Tag Archives: tiêu hóa trẻ em

Rối loạn tiêu hóa ở trẻ

Rối loạn tiêu hóa (RLTH) là một thuật ngữ thường dùng để chỉ những bất thường về chức năng dạ dày. Nguyên nhân RLTH rất đa dạng như: bệnh lý của cơ thể, thay đổi chế độ ăn, dùng thuốc… đặc biệt là sự thay đổi chế độ ăn đột ngột của trẻ em khi bắt đầu ăn dặm, sẽ gây nên RLTH thể hiện qua các triệu chứng như: đầy hơi, chướng bụng, táo bón, tiêu chảy, phân sống.

Với những trẻ thường xuyên có biểu hiện bất thường tại đường tiêu hóa, chắc chắn khả năng cung cấp đủ các chất cho cơ thể bị ảnh hưởng.

Trẻ ăn vào ói ra, kém hấp thu… lâu ngày sẽ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng và diễn tiến đến suy dinh dưỡng.

Vì vậy, những trẻ có biểu hiện RLTH nên được đi khám sớm và đúng chuyên khoa để có hướng điều trị đúng cho trẻ.
nhung-roi-loan-tieu-hoa-thuong-gap-o-tre
Dưới đây là một số bệnh lý tiêu hóa thường gặp ở trẻ em.

Trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản là hiện tượng trào ngược những chất chứa trong dạ dày vào trong thực quản.

Do cấu trúc giải phẫu dạ dày – thực quản của trẻ nhỏ không giống như người lớn, thực quản thì ngắn, phần dưới hơi nở rộng, lớp cơ chưa phát triển hoàn chỉnh và còn yếu, cơ tâm vị co thắt bất thường nên bé rất dễ nôn trớ.

Nếu trẻ nôn ít (vài ba ngày mới ọc 1 lần hay 1 ngày ọc 2 lần), vẫn bú khỏe, lên cân tốt thì không sao và hiện tượng trào ngược này sẽ giảm dần khi trẻ lớn.

Dù có điều trị hay không thì đến năm 2 tuổi, khoảng 60% trẻ sẽ tự hết, 40% còn lại có thể kéo dài đến 4 tuổi.

Táo bón

Táo bón không phải là bệnh, mà chỉ là 1 triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau hoặc chỉ là 1 rối loạn cơ năng (thường gặp nhất).

Táo bón được định nghĩa khi bé có số lần đi tiêu ít hơn bình thường (thay đổi theo lứa tuổi và mỗi cá nhân) với phân to, cứng, đau khi đi tiêu và đôi khi có máu.

Táo bón có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như: viêm ruột, thủng ruột… Do đó, cần được khám và tìm nguyên nhân gây táo bón để có điều trị thích hợp.

Táo bón rất hay gặp ở trẻ còn nhỏ khi thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm và ít chất khoáng, cũng có khi do uống nhiều sữa bò, sữa bột vì ít sữa mẹ.

Các cơ bụng và thành ruột cũng có vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón.

Những đứa trẻ còi xương, sinh thiếu tháng rất hay bị táo bón. Ở những trẻ lớn hơn, táo bón thường do ăn nhiều thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết, có khi do lỗ hậu môn bị rạn.

Việc cho trẻ ăn nhiều rau quả sẽ giúp cho cơ bụng và thành ruột co bóp tốt hơn. Các loại nước ận ép hoặc nước luộc củ cải cũng có tác dụng chống táo bón.

Cách đề phòng táo bón tốt nhất là tập cho trẻ thói quen đi ngoài vào một giờ cố định trong ngày.

Các thuốc nhuận tràng chỉ nên uống sau khi hỏi ý kiến của bác sĩ.

Tiêu chảy

Khi trẻ đi tiêu ra phân lỏng như nước trên 3 lần một ngày thì được coi là tiêu chảy.

Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời.

Do đó, điều quan trọng nhất khi trẻ bị tiêu chảy là phải bù điện giải cho trẻ, tốt nhất bằng nước oresol và phải tuân thủ hướng dẫn pha oresol, cho trẻ uống đúng cách, uống từng ít một, uống liên tục và rải rác trong ngày.

Còn nếu trẻ diễn tiến bệnh nặng hơn, tốt nhất hãy đưa trẻ đến một cơ sở y tế để điều trị.

Để phòng bệnh tiêu chảy, cha mẹ cần chú ý đảm bảo vệ sinh cho trẻ, thực hiện ăn chín uống sôi, vệ sinh tay sạch sẽ trước và sau ăn.

Còn khi bệnh, ngoài việc bù nước, điện giải tốt nhất, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, ăn những thức ăn loãng, dễ tiêu giúp tăng cường sức khỏe, trẻ sẽ có đủ sức chống đỡ bệnh, cơ thể chóng phục hồi, không bị suy sụp vì thiếu dinh dưỡng sau tiêu chảy.

Theo sức khỏe đời sống

Đa số trẻ nhỏ đều mắc bệnh giun

Khoảng 34% trẻ 2-5 tuổi bị các bệnh giun lây truyền từ đất nhưng nhiều cha mẹ lại quên tẩy giun cho con. Trong khi đó, bệnh diễn biến âm ỉ, kéo dài, dần dần trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn, sức đề kháng kém.

Thông tin được ông Nguyễn Mạnh Hùng, Viện trưởng Viện Sốt rét – Ký sinh trùng Trung ương cho biết mới đây

Theo số liệu điều tra trong 4 năm gần đây của Viện, bệnh giun truyền qua đất ở nước ta vẫn còn khá phổ biến. Tỷ lệ nhiễm chung các bệnh cao nhất tại vùng trung du và miền núi phía Bắc (hơn 65%), sau đó là đồng bằng sông Hồng. Trong đó, thấp nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ nhiễm giun chỉ khoảng 12-14%.
cu 10 tre co 3 be bi giun
Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh tiểu học đã giảm nhưng tỷ lệ tái nhiễm tương đối cao. Chẳng hạn, tại Thừa Thiên Huế, tỷ lệ nhiễm giun trước khi can thiệp là 70%, sau can thiệp 2 tuần là hơn 24% và sau 6 tháng thì đã gần như trở lại với tỷ lệ ban đầu.

Cũng theo ông Hùng, điều đáng lưu ý là tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản rất cao. Tỷ lệ nhiễm tại các tỉnh như Yên Bái, Sơn La, Thanh Hóa… đều ở mức trên 50%. Tại Hà Nội, tỷ lệ này cũng lên đến gần 20%.

Với phụ nữ trưởng thành và phụ nữ ở độ tuổi sinh sản, nhiễm giun ảnh hưởng tới thời kỳ mang thai, gây thiếu máu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con cái họ, có thể gây đẻ non, trẻ thiếu cân, tử vong mẹ và trẻ sơ sinh.

Trẻ bị nhiễm giun sẽ bị rối loạn tiêu hóa, cản trở quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng. Lâu ngày có thể khiến trẻ bị suy dinh dưỡng, sức đề kháng kém, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn.

Các chuyên gia khuyến cáo, để phòng bệnh giun người dân cần tiến hành tẩy định kỳ. Với người lớn sau 6 tháng hoặc một năm tẩy giun một lần, còn trẻ nhỏ thì phải có chỉ định của bác sĩ.

Theo sức khỏe đời sống

Các bệnh thường gặp ở họng trẻ nhỏ

Họng là nơi tiếp xúc đầu tiên với các yếu tố môi trường như không khí, khói bụi, các loại thực phẩm, các yếu tố dị nguyên… nên rất dễ tổn thương.

Tại họng tập trung nhiều các tổ chức lympho tạo thành từng đám gọi là amiđan. Các amiđan hình thành nên vòng bạch huyết Waldeyer bao gồm: amiđan vòm (V.A), amiđan vòi, amiđan khẩu cái (thường gọi là amiđan), amiđan lưỡi và hạch Gillet. Các amiđan sản xuất ra những tế bào lympho T và B tham gia vào miễn dịch tế bào bảo vệ cơ thể, trong đó quan trọng nhất là amiđan vòm (V.A) và amiđan khẩu cái (amiđan).

Đám rối thần kinh họng (vận động, cảm giác, thực vật) là cơ chế gây ra các phản xạ thần kinh, nội tiết để gây ra các biến chứng toàn thân từ viêm họng.

Nguyên nhân gây bệnh

Viêm mũi họng là tình trạng niêm mạc mũi họng bị viêm nhiễm do tác nhân vi khuẩn, virus, nấm hoặc dị ứng.
cac-benh-thuong-gap-o-hong
Nguyên nhân gây bệnh thường là virus (chiếm 60-80%). Vi khuẩn: thường gặp là phế cầu, Hemophilus Influenzae, tụ cầu và nguy hiểm nhất là liên cầu ß tan huyết nhóm A. Nấm: rất hiếm, mặc dù bình thường khi nuôi cấy dịch họng kết quả chỉ ra có khoảng 70% các trường hợp có sự tồn tại của nấm. Trong những trường hợp cơ thể suy giảm sức đề kháng như hội chứng suy giảm miễn dịch, dùng quá nhiều kháng sinh, súc thuốc súc họng, sử dụng viên ngậm bừa bãi hoặc dùng các thuốc xịt họng không đúng chỉ định… nấm mới trở nên gây bệnh.

Người ta nhận thấy đa phần những bệnh nhân bị viêm họng tái diễn nhiều lần thường hay kèm thêm một số yếu tố thuận lợi như sự thay đổi của khí hậu, người tiếp xúc với các yếu tố vật lý hóa học độc hại, làm việc trong môi trường bụi bẩn…

Viêm V.A cấp

Viêm V.A cấp là một bệnh hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Tỷ lệ trẻ bị viêm V.A chiếm một tỷ lệ cao từ 40 – 53% số trẻ đi khám bệnh tùy theo từng mùa, địa dư sinh sống, điều kiện sống và sinh hoạt.

Biểu hiện của viêm V.A cũng dễ nhận biết.

– Cha mẹ thường thấy con mình thở to hơn bình thường khi ngủ, kèm theo là chảy nước mũi, hơi thở hôi. Sau hai ba ngày trẻ bắt đầu sốt. Nhiệt độ dao động từ 38-40˚C. Trẻ mệt mỏi, quấy khóc, kém ăn, ăn hay nôn trớ. Cửa mũi có dịch chảy ra, lúc đầu dịch trong, nếu trẻ không được điều trị dịch sẽ chuyển dần thành màu vàng xanh. Ngạt mũi làm trẻ phải thở bằng mồm. Nếu còn bú mẹ sẽ thấy trẻ không bú được dài hơi, bú được một lúc lại phải dừng lại để thở. Trẻ bị ho, có thể có đờm do dịch xuất tiết từ mũi họng kích thích.

– Điều trị viêm V.A cấp:

Điều trị theo nguyên nhân.

+ Toàn thân

• Nếu viêm V.A do vi khuẩn:

Kháng sinh đường uống thông thường. Các vi khuẩn gây viêm V.A cấp thường bị tiêu diệt bởi nhóm ß-lactam…

Điều trị các triệu chứng: hạ sốt, giảm đau bằng paracetamol, chống xung huyết, chống phù nề bằng corticoid hoặc chống viêm (α choay)…

• Nếu do virus, sẽ chỉ điều trị cho trẻ các triệu chứng: hạ sốt, giảm xuất tiết và chống xung huyết mũi.

+ Tại chỗ: điều trị ngạt mũi và chảy mũi với các thuốc co mạch xylomethazoline 0,05%, chống viêm…

– Phòng bệnh trong viêm V.A cũng rất quan trọng: tránh cho trẻ dưới 5 tuổi đến những chỗ đông người như chợ, các lễ hội…vì khả năng miễn dịch ở lứa tuổi này chưa hoàn thiện nên dễ nhiễm bệnh. Giữ ấm cho trẻ khi thời tiết chuyển lạnh, tránh gió lùa lúc tắm, thường xuyên vệ sinh tay chân cho trẻ sạch sẽ…
Khám họng cho trẻ

Viêm V.A mạn tính

Viêm V. mạn tính hình thành do viêm V.A cấp không được điều trị đúng.

Viêm V.A mạn tính thường xuất hiện ở trẻ dưới 6 tuổi với các biểu hiện:

– Ngạt mũi thường xuyên, ngày càng tăng.

– Chảy dịch ra cửa mũi trước.

– Trẻ hay ho và sốt vặt, do mũi chảy xuống họng và mủ đọng ở hốc mũi.

– Trẻ biểu hiện ngủ không yên giấc, ngáy to, giật mình.

– Tai nghễnh ngãng và cũng dễ bị viêm.

– Cơ thể trẻ chậm phát triển so với lứa tuổi, kém nhanh nhẹn, ăn uống ít biết ngon. Người gầy hoặc béo bệu, nước da trắng bệch.

Tiến triển bệnh

Viêm V.A mạn tính không điều trị kịp thời, trẻ thiếu thở dẫn đến hiện tượng thiếu oxy mạn tính, hình thành bộ mặt V.A: da xanh, miệng há, môi trên bị kéo xếch lên để lộ răng cửa vẩu, răng hay mọc lệch, môi dưới dài, thõng, đôi mắt mở to, trẻ có vẻ ngây ngô.

Ngoài bộ mặt V.A, trẻ còn có những biến dạng ở thân mình: lồng ngực bị dẹt, hẹp bề ngang, lưng bị cong, vẹo hoặc gù, bụng ỏng, đít teo.

Về mặt tinh thần, những trẻ này thường không tập trung tư tưởng, lười biếng, buồn ngủ, trong lớp trẻ hay học kém do trẻ nghe kém nên không hiểu những lời giảng của giáo viên, không thấy hứng thú trong học tập.

Sự phát triển trí tuệ ở một trẻ bị viêm V.A cũng hạn chế do nghe kém và thở kém làm giảm lượng oxy cung cấp cho não trẻ.

Tiên lượng bệnh không nặng nề nếu trẻ được điều trị viêm V.A mạn tính trước khi để lại di chứng.

Viêm amiđan

Viêm amiđan là nhóm bệnh hay gặp, đứng hàng đầu trong những bệnh lý về họng. Bệnh tiến triển có thể cấp tính hay mạn tính. Viêm amiđan rất hay tái phát và có thể gây các biến chứng nguy hiểm.

Viêm amiđan cấp

Viêm amiđan cấp là viêm nhiễm của amiđan khẩu cái do virus hoặc vi khuẩn.

– Bệnh hay gặp ở trẻ lớn, trên 7 tuổi và người lớn. Tỷ lệ bị bệnh khoảng 10% dân số.

– Viêm amiđan cấp thường gặp do bệnh nhiễm trùng còn phổ biến ở nước ta.

– Viêm amiđan cấp không khó phát hiện, nhiều khi bản thân người bệnh tự phát hiện.

– Bệnh nhân bị bệnh thấy người mệt mỏi, kém ăn, cảm giác ớn lạnh. Sốt 39º-40˚C.

– Nuốt đau, rát họng là dấu hiệu mà bệnh nhân hay phàn nàn, đôi khi đau lan lên tai khi nuốt. Kèm theo có ho từng cơn do kích thích hoặc ho có đờm bởi dịch xuất tiết ở họng. Giọng nói có thể thay đổi, trở nên ồm ồm. Trẻ nhỏ thường thở khò khè, ngáy to. Hơi thở hôi.

– Khám họng: hai amiđan to, đỏ, ướt, có thể thấy các mạch máu nổi rõ hoặc các chấm mủ trắng ở các khe, có khi thành đám như giả mạc nhưng lấy ra dễ dàng, tan trong nước. Hạch góc hàm sưng to và đau.

– Những đợt viêm amiđan cấp diễn biến khoảng 7 ngày là khỏi. Nhưng nếu không được điều trị bệnh có thể lan xuống thanh quản, phế quản hoặc gây các biến chứng như áp xe quanh amiđan, viêm tai giữa, viêm cầu thận cấp, thấp tim, viêm khớp cấp.

– Điều trị kháng sinh nếu viêm amiđan cấp mủ.

– Điều trị triệu chứng: hạ sốt, giảm đau, giảm ho, chống phù nề và xung huyết. Nếu nghi ngờ viêm amiđan do nguyên nhân liên cầu ß tan huyết nhóm A, phải điều trị ngay bằng kháng sinh chống liên cầu như penniciline G và kéo dài trong 2 tuần.

Viêm amiđan mạn tính

– Bệnh nhân có nhiều đợt viêm cấp trong năm (trên 5 lần).

– Viêm amiđan mạn tính xuất hiện nếu viêm cấp không được điều trị đúng, kháng sinh không đủ liều, không đúng cách.

– Bệnh nhân hay ho húng hắng, hay đau rát họng, nuốt vướng như có dị vật, đau nhói lên tai khi nuốt, hơi thở hôi, ngủ ngáy, đôi khi giọng nói bị thay đổi.

– Khám thấy amiđan quá phát hoặc xơ teo, trên bề mặt amiđan có những chấm mủ như bã đậu. Vuốt dọc theo trụ trước của amiđan thấy có mủ trắng từ các hốc amiđan.

– Hạch góc hàm to, cứng, có khi đau.

Biến chứng của viêm amiđan và V.A

– Biến chứng tại chỗ: viêm tấy hoặc áp xe quanh amiđan.

– Biến chứng bộ phận hô hấp: viêm thanh quản, khí quản và phế quản

– Cơn khó thở đột ngột và kịch liệt về đêm, nhất là ở những trẻ có cân nặng trên mức bình thường, tổ chức lympho thường quá phát – nguy cơ co thắt nguy hiểm.

– Trên những trẻ có cơ địa bị hen, viêm V.A làm cho những cơn hen xuất hiện thường xuyên hơn và nặng hơn.

– Biến chứng viêm tai giữa cấp, mạn.

– Viêm amiđan, V.A mạn tính hay gây rối loạn tiêu hoá ở trẻ nhỏ.

– Viêm hạch: thường là viêm hạch trên nhiều vùng ở cổ, hạch nhỏ, không đau, di động dễ. Những hạch này có thể bị nhiễm trùng, đặc biệt là hạch Gillete gây áp xe thành sau họng ở trẻ dưới 2 tuổi.

– Biến chứng mắt: viêm màng tiếp hợp, viêm mí mắt, chảy nước mắt.

– Biến chứng toàn thân: viêm cầu thận, thấp tim, thấp khớp.

Theo sức khỏe đời sống

Xử lý trẻ tiêu chảy khi đi chơi xa

Rối loạn tiêu hóa là một cụm từ dùng để chỉ sự xuất hiện một số triệu chứng ở đường tiêu hóa như nôn, buồn nôn; đau bụng có khi âm ỉ, có khi từng cơn, có khi đau quặn; đi lỏng, phân lúc nhão, lúc rắn; bí trung tiện, táo bón…

Mùa hè đến là thời điểm các gia đình tổ chức các kì nghỉ hè, đi chơi, du lịch. Đây là thời điểm tốt để trẻ được giao lưu, khám phá thế giới bên ngoài. Sẽ thật không may nếu sau mỗi chuyến đi trẻ lại bị ốm hay bị rối loạn tiêu hóa đặc biệt là tiêu chảy.
Baby girl
Chị Thu Phương (Thái Thịnh – Hà Nội) tâm sự, hè năm ngoái gia đình chị có tổ chức cho cả nhà đi biển Sầm Sơn nghỉ hè. Cu Bin nhà chị (4 tuổi) thích lắm, lần đầu tiên được đi xa, cái gì cũng mới lạ. Nhưng ngay hôm đầu tiên thì cu Bin đã bị tiêu chảy nặng. Nguyên nhân là do buổi tối cả nhà đi ăn hải sản, đồ ăn vừa lạ vừa ngon nên cu Bin ăn nhiệt tình và hậu quả là suốt đêm Bin bị đau bụng đi ngoài. Thế là hôm sau cả nhà phải quay về Hà Nội gấp, mấy ngày sau dù đã uống thuốc cầm tiêu chảy, kháng sinh nhưng Bin vẫn bị dai dẳng, tuy với số lần ít hơn. Chị Phương lo nếu tình trạng này cứ kéo dài thì cu Bin sẽ bị tiêu chảy mạn tính, khó dứt và sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của Bin. Rất nhiều gia đình cũng giống như gia đình chị Phương gặp tình trạng trẻ bị rối loạn tiêu hóa sau mỗi chuyến đi do ăn thức ăn lạ, hoặc do giờ giấc ăn uống bị thay đổi.

Rối loạn tiêu hóa là một cụm từ dùng để chỉ sự xuất hiện một số triệu chứng ở đường tiêu hóa như nôn, buồn nôn; đau bụng có khi âm ỉ, có khi từng cơn, có khi đau quặn; đi lỏng, phân lúc nhão, lúc rắn; bí trung tiện, táo bón… kèm theo phân bị thay đổi cả về số lượng lẫn mùi, màu sắc và tính chất. Ở trẻ nhỏ, rối loạn tiêu hóa thường do ăn uống: ăn quá nhiều hay ăn thức ăn lạ, (đặc biệt hay gặp trong các chuyến đi du lịch); bị ngộ độc hay nhiễm khuẩn; dùng thuốc kháng sinh mà dùng không đúng liều lượng hoặc dùng kháng sinh không đúng chỉ định làm cho mất cân bằng hệ vi sinh vật ở đường ruột khiến trẻ bị loạn khuẩn ruột. Khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa làm cho sức đề kháng kém, trẻ biếng ăn, chán ăn dẫn đến suy dinh dưỡng.

Với trẻ bị rối loạn tiêu hóa dù với nguyên nhân nào đều cần có chế độ ăn uống và sinh hoạt cho trẻ hợp lý. Thức ăn phải cung cấp đủ 4 nhóm chất: cung cấp năng lượng (gạo, khoai, mì…), chất đạm (thịt, cá, trứng,..), chất béo (mỡ động vật, trứng, sữa và các loại hạt có dầu,…), vitamin và khoáng chất (rau xanh…), để tăng sức đề kháng cần cho trẻ ăn thêm nhiều hoa quả tươi. Đặc biệt khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa cần chế biến thức ăn dưới dạng dễ tiêu hóa hơn như cháo, súp, mì… Bổ sung các thực phẩm chứa các loại vi khuẩn có ích như sữa chua, váng sữa. Ngoài ra bổ sung cho trẻ các chế phẩm men vi sinh. Các vi khuẩn này có vai trò ức chế các vi khuẩn gây hại, ngăn tiết độc tố. Giúp cải thiện tình trạng rối loạn tiêu hóa và tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng cho cơ thể.

Báo Dân Trí

Nguy hiểm Trẻ tiểu ra máu vì dị ứng đạm trong sữa bò

 Cậu con trai 6 tháng tuổi liên tục đi ngoài ra máu, chị Tuyết đưa con đến bệnh viện khám, nhận được kết quả chẩn đoán bé dị ứng với đạm có trong thành phần của sữa.

Phụ huynh cho biết, lúc đầu khi thấy con đi tiêu ra máu, chị chỉ nghĩ bé bị kiết lỵ nên cho uống dung dịch bù nước và uống sữa để bù dinh dưỡng.
“Đến khi vào bệnh viện, tôi mới biết con mình bị dị ứng với protein có trong thành phần của loại sữa bò mà cháu đang uống”, chị Tuyết nói.
Theo lời khuyên của bác sĩ, chị Tuyết dừng cho con uống sữa bò và đổi sang sữa đậu nành. Tuy nhiên hiện tượng đi tiêu ra máu vẫn thi thoảng xảy ra.
Một trường hợp khác, bé Xuân 4 tháng tuổi ở Hóc Môn, TP HCM, cũng được đưa đến bệnh viện vì chứng tiêu ra máu. Theo hướng dẫn của bác sĩ, bé được ngừng uống sữa bò, từ đó hết bị đi ngoài ra máu.

tretieuramau1
Theo các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa nhi, hiện tượng dị ứng sữa bò không phải quá hiếm, nhất là đối với trẻ từ 1 đến 3 tuổi. Những thực phẩm dễ gây dị ứng nhất là trứng, lạc và sữa bò. Phần lớn trường hợp dị ứng với sữa bò sẽ khỏi hẳn, tuy nhiên khoảng 10% người sẽ phải sống cùng bệnh này suốt đời.
Nguyên nhân của hiện tượng dị ứng sữa chưa được làm rõ, nhưng được cho có thể là do yếu tố di truyền kết hợp với việc cho trẻ ăn sữa bò quá sớm. Triệu chứng thường thấy của dị ứng sữa bò ở trẻ sơ sinh là chứng viêm da, da nổi mẩn đỏ, nôn trớ, thở khò khè, có máu ở trong phân và chậm tăng cân. Nhiều bé có thể bị sốc phản vệ nặng, tím tái

Thạc sĩ – bác sĩ Nguyễn Diệu Vinh, Khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Nhi Đồng 2, cho biết, dị ứng với đạm sữa bò là tình trạng hệ miễn dịch trong cơ thể của trẻ phản ứng một cách bất thường những thành phần protein trong sữa
. Khi trẻ bị dị ứng phụ huynh thường được khuyên cho bé chuyển sang uống sữa đậu nành. Song lại có khá nhiều trẻ dị ứng sữa bò cũng bị dị ứng với các protein trong thành phần sữa đậu nành do sữa có thành phần đạm thủy phân.
“Nguyên tắc điều trị dị ứng sữa bò chủ yếu là tránh tác nhân gây dị ứng, do đó khi bắt đầu cho bé ăn dặm, phụ huynh có thể sử dụng một số thực phẩm như bột gạo, bột ngũ cốc, hoặc thực phẩm không chứa sữa như: kem, chocolate, pho mát, sữa chua”, bác sĩ Vinh nói.
Theo các bác sĩ Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, để tránh dị ứng và giúp trẻ phát triển tốt trong giai đoạn đầu đời, nên cho bé bú mẹ. “Sữa mẹ thường rất ít gây dị ứng cho trẻ. Hiện tượng dị ứng chỉ xảy ra do mẹ ăn trứng hoặc uống sữa. Người mẹ cần loại bỏ các thực phẩm này ra khỏi bữa ăn thì trẻ sẽ không bị nữa”, một bác sĩ nói.

theo internet

Một số bệnh về răng thường gặp ở trẻ em

Theo các bác sĩ nha khoa ở TP HCM, các bệnh về răng ở trẻ em có chiều hướng gia tăng. Việt Nam hiện được xếp vào nhóm quốc gia có tỷ lệ bệnh này cao nhất thế giới. Vì vậy, việc cha mẹ tự trang bị những kiến thức cơ bản về chăm sóc răng miệng cho trẻ là rất quan trọng. (Ảnh là một trường hợp viêm lợi do mọc răng sữa. )

Các loại bệnh răng miệng phổ biến ở trẻ:

1. Viêm lợi

Trẻ bị viêm lợi sẽ có những triệu chứng như lợi sưng đỏ, đau, chảy máu, hôi miệng… Có 3 thể viêm thường gặp: – Viêm lợi do mọc răng. – Viêm lợi hoại tử lở loét cấp tính: Là một nhiễm trùng cấp tính, thường do stress hay giảm sức đề kháng. Bệnh nhân đau liên tục và dữ dội, hôi miệng, có các sang thương trên lợi. Nếu không được điều trị kịp thời, viêm và hoại tử sẽ lan rộng đến mào xương ổ, dẫn đến bệnh nha chu, hoại tử, làm xương tiêu nhanh và tụt lợi. – Viêm lợi do vệ sinh răng miệng kém.

mot-so-benh-ve-rang-thuong-gap-o-tre-em

2. Chấn thương răng

Thường gặp ở các bé trai. Nguyên nhân gây chấn thương răng thường là ngã đập mặt xuống đất; đánh lộn, tai nạn giao thông… Tùy mức độ chấn thương, các bác sĩ sẽ có cách xử lý riêng. Đối với trường hợp răng đã rơi ra, nếu có những bước xử lý khẩn cấp, thích hợp thì có thể cắm lại răng. Thời gian răng ở ngoài càng lâu, tiên lượng càng xấu. Do vậy, khi răng bị rớt ra khỏi ổ, cần nhặt lên ngay (cầm lấy phần thân, tránh chạm vào phần chân răng) rồi dùng nước sạch rửa nhẹ. Tốt nhất là đặt răng trở lại vị trí cũ trong xương ổ răng. Nếu không làm được, phải ngâm răng trong sữa tươi tiệt trùng hoặc cho trẻ ngậm trong miệng và đưa đến bệnh viện ngay. Trong trường hợp răng bị chấn thương là răng sữa (gặp ở trẻ 2-5 tuổi), tai nạn có thể sẽ ảnh hưởng đến răng vĩnh viễn đang phát triển, gây thiểu sản men (thiếu chất men) hoặc làm biến đổi chiều hướng mọc của răng vĩnh viễn.

3. Biến chứng răng khôn

Bác sĩ Hứa Thị Xuân Hòa, Trưởng khoa Phẫu thuật trong miệng Bệnh viện Răng hàm mặt TP HCM, cho biết, mỗi năm khoa tiếp nhận điều trị cho hơn 2.000 ca biến chứng về răng khôn (như răng không đủ chỗ mọc, răng ngang, răng dị dạng, răng mọc ngầm trong xương…). Biến chứng về răng khôn nếu được phát hiện sớm lúc chân răng mọc chưa hoàn chỉnh (trẻ 14-16 tuổi) thì các bác sĩ có thể nhổ răng nhanh, trẻ ít phải chịu đau, tiên lượng tốt. Ngược lại, bệnh nhân sẽ bị viêm xương hàm, viêm mô tế bào nhiều lần, gây biến dạng gương mặt… Tiến sĩ Phạm Xuân Sáng, người đã làm luận án về răng khôn, cho biết, theo quan điểm hiện đại, người ta nhổ răng khôn rất sớm, từ khi còn là mầm răng (14-16 tuổi). Điều này giúp phòng ngừa nhiều biến chứng mà không ảnh hưởng đến chức năng nhai vì răng khôn nằm trong kẹt, sức nhai không đáng kể. Để phòng tránh các bệnh về răng, cha mẹ cần hướng dẫn trẻ cách chải răng đúng phương pháp, đưa trẻ đi lấy cao răng nếu có và khám răng định kỳ 6 tháng/lần. Lúc phát hiện trẻ bị sâu răng sữa, cần đưa đi khám và điều trị để không ảnh hưởng đến răng vĩnh viễn. Nhiều mà mẹ cho rằng việc răng sữa bị sâu không có gì đáng lo cả vì sẽ có răng vĩnh viễn mọc thay thế. Họ không nhắc nhở con vệ sinh răng miệng cho đến khi trẻ đã bị sâu gần hết hai hàm răng sữa. Những chiếc răng bị sâu đến tủy hoặc phải nhổ đều ảnh hưởng đến quá trình mọc răng vĩnh viễn sau này. Với những trường hợp trẻ có răng sâu đến tủy, các bác sĩ thường đề nghị chữa tủy để giữ lại răng với mục đích dành chỗ cho răng vĩnh viễn mọc; nhưng không ít phụ huynh lại đòi nhổ. Họ không biết rằng từ 6-7 tuổi, trẻ mới bắt đầu thay răng và trong lúc đợi răng vĩnh viễn mọc, phải tạo khoảng trống để giữ chỗ. Nếu nhổ răng sữa sớm, khoảng trống cho răng vĩnh viễn sẽ không còn, dẫn tới tình trạng răng vĩnh viễn bị xô lệch sau này. Hơn nữa, việc nhổ răng sữa sớm còn làm nướu dày hơn, cản trở quá trình mọc răng vĩnh viễn. Chiếc răng cối đầu tiên (răng số 6) là răng vĩnh viễn, mọc khi trẻ được 6 tuổi. Do răng này mọc sớm nên nhiều bà mẹ tưởng đây là răng sữa và chủ quan trong việc vệ sinh răng, không đưa trẻ đi điều trị sớm khi răng chớm sâu. Điều này gây hậu quả nghiêmtrọng vì răng số 6 là răng chủ lực trong việc ăn nhai, lại có tác dụng hướng dẫn cho các răng cối khác mọc đúng vị trí.

Theo sức khỏe gia đình

Hội chứng nôn trớ ở trẻ em

Nôn trớ là sự bắn tung mạnh mẽ những chất chứa trong dạ dày ra ngoài do co bóp của cơ hoành, cơ bụng và cơ trơn của dạ dày. Ợ là một hiện tượng mà một lượng nhỏ thức ăn từ dạ dày được bắn ra ngoài do sự co bóp của thành dạ dày. Đối với người không chuyên môn thật khó phân biệt giữa 2 trường hợp này.

Đây là một triệu chứng thường gặp ở trẻ ở bất cứ lứa tuổi nào, là một trong những mối quan tâm của bố mẹ, và trẻ thường được bố mẹ đem đến thầy thuốc nhi khoa. Nó có thể chỉ là một triệu chứng đơn giản nhưng cũng có thể là triệu chứng của một bệnh nguy hiểm như viêm màng não mũ hay là một bệnh lý phức tạp như mối loạn về chuyển hóa.

Nguyên nhân

Theo lứa tuổi

Nguyên nhân rất rộng và thường khác nhau tùy theo tuổi.

Những dị tật bẩm sinh và rối loạn về chuyển hóa thường xảy ra trong thời kỳ bú mẹ. Những bệnh có tính hệ thống thường xảy ra trong thời kỳ niên thiếu . Thời kỳ thanh niên thường do những rối loạn về ăn uống , thuốc hay thai nghén.

hoi-chung-non-tro

Thời kỳ bú mẹ

– Bệnh nội khoa:

+ Viêm dạ dày ruột cấp ( thường gặp do Rotavirut )

+ Nuốt máu mẹ hay mucus

+ Ăn nhiều

+ Trào ngược dạ dày thực quản

+ Rối loạn nhu động ở thực quản

+ Nhai lại thức ăn

+ Khóc quá nhiều, ăn thức ăn đặc sớm

+ Trẻ lo lắng, kích thích. Cần chú ý đến hành vi của trẻ và tình trạng bệnh lý

+ Dị ứng thức ăn

+ Rối loạn về chuyển hóa: Phenylketonuria, galactosemia..

+ Tăng sản thượng thận bẩm sinh

+ Nhiễm trùng như viêm tai giữa, nhiễm trùng đường tiểu, hệ thần kinh, và nhiễm trùng huyết

+ Bệnh celiac

+ Vàng da nhân

– Ngoại khoa

+ Teo, hẹp hay có dây chằng ở ống tiêu hóa ( Ruột và thực quản)

+ Nghẻn ruột do nguyên nhân khác: Ruột đôi, tụy vòng, tắt ruột phân su, vòng mạch máu, u

+ Hẹp phì đại môn vị

+ Thoát vị

+ Xoắn tinh hoàn

+ Phình thực quản vô hạch hay không có nhu động thực quản

+ Lồng ruột, xoắn ruột

+ Viêm ruột thừa

+ Nghẻn niệu đạo

Trẻ nhỏ( xem thêm phần trẻ bú mẹ và thiếu niên)

– Nội khoa

+ Viêm họng do liên cầu

+ Đái tháo đường

+ Nhiễm cêton do hạ đường huyết

+ Những bệnh lý ở hệ thần kinh trung ương như nhức đầu, u não, xuất huyết não, động kinh

+ Viêm gan, viêm tụy

+ Hội chứng Reye

+ Ngộ độc

– Ngoại khoa

+ Bệnh của túi mật

+ U nang buồng trứng

Tuổi thiếu niên(Xem thêm phần trẻ bú mẹ và trẻ nhỏ)

– Nội khoa

+ Do thuốc hay rượu

+ Do ăn uống

+ Thai nghén

+ Nhiễm trùng vùng chậu

­- Ngoại khoa:

Không có thêm những nguyên nhân đặc hiệu trong thời kỳ này

Theo cơ quan

Ngoài cách phân chia theo lứa tuổi người ta có thể sắp xếp nguyên nhân theo bệnh tật tại cơ quan .

Tại đường tiêu hóa: Dị tật bẩm sinh, tắc ruột ( mắc phải) hay bệnh lý viêm nhiễm như viêm ruột thừa, viêm tụy viêm dạ dày, viêm ruột do nhiễm trùng…

Ngoài đường tiêu hóa

– Bệnh lý ở hệ thần kinh: U não, hội chứng tăng áp lực nội sọ, viêm não viêm màng não, xuất huyết não màng não…

– Bệnh lý tai- mũi họng: Viêm họng, rối loạn tiền đình..

– Rối loạn chuyển hóa: tăng hoặc giảm natri máu, nhiễm toan máu, tăng urê máu…

– Nguyên nhân khác: do xúc cảm, do say tàu xe..

Thăm khám

Hỏi bệnh sử và tiền sử thật kỹ về bệnh nhân và gia đình.

– Chú ý đến khoảng thời gian từ khi ăn cho đến nôn xuất hiện, số lần nôn/ ngày, chất nôn ( máu, mật , thức ăn..), số lượng mỗi lần nôn; những triệu chứng kèm theo như đau, khó chịu, thay đổi thức ăn có làm gia tăng hay cải thiện tình trạng nôn mửa, đặc tính của phân và nước tiểu, một vài chấn thương hay một vài vấn đề như giảm cân, sốt.

– Khám thực thể nên khám kỹ tình trạng bụng, nhưng cũng chú ý đến vùng khác như hệ hô hấp, tiết niệu sinh dục, dấu hiệu thần kinh, những dấu hiệu mất nước và rối loạn điện giải. Cần chú ý những dấu hiệu ở cơ quan khác như ở da và họng.. Không quên khám tai mũi họng và soi đáy mắt.

– Khám lâm sàng và lấy bệnh sử kỹ càng sẽ hướng dẫn tốt cho các xét nghiệm cận lâm sàng và Xquang.Tùy theo lứa tuổi của bệnh nhân, hình ảnh Xquang, kết quả siêu âm có thể giúp cho việc chẩn đoán . Nếu có vấn đề về ngoại khoa cần các nhà ngoại khoa cho những lời tư vấn sớm

Xét nghiệm

Những xét nghiệm góp phần vào việc xác định các bệnh nhiễm trùng hay các vấn đề khác cũng như các rối loạn thứ phát như rối loạn nước – điện giải gây nên bởi nôn dữ dội. Những xét nghiệm đầu tiên nên làm là:

Máu

– Công thức máu

– Urê/ crêatine

– Điện giải đồ

– Chức năng gan

– Amylase máu hay lipase máu

– Calcium, magnesium và phosphore

Nước tiểu và phân:

– Tế bào, sinh hóa và vi trùng

Chẩn đoán hình ảnh:

– Xquang bụng ( có chuẩn bị hay không)

– Siêu âm bụng,

– Nội soi tiêu hóa

– Xquang sọ não

Xử trí

Điều trị nội khoa

Đa số những trường hợp nôn có tính chất nội khoa thì nôn sẽ chấm dứt trong vòng 8-12 giờ nếu xử trí đúng. Nên xử trí theo các bước sau

– Tạm ngưng bú mẹ và các loại sửa khác. Ngưng ăn các loại thức ăn đặc khác ở trẻ lớn

– Uống từng ngụm nước hay từng thìa . Tốt nhất là ORS. Nếu trẻ nôn nhiều hay mất nước nặng có thể bù nước bằng đường tĩnh mạch với dung dịch Ringer lactate.

– Nếu trẻ không nôn sau 8-12 giờ, cho thêm thức ăn đặc.

– Nếu sau 12-24 giờ trẻ không nôn, bắt đầu cho trẻ bú mẹ hay sữa công nghiệp. Lúc đầu dùng sữa tách bơ bán phần trong vòng 12 giờ sau đó dùng sữa có bơ hoàn toàn

– Cho thêm thức ăn đặc và nước uống thật chậm nếu trẻ có khả năng giữ chúng

– Không nên dùng thuốc chống nôn nếu chưa xác định rõ nguyên nhân

Điều trị nguyên nhân

Điều trị một số nguyên nhân thường gặp

– Dùng kháng sinh như Penicilline hay cephalexin, erythromycine trong trường hợp viêm họng do liên cầu.

– Viêm ruột thừa, tắt ruột hay lồng ruột cần phải được phẫu thuật kịp thời.

4.3. Săn sóc trẻ khi nôn:

Trẻ bị nôn có thể xảy ra những tai biến tức thời như sặc chất nôn có thể làm cho trẻ ngưng thở hay viêm phổi, xẹp phổi. Ngoài ra trẻ còn có thể xảy hạ đường huyết hay rối loạn nước điện giải vì thế cần chú ý săn sóc khi trẻ bị nôn.

– Sau khi ăn nên để trẻ ở tư thế thẳng , không đặt trẻ nằm ngay

– Khi trẻ nôn nên nghiêng đầu trẻ qua một bên để tránh sặc chất nôn

Theo y khoa