Tag Archives: tim mạch

Dinh dưỡng cho người tăng huyết áp

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến và có xu hướng ngày một tăng ở nước ta. Stress do áp lực cuộc sống và công việc, chế độ ăn quá nhiều muối, thịt và mỡ động vật, ít rèn luyện thể lực, ít rau xanh… là những căn nguyên chính khiến số người mắc tăng huyết áp tăng cao ở Việt Nam.

Ăn nhiều mỡ và bệnh tăng huyết áp
Ảnh hưởng của dầu mỡ lên hệ tim mạch rất khác nhau. Hầu hết các loại mỡ động vật đều có chứa cholesterol và chứa từ 60-90% acid béo bão hoà (trừ mỡ cá hay mỡ một số loài chim có chứa ít hơn) nên mỡ động vật không có lợi cho phòng chống THA. Các loại dầu thực vật không có cholesterol và chứa ít (dưới 40%) acid béo bão hòa (trừ dầu dừa và dầu nhân hạt cọ) nên dầu thực vật là loại thực phẩm có lợi cho phòng chữa bệnh THA. Mỗi người một ngày ăn vào khoảng 300-500mg cholesterol. Thức ăn chứa nhiều cholesterol là thịt, gan, óc, lòng đỏ trứng, bầu dục, lòng non… Khi cholesterol tăng nhiều trong máu, nó sẽ bị lắng đọng và tích luỹ quá mức ở tế bào nội mạc để dần hình thành mảng đông lipid và phát triển thành những mảng vữa xơ động mạch. Làm cho thành mạch kém đàn hồi, dẫn đến THA.

Lòng lợn mắm tôm là món ăn chứa nhiều cholesterol và muối, người tăng huyết áp cần phải tránh.

Lòng lợn mắm tôm là món ăn chứa nhiều cholesterol và muối, người tăng huyết áp cần phải tránh.

Muối ăn góp phần tích cực khiến huyết áp tăng cao
Nói muối ăn (NaCl) thực chất là nói đến vai trò của ion Na trong muối ăn vì nó ảnh hưởng tới việc giữ nước trong cơ thể. Trong điều kiện bình thường, các hormon và thận cùng phối hợp điều hoà việc đào thải Na ăn vào. Khi quá khả năng điều chỉnh của cơ thể, hệ thống động mạch có thể tăng nhạy cảm. Tế bào cơ trơn tiểu động mạch ứ Na sẽ ảnh hưởng đến độ thấm của calci qua màng, làm tăng khả năng co thắt của tiểu động mạch gây tăng huyết áp. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo người có tuổi không nên dùng quá 6g muối/ngày (trong đó 40% từ các thực phẩm chế biến sẵn, 40% từ nấu nướng, 20% từ thức ăn tự nhiên). Các cuộc điều tra cho thấy: ở nơi ăn nhiều muối, tỉ lệ tăng huyết áp cao hơn những nơi khác. Muốn phòng và chữa bệnh tăng huyết áp cần giảm lượng muối ăn vào chỉ còn dưới 4g muối/ngày (1,5g Na) hoặc ít hơn nữa, có nghĩa là chỉ nên ăn rất nhạt, nấu nướng dùng ít mắm muối hoặc phải chọn thực phẩm chứa ít muối.

Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn
Ít natri, giàu kali: hạn chế muối xuống dưới 6g/ngày, ăn nhiều rau quả để tăng kali trừ khi có ít nước tiểu. Không ăn các món mặn như dưa, cà muối, mắm tôm, cá biển…
Hạn chế các thức ăn có tác dụng kích thích thần kinh và tâm thần: rượu, cà phê, trà đặc.
Tăng sử dụng các thức ăn uống có tác dụng an thần, hạ áp, lợi tiểu như canh lá vông, hạt sen, ngó sen, chè sen vông, nước rau, nước luộc ngô…
Hạn chế chất béo, đường bột, bánh kẹo, ăn nhiều rau quả tươi.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bổ xung chất xơ để có sức khỏe mỗi ngày

Đóng vai trò quan trọng với sức khỏe con người thức ăn giàu chất xơ giúp giảm nguy cơ phát triển bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì. Bên cạnh đó, chất xơ hỗ trợ phòng chống táo bón, kích thích tiêu hóa giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh hơn.

Đóng vai trò quan trọng với sức khỏe con người thức ăn giàu chất xơ giúp giảm nguy cơ phát triển bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì. Bên cạnh đó, chất xơ hỗ trợ phòng chống táo bón, kích thích tiêu hóa giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh hơn.

bo-xung-chat-xo-de-co-suc-khoe-moi-ngay

Đối với người lớn tuổi táo bón là chứng bệnh gây nhiều “đau khổ” nhất, trong khi đó việc dùng các thuốc chống táo bón liên tục thực sự không có lợi. Người bị bệnh này thường hay mặc cảm ít khi chia sẻ với con cái việc mình tiêu hóa ra sao nên thường hay giấu bệnh. Khi bị táo bón nếu để lâu ngày không được chữa trị kịp thời sẽ gây ra viêm đại tràng mãn tính, ung thư đại tràng đặc biệt là bệnh trĩ. Ngoài những thực phẩm hỗ trợ tiêu hóa thì thói quen ăn nhiều rau quả tươi có tác dụng giúp người cao tuổi tăng cường sức đề kháng. Rau quả tươi cung cấp thêm nhiều vitamin cho cơ thể cũng như bổ sung đầy đủ các yếu tố vi lượng và các chất chống oxy hóa.

Có câu: “Vạn bệnh vào từ miệng” vì thế một chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ tránh được nhiều bệnh tật. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, rau quả tươi, nhất là những rau màu xanh thẫm như cải xanh, súp lơ,… đều giàu chất xơ. Rau củ được xem là “bạn” của người già như: cam, bưởi, dưa hấu, đu đủ, rau đay, rau mồng tơi… cung cấp nhiều vitamin C và cũng là nguồn cung cấp dồi dào vitamin A giúp tăng sức đề kháng.

Hơn nữa ăn mặn là “kẻ thù” gây ra các bệnh thận, tăng huyết áp. Do vậy không nên ăn những thức ăn nấu lại nhiều lần. Thức ăn tốt, đảm bảo vitamin, khoáng chất là phải ăn ngay sau khi nấu lúc này hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn còn cao.

Chế độ ăn hợp lý có tác động làm giảm huyết áp và phòng xơ vữa động mạch. Ăn đúng khoa học, đảm bảo sức khỏe, lựa chọn thực phẩm có bổ sung chất xơ tự nhiên FOS sẽ có lợi cho đường tiêu hóa, giúp hấp thu thức ăn tốt hơn, ngăn ngừa táo bón. FOS có tác dụng điều hòa hệ vi sinh vật đường ruột (kích thích vi khuẩn có lợi, kìm hãm vi khuẩn có hại) bảo vệ đường tiêu hóa giúp hạ Cholesterol máu.

Nên uống nước đủ và đúng, và cần khuyến khích và giám sát lượng nước uống hàng ngày. Lượng nước trung bình là 30ml/kg/ngày. Đối với người lớn tuổi nên uống từ từ, từng ít một, rải đều trong ngày, không đợi tới lúc khát mới uống.

Cuộc sống khỏe mạnh bắt nguồn từ một chế độ dinh dưỡng hợp lý. Do đó nên ăn đa dạng, cân đối và hợp lý. Điều quan trọng là chế độ dinh dưỡng này phải được duy trì đều đặn mỗi bữa, mỗi ngày.

Nguồn sức khỏe

Phòng tim mạch, đau đầu bằng quả anh đào

Quả anh đào (cherry) không chỉ ngon, ngọt lịm, đẹp mắt và thơm. Cherry còn có nhiều tác dụng trong phòng và chống nhiều loại bệnh, tốt cho tim mạch, giảm huyết áp và chống viêm.

1. Quả anh đào giàu kali giúp giảm huyết áp bằng cách loại bỏ lượng natri dư thừa trong cơ thể. Loại quả này cũng giữ mức kali và natri cân bằng vì vậy người ta cho rằng ăn cherry có thể phòng chứng tăng huyết áp.

phong-tim-mach-dau-dau-bang-qua-anh-dao

2. Trái anh đào giàu pectin, một loại chất xơ hòa tan giúp phòng bệnh tim mạch nhờ khả năng giảm lượng cholesterol có hại. Loại quả này cũng chứa các chất chống oxy hóa mạnh, rất tốt cho việc phòng bệnh ung thư và tim mạch.

3. Anh đào cũng có thể làm dịu cơn đau khớp, đau đầu và nửa đầu. Một nghiên cứu của các nhà khoa học ở Đại học East Lansing, bang Michigan cho thấy dùng một bát cherry mỗi ngày sẽ giúp bạn loại bỏ chứng viêm khớp hoặc đau đầu kinh niên, giảm rối loạn tiêu hóa và lượng axit uric trong máu, nguyên nhân gây đau nhức khớp.

theo sức khỏe đời sống / Times of India

Hiện tượng mãn dục nam

Theo nghiên cứu có khoảng 190 triệu nam giới tại châu Á gặp trục trặc về khả năng tình dục mà nguyên nhân là do mãn dục nam, nhưng chỉ có 5% trong số đó được điều trị. Làm việc căng thẳng, sinh hoạt và ăn uống bất hợp lý là một trong những nguyên nhân khiến chứng bệnh này đang có nguy cơ gia tăng và trẻ hóa ở nam giới.

Nam giới cũng “mãn kinh”

man-duc-nam

Tình trạng mãn kinh của phụ nữ được nhiều người biết đến nhưng “mãn kinh” của đàn ông, chính xác là mãn dục nam lại ít được nhắc tới, do yếu tố tâm lý ngại ngùng của các quý ông khiến bệnh càng nặng. Mãn dục nam gây ra những thay đổi lớn ở nam giới, trong đó biểu hiện gây phiền muộn nhất với các quý ông là sự suy giảm chức năng tình dục (giảm ham muốn tình dục, gia tăng rối loạn cương dương). Bệnh tác động rõ rệt nhất tới cơ thể ở độ tuổi sau 40, tuy nhiên nhiều người khi mới bước sang giai đoạn 30 cũng đã có những dấu hiệu của mãn dục, khiến giảm ham muốn tình dục, “trên bảo dưới không nghe”.

Ngoài những nguyên nhân do yếu tố tuổi tác và sự lão hoá của cơ thể thì những năm gần đây, độ tuổi suy giảm nội tiết tố sinh dục ở nam giới ngày càng trẻ hơn. Nguyên nhân chính là do cuộc sống hiện đại ngày nay, con người thường xuyên phải chịu các áp lực và căng thẳng (stress) trong công việc và cuộc sống. Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiều và thường xuyên bia rượu thuốc lá cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự suy giảm nội tiết.

Theo TS. BS Dương Minh Sơn, UV Ban chấp hành TƯ Hội Y học Giới tính Việt Nam, trưởng khoa Da liễu và Nam học Bệnh viện YHCT TƯ thì ở nam giới khỏe mạnh, nồng độ testosteron trong máu là 300-1200ng/dl. Theo quy luật của sự lão hóa tự nhiên, sau tuổi 30, hoạt động của tinh hoàn suy giảm 2% mỗi năm, dẫn đến sự suy giảm nồng độ testosteron trong máu. Khi nồng độ testosteron trong máu giảm xuống dưới 300ng/dl được gọi là suy sinh dục nam. Cơ thể nam giới sẽ xuất hiện hàng loạt triệu chứng mãn dục ở nhiều hệ cơ quan: giảm ham muốn, rối loạn cương dương, giảm tinh trùng gây khó có con, dễ mắc các bệnh lý về tim mạch, huyết áp, rối loạn hô hấp như ngưng thở và ngáy to khi ngủ, rối loạn thần kinh làm giảm trí nhớ…

Tăng nồng độ testosteron bằng cách nào?

Mãn dục nam (còn gọi là hội chứng PADAM) là một hội chứng do sự suy giảm nội tiết tố sinh dục nam testosteron trong máu. Mãn dục nam tuy không nguy hiểm đến tính mạng, không gây đau đớn về thể xác nhưng lại tác động tiêu cực đến tinh thần, ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc gia đình của nam giới. Testosteron là một loại hormon sinh dục quan trọng được bài tiết chủ yếu trong tế bào Leidig của tinh hoàn nam giới. Testosteron làm nên nhiều kỳ tích, quyết định tính nam trong cơ thể nam giới.

Trong chức năng sinh dục, testosteron giúp làm tăng hưng phấn khi sinh hoạt tình dục, tăng sinh tinh trùng. Do đó khi testosteron suy giảm kéo theo nhiều hệ lụy, nhất là chuyện giảm ham muốn “chăn gối”. Để cải thiện đời sống tình dục, việc phái mạnh cần làm là duy trì khả năng tiết testosteron. Trong đó, việc duy trì chế độ sinh hoạt lành mạnh, không rượu bia, thuốc lá, có chế độ tập luyện thể dục thể thao hợp lý và dinh dưỡng đầy đủ đóng vai trò quan trọng. Những thực phẩm giúp gia tăng sản sinh hai chất này là: hàu, thịt bò, đậu xanh, sữa, pho mát, rau xanh….

Y học cổ truyền có những vị thuốc, bài thuốc hay giúp hạn chế quá trình mãn dục nam, duy trì tuổi xuân cho nam giới. Vì vậy, nam giới tuổi trung niên cần bổ sung lượng hormon testosteron bị thiếu hụt từ các thảo dược thiên nhiên như bá bệnh, nhục thung dung, ba kích, lộc nhung, nhân sâm, kỷ tử… Các thảo dược này giúp bổ sung và cân bằng hormon testosteron tự nhiên trong cơ thể, làm giãn mạch thể hang, tăng lưu lượng máu đến dương vật, kéo dài thời gian cương, giúp gia tăng chất lượng và cường độ “yêu”.

Theo sức khỏe đời sống

Ngăn ngừa đột quỵ

Theo khuyến nghị của Tổ chức Đột quỵ Thế giới – WSO, những người có nguy cơ bị đột quỵ hay đã từng bị đột quỵ nên thực hiện 6 hành động sau

ngan-ngua-dot-quy

1. Biết các yếu tố nguy cơ cá nhân của bạn: cao huyết áp, tiểu đường, và cholesterol trong máu cao.

2. Vận động cơ thể và tập thể dục thường xuyên.

3. Tránh béo phì bằng cách giữ một chế độ ăn uống lành mạnh.

4. Hạn chế uống rượu.

5. Tránh khói thuốc lá. Nếu bạn hút thuốc, hãy tìm sự giúp đỡ để ngăn chặn ngay bây giờ.

6. Tìm hiểu để nhận ra những dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ và làm thế nào để hành động.

Theo ANTĐ

Phục hồi chức năng tai biến mạch máu não

Khoảng 1/3 số người bị tai biến mạch máu não sau đó bị liệt nửa người. Sau 6 tháng, gần 2/3 bệnh nhân không thể tự làm các hoạt động bình thường. Vì vậy, ngay khi chưa xuất viện, người nhà đã phải nghĩ đến kế hoạch tập luyện phục hồi chức năng cho họ.

Tại bệnh viện

Tuần đầu tiên: Đánh giá khả năng nuốt và trợ giúp cho bệnh nhân những hoạt động của cuộc sống hằng ngày.

Tuần thứ 2 đến tuần thứ 6: Rèn luyện cho bệnh nhân dùng một tay để làm các công việc như mặc quần áo, tắm rửa, đi vệ sinh. Cho bệnh nhân rèn luyện ở tay bị liệt, dùng vai và khuỷu tay để trợ giúp cho những động tác như cầm, nắm và kéo. Cho tập luyện có theo dõi và trợ giúp ở những khoảng cách khoảng 10 m.

phuc-hoi-chuc-nang-tai-bien-mach-mau-nao

Ở nhà sau khi nằm viện

Tháng thứ 1 đến tháng thứ 6: Tập cho bệnh nhân đi bộ mỗi ngày khoảng 5 phút; cho tập những động tác như cầm cốc, cầm sách, gấp quần áo, tập cầm nâng những đồ vật kích cỡ, nặng nhẹ khác nhau. Mỗi ngày tập luyện khoảng 20 phút cho đến khi bệnh nhân có thể tự làm được động tác này. Nếu bệnh nhân không thể tự làm, có thể dùng các dụng cụ trợ giúp tay hoặc chân. Cho bệnh nhân tập theo các dụng cụ này.

Ngoài 6 tháng: Tăng cường đi bộ. Nếu bệnh nhân mất tiếng nói, nên cho nghe và đọc các câu chuyện trên báo chí, truyền hình, rồi ngay lập tức cho bệnh nhân tập kể lại câu chuyện. Tập những kỹ năng này với mức độ khó tăng dần, khoảng 20 giờ mỗi tuần.

Khoảng 20% bệnh nhân có mất tiếng nói sau tai biến mạch máu não. Việc điều trị cho bệnh nhân mất tiếng nên bắt đầu từ sớm, ngay trong 3 tháng đầu tiên. Các chuyên gia tiếng nói khi tập luyện cho bệnh nhân trong giai đoạn đầu cần có sự tham gia của những người thân trong gia đình hoặc những người tình nguyện. Họ chính là những người sẽ tiếp tục giúp đỡ cho bệnh nhân ở giai đoạn sau. Thời gian cho tập luyện tiếng nói phải là 40-100 giờ trong 3 tháng đầu tiên.

Sự hồi phục thường cơ thể chỉ có ở những bệnh nhân có tổn thương mức độ trung bình. Với những bệnh nhân bị tổn thương mức độ nặng thì sự hồi phục gần như là không có. Với những bệnh nhân bị liệt nửa người, phải tập luyện những động tác hỗ trợ, như tự chuyển từ giường qua xe lăn hoặc tự di chuyển bằng kỹ năng dùng một tay. Sự tập luyện tích cực với cường độ cao 16 giờ hoặc hơn mỗi tuần có tác dụng hồi phục tốt hơn hẳn những bệnh nhân chỉ tập luyện vài giờ mỗi tuần.

Nên tập luyện sớm tay ngay khi tay có thể tự di chuyển được chút ít. Nếu như tay không di chuyển được trong vòng 6 tuần đầu thì hầu như sẽ không thể hồi phục được. Nên tập tay 3-6 giờ một ngày trong khoảng 3-6 tuần sau tai biến. Việc dùng điện châm có thể giúp cho bệnh nhân tăng được lực co cơ, hỗ trợ động tác duỗi và gấp tay. Tuy nhiên, nếu chỉ châm cứu đơn thuần thì khả năng cải thiện ít hơn.

Trong tai biến mạch máu não, liệt được chia ra liệt cứng và liệt mềm. Đa phần các bệnh nhân là liệt cứng, chỉ một số nhỏ bệnh nhân có liệt mềm. Những bệnh nhân liệt mềm thường bị tàn tật nhiều hơn do tay liệt mềm khó sử dụng được. Trong khi đó, những bệnh nhân liệt cứng có thể sử dụng được tay và chân nhiều hơn cho các động tác.

Từ đi bộ là mong muốn của tất cả các bệnh nhân tai biến mạch máu não. Khi đang nằm viện, nếu bệnh nhân đã có thể co chân lại được, phải tập đi từng bước. Có thể cho tập đi từng đoạn ngắn dưới nạng hoặc được người trợ giúp. Để hồi phục khả năng đi bộ, thậm chí ngay cả đoạn ngắn, cần phải có tập luyện. Mỗi bệnh nhân phải có ít nhất 15 phút mỗi ngày tập cho đi bộ. Dù tập sau 3 tháng, thậm chí cả sau một năm thì vẫn có cải thiện rõ ràng. Tuy nhiên, nếu tập sớm thì sẽ hồi phục tốt hơn.

ThS Phạm Như Hùng

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Thiếu sắt có thể có những nguy cơ gì

Sắt từ lâu đã được biết đến là một thành phần có tác dụng vô cùng quan trọng đối với cơ thể con người. Thiếu sắt không chỉ dẫn đến tình trạng thiếu máu mà còn gây ra nhiều vấn đề nguy hiểm về sức khỏe khác cho con người.

Từ 200 năm trước, các bác sĩ đã tìm ra vai trò của sắt trong cơ thể con người. Thậm chí, những nhà khoa học đầu tiên phát hiện ra căn bệnh thiếu máu – căn bệnh vốn rất khó xác định thời bấy giờ – đã được trao giải thưởng vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe con người.

Nguy-hai-tu-viec-co-the-bi-thieu-sat

Thiếu sắt là nguyên nhân gây ra nhiều chứng bệnh nguy hiểm cho trẻ em, phụ nữ và cả người già, trong đó phải kể đến các chứng bệnh liên quan đến sự suy giảm hệ hô hấp và hệ tim mạch. Các vấn đề liên quan đến tình trạng thiếu sắt gồm có:

Hiện tượng tim đập nhanh gây căng thẳng, mệt mỏi

Việc chẩn đoán bệnh ở những thế kỷ trước khi mà khoa học còn chưa phát triển là khá khó khăn. Người ta không tìm ra nguyên nhân cơ bản của hiện tượng và cho đó là căn bệnh không thể chữa trị. Ngày nay, dưới sự phát triển của y học, các bác sĩ dễ dàng xác định được các triệu chứng của hiện tượng thiếu máu. Thậm chí bất cứ ai cũng có thể xác định được nhờ vào những dấu hiệu dễ nhận biết của chứng thiếu máu, đó là hiện tượng hoa mắt, chóng mặt, suy nhược cơ thể… và hệ quả của nó có thể là bệnh tim mạch và suy hô hấp.

Hiện tượng rụng tóc, bong móng

Nguy-hai-tu-viec-co-the-bi-thieu-sat1

Hầu hết bệnh nhân bị thiếu máu là do thiếu sắt, có thể khiến cho da bệnh nhân bị nhăn nheo, tóc bị rụng và mỏng, móng tay dễ bị bong. Theo giải thích của các nhà khoa học thì sắt là một chất khoáng chiếm số lượng lớn trong máu. Chức năng quan trọng nhất của sắt là duy trì quá trình tạo ra các hemoglobin (yếu tố tiếp nhận oxy trong máu) và myoglobin (1 dạng của hemoglobin tồn tại trong các cơ).

Khi trong máu thiếu sắt, phần chân tóc cũng sẽ bị ảnh hưởng. Bị thiếu dinh dưỡng, chân tóc sẽ yếu và dễ bị tổn thương hơn, dẫn đến việc tóc dễ bị rụng. Để cân bằng lượng sắt trong máu, cách tốt nhất là cải thiện chế độ ăn uống. Ăn nhiều đồ ăn có chứa chất sắt và các thành phần giúp tăng cường sự hấp thụ sắt để lấy lại sự cân bằng sắt trong máu.

Giảm trí nhớ và trí thông minh ở con người

Nguy-hai-tu-viec-co-the-bi-thieu-sat2

Thiếu sắt trong thời gian dài còn là nguyên nhân làm suy giảm khả năng tư duy, giảm trí thông minh ở con người. Điều này đã được khá nhiều nhà khoa học chứng minh.

Phụ nữ mang thai bị thiếu máu hoặc trẻ em được cung cấp dinh dưỡng không đảm bảo là những đối tượng dễ bị tác động nhất. Ngoài ra, ở phụ nữ trong thời kỳ xuất hiện kinh nguyệt, hiện tượng thiếu sắt cũng xảy ra khá phổ biến.

Suy giảm hệ miễn dịch, khả năng sinh sản

Đó là sự thực đang diễn ra khá phổ biến ở các nước nghèo trên thế giới hiện nay. Trẻ em ở những quốc gia kém phát triển thường xuyên bị mắc phải những căn bệnh nguy hiểm và tình trạng thiếu dinh dưỡng dẫn đến thiếu máu chính là nguyên nhân không nhỏ. Bởi thiếu sắt làm suy giảm hệ miễn dịch của con người. Giải thích cho hiện tượng này, các bác sĩ cho biết: thiếu sắt làm giảm quá trình sản sinh ra các tế bào T – lymphocytes (tế bào bạch cầu có vai trò chống lại sự tấn công của vi khuẩn đối với cơ thể). Khi hàng rào bảo vệ cơ thể (bạch cầu) bị giảm đi, việc hệ miễn dịch bị suy giảm là điều không thể tránh khỏi.

Ngoài ra, theo nhiều kết quả điều tra của nhiều tổ chức y tế trên thế giới, những người bị mắc chứng thiếu máu cũng có tỷ lệ vô sinh khá cao so với bình thường. Phụ nữ khi mang thai mà bị thiếu máu còn có tỷ lệ bị sảy thai rất cao.

Nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ trong các hoạt động của cơ thể

Thiếu dinh dưỡng, mà đặc biệt là thiếu máu, tất yếu hoạt động của cơ thể sẽ không thể được duy trì bình thường. Mọi quá trình hoạt động của các bộ phận trong cơ thể ít nhiều cũng bị kém đi, thậm chí nếu thiếu sắt lâu dài có thể gây rối loạn các hoạt động chức năng trong cơ thể con người.

Những nguyên nhân gây ra thiếu sắt và thiếu máu

Thiếu sắt chủ yếu là do việc ăn uống thiếu chất gây ra. Bản thân sắt cũng là một thành phần rất khó hấp thụ trong cơ thể. Vitamin A, C, E và axít folic chính là những thành phần cần thiết giúp thúc đẩy quá trình hấp thụ sắt trong cơ thể.

Trong một vài năm trở lại đây, các nhà khoa học cho biết, hiện tượng thiếu sắt còn diễn ra ở cả những người béo phì – những đối tượng vốn ít bị chứng thiếu máu nhất. Theo tiến sĩ Andrew Prentice thuộc Trường đại học London – Anh: nguyên nhân phần nhiều là do chế độ ăn uống kiêng khem thiếu chất khoáng mà bệnh nhân phải áp dụng để giảm cân. Chế độ ăn ít thịt sẽ dẫn tới hiện tượng thiếu sắt cho con người, bởi sắt có chứa khá nhiều trong thịt.

Nguồn giáo dục

Phát hiện bệnh tim bằng kiểm tra huyết áp cả hai tay

Việc kiểm tra áp huyết cả 2 tay, thay vì chỉ một tay có thể giúp các bác sĩ phát hiện sớm bệnh tim tiềm ẩn.

Một nghiên cứu mới phát hiện, khi có sự khác biệt lớn giữa các số đo huyết áp ở 2 tay, những người dường như khỏe mạnh tăng hơn 1/3 nguy cơ bị bệnh tim, đột quỵ hoặc các vấn đề tim mạch tiềm tàng nguy cơ tử vong khác.

Theo thống kê ở Anh, mỗi năm, bệnh tim và đột quỵ đã cướp đi sinh mạng của hơn 160.000 người. Và cứ 7 phút, một ai đó ở đảo quốc sương mù lại chết vì bệnh tim. Trong khi đó, áp huyết cao tăng gấp 3 nguy cơ bệnh tim và đột quỵ, có thể gây hại thận và mắt, cũng như ngày càng có nhiều liên quan đối với chứng mất trí nhớ. Tuy nhiên, các triệu chứng cao huyết áp thường được nhận biết cho tới khi quá muộn.

do-huyet-ap

Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Y, Đại học Havard (Mỹ) đã tiến hành đo huyết áp cả 2 tay cho gần 3.400 nam giới và phụ nữ có bề ngoài khỏe mạnh, từ 40 tuổi trở lên. Sự khác biệt nhỏ về số đo giữa tay phải và tay trái là bình thường. Trong nghiên cứu, áp huyết tâm thu thay đổi trung bình khoảng 5 điểm.

Tuy nhiên, ở 10% đối tượng nghiên cứu tồn tại sự khác biệt tới trên 10 điểm giữa số đo huyết áp tâm thu của 2 tay. Những người đàn ông và phụ nữ này đối mặt với việc tăng 38% nguy cơ bị bệnh tim, đột quỵ và các vấn đề liên quan trong 13 năm tới.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu có khác biệt lớn giữa các số đo ở 2 tay, động mạch cung cấp máu cho cánh tay có chỉ số đo cao hơn nhiều khả năng bị mỡ làm tắc nghẽn. Đây là dấu hiệu cho thấy, các động mạch ở tim và não cũng lâm vào tình trạng tương tự, tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ.

Khám phá trên hé lộ, một việc làm đơn giản, nhanh chóng và không đắt đỏ như đo thêm huyết áp cả 2 tay có thể cung cấp cho chúng ta những cảnh báo sớm, có giá trị về bệnh tiềm ẩn. Các dấu hiệu cảnh báo này sau đó có thể tạo ra những thay đổi đối với lối sống, nhằm cải thiện sức khỏe trái tim của họ.

Theo Daily Mail

Sẽ có thuốc chữa alzheimer – tim mạch – đái tháo đường

Các chuyên gia ở Trung tâm Langone Medical Center (LMC) trực thuộc ĐH New York đang tiến gần đến việc cho ra đời một loại thực phẩm đa năng: viên thuốc “3 trong 1” có khả năng chữa đồng thời 3 căn bệnh là Alzheimer (suy giảm trí nhớ), bệnh tim và đái tháo đường týp 2.

se-co-thuoc-chua-alzheimer-tim-mach-va-dai-thao-duong

Để sản xuất được dược phẩm độc đáo này, các nhà khoa học đã phát hiện được cơ chế ngăn ngừa cơ thể cung cấp các phân tử có tên là cytokines gây suy giảm hệ thống miễn dịch, phát sinh viêm nhiễm, đặc biệt là viêm mạn tính, thủ phạm làm cho não tích tụ các mảng tiểu cầu, gây tắc nghẽn mạch máu và làm tăng rủi ro bệnh Alzheimer, tim mạch và rất nhiều chứng bệnh nan y khác. Hạn chế viêm nhiễm mạn tính hình thành các mảng bựa tiểu cầu chính là nguyên nhân hạn chế 3 căn bệnh nói trên. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học không chỉ phát hiện thấy cơ chế tạo cytokin mà còn tìm được cách phong bế cơ chế này đồng thời hạn chế các phân tử cytokin thâm nhập vào dòng máu, hạn chế nguy cơ gây bệnh cho con người. Hiện nay, nhóm đề tài đang tiếp tục nghiên cứu để phát triển ra loại thuốc 3 kết hợp nói trên. Liệu pháp này dự kiến sẽ được đưa vào thử nghiệm lâm sàng trong vòng 5 năm tới.

Khắc Nam (Theo Prevention)

Theo SKDS

Bệnh tăng huyết áp ở người trẻ

Tăng huyết áp ở người trẻ (dưới 35 tuổi) là dạng bệnh lý khá phổ biến hiện nay với tỉ lệ người mắc khoảng 5% -12%. Tình trạng huyết áp tăng cao gây nhiều tác động xấu đến sức khỏe và hiệu quả công việc.

Phát hiện tình cờ

Tăng huyết áp ở người trẻ có đến 70% là không có triệu chứng điển hình như nhức đầu, chóng mặt… và được phát hiện tình cờ trong đợt khám sức khỏe định kỳ hoặc bệnh nhân đến khám bệnh vì lý do khác.

Tăng huyết áp ở người trẻ thường bị tăng số huyết áp dưới, ví dụ 120/95mmHg, trong khi tăng huyết áp ở người cao tuổi thường là tăng số huyết áp trên, ví dụ 170/80mmHg. Dấu hiệu không điển hình của tăng huyết áp ở người trẻ có thể gặp như khó kiềm chế cảm xúc, dễ nóng giận, dễ mất tập trung, dễ ảnh hưởng đến công việc, giao tiếp…

tang-huyet-ap

Tăng huyết áp gây ra các biến chứng trên tim mạch, tai biến mạch máu não… Ngoài ra, ở người trẻ bị tăng huyết áp thì tỉ lệ rối loạn chức năng tình dục cao gấp 2,5 lần so với người không bị tăng huyết áp. Tỉ lệ này còn cao hơn khi người trẻ bị tăng huyết áp kèm theo các bệnh khác như đái tháo đường, bệnh lý thận mạn… Ngoài ra, người bệnh cũng dễ bị rối loạn cảm xúc theo chiều hướng dễ nóng giận, mất kiềm chế…

Các yếu tố cản trở việc điều trị tăng huyết áp ở người trẻ xuất phát từ tâm lý không chấp nhận mình bị tăng huyết áp vì cảm thấy cơ thể khỏe mạnh bình thường, tâm lý che giấu bệnh vì sợ ảnh hưởng việc thăng tiến trong công việc.

Phòng bệnh thế nào?

Nguyên nhân gây tăng huyết áp ở người cao tuổi có đến 95% trường hợp không có nguyên nhân, chỉ khoảng 5% có nguyên nhân. Tuy nhiên, ở người trẻ, tỉ lệ tăng huyết áp có nguyên nhân cao hơn so với người cao tuổi.

Để phòng ngừa tăng huyết áp ở người trẻ tuổi, cần thực hiện giảm cân nếu bị béo phì. Nên áp dụng chế độ ăn giảm cân: ít đường, ít mỡ, nhiều chất đạm và chất xơ. Ngoài ra, nên giảm bớt khẩu phần trong mỗi bữa ăn chứ không nên giảm bớt số bữa ăn hằng ngày. Không nên ăn quà bánh vặt, nên ăn nhạt. Chỉ nên ăn không quá 2 – 4g muối mỗi ngày.

Lượng muối này bao gồm cả lượng muối có trong thức ăn và nước chấm. Nên ăn thức ăn có chứa nhiều các chất kali (có nhiều trong chuối, nước dừa, đậu trắng…), can-xi (có nhiều trong sữa, tôm, cua…), ma-giê (có nhiều trong thịt) để hoạt động của hệ tim mạch được ổn định. Nên ăn chất đạm có nguồn gốc từ cá và thực vật hơn là các loại thịt lợn, bò, gà…

Không nên ăn quá ngọt ngay cả khi không bị đái tháo đường…, hạn chế ăn mỡ động vật. Nên ăn nhiều rau xanh, trái cây để cung cấp nhiều chất khoáng, vitamin và chất xơ. Hạn chế uống nhiều rượu. Nên rèn luyện thân thể, thường xuyên tập thể dục đều đặn mỗi ngày, mỗi lần khoảng 30-45 phút. Nên tập các loại hình như dưỡng sinh, đi bộ, chạy bộ… và tuyệt đối không được gắng sức. Giữ nếp sinh hoạt điều độ, ổn định, tránh trạng thái xúc động, lo âu. Ngưng hút thuốc lá. Khi điều trị dùng thuốc, người bệnh nên tuân thủ lời dặn của bác sĩ, không nên tự ý ngừng thuốc.

Theo sức khỏe đời sống

Những căn bệnh nguy hiểm đe dọa sức khỏe phụ nữ

Các bệnh về xương, bệnh tim mạch và ung thư vú đều nằm trong danh sách này. Vì vậy, chị em hãy phòng bệnh ngay từ hôm nay.

Bệnh tim mạch

Theo các số liệu thống kê tại Mỹ, bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Có tới 29% số ca tử vong là do bệnh tim hoặc các bệnh liên quan đến tim mạch gây ra.
Các nhà nghiên cứu cũng cảnh báo rằng, ngày càng có nhiều phụ nữ chết vì bệnh tim khi chưa bước qua tuổi 60. Thậm chí, rất nhiều người chết vì nhồi máu cơ tim, đột quỵ khi còn rất trẻ.

Các nguyên nhân chủ yếu của bệnh tim mạch: lối sống thụ động, ít tập luyện thể thao, ăn nhiều chất béo bão hòa.
Cách phòng ngừa hiệu quả nhất gồm: thay đổi lối sống, cố gắng tập thể thao và ăn uống cân bằng.

nhung-can-benh-nguy-hiem-de-doa-suc-khoe-phu-nu

Ung thư

Một số căn bệnh ung thư mà chị em phụ nữ hay gặp nhất là: ung thư vú, ung thư phổi, ung thư ruột và ung thư da. Trong đó, ung thư vú được biết đến như kẻ thù số một của chị em.
Những phụ nữ ngực to có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn người khác và những người từng trải qua phẫu thuật “đại tu vòng 1” sẽ tăng nguy cơ từ 20 – 80% tùy theo số lần chỉnh sửa.

– Không uống rượu, không hút thuốc
– Giữ cân nặng ổn định, không để quá béo hay quá gầy
– Tập luyện thể thao để luôn khỏe mạnh
– Ăn nhiều rau quả, uống nhiều nước
– Kiểm tra định kỳ để tầm soát ung thư.

Loãng xương

Phụ nữ là nạn nhân chủ yếu của chứng loãng xương. Từ khi bước qua tuổi 30, cơ thể bạn đã đối mặt với vấn đề loãng xương nhưng các dấu hiệu chưa rõ ràng như ở độ tuổi 50.

Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm, xương của bạn sẽ bị giòn, yếu và dễ gãy, thậm chí bạn có thể bị còng lưng khi bước sang tuổi 50.

Đáng mừng là căn bệnh này hoàn toàn có thể được phòng ngừa bằng cách tập thể dục thường xuyên cùng với chế độ ăn cung cấp đủ canxi.

Alzheimer (giảm trí nhớ)

Alzheimer là căn bệnh ngày càng phổ biến ở người cao tuổi, đặc biệt là ở nữ giới. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị suy giảm nặng nề khiến họ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm được cách phòng ngừa và điều trị căn bệnh này.

Các bác sĩ khuyên nữ giới nên bảo vệ sức khỏe của mình trước căn bệnh này bằng cách thư giãn, hạn chế tối đa căng thẳng, học cách khắc phục stress, tập luyện thể thao thường xuyên, tập thở bằng bụng, ăn uống điều độ và tránh xa thực phẩm đóng hộp.

Omega-3 không có tác dụng với bệnh tim mạch

Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Heidelberg (Đức) đã công bố một kết quả nghiên cứu hoàn toàn trái ngược với các nghiên cứu trước đây về Omega-3, rằng loại axit béo có trong cá này không hề có tác dụng bổ trợ gì trong điều trị các bệnh nhân tim mạch.

Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Heidelberg đã công bố kết quả này ngày 30/3 tại một hội nghị của trường Đại học Tim mạch Mỹ ở Florida.

Omega-3a

Các nhà khoa học Đức cho biết đã tiến hành nghiên cứu trên gần 4.000 bệnh nhân thuộc 104 bệnh viện và trung tâm tim mạch ở nước này. Các bệnh nhân sau khi bị đau tim từ 3-14 ngày sẽ được điều trị ngẫu nhiên bằng axit béo Omega-3 với liều lượng cao hoặc thuốc an thần trong một năm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy không sự khác biệt đáng kể nào giữa các bệnh nhân được điều trị theo phương pháp chăm sóc sức khỏe thông thường và các bệnh nhân được bổ sung thêm axit béo Omega-3. Như vậy, Omega-3 không có tác dụng cải thiện cuộc sống cho bệnh nhân bị tim mạch.

Từ lâu, Omega-3 được coi là phương thuốc giúp các bệnh nhân tim mạch giảm nguy cơ rối loạn nhịp tim, tỷ lệ hình thành các mảng xơ vữa gây tắc động mạch.

Theo vietnam+

Nguy cơ đột quỵ do hấp thụ nhiều muối

Các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng, ở người cao tuổi, lượng muối hấp thụ quá cao mỗi ngày có khả năng làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Những nghiên cứu trước đó cho thấy, lượng muối đưa vào cơ thể quá nhiều có thể dẫn đến bệnh cao huyết áp, tuy nhiên chưa có nhận định hay giải thích nào trước đây về mối liên hệ giữa lượng muối cao và bệnh tim mạch và đột quỵ.

dot-quy

Kết quả nghiên cứu tiến hành trong 10 năm, với 2700 người cao tuổi tham gia cho thấy, tỉ lệ nhóm người có lượng muối cao, bị mắc bệnh đột quỵ cao gấp 3 lần so với nhóm người bình thường.

Hãng Reuters trích dẫn một công bố đăng tải trên tạp chí Đột quỵ của Mỹ ngày 26/4, cho biết lượng muối cao có thể nhanh chóng ảnh hưởng huyết áp, không giống với lượng muối có ảnh hưởng lâu dài đến bệnh tim mạch và đột quỵ, do vậy sẽ rất khó khăn để tìm ra mối liên quan giữa chúng.

Tổ chức y tế Thế giới khuyến cáo lượng muối tiêu thụ mỗi ngày tối đa không quá 2000mg. Tuy nhiên nghiên cứu mới nhất lại tham khảo số liệu “không quá 1500mg mỗi ngày” do Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo đưa ra. Nhưng lượng muối ăn trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu là 3031mg.

Trong 10 năm, có khoảng 235 người thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu, bị đột quỵ. Cụ thể là 66 người trong 558 người có lượng muối trên 4000mg mỗi ngày, bị mắc bệnh đột quỵ; còn trong 320 người có lượng muối dưới 1500mg, chỉ có 24 người bị đột quy.

Đứng đầu dự án nghiên cứu, ông Hannah Gardner, cho biết “Lượng muối cao trong cơ thể tương đối phổ biến và có liên quan đến bệnh đột quỵ.” Ông cho rằng, mặc dù không thể ngay lập tức khẳng định lượng muối cao là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến đột quỵ, nhưng thực tế cho thấy sử dụng ít muối sẽ có cuộc sống khỏe mạnh hơn.

Mức albumin báo động nguy cơ bệnh tim

Một nghiên cứu mới đây cho thấy, với bất kỳ lượng protein albumin đo lường được trong nước tiểu cũng có thể làm tăng nguy cơ phát triển các vấn đề về tim ở những bệnh nhân đái tháo đường típ 2.

Phát hiện trên vừa được công bố trên tạp chí Journal of the American Society of Nephrology (Mỹ) trực tuyến, có thể giúp xác định những bệnh nhân đái tháo đường típ 2 nào cần được điều trị bằng các loại thuốc bảo vệ tim.

Một số bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có vấn đề về thận, dẫn đến làm tăng lượng protein albumin trong nước tiểu của họ, một tình trạng được y học gọi là albuminuria. Những bệnh nhân này có nguy cơ mắc phải các vấn đề về tim – chẳng hạn như nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim – cao hơn so với các bệnh nhân đái tháo đường có mức albumin bình thường trong nước tiểu.

benh-tim

Theo đánh giá của giới chuyên môn, có ít nhất 90% bệnh nhân đái tháo đường có mức albumin bình thường trong nước tiểu. Tuy nhiên, một nhóm các nhà nghiên cứu Ý muốn tìm hiểu ngay cả trong những trường hợp này có thể làm tăng nguy cơ bị các vấn đề về tim hay không.

Trong cuộc nghiên cứu, các nhà khoa học Ý đã xem xét mối liên quan giữa các mức albumin trong nước tiểu với các vấn đề về tim trong số hơn 1.200 bệnh nhân đái tháo đường típ 2, trong khoảng thời gian 9 năm. Họ nhận thấy rằng, với bất kỳ lượng albumin nào đo lường được trong nước tiểu đều có liên quan với nguy cơ phát triển bệnh tim ở bệnh nhân đái tháo đường.

Các nhà nghiên cứu phát hiện, khi mức albumin bài tiết trong nước tiểu tăng lên, dẫn đến làm tăng nguy cơ mắc phải các vấn đề về tim ở bệnh nhân. Ngay cả với mức thấp albumin bài tiết trong nước tiểu ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 cũng có liên quan đến tỷ lệ phát triển các vấn đề về tim.

Các nhà nghiên cứu cũng kiểm tra một nhóm bệnh nhân đái tháo đường típ 2 dùng thuốc điều trị cao huyết áp được gọi là thuốc ức chế ACE (thuốc ức chế men chuyển hóa angiotensin), trong suốt thời gian 9 năm. Họ không phát hiện có mối liên quan nào giữa các mức albumin bài tiết trong nước tiểu với nguy cơ bệnh tim ở nhóm bệnh nhân này.

Điều đó cho thấy rằng, các loại thuốc ức chế ACE có thể giúp bảo vệ tim ở cả hai nhóm bệnh nhân đái tháo đường có mức albumin cao và nhóm bệnh nhân có mức albumin bình thường trong nước tiểu, tiến sĩ Giuseppe Remuzzi, thuộc Viện Nghiên cứu Dược lý Negri Mario ở Bergamo, Ý, và các cộng sự cho biết.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý, cần thực hiện thêm các cuộc nghiên cứu nữa để xác định mức albumin nào ở các bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có thể được điều trị bằng các loại thuốc bảo vệ tim.

Mặc dù phát hiện mối liên quan giữa mức albumin trong nước tiểu với các vấn đề về tim ở các bệnh nhân đái tháo đường típ 2, nhưng nghiên cứu đã không chứng minh được mối quan hệ trực tiếp giữa hai việc này.

Hành tây tốt cho người bệnh tim mạch

Hành tây là loại rau, gia vị vừa thơm ngon lại rất giàu dinh dưỡng. Thường xuyên ăn hành tây có thể phòng tránh được nhiều bệnh, sức khỏe sẽ tốt hơn và kéo dài được tuổi thọ. Đông y cho rằng hành tây có vị thơm cay, tính ấm, không độc, tác dụng chữa nhiều bệnh như tiêu khát, tăng huyết áp, mỡ máu, xơ vữa thành mạch, bệnh mạch vành tim, cảm mạo phong hàn…
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy hành tây có chứa chất prostaglandin (prostagladin A; PG) và thành phần hoạt tính fibrin nên có thể kích thích hoạt động hòa tan máu, chống lại những chất gây tăng huyết áp trong cơ thể, mặt khác các chất này còn thúc đẩy sự bài tiết muối natri, do đó làm hạ huyết áp. Chỉ cần một lượng nhỏ chất prostaglandin trong cơ thể đã có tác dụng điều hòa huyết áp và các thành phần của máu, đồng thời lại ngăn ngừa sự hình thành huyết khối. Ngoài ra, hành tây có tác dụng diệt khuẩn, trừ đờm, chữa ho, ra mồ hôi, thông tiểu, kích thích tiêu hóa, làm cho ruột, dạ dày nâng cao quá trình bài tiết, chống viêm đường ruột, phòng chống phong thấp, an thần, giúp ngủ ngon giấc, làm giảm hoặc chậm xơ cứng thành huyết quản, có tác dụng đề phòng bệnh mạch vành tim và hạ thấp lượng mỡ trong máu…

hanh-tay-tot-cho-nguoi-benh-tim-mach

Một số bài thuốc chữa bệnh từ

hành tây:

Chữa tàn nhang: Dùng nước ép từ củ hành tây để xoa lên vết bị tàn nhang.

Làm tóc mọc nhanh và dày hơn: Hằng ngày dùng nước ép củ hành tây để xoa vào nơi tóc rụng.

Chữa cảm mạo phong hàn: Khi thấy xuất hiện các triệu chứng như đau nhức đầu, không ra mồ hôi, tay chân nhức mỏi, mũi tắc ngạt, chảy máu cam, ngứa họng, giọng nói khàn, ho có đờm trắng loãng: lấy 60g củ hành tây tươi thái nhỏ, cho vào vài lát gừng tươi, một ít đường đỏ, nấu cùng 300ml nước để uống. Uống vài lần sẽ khỏi.

Phòng bệnh đái tháo đường: Lấy thịt lợn nạc 50g thái miếng và nấu chín rồi cho 50 – 100g hành tây thái nhỏ vào, cùng nấu chín để ăn. Ngày ăn 2 lần, cần ăn thường xuyên.

Chữa mất ngủ, đau nhức các khớp xương: Người Trung Hoa đã dùng hành tây để nấu ăn hoặc ăn sống với liều từ 50-100g mỗi ngày. Cần ăn liền một thời gian.

BS. Hoàng Xuân Đại

Theo SKDS

Sử dụng nitroglycerin trong điều trị bệnh tim mạch

Trong điều trị bệnh lý tim mạch, nhóm thuốc nitroglycerin được sử dụng hết sức rộng rãi, đặc biệt với bệnh nhân bị bệnh thiếu máu cơ tim (cả cấp tính như nhồi máu cơ tim hay cơn đau thắt ngực không ổn định, lẫn mạn tính) và suy tim.

Thuốc có tác dụng gì?

Khi bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch ngoại vi dẫn đến ứ đọng máu ở ngoại vi và trong các phủ tạng, giảm lượng máu lưu hành do đó giảm lượng máu trở về tim với các hậu quả là giảm áp lực dồn máu về thất, giảm áp lực và thể tích cuối thì tâm trương của thất, nói một cách khác là giảm tiền gánh.

Nếu bệnh nhân bị giãn các tiểu động mạch sẽ dẫn đến giảm sức cản ngoại vi, giảm hậu gánh với hậu quả là giảm huyết áp động mạch nhất là huyết áp tâm thu.

su-dung-nitroglycerin-trong-dieu-tri-benh-tim-mach

Như vậy, tác dụng của các thuốc nhóm này có tác dụng giảm cả tiền gánh và một phần hậu gánh. Do vậy sẽ làm giảm công của cơ tim, giảm mức tiêu thụ ôxy của cơ tim giúp cho cung và cầu về ôxy được cân bằng sẽ cắt cơn đau thắt ngực nhanh chóng và đối với bệnh nhân suy tim, thuốc giúp cải thiện triệu chứng lâm sàng một cách rõ rệt.

Đối với động mạch vành, thuốc còn có tác dụng làm giãn động mạch vành nhưng chỉ những động mạch vành vùng thượng tâm mạc và chưa bị xơ cứng; tác dụng này xuất hiện rất sớm nhưng nhanh hết. Sử dụng các nitroglycerin còn giúp phân bố lại máu trong các lớp cơ tim, tăng cường khả năng tưới máu cho lớp cơ dưới nội tâm mạc (là lớp cơ tim bị ảnh hưởng sớm nhất và nhiều nhất khi cơ tim bị thiếu máu). Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng phát triển tuần hoàn bàng hệ trong cơ tim khi được dùng lâu dài, làm mất các hiện tượng co thắt mạch vành đột ngột xảy ra một cách tự phát hay do các căn nguyên gây nên.

Những tác dụng không mong muốn

Khi sử dụng thuốc làm giãn mạch ngoại vi khiến da bừng đỏ nhất là ở ngực và mắt; giãn các mạch máu trong mắt dễ gây tăng tiết dịch và làm tăng nhãn áp; giãn các mạch máu trong não có thể gây tăng áp lực trong hộp sọ và gây đau đầu.

Thuốc cũng gây hạ huyết áp khi đứng. Đặc biệt hiện tượng choáng váng, chóng mặt hay xảy ra khi dùng thuốc cho bệnh nhân có huyết áp thấp, nhất là người cao tuổi.

Thuốc nên dùng cho trường hợp nào?

Thuốc được chỉ định cho các trường hợp bị thiếu máu cơ tim (biểu hiện lâm sàng bằng triệu chứng đau thắt ngực), đây là chỉ định chủ yếu nhất của các thuốc nhóm này. Đối với cơn đau cấp tính, dạng thuốc ngậm hoặc xịt dưới lưỡi có tác dụng cắt cơn rất nhanh chóng. Chính vì vậy, đối với bệnh nhân bị đau thắt ngực hoặc có tiền sử đau thắt ngực, cần thường xuyên có lọ thuốc xịt dưới lưỡi (hoặc viên ngậm dưới lưỡi) sẵn sàng trong người để sử dụng ngay khi bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của đau thắt ngực. Thuốc cũng được sử dụng một cách lâu dài để dự phòng cơn đau thắt ngực tái phát và thấy có kết quả trong thể cơn đau thắt ngực ổn định làm cơn đau không hoặc ít xuất hiện trở lại, cho phép bệnh nhân làm được nhưng gắng sức lớn hơn.

Trong nhồi máu cơ tim, thuốc được sử dụng sớm ngay từ đầu bằng dạng tiêm tĩnh mạch (thường sử dụng bằng bơm tiêm điện với liều lượng đáp ứng theo mức độ huyết áp của bệnh nhân). Nhiều nghiên cứu cho thấy, thuốc có thể làm thu hẹp diện thiếu máu và hoại tử của tế bào cơm tim, dự phòng suy tim và các biến chứng, làm giảm tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên phải hết sức thận trọng trong sử dụng vì thuốc có thể gây hạ huyết áp và truỵ tim mạch rất nguy hiểm (do vậy cần theo dõi liên tục huyết áp và điều chỉnh liều lượng thuốc cho phù hợp với từng bệnh nhân), hơn nữa, phải đánh giá chính xác khu nhồi máu cơ tim, vì với bệnh nhân có nhồi máu cơ tim thất phải, thuốc gây giảm lượng máu về thất phải do vậy giảm cung lượng tim và dẫn đến sốc tim rất nguy hiểm đến tính mạng người bệnh.

Sử dụng thuốc như thế nào cho an toàn?

Sử dụng thuốc tại nhà trong tình huống cấp cứu có các dạng tác dụng nhanh như viên ngậm dưới lưỡi hoặc dạng xịt.

Nitroglycerin dạng viên 0,5- 0,75mg ngậm dưới lưỡi, bắt đầu có tác dụng sau 0,5-2 phút, kéo dài tới 30 phút. Nitroglycerin là loại thuốc được dùng khá phổ biến trong cấp cứu, có thể dùng nhiều lần trong ngày nếu không thấy có tác dụng phụ phiền phức.

Nitroglycerin dạng phun bao gồm các biệt dược như natispray, lenitral spray, nitroglycerin spray mỗi lần phun đưa được 0,4mg thuốc vào miệng. Dùng xịt dưới lưỡi, liều sử dụng cũng tương tự như dạng ngậm. Có thể dùng nhiều lần trong ngày.

Tuy nhiên, sau khi dùng thuốc cấp cứu tại nhà để bệnh nhân qua cơn nguy hiểm, cần đưa bệnh nhân tới bệnh viện, nơi có chuyên khoa tim mạch càng sớm càng tốt để có những chẩn đoán và chỉ định dùng thuốc đúng, nhằm tránh những tai biến khác có thể xảy ra.

Ngoài ra còn các dạng bào chế viên nang uống có tác dụng chậm, kéo dài hoặc các dạng dán vào da vùng ngực trái. Thuốc dưới dạng tiêm như lenitral phải được sử dụng tại bệnh viện, nơi có nhân viên y tế thực hiện và theo dõi diễn biến bệnh tình của bệnh nhân. Cần theo dõi huyết áp của bệnh nhân để điều chỉnh liều lượng thích hợp. Không được dùng nếu nghi ngờ hoặc xác định có nhồi máu cơ tim thất phải.

Khi dùng thuốc nhóm này, không được uống rượu vì rượu làm tăng tác dụng của thuốc.

Với người già, người có thể trạng huyết áp thấp cần lưu ý đặc biệt vì thuốc gây hạ huyết áp và có thể gây tụt huyết áp tư thế đứng dẫn đến các triệu chứng của thiếu máu não.

Không dùng dạng phóng thích chậm để ngậm dưới lưỡi vì tác dụng xuất hiện chậm (nhiều người nhầm lẫn sử dụng dạng chậm để ngậm dưới lưỡi khi xuất hiện cơn đau thắt ngực).

Ngoài các chống chỉ định chung như dị ứng hay quá mẫn với thuốc, các trường hợp bệnh nhân không được dùng thuốc này là: huyết áp tâm thu <100 mmHg; tăng nhãn áp.

TS. Nguyễn Hải

Theo SKDS

Lợi ích của hít thở sâu

Mỗi ngày tập thở bằng bụng từ 20-30 phút sẽ giúp tinh thần bạn tỉnh táo, thoải mái và thư giãn.

Lợi ích của hít thở sâu

Bạn sẽ ngạc nhiên trước những lợi ích của hít thở sâu bằng bụng đúng kỹ thuật:

-Thanh lọc cơ thể: Khi hít thở sâu sẽ giúp giãn nở phổi, đẩy nhanh quá trình trao đổi khí. Thở ra với lượng hơi dài đồng nghĩa với việc bạn đưa được nhiều hơn khí độc tích tụ trong cơ thể như N2, CO2 ra ngoài.

Enjoying the sun

-Tốt cho tim mạch: Bạn không thể điều chỉnh nhịp tim của mình nhưng lại có thể điều chỉnh hơi thở. Việc tập luyện hít thở sâu đúng kỹ thuật sẽ giúp nhịp tim của bạn chậm lại. Việc thở chậm và sâu sẽ giúp tim giảm bớt khối lượng công việc, mạnh mẽ hơn, giúp cơ thể luôn khỏe mạnh.

-Giảm huyết áp: Khi xúc động, mệt mỏi khiến tim bạn đập nhanh hơn, huyết áp tăng. Tập kỹ thuật hít thở sâu thường xuyên, huyết áp sẽ điều hoà ổn định.

-Giảm stress hiệu quả: Khi bạn tập luyện hít thở sâu trong một thời gian sẽ giúp lượng serotonin tăng đáng kể. Đây là chất được não sản xuất ra giúp bạn không cảm thấy mệt mỏi, tinh thần luôn được điều hoà, chịu đựng được áp lực trong công việc và tăng khả năng tập trung. Ngoài ra, hít thở sâu sẽ giúp cung cấp lượng ô-xy cao cho não, giúp tinh thần phấn chấn, bạn sẽ không còn cảm thấy bị stress.

-Không còn lo âu: Khi bạn gặp một điều gì đó gây sợ hãi, lo âu, hơi thở thường gấp và tim sẽ đập nhanh hơn… điều này cho thấy tâm trạng có sự liên quan tới nhịp thở. Vì vậy, nếu điều chỉnh hơi thở của bạn luôn luôn đều đặn trong mọi cảm xúc thì bạn sẽ có suy nghĩ tích cực và giữ được bình tĩnh trong mọi tình huống.

-Giảm đau cho cơ thể: Khi bị đau, chấn thương, bạn thường nín thở hoặc thở nhanh hơn vì cảm giác lo sợ nếu thở nhiều sẽ khiến cho vết thương trở nên đau đớn hơn.

Lúc này, nếu bạn thở sâu, chậm, cơ thể sẽ tạo ra chất giảm đau tự nhiên giúp xoa dịu vết đau hiệu quả. Vì vậy, khi bạn cảm thấy đau đớn thì hãy bình tĩnh và áp dụng kỹ thuật thở sâu. Hít thở sâu cũng làm thư giãn các cơ giúp giảm cơn đau nhức cơ thường gặp.

-Điều hoà khí huyết: Kỹ thuật thở sâu kích thích sự vận động của những cơ quan quan trọng như sinh dục, tiêu hoá, bài tiết… Vì vậy, sẽ giúp khí huyết được điều hoà, nuôi dưỡng các bộ phận trên cơ thể tốt hơn.

-Hiệu quả với người mắc bệnh hen suyễn, cao huyết áp: Luyện tập hít thở sâu thường xuyên giúp bệnh nhân sẽ cải thiện được tình hình bệnh tật của mình.

Kỹ thuật tập luyện

Mỗi ngày chỉ cần bỏ ra từ 20-30 phút tập luyện sẽ giúp bạn khỏe mạnh hơn, tinh thần phấn chấn. Bạn có thể áp dụng khi nào cảm thấy khó thở và tập luyện ở mọi nơi mọi lúc.

Trước khi luyện tập, hãy giữ cho tinh thần luôn thoải mái, không vướng bận, không nghĩ lan man, dẹp bỏ công việc sang một bên. Chú tâm vào luyện tập.

Bước 1: Thư giãn toàn bộ cơ thể. Bạn có thể ngồi hoặc nằm bất kỳ tư thế nào, miễn là cảm thấy thoải mái và thư giãn. Đặt một tay lên bụng, một tay lên ngực (đặt tay lên bụng để bạn biết chắc rằng đang tập thở bằng cơ bụng, vì lúc bình thường mỗi người đều thở bằng ngực). Khi đã quen rồi, bạn có thể bỏ qua bước này.

Bước 2: Hít mạnh vào, đảm bảo bụng của bạn phình ra, thở ra từ từ bằng mũi, bụng hóp lại. Khi hít vào bạn có thể ngưng vài giây sau đó thở ra.

Bước 3: Tập trung theo dõi hơi thở. Thực hiện đều, chậm và sâu khoảng 12-20 nhịp/phút. Nếu hơi thở gấp hơn bình thường, bạn có thể thở bằng miệng nhưng vẫn đảm bảo rằng bạn đang hít thở bằng cơ bụng.

Công việc đôi lúc bận rộn khiến bạn quên luyện tập cũng không sao. Bạn hãy tập luyện ngay khi bạn nhớ và nên kiên trì. Bạn cũng có thể tập hít thở sâu khi đi dạo, tản bộ tập thể dục.

Khi bạn thường xuyên luyện tập hít thở sâu bằng bụng trong thời gian dài sẽ tạo thành thói quen. Lúc đó, cho dù bạn không có chủ đích tập luyện thì phổi vẫn hô hấp sâu hơn bình thường, giúp bạn luôn giữ được sự tỉnh táo, thư giãn.

Tránh nơi nhiều khói bụi

Nạn nên chọn môi trường trong lành, yên tĩnh để thở sâu như trong công viên cây xanh, cạnh sông, hồ, ao có nguồn nước trong sạch. Tránh nơi ô nhiễm khói bụi.Không nên tập luyện khi mới ăn no. Trong khi tập luyện mà bạn cảm thấy đau tức ngực hoặc ho, khó thở thì nên ngừng tập và đi khám bác sĩ.Người có tiền sử bệnh tim hoặc bệnh liên quan đến hô hấp cần được bác sĩ tư vấn để chọn môi trường và chế độ luyện tập phù hợp.

Mất ngủ gây tổn hại đến tim

Các nhà khoa học Mỹ đã tìm ra câu trả lời cho câu hỏi một người ngủ bao nhiêu tiếng mỗi đêm là hợp lý. Theo họ, một giấc ngủ lý tưởng, tốt cho cơ thể, đặc biệt là hệ tim mạch, là một giấc ngủ kéo dài từ 6-8 tiếng mỗi đêm.

Các nhà khoa học thuộc Đại học Y khoa Chicago khẳng định, ngủ ít hơn hay nhiều hơn khoảng thời gian nói trên đều có hại cho sức khỏe của con người và nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch ở những người này là khá cao. Kết luận trên được rút ra sau khi họ tiến hành phân tích và tổng hợp các số liệu thu thập được từ 3.000 người trên 45 tuổi về thói quen sinh hoạt, thời gian ngủ và các loại bệnh tim mạch họ từng mắc phải như suy tim, lên cơn đau tim, bệnh động mạch vành, đau thắt ngực hay đột quỵ.

mat-ngu-gay-ton-hai-den-tim

Kết quả cho thấy, với những người ngủ dưới 6 tiếng mỗi đêm, nguy cơ bị đột quỵ hoặc lên cơn đau tim cao gấp 2 lần và nguy cơ suy tim cao gấp 1,6 lần so với những người ngủ đủ từ 6-8 tiếng mỗi đêm. Trong khi đó, với những người ngủ từ 8 tiếng trở lên, nguy cơ đau thắt ngực là 2 lần và mắc bệnh động mạch vành là 1,1 lần so với thời gian tiêu chuẩn.

Từ kết quả trên, các nhà nghiên cứu kết luận ngủ đủ giấc từ 6-8 tiếng mỗi đêm là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp con người giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.

Nguồn giáo dục

Những thói quen ảnh hưởng tới sức khỏe dân công sở

Ngoáy tai: Không ít người nghiện ngoáy tay đến mức mang luôn bịch tăm bông bên mình. TS Trần Minh Trường, trưởng khoa tai mũi họng BV Chợ Rẫy cho biết điều này rất tai hại vì tăm bông không được vô trùng tốt, có thể gây nhiễm trùng ống tai, chưa kể khi ngoáy tai có người sơ ý đụng sẽ dẫn đến thủng màng nhĩ. Do đầu bông khá to, nên khi ngoáy sâu trong tai dễ làm đau, mặt khác do được tẩm một dung dịch đặc biệt, nên ngoáy lâu ngày dẫn đến ngứa.

Theo các chuyên gia sức khỏe, bình thường tai có thể tự làm sạch vì vùng da ở ống tai phát triển hướng ra ngoài, kéo theo ráy tai, do đó không cần phải dùng vật dụng nào để vệ sinh. Tắm xong, một thời gian sau tai sẽ tự khô.

nhung-thoi-quen-anh-huong-toi-suc-khoe-dan-cong-so

Bẻ cổ, bẻ người: Nhiều người thích làm giảm đau nhức, mỏi mệt bằng cách bẻ người, nhưng bác sĩ Thái Thị Hồng Ánh, trưởng khoa nội cơ – xương – khớp Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, cho rằng điều này nguy hiểm vì khi bẻ người, ta sẽ tạo ra những cọ xát ở mặt khớp, nhẹ thì làm mòn mặt khớp, nặng hơn gây thoát vị, trật khớp, đôi khi phải cần đến phẫu thuật để giải quyết.

Mân mê da mặt, ngoáy mũi: Dù có rửa sạch tay đến mấy, bạn cũng không thể diệt 100% vi khuẩn có trên tay, huống hồ bạn phải dùng tay để gõ máy tính, cầm nắm vật dụng văn phòng, bắt tay người khác… Theo các chuyên gia sức khỏe, mân mê da mặt quá nhiều sẽ phá vỡ bề mặt bảo vệ trên da, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm. Trong khi đó, ngoáy mũi có thể làm huỷ hoại lông mũi, rách niêm mạc mũi, gây viêm nhiễm.

Làm việc với máy tính quá lâu: Làm việc với máy tính quá 2 giờ sẽ khiến mắt đau nhức, khô rát, nhìn đôi hoặc nhìn loá, khó tập trung vào công việc… Những triệu chứng này thường không để lại hậu quả nghiêm trọng và lâu dài cho sức khoẻ, nhưng khiến bạn khó chịu, giảm năng suất làm việc.

Vì thế, sau 1 giờ làm việc với máy tính, bạn nên nghỉ ngơi 5 phút; sau 2 giờ nên đứng dậy đi dạo một vòng. Nếu không thích, bạn có thể ngồi trên ghế, ngửa người ra sau, nhắm mở mắt nhiều lần trong vài phút để mắt bớt khô.

Ngồi lâu, đứng dậy đột ngột: Ngồi lâu một chỗ, máu tụ xuống phần dưới cơ thể, vì thế nếu đứng dậy đột ngột, máu chưa vận chuyển lên đầu kịp thời, bạn sẽ thấy chóng mặt, xây xẩm, khó chịu.

Theo các chuyên gia tim mạch, đối với người có sẵn bệnh tim mạch trong người, việc đứng dậy đột ngột còn có thể gây ngất xỉu hoặc những tai biến đáng tiếc khác. Vì thế, tốt nhất khi ngồi lâu một chỗ, muốn đứng dậy cần phải thực hiện động tác từ từ.

Bác sĩ Ánh lưu ý vùng cột sống cổ rất nhạy cảm, vì nơi đây có nhiều trung khu thần kinh quan trọng (hô hấp, tim mạch…). Chấn thương vùng này có thể gây liệt người hoặc tử vong! Thay vì làm động tác bẻ người mạnh bạo và đột ngột, bác sĩ Ánh khuyên nên làm nhẹ nhàng hoặc tập những động tác kéo dãn cơ đơn giản.

Nguồn giáo dục

Biểu hiện đặc thù của bệnh van tim

1. Hẹp van động mạch chủ

– Đau ngực: ­ nhu cầu O2 (phì đại) + ¯ cung cấp O2 (Lớp dưới nội mạc bị đè ép) ± bệnh động mạch vành.

– Ngất (khi gắng sức): giãn mạch ngoại biên (vd: khi cung cấp máu đên cơ) trong điều kiện liều lượng tim cố định ® tưới máu não không đủ.

– Suy tim: khó thở hoặc phù phổi nếu nặng

vam-tim

2. Hở van hai lá

– Cấp tính: phù phổi, tụt huyết áp.

– Mãn tính: khó thở nặng dần lên khi gắng sức, mệt, rung nhĩ, tăng áp phổi.

3. Hẹp van hai lá

– Khó thở phù phổi (nếu hậu thấp, triệu chứng thường bắt đầu trong khoảng 30-40 tuổi). Yếu tố thúc đẩy: tim nhanh, quá tải về thể tích rung nhĩ.

– Rung nhĩ

Tai biến lấp mạch (đặc biệt là trong rung nhĩ hoặc viêm nội tâm mạc).

– Triệu chứng phổi: ho ra máu, thường bị viêm phế quản ( do ứ huyết), tăng áp động mạch phổi.

4. Sa van hai lá

– Không triệu chứng

– Đau ngực, rung nhĩ, ngất hoặc đột quỵ.

(Theo Ykhoanet.com)

Mẹ béo phì con tăng nguy cơ tim mạch

me-beo-phi-khien-con-co-nguy-co-bi-benh-tim

Theo kết quả một nghiên cứu mới vừa công bố thì những đứa trẻ sinh ra từ những bà mẹ béo phì có tình trạng dày của các mạch máu và đây là hậu quả của sự quá cân từ người mẹ. Sự dày lên của thành động mạch là yếu tố nguy cơ độc lập đối với bệnh tim mạch. Các chuyên gia cho rằng những thai phụ bị quá cân hay béo phì có thể ảnh hưởng đến nguy cơ bệnh tim mạch hay tai biến mạch não của trẻ khi chúng lớn lên. Dấu hiệu sớm của xơ vữa động mạch sẽ hiện diện ở động mạch chủ bụng, Tiến sĩ Michael Skilton ở Đại học Sydney cho rằng mức độ dày thành động mạch là chìa khóa của sức khỏe trẻ em. Nghiên cứu thực hiện ở 23 phụ nữ mang thai 16 tuần, tuổi trung bình là 35 tuổi. Cuối cùng có 10 người sinh con trai. Cân nặng của trẻ sinh ra từ 4 – 9,5 pound, trẻ được chụp cắt lớp động mạch chủ bụng (đoạn động mạch chủ nằm vùng bụng) trong vòng 7 ngày sau sinh để đo độ dày của thành động mạch. Kết quả là con của những bà mẹ béo phì hay quá cân có thành động mạch chủ bụng hơn 0,06 mm so với con của bà mẹ cân nặng bình thường. Độ dày thanh động mạch từ 0,65 – 0,97 mm, tương ứng với cân nặng của mỗi bà mẹ theo mức độ tăng.

Theo nhóm nghiên cứu thì hơn phân nữa bà mẹ trong độ tuổi sinh sản ở các nước phát triển bị thừa cân hoặc béo phì.

(Theo Annals of Behavioural Medicine, 2/2013)

MINH THƯ

10 ngộ nhận về bệnh tim mạch

Tim mạch là căn bệnh nan y nguy hiểm có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao, song kiến thức của con người về căn bệnh này lại rất sơ khai, đôi khi còn lệch lạc làm cho tỷ lệ tử vong không giảm. Đó là nhận xét của Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) đưa ra mới đây nhân dịp công bố một số giả thiết và sự thật có liên quan đến căn bệnh này.

1. Còn trẻ không lo mắc bệnh tim?

Theo AHA, nhiều người trẻ tuổi đôi khi cho rằng, họ không bị mắc bệnh, bởi bệnh tim chỉ diễn ra ở nhóm người cao tuổi hoặc cuối đời. Ngộ nhận này hoàn toàn thiếu căn cứ bởi bệnh tim là căn bệnh mang tính tích lũy. Ngay từ khi còn trẻ, nếu duy trì lối sống thiếu khoa học thì các mảng tiểu cầu bám vào thành mạch bắt đầu xuất hiện và tăng dần theo năm tháng, tích tụ gây tắc nghẽn mạch.

2. Không bị bệnh tăng huyết áp bởi không có bất kỳ dấu hiệu nào bên ngoài?

Bệnh tăng huyết áp được y học xem là “kẻ giết người thầm lặng” vì nó không có bất kỳ dấu hiệu nào thể hiện ra bên ngoài, nếu đã có dấu hiệu có nghĩa là bệnh đã ở giai đoạn tiến triển. Vì vậy, nhóm người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch, như có tiền sử gia đình mắc bệnh, béo phì, mắc bệnh đái tháo đường, nên đi khám và điều trị sớm.

3. Trước khi đau tim phải đau tức ngực?

Không nhất thiết cứ phải đau tức ngực mới là đau tim mặc dù phần lớn tức ngực hay khó chịu là dấu hiệu của cơn đau tim. Đau tim có nhiều triệu chứng kể cả khó thở, bồn chồn, choáng váng, khó chịu hoặc đau ở một hoặc cả hai cánh tay, cổ, hàm hoặc đau lưng. Nếu có những dấu hiệu nói trên, nên được khám tư vấn càng sớm càng tốt.

10-ngo-nhan-ve-benh-tim-mach

4. Bị bệnh đái tháo đường nếu dùng thuốc không lo mắc bệnh tim?

Thực tế thì việc điều trị tốt bệnh đái tháo đường có thể làm giảm tỷ lệ mắc hoặc làm chậm quá trình phát triển bệnh tim mạch. Tuy nhiên, ngay cả khi đường huyết ở ngưỡng hợp lý thì tỷ lệ mắc bệnh tim và đột quỵ ở nhóm người mắc bệnh đái tháo đường vẫn cao. Để giảm thiểu rủi ro mắc bệnh tim, người bệnh nên điều trị đồng thời những căn bệnh bản thân mắc phải, đặc biệt là khống chế đường huyết, giảm huyết áp, giảm béo, năng luyện tập, không hút thuốc lá và ăn uống cân bằng, điều độ.

5. Gia đình không có người mắc bệnh tim thì không phải lo?

Đúng, bệnh tim mạch mang tính di truyền, nói như vậy có nghĩa là người sinh ra trong gia đình có tiền sử mắc bệnh tim mạch thì bản thân có nguy cơ mắc bệnh cao và nên có phương án phòng ngừa sớm. Để giảm thiểu, mọi người nên duy trì cuộc sống vận động, kiểm soát mỡ máu, huyết áp, duy trì trọng lượng hợp lý, không uống rượu và nếu mắc các loại bệnh này nên đi khám và điều trị sớm.

6. Không nhất thiết phải kiểm tra cholesterol?

Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo, bắt đầu từ tuổi 20, nên kiểm tra cholesterol và sớm hơn nếu có tiền sử gia đình mắc bệnh. Theo nghiên cứu thì trẻ nhỏ trong những gia đình có người mắc bệnh tim mạch thường có cholesterol rất cao nên khi trưởng thành sớm mắc phải căn bệnh này.

7. Suy tim có phải là tim ngừng đập?

Tim đột nhiên ngừng đập là dấu hiệu rất nặng của nhiều bệnh khác nhau chứ không phải chỉ riêng bệnh suy tim. Khi suy tim thì tim vẫn làm việc nhưng không thể bơm máu được. Nó có thể gây hiện tượng thở dốc, sưng chân, sưng khuỷu gối hoặc ho, hắt hơi liên tục. Trong quá trình tim ngừng đập, người bệnh có thể mất ý thức và ngừng thở.

8. Đau chân không phải là dấu hiệu của bệnh tim mạch?

Đau chân, đau cơ có thể là dấu hiệu động mạch ngoại vi (PAD). Đây là căn bệnh các động mạch ở chân bị tắc nghẽn do các mảng tiểu cầu trong thành mạch quá dày, nhóm người mắc bệnh PAD thì rủi ro mắc bệnh tim cao gấp 5 lần những người không mắc bệnh này.

9. Tim đập quá nhanh có phải là dấu hiệu của đau tim?

Có một số thay đổi về nhịp tim được xem là bình thường như khi vui, buồn thì tim đập nhanh hoặc khi ngủ tim đập chậm. Trong hầu hết mọi trường hợp, sự thay đổi nhịp tim không đáng lo, nhưng cũng có trường hợp là dấu hiệu của căn bệnh loạn nhịp tim, nhịp tim thay đổi bất thường. Hầu hết rối loạn nhịp tim là vô hại nhưng nếu kéo dài cần điều trị để duy trì sức khỏe cho tim.

10. Nên tránh luyện tập thể thao sau khi đã qua một cơn đau tim?

Không đúng. Ngay sau khi cơn đau tim qua đi nên có kế hoạch duy trì cuộc sống vận động, bởi qua nghiên cứu, khoa học phát hiện thấy những người đã qua những cơn đau tim hoạt động thể chất thường xuyên và điều độ thì sống lâu hơn so với những người không luyện tập. Những người mắc các loại bệnh mạn tính, nên chọn cách luyện tập phù hợp và an toàn. Theo khuyến cáo của AHA, nên tập thể thao 2 – 2,5 giờ mỗi tuần hoặc tư vấn bác sĩ tim mạch để sử dụng các bài tập phù hợp với sức khỏe của mỗi người, không nên duy trì cuộc sống tĩnh tại, nằm và ngồi nhiều.

KHẮC NAM (Theo AHA, 3/2013)

Nỗi lo khi mất ngủ mãn tính

Không chỉ có người già mới bị chứng mất ngủ mà có nhiều người trẻ cũng mắc bệnh mất ngủ mãn tính. Bệnh này gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và công việc của bệnh nhân.

Giấc ngủ có vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh lí của con người. Giấc ngủ là khoảng thời gian để các cơ quan trong cơ thể có thể nghỉ ngơi, lấy lại năng lượng sống. Nhưng hiện nay, có nhiều người mắc bệnh mất ngủ mãn tính.

1.  Nguyên nhân của mất ngủ mãn tính – điều bạn cần biết

Ngủ đủ giấc giúp bạn đủ năng lượng để cân bằng cuộc sống

Ngủ đủ giấc giúp bạn đủ năng lượng để cân bằng cuộc sống

Mất ngủ nói chung và mất  ngủ mãn tính có nhiều nguyên nhân nhưng có một số nguyên nhân chính sau đây:

–         Các bệnh liên quan, gây ảnh hưởng đến giấc ngủ như: bệnh viêm khớp khiến bệnh nhân thường xuyên cảm thấy đau khớp vào buổi đêm, nên có cảm giác khó ngủ. Các bệnh về tim mạch, huyết áp cáo, rối loan tiêu hóa…cũng là những tác nhân gây bệnh mất ngủ mãn tính.

–         Yếu tố môi trường: Nếu bạn làm việc trong môi trường có áp lực công việc cao, ngủ trong môi trường nhiều tiếng ồn,…cũng gây khó ngủ kéo dài dẫn đến bệnh mất ngủ mãn tính.

–         Tâm lí bất ổn: Bạn bị trầm cảm, lo lắng hay không thanh thản trong suy nghĩ khi ngủ cũng dẫn đến mất ngủ mãn tính.

2. Chữa bệnh mất ngủ mãn tính, phải làm sao?

Mất ngủ mãn tính gây hại đến sức khỏe

Mất ngủ mãn tính gây hại đến sức khỏe

Đây là câu hỏi của rất nhiều người. Có rất nhiều cách chữa bệnh mất ngủ mãn tính với các liệu pháp tự nhiên và liệu pháp khoa học. Với liệu pháp tự nhiên bạn có thể kết hợp nhiều phương pháp: Ăn những loại thức ăn bổ dưỡng chữa mất ngủ: Trà hoa cúc, bột yến mạch hoặc thịt gà vào bữa tối, một cốc mật ong ấm trước khi ngủ….giúp bạn khắc phục bệnh mất ngủ mãn tính.

Ngoài ra, nếu bạn mắc những bệnh gây nên bệnh mất ngủ thì bạn cần tích cực điều trị để giảm nguy cơ khiến bạn mất ngủ.

Tập thể dục hàng ngày, để cho tinh thần thoải mái, không lo nghĩ nhiều… cũng là một phương pháp không chỉ để chữa bệnh mất ngủ mãn tính mà còn nhiều bệnh khác như: tim mạch, suy tim…

Nguồn báo sức khỏe

Những loại trà không nên dùng sau bữa ăn trưa

Có nhiều loại trà quảng cáo trị đủ thứ bệnh từ viêm gan, huyết áp, tim mạch, béo phì… với giá rẻ đã được nhiều người dùng uống hàng ngày. Tuy nhiên, đã có những vụ tai biến về trà thảo dược xảy ra.

Nhân trần không nên kết hợp với cam thảo

Nhân trần – cam thảo là 2 vị thuốc tốt, nhưng kết hợp với nhau sẽ không tốt vì cam thảo giữ nước, nhân trần lại giúp đào thải. Uống nước nhân trần pha cam thảo thay trà không đúng cách còn bị tương tác thuốc, nhất là người tăng huyết áp.

Trà đắng giúp giảm cân, an thần, ngủ ngon, hạ cholesterol máu, trị tiểu đường, bệnh tim mạch, chữa cảm lạnh, đau nhức… Nhưng các chuyên gia dược xếp vào nhóm dược thảo có chứa chất gây hại cho gan, uống nhiều sẽ rối loạn cung cấp máu cho gan, dẫn đến sưng gan, vàng da, bụng có nước, chân phù, chậm nhịp tim, hạ huyết áp đột ngột… Thậm chí mất thăng bằng, tự ngã, tử vong vì suy gan cấp tính, suy giảm chức năng tình dục.

nhung-loai-tra-khong-nen-dung-sau-bua-an-trua

Để trà thảo dược phát huy tác dụng, cần dùng điều độ, tránh uống thường xuyên một loại trà. Ảnh minh họa

Các lương y, bác sĩ khuyến cáo: Không phải bất cứ loại trà thảo dược nào cũng an toàn. Nếu có bệnh dùng trà thảo dược sai, bệnh sẽ nặng hơn. Người không có bệnh, uống nhiều trà thảo dược có thể bị ngộ độc dược chất.

Mua trà cần có nguồn gốc rõ ràng, dùng đúng hướng dẫn sử dụng, xem kỹ xuất xứ, hạn sử dụng. Không nên mua nguyên cây về nấu uống vì rất khó xác định nguồn gốc, độ an toàn (do khi trồng dùng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng, nguồn nước ô nhiễm…) hoặc sơ chế không đảm bảo vệ sinh, sẽ hại cho sức khỏe.

Ai không nên uống trà thảo dược?

Theo ông Nguyễn Xuân Hướng, nguyên Chủ tịch Trung ương Hội Đông y Việt Nam, người có sức khỏe bình thường có thể sử dụng trà có nguồn gốc thực phẩm từ rau quả như bí đao, rau má, rau đắng, mướp đắng (khổ qua)… Nhưng có những loại trà thảo dược như: Hoa sơn trà, hoa tam thất, hoàn ngọc, nha đam, lược vàng… có tính chất chữa bệnh, dùng thường xuyên thì tính vị (nóng, lạnh, đắng, cay…) của thuốc sẽ làm cơ thể bị mất cân bằng.

Công dụng của các dược liệu có khác nhau, bào chế, liều dùng, cách dùng cũng tạo đặc trưng (như giải nhiệt chống khát, lợi niệu giải độc, kích thích tiêu hóa, giảm mỡ máu, cải thiện trí nhớ, chống viêm loét tiêu hóa, kháng khuẩn tiêu viêm…). Có loại trà thảo dược hợp với người này, nhưng không hợp với người kia.

Người vừa phẫu thuật hoặc đang dùng thuốc, người bị rối loạn chức năng thận, bệnh tim, viêm loét dạ dày và các vấn đề tâm lý, trẻ nhỏ cơ thể còn non nớt không nên uống trà thảo dược.

Người có bệnh tăng nhãn áp, thiếu máu, bệnh gan các bác sĩ khuyên nên tránh uống trà. Người yếu nếu uống trà thảo dược với tính hàn và vị đắng sẽ làm tổn hại đến dương khí và tì vị, dẫn đến nhiều căn bệnh khác.

Đặc biệt, các bà bầu muốn uống trà phải có ý kiến của bác sĩ, bởi các loại thảo mộc khi pha thành trà, cô đặc và uống quá nhiều sẽ không tốt tới sức khỏe mẹ và thai nhi. Một số loại trà có thể vô tình gây kích thích tử cung, co thắt dạ con (như với trà hoa cúc, thìa là, trà sả, ma hoàng, rễ cam thảo, lá mâm xôi, hoa hồi, cây ngải đắng, cây hương thảo…).

Nếu không có bệnh lý về gan, không có y lệnh thì bà bầu tuyệt đối không dùng nhân trần, cam thảo (kẻo cơ thể thải nhiều nước và dinh dưỡng sẽ khiến thai bị suy dinh dưỡng, sinh non hoặc thiếu cân, chết lưu…).

Phụ nữ mới sinh con không uống nhiều trà thảo dược vì dễ có nguy cơ hậu sản. Người mẹ uống nhiều có thể dẫn đến bị mất sữa hoặc ít sữa.

Phụ nữ kỳ kinh nguyệt mất rất nhiều máu, thiếu chất sắt, nếu uống trà thảo dược tính hàn vào càng hại cho dạ dày, còn gây chóng mặt, đau bụng.

Trà thảo dược là dược liệu, vì vậy không thể uống nhiều một lúc, càng không thể dùng lâu. Hầu hết trà thảo dược lợi tiểu, do đó không nên uống trước khi đi ngủ, khi đói (nhất là khi vừa ngủ dậy vì sẽ ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa). Không nên uống trà thảo dược ngay sau bữa ăn vì chất tanin sẽ làm protein trong thức ăn trở nên cứng, khó tiêu… Không nên uống trà để qua đêm. Cũng không ngâm trà thảo dược trong ấm trước lúc đi ngủ để sáng hôm sau dậy uống, vì không khoa học và ảnh hưởng đến sức khỏe.

Phương Thuận – Trà Giang
Theo gia đình

Đột quỵ có thể do quá giận dữ

Các nhà khoa học cho biết, đối với một số người “yếu đuối” việc phẫn nộ sẽ làm cho các cảm xúc mạnh mẽ khác phát sinh, có thể khiến nhịp tim thất thường ảnh hưởng đến tính mạng, gây tử vong.

Tiến sĩ Rachel- Đại học Yale, thành phố New Haven, Connecticut, Mỹ trong bài nghiên cứu đăng tải trên tạp chí “Hội tim học Mỹ” cho biết: “Các loại chứng cứ thể hiện rõ khi các áp lực của một nhóm người lớn hơn, các nhóm sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong đột ngột”.

tuc-dan-dot-quy

“Nghiên cứu chúng tôi bắt đầu chú ý tinh thần ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống tâm điện”. Qua đó, cô và đồng nghiệp của mình tiến hành nghiên cứu trên 62 bệnh nhân bị bệnh tim, những người bệnh này đều có thể phát hiện được các nguy cơ của nhịp tim, hoặc nhịp tim thất thường, và việc phóng điện kích thích để kích hoạt, làm cho tim khôi phục lại bình thường.

Lampert trong một phỏng vấn qua điện thoại, nói: “Những bệnh nhân này rất dễ xuất hiện nhịp tim thất thường và chúng tôi đã biết tình hình này.” Nhóm nghiên cứu của Lampert cho các bệnh nhân tiến hành thực hiện một loại hình thể dục, kết quả về việc xẩy ra gần đây nhất khiến họ giận dữ, đồng thời thông qua một loại thí nghiệm có tên “T-wave Alternans” để đo mức độ không ổn định tâm điện của bệnh nhân.

Lampert cho biết, các nhà nghiên cứu chuyên tư vấn một số vấn đề, để người bệnh nhớ lại các tình tiết của sự phẫn nộ. Cô nói: “Quá trình thực nghiệm của chúng tôi cho thấy tính không ổn định tâm điện của bệnh nhân khi tức giận thực sự sẽ tăng cao.”

Sau đó nhóm nghiên cứu tiến hành theo dõi sự phản hồi trong vòng 3 năm, điều tra và phát hiện những bệnh nhân nào xuất hiện tim dừng và phải dùng kích thích điện tại trung tâm.

Cô nói, sự phản hồi cho thấy rằng sự tức giận của nghững người bệnh có tâm điện không ổn định dẫn đến nhịp tim thất thường so với người khác cao gấp 10 lần.

Lampert cho biết, nghiên cứu này cho thấy, tức giận có thể gây ra tử vong, ít nhất là đối với những người bị ảnh hưởng loại sóng điện tử này quấy nhiễu làm tim bị tổn thương là như vậy.

Theo VietNamNet (Chinadaily)

Đau khớp: càng để lâu nguy cơ càng cao

Sử dụng ánh sáng đỏ có bước sóng thấp và hẹp không chỉ giảm các chứng đau nhức xương khớp mà còn khai thông tắc nghẽn, kích thích làm tăng các chức năng sinh lý của xương khớp một cách tự nhiên.

Đau khớp: càng để lâu nguy cơ càng cao

Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý về xương khớp thường gặp. Phát hiện sớm và chữa trị tích cực, đúng các bệnh sẽ có diễn biến tốt.

Trong số các bệnh lý về xương khớp thì viêm khớp dạng thấp là bệnh thường gặp. Bệnh làm biến dạng các khớp và gây khó khăn đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh.

viemkhop-tay

Diễn tiến của bệnh bắt đầu từ biểu hiện đau, sưng một số khớp nhỏ ở cổ tay, bàn, ngón tay có tính đối xứng và di chuyển từ khớp này qua khớp khác. Ở người trẻ tuổi cũng có thể gặp viêm khớp dạng thấp nhưng chưa biến dạng, về già bị biến dạng thấy rõ ở các khớp bàn tay, ngón tay, cổ tay và thường có tính di truyền. Khi bệnh khởi phát lâu dài, nặng sẽ khó chữa trị, làm giảm khả năng vận động, có nguy cơ bị tàn phế.

Viêm khớp dạng thấp là bệnh mãn tính khó chữa dứt hẳn, việc điều trị dùng thuốc về lâu dài gây khó khăn cho bệnh nhân vì các loại thuốc điều trị viêm khớp tác dụng giảm đau, kháng viêm đi kèm là các tác dụng không mong muốn (phản ứng phụ) như càng uống càng đau, ảnh hưởng xấu đến tim mạch, huyết áp, tiêu hóa, dạ dày… Để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, bệnh nhân cần có sự hiểu biết nhất định về loại thuốc thường dùng và cần sự tư vấn theo dõi của bác sĩ.

Bên cạnh đó, người bệnh phải có lòng kiên trì, kết hợp ứng dụng chế tiết dinh dưỡng và chế độ ăn uống hợp lý, thể dục, hoạt động khớp xương nhẹ nhàng nhất là vào buổi sáng để các khớp xương hoạt động trơn tru, giảm bớt co cứng cơ, tránh hiện tượng dính khớp. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp để phục hồi nhanh hơn.

Đẩy lùi đau khớp không dùng thuốc

Phương pháp chữa bệnh bằng ánh sáng theo cơ chế ánh sáng đỏ có bước sóng thấp và hẹp 940nm (nanometre) của dòng quang phổ có tác dụng điều trị giảm đau các bệnh về khớp như: viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, giảm đau gout (thống phong), cứng cơ khớp của người già, vận động viên tập thể thao nặng, phục hồi khớp bị cứng…

Theo báo sức khỏe

Những điều cần làm để giữ chỉ số huyết áp tốt nhất

Từ bỏ thuốc lá hôm nay!
Chất nicotine trong thuốc lá sẽ liên tục làm hại các động mạch máu chính và là nguyên nhân làm tăng huyết áp.

Dành thời gian để thư giãn và tận hưởng cuộc sống bằng những thói quen tốt!
Nên dành thời gian ở bên gia đình và bạn bè và tổ chức những chuyến du lịch thư giãn cho bản thân.

nhung-dieu-can-lam-de-giu-chi-so-huyet-ap-tot-nhat

Không ăn vặt, thức ăn nhanh và các loạithức ăn có nhiều dầu mỡ!
Chất béo bão hòa và lượng choresterol (có trong các thực phẩm như là khoai tây, đồ chiên rán, thịt đỏ, các đồ nướng) sẽ làm nghẽn mạch máu và tăng chỉ số huyết áp.

Giảm lượng muối ăn hàng ngày!
Chất Natri trong muối sẽ làm tăng chỉ số huyết áp.

Kiểm soát huyết áp mỗi ngày!
Theo dõi kiểm tra chỉ số huyết áp mỗi ngày với máy đo huyết áp cá nhân cũng là phương pháp đề phòng các biến chứng nguy hiểm, tránh được hiện tượng tăng huyếtáp choàng trắng khi gặp bác sĩ

Khám sức khỏe tổng quát ít nhất mỗi nămmột lần!
Khám sức khỏa định kỳ giúp phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường trong cơ thể để từ đó có thể có những biện pháp phòng ngừa.

Kiểm tra với bác sĩ khi phát hiện bất cứtriệu chứng nào của bệnh cao huyết áp!
Các biểu hiện như như đau đầu liên tục, chóng mặt hoa mắt (bị mất thăng bằng),bức rứt khó chịu không nguyên do đều là triệu chứng cơ bản của bệnh cao huyết áp, vì vậy khi có các dấu hiệu này bạn phải nên thường xuyên đi kiểm tra huyết áp và uống thuốc điều đặn theo yêu cầu của bác sĩ

Tăng cường chế độ ăn có nhiều đậu nành!
Nghiên cứu đã chứng minh các chất có trong đậu nành và sữa có thể làm hạ chỉ sốhuyết áp

Tập thể dục thể thao mỗi ngày! Nên tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày và ngăn ngừa sự tăng cân quá mức.
Không uống nhiều rượu bia! Trong trường hợp không thể ngừng hẳn việc uống rượu bia, thì hãy kiểm soát việc uống rượu bia ở một mức độ vừa phải.

Giúp mọi người phòng ngừa bệnh cao huyếtáp!
Hãy tuyên truyền kiến thức phòng tránh bệnh huyết áp cho bạn bè, người thân và đồng nghiệp của bạn

Kiểm tra sức khỏe về tiền sử bệnh trong gia đình!
Các căn bệnh về tim, đột quỵ, và bệnh về thận đều có thể là nguyên nhân từ caohuyết áp.

Tránh ngửi khói thuốc từ người khác!
Nên tránh những nơi có người hút thuốc lá vì ngửi khói thuốc thường xuyên cũng là một trong những nguy cơ dẫn đến các bệnh về tim mạch

Theo sức khỏe

Nguy cơ bệnh tim mạch do muối trong thuốc

Dundee – Lượng muối cao trong một số loại thuốc dạng sủi có thể gây hại cho sức khỏe. Theo một nghiên cứu đăng trên báo Y tế của Anh thì nó dẫn tới tỉ lệ tăng huyết áp cao gấp 7 lần. Thậm chí có thể gây ra đột quỵ và tử vong.

Một số loại thuốc tan trong nước, dạng viên hoặc dạng bột, có hàm lượng muối cao. Trong số chế phẩm mà các nhà dược học của trường ĐH Dundee kiểm tra, lượng muối trong một viên Paracetamol 500mg là cao nhất. Nó chứa 18,6mmol Natri. Và với liều tối đa được phép uống một ngày là 4g, tương đương 148,8mmol, lượng muối hấp thụ đã cao hơn so với mức được khuyên ở Anh (104mmol, tương đương 2,4g)

nguy-co-benh-tim-mach-do-muoi-trong-thuoc

Lượng muối cao là do Natri bicácbonat được cho thêm vào chế phẩm để thuốc sủi tốt hơn. Điều này thường thấy ở những loại thuốc giảm đau được kê cho các bệnh mãn tính phải dùng thuốc trong thời gian dài. Điều này có thể gây tác dụng xấu tới vấn đề tim mạch của họ.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm liên kết dữ liệu nghiên cứu cuả các phòng khám (CPRD) bao gồm hồ sơ bệnh án của 1,2 triệu bệnh nhân người Anh. Trong khoảng thời gian 7,23 năm có tổng cộng 61072 ca liên quan tới tim mạch (gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong). Đem ra đối chiếu thì thấy các bệnh nhân thường được kê các loại thuốc có hàm lượng muối cao.

Trong nghiên cứu của mình các nhà khoa học cũng lưu tâm tới một loạt khả năng, ví dụ như: Lối sống của bệnh nhân cũng có thế gây ra các bệnh về tim mạch, và để điều trị chúng lại phải sử dụng các loại thuốc giảm đau. Tuy nhiên sự liên quan tới việc tăng huyết áp có thể được khẳng định về mặt y học. Tăng huyết áp động mạch là yếu tố nguy hiểm nhất đối với các bệnh về tim mạch. Đặc biệt là đột quỵ.

Natribicacbonat cũng là thành phần của một số loại thuốc bán đại trà, nhưng không được nhắc tới trong nghiên cứu. Quỹ trái tim Anh cho biết, nếu thỉnh thoảng mới uống các loại thuốc có chứa muối thì không có tác hại gì. Tuy nhiên cần hạn chế sử dụng thường xuyên sử dụng trong thời gian dài.

Theo ärzteblatt

Nguy cơ tim mạch của các thuốc NSAID không chọn lọc

Cuối năm 2012, Cơ quan y tế châu Âu đã hoàn thành việc xem xét các dữ liệu khoa học mới nhất về nguy cơ tim mạch của thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) không chọn lọc. Hội đồng Giám định thuốc sử dụng trên người (CHMP) của Ủy ban Dược phẩm châu Âu kết luận rằng, các kết quả nghiên cứu mới nhất phù hợp với bằng chứng trước đó. Các dữ liệu sau này liên tục cho thấy một nguy cơ tim mạch cao hơn với diclofenac so với các NSAID không chọn lọc khác.

NSAID không chọn lọc là gì?

Được gọi là không chọn lọc vì các thuốc kháng viêm không steroid ức chế men cyclo-oxygenase (COX) bao gồm cả COX-1 và COX-2 do đó làm giảm tổng hợp prostaglandin (PG) nên có tác dụng giảm đau và viêm.

NSAID không chọn lọc bao gồm các thuốc diclofenac, ibuprofen, naproxen… và được sử dụng dưới nhiều tên thương mại khác nhau với nhiều dạng dùng khác nhau. Các thuốc này chủ yếu được sử dụng theo đơn của bác sĩ. Tuy nhiên. trong thực tế người dân hay tự ý mua sử dụng mà không cần có đơn của bác sĩ.

nguy-co-tim-mach-cua-cac-thuoc-NSAID-khong-chon-loc

Những nguy cơ…

NSAID đã từng là chủ đề mà châu Âu đưa ra xem xét, đánh giá do lo ngại về nguy cơ tim mạch, tác dụng phụ trên tiêu hóa (ảnh hưởng đến dạ dày và ruột) và phản ứng da nghiêm trọng. CHMP cũng liên tục theo dõi sự an toàn của các thuốc NSAID. Sau khi xem xét tất cả các dữ liệu có sẵn từ năm 2006 và phân tích các thử nghiệm lâm sàng… liên quan đến việc sử dụng diclofenac, ibuprofen và naproxen cho thấy, các bằng chứng mới nhất hiện có trên nguy cơ tim mạch của naproxen và ibuprofen là phù hợp với kết luận trước đây của CHMP. Khả năng làm tăng nguy cơ huyết khối nhỏ, nhất là khi các loại thuốc này được sử dụng ở liều cao và điều trị lâu dài.

Đối với diclofenac, các kết quả nghiên cứu mới nhất cũng cho thấy tăng nguy cơ đau tim, đột quỵ hoặc nguy cơ huyết khối. Và nguy cơ về tim mạch của diclofenac là cao hơn hẳn so với các NSAID không chọn lọc khác. Vì vậy, CHMP cho rằng cần khuyến nghị, cảnh báo về nguy cơ tim mạch cho các loại thuốc có chứa diclofenac.

Và khuyến nghị khi dùng

Để sử dụng an toàn các NSAID không chọn lọc, theo CHMP, chỉ sử dụng các thuốc này để giảm đau và viêm như viêm khớp (viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp, viêm cột sống dính khớp và bệnh gút cấp tính), rối loạn cơ xương cấp tính, viêm gân, viêm bao gân và viêm bao hoạt dịch và các chứng đau khác do chấn thương (bao gồm gãy xương, đau thấp trở lại, bong gân, trật khớp, chỉnh hình, nha khoa và phẫu thuật nhỏ khác). NSAID không chọn lọc nên tiếp tục được sử dụng theo các thông tin sản phẩm hiện có cho mỗi loại thuốc.

Tất cả các NSAID không chọn lọc nên được sử dụng ở liều thấp nhất có hiệu quả trong suốt thời gian điều trị ngắn nhất có thể.
Khi kê đơn, cần lưu ý các thông tin về an toàn tim mạch và các rủi ro khác đối với các thuốc này. Bệnh cần theo dõi những tác dụng không mong muốn có thể xảy ra và thông báo cho bác sĩ điều trị biết.

DS. Hoàng Thu

Theo skds

Nguy cơ bệnh tim mạch do muối trong thuốc

Dundee – Lượng muối cao trong một số loại thuốc dạng sủi có thể gây hại cho sức khỏe. Theo một nghiên cứu đăng trên báo Y tế của Anh thì nó dẫn tới tỉ lệ tăng huyết áp cao gấp 7 lần. Thậm chí có thể gây ra đột quỵ và tử vong.

Một số loại thuốc tan trong nước, dạng viên hoặc dạng bột, có hàm lượng muối cao. Trong số chế phẩm mà các nhà dược học của trường ĐH Dundee kiểm tra, lượng muối trong một viên Paracetamol 500mg là cao nhất. Nó chứa 18,6mmol Natri. Và với liều tối đa được phép uống một ngày là 4g, tương đương 148,8mmol, lượng muối hấp thụ đã cao hơn so với mức được khuyên ở Anh (104mmol, tương đương 2,4g)

nguy-co-tim-mach-do-muoi-trong-thuoc

Lượng muối cao là do Natri bicácbonat được cho thêm vào chế phẩm để thuốc sủi tốt hơn. Điều này thường thấy ở những loại thuốc giảm đau được kê cho các bệnh mãn tính phải dùng thuốc trong thời gian dài. Điều này có thể gây tác dụng xấu tới vấn đề tim mạch của họ.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm liên kết dữ liệu nghiên cứu cuả các phòng khám (CPRD) bao gồm hồ sơ bệnh án của 1,2 triệu bệnh nhân người Anh. Trong khoảng thời gian 7,23 năm có tổng cộng 61072 ca liên quan tới tim mạch (gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong). Đem ra đối chiếu thì thấy các bệnh nhân thường được kê các loại thuốc có hàm lượng muối cao.

Trong nghiên cứu của mình các nhà khoa học cũng lưu tâm tới một loạt khả năng, ví dụ như: Lối sống của bệnh nhân cũng có thế gây ra các bệnh về tim mạch, và để điều trị chúng lại phải sử dụng các loại thuốc giảm đau. Tuy nhiên sự liên quan tới việc tăng huyết áp có thể được khẳng định về mặt y học. Tăng huyết áp động mạch là yếu tố nguy hiểm nhất đối với các bệnh về tim mạch. Đặc biệt là đột quỵ.

Natribicacbonat cũng là thành phần của một số loại thuốc bán đại trà, nhưng không được nhắc tới trong nghiên cứu. Quỹ trái tim Anh cho biết, nếu thỉnh thoảng mới uống các loại thuốc có chứa muối thì không có tác hại gì. Tuy nhiên cần hạn chế sử dụng thường xuyên sử dụng trong thời gian dài.

Theo ärzteblatt/skds