng thêm lòng tin trong tập luyện, xin giới thiệu một số cách tự đo đơn giản:

Thử nghiệm bước bục: chọn độ cao đều, vừa phải, cố định hoặc bậc thang của nhà cao 2-3 tầng. Thỉnh thoảng hoặc định kỳ leo thử, sau đó tự đánh giá cảm giác tức thở (so với lần trước). Nếu tự thấy nhẹ nhàng hơn là có tiến bộ

Thử nghiệm thổi nến: đặt trước mặt một ngọn nến đang cháy, hít thật mạnh rồi thổi cho tắt, ghi lại cự ly từ miệng đến ngọn nến. Qua một thời gian tập luyện, lại thử thổi nến đặt xa hơn một chút. Khoảng cách càng dài chứng tỏ DTS càng tiến triển.

Trắc định hiệu số hô hấp ở ngực: dùng thước dây vòng một vòng qua ngang vú, hít vào hết sức rồi đo vòng ngực. Sau lại thở ra hết sức rồi đo vòng ngực. Nếu hiệu số giữa vòng ngực hít vào và vòng ngực thở ra càng lớn thì chứng tỏ công năng của phổi tốt.

Trắc định vòng bụng: đo vòng qua rốn, cách tính và đánh giá cũng tương tự như trên.

Theo suckhoevadoisong

Lên cơn hen phế quản ác tính phải làm sao

Bệnh hen phế quản là một trong các bệnh hay gặp nhất trên thế giới. Hiện có khoảng 300 triệu người mắc bệnh hen. Hen ác tính (HAT) gặp từ 5-12% ở bệnh nhân hen. Tỷ lệ tử vong trong các Khoa hồi sức tích cực là 5%. Theo sự phân bậc hen tại Đại hội Hô hấp châu Á – Thái Bình Dương tại Quảng Châu thì HAT được xếp vào bậc 4, tức bậc nặng và kéo dài.

HAT là gì?

hen_phe_quan_ac_tinh

HAT là một tình trạng đặc trưng bởi sự co thắt kịch phát của các phế quản nhỏ. Hiện tượng viêm là yếu tố quan trọng của sinh bệnh học, gây nên co thắt phế quản và tăng tính phản ứng của phế quản. Các tiểu phế quản tận cùng hai phổi bị tắc nghẽn nặng do dịch quánh dính. Các phế quản nhỏ và trung bình bị xẹp lại ở thì thở ra. HAT là cơn hen nặng kéo dài 1-2 ngày, mà dùng các thuốc giãn phế quản thông thường không có hiệu quả. Thể tối cấp tính làm bệnh nhân ngạt thở đột ngột, người tím ngắt, có thể tử vong trong vòng một giờ.

Các yếu tố nào dẫn đến HAT?

Trong tiền sử bệnh nhân đã có cơn hen nặng phải nằm ở khoa điều trị tích cực. Có thể bệnh nhân dùng corticoid dài ngày, nay ngừng đột ngột. Bệnh nhân dùng các loại thuốc: aspirin hoặc sunfit, kháng sinh penicillin, dùng thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn bêta; do stress bởi tâm lý, tình cảm, do gắng sức; do dị nguyên ngoại sinh xâm nhập như phấn hoa, lông thú, thức ăn…

Các dấu hiệu đe dọa, xuất hiện HAT: Cơn hen xuất hiện ngày càng nhiều, khoảng cách giữa các cơn hen ngắn lại. Giữa hai cơn hen phổi không trở lại bình thường. Liều lượng thuốc cường bêta phải tăng liên tục. Lưu lượng đỉnh thở ra giảm dần. Bệnh nhân rất mệt.

Các biểu hiện của HAT

Bệnh nhân khó thở không nằm được, phải ngồi ngả đầu ra phía trước. Tiếng nói đứt đoạn, chỉ nói được từng từ. Ho khó, thở rít sâu, tần số trên 30 lần/phút. Vã mồ hôi, giãy giụa. Có thể ngủ gà, ngủ gật, lú lẫn. Co kéo cơ hô hấp trên ức và cơ ức đòn chũm. Mặt tím tái. Nghe phổi nhiều ran rít. Nhịp tim nhanh trên 120 lần/phút. Khi rất nặng thì mạch chậm, nghe phổi mất tiếng ran, rì rào phế nang giảm. Các test thử về chức năng hô hấp FEV1 < 60%. Ôxy máu giảm đến mức thấp nhất. HAT nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng nguy kịch: Hôn mê, thở nông, yếu, ngừng hô hấp. Trụy tim mạch, mạch chậm, tím tái, vã mồ hôi, giãy giụa. Nghe phổi không thấy tiếng ran và rì rào phế nang mất (gọi là phổi câm). Bệnh nhân chết rất nhanh chóng.

Xử trí HAT

Nguyên tắc: Phải khẩn trương, cấp cứu ngay tại nhà và tiếp tục trên đường đi đến viện.

Bóp bóng qua mặt nạ với ôxy 100%. Nhanh chóng đặt nội khí quản để tiến hành thở máy qua nội khí quản. Nếu không đặt được nội khí quản, hoặc bệnh nhân ngừng tuần hoàn, cần tiến hành mở khí quản cấp cứu.

Các thuốc giãn phế quản

– Salbutamol 5mg, pha dung dịch natriclorua 0,9% hoặc glucoza 5% truyền tĩnh mạch bằng bơm tiêm điện hoặc dây truyền dịch thông thường 0,5mg/giờ (0,1-0,2 microgam/kg/phút). Tăng dần tốc độ truyền 15 phút/lần, đến khi có hiệu quả. Có thể tăng đến 4mg/giờ.

Có thể dùng thay cho thuốc cường bêta 2 là epinephrin (adrenalin) 0,3 microgam pha loãng 1/10 truyền tĩnh mạch. Có thể nhắc lại sau 5 phút. Nếu chưa đạt hiệu quả thì truyền tiếp adrenalin tĩnh mạch liên tục với tốc độ khởi đầu 0,2-0,3 microgam/kg/phút.

– Corticoid: Methyl prednisolon 40mg, tiêm tĩnh mạch 4 giờ/lần.

Các biện pháp phối hợp: Truyền dung dịch hoặc uống nhiều nước. Chống bội nhiễm, dùng kháng sinh nhóm macrolid và quinolon. Không dùng penicillin.

Nếu điều trị không kết quả, phải chuyển bệnh nhân đến khoa điều trị tích cực.

Trong thực tế thường phải cấp cứu ngay tại nhà. Vì không có sẵn máy móc, trong khi chờ đợi xe cấp cứu đến, có thể cho bệnh nhân dùng bình xịt ventolin, tiêm 1/3 ống adrenalin vào dưới da, tiêm aminophillin với dung dịch glucoza vào tĩnh mạch chậm 10-20 phút. Nếu ngừng thở thì làm hô hấp nhân tạo, hà hơi thổi ngạt.

Đối với những người có nguy cơ đe dọa xuất hiện HAT cần phải điều trị tích cực theo chỉ dẫn của bác sĩ. Loại bỏ các yếu tố dẫn đến HAT như đã nêu trên. Khi có biểu hiện cơn khó thở liên tục, kéo dài, tăng liều thuốc điều trị mà không có hiệu quả thì phải nhập viện để kịp thời cấp cứu.

Theo suckhoevadoisong

Phương pháp trị nấc

Nấc không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể đem lại khá nhiều phiền toái cho người bệnh. Nấc sau mổ có thể gây đau đớn, làm rạn vết mổ và giảm sút thể lực của người bệnh. Những trường hợp nấc kéo dài thường làm cho người bệnh bị mệt mỏi, mất ngủ, mất nước và kiềm hô hấp do tăng thông khí.

Có khoảng gần 100 nguyên nhân khác nhau gây ra nấc, thường gặp nhất là do các bệnh lý ở đường tiêu hóa gây kích thích các đầu dây thần kinh phế vị và thần kinh hoành (như bệnh lý trào ngược dạ dày – thực quản, viêm loét dạ dày, viêm thực quản, viêm túi mật, viêm tụy, dạ dày chướng hơi…). Các rối loạn chuyển hóa do thuốc và độc chất (như tăng urê máu, ngộ độc rượu, sau dùng một số thuốc) cũng là nhóm nguyên nhân thường gặp. Rất nhiều loại thuốc có khả năng gây nấc, gặp nhiều nhất là nhóm corticosteriod (prednisolon…), benzodiazepin (diazepam…), thuốc điều trị Parkinson, các hóa chất chống ung thư, kháng sinh (như nhóm macrolid, fluoroquinolon), thuốc trợ tim (digoxin) và một số dẫn xuất thuốc phiện (như hydrocodon), cần lưu ý là các thuốc chữa nấc cũng có thể gây nấc. Các nguyên nhân gây nấc khác có thể gặp là do tổn thương thần kinh trung ương (chấn thương sọ não, viêm não…), yếu tố tâm lý (lo lắng, sang chấn tâm lý…), sau phẫu thuật bụng, nhồi máu cơ tim…, một số trường hợp nấc không xác định được căn nguyên.

tri_nac

Sự đóng mở của dây thanh khi nấc.

Điều trị nấc: điều trị nguyên nhân là biện pháp quan trọng nhất, trước tiên cần xác định tất cả các tác nhân gây nấc hoặc làm nặng tình trạng nấc để loại bỏ hoặc sửa chữa nếu có thể. Trong những trường hợp không xác định được hoặc không thể điều trị được nguyên nhân, có thể cân nhắc sử dụng các phương pháp điều trị triệu chứng. Nói chung, các trường hợp nấc cấp tính thường tự khỏi, chỉ những trường hợp nấc nặng và kéo dài mới đòi hỏi các biện pháp điều trị.

Điều trị bằng thuốc: Rất nhiều loại thuốc có thể giúp giảm triệu chứng nấc theo những cơ chế khác nhau. Baclofen, một chất có cấu trúc giống GABA có tác dụng hoạt hóa một chất dẫn truyền thần kinh ức chế, từ đó ngăn chặn được các kích thích nấc. Đây là một trong những thuốc hiệu quả nhất trong điều trị các trường hợp nấc mạn tính do nhiều nguyên nhân khác nhau như các bệnh lý ở dạ dày – thực quản, tổn thương thân não hoặc nấc vô căn, kể cả những trường hợp không đáp ứng với nhiều loại thuốc khác. Thuốc có thể gây ngầy ngật, buồn ngủ, mất ngủ, yếu cơ, lú lẫn… Các loại thuốc liệt thần như chlorpromazin, promethazin, prochloperazin và haloperidol đều có tác dụng giảm nấc thông qua việc ức chế cạnh tranh với dopamin ở vùng dưới đồi. Tác dụng phụ thường gặp nhất của các thuốc này là gây ngầy ngật, buồn ngủ, khô miệng và dấu hiệu ngoại tháp… Do nhiều tác dụng phụ nên hiện nay nhóm thuốc này ít được sử dụng trong điều trị giảm nấc. Metoclopramid, một thuốc thường dùng để chống nôn cũng có tác dụng giảm nấc thông qua việc làm giảm cường độ co bóp của thực quản. Các thuốc ức chế bơm proton (như omeprazol) có thể giảm triệu chứng nấc thông qua việc giảm tiết dịch vị và giảm tình trạng đầy chướng hơi của dạ dày. Nifedipin, thuốc thuộc nhóm chẹn kênh canxi thường dùng với mục đích hạ huyết áp cũng có thể giúp giảm nấc thông qua việc đảo ngược quá trình khử cực bất thường trong cung phản xạ nấc. Trong khi đó, sertraline tác dụng chống nấc thông qua các receptor 5HT4 ở ống tiêu hóa, gây giảm các nhu động bất thường ở thực quản, dạ dày và cơ hoành hoặc qua các receptor 5HT1A và 5HT2 gây ức chế cung phản xạ nấc. Nhiều loại thuốc khác cũng có tác dụng hỗ trợ trong việc giảm nấc ở một số trường hợp như nefopam, lidocain tiêm tĩnh mạch, amitriptylin, amantadin, acid valproic, gabapentin, clonazepam, cisapride, một số thuốc gây mê và chống co giật (như phenytoin). Trong những trường hợp nấc dai dẳng không đáp ứng với một loại thuốc, việc phối hợp đồng thời nhiều thuốc là cần thiết. Phác đồ phối hợp thường được sử dụng và đã chứng minh được hiệu quả là cisaprid + omeprazol + baclofen, có thể dùng thêm gabapentin.

Điều trị không dùng thuốc:

Một số nghiệm pháp mang tính cơ học có thể được thử nghiệm trước khi quyết định dùng thuốc như hít sâu và nín thở, kích thích vào vùng hầu họng, ngoáy mũi gây hắt hơi, ép mạnh vào vùng cơ hoành bằng tay, xoa bóp vùng hậu môn, uống nước thật chậm và bịt mũi trong khi nuốt, uống một cốc nước lạnh và bịt tai trong khi uống, uống một cốc nước ấm có pha một thìa mật ong, nuốt một cục nước đá, nuốt nhanh một thìa đường hoặc mật ong, uống một cốc nước chanh vắt (không đường) hoặc ăn một lát chanh cắt… Riêng ở trẻ nhỏ có thể điều trị nấc bằng cách gây động tác mút ở trẻ (cho trẻ bú mẹ, bú bình hoặc núm vú giả…). Một số phương pháp phức tạp hơn có thể được thử nghiệm như châm cứu, gây tê ngoài màng cứng ở cột sống cổ, phong bế thần kinh hoành… Các biện pháp mang tính tâm lý như đếm lùi từ 100 hoặc tập trung vào một vấn đề phức tạp… cũng có thể giúp giảm nấc trong một số trường hợp. Phẫu thuật cắt dây thần kinh hoành là biện pháp cuối cùng, chỉ dùng trong những trường hợp nấc nặng, dai dẳng và không đáp ứng với các biện pháp điều trị khác vì có nguy cơ gây suy hô hấp.

Theo suckhoevadoisong

Xử trí thế nào khi trẻ bị khó thở

rong các bệnh về hô hấp ở trẻ em thì khó thở thanh quản là một trong những bệnh được đặt trong tình trạng cấp cứu. Hiện nay tình hình trẻ nhập viện vì các bệnh ở đường hô hấp đang tăng lên, nhiều trường hợp đến bệnh viện trong tình trạng bệnh rất nặng gây khó khăn cho công tác điều trị. Nhận biết bệnh và phòng bệnh tốt cho trẻ là điều cần thiết đối với các bậc cha mẹ. Bài viết sau xin đề cập đến khó thở thanh quản ở trẻ em.

Nhận biết dấu hiệu khó thở

tre_kho_tho_can_trong

Hầu hết trẻ bị khó thở thanh quản đều có những dấu hiệu như hít thở khó, thở chậm, nghe có tiếng rít thanh quản khi thở, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp nhất là tình trạng lõm ức và rút lõm lồng ngực. Bên cạnh đó, trẻ còn có những triệu chứng khác như khàn tiếng hay mất tiếng khi nói, ho, khóc. Đầu trẻ thường bị gật gù khi thở và hay bị ngửa ra sau trong thì hít vào. Nếu quan sát thì sẽ thấy sụn thanh quản nhô lên khi hít vào, mặt trẻ bị nhăn lại, hai cánh mũi nở rộng.

Để chẩn đoán mức độ khó thở thanh quản của trẻ, người ta chia ra 3 mức độ nặng, nhẹ khác nhau, đây là yêu cầu rất cần thiết để có thể đưa ra những xử trí đúng đắn nhất.

Mức độ 1: Trẻ xuất hiện khàn và rè tiếng khi khóc, khi nói, nhưng tiếng ho có thể vẫn trong hoặc hơi rè. Biểu hiện khó thở chưa điển hình, tiếng rít thanh quản nhẹ hoặc chưa rõ, cơn co kéo hô hấp ít. Tình trạng toàn thân chưa ảnh hưởng, trẻ vẫn còn chơi, chưa quấy khóc nhiều.

Mức độ 2: Trẻ bị mất tiếng, nói không rõ từ, tiếng ho trở nên ông ổng. Lúc này triệu chứng khó thở thanh quản rất điển hình, tiếng rít thanh quản rõ, cơn co kéo hô hấp mạnh. Trẻ xuất hiện trạng thái kích thích, vật vã, hốt hoảng, lo sợ.

Mức độ 3: Trẻ bị mất tiếng hoàn toàn, khóc hoặc nói không thành tiếng, nghe phều phào. Ngay cả khi ho cũng không thành tiếng hoặc muốn ho mà không ho được. Biểu hiện khó thở trở nên dữ dội, có triệu chứng thiếu ôxy nặng nề, lúc này trẻ có thể bị tím tái, rối loạn nhịp thở. Toàn thân trẻ bị ảnh hưởng thần kinh (hôn mê, lờ đờ hay vật vã…), tim mạch, da tái vã mồ hôi…

Xác định nguyên nhân khó thở

Trong trường hợp trẻ bị khó thở thanh quản cấp tính thường là do những nguyên nhân như: dị vật đường thở, đây là do quá trình ăn, ngậm thức ăn hoặc đồ vật nào đó bị rơi vào thanh quản. Trường hợp này rất hay gặp, nhất là khi trẻ vừa ăn vừa chơi không tập trung. Viêm thanh quản cấp là một nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng này, bệnh xuất hiện có thể do vi khuẩn (H.influenzae, streptocoque, staphylocoque) hoặc do virut (hay gặp nhất là virut cúm, sau đó là virut nhóm myxovirut). Những trẻ bị còi xương và nhiễm khuẩn nặng ở họng, đau không nuốt, nói được cũng hay mắc phải tình trạng khó thở thanh quản cấp tính. Bên cạnh đó bệnh bạch hầu thanh quản và viêm thanh quản do sởi cũng là những yếu tố quan trọng khiến trẻ rơi vào tình trạng cấp cứu này.

Các trường hợp khó thở mạn tính có thể do mềm sụn thanh quản, dị dạng sụn thanh quản (trong những trường hợp này trẻ sẽ có tiếng thở rít thanh quản bẩm sinh) hoặc do hẹp thanh quản mạn tính (do hậu quả của chấn thương hoặc hẹp thanh quản do u máu, dị dạng bẩm sinh…). Khó thở mạn tính còn do papillone thanh quản, đó là loại u nhú, lành tính ở thanh quản, u phát triển nhanh, tái phát gây khó thở thanh quản từ từ. Để xác định chính xác cần phải soi thanh quản.

Xử trí khi bị khó thở

Tất cả những trường hợp khó thở thanh quản đều cần được theo dõi chặt chẽ và xử trí bệnh kịp thời, đặc biệt là tình trạng cấp tính. Nếu trẻ có nguyên nhân bị dị vật đường thở phải nhanh chóng lấy dị vật khỏi thanh quản. Nhiều trường hợp nặng phải sử dụng mở nội khí quản, thở ôxy. Tùy theo từng nguyên nhân gây bệnh và mức độ bệnh, các bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng các loại thuốc khác nhau.

Khó thở thanh quản là bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra trong đó có nhiều nguyên nhân có thể dự phòng được. Các bậc cha mẹ không nên để trẻ ngậm đồ vật dễ gây hóc, mặt khác còn gây nhiễm khuẩn, giun sán. Nên vệ sinh sạch sẽ cho bản thân trẻ và người chăm sóc trẻ, nhất là vệ sinh trước khi cho trẻ ăn và sau khi đi vệ sinh. Cần tiêm phòng đầy đủ cho trẻ theo lịch tiêm chủng. Mang lại cho trẻ một không gian sống thoáng, sạch. Nếu thấy có những dấu hiệu bất thường ở đường hô hấp nên cho trẻ đi khám ở các chuyên khoa hô hấp để phát hiện bệnh và điều trị sớm.

Theo suckhoevadoisong

Mùa nóng cẩn thận bệnh nấm da

Với khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới gió mùa; điều kiện vệ sinh, phong tục tập quán ở nhiều nơi còn thấp kém; việc dùng kháng sinh và corticoid kéo dài, không theo hướng dẫn của thầy thuốc… là cơ hội cho bệnh về da nói riêng và bệnh do nấm gây ra phát triển lan tràn.

Có rất nhiều loại bệnh da do nấm gây nên như nấm thân, nấm kẽ, nấm tóc, nấm móng, lang ben… tuy nhiên trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản về bệnh nấm thân  (hắc lào), nấm kẽ (nước ăn chân), nấm lang ben là các bệnh dễ có nguy cơ bùng phát trong điều kiện thời tiết nóng ẩm.

Nấm hắc lào

Đây là bệnh do vi nấm thuộc nhóm dermatophytes, hay gặp nhất là hai loại trychophyton và epidermophyton. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhiều hơn ở tuổi thanh thiếu niên và trung niên.

Biểu hiện làm bệnh nhân khó chịu nhất là ngứa ở vùng da bị tổn thương, ngứa cả ngày lẫn đêm, ngứa nhiều hơn khi về đêm, khi đổ mồ hôi, hoặc khi thời tiết nóng bức… tổn thương cơ bản là các đám đỏ hình tròn, bầu dục hoặc đa cung, đường kính, số lượng khác nhau. Ranh giới rõ, có bờ viền, bờ có mụn nước, giữa có xu hướng lành, khô, bong vẩy nhẹ, phát triển ly tâm lan dần ra ngoại vi. Bệnh có thể gặp ở bẹn, chân tay, mặt, bụng, ngực… Nếu không điều trị kịp thời bệnh sẽ lây sang những vị trí khác của cơ thể, tăng mức độ tổn thương trên da, chàm hóa hoặc dễ dàng lây sang người khác do tiếp xúc trực tiếp hoặc lây qua quần áo.

Bệnh hắc lào tuy gây nhiều khó chịu cho người bệnh nhưng chữa trị không khó. Tuy nhiên nếu dùng thuốc không đúng, thuốc quá mạnh, bôi sang cả vùng da lành, da non thì sẽ gây ra tình trạng phỏng, chảy nước vùng bôi thuốc, thậm chí nếu dùng theo lời mách bảo không đúng còn gây nhiễm khuẩn, sưng đau.

Nguyên tắc điều trị

Phát hiện sớm, điều trị sớm, tránh lây lan trong tập thể.  Điều trị liên tục, đủ thời gian, đúng phác đồ. Không cào gãi, chà sát; kết hợp vệ sinh phòng bệnh ngoài da với tắm giặt, phơi nắng chăn màn, quần áo; kết hợp điều trị tại chỗ với điều trị toàn thân.

Những loại thuốc cổ điển như ASA, BSI… cũng có tác dụng tốt nhưng gây lột da nhiều, đau rát, có thể làm sạm da. Trong tuần 1: bôi BSI 2% hai lần sáng, chiều; sang tuần 2: sáng bôi BSI 2%; chiều bôi mỡ Benzosali; từ tuần 3: bôi mỡ Benzosali 1lần / ngày đến khi mịn da.

Hiện nay đã có những loại thuốc mới, có thể bôi hoặc uống. Thuốc bôi như ketoconazol, miconazol, clotrimazol… Những thuốc này có ưu điểm là không có màu, mùi thơm, không gây lột da, không sưng đau nhưng cũng có thể gây ra những dị ứng nhẹ. Những dị ứng này sẽ hết khi ngừng dùng thuốc.

Trong trường hợp bệnh tái phát nhiều lần có thể phải dùng thuốc chống nấm dạng uống. Thuốc cổ điển được sử dụng là Griseofulvin: thuốc được dùng trong nấm da mạn tính, tái phát dai dẳng điều trị bằng phác đồ thông thường không hết, hoặc nấm móng, nấm tóc, nấm da do chủng Tricophyton rubrum; thuốc không được dùng cho phụ nữ có thai, bệnh gan thận, người già, trẻ em, làm việc trên cao, người vận hành máy móc.

Hiện nay có thể dùng thuốc chống nấm thuộc nhóm azol như ketoconazol, fluconazol.

Tuy nhiên việc dùng thuốc gì và liều lượng như thế nào cần phải được thầy thuốc chuyên khoa da liễu khám và chỉ định, nếu tự ý dùng có thể sẽ xảy ra những tác dụng phụ nguy hiểm.

Nguyên nhân gây ra bệnh hắc lào là do sống trong môi trường không vệ sinh, người ra nhiều mồ hôi mà ít tắm giặt; bơi lội trong vùng nước bẩn. Chính vì vậy việc phòng bệnh phải bắt đầu bằng lối sống vệ sinh sạch sẽ, tắm gội và giặt giũ quần áo, chăn màn thường xuyên. Những người đang bị bệnh, bên cạnh việc dùng thuốc tại chỗ phải diệt nấm ở những vật dụng cá nhân như quần áo, chăn màn… bằng cách luộc ở nước sôi 100oC trong vòng 15 phút. Đối với người lành không mang bệnh không nên mặc quần áo chung với người khác, tránh làm việc nơi ẩm ướt, nếu ra mồ hôi nhiều cần phải thường xuyên tắm giặt và giữ khô những vùng da nếp như háng, nách, bẹn. Khi mắc bệnh phải đi khám để được hướng dẫn chữa trị đúng.

benh_nam_Da_do_nong

 Tổn thương da do nấm

Nấm kẽ

Căn nguyên của bệnh là do vi nấm epidermophyton, nấm trichophyton hay còn do nấm candida albicans. Bệnh bắt đầu ở giữa kẽ ngón chân thứ 3 và thứ 4. Kẽ ngón có hiện tượng bong xước da, màu hơi vàng, chảy dịch, có thể xuất hiện mụn nước. Bệnh thường gặp ở những người do nghề nghiệp phải tiếp xúc nước nhiều giờ liên tục trong nhiều ngày như nông dân, người làm vệ sinh cống rãnh, vận động viên bơi lội… nên trong dân gian hay gọi là nước ăn chân, tuy nhiên điều cần chú ý, nếu căn nguyên do nấm thì không nguy hiểm, nhưng nếu căn nguyên do nhiễm khuẩn mà bệnh nhân chủ quan không đi khám có thể dẫn tới nhiễm khuẩn toàn thân.

Về điều trị, thường sử dụng ketoconazol hoặc miconazol bôi tại chỗ, ngoài ra những người thường xuyên phải dầm trong nước bẩn, cần rửa chân bằng nước muối loãng, nước lá trầu không hay nước chè… sau đó lau thật khô mới được đi giày, tất. Bên cạnh đó, cần thường xuyên dùng dung dịch cồn iốt nồng độ thấp hoặc các loại bột có tác dụng diệt nấm ở bàn chân và kẽ ngón chân.

Nấm lang ben

Thuộc nhóm bệnh nấm gây bệnh ở lớp sừng. Tác nhân gây bệnh là malazzesia furfur  gồm có 2 loại Pityrosporum orbiculare  thâm nhập vào lớp sừng  và các lỗ chân lông và Pityrosporum ovale gây bệnh trên da đầu. Bệnh gặp ở ngư­ời nhiều mồ hôi và có thay đổi về thành phần hoá học của mồ hôi.

Bệnh bắt đầu bằng các chấm hồng nâu, hoặc trắng ở lỗ chân lông. Các chấm lớn dần lan rộng và liên kết với nhau, bờ nham nhở vòng vèo. Bề mặt tổn th­ương có vẩy da nhỏ cạo bong ra dễ dàng, gọi là dấu hiệu vỏ bào. Th­ương tổn không đau không ngứa hoặc ngứa ít lúc ra mồ hôi. Vị trí th­ường gặp ở ngực, lư­ng, cổ, bụng, vùng nếp gấp đôi khi có thể thấy ở da đầu, tay chân. Bệnh thư­ờng hay tái phát. Sau khi khỏi để lại đám mất màu khá lâu trông giống như­ bị bạch biến. Bệnh thư­ờng gặp ở n­ước nhiệt đới nóng ẩm.

Bệnh dễ điều trị nhưng hay tái phát. Tại chỗ có thể bôi các thuốc làm bong vẩy và diệt nấm như dung dịch ASA, cồn iode salicyle 2%, mỡ salicyle 3-5%. Tốt nhất nếu có điều kiện nên sử dụng các thuốc chống nấm mới thuộc nhóm nhân azole sẽ tốt hơn như kem ketoconazol hoặc fluconazol bôi 2 lần một ngày. Các trường hợp nặng có thể kết hợp với uống thuốc chống nấm toàn thân.

Lưu ý khi sử dụng thuốc chống nấm

Glyseofulvin là thuốc ít hấp thu qua đường tiêu hoá. Hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa tăng lên khi uống trong hoặc sau các bữa ăn có nhiều chất béo. Phân bố nhiều ở da, tóc, móng, gan, mô mỡ và cơ xương. Tích luỹ nhiều trong các tế bào tiền thân keratin và có ái lực cao với mô nhiễm bệnh. Thuốc được chỉ định: điều trị các loại nấm da, tóc và móng nhạy cảm. Tác dụng không mong muốn: thường gặp là nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, ban da, rối loạn cảm giác, viêm dây thần kinh ngoại biên, ngủ gà, chóng mặt, giảm bạch cầu. Do đó thuốc chống chỉ định khi người dùng có rối loạn chuyển hoá porphyrin, suy gan.

Ngược lại, ketoconazole lại là thuốc hấp thu được qua đường uống, tốt nhất ở pH acid (tức là khi đói). Thuốc phân bố vào các mô mềm, da, gân và các dịch như nước bọt, dịch khớp, mật, nước tiểu. Thuốc qua nhau thai và sữa mẹ nhưng không qua được hàng rào máu não. Thuốc được chỉ định trong điều trị các bệnh do nhiễm nấm nhạy cảm ở da, tóc, móng, đường tiêu hoá và nội tạng. Dự phòng và trị nấm ở người suy giảm miễn dịch và viêm da do tăng tiết bã nhờn. Nhưng tác dụng không mong muốn khi dùng (tùy theo thời gian và liều sử dụng) có thể gặp là buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi, tiêu chảy, chảy máu tiêu hoá; thiểu năng tuyến thượng thận, gây chứng vú to ở nam giới và giảm tình dục; có thể gặp nhức đầu, chóng mặt, kích động hoặc ngủ gà, viêm da, phát ban, mày đay, tăng enzym gan.

Fluconazol hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, không bị ảnh hưởng bới thức ăn và pH dạ dày. Phân bố tốt vào dịch cơ thể kể cả dịch não tủy, thải trừ chủ yếu qua nước tiểu. Thuốc có tác dụng tốt với hầu hết các chủng Candida kể cả nhiễm nấm ở giai đoạn cuối của bệnh nhân AIDS đã kháng thuốc trị nấm khác. Do đó thuốc được chỉ định sử dụng trong các trường hợp nhiễm nấm màng não do Cryptococcus, nhiễm nấm Candida thực quản ở bệnh nhân AIDS. Khi dùng thuốc cũng có thể gặp tăng men gan, ban da, buồn nôn, đau bụng…

Theo suckhoevadoisong

Chứng bệnh nhanh lão hóa

Lão hóa – quy luật của tự nhiên

Khi người ta càng lớn tuổi thì cơ thể càng có những thay đổi về giải phẫu và chức năng, đặc biệt là da và các cơ quan khác có xu hướng già đi, suy giảm tất cả các chức năng, đồng thời sự tái tạo kém hơn khi còn trẻ. Tuy nhiên, sự lão hóa có thể xảy ra sớm hơn do những tác động môi trường bên ngoài như ánh nắng, ô nhiễm môi trường… Ngoài ra, có nhiều bệnh lý liên quan tới lão hóa sớm của cơ thể. Cho tới nay, người ta biết được hơn 100 bệnh biểu hiện bệnh lý lão hóa sớm. Đại đa số những bệnh này là do yếu tố di truyền mặc dù bệnh không xuất hiện sớm ngay trong những năm đầu của cuộc đời. Các biểu hiện lão hóa da sớm thường biểu hiện là teo da, giảm tổ chức mỡ dưới da, da nhăn nheo, tóc bạc sớm, rụng tóc, teo móng tay, móng chân, thay đổi sắc tố trên da, da loang lổ trắng đen, loét da và da bị xơ cứng.

chung_lao_hoa_som

Hội chứng lão hóa sớm

Lão hóa sớm

Trong số các hội chứng bệnh lý lão hóa sớm có Hội chứng lão hóa Werner. Đây là hội chứng lão hóa sớm ở người trưởng thành. Bệnh thường bắt đầu sau tuổi dậy thì, bệnh tiến triển nặng dần theo thời gian. Biểu hiện của bệnh là vóc người nhỏ bé, lão suy, đục thủy tinh thể, cứng khớp, sớm mãn kinh, xơ vữa động mạch sớm, và những biểu hiện lão hóa da sớm như tóc bạc sớm, xơ cứng bì, rụng tóc hói, các loét da và có nguy cơ bị bệnh ác tính cao hơn. Bệnh nhân còn có những biểu hiện thoái hóa nhiễm sắc thể, biến đổi chuyển hóa tổ chức, có những bất thường về hệ miễn dịch và nội tiết. Đây bệnh di truyền gen lặn, tần suất mắc khoảng 1-5%o. Đặc điểm bệnh học là lão hóa không đồng đều. Thượng bì teo, một số tuyến phụ da bị mất, trung bì dày, thoái hóa trung bì và cả hạ bì. Các mạch máu và thần kinh cũng bị biến đổi giống như trong bệnh tiểu đường. Những bất thường đó thường thấy rõ ở mặt, các chi hơn là thân mình.

Biểu hiện của bệnh sớm nhất có thể nhận thấy được là tóc bị bạc ở vùng thái dương, thường xảy ra trong độ tuổi 14-18. Tóc bạc nhanh và kèm theo rụng tóc. Tuy nhiên, những biểu hiện lão hóa thấy rõ nhất là vào lứa tuổi từ 18 đến 30 nhưng đôi khi cũng có thể xuất hiện sớm hơn. Chân, bàn chân và bàn tay thường bị tổn thương nặng nhất. Vùng mặt, cổ nhẹ hơn. Biểu hiện da teo và mất dần lớp mỡ dưới da làm cho da căng, bóng và dính vào dưới da. Da vùng chân mỏng đi, nhẽo, trái ngược với một số vùng da bình thường hoặc vùng thân bị béo phì và có thể kèm theo xơ cứng bì hoại thư ở đầu chi. Các biểu hiện da mềm, nhiễm sắc tố lan tỏa và giãn mạch máu thường thấy rõ ở các chi, mặt và cổ. Dầy sừng các điểm hay bị tỳ đè như ở bàn chân, mắt cá sau khi bong ra có thể để lại vết loét không đau. Giọng nói có thể cao hoặc bị khàn do teo mỏng dây thanh âm và dính nắp thanh quản. Trí tuệ phát triển bình thường.

Đa số người bệnh có dáng vóc nhỏ, suy giảm tuyến sinh dục gây ra lông vùng nách, sinh dục thưa hoặc không có lông, tuy nhiên có một số trường hợp phát triển vóc dáng bình thường và vẫn có thể sinh đẻ. Một số tuyến nội tiết khác cũng có thể bị ảnh hưởng như tiểu đường gặp khoảng 30%, và nhiều người bị rối loạn hấp thu glucoza. Tỷ lệ mắc ung thư cao, đặc biệt là sarcôm xơ gặp khoảng 20% trường hợp. Carcinoma có thể xảy ra trên các vết loét ở chân, nhưng hiếm gặp. Xơ vữa động mạch thường xảy ra sớm. Các rối loạn chuyến hóa có thế xảy ra. Bệnh nhân thường tử vong vào tuổi từ 40 đến 60 do bệnh lý nhồi máu cơ tim hay do ung thư. Chụp XQ có thể thấy rõ can xi hóa động mạch, dây chằng, gân và tổ chức dưới da đồng thời với hiện tượng loãng xương rất nặng, đặc biệt ở chân.

Những đặc điểm nổi bật của bệnh này là già trước tuổi, cơ thể không phát triển đầy đủ, biểu hiện giống như bệnh xơ cứng bì, đục thủy tinh thể là những triệu chứng rất đặc biệt không nhầm lẫn với bệnh khác được. Nghiên cứu về gen thì thấy  biến đổi gen WRN.

Điều trị chủ yếu là hỗ trợ và giảm các triệu chứng, trong đó cần quan tâm đến các vết loét ở chân, một số trường hợp phải cắt cụt nếu bị nặng. Đục thủy tinh thể cũng cần chăm sóc và có thể mổ. Phẫu thuật thẩm mỹ với mục đích tạo hình làm đẹp có thể áp dụng cho một số trường hợp.

Theo suckhoevadoisong

Bệnh mycetoma

Bệnh viện (BV) Da liễu Trung ương tiếp nhận và điều trị một trường hợp bị bệnh mycetoma, hay còn gọi là bệnh bàn chân madura, một bệnh u nấm ở chân hiếm gặp. Bệnh nhân (BN) là chị Lương Thị T. (50 tuổi, làm ruộng, ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá). Từ 3 năm nay, ở cổ chân phải của chị T. xuất hiện các nốt nhọt sưng nề, có dịch mủ màu trắng. Càng ngày các nhọt càng lan rộng quanh cổ chân phải, tạo thành các lỗ dò mủ khiến BN đau nhức quanh cổ chân và sốt. BN đã đến BV Da liễu tỉnh Thanh Hoá điều trị 2 lần nhưng tổn thương chỉ đỡ trong thời gian dùng thuốc sau đó lại tái phát.

Chị T. được chuyển đến BV Da liễu Trung ương. Thăm khám ban đầu cho thấy toàn bộ vùng cổ chân và bàn chân bên phải sưng nề, trên nền đó có các lỗ dò ấn chảy mủ, tổ chức da sờ vào cứng và nóng hơn vùng da bình thường; cổ chân khó gấp vì tổn thương; BN vẫn đi lại được nhưng đau nhiều khi di chuyển và không chạy được.

Qua kết quả xét nghiệm, chụp phim Xquang và cộng hưởng từ cổ chân, các bác sĩ kết luận là bệnh mycetoma – một bệnh nhiễm khuẩn tại chỗ do nhiều chủng nấm hoặc actinomycetes do các sinh vật hoại sinh trong đất hoặc cây cỏ. Các vi sinh vật này xâm nhập vào dưới da qua các sang chấn trên da khi làm việc. Biểu hiện đặc trưng là các hạt do tập trung các vi sinh gây bệnh trong ổ áp-xe dò mủ, các hạt đào thải ra ngoài bề mặt da qua các lỗ dò.

benh_mycetoma

Hậu quả gây hoại tử da, tổ chức dưới da, xương bàn chân, bàn tay và các vùng da khác của cơ thể. TS.BS. Nguyễn Duy Hưng – Trưởng phòng Chỉ đạo tuyến của BV và BS. Quang Minh – người trực tiếp điều trị cho biết: chị T. làm ruộng, có thể trong lúc lao động bị chấn thương tạo đường mở cho các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào. Do điều trị ban đầu không tốt nên thương tổn càng ngày càng ăn sâu vào tổ chức dưới da và cơ, xương, khớp gây biến dạng và dị tật bàn chân phải. Bệnh chủ yếu gặp ở chân nhưng cũng có thể gặp ở các bộ phận khác của cơ thể như gáy (tổn thương do mang vác nặng), tay…

Hiện tại, bên cạnh việc dùng kháng sinh và kháng viêm tại chỗ, chị T đã được phẫu thuật để đánh giá tình trạng thương tổn xâm lấn vào tổ chức da, dưới da, cơ, xương khớp. BN được cắt bỏ các đường dò, các tổ chức xơ hoá; thăm dò tình trạng viêm xương và loại bỏ tổ chức xương viêm. Theo các bác sĩ, quá trình điều trị bệnh mycetoma sẽ phải kéo dài, có thể tới hàng năm.

Tìm hiểu thêm về bệnh viêm phổi ở trẻ em

Viêm phổi là tình trạng tổn thương cấp tính, lan tỏa 2 bên phổi gây rối loạn trao đổi khí tại cơ quan này, dẫn đến suy hô hấp, tiến triển nặng. Bệnh thường xuất hiện nhiều vào mùa đông xuân, khi thời tiết thay đổi, trời lạnh, độ ẩm cao.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh viêm phổi do nhiều nguyên nhân gây nên như vi khuẩn (phế cầu, liên cầu, tụ cầu, hemophilus influense, e.coli, trực khuẩn mủ xanh…), virút (cúm, thủy đậu, sởi, SARS), nấm, ký sinh trùng… Bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác, từ súc vật sang người. Trẻ em có thể bị bệnh sau khi tiếp xúc với người lớn mắc bệnh 2 – 3 tuần.

Viêm phổi do virút có thể gây thành dịch nguy hiểm. Ở trẻ càng nhỏ, diễn biến bệnh càng nhanh và nặng. Những trẻ suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV/AIDS), có dị tật bẩm sinh về tim mạch, phổi, lồng ngực, đẻ thiếu cân… rất dễ mắc bệnh.

viem_phoi_tre_em

ảnh minh họa

Biểu hiện của bệnh

Các biểu hiện thường rất đa dạng và phức tạp:

– Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc…

– Giai đoạn sau: nếu trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát thì sẽ diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi…

Ngoài ra, trẻ có thể bị tiêu chảy, nôn, đau bụng, phổi có nhiều ran ẩm nhỏ hạt. Tình trạng này kéo dài sẽ gây thiếu oxy cung cấp cho não, trẻ sẽ li bì hoặc bị kích thích, co giật…

Nguyên tắc điều trị viêm phổi ở trẻ là chống nhiễm khuẩn, chống suy hô hấp, chăm sóc tốt:

– Ở tuyến cơ sở: nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn nhẹ (natricloxit 9%o), súc miệng hằng ngày. Có thể dùng một số loại kháng sinh khi có tình trạng nhiễm trùng như: penixilin, amoxilin, erythromycin… (tốt nhất nên dùng đường uống, dạng siro). Khi tình trạng bệnh không cải thiện thì nên chuyển lên tuyến trên.

– Khi trẻ viêm phổi nặng: nên nằm điều trị nội trú tại bệnh viện, theo dõi sát diễn biến của bệnh và có biện pháp xử trí kịp thời. Nếu tìm được nguyên nhân gây bệnh thì dùng kháng sinh dựa theo kháng sinh đồ. Nếu không có kháng sinh đồ thì dựa vào lứa tuổi, diễn biến của bệnh mà lựa chọn các loại kháng sinh phổ rộng như: gentamycin, amoxilin, cefotaxim, cefuroxim…

– Điều trị hỗ trợ: hạ nhiệt bằng paracetamon, chườm mát…, làm thông thoáng đường thở bằng cách hút đờm dãi, nằm đầu cao, nới rộng quần áo. Cho thở oxy khi trẻ có biểu hiện suy thở. Nếu tím tái nặng, ngừng thở thì có thể đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ… Khi trẻ sốt cao kéo dài, có biểu hiện mất nước, cần truyền dịch.

– Chăm sóc: cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất, số lượng vừa phải, tránh trào ngược. Đảm bảo vệ sinh sạch sẽ và cần phải theo dõi sát tình trạng khó thở, tím tái.

Để phòng viêm phổi ở trẻ

Nhằm giúp con trẻ không bị viêm phổi, các bậc cha mẹ cần chú ý:

– Nơi ở phải đầy đủ ánh sáng, thoáng mát, lưu thông không khí tốt, ấm áp về mùa đông. Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, cho súc miệng hàng ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch.

– Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân…

– Đảm bảo cho trẻ có một sức khỏe tốt. Khi mang thai, bà mẹ phải khám thai đầy đủ, đảm bảo thai nhi phát triển tốt, có chế độ ăn đủ chất dinh dưỡng như protid, lipid, các loại vitamin, muối khoáng… Nên cho trẻ bú mẹ từ ngay sau khi sinh đến 2 tuổi để cơ thể trẻ phát triển toàn diện và khả năng chống lại bệnh tật tốt hơn.

– Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ theo hướng dẫn của cán bộ y tế cơ sở theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Nếu tiêm một số loại vắc-xin phòng viêm đường hô hấp ngoài chương trình, cần có sự hướng dẫn và tư vấn của cán bộ y tế nhằm bảo đảm hiệu quả và tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

– Lập sổ theo dõi sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ và lưu giữ sổ sau mỗi lần khám nhằm giúp nhân viên y tế nắm được diễn biến sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có hướng điều trị, phòng bệnh tốt.

Theo suckhoevadoisong

Thông tin về bệnh chàm đầu chi

Chàm đầu chi là loại bệnh ngoài da phổ biến và là bệnh thường gặp ở những vùng khí hậu nhiệt đới.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng nhưng thường có đặc điểm chung như: ngứa ngáy, khó chịu; mụn nước thành từng mảng, giới hạn không rõ, tiến triển thành từng đợt, dai dẳng và hay tái phát.

benh_cham_dau_chi

Bệnh thường tiến triển theo từng giai đoạn. Lúc đầu, mụn nước mọc rải rác hoặc tập trung ở rìa các ngón chân, tay hoặc kẽ chân với kích thước nhỏ như đầu đinh ghim, đôi khi to rõ như bọng nước, gây ngứa ngáy trên da. Mỗi đợt có thể kéo dài từ một vài ngày đến một vài tuần. Mụn nước có thể vỡ đi do bệnh nhân gãi hoặc vỡ tự nhiên. Đến giai đoạn này, mảng chàm lỗ chỗ nhiều vết trợt hình tròn còn gọi là giếng chàm (giai đoạn này dễ bị bội nhiễm). Huyết thanh chảy ra ngoài, nếu lấy bông hay giấy đắp lên thì huyết thanh sẽ tạo thành một mảng dày. Dần dần, sự xuất tiết giảm, vảy tiết khô đọng rồi bong ra để lộ lớp da nhẵn bóng mỏng. Lớp da vừa tái tạo, tự rạn nứt, bong thành mảng dày hoặc vụn như cám, hoặc da dày lên, tăng sắc tố, có kẻ ô gọi là liken hóa.

Sau một thời gian khá lâu nếu không có mụn nước tái phát da sẽ trở lại bình thường không có sẹo, bởi vì tổn thương chỉ nằm ở lớp thượng bì.

Khi mắc bệnh này, người bệnh cần đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được chỉ định dùng thuốc bôi, uống. Không nên tự mua thuốc về bôi vì có thể làm bệnh nặng thêm. Bên cạnh đó, người bệnh nên tránh các loại chất tẩy rửa như xà phòng, nước rửa bát… Người bệnh cũng tránh những loại giày dép có màu và cứng gây chà sát lên vùng da bị chàm. Không được tự ý bóc da hay kỳ cọ vì sẽ dễ gây bội nhiễm. Bạn nên kiên trì điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Theo suckhoevadoisong

Rối loạn tiết tố dẫn đến nám da

Rám má là một bệnh da với biểu hiện tăng sắc tố, thường xuất hiện ở mặt nhất là hai bên gò má, bệnh có cả ở hai giới, nhưng phụ nữ gặp nhiều hơn, bệnh tuy lành tính, không gây tử vong nhưng lại ảnh hưởng nhiều đến tính sinh lý và thẩm mỹ của người bệnh đặc biệt là phụ nữ.

Vì đâu nên nỗi?

Rám má là bệnh da do rối loạn chuyển hóa sắc tố Melanin ở da đặc biệt là ở số lượng tế bào của thượng bì. Ở những người bị bệnh rám má số lượng tế bào sắc tố hoàn toàn bình thường, nhưng do rối loạn nội tiết tố đặc biệt là estrogen làm cho tế bào sắc tố tăng cường sản xuất ra sắc tố melanin và các sắc tố này được  tăng cường vận chuyển sang các tế bào thượng bì vì vậy làm tăng sắc tố của da. Bên cạnh đó các đại thực bào cũng di chuyển lên thượng bì và thực bào các sắc tố sau đó di chuyển và khu trú  ở trong, thậm chí cả dưới hạ bì. Chính vì thế trên lâm sàng vừa có rám má khu trú ở trung bì vừa có rám má khu trú ở cả trung bì và thượng bì hay còn gọi là rám má hỗn hợp.

Chính vì lẽ đó người ta cho rằng rám má là một bệnh da tăng sắc tố có nguyên nhân là do nội tiết. Do vậy bất kể nguyên nhân nào ảnh hưởng tới nội tiết của cơ thể đều có thể làm phát sinh rám má, đặc biệt các nội tiết tố sinh dục như: Androgen, estrogen, progesteron,…ngoài ra một số loại hormon khác cũng có thể làm phát sinh bệnh như hormon tuyến giáp, tuyến thượng thận, tuyến yên….

Ngoài ra có một số yếu tố thuận lợi làm phát sinh bệnh như: Uống thuốc tránh thai, viêm nhiễm cấp hay mạn tính, hay gặp trong viêm xoang, viêm phần phụ,… chửa đẻ, nghề nghiệp nhất là những người làm nghề có liên quan đến dầu mỏ và các sản phẩm hóa dầu những người sản xuất và sử dụng nhiều nước hoa.

nam_da_do_roi_loan_tiet_to

 Nám má do rối loạn nội tiết tố

Các loại rám má

Lâm sàng: Các dát tăng sắc tố màu nâu, nâu đen, xanh đen.

Màu sắc có thể đồng đều có thể không, ranh giới tổn thương thường không đều và thường có tính chất đối xứng, tổn thương nhẵn, không có vảy, không ngứa, không đau. Tổn thương thường khu trú ở hai bên gò má, thái dương, trán, mũi, quanh miệng. Đôi khi tổn thương còn xuất hiện ở cánh tay trên. Các dát sắc tố này tăng đậm về mùa xuân hè, có giảm về mùa thu đông. Bệnh thường xuất hiện ở tuổi hai mươi nhất là tiền mãn kinh nhưng đôi khi tổn thương xuất hiện trước cả khi dậy thì và những người tận đến 50-60 tuổi mới xuất hiện.

Dựa vào mức độ tăng sắc tố và diện tích tổn thương người ta chia rám má thành các thể lâm sàng khác nhau:

Thể nhẹ: Tăng sắc tố nhẹ và tổn thương khu trú ở hai bên gò má.

Thể trung bình:  Tăng sắc tố đậm hơn, tổn thương khu trú hai bên gò má, bắt đầu lan ra các vị trí khác.

Thể nặng: Tăng sắc tố đậm, tổn thương lan rộng ra cả thái dương, trán hoặc mũi.

Thể rất nặng: Tăng sắc tố rất đậm, tổn thương lan rộng ngoài mặt còn có thể xuất hiện ở cánh tay trên.

Cách chữa

 Nguyên tắc điều trị:

Điều trị nguyên nhân nếu có thể, kết hợp với phòng tái phát và bằng thuốc bôi và thuốc uống.

Điều trị nội khoa kết hợp với Laser hay các nghiệm pháp ứng dụng công nghệ cao như tế bào gốc…

Điều trị tại chỗ:

Cơ chế bôi đơn thuần bằng các thuốc giảm sắc tố da hay  kết hợp với vitamin A-acid , kem chống nắng hay mỡ corticoid.

Lưu ý: Trường hợp nhẹ chỉ cần bôi thuốc giảm sắc da đơn thuần  vào buổi tối trước khi đi ngủ 1 lần.

Trường hợp trung bình, nặng: Ta nên phối hợp 1 hoặc 2 loại  thuốc có thể là thuốc giảm sắc tố da với kem chống nắng hoặc vitamin A-Acid hay mỡ corticoid.

Chú ý: Bôi kem chống nắng phải bôi 30 phút trước khi ra nắng, kể cả hôm trời râm, bôi mỡ corticoid chỉ dùng không quá 10 ngày.

Nếu có tác dụng phụ ngừng ngay thuốc để điều chỉnh phác đồ.

Không dùng thuốc bôi cho các trường hợp rám má ở trung bì. Rám má thể rất nặng: Ta có thể kết hợp bôi thuốc với sử dụng phương pháp khác như chiếu tia Laser hồng ngọc hay liệu pháp ứng dụng công nghệ tế bào gốc,…

Toàn thân:

Cho một loại kháng sinh phổ rộng. Uống vitamin nhóm B liều cao kéo dài 20 ngày đến 1 tháng. Vitamin C, L cystein… hỗ trợ.

Phòng ngừa bệnh

Để tránh bệnh tái phát cần bảo vệ bằng đội mũ rộng vành, đeo kính, áo dài khi ra nắng. Bôi kem chống nắng trước khi ra ngoài trời 30 phút. Tính tái phát: Không sử dụng thuốc tránh thai. Điều trị các ổ viêm nhiễm. Thường xuyên kiểm tra sức khỏe- phát hiện các rối loạn nội tiết trong cơ thể để chỉnh kịp thời.  Sinh hoạt điều độ, tránh thức khuya, bia rượu nhiều, không hút thuốc lá, ăn nhiều hoa quả, thức ăn có nhiều vitamin và khoáng chất. Hạn chế sử dụng mỹ phẩm, các chất tẩy rửa ở mặt.

Theo suckhoevadoisong

Bệnh Pellagre

Pellagre là bệnh ngoài da gây nên do rối loạn chuyển hoá vitamin PP. Bệnh thường xuất hiện ở vùng hở, nặng lên vào mùa xuân hè thuyên giảm vào mùa đông. Bệnh không tự khỏi nếu không được điều trị, ngoài tổn thương ở da còn tổn thương nội tạng như tiêu hoá, thần kinh và trường hợp nặng có thể gây tử vong.

Bệnh pellagre do rối loạn chuyển hoá vitamin PP (thường là do thiếu vitamin PP), nguyên nhân thiếu vitamin PP rất đa dạng. Có thể do một trong những nguyên nhân sau:

Ăn chế độ ăn ngô hoặc lúa miến nguyên chất (không chế biến hoặc chỉ ăn ngô và ăn lúa miến mà không ăn thêm các loại ngũ cốc khác); Rối loạn hấp thụ của cơ quan tiêu hoá. Trường hợp này ngoài thiếu  vitamin PP còn kèm theo thiếu các vitamin nhóm B khác như B1, B2, B6… Rối loạn chuyển hoá acid amin tryptophan. Ăn chế độ ăn hoàn toàn bằng rau; Do thuốc: Một số thuốc làm ảnh hưởng tới chuyển hoá và hấp thụ vitamin PP như rimifon, sulfamid, thuốc chống co giật, thuốc chống trầm cảm hoặc do khối u ác tính.

Chẩn đoán

Thương tổn da:

Bắt đầu là một đám dát đỏ giới hạn rõ rệt. Trên dát đỏ có vảy da, có khi có bọng nước, mụn nước. Nếu thương tổn mới phát, da vùng bị bệnh sẽ phù nhẹ, dần dần da trở nên khô dày và sẫm màu. Bệnh nhân có cảm giác ngứa, nóng ở vùng thương tổn. Thương tổn có tính chất đối xứng.

Vị trí:Các thương tổn có ranh giới rõ rệt, khu trú ở vùng hở (vùng bị ánh sáng mặt trời chiếu vào).Ngoài các vị trí hay gặp nói trên, bả vai cánh tay, khuỷu tay, đầu gối cũng bị thương tổn (các thương tổn này thường gặp ở bệnh nhân mặc quần đùi áo may ô).

Thương tổn niêm mạc:

Hồng ban dạng Pellagre: Đây là bệnh pellagre không điển hình, các biểu hiện lâm sàng chủ yếu xuất hiện trên da. Thương tổn cơ bản là da đỏ, bong vảy da. Bệnh khu trú ở vùng tiếp xúc với ánh nắng (vùng hở). Nếu không chữa bệnh sẽ chuyển sang bệnh pellagre thật sự.

Thương tổn nội tạng:

Cơ quan tiêu hoá: Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp của bệnh pellagre. Ngoài ra còn có các dấu hiệu khác như chán ăn, buồn nôn, đôi khi có rối loạn chức năng gan. Các triệu chứng rối loạn tiêu hoá thường xuất hiện trước khi có thương tổn da.

Thần kinh: Bệnh nhân thường đau đầu, chóng mặt, đau các dây thần kinh ngoại biên, giảm trí nhớ, có khi có dấu hiệu thiểu năng tinh thần, rối loạn thị giác.

benh_Pellagre

Để chẩn đoán xác định

Dựa vào tổn thương da, niêm mạc, tiêu hoá, thần kinh như mô tả ở trên. Thương tổn da khu trú ở vùng hở. Bệnh xuất hiện và nặng lên vào mùa hè. Điều trị thử bằng vitamin PP thấy bệnh giảm rõ rệt. Định lượng nồng độ vitamin PP  trong máu giảm. Mô bệnh học.

Chẩn đoán phân biệt

Viêm da tiếp xúc:

Một số hoá chất nhất là hoá chất bay hơi gây ra viêm da tiếp xúc ở vùng hở, chẩn đoán dựa vào tiền sử tiếp xúc với hoá chất. Diễn biến bệnh cấp tính, bệnh có thể xuất hiện vào bất kỳ lúc nào nếu tiếp xúc với hoá chất gây dị ứng. Loại bỏ hoá chất gây dị ứng bệnh sẽ khỏi.

Lupus ban đỏ:

Ban hình cánh bướm, tăng nhạy cảm ánh nắng, ban đỏ hình đĩa, đau khớp, loét niêm mạc, biểu hiện tâm thần kinh, tổn thương thận, máu giảm một hay cả ba dòng, tràn dịch đa màng, biến đổi miễn dịch, kháng thể kháng phospholipid. Nếu có 4 trên 11 tiêu chuẩn thì chẩn đoán là lupus.

Viêm da do ánh nắng:

Bệnh phát vào mùa xuân hè, có yếu tố cảm quang ở trong các lớp biểu bì da, nếu loại bỏ các chất cảm quang này và hạn chế ra nắng bệnh giảm hay khỏi hoàn toàn.

Điều trị

Thuốc dùng ngoài:

– Thuốc bong vảy, mỡ acid salicylic.

– Kem kẽm.

– Kem chống nắng.

Thuốc dùng trong:

– Vitamin PP là thuốc điều trị đặc hiệu bệnh này. Nếu điều trị bằng vitamin PP (nicotinnamid) mà không khỏi thì không phải là bệnh pellagre.

Lưu ý:  Phải uống thuốc sau khi ăn no. Thuốc có thể gây dị ứng.

– Nên cho thêm vitamin B1, B2, B6.

– Điều trị bằng vitamin PP thương tổn da sẽ giảm và mất đi nhanh nhất và trước nhất. Các dấu hiệu rối loạn thần kinh và rối loạn tiêu hoá sẽ giảm và mất đi sau.

Tiên lượng: Bệnh thường xuất hiện và nặng lên vào mùa hè. Mùa đông giảm đi chứ không khỏi hẳn. Nếu không được điều trị bệnh tiến triển càng ngày càng nặng. Da dần dần thâm, khô, dày, bong vảy liên tục. Các biểu hiện nội tạng sẽ nặng dần lên nhất là rối loạn tiêu hoá và đau dây thần kinh ngoại biên. Một số trường hợp nặng nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn tới tử vong.

Phòng bệnh

Nên ăn các loại ngũ cốc khác nhau tránh chỉ ăn hai loại ngũ cốc là ngô và lúa miến đơn thuần.

Theo suckhoevadoisong

Tìm hiểu về bệnh bạch biến

Bạch biến là tình trạng mất sắc tố làm da trắng hoàn toàn thành từng đốm, từng mảng khu trú hoặc rải rác toàn thân, do các tế bào sắc tố bị tiêu hủy và biến mất. Bệnh chiếm khoảng 1% dân số, gặp cả 2 giới nhưng có xu hướng nữ nhiều hơn nam. Bệnh có thể bắt đầu ở bất cứ lứa tuổi nào, nhưng hay gặp ở tuổi trẻ.

Vì sao bạch biến?

Xuất hiện bệnh trước 20 tuổi chiếm 50%. Cho đến nay, người ta vẫn chưa bết rõ được nguyên nhân gây bệnh. Có 3 giả thuyết được coi là tham gia vào cơ chế sinh bệnh bạch biến:

Thuyết tự miễn: có thể do rối loạn đáp ứng miễn dịch làm xuất hiện một số tế bào lympho hoạt hóa phá hủy một cách chọn lọc tế bào sắc tố. Nhưng cơ chế gây hoạt hóa các tế bào lympho này thì người ta không giải thích được.

Thuyết thần kinh: dựa vào sự tương tác của tế bào sắc tố và tế bào thần kinh.

Thuyết tự phá hủy: người ta cho rằng tế bào sắc tố tự phá hủy bởi chất độc được tạo ra trong quá trình tổng hợp sắc tố bình thường.

Liên quan đến gia đình (di truyền): nghiên cứu trong gia đình người bị bạch biến, khoảng 30% bệnh nhân thấy trong gia đình cũng có người thân bị bạch biến.

Các yếu tố khác: sang chấn tâm lý, tác động của hoá chất, rối loạn chức năng một số phủ tạng… có thể cũng là những điều kiện thuận lợi để xuất hiện thương tổn bạch biến.

benh_bach_bien

 Tổn thương bạch biến

Biểu hiện bệnh

Thương tổn bệnh bạch biến đặc trưng là những mảng da màu trắng sữa, rải rác khắp cơ thể, có hình dạng và kích thước khác nhau. Bờ thương tổn giới hạn rõ, thường ngoằn ngoèo không đều, đôi khi có màu sẫm hơn. Soi đèn Wood sẽ thấy da thương tổn bị mất melanin. Mặt thương tổn bằng phẳng với da lành, không có vảy, không thâm nhiễm, không dày sừng, không teo da, có thể trắng đều hoặc còn những chấm màu nâu.

Khởi đầu có thể thấy một hoặc nhiều thương tổn, thường khu trú ở những vùng hở. Khi có nhiều thương tổn thì thường được phân bố ở cả hai bên cơ thể, đôi khi có tính chất đối xứng. Kích thước thương tổn lúc đầu nhỏ dạng chấm trắng, sau đó liên kết lại với nhau thành đám, thành mảng lớn. Lông, tóc tại vùng bị bệnh thường cũng có màu trắng.

Vị trí thương tổn hay gặp ở một số vùng da của cơ thể như: vùng da bình thường có tăng sắc tố (hố nách, cơ quan sinh dục ngoài), vùng hở tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, vùng quanh các hốc tự nhiên, chỗ xương lồi ra (đầu gối, mào xương chày, mắt cá, gai chậu, quanh các nốt ruồi, bớt, vùng da thường xuyên bị cọ xát (quai áo lót, thắt lưng, vết bỏng) gọi là hiện tượng Köbner. Thương tổn ở niêm mạc, lòng bàn tay, bàn chân hay gặp ở người có màu da đậm. Có thể gặp thương tổn ở da đầu nhưng được che lấp bằng một đám tóc trắng.

Tiến triển của bệnh không theo quy luật, thường mạn tính dai dẳng trong nhiều năm, có những đợt tăng lên vào mùa hè và giảm đi vào mùa đông. Khoảng 15-30% bệnh nhân bệnh khỏi.

Trị bệnh bạch biến

Mục tiêu điều trị chủ yếu là nhằm cải thiện hình thức, khôi phục màu da bị tổn thương hoặc làm cho da có màu đồng đều bằng cách phá hủy sắc tố còn lại. Thời gian điều trị thường lâu, kéo dài từ 6 tháng đến một năm hoặc nhiều năm. Vì vậy, người bệnh phải kiên trì phối hợp chặt chẽ với thầy thuốc để điều trị.

Các phương pháp điều trị bệnh bạch biến hiện nay gồm: dùng thuốc toàn thân hay tại chỗ phối hợp với trị liệu ánh sáng, phẫu thuật ghép da, cấy tế bào sắc tố và các liệu pháp phối hợp (được sử dụng cùng với phương pháp điều trị phẫu thuật hoặc thuốc):

Corticoid: dùng tại chỗ có tác dụng phục hồi lại sắc tố cho da, đặc biệt được sử dụng ngay khi bệnh mới xuất hiện. Tuy nhiên, khi sử dụng các corticoid tại chỗ lâu dài có thể gây ra những tác dụng không mong muốn. Corticoid tại chỗ có thể sử dụng phối hợp với psoralen (Meladinine) tại chỗ sẽ phát huy được tác dụng hiệp đồng và hạn chế được tác dụng không mong muốn của mỗi loại thuốc khi dùng đơn độc. Một số công trình nghiên cứu sử dụng corticoid toàn thân liều thấp phối hợp với bôi meladinine cũng thấy có kết quả.

Psoralen: là một loại thuốc có tính chất cảm quang, được sử dụng phổ biến và có hiệu quả điều trị bệnh bạch biến và một số bệnh da khác. Psoralen có dạng bôi và dạng uống. Tùy theo mức độ của của thương tổn có thể dùng bôi hoặc uống hoặc phối hợp với các phương pháp điều trị khác, đặc biệt là phối hợp với phơi nắng mặt trời hoặc chiếu tia cực tím, được gọi là trị liệu psoralen kết hợp với tia cực tím bước sóng A (PUVA).

Trị liệu PUVA: sau khi uống hoặc bôi psoralen thì phơi nắng mặt trời hoặc chiếu tia cực tím A (UVA) theo một chỉ định về thời gian hết sức nghiêm ngặt và được thầy thuốc theo dõi chặt chẽ để đề phòng những tác dụng không mong muốn có thể xảy ra.

Uống psoralen kết hợp với chiếu tia cực tím A thường được sử dụng cho những bệnh nhân có diện thương tổn rộng (hơn 20% diện tích cơ thể) hoặc cho những người không đáp ứng với liệu pháp PUVA tại chỗ. Psoralen đường uống không nên dùng cho trẻ em dưới 10 tuổi bởi vì nó làm tăng nguy cơ tổn thương mắt như đục thủy tinh thể. Đối với trị PUVA uống thì phải uống psoralen khoảng 2 giờ trước phơi nắng mặt trời hoặc chiếu UVA, điều trị hai hoặc ba lần một tuần, không bao giờ điều trị 2 ngày liên tiếp.

Tác dụng không mong muốn của psoralen đường uống là gây cháy nắng, buồn nôn và nôn, ngứa, tóc tăng trưởng bất thường và tăng sắc tố. Liệu pháp PUVA cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư da, mặc dù nguy cơ là tối thiểu ở liều sử dụng cho bạch biến.

Tacrolimus (Talimus, Rocimus, Protopic): thuốc bôi thuộc nhóm ức chế bơm canxi. Thuốc phát huy tác dụng điều trị bệnh bạch biến khi kết hợp với phơi nắng hoặc chiếu UVB.

Các thuốc điều trị tại chỗ khác: một số báo cáo cho thấy một số đồng đẳng của vitaminD3 (Daivonex) cũng có tác dụng điều trị bệnh bạch biến.

Làm mất sắc tố da: là sử dụng các phương pháp làm mờ phần da bình thường còn lại trên cơ thể để phù hợp với màu da ở vùng thương tổn đã bị trắng. Áp dụng cho những người bị bạch biến trên 50% diện tích da của cơ thể. Bôi kem 20% monobenzylether của hydroquinon (monobenzone) hai lần một ngày vào các vùng sắc tố cho đến khi chúng có màu phù hợp với màu da bệnh. Cần phải tránh tiếp xúc trực tiếp da với da của người khác ít nhất 2 giờ sau khi bôi thuốc. Bởi vì, thuốc có thể lan sang gây mất sắc tố da của họ. Tác dụng phụ chủ yếu của trị liệu mất sắc tố da là gây viêm da (tấy đỏ và sưng), có thể ngứa hoặc da khô. Trị liệu làm mất sắc tố có xu hướng tồn tại vĩnh viễn và không dễ phục hồi lại được. Ngoài ra, một số người sẽ bị bất thường nhạy cảm với ánh sáng mặt trời.

Phẫu thuật: cắt bỏ thương tổn hoặc cấy ghép da tự thân. Tuy nhiên, điều trị phẫu thuật chỉ thực hiện được ở những cơ sở có đủ điều kiện về vật chất, trang thiết bị và có đội ngũ cán bộ y tế với trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Trong tương lai, việc nuôi cấy tế bào sắc tố da có thể được triển khai áp dụng để điều trị bệnh bạch biến. Hy vọng phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả điều trị cao.

Hóa trang: có thể sử dụng một số loại mỹ phẩm hoặc màu để ngụy trang những đám thương tổn bạch biến, một giải pháp tạm thời để giải quyết vấn đề thẩm mỹ khi cần thiết cho bệnh nhân.

Hiện nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh bạch biến. Nhưng nếu được chẩn đoán và điều trị sớm bằng những phương pháp phù hợp thì bệnh sẽ được cải thiện, nhiều trường hợp khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, khi điều trị bệnh nhân phải kiên trì, phối hợp chặt chẽ với thầy thuốc để theo dõi diễn biến của bệnh và phòng tránh những tác dụng không mong muốn của các phương pháp điều trị.

Theo suckhoevadoisong

Viêm da Berloque

Viêm da do cây cỏ và ánh sáng  (còn gọi là “viêm da Berloque”) là một viêm da nhiễm độc ánh sáng do người bệnh “tiếp xúc” với những thực vật (cây cỏ) nhạy cảm ánh sáng kết hợp tia cực tím có bước sóng dài (UVA 320-380 m). Nguyên nhân là do trong các loài cây cỏ này có chứa chất tăng nhậy cảm ánh sáng (thúc đẩy cơ thể hấp thụ tia cực tím trong ánh sáng mà phát bệnh.

Một vài đặc điểm

Tỉ lệ mắc bệnh chung là không rõ. Do furocoumarins được tìm thấy ở nhiều thực vật hoang dã và trong nước nên có thể nhiều người đã bị phơi nhiễm.

Mọi lứa tuổi đều có thể bị ảnh hưởng, tuy nhiên cần lưu ý là ở trẻ nhỏ do biểu hiện trên da giống như vết bầm tím có dạng dấu vân tay hoặc ngón tay nên có thể bị nhầm lẫn với lạm dụng trẻ em.

Biểu hiện thế nào?

Bệnh có thể bị nhầm lẫn với một số bệnh khác như viêm da cơ địa hoặc bỏng do hóa chất.

Viêm da do cây cỏ và ánh sáng có thể được chia thành 4 nhóm dựa trên cơ chế tác động của từng loại: viêm da dạng mày đay, viêm da tiếp xúc kích ứng, viêm da tiếp xúc dị ứng, viêm da nhiễm độc ánh sáng.

Khởi phát bệnh rất bất ngờ. Sau khi ăn hoặc tiếp xúc với một số loại rau như mùi tây, cần tây, rau cải, rau dền, rau cải dầu, rau chân vịt hoặc uống một số thuốc đông y như kinh giới, phòng phong, bạch chỉ, bổ cốt chi… lại tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thấy xuất hiện viêm da.

Người mắc bệnh chủ yếu là nam, nữ thanh niên. Trẻ em ít khi mắc.

Biểu hiện điển hình là đầu tiên thấy ngứa ngáy, khó chịu, sau đó ở những vùng hở như mặt, mu tay xuất hiện các ban đỏ bỏng rát. Các ban đỏ thường xuất hiện dần dần, chậm rãi (sau khoảng 24 giờ và đạt đỉnh vào khoảng 48-72 giờ). Các ban đỏ có thể ở mi mắt làm mắt không mở được, ở xung quanh miệng làm miệng khó há.

Từ các ban đỏ sẽ hình thành bọng nước, phỏng dộp, dần dần hoại tử. Sau một thời gian sẽ khô lại, bong vảy da.

Vị trí tổn thương: Phần lớn xảy ra ở vùng hở (thường là mu tay, cánh tay, mu chân, mặt) hoặc bất kì chỗ nào, nơi tiếp xúc với furocoumarins và vùng phơi nhiễm với ánh sáng mặt trời.

Hình dáng tổn thương: thường có hình ziczac hoặc thành vệt, thành dải. Đến giai đoạn muộn, sự xuất hiện tăng sắc tố theo hình dạng trên có thể là chứng cứ để chẩn đoán phytophotodermatitis.

Tiến triển: Nếu nhẹ, tổn thương thường ở mặt, khoảng 1 tuần thì khỏi. Nếu nặng, tổn thương có thể gặp ở nhiều nơi như cổ, chi trên, mu bàn tay…và phải 2-3 tuần, có khi lâu hơn mới khỏi.

cay_co_gay_viem_da

 Umbelliferae là loại cây dễ gây bệnh.

Nguyên nhân

Loài cây phổ biến nhất gây phytophotodermatitis là họ cây Umbelliferae. Ngoài ra còn các loại thực vật khác là Rutaceae, họ Dâu tằm và Leguninosa.

Các các chất làm tăng nhạy cảm ánh sáng chính được tìm thấy trong các loài thực vật này là furocoumarins bao gồm psoralens và 5-methoxypsoralens (5 MOP), 8-methoxypsoralens (8 MOP), angelicin, bergaptol và xanthotal.

Các loại thực vật tăng nhạy cảm với ánh sáng thường gặp là mùi tây (Cymopteris watsonii), parsnips (Pastinaca sativa), cần tây (Apium graveolens), và/hoặc cà rốt (Daucus carota), chanh, quýt, cam Bergamot, rau cải, rau dền, rau cải dầu, rau chân vịt, kinh giới, phòng phong, bạch chỉ, bổ cốt chi…

Bệnh thường xảy ra vào mùa xuân và mùa hè khi hàm lượng  furocoumarins cao nhất trong các cây cỏ và là thời gian người bệnh bị phơi nhiễm cao nhất với tia cực tím.

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định: chủ yếu dựa vào lâm sàng

Chẩn đoán phân biệt: Viêm da tiếp xúc dị ứng; Viêm da tiếp xúc kích ứng; Bệnh bọng nước do thuốc; Herpes simplex; Sứa đốt; Porphiria Cutanee tarda; Bỏng nhiệt.

Điều trị

Bệnh có thể hết nếu loại bỏ các yếu tố gây bệnh. Bệnh nhân nên tránh các cây cỏ có chứa furocoumarins

Tại chỗ.  Tổn thương cấp tính: đắp bằng gạc ướt, dung dịch nước muối sinh lí 9%0, dung dịch Jarish, thuốc làm dịu da và sát khuẩn. Nếu tổn thương nặng và phù nề, có thể bôi bằng thuốc có corticoid.

Toàn thân. Kháng histamin nếu nặng, corticoid liều 10-20mg. Dùng kem chống nắng tia UV-A giúp ngăn chặn phản ứng phototoxic khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

Theo suckhoevadoisong

Hướng dẫn giữ sạch mũi cho bé

 Khi thời tiết thay đổi, nhất là vào mùa lạnh bé rất dễ mắc các bệnh về đường hô hấp. Một trong những triệu chứng gây khó chịu cho bé là chảy nước mũi. Với những bé nhỏ không thể tự hỉ mũi được sẽ gây tắc đường thở làm cho bé khó ngủ và bú kém.
Có nhiều cách để vệ sinh mũi cho bé như: dùng tăm bông, ống bơm hút. Nhưng khi dùng tăm bông, đầu bông quấn không chắc sẽ rơi lại gây dị vật đường thở; ống bơm hút mũi mua sẵn có thể gây trầy niêm mạc mũi của bé và không thể vệ sinh được bên trong ống bơm hút sẽ gây nhiễm khuẩn làm bệnh lâu khỏi hơn.

giu_sach_mui_be_01

Bước 1

giu_sach_mui_be_02

Bước 2

giu_sach_mui_be_03

Bước 3

giu_sach_mui_be_04

Bước 4

Để lấy gỉ, nước mũi cho bé an toàn và hiệu quả có thể dùng bấc sâu kèn, thực hiện theo các bước sau:

– Dùng khăn giấy sạch dai và mềm (có thể thay thể bằng vải xô) xếp dạng bấc sâu kèn. Một tay giữ trán, tay còn lại đưa bấc sâu kèn vào một bên mũi bé giữ cho đến khi thấm ướt giấy, thay bấc sâu kèn khác (ảnh).

Dùng khăn giấy mềm và dai xếp dạng bấc sâu kèn theo các bước 1, 2, 3, 4.

Thao tác vệ sinh mũi cho bé.

Một tay giữ trán, tay còn lại nhẹ nhàng đưa bấc sâu kèn vào một bên mũi bé. Thực hiện 2-3 lần hoặc đến khi sạch mũi.Thực hiện tương tự với bên mũi còn lại. (xem hình bước 5).

giu_sach_mui_be_05

Bước 5

Trường hợp mũi khô cần nhỏ nước muối sinh lý (NaCl 0.9%), thực hiện  các bước như trên sau khi nhỏ nước muối sinh lý.

Lưu ý: Trước khi làm sạch mũi cho bé, các mẹ phải rửa tay sạch bằng xà phòng để tránh nhiễm trùng cho con.

Đối với trẻ lớn các mẹ cần hướng dẫn trẻ tự xì mũi. Trẻ dùng ngón chỏ ấn vào cánh mũi bịt một bên mũi lại, xì thật sạch rồi lại đổi sang bên kia.

Đề phòng nghẹt mũi ở trẻ các mẹ cần giữ ấm cho trẻ khi trời lạnh, tránh cho trẻ tiếp xúc với người bị cảm, cúm, bệnh đường hô hấp. Cho trẻ ăn uống đầy đủ, đảm bảo dinh dưỡng để tăng cường sức đề kháng chống lại với các bệnh tật.

Theo suckhoevadoisong

Bệnh đường hô hấp do thuốc lá gây ra

Thuốc lá là nguyên nhân không những gây ung thư phổi mà nó còn gây ra nhiều bệnh phổi khác nữa như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen…

Ảnh hưởng của thuốc đến chức năng phổi

Khi chúng ta hít vào, không khí sẽ vào đường hô hấp trên qua mũi và miệng, nơi không khí được lọc, sưởi ấm và làm ấm. Không khí hít vào sẽ đi qua khí quản để vào phổi.

Trong mỗi phổi đều có một hệ thống phế quản, phế quản gốc như là nhánh chính của cây  với các cành cây nhỏ là những phế quản, sau 17 – 20 lần phân chia thành các tiểu phế quản tận, từ các tiểu phế quản đó sẽ dẫn đến các túi nhỏ chứa khí gọi là phế nang, nó giống như chùm nho. Ở phế nang quá trình trao đổi khí sẽ xảy ra. Máu sẽ đổi CO2 lấy O2 đến các tổ chức của cơ thể.

tac_hai_thuoc_la_Voi_ho_hap

Hệ thống hô hấp có một số hàng rào bảo vệ để chống lại các bệnh. Quá trình lọc ở đường hô hấp trên giúp ngăn chặn vi khuẩn, virút và các chất gây kích thích từ ngoài vào trong phổi. Khí quản và tổ chức phổi sản xuất ra chất nhầy giúp cho việc lấy và mang các chất bẩn ra ngoài. Hỗn hợp chất nhầy và chất tạp nhiễm sẽ được đưa ra ngoài nhờ các lông nhỏ li ti gọi là lông chuyển, những lông này lay động rất nhanh về phía trên, trong một số vùng tốc độ của lông chuyển rất cao tới 1.000 lần trong một phút.

Khi khói thuốc đi vào qua miệng, người hút thuốc đã vô tình bỏ qua cơ chế bảo vệ thứ nhất đó là quá trình lọc ở mũi. Những người hút thuốc thường bài tiết nhiều đờm hơn những người không hút thuốc mà khả năng đưa đờm ra khỏi đường hô hấp lại kém hơn. Điều này là do hệ thống lông chuyển ở người hút thuốc bị liệt thậm chí bị phá hủy. Khói thuốc cũng làm thay đổi cấu trúc các tuyến tiết nhầy và do vậy thành phần của chất nhầy cũng bị thay đổi. Đôi khi các tuyến tiết nhầy bị tắc lại làm giảm khả năng bài tiết đờm. Hậu quả là chất nhầy ở những người hút thuốc bị nhiễm bởi các chất độc hại và bị giữ lại nhiều trong tổ chức phổi, cản trở sự lưu thông trao đổi khí.

Phổi của những người hút thuốc bị giảm diện tích bề mặt và giảm mao mạch, điều này có nghĩa là dòng máu lưu thông qua phổi bị giảm. Dẫn đến làm giảm cung cấp chất dinh dưỡng và oxy cần thiết cho cả nhu môi phổi và các tổ chức khác trong cơ thể để duy trì sự khỏe mạnh và chức năng bình thường của chúng.

Hút thuốc cũng gây ra hiện tượng gọi là tăng tính đáp ứng đường thở, do ảnh hưởng của các chất độc hại trong khói thuốc, đường thở bị co thắt. Khi điều này xảy ra thì luồng khí hít vào và thở ra đều bị cản trở ở người hút thuốc và do đó hình thành các tiếng ran rót, ran ngáy và có thể bị khó thở.

Ở những người hút thuốc có nhiều thông số chức năng thông khí thay đổi, trong đó thể tích khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) giảm rất nhiều.

Khói thuốc làm giảm sự phát triển của phổi và gây viêm tổ chức phổi ở trẻ nhỏ và thiếu niên biểu hiện bằng tốc độ tăng FEV1 chậm lại. Ở lứa tuổi từ 20 – 30 khi hút thuốc thì tổn thương phổi lại khác. Khi ở giai đoạn này của cuộc sống thì phổi tăng trưởng chiều cao nguyên. Ở người hút thuốc giai đoạn phát triển này ngắn lại và làm các bệnh lý gây ra do hút thuốc  sớm xuất hiện. Ở lứa tuổi trên 30 nếu hút thuốc tốc độ giảm FEV1 sẽ tăng gấp đôi (khoảng 40ml/năm) so với người không hút thuốc (khoảng 20ml/năm). Những người hút thuốc ở tuổi càng trẻ thì thời gian hút để gây ra bệnh liên quan đến đường hô hấp càng ngắn so với những người bắt đầu hút ở tuổi muộn hơn.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là thuật ngữ để chỉ những tổn thương ở phổi có liên quan đến sự tăc nghẽn đường thở. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đặc trưng bởi sự rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn, được khẳng định chẩn đoán dựa vào đo hô hấp ký đồ với nghiệm pháp giãn phế quản không hồi phục hoàn toàn.

Theo WHO, trên thế giới năm 2001 có khoảng 600 triệu người mắc BPTNMT. Bệnh tiến triển kéo dài trong nhiều năm và cuối cùng dẫn đến tâm phế mạn và tử vong. BPTNMT là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 4 trên toàn thế giới. Mối liên quan giữa BPTNMT và hút thuốc cũng mạnh như với ung thư phổi.

Thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra BPTNMT, có khoảng 15% những người hút thuốc lá sẽ có triệu chứng lâm sàng BPTNMT và 80 – 90% người mắc BPTNMT là nghiện thuốc lá. Hút thuốc lá làm cho các yếu tố nguy cơ khác của bệnh này trở nên mạnh hơn. Đặc biệt, những người hút thuốc là bị ảnh hưởng xấu hơn bởi ô nhiễm môi trường, nhiễm trùng và phơi nhiễm với các chất khói độc so với người không hút thuốc. Người hút thuốc có tỉ lệ tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao gấp 10 lần so với người không hút thuốc.

Bệnh hen

Hen được đặc trưng bởi tính phản ứng quá mức của đường dẫn khí. Sự phản ứng quá mức này dẫn đến các cơn hen, bệnh nhân thở khò khè, ho và hoặc khó thở.

Hút thuốc không phải là nguyên nhân gây ra cơn hen nhưng nó làm cho tình trạng bệnh hen nặng lên. Những người bị hen hút thuốc sẽ có tăng tiết đờm, giảm cử động của lông chuyển phế quản, tăng nhạy cảm với nhiễm trùng, tăng giải phóng các chất dị ứng tác dụng nhanh và phá hủy các đường dẫn khí nhỏ. Tỉ lệ tử vong ở người bị hen đang hoặc đã từng hút thuốc tăng gấp  trên 2 lần so với những người không hút thuốc.

Nhiễm trùng đường hô hấp

Những người hút thuốc hay bị nhiễm trùng đường hô hấp hơn những người không hút thuốc và thường bị nặng hơn. Trẻ em có bố mẹ hút thuốc lá bị bệnh đường hô hấp nhiều hơn trẻ em có bố mẹ không hút thuốc.

Những người hút thuốc không chỉ hay bị viêm phổi hơn mà còn bị tử vong nhiều hơn.

Những phụ nữ có thai bị viêm phổi mà hút hơn 10 điếu thuốc ngày có tiên lượng xấu hơn những người không hút (chết mẹ, con…).

Những người hút thuốc cũng hay bị cúm. Vắc-xin phòng cúm ít hiệu quả đối với người hút thuốc, và tỉ lệ tử vong do cúm ở những người hút thuốc cao hơn nhiều so với nhóm người không hút thuốc.

Theo suckhoevadoisong

Cách xử trí khi bị côn trùng đốt

Dị ứng do nọc côn trùng có thể gặp ở nhiều mức độ khác nhau, thủ phạm chính là các loại côn trùng thuộc họ có cánh như các loại ong và kiến lửa, đôi khi có thể là các loại rận rệp. Các loại côn trùng này có khả năng đốt và đưa nọc của mình vào cơ thể người và động vật. Nọc của chúng thường có chứa nhiều loại men và protein nên có nguy cơ cao gây ra các phản ứng dị ứng.

Côn trùng đốt có nguy hiểm?

Hầu hết các trường hợp bị côn trùng đốt chỉ xảy ra những phản ứng nhẹ tại chỗ bị đốt như sưng nề đỏ, ngứa và đau, những biểu hiện này thường tự biến mất trong vòng một vài giờ mà không để lại di chứng. Khoảng 10% trường hợp có phản ứng lan tỏa xung quanh vùng bị đốt với một quầng đỏ lan rộng, ngứa nhiều và đau nhức. Quầng đỏ này thường phát triển tối đa sau 2 ngày và tồn tại trong 7-10 ngày. Các phản ứng tại chỗ này không xảy ra theo cơ chế dị ứng mà do sự phóng thích trực tiếp histamine dưới tác dụng của nọc côn trùng. Biểu hiện phù nề này thường không nguy hiểm nhưng nếu xảy ra ở vùng đầu mặt cổ thì có thể gây chèn ép đường thở và nguy hiểm đến tính mạng.

Bên cạnh các phản ứng tại chỗ, trong khoảng 1-3% các trường hợp, vết đốt của côn trùng có thể gây ra các phản ứng dị ứng mang tính chất toàn thể như nổi mày đay, phù nề môi, mắt, hầu họng, thanh quản, khó thở, thở rít, đau quặn bụng, đi ngoài phân lỏng, trường hợp nặng có tụt huyết áp, choáng ngất, da tái lạnh… nếu không được cấp cứu kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng. Ở Mỹ, mỗi năm có ít nhất 40-50 người tử vong do bị côn trùng đốt gây sốc phản vệ. Các phản ứng dị ứng toàn thể do côn trùng đốt có thể xảy ra với một vết đốt duy nhất và thường từ lần đốt thứ hai trở đi, khi cơ thể đã có kháng thể đặc hiệu kháng lại nọc côn trùng

con_trung_dot_01

 Ong vò vẽ

Cách xử trí khi bị côn trùng đốt

Khi bị côn trùng đốt cần hết sức giữ bình tĩnh. Những phản ứng nhẹ tại chỗ thường tự biến mất sau vài giờ không cần điều trị. Trong trường hợp có phản ứng lan tỏa, vùng bị côn trùng đốt cần được rửa sạch và đảm bảo vệ sinh để tránh nguy cơ bội nhiễm, chườm lạnh để giảm phù nề. Nếu quanh vùng bị đốt có mang vòng hoặc nhẫn, cần tháo bỏ trước khi tình trạng sưng nề xuất hiện để tránh nguy cơ chèn ép. Nếu ngòi của côn trùng còn nằm trong da, cần nhẹ nhàng lấy ra bằng nhíp và tránh làm vỡ túi chứa nọc, điều này tốt nhất nên được tiến hành ngay sau khi bị đốt. Dùng các thuốc kháng histamin bôi tại chỗ (như kem phenergan) có thể giúp giảm nhanh triệu chứng ngứa.

Một số chế phẩm bôi ngoài da có chứa corticosteroid và kháng sinh như cortibion (chứa dexamethasone và neomycine) cũng nên được sử dụng sớm do có tác dụng giảm viêm, giảm phù nề và ngăn ngừa bội nhiễm. Các thuốc kháng histamine (loratadin, cetirizin) và corticosteroid (prednisolon, methylprednisolon…) đường uống hoặc tiêm có thể được sử dụng để giảm triệu chứng nếu điều trị tại chỗ không hiệu quả. Kháng sinh chỉ sử dụng trong một số ít trường hợp có bội nhiễm. Riêng trường hợp bị kiến lửa đốt, sau một ngày vết đốt thường tạo thành một mụn nhỏ do hoại tử tổ chức, cần lưu ý không làm vỡ mụn mủ này để tránh nguy cơ nhiễm trùng.

con_trung_dot_02

Dị ứng da do côn trùng đốt

Phản ứng toàn thể:

Những phản ứng này bắt buộc phải được điều trị trong bệnh viện, trong đó adrenalin là thuốc không thể thiếu và nên được dùng sớm ngay khi có thể. Những biểu hiện nhẹ nhất như nổi mày đay, ban đỏ cũng cần được xử trí sớm bằng adrenalin để ngăn ngừa những diễn biến xấu sau đó. Sử dụng sớm các thuốc kháng histamin H1 (như diphenhydramine, dimesrol) và corticosteroid (như methylprednisolon, hydrocortison…) đường uống hoặc tiêm truyền giúp giảm bớt triệu chứng và rút ngắn thời gian hồi phục. Có thể sử dụng các thuốc kháng histamine H2 như ranitidine, famotidine hoặc cimetidine để phối hợp điều trị. Các biện pháp điều trị hỗ trợ khác như thở ôxy, dùng thuốc giãn phế quản, truyền dịch… là cần thiết trong các trường hợp sốc phản vệ. Thuốc kháng histamin và corticosteroid đường uống nên được tiếp tục sử dụng 3-5 ngày sau khi bệnh nhân xuất viện để tránh nguy cơ các phản ứng dị ứng tái lại.

Các biện pháp phòng ngừa côn trùng đốt

Những người có tiền sử dị ứng hoặc đã từng bị dị ứng với nọc côn trùng cần hết sức thận trọng tránh xa các tổ ong, kiến lửa để tránh bị đốt. Khi đi ra ngoài hoặc làm những công việc có nguy cơ tiếp xúc với côn trùng, tốt nhất nên đi giầy, mặc áo dài tay tối màu, tránh mang các vật dụng có màu sắc sặc sỡ, không dùng các mỹ phẩm hoặc bày các đồ ăn, thức uống có mùi thơm quyến rũ côn trùng. Giảm mẫn cảm đặc hiệu là một phương pháp rất có hiệu quả để dự phòng các phản ứng dị ứng với nọc côn trùng, nhưng hiện nay mới chỉ có thể thực hiện được với một số loại nọc ong và kiến lửa.

Theo suckhoevadoisong

Ung thư da do ánh nắng mặt trời

 Ung thư da là một dạng ung thư phổ biến nhất hiện nay, là nguyên nhân gây tử vong cho hàng chục nghìn người trên thế giới mỗi năm. Hiện nay số người bị ung thư da ngày một tăng lên, đặc biệt những người sống tại các vùng nhiều ánh nắng mặt trời, thường xuyên tiếp xúc với tia cực tím (UV) có nguy cơ cao nhất.

Nguyên nhân chính gây ung thư da

Bình thường các tế bào da phát triển theo một trình tự tổ chức rất chặt chẽ trong biểu bì. Những tế bào mới còn non đẩy những tế bào trưởng thành lên bề mặt da. Khi các tế bào lên đến lớp trên cùng, chúng chết đi và bị tróc ra. Ung thư da là kết quả của sự phát triển bất thường các tế bào da. Nguyên nhân chính là do da bị tổn thương bởi tia cực tím. Đây là một loại sóng ánh sáng phát ra từ ánh sáng mặt trời và thường được sử dụng trong các kỹ thuật làm sạm da (giường tắm nắng nhân tạo,…). Tia cực tím có thể xuyên qua da và làm tổn thương các tế bào, là nguyên nhân gây ung thư da cũng như các vết nhăn và nốt tàn nhang do tuổi tác.

ung_thu_da_01

 Sự hiển diện của các tế bào ác tính trên da rất phong phú.

Có 2 loại tia cực tím là A (UVA) và B (UVB). Tia UVA xuyên qua da sâu hơn tia UVB, do vậy sau một thời gian phơi nhiễm tia này, khả năng chống ung thư của da bạn sẽ bị suy yếu. Tia UVB, do xuyên qua da kém hơn, nên thường gây bỏng nắng và chịu trách nhiệm cho các ung thư lớp nông – ung thư tế bào sừng hoặc tế bào đáy.

Ung thư tế bào hắc tố cũng có liên quan với tia cực tím. Các chuyên gia nhận thấy rằng, những người thỉnh thoảng tiếp xúc với ánh nắng gắt trong một khoảng thời gian ngắn hạn (như những người làm việc trong văn phòng thỉnh thoảng đi tắm nắng trên bãi biển vào những ngày nghỉ) có nguy cơ bị ung thư tế bào hắc tố rất cao so với các nông dân, công nhân làm đường hoặc những người thường xuyên làm việc dưới ánh nắng mặt trời nhiều giờ mỗi ngày.

Tuy nhiên sự phơi nhiễm với ánh sáng mặt trời thường xuyên không giải thích được một số trường hợp ung thư các vùng da ít tiếp xúc với ánh sáng, như lòng bàn chân chẳng hạn. Di truyền và gia đình cũng đóng một vai trò không nhỏ. Ngoài ra, đôi khi ung thư da còn do tiếp xúc quá thường xuyên với độc chất hoặc tia xạ. Hiện nay các trường hợp này cơ chế còn chưa được xác định.

Các dấu hiệu cảnh báo

Dấu hiệu cảnh báo thường gặp nhất của ung thư da là một chỗ biến đổi bất thường của da, ví dụ như một vết loét đau, chảy máu, đóng mài trên bề mặt, lành rồi sau đó lại loét trở lại ngay vị trí này. Dấu hiệu đầu tiên thường gặp của ung thư tế bào hắc tố thường là sự biến đổi bất thường của một nốt ruồi có sẵn hoặc xuất hiện thêm những nốt ruồi mới đáng nghi ngờ.

ung_thu_da_02

 Một tế bào ác tính được tô màu và phóng to kích thước.Thường ung thư da xuất hiện trên những vùng da tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời như: da đầu, mặt, môi, tai, cổ, ngực, cánh tay, bàn tay và cẳng chân ở phụ nữ. Tuy nhiên ung thư da vẫn có thể xuất hiện ở những vùng da còn lại, như lòng bàn tay, vùng gian ngón chân hoặc da vùng cơ quan sinh dục. Sang thương ung thư da có thể xuất hiện từ từ, phát triển chậm nhưng cũng có thể xuất hiện đột ngột.

Ba loại ung thư da thường gặp là ung thư tế bào đáy, tế bào sừng và tế bào hắc tố, trong đó phổ biến nhất là ung thư tế bào đáy và tế bào sừng. Cả hai loại này đều ở bề mặt, tốc độ phát triển chậm và khả năng chữa lành cao, nhất là khi được phát hiện sớm. Loại ung thư tế bào hắc tố nặng hơn, ảnh hưởng đến các lớp sâu hơn của da và có nguy cơ di căn đến các mô khác cao nhất.

Hầu hết các ung thư da đều gây ra những biến đổi trên một vùng da khu trú. Do vậy, nếu chú ý, bạn có thể tự phát hiện sớm được những biến đổi đáng nghi ngờ và nên đến khám ở bác sĩ càng sớm càng tốt, không nên chủ quan hoặc để lâu vì nếu không được điều trị sớm, ung thư da ngày một phát triển, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tính mạng.

Ung thư da có thể phòng được

Hầu hết các loại ung thư da đều có thể phòng ngừa được. Bạn nên thực hiện theo một số biện pháp sau để duy trì sự khỏe mạnh của làn da:

Giảm thời gian phơi nắng: Tránh làm việc và tiếp xúc ánh nắng mặt trời quá lâu, gây bỏng nắng, sạm nắng,… Tránh phơi nắng nhiều trên bãi biển, hồ bơi,… đều phản xạ ánh nắng mặt trời. Tia cực tím thường mạnh nhất vào khoảng từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều mỗi ngày. Các đám mây chỉ hấp thụ và che chắn một phần nhỏ các tia nguy hại này.

ung_thu_da_03

Các nốt ruồi không điển hình phát triển bất thường có thể thành ung thư.

Nên dùng kem chống nắng

: Trước khi tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời, nên dùng kem chống nắng cho tất cả những vùng phơi sáng, kể cả môi, 30 phút trước khi ra nắng, rồi thoa lại sau vài giờ (nên thoa nhiều lần hơn nếu bạn đi bơi, tắm biển,…). Nếu tiếp xúc với ánh nắng mặt trời quá lâu thì kem chống nắng cũng không bảo vệ được da.

Kiểm tra sức khỏe da thường xuyên: Ít nhất 3 tháng 1 lần nên kiểm tra da để phát hiện sớm những vùng da phát triển bất thường, các nốt ruồi thay đổi kích thước, tính chất,…

Nếu trong gia đình từng có người bị ung thư tế bào hắc tố, đồng thời bạn đang có nhiều nốt ruồi trên người, đặc biệt là ở cổ, bạn cần khám ở các chuyên gia da liễu theo định kỳ như sau: Nếu từ 20 – 39 tuổi: kiểm tra 3 năm 1 lần. Nếu từ 40 tuổi trở lên kiểm tra hàng năm.

Theo suckhoevadoisong

Bị bệnh về da do thiếu chất

 Nếu chế độ ăn của bạn bị mất cân đối hoặc thiếu chất, da sẽ bị tổn thương. Tùy theo chất bị thiếu mà có triệu chứng bệnh trên da hoặc kèm theo triệu chứng bệnh ở các cơ quan khác. Nhưng vấn đề khiến bạn phải băn khoăn muốn tìm câu trả lời, đó là: Tại sao chế độ ăn đầy đủ nhưng cơ thể vẫn bị thiếu chất?

Thiếu chất do ăn uống kém và do cơ thể hấp thu kém

Nhiều nghiên cứu cho biết: bình thường, đối với người khỏe mạnh, thiếu chất chủ yếu do chế độ ăn thiếu dinh dưỡng. Chẳng hạn bữa ăn thiếu thịt, cá, trứng, sữa… bạn sẽ bị thiếu chất đạm. Bữa ăn ít hay không có dầu mỡ, bạn sẽ bị thiếu chất béo. Đi nắng nhiều, làm việc lâu ngoài nắng mà không hoặc ít uống nước, bạn sẽ bị thiếu nước và một số muối khoáng. Bữa ăn thiếu rau và trái cây bạn dễ bị thiếu các loại vitamin…

beh_da_do_thieu_chat_dinh_duong_01

Ở một khía cạnh khác, khi bữa ăn hằng ngày vẫn đầy đủ các chất dinh dưỡng nhưng bạn vẫn bị thiếu chất, đó là do cơ thể của bạn không hấp thu được các chất dinh dưỡng nói chung hoặc một vài chất nói riêng. Những chất dễ bị thiếu và khi thiếu gây tổn thương trên da gồm: nước và muối khoáng, vitamin, đạm, béo.

Thiếu vitamin C  gây xuất huyết trên da

Tình trạng thiếu vitamin C là rất phổ biến, trong đó hay gặp ở những đối tượng: người già trên 55 tuổi, người hút thuốc lá, nghiện rượu, người lao động nặng, ăn uống thiếu rau xanh và trái cây. Thiếu vitamin C dễ bị xuất huyết do tính kém bền vững của thành mạch máu, hay gặp xuất huyết ở dưới da và ở niêm mạc lợi răng. Vitamin C có vai trò ngăn ngừa vết nhăn trên da, nó tham gia tổng hợp chất collagen đệm cho da không bị xệ và nhăn, tránh cho da khỏi khô, tóc và móng bớt gãy, giòn.

Vitamin C cũng tham gia điều hòa sự tiết chất nhờn của tuyến nhờn trên da. Vitamin C còn giúp ngăn chặn sự tạo các vết đồi mồi trên da ở  người lớn tuổi. Muốn tránh việc thiếu vitamin C, bạn cần ăn các thức ăn chứa nhiều chất này là rau xanh, trái cây như: rau ngót, rau đay, rau dền, súp lơ, rau cải, cà chua, chanh, cam, bưởi, dâu…

beh_da_do_thieu_chat_dinh_duong_02

Thiếu vitamin B3 gây viêm da tróc vảy.

Thiếu vitamin và chất béo da khô tróc vảy

Vitamin A có vai trò quan trọng đối với mắt, đồng thời kích thích khả năng tái sinh tế bào da, chống lại sự lão hóa và sự teo đi của da khô; điều hòa sự bài tiết chất nhờn và ngăn chặn quá trình khô da, chống lại sự hình thành lớp sừng trên da, bảo vệ nhiễm sắc tố da chống lại hiệu ứng có hại của các tia tử ngoại… Thiếu vitamin A sẽ làm cho da bị ngứa, khô, tróc vảy, xù xì, các tuyến nhờn kém hoạt động, làm cứng da.

Chống thiếu vitamin A bằng cách ăn các thức ăn có nhiều vitamin A như: gan cá, gan động vật, bơ, lòng đỏ trứng, cà chua, cà rốt, rau có màu xanh thẫm, khoai lang, bí đỏ, đu đủ, gấc…

Thiếu vitamin B2 miệng lở, môi sưng đỏ và nứt, da trên mũi nứt, lưỡi viêm sưng, đau và nứt rãnh, rối loạn ở các tuyến nhờn trên da, làm cho da khô, tróc vảy mỏng, đặc biệt là ở những chỗ da có nếp gấp, các chất nhờn vón lại trên lỗ chân lông, khiến da bị gồ ghề xấu xí.

Thiếu vitamin B3 có thể đưa tới chứng viêm da, bị sưng, tróc vảy, nhất là ở phần da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc chấn thương, viêm miệng và lưỡi sưng đỏ.

Chữa bệnh bằng các loại thuốc có chứa acid nicotinic, ăn thực phẩm có nhiều vitamin B3 như: gan, thận, thịt bò, thịt gà vịt, thịt lợn, sữa, cơm gạo…

Trong thực tế, hầu hết mọi người không thiếu chất béo. Duy chỉ có một số trường hợp bị thiếu chất béo do ăn uống theo chế độ có rất ít chất béo, hoặc ở người phải nuôi dưỡng qua truyền mạch máu lâu ngày. Nếu thiếu chất béo thì da sẽ bị khô và lớp biểu bì sẽ tróc ra những vảy mỏng nhỏ. Cải thiện bằng cách ăn nhiều chất béo có trong thịt, cá, lạc, vừng…

beh_da_do_thieu_chat_dinh_duong_03

Thiếu vitamin C bị bệnh scorbut xuất huyết dưới da.

Thiếu chất đạm  da khô, tóc thưa

Chất đạm là thành phần chính của các tế bào cũng như các cấu trúc khác của cơ thể, nên khi thiếu chất đạm sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng. Nếu thiếu đạm trầm trọng sẽ mắc bệnh Kwashiorkor là suy dinh dưỡng thể phù và có rối loạn sắc tố da. Bệnh này thường xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. Chế độ ăn có thể đầy đủ nhưng do cơ thể trẻ chưa đủ các loại men tiêu hóa nên không hấp thu được chất đạm mà bị suy dinh dưỡng do thiếu chất đạm.

Trẻ bị phù nề, kém ăn, tiêu chảy, mất cảm xúc, không tăng trưởng được. Đặc biệt da của bệnh nhi thay đổi màu, da rất khô, biểu bì tróc vảy mỏng với nhiều vết nhăn, kèm theo tóc rất thưa, mất màu sắc. Bệnh được cải thiện rất nhanh nếu trẻ được ăn uống đầy đủ chất nhất là chất đạm và điều trị suy dinh dưỡng tích cực.

Theo suckhoevadoisong

Nhận biết bệnh hồng ban rắn Bazin

Chỉ xuất hiện với những cục cứng nhỏ bằng hạt đậu nhưng có thể phát triển thành loét. Bệnh có thể nhầm lẫn với một số bệnh lý khác như gôm lao, hồng ban nút, gôm giang mai, nấm sâu. Có những trường hợp có thể điều trị khỏi bằng thuốc kháng lao nhưng cũng có những trường hợp thầy thuốc phải sử dụng nhiều biện pháp chẩn đoán cũng chưa tìm ra nguyên nhân chính xác.

Bệnh gây nhiều tranh cãi

Năm 1861, Bazin miêu tả dạng viêm mô mỡ trên bệnh nhân bị bệnh lao và đặt tên là hồng ban rắn erythema induratum; với đặc điểm mô bệnh học là hoại tử thối. Biểu hiện lâm sàng là các phản ứng dạng nốt dưới da, một số tác giả đã từng nhận định đây là bệnh lao tại chỗ do có mối liên quan mật thiết giữa biểu hiện da với bệnh lao nội tạng, test nội bì dương tính và đáp ứng một phần với thuốc điều trị chống lao. Một số nghiên cứu trước đây khẳng định rằng bệnh hồng ban rắn Bazin không phải là kết quả trực tiếp của vi khuẩn lao tại mô mỡ của da. Tuy nhiên, những nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng, trong một nhóm nhỏ bệnh nhân bị viêm mao mạch nút và phản ứng Mantoux dương tính, tác giả đã phát hiện thấy mảnh DNA đặc hiệu của trực khuẩn lao tại mảnh sinh thiết da. Hình ảnh lâm sàng và mô học không có bất kỳ mối liên quan nào với bệnh lao. Danh từ hiện tại được sử dụng, viêm mao mạch nốt, nodular vasculitis, dùng để miêu tả tất cả các trường hợp viêm mô mỡ vùng thuỳ có hoặc không có liên quan đến bệnh lao.

hong_ban_ran_Bazin_01

 Tổn thương dạng nốt trong bệnh hồng ban rắn Bazin.

Nguyên nhân gây bệnh

Tác động ban đầu xuất hiện là viêm mao mạch tại mạch máu dưới da gây thiếu máu, làm viêm và tổn thương tế bào mỡ. Nguyên nhân của bệnh không rõ, nhưng giả thiết cho rằng là do phức hợp miễn dịch gây tổn thương mao mạch. Bằng miễn dịch huỳnh quang, phát hiện thấy có sự lắng đọng Ig, bổ thể và kháng nguyên vi khuẩn tại tổn thương viêm mao mạch nốt. Tuy vậy, hầu hết các trường hợp khác không có bằng chứng cụ thể ủng hộ cơ chế miễn dịch.

Nhận biết bệnh qua nốt gờ trên da

Bệnh thường gặp hơn ở nữ và biểu hiện lâm sàng là nốt, cục cứng phát triển chậm, kích thước bằng hạt đậu, hạt dẻ hoặc to hơn, khi bệnh toàn phát, các cục nổi cao lên mặt da, hình tròn hoặc bầu dục, giới hạn không rõ. Ngoài ra còn có thể xuất hiện mảng cứng, màu đỏ, thường xuất hiện hai bên, hay tái phát và tiến triển mạn tính. Vị trí hay gặp nhất là vùng bắp chân, nhưng tổn thương có thể gặp ở cẳng chân và đùi. Sớm hay muộn, tổn thương này có màu đỏ hơi xanh và thường loét trước khi lành để lại sẹo teo. Thông thường không đau, cá biệt có trường hợp rất đau. Giữa các cục có một đường nối giữa cục này với cục kia – đây là đặc điểm của hồng ban cứng Bazin (do tắc hệ thống nội mạc). Các cục mềm giữa sau đó thì loét ra. Loét có thể hình tròn hoặc hình bầu dục, thành thẳng đứng, đáy mềm màu vàng đỏ. Xung quanh loét có viền đỏ tím xơ cứng, không có giới hạn rõ rệt với da lành. Các cục này tồn tại rất lâu vài tháng, phát triển chậm, sẹo teo, bờ thâm tím, vị trí chủ yếu ở cẳng chân, ít khi có ở phía trước và hai bên cẳng chân. Vết loét tiến triển ra vùng bờ có thể tồn tại lâu trước khi lành. Có xu hướng tái phát theo mùa, bệnh thỉnh thoảng kéo dài nhiều năm. Thời tiết lạnh được coi là một yếu tố ảnh hưởng. Bệnh nhân bị viêm mao mạch nút thường có cảm giác bắp chân sưng to, nặng và có thể gặp dạng livedo ở cẳng chân và bàn chân.

Cách chẩn đoán và điều trị bệnh

Do viêm mao mạch nốt có thể liên quan đến bệnh lao, khi bệnh nhân bị viêm mao mạch nốt nên xét nghiệm chẩn đoán lao. Xét nghiệm Mantoux 1:10.000 (1 đơn vị PPD), Xquang phổi. Tuy nhiên, viêm mao mạch nốt có thể gặp ở bệnh nhân bị lao ngoài phổi.

Xét nghiệm mô bệnh học có thể thấy u hạt dạng lao, hoại tử mỡ, phản ứng tế bào khổng lồ và hoại thư thùy mỡ. Ở giai đoạn muộn, thâm nhiễm có thể lên tới trung bì. Viêm mao mạch kích thước trung bình, chủ yếu là tĩnh mạch nhưng đôi khi động mạch có ở trong thùy mỡ kèm theo xâm nhập viêm quanh thành mạch, tế bào nội mạch sưng lên và xuất hiện huyết khối. Viêm mao mạch nguyên phát gặp ở trường hợp sớm, nhưng đôi khi chỉ thấy viêm quanh huyết quản không đặc hiệu ở trường hợp muộn.

Điều trị: Khi các xét nghiệm mô học và nguyên nhân ủng hộ chẩn đoán viêm mao mạch nốt do lao, cần điều trị thuốc chống lao theo phác đồ. Thậm chí, trong trường hợp viêm mô mỡ không đặc hiệu mà xét nghiệm Mantoux dương tính theo kinh nghiệm cần thử điều trị thuốc chống lao. Trong trường hợp viêm mao mạch nốt mà các xét nghiệm lao âm tính, nghỉ ngơi tại giường và dùng steroid đường toàn thân. Thỉnh thoảng, các thuốc giảm đau không steroid và tetracyclin cũng có hiệu quả. Tác giả Schultz and Whiting báo cáo thử nghiệm lâm sàng điều trị viêm mao mạch nốt cũng như hồng ban nút điều trị bằng potassium iodide.

Theo suckhoevadoisong

Phát hiện một trường hợp nhiễm bệnh như SARS

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ngày 16/2 đã cảnh báo các nước thành viên cần cảnh giác trước nguy cơ lây lan của một loại virus mới có thể gây chết người, tương tự như virus gây hội chứng viêm đường hô hấp cấp (SARS).

Cảnh báo của WHO được đưa ra sau khi Cơ quan Bảo vệ sức khỏe Anh (HPA) cùng ngày xác nhận thêm một trường hợp nhiễm virus ở nước này, và đây là thành viên thứ ba trong một gia đình Anh bị nhiễm loại virus mới gây viêm hô hấp cấp tính và suy thận kể trên.

Trong tuyên bố của mình, WHO nêu rõ căn cứ vào tình hình thực tế cũng như nguồn thông tin có được, WHO khuyến khích tất cả các nước thành viên tiếp tục giám sát chặt chẽ chủng virus gây triệu chứng nhiễm trùng đường hô hấp cấp này, đồng thời nghiên cứu kỹ mọi ca bệnh bất thường.

Tuy nhiên, WHO cũng chỉ rõ rằng mặc dù trường hợp nhiễm mới ở Anh là thành viên trong một gia đình đã có người nhiễm bệnh, song vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy loại virus lạ này có khả năng lây nhiễm từ người sang người. Cho tới nay, đã có 12 trường hợp được xác định nhiễm loại virus mới này, trong đó 5 người đã tử vong.

benh_ho_hap_nhu_sars

Kiểm tra thân nhiệt hành khách tại sân bay để phát hiện SARS (Nguồn: AFP).

Trước đó, HPA cho biết thành viên đầu tiên trong gia đình có ba người nhiễm virus kể trên được phát hiện mắc bệnh vào ngày 11/2, sau khi đi du lịch ở khu vực Trung Đông và Pakistan. Hai ngày sau, thành viên tiếp theo của gia đình, vốn không đi du lịch trong thời gian gần đây, cũng nhiễm bệnh.

Theo WHO, loại virus mới này thuộc chủng corona (dạng vành), bao gồm các loại virus có khả năng gây cảm lạnh và SARS, thường lây lan qua những con đường giống như các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác như cúm, virus sẽ lan truyền trong không khí khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Tuy nhiên, không giống như SARS, loại virus mới có thể gây suy thận cấp, một triệu chứng hiếm gặp đối với các loại virus gây nhiễm trùng đường hô hấp khác.

Trường hợp nhiễm đầu tiên được ghi nhận hồi tháng Bảy năm ngoái, là một bệnh nhân người Arập Xêút, và trường hợp thứ hai là một công dân Qatar, đã tới Arập Xêút trước khi nhiễm bệnh và phát bệnh khi tới Anh. Các triệu chứng của cả hai trường hợp bao gồm sốt, ho và khó thở.

Hiện vẫn chưa rõ liệu đây có phải là các triệu chứng điển hình, hay liệu loại virus này có thể tiếp tục lan rộng nhưng ở dạng một số loại bệnh khác hay không.

Hiện các nhà khoa học cũng chưa xác định được nguồn gốc loại virus nói trên. Song theo WHO, loại virus mới có thể là biến thể của các loại virus đã được xác định hiện nay hoặc có thể lây truyền từ động vật sang người. Loại virus này vẫn chưa được đặt tên và các nhà khoa học thuộc HPA tạm gọi là “London1 – novel CoV 2012.”

Năm 2003, đại dịch SARS được phát hiện tại nhiều khu vực trên thế giới, và bùng phát mạnh chủ yếu ở châu Á, đã khiến gần 800 người thiệt mạng.

Theo suckhoevadoisong

Biện pháp hổ trợ cho phụ nữ bị hiếm muộn

Ngày nay số cặp vợ chồng gặp khó khăn về sinh con tăng lên không ngừng. Các trung tâm hỗ trợ sinh sản ở nước ta đang phải chịu nhiều áp lực để đáp ứng nhu cầu này. Thế nhưng nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn còn chưa hiểu rõ về các thuốc hỗ trợ sinh sản và các sự cố có thể gặp khi sử dụng thuốc.

Hiếm muộn là khi không có khả năng thụ thai sau 1 năm có quan hệ tình dục không bảo vệ ở những phụ nữ dưới 35 tuổi, hay sau 6 tháng với phụ nữ trên 35 tuổi hay không thể mang thai đến đủ tháng. Nếu bị hiếm muộn, không nên chờ đợi mà cần gặp thầy thuốc ngay.

ho_tro_hiem_muon

 Hình ảnh mô phỏng tinh trùng đến gặp trứng để làm tổ.

Những trường hợp chọn lọc nhất cần đến sự trợ giúp của phương pháp hỗ trợ sinh sản

– Rụng trứng không thường xuyên (phải kích thích để trứng rụng).

– Buồng trứng đa nang: dùng metformin có tác dụng tốt nhưng nếu vẫn không có thai được sau nhiều chu kỳ thì thụ tinh trong ống nghiệm (TTTÔN) thích hợp hơn.

– Lạc nội mạc tử cung: cho thuốc ức chế rụng trứng sau đó soi ổ bụng để loại bỏ nang và hủy diệt ổ lạc nội mạc tử cung. Nếu sau 6 tháng vẫn không có thai thì điều trị thêm với phương pháp khác như dùng thuốc kích thích rụng trứng để tăng cơ may có thai hay TTTÔN.

– Bệnh ở vòi trứng: nếu bệnh ở vòi trứng nghiêm trọng thì TTTÔN là phương pháp hiệu quả hơn. Cắt bỏ vòi trứng ứ nước qua soi ổ bụng trước khi làm TTTÔN sẽ thuận lợi hơn để đạt được kết quả.

– Chồng có ít tinh trùng: có thể điều trị để nâng cao chất lượng tinh trùng. Nếu quá ít tinh trùng thì cách duy nhất là tiêm tinh trùng vào bào tương của trứng để tạo phôi. Sau đó phôi được chuyển vào buồng tử cung.

– Khi không còn trứng ở buồng trứng và tinh hoàn không sản xuất ra tinh trùng thì phải xin trứng và tinh trùng của người cho.

Thuốc kích thích rụng trứng là những thuốc gì?

Mục đích của kích thích rụng trứng là giúp cho hiện tượng rụng trứng ở phụ nữ diễn ra hàng tháng. Để rụng trứng, cần có vai trò của cả một trục bắt đầu từ tác động qua lại giữa vùng dưới đồi và tuyến yên. Hormon tự nhiên do vùng dưới đồi tiết ra (GnRH) báo cho tuyến yên tiết ra hormon kích thích nang noãn phát triển (gọi là FSH) và hormon tạo thể vàng (gọi là LH); hai hormon này của tuyến yên tác động đến buồng trứng để tiết ra hormon estrogen, progesteron và làm cho nang noãn vỡ ra, giải phóng trứng nên gọi là rụng trứng (hay phóng noãn). Ở nam giới, hormon tuyến yên kích thích tạo ra tinh trùng.

Những thuốc thường dùng để tăng khả năng thụ thai có nhiều loại nhưng tác dụng chính là kích thích buồng trứng tạo ra nhiều nang noãn, làm cho nang noãn chín và vỡ ra để trứng phóng ra ngoài.

– Loại thuốc tác động đến não để tiết ra nhiều hormon kích thích buồng trứng: clomiphene citrate (tên biệt dược là clomid, serophene).

– Loại kích thích buồng trứng tạo ra nhiều nang noãn hơn và nhờ thế tăng số lượng trứng: hMG (humegon, pergonal…).

– Loại có tác dụng làm cho các nang noãn chín và kích thích nang vỡ để phóng ra trứng: hCG (profasi, pregnyl).

– Loại chuẩn bị nội mạc tử cung để phôi làm tổ: progesteron, tiêm bắp hay viên nang đặt âm đạo.

– Loại thuốc tác động đến não để triệt tiêu sự tiết ra hormon ngăn cản nang noãn phát triển và rụng trứng. Thường phối hợp với các thuốc khác để kiểm soát tốt hơn chu kỳ của phụ nữ.

Thuốc kích thích rụng trứng có thể gây ra biến chứng gì?

Quan trọng nhất là hội chứng quá kích buồng trứng, tiếp theo là đa thai (hơn 2 thai).

Các biến chứng khác do buồng trứng to ra, có thể bị xoắn, bị chảy máu hay vỡ và phải can thiệp phẫu thuật.

Hội chứng quá kích buồng trứng

Đó là trạng thái bệnh lý khi nhiều nang noãn ở buồng trứng cùng phát triển và gây ra sự ứ dịch trong bụng (gây ra chướng bụng), đôi khi có dịch cả trong lồng ngực (gây khó thở). Đôi khi cần phải vào viện để rút nước trong ổ bụng hay trong lồng ngực. Điều trị bằng truyền dung dịch đạm (albumin) có tác dụng tốt.

Đa thai

Là lo lắng của nhiều phụ nữ điều trị hiếm muộn. Những thai phụ đa thai (3 thai trở lên) dễ đẻ non (trước 37 tuần ), nhẹ cân so với tuổi thai (dưới 2.500g, thậm chí dưới 1.500g) nên tỷ lệ bệnh tật và tử vong cao hơn; việc chăm sóc cho những trẻ nhẹ cân cũng tốn kém và phải theo dõi lâu dài hơn.

Sự cố sinh đa thai sau dùng thuốc kích thích rụng trứng có thể do:

– Loại thuốc kích thích rụng trứng: trong những chu kỳ dùng thuốc, tỷ lệ đa thai đến 30%, so với tỷ lệ đa thai 1- 2% ở những thai nghén không dùng thuốc.

– Tuổi của người mẹ: tỷ lệ sinh nhiều thai tăng theo tuổi mẹ, với các bà mẹ ở nhóm tuổi 35 – 39 thì tỷ số này tăng từ 48 lên 403. Các thầy thuốc khuyên: phụ nữ sau khi lập gia đình nên có con trước 35 tuổi, tốt nhất trước 30 tuổi; khi đã xấp xỉ 35 tuổi mà chậm có con nên đi điều trị sớm. Nếu cần xin trứng thì xin trứng người trẻ và làm TTTÔN với tinh trùng của chồng. Người vợ vẫn có thể mang thai và sinh đẻ bình thường.

Theo suckhoevacuocsong