Tag Archives: tiêu hóa

Táo bón ở dân văn phòng

Trong nhịp sống hối hả và bận rộn, sự phổ biến của thực phẩm ăn nhanh chứa nhiều phụ gia, đường, muối, mỡ bão hòa, ít chất xơ, cộng thêm cơ thể ít vận động,… khiến số người bị táo bón ngày càng nhiều. Theo các cuộc khảo sát gần đây nhất, nhóm đối tượng chiếm tỉ lệ bệnh cao là dân văn phòng/công sở, do tính chất, áp lực công việc,…

Táo bón không chừa một ai

tao-bon-o-dan-van-phong
Theo số liệu thống kê của Đại học Y Dược TP.HCM, tại Việt Nam, cứ 3 người thì có 1 người mắc bệnh táo bón, 59% số bệnh nhân bị táo bón là do những nguyên nhân chủ quan. Riêng những năm gần đây, tình trạng bệnh ở độ tuổi từ 25-35, đặc biệt là đối tượng dân văn phòng, đang ngày càng tăng mạnh.

Bệnh táo bón là một chứng bệnh thường gặp, không chỉ gây cho người bệnh những cảm giác khó chịu mà còn có thể dẫn đến một số vấn đề nguy hiểm hơn cho sức khỏe.

Nguyên nhân gây nên táo bón
– Do dinh dưỡng: những người bị táo bón thường có chế độ ăn không hợp lý, đặc biệt với những người ăn ít chất xơ. Người có chế độ ăn kiêng khắt khe cũng dễ bị táo bón.

– Uống ít nước: nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa trong cơ thể và giúp thức ăn dễ tiêu hóa. Khi lượng nước không đủ đáp ứng nhu cầu của cơ thể, rất dễ gây táo bón.

– Do tâm lý: thói quen nhịn đi cầu, đặc biệt là vừa đi vừa đọc sách, báo làm kéo dài thời gian đại tiện cũng là một trong những nguyên nhân gây ra táo bón.

– Một số nguyên nhân khác: bệnh lý ở đại tràng, các bệnh nội tiết như suy giáp trạng, cường giáp trạng… Sử dụng thuốc làm giảm chức năng vận chuyển đại tràng như: thuốc giảm đau, thuốc điều trị tăng huyết áp. Nghề nghiệp phải ngồi lâu, ít vận động cũng là một nguyên nhân của táo bón.

Hậu quả khó lường

tao-bon-o-dan-van-phong1
Táo bón, một chứng bệnh nghe có vẻ đơn giản, nhưng đừng chủ quan coi thường, không ít người đã phải chịu những tác hại khôn lường từ chứng bệnh này, thậm chí dẫn đến tử vong vì “ủ bệnh” quá lâu mà không có biện pháp điều trị kịp thời.

Điển hình là chị Nguyễn Thị Lan, 32 tuổi, một nhân viên công sở bị táo bón mãn tính đã hơn 05 năm, mỗi lần đại tiện rất khổ sở, không chỉ ra máu mà còn lòi thịt ra cả hậu môn. Chị đã cắt trĩ đau đớn vô cùng, nhưng vẫn không hết. Chấp nhận sống chung với bệnh, mỗi lần lòi ra, chị lại ấn vào, nhưng gần đây chỗ đó xuất hiện cả một khối phồng như quả cà chua, thường kèm theo rớm máu, đau, chảy nhầy hoặc són phân liên tục, không ấn vào được. Đoạn trực tràng sa bị nghẽn vì cơ hậu môn co thắt, phù nề, niêm mạc tím tái dần có các mảng hoại tử.

Nguy hiểm hơn, trường hợp của anh Đinh Văn An là trưởng phòng 1 công ty xây dựng tại Q.2. Do phải làm việc liên tục, cộng thêm việc ăn uống thiếu chất dẫn tới táo bón có khi cả tuần lễ không đi tiêu được. Hậu quả bệnh nhân bị thủng ruột do quá trình táo bón lâu ngày gây biến chứng ruột cấp dẫn đến thủng đại tràng xích-ma, thêm việc để lâu không có phương pháp điều trị đúng cách nên khi đưa tới bệnh viện thì đã quá muộn, gây biến chứng nặng nề.

Theo Bác sĩ Hồ Lê Ái Xuân – Trung tâm Tầm Soát Sức Khỏe: “Hầu hết với các trường hợp trên, nguyên nhân do quá trình chậm lưu thông của phân trong ruột già dẫn đến rối loạn tái hấp thu chất độc ngược lại cơ thể gây nhiễm độc và nhiễm khuẩn. Quá trình bán tắc có thể dẫn tới phân bị cô đặc tạo thành sỏi phân gây tắc ruột nếu phẫu thuật không kịp thời có thể vỡ ruột gây viêm phúc mạc như trường hợp trên là rất nặng nề vì bệnh nhân phải chấp nhận đến hai lần mổ, không chỉ gây tổn hại sức khoẻ mà đôi khi người bệnh phải đối diện với nguy cơ tử vong. Chẳng những vậy mà còn có thể bị tắc ruột sau mổ trở lại”

Chữa táo bón: trăm phương nghìn kế
Nhiều người muốn giải quyết nhanh bệnh táo bón thường sử dụng tân dược. Tuy nhiên, nhiều loại thuốc thường đi kèm với tác dụng phụ. Việc sử dụng tân dược quá nhiều trong thời gian dài cũng khiến người bệnh phụ thuộc vào thuốc mà không chắc đã khỏi bệnh.

Một trong những cách phổ biến để chống táo bón là thay đổi khẩu phần ăn. Người bệnh có thể ăn nhiều thức ăn tốt cho nhuận trường như: rau đay, mồng tơi, rau sam, càng cua, giá đỗ, khoai lang.
Người mắc táo bón cần uống nước nhiều, ăn thêm nhiều rau củ để bổ sung chất xơ giúp kích thích nhu động ruột, có thể giúp giảm táo bón. Các loại thức ăn nên kiêng là rượu, trà, cafe, đồ chiên rán, nhiều đạm. Tuy nhiên, cách trị táo bón này thường phải thực hiện lâu dài, tác dụng đến rất chậm, đặc biệt với những người đã bị táo bón nhiều lần và nặng.

Thói quen giúp tỉnh táo không cần caffeine

Các chất chứa caffeine giúp bạn tỉnh táo những dùng quá nhiều sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bạn. Đây là giải pháp thay thế hoàn hảo cho cả gia đình.

1. Uống nước
Thay vì uống nước trái cây, đồ uống có caffeine hay thức uống giàu năng lượng, bạn nên uống một hoặc hai ly nước để thanh lọc cơ thể, làm sạch da và cải thiện hệ tiêu hóa vì nước giúp loại bỏ những chất độc ra khỏi cơ thể. Theo tờ Havard Health Publications cho hay, nước là chất dinh dưỡng duy nhất giúp bạn duy trì phong độ trong những hoạt động đòi hỏi nhiều thời gian.

thoi-quen-giup-tinh-tao-khong-can-caffeine
Lời khuyên: Bạn nên cho thêm một quả chanh để biến nước trở thành loại thức uống giàu năng lượng tự nhiên với chất điện giải giúp các tế bào sản sinh năng lượng.

2. Ăn các loại chất béo có lợi
Bạn không nên loại toàn bộ chất béo ra khỏi khẩu phần ăn của mình. Các loại chất béo có lợi rất cần thiết để cơ thể hấp thụ các chất chống ô xi hóa. Cơ thể cần chất béo để hấp thụ một số chất ô xi hóa từ ruột vào máu. Ngoài ra, các chất béo này còn giúp cơ thể chống lại một số gốc tự do và tăng cường sự tập trung, tỉnh táo.
Lời khuyên: Để có được mức năng lượng tối đa thì các chất béo từ bơ, dầu ô liu, dừa và cá là tốt nhất.

3. Đi rảo bước
Đi rảo bước mỗi ngày là khởi đầu tốt để tăng mức hoạt động. Luyện tập khiến cơ thể sản sinh epinephrine và norepinephrine, những hoóc môn có thể khiến bạn cảm thấy tràn đầy năng lượng. Tất cả các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người hoạt động nhiều sẽ ít cảm thấy mệt mỏi hơn người hoạt động ít.
Lời khuyên: hãy tập aerobic từ 30 đến 60 phút, 3 đến 5 ngày một tuần để tăng cường năng lượng và sức khỏe tim mạch.

4. Nghe một bài hát bạn ưa thích

thoi-quen-giup-tinh-tao-khong-can-caffeine1
Để nhanh chóng tràn đầy năng lượng, bạn hãy bật bài hát mình ưa thích và bắt đầu nhảy. Theo một nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí thần kinh học châu Âu, âm nhạc sẽ cải thiện tinh thần và phục hồi năng lượng vì nó tiếp thêm sinh lực cho cơ thể bằng cách kích thích một số vùng trên não.

5. Mát xa tai
Mát xa tai tăng cường tuần hoàn máu, vì vậy bạn sẽ khôi phục năng lượng nhanh chóng. Tiến sĩ Art Karno, chuyên gia chữa bệnh bằng phương pháp nắn khớp xương tại California cho hay tai chứa các huyệt có thể kích thích các vùng, tổ chức, hệ cơ quan trong cơ thể. Ông khuyến cáo mọi người nên mát xa toàn bộ tai bao gồm cả các thùy, đồng thời thở ba lần.
Lời khuyên: Bắt đầu ở thùy, sau đó mát xa lên phía trên tai.

6. Tắm nước ấm
Trong khi tắm nước nóng khiến bạn thấy thư giãn, thoải mái thì tắm nước ấm (khoảng 50 độ) sẽ kích thích cơ thể và tăng tuần hoàn máu khiến bạn tỉnh táo hơn. Tim Ferris, tác giả The 4-hour Body cho hay tắm nước ấm có thể thúc đẩy tiêu hóa, tăng năng lượng, hỗ trợ hệ miễn dịch, cải thiện chức năng sinh lý và cho bạn làn da, mái tóc khỏe mạnh.
Lời khuyên: Tắm bình thường sau đó giảm nhiệt độ trong khoảng 5 phút cuối.

Theo sức khỏe đời sống

Thảo quả, thuốc tốt cho tiêu hóa

Thảo quả là cây thân thảo, thuộc họ gừng, cao 2 – 3m, thân rễ mọc ngang. Hoa màu đỏ nhạt, mọc ở gốc. Quả chín có màu nâu. Cây mọc hoang và được trồng chủ yếu ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang,… Dùng làm gia vị, chế bánh kẹo và là vị thuốc dùng trong Đông y.

Theo y học cổ truyền, thảo quả có vị cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng trục hàn, trừ đờm, ấm bụng, tiêu tích, giúp ăn ngon miệng. Trong nhân dân, thảo quả chủ yếu dùng để làm thuốc kích thích tiêu hóa, chữa nôn mửa, bụng trướng đau, ho, sốt, tiêu chảy,…

thao-qua-thuoc-tot-cho-tieu-hoa

Một số đơn thuốc thường dùng

– Trị đau bụng, đầy bụng do hàn thấp tích trệ: Thảo quả (nướng) 6g, hậu phác, hoắc hương đều 10g, thanh bì, bán hạ, thần khúc, mỗi vị 6g; cao lương khương 6g, đinh hương, cam thảo, mỗi vị 4g; sinh khương, đại táo 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 3 – 5 ngày.

– Trị tiêu hóa rối loạn do ăn uống, không tiêu, vùng thượng vị đầy đau: Thảo quả (nướng) 6g, thương truật, hậu phác, trần bì, sinh khương, mỗi vị 10g; cam thảo 4g, đại táo 3 quả, sắc uống. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 3 – 5 ngày.

– Hỗ trợ điều trị tiêu chảy phân sống ở trẻ: Thảo quả 5g, gừng tươi 3g, gạo tẻ 30g, gia vị vừa đủ. Thảo quả, gừng tươi cho vào nồi thêm nước đun sôi kỹ, chắt lấy nước bỏ bã. Gạo xay nhỏ cho vào nồi, cho nước thuốc đun sôi quấy kỹ thành cháo, thêm gia vị trước khi ăn. Ăn ngày 2 lần vào lúc đói. Dùng 2 – 3 ngày.

– Chữa kém ăn, bụng đầy trướng: Thảo quả nướng chín 6g, thương truật 12g, hậu phác 12g, trần bì 12g, sinh khương 12g, đại táo 3 quả, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 3 – 5 ngày.

– Hỗ trợ điều trị suy nhược cơ thể, kém ăn, chậm tiêu: Gà trống 1 con khoảng 1kg, thảo quả 6g, riềng 6g, trần bì 3g, hồ tiêu 3g. Cách làm: Gà làm sạch, chặt miếng nhỏ; các vị thuốc cho vào túi vải xô. Cho tất cả vào nồi, thêm nước, gia vị, đun nhỏ lửa, hầm nhừ, chia 2 – 3 lần, ăn trong ngày. Tuần ăn 2 – 3 lần.

– Chữa hôi miệng: Thảo quả giã dập, ngậm nuốt dần. Có thể áp dụng thường xuyên có tác dụng giảm hôi miệng rất tốt.

Bác sĩ Nguyễn Thị Nga

Theo SKDS

Nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hóa biểu hiện như thế nào?

Tùy theo nguyên nhân mà có các biểu hiện khác nhau, tuy nhiên các biểu hiện thường gặp:

Nôn ra máu: Số lượng từ 100ml – 1.000ml hoặc nhiều hơn nữa tùy theo mức độ, máu thành cục (hạt ngô, hạt đỗ), màu nâu sẫm, nhờ nhờ đỏ, lẫn với thức ăn, dịch nhầy loãng.

Đại tiện phân đen: Phân nát, lỏng như bã cà phê, mùi thối khắm (như cóc chết), số lượng 100gr, 500gr, 2 – 3 lần trong 24giờ.

Dấu hiệu mất máu (sau nôn máu, đại tiện phân đen) tùy theo mức độ mất máu sẽ thấy vã mồ hôi, chân tay lạnh, nổi da gà, da niêm mạc nhợt, có khi vật vã giãy giụa, có khi ngất xỉu, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt, thở nhanh nông, đái ít, có khi vô niệu. Nếu làm các xét nghiệm thường quy tùy thuộc vào thời gian có thể sẽ thấy hồng cầu giảm, huyết sắc tố giảm, hematocrit giảm.

nguyen-nhan-xuat-huyet-tieu-hoa

Nội soi để phát hiện bệnh ở đường tiêu hóa.

Nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa

Có rất nhiều nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa như loét dạ dày tá tràng, xơ gan mất bù, do dùng thuốc, do ung thư dạ dày… Tùy theo nguyên nhân mà chiến thuật xử trí và điều trị sẽ khác nhau. Có thể chia xuất huyết tiêu hóa làm hai nhóm chính là xuất huyết tiêu hóa trên (từ góc Treitz trở lên) và xuất huyết tiêu hóa dưới (dưới góc Treitz đến hậu môn).

Xuất huyết tiêu hóa trên

Do loét dạ dày hành tá tràng: Đó là nguyên nhân hay gặp nhất, máu chảy ra dưới hình thức: nôn ra máu, đại tiện phân đen và đại tiện phân đen tiềm tàng. Chảy máu với đặc điểm khối lượng máu thường nhiều, xảy  ra nhiều lần có thể gây ra tình trạng thiếu máu trầm trọng; kết hợp với các triệu chứng khác như đau ở vùng thượng vị có chu kỳ… chẩn đoán bằng nội soi dạ dày.

Do tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Hiện tượng này gặp trong các bệnh xơ gan, hội chứng Bannti, hội chứng Budd – Chiari (tắc tĩnh mạch trên gan): máu ở hệ tĩnh mạch cửa bị cản trở sẽ qua những đường bàng hệ để trở về tĩnh mạch chủ dưới phần bàng hệ phình giãn và tăng áp lực. Đặc điểm của loại chảy máu này là: máu tươi, màu hơi đen vì là máu tĩnh mạch; khối lượng thường rất nhiều và không  lẫn thức ăn; kết hợp với các triệu chứng khác như tuần hoàn bàng hệ dưới da bụng, cổ trướng, lách to.

Một số nguyên nhân ít gặp hơn như ung thư dạ dày, viêm dạ dày cấp, viêm loét trợt thực quản, hội chứng Malôri-Oét, urê máu cao, ngộ độc chì, ngộ độc thủy ngân…

Xuất huyết tiêu hóa dưới

Xuất huyết từ đại tràng: Là loại chảy máu thường gặp trong chảy máu tiêu hóa thấp. Các nguyên nhân hay gặp bao gồm:

Lỵ trực khuẩn: Thường xảy ra ở trẻ em có yếu tố dịch tễ kèm theo. Lâm sàng có hội chứng nhiễm khuẩn có thể nhiễm độc với sốt cao, đau quặn bụng dữ dội, đại tiện nhiều lần 15 – 20 lần/ngày, kèm mót rặn và đau hậu môn. Phân lỏng, rất ít hoặc chỉ toàn máu, màu đỏ sẫm như máu cá hoặc nước rửa thịt.

Lỵ a míp: Bệnh cảnh lâm sàng thường nhẹ với sốt nhẹ, đau quặn bụng dọc khung đại tràng và vùng hạ vị; đại tiện phân nhầy máu, thường máu chỉ dính quanh phân có màu đỏ tươi, kèm dấu mót rặn và đau hậu môn sau đại tiện.

Ung thư đại tràng: Là bệnh lý thường gây chảy máu tiêu hóa thấp ở người già. Ung thư đại tràng phải thường kèm theo dấu đại tiện phân lỏng và máu đỏ sẫm. Ung thư đại tràng trái thường là dấu hiệu táo bón, đại tiện phân máu tươi; còn ung thư trực tràng hậu môn thường kèm theo dấu hiệu kích thích đại tiện nhiều lần hoặc nhiều khi chảy máu hậu môn một cách tự nhiên.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu: Bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, với biểu hiện từng đợt bao gồm sốt, đau khớp, đau quặn bụng dọc khung đại tràng và đại tiện ra máu, thường là máu tươi.

Ngoài ra còn có thể gặp chảy máu trong trĩ, polyp, nứt kẽ hậu môn, Crohn đại – trực tràng…

Xuất huyết từ ruột non: Có nhiều nguyên nhân gây chảy máu ở ruột non, và thông thường xuất huyết ở ruột non là một trong các bệnh lý khó phát hiện nhất.

Thương hàn: Ngoài những triệu chứng của bệnh cảnh thương hàn, biến chứng chảy máu thường xảy sau 1 – 2 tuần do biến chứng loét ruột, có thể kèm theo biến chứng thủng ruột. Bệnh nhân đau bụng, đại tiện phân có màu đỏ gạch hoặc đỏ sẫm. Ngoài điều trị chảy máu cần chú ý điều trị thương hàn.

Viêm ruột xuất huyết hoại tử: Đây là một cấp cứu nội – ngoại khoa. Bệnh cảnh thường là nặng nếu xảy ra ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng là tình trạng nhiễm khuẩn nhiễm độc nặng, sốt cao 40 – 41oC. Đau và trướng bụng, đại tiện phân đen mùi thối khắm. Điều trị bằng kháng sinh, truyền dịch, cân nhắc điều trị ngoại khoa khi có biến chứng.

Bệnh Crohn: Thường gặp là tổn thương vùng hồi manh tràng với đau bụng, đại tiện phân lỏng từng đợt kèm theo sốt, máu lắng tăng. Biến chứng chảy máu thường gặp vào giai đoạn 2 hoặc 3 của bệnh với tổn thương loét hoặc rò thủng vách ruột. Điều trị bằng kháng sinh, corticoid và thuốc ức chế miễn dịch.

Ngoài ra, còn có thể gặp chảy máu ruột non từ các nguyên nhân hiếm gặp khác như: lồng ruột, loét túi thừa Meckel, lao ruột, ung thư ruột non, hoặc chảy máu từ ruột non trong bệnh lý chảy máu toàn thể như trong sốt xuất huyết, bệnh bạch cầu cấp, hội chứng urê máu cao…

Tóm lại, biểu hiện xuất huyết đường tiêu hóa dưới rất đa dạng, nguyên nhân thì nhiều, dễ làm người bệnh chủ quan, vì vậy mỗi người bệnh cần có ý thức tự bảo vệ mình, nếu có biểu hiện bất thường nên tới khám tại các cơ sở y tế để được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Theo suckhoedoisong.vn

Những loại rau củ quả tốt cho dạ dày

Một số người muốn cải thiện chức năng dạ dày bằng cách sử dụng thuốc. Tuy nhiên, trong thực tế, các loại rau phổ biến có thể bảo vệ dạ dày của bạn một cách hiệu quả. Bao gồm: cà rốt, rau chân vịt, cải bắp, khoai tây, khoai lang và bí ngô.

Cà rốt

Cà rốt là nguồn có chứa carotene dồi dào. Carotene có thể được chuyển đổi thành vitamin A trong cơ thể con người. Theo y học cổ truyền, bạn có thể ăn cà rốt để cải thiện lá lách và gan, tăng cường chức năng đường ruột và dạ dày, bảo vệ mắt và tăng cường miễn dịch đối với các bệnh khác nhau.

Rau chân vịt

nhung-loai-rau-cu-qua-tot-cho-da-day

Nếu bạn thường xuyên ăn rau chân vịt, dạ dày của bạn có thể được bảo vệ tốt.

Rau chân vịt có chứa hàm lượng lớn scellulose. Sự hấp thụ đầy đủ của cellulose có thể thúc đẩy nhu động đường ruột và cải thiện đại tiện. Nếu bạn thường xuyên ăn rau chân vịt, gan, ruột và dạ dày của bạn có thể được bảo vệ tốt. Ngoài ra, ăn rau chân vịt thường xuyên có thể thúc đẩy sự bài tiết của tuyến tụy và cải thiện tiêu hóa.

Cải bắp

Cải bắp chứa rất nhiều vitamin K1 và vitamin U. Sự hấp thu vitamin K1 và vitamin U có thể chống loét dạ dày, bảo vệ màng nhầy và làm giảm nguy cơ mắc bệnh dạ dày cho bạn.

Những bệnh nhân loét dạ dày và loét tá tràng có thể làm giảm bớt các bệnh bằng cách uống nước ép bắp cải. Họ cũng thể thêm mật ong vào nước trái cây để tăng cường sự phục hồi của vết loét.

Khoai tây

nhung-loai-rau-cu-qua-tot-cho-da-day1

Khoai tây có chứa hàm lượng cao của tinh bột. Sau khi tinh bột xâm nhập vào cơ thể của bạn, nó có thể được chuyển đổi nhanh chóng thành glucose. Nó có thể bảo vệ dạ dày của bạn và thúc đẩy nhu động dạ dày và đường ruột bằng cách ăn khoai tây ngọt ngào trong cuộc sống hàng ngày của bạn.

Khoai lang

Khoai lang giàu protein, đường, vitamin, chất béo, canxi, muối vô cơ, sắt …Một lượng vừa đủ khoai lang có thể giúp bạn nuôi dưỡng lá lách, dạ dày, thận và da. Với khoai lang, dạ dày của bạn có thể chống lại cái lạnh trong mùa đông.

Bí ngô

nhung-loai-rau-cu-qua-tot-cho-da-day2

Bí ngô có chứa một lượng lớn Pectin. Pectin có hiệu quả có thể hấp thụ các vi khuẩn và các chất độc hại như kim loại nặng để làm sạch cơ thể của bạn. Đồng thời, pectin có thể bảo vệ dạ dày của bạn và làm giảm bớt loét dạ dày.

Nhiều người muốn tiêu diệt các vi khuẩn trong cơ thể của họ bằng cách ăn bí ngô. Bạn có thể nấu bí ngô vào súp hoặc cháo cho bữa ăn tối.

Những loại rau phổ biến ở trên có thể giúp bạn bảo vệ dạ dày hiệu quả. Bạn nên thường xuyên ăn các loại thực phẩm này. Nếu bạn đang bị đau dạ dày, bạn không nên ăn một số loại thực phẩm khiến bệnh trầm trọng thêm bệnh, chẳng hạn như ớt, thực phẩm không lành mạnh.

Ăn uống thế nào tốt cho dạ dày

Tiến sĩ – Bác sĩ Trần Thiện Trung, Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM cho rằng, ăn uống có vai trò rất quan trọng đối với người bị bệnh loét dạ dày.

Không ăn quá no, nên nhai kĩ, nuốt chậm: Ăn quá no vì sẽ làm dạ dày phồng căng, sinh ra nhiều axít có hại, dễ gây đau. Khi ăn nên nhai kỹ, nuốt chậm, vì trong khi nhai có thể tăng thêm sự bài tiết của nước bọt, nước bọt có tác dụng giảm axít và bão hòa axít có trong dạ dày.

Ăn thức ăn ăn giàu dinh dưỡng, mềm và dễ tiêu hóa: Những thức ăn chính như cháo, mỳ sợi nhỏ, cơm nhão… trong đó ăn những thức ăn làm bằng bột mỳ là tốt nhất. Vì những thức ăn này mềm, dễ tiêu hóa, lại có chất kiềm, có tác dụng làm bão hòa axít trong dạ dày.

Không nên ăn những thức ăn cứng: Các loại quả khô, lương thực cứng, rau cần, hẹ, dưa, măng… là những loại thức ăn khó tiêu hoá, làm hỏng niêm mạc dạ dày, khó lành chỗ loét, thậm chí càng loét thêm.

Tránh những thức ăn có chất hoá học kích thích niêm mạc dạ dày: Cà phê, trà đặc, rượu mạnh, các thức ăn cay, hay những thức ăn dễ sản sinh vị chua và hơi như khoai lang, khoai tây, bánh kẹo, đường dấm, dưa muối là những thức ăn có thể kích thích bài tiết nhiều axít, không có lợi cho việc làm lành chỗ loét.

Ngoài ra, không nên ăn những thức ăn sống, lạnh, tuyệt đối không nên ăn những thức ăn đã biến chất. Tốt nhất là ăn những thức ăn hấp, xào, nấu, ninh; còn những thức ăn rán, chiên, muối, trộn nộm không dễ tiêu hóa, sẽ tăng thêm gánh nặng cho dạ dày, ảnh hưởng đến quá trình làm lành chỗ loét.

Những người bị loét dạ dày, còn phải giữ cho tinh thần luôn vui vẻ, gây dựng thói quen tốt trong sinh hoạt, không nên làm việc quá mệt mỏi, căng thẳng, hút thuốc lá và uống rượu, như vậy mới có thể tránh khỏi sự dày vò của căn bệnh này.

Nguồn giáo dục

Gia vị chữa đầy bụng trong những ngày tết

 Thức ăn khi vào cơ thể sẽ được cơ quan tiêu hóa chọn lọc các chất cần thiết để hấp thu và thải ra ngoài những chất cơ thể không có nhu cầu. Nếu thức ăn tồn đọng lâu trong ống tiêu hóa, sẽ gây ra chứng đầy hơi, trướng bụng, khó tiêu.

Trong những ngày Tết, nếu ăn quá nhiều thức ăn chứa chất béo, tinh bột, đạm, nhiều gia vị, uống nhiều bia rượu; hoặc ăn uống quá nhanh, nhai không kỹ, ăn xong đã đi nằm… bạn sẽ dễ phát sinh chứng đầy hơi, khó tiêu, đặc biệt với những người trong quá khứ có bệnh mạn tính của hệ tiêu hóa như viêm dạ dày, viêm đại tràng, viêm gan, viêm tụy.

Biểu hiện của chứng đầy hơi, khó tiêu là cảm giác nặng bụng, căng trướng vùng thượng vị (dưới xương ức), bứt rứt, ợ hơi, ợ chua, đau âm ỉ, râm ran, có khi kèm táo bón, tiêu chảy hoặc nôn, buồn nôn, mệt mỏi, hơi thở ngắn. Những biểu hiện này có thể tự khỏi, nhưng nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt chung và khó chịu. Bạn có thể dùng các món ăn cũng là vị thuốc dễ tìm có sẵn trong bếp để xử lý như sau:

Gừng: Gừng có vị cay, tính ấm, có tác dụng điều chỉnh tình trạng co thắt cơ trơn dạ dày – ruột, giúp tiêu hóa thức ăn. Có thể dùng gừng dạng tươi hoặc khô.
gia-vi-chua-day-bung-trong-nhung-ngay-tet

– Vài lát gừng tươi, nhai ít một cho đến khi hết cảm giác đầy trướng.

– Giã nhuyễn gừng, pha với nước nóng hoặc với mật ong uống từ từ.

– Pha một muỗng nước gừng + một muỗng nước cốt chanh + một muỗng mật ong với một ly nhỏ ấm rồi uống từ từ.

– Dùng 150g gừng tươi băm nhỏ, phơi hoặc sấy khô trộn với mật ong để ăn từ từ trong ngày.

– Gừng khô 10g, hãm với 100ml nước sôi uống dần trong ngày.

Lưu ý: Phụ nữ đang hành kinh, rong kinh hoặc có thai chỉ nên dùng một lượng ít.

Rau răm: Có vị cay, tính ấm, là vị thuốc giúp kích thích tiêu hóa, trị các chứng đau bụng, đầy hơi. Lấy khoảng 15g rau răm (cả thân và lá), có thể ăn sống hoặc giã nhuyễn vắt lấy nước uống.

Chữa đầy bụng dịp Tết bằng 5 gia vị ngay trong bếp 2

Tỏi: Lấy 15g tỏi giã nát, trộn với 5g đường phèn, hòa tan với 60ml nước ấm, uống dần dần.

Tía tô: Dùng cả lá và thân mềm, khoảng 30g, giã nhuyễn, vắt lấy nước uống hoặc đem chưng cách thủy cho nóng lên rồi uống khi còn ấm, giúp tiêu hóa thức ăn và chống dị ứng do thức ăn hiệu quả.

Nghệ: Một muỗng bột nghệ pha với một ly nước sôi và một muỗng mật ong, uống khi còn ấm, có thể thay bột nghệ bằng vài lát nghệ tươi.

Theo BS Trần Văn Năm, cách tốt nhất vẫn là phòng bệnh, cần thực hiện ăn uống hợp lý, khoa học. Cụ thể, về rau củ, nên ưu tiên các loại vẫn thường dùng ngày Tết nhưng tốt cho tiêu hóa như hẹ, rau dấp cá, tía tô, khoai tây, bưởi, lê, thơm, cam, nho…

Tết không thể thiếu dưa món làm từ tỏi, hành hoặc củ kiệu. Đây là loại củ có thể ngừa chứng đầy hơi, khó tiêu hiệu quả. Trong một số món ăn ngày Tết, nên “cải cách” bằng cách cho ít gừng vào. Thức ăn có gừng sẽ giúp cơ thể chuyển hóa tốt thức ăn dầu mỡ, phòng ngừa rối loạn lipid trong máu khi ăn những món quá nhiều chất béo.

“Nếu sau khi sử dụng các biện pháp trên trong một vài ngày mà chứng đầy hơi, khó tiêu vẫn không khỏi, cần đến bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị phù hợp” – BS Trần Văn Năm khuyến cáo.

Theo Phụ nữ

Cải thiện hiệu quả rối loạn tiêu hóa ở trẻ em

Một trong những vấn đề sức khỏe thường gặp ở trẻ đó là tình trạng rối loạn tiêu hóa (RLTH) khiến phụ huynh lo lắng. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, 30% trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là do RLTH. Cải thiện hiệu quả RLTH góp phần cải thiện sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ.

Nguyên nhân chính của tình trạng rối loạn tiêu hóa ở trẻ

Thông thường, hệ tiêu hóa của người có khoảng hàng tỉ vi khuẩn khác nhau tạo nên hệ vi khuẩn hết sức phong phú. Hệ vi khuẩn này có sự hoạt động cân bằng, hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa giúp cơ thể hấp thụ tốt thức ăn. Những tác động bất lợi cho việc tiêu hóa như cấu trúc hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện nhất là trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, việc sử dụng kháng sinh kéo dài, thức ăn không đảm bảo an toàn vệ sinh vì bị nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc, thành phần thức ăn không phù hợp với lứa tuổi của trẻ, đặc biệt trẻ đang bị căng thẳng tâm lý, bồn chồn lo lắng, học tập căng thẳng…dễ dẫn tới sự mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột sẽ gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa.

cai-thien-dau-hieu-qua-roi-loan-tieu-hoa-o-tre-em

Cấu trúc hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện: ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, do hệ tiêu hóa chưa phát triển hoàn thiện nên các cơ và dây thần kinh của hệ dạ dày – ruột ở trẻ hoạt động không ăn ý, trẻ dễ bị chứng trào ngược thực quản và khó tiêu.

Sử dụng kháng sinh liên tục và kéo dài: trẻ em dưới 5 tuổi dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn, cần phải sử dụng kháng sinh điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Kháng sinh không chỉ tiêu diệt vi khuẩn có hại mà còn diệt luôn cả vi khuẩn có lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho các vi khuẩn có hại xâm nhập và phát triển mạnh hơn, gây mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, còn gọi là “ loạn khuẩn ruột”, dẫn đến rối loạn tiêu hóa, thường gặp nhất là tình trạng đầy bụng, trướng hơi, tiêu phân sống, tiêu phân lầy nhầy, làm giảm khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

Thức ăn bị ô nhiễm do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc: nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy(tiêu phân lỏng, tiêu phân có máu, tiêu đàm nhớt) thường là do vệ sinh kém trong quá trình chế biến thức ăn cũng như trongsinh hoạt, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào đường tiêu hóa để gây bệnh. Mặt khác, khi bị vi khuẩn tấn công, nếu cơ địa trẻ hay thành ruột quá yếu thì bệnh càng trở nên trầm trọng hơn, nhất là những trường hợp ngộ độc thức ăn nghiêm trọng làm cho trẻ tiêu chảy ồ ạt, nôn – ói nhiều, đau quặn bụng… không chữa trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Thức ăn không phù hợp với hệ tiêu hóa của trẻ: thường gặp nhất là tình trạng không dung nạp đường lactose và khó tiêu hóa đạm trong sữa công thức, vì cơ thể trẻ không có khả năng sản sinh đủ lượng lactose enzyme để tiêu hóa đường lactose. Khi đó lượng đường lactose không được tiêu hóa vẫn nằm trong ruột của trẻ gây nên tình trạng rối loạn tiêu hóa. Ngoài ra, lượng đạm nhiều quá mức trong một số loại sữa công thức, vượt quá ngưỡng hấp thu của ruột cũng góp phần làm trẻ dễ bị táo bón do ruột phải tăng hấp thu nước để hòa tan lượng đạm thừa này trong nước tiểu.

Trẻ đang bị căng thẳng về tâm lý cũng dễ bị rối loạn tiêu hóa: việc tiêu hóa của trẻ không được thuận lợi vì khi trẻ lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, quấy khóc… làm cho việc bài tiết men tiêu hóa và các enzyme cần thiết để phân hủy và hấp thụ thức ăn bị giảm sút một cách đáng kể cũng làm cho tình trạng rối loạn tiêu hóa dễ xảy ra hơn.

Hậu quả của tình trạng rối loạn tiêu hóa

WHO nhận định, có khoảng 500 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới bị suy dinh dưỡng, rối loạn tiêu hóa được xem là nguyên nhân trực tiếp, hoặc gián tiếp chiếm đến 30%.

Khi tình trạng RLTH tiếp diễn kéo dài, chẳng bao lâu sức khỏe của trẻ sẽ bị suy sụp, rất khó trở lại trạng thái mạnh khỏe lúc ban đầu. Ngoài ra, khi trẻ đã bị suy dinh dưỡng sẽ lại càng dễ bị rối loạn tiêu hóa hơn, trẻ càng biếng ăn hơn, từ đó tình trạng suy dinh dưỡng sẽ trầm trọng, cứ thế gây nên một vòng luẩn quẩn khó có thể giải quyết tận gốc.

Theo kết quả khảo sát về tình hình dinh dưỡng ở trẻ em gần đây cho thấy, có tới 80% trẻ em Việt Nam có biểu hiện biếng ăn, còi cọc, suy dinh dưỡng là do chứng rối loạn tiêu hóa gây ra.

Giải pháp cải thiện tình trạng

Tăng cường việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhất là khuyến khích người mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời vì sữa mẹ chính là nguồn dinh dưỡng quý giá đối với trẻ nhỏ, trẻ bú mẹ thường rất ít bị rối loạn tiêu hóa vì sữa mẹ rất an toàn, nhiều kháng thể và rất phù hợp với sự tiêu hóa của trẻ.

Cho trẻ ăm dặm đúng cách, đúng thời điểm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (khi trẻ tròn 6 tháng tuổi) bằng các loại thức ăn phù hợp theo từng lứa tuổi của trẻ sẽ giúp hệ tiêu hóa của trẻ luôn khỏe mạnh.

Nếu trẻ được nuôi bằng sữa công thức, phụ huynh nên tuân thủ việc pha sữa đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất và phải luôn đảm bảo việc vệ sinh bình sữa để ngăn ngừa hiệu quả các bệnh lý lây nhiễm qua đường tiêu hóa.

Thực hiện việc chế biến thức ăn cho trẻ phải tuân thủ tuyệt đối quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm do Bộ Y tế ban hành, để hạn chế tối đa những trường hợp ngộ độc thực phẩm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Tạo cho trẻ thói quen giữ vệ sinh cá nhân tốt, nhất là thói quen rửa tay sạch sẽ đúng cách trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và sau khi chơi đùa.

Thực hiện việc tẩy giun định kỳ cho trẻ từ 2 tuổi mỗi 6 tháng 1 lần, nhằm giảm những tác hại do nhiễm giun gây ra trong đó có tình trạng rối loạn tiêu hóa.

Bổ sung men tiêu hóa và các vitamin cần thiết cho sự tiêu hóa và hấp thu của trẻ được tốt hơn, nhất là đối với những trẻ đang điều trị kháng sinh sẽ làm mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột dẫn đến rối loạn tiêu hóa ở trẻ.
Ths.Bs Đinh Thạc

Đau khớp: càng để lâu nguy cơ càng cao

Sử dụng ánh sáng đỏ có bước sóng thấp và hẹp không chỉ giảm các chứng đau nhức xương khớp mà còn khai thông tắc nghẽn, kích thích làm tăng các chức năng sinh lý của xương khớp một cách tự nhiên.

Đau khớp: càng để lâu nguy cơ càng cao

Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý về xương khớp thường gặp. Phát hiện sớm và chữa trị tích cực, đúng các bệnh sẽ có diễn biến tốt.

Trong số các bệnh lý về xương khớp thì viêm khớp dạng thấp là bệnh thường gặp. Bệnh làm biến dạng các khớp và gây khó khăn đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh.

viemkhop-tay

Diễn tiến của bệnh bắt đầu từ biểu hiện đau, sưng một số khớp nhỏ ở cổ tay, bàn, ngón tay có tính đối xứng và di chuyển từ khớp này qua khớp khác. Ở người trẻ tuổi cũng có thể gặp viêm khớp dạng thấp nhưng chưa biến dạng, về già bị biến dạng thấy rõ ở các khớp bàn tay, ngón tay, cổ tay và thường có tính di truyền. Khi bệnh khởi phát lâu dài, nặng sẽ khó chữa trị, làm giảm khả năng vận động, có nguy cơ bị tàn phế.

Viêm khớp dạng thấp là bệnh mãn tính khó chữa dứt hẳn, việc điều trị dùng thuốc về lâu dài gây khó khăn cho bệnh nhân vì các loại thuốc điều trị viêm khớp tác dụng giảm đau, kháng viêm đi kèm là các tác dụng không mong muốn (phản ứng phụ) như càng uống càng đau, ảnh hưởng xấu đến tim mạch, huyết áp, tiêu hóa, dạ dày… Để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, bệnh nhân cần có sự hiểu biết nhất định về loại thuốc thường dùng và cần sự tư vấn theo dõi của bác sĩ.

Bên cạnh đó, người bệnh phải có lòng kiên trì, kết hợp ứng dụng chế tiết dinh dưỡng và chế độ ăn uống hợp lý, thể dục, hoạt động khớp xương nhẹ nhàng nhất là vào buổi sáng để các khớp xương hoạt động trơn tru, giảm bớt co cứng cơ, tránh hiện tượng dính khớp. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp để phục hồi nhanh hơn.

Đẩy lùi đau khớp không dùng thuốc

Phương pháp chữa bệnh bằng ánh sáng theo cơ chế ánh sáng đỏ có bước sóng thấp và hẹp 940nm (nanometre) của dòng quang phổ có tác dụng điều trị giảm đau các bệnh về khớp như: viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, giảm đau gout (thống phong), cứng cơ khớp của người già, vận động viên tập thể thao nặng, phục hồi khớp bị cứng…

Theo báo sức khỏe

Thắc mắc về bệnh trĩ nội

Theo mô tả của bạn, giai đoạn đầu với triệu chứng đi cầu ra máu và đã đi nội soi để loại trừ các nguyên nhân gây chảy máu khác, đúng là do bệnh trĩ nội.

tri

Theo mô tả của bạn, giai đoạn đầu với triệu chứng đi cầu ra máu và đã đi nội soi để loại trừ các nguyên nhân gây chảy máu khác, đúng là do bệnh trĩ nội. Trĩ nội gồm có 4 độ: 1, 2, 3 và 4. Với trĩ nội độ 1 chỉ có triệu chứng đi cầu ra máu đỏ tươi và không bị sa búi trĩ ra ngoài; trĩ nội độ 2 có triệu chứng chảy máu khi đi cầu và sa búi trĩ ra ngoài nhưng sau khi đi xong búi trĩ tự tụt vào; trĩ nội độ 3 là búi trĩ sa ra ngoài khi đi cầu, khi đi cầu xong không tự tụt vào và phải dùng tay đẩy vào; trĩ nội độ 4 là búi trĩ sa ra ngoài khi đi cầu và không thể đẩy búi trĩ tụt vào được.

Bị nóng và đau rát sau đi cầu kéo dài khoảng 1 tiếng thì có thể bạn bị nứt hậu môn – có triệu chứng chảy máu khi đi cầu kèm theo là đau rát nóng kéo dài sau đó. Để điều trị dứt tình trạng này, ngoài việc uống thuốc tăng cường thành mạch và đặt thuốc vào hậu môn, bạn phải chú ý điều trị rối loạn đi cầu như tiêu chảy hay táo bón, tránh các thức ăn có nhiều gia vị cay hay thức ăn gây bón. Cần cải thiện chế độ sinh hoạt hằng ngày như không thức khuya, ăn uống điều độ về giờ giấc lẫn khối lượng…

Bác sĩ Dương Phước Hưng
Thanh niên

Thực phẩm làm mất giấc ngủ

Sau một ngày làm việc mệt mỏi, cơ thể chúng ta cần nghỉ ngơi, hệ thống tiêu hóa cũng không phải ngoại lệ. Dưới đây là những thực phẩm có hàm lượng chất béo cao, hoặc khó tiêu mà bạn nên tránh ăn trước khi đi ngủ.

Kẹo: Một thực tế mà mọi người ít biết là khi ăn thực phẩm chứa nhiều đường, đặc biệt là kẹo sẽ khiến bạn ngủ không ngon, thậm chí là mất ngủ. Hàm lượng đường trong kẹo kích thích, tạo sóng não bất thường, gây ra các cơn ác mộng. Vì vậy, nếu bạn muốn có một giấc ngủ ngon và yên bình, hãy tránh ăn vặt và ăn các loại thực phẩm thay thế, chứa ít calo như yến mạch.

thuc-pham-lam-mat-giac-ngu

Thịt đỏ: Mặc dù thịt đỏ là nguồn cung cấp chất sắt và protein tốt cho cơ thể nhưng không nên ăn trước khi ngủ bởi chúng khó tiêu hóa, gây đầy bụng và khiến bạn mất ngủ.

Chocolate: Chocolate đen tốt cho não bộ và trí nhớ nhưng không tốt cho vòng eo của bạn. Chocolate đen chứa nhiều caffeine và các chất kích thích khiến tim đập nhanh, não tập trung trong khi cơ thể lại đang muốn nghỉ ngơi, thư giãn.

Một số loại rau: Rau chứa nhiều vitamin tốt cho cơ thể nhưng một số loại rau chắc chắn không phải là sự lựa chọn tuyệt vời nếu bạn muốn đi ngủ sớm. Các loại rau như hành tây, cải xanh hoặc cải bắp chứa một lượng lớn chất xơ không hòa tan, khiến bạn đầy bụng, khó chịu khi ngủ.

Rượu, bia: Rượu, bia chứa nhiều chất kích thích và có hàm lượng calo cao. Nếu uống rượu trước khi ngủ, cơ thể sẽ đổ nhiều mồ hôi khiến bạn có cảm giác khó chịu, dễ tỉnh dậy nhiều lần trong đêm.

Bánh hamburger: Giống như các loại thực phẩm giàu calo và chất béo khác, bạn nên tránh ăn các loại bánh hamburger trước khi đi ngủ vì chúng kích thích việc sản xuất axit trong dạ dày và gây ra chứng ợ nóng vào ban đêm.

Tương ớt: Tương ớt trộn vào một số loại thực phẩm khác có thể giúp bạn ăn ngon miệng hơn. Tuy nhiên, nó có thể làm giảm quá trình đốt cháy carbohydrates trong cơ thể.

Bim bim và đồ rán: Các chuyên gia khuyến cáo nên hạn chế ăn bim bim, đồ rán vào bất kỳ thời gian nào trong ngày, đặc biệt là trước lúc đi ngủ do chúng có chứa một lượng lớn một loại bột ngọt gây rối loạn giấc ngủ.

Theo ANTĐ

Phương pháp mới điều trị táo bón hiệu quả

Bệnh viện (BV) đa khoa quốc tế Vinmec đã ứng dụng phương pháp mới trong điều trị táo bón với hiệu quả rõ rệt. Thông tin này được đưa ra tại hội thảo “Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị bệnh lý táo bón và sàn chậu” tổ chức tại BV chiều 7/11/2013 do GS.BS. Mario Pescatori – chuyên gia tiêu hóa hàng đầu đến từ Ý thuyết trình.

benh-nhan-cao-tuoi-tao-bon

Bệnh nhân cao tuổi đang được chữa bằng phương pháp phục hồi chức năng.

GS.BS. Mario Pescatori mang tới hội thảo 3 chủ đề lớn: Táo bón – Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị; Những tiến bộ trong phẫu thuật sàn chậu; Điều trị sa trực tràng. Đây không phải là những chủ đề mới tại Việt Nam nhưng các khía cạnh tiếp cận tiến bộ mà GS. BS. Mario Pescatori đưa ra đã thu hút được sự quan tâm của giới chuyên môn và các đồng nghiệp Việt Nam. Cụ thể, trong chủ đề Táo bón – Nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị, GS.BS. Mario Pescatori đã đề cập tới 5 nguyên nhân cơ năng là tâm lý, cơ mu trực tràng co cứng, đại tràng co thắt quá mức, giảm cảm nhận của trực tràng và tổn thương thần kinh thẹn. Các nguyên nhân này gây táo bón ở 80% số bệnh nhân.

GS.BS. Mario Pescatori cũng đã đề cập đến các phương pháp điều trị nội khoa, đặc biệt là phương pháp biofeedback (tập phản hồi sinh học) kết hợp với kích điện điều trị. Đây là phương pháp hoàn toàn mới, một tiến bộ trong điều trị táo bón và đã được áp dụng thành công tại các nước phát triển. Tại Việt Nam, hiện mới có BV Vinmec tiếp cận và áp dụng phương pháp này. Trong 2 tháng trở lại đây, bệnh viện đã áp dụng điều trị cho gần 20 bệnh nhân với kết quả bước đầu rất khả quan. Ngoài ra, ông cũng đưa ra các kỹ thuật mới trong điều trị sa sàn chậu như phẫu thuật, kích thích điện thần kinh xương cùng…

Theo sức khỏe đời sống

Nguyên nhân và cách phòng tránh trẻ hay ốm vặt

Hệ miễn dịch của trẻ còn non yếu và chưa hoàn thiện

Khi mới sinh ra hệ miễn dịch của trẻ còn non nớt, có sự nhạy cảm cao với điều kiện bên ngoài và sức chịu đựng kém. Sau khi sinh, trẻ nhận được một lượng kháng thể miễn dịch từ mẹ qua sữa tuy nhiên trong quá trình lớn lên, hệ miễn dịch của trẻ mới được hoàn thiện dần. Hàng ngày bé tiếp xúc với môi trường có nhiều tác nhân gây bệnh, với một hệ thống bảo vệ cơ thể chưa kịp hoàn chỉnh để đối phó, bé phải đối mặt với nguy cơ rất lớn về các bệnh nhiễm trùng. Ngoài ra hệ tiêu hoá của trẻ nhỏ, nhất là trong giai đoạn đầu đời thường non yếu, cơ thể thiếu men nên không tiêu hóa được đường lactose hoặc khó tiêu hóa đạm trong sữa công thức, đặc biệt những trẻ biếng ăn và có chế độ ăn chưa phù hợp khiến cho trẻ gặp các triệu chứng tiêu hoá như đau bụng, nôn trớ, đầy hơi, táo bón.

nguyen-nhan-va-cach-phong-tranh-tre-hay-om-vat

Sử dụng thuốc đặc biệt là kháng sinh cho cơ thể trẻ dễ dẫn đến việc mất cân bằng vi khuẩn đường ruột, làm cho hệ tiêu hóa kém đi và kết quả là thể trạng của trẻ không thể được cải thiện, lại càng dễ mắc bệnh hơn. Trong đường ruột mỗi chúng ta luôn tồn tại vi khuẩn có lợi, Vi khuẩn này giúp đường tiêu hóa chúng ta ổn định vì vậy khi uống kháng sinh sẽ tiêu diệt vi khuẩn đó dễ dẫn đến tình trạng rối loạn tiêu hóa. Các mẹ chú ý sử dụng thuốc theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ tránh tình trạng tự ý dùng thuốc rất nguy hiểm với cơ thể còn non nớt của các bé.

Thiếu vi chất dinh dưỡng

Việc ăn uống nhằm cung cấp các dưỡng chất cần thiết phục vụ sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên, nhiều bà mẹ chuẩn bị bữa ăn cho con chủ yếu theo cảm quan mà chưa chú ý tới sự cân bằng về dinh dưỡng. Các vitamin vốn có trong thực phẩm sẽ bị mất đi hay giảm trầm trọng trong một bữa ăn đầy đủ nhưng chất lượng thực phẩm không đảm bảo (rau bị héo, trái cây không còn tươi nên mất nhiều vitamin C), hoặc bảo quản, chế biến thực phẩm không tốt (thức ăn nấu quá kỹ, vitamin C không còn…). Đó là nguyên nhân nhiều bé bị các bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng, ảnh hưởng tới trí tuệ, học hành và chậm phát triển thể chất…

Hiện nay nước ta tình trạng trẻ thiếu khoáng chất, vitamin với tỉ lệ ngày càng cao. Bệnh lý do thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em có thể chia thành hai nhóm chính: nhóm thiếu khoáng chất và nhóm thiếu vitamin.

Nhóm thứ nhất thiếu vitamin: Thiếu vitamin A tác động xấu tới cả hệ miễn dịch và sự tăng trưởng của bé. Nhóm bệnh do thiếu vitamin ở trẻ còn phải kể tới là các bé bị thiếu vitamin nhóm B, C. Việc thiếu vitamin nhóm B ảnh hưởng tới chuyển hóa. Thiếu vitamin nhóm C khiến hệ miễn dịch yếu, dễ bị lây nhiễm và các bệnh về đường hô hấp, như suyễn hay viêm phổi.

Nhóm tiếp theo là trẻ bị thiếu sắt, kẽm, selen (khoáng chất).Thường hay xảy ra ở những bé độ tuổi ăn dặm. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do trẻ ăn thịt, cá hay nhả bã, hoặc cũng có thể do trẻ không chịu ăn rau, trái cây. Thiếu sắt nặng trẻ có thể dẫn tới thiếu máu. Đối với các bệnh nhi thiếu kẽm, selen sự thiếu hụt này ảnh hưởng nhiều tới miễn dịch. Bé hay chán ăn, mệt mỏi, dễ ốm vặt, nhiễm trùng hô hấp, tiêu hóa, viêm da, lở miệng.

Cách phòng tránh:

– Tổ chức WTO khuyên các bà mẹ nên cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu.

– Tiêm phòng đầy đủ các bệnh cho bé, giữ ấm cho bé khi đi ra ngoài.

– Các bậc cha mẹ nhớ thường xuyên rửa tay cho con bằng sữa tắm hoặc xà bông diệt khuẩn sau khi bé nghịch hoặc trước khi ăn cơm.

– Không cho bé tiếp xúc với trẻ đang bị ốm, người bệnh…
– Khi bé ốm, cha mẹ không nên lạm dụng thuốc kháng sinh. Nếu chỉ là bệnh hắt hơi, xổ mũi, ho thông thường, bạn có thể chế biến những cây thuốc sẵn có để trị bệnh cho bé. Ví dụ: Bé bị ho, bạn có thể dùng húng chanh, gừng, cây núc nác…

– Bổ sung những vi chất dinh dưỡng quan trọng, các vitamin, axit amin thiết yếu đặc biệt là Kẽm, Selen để giúp trẻ tăng cường sức đề kháng, ăn ngon hơn, hấp thu tốt hơn giảm tình trạng hay ốm vặt ở trẻ. Để cải thiện tình trạng hay ốm vặt ở trẻ, công ty cổ phần Biolife sử dụng công nghệ Bioenrich tăng hàm lượng vi chất Kẽm và Selen trong mầm hạt đậu xanh lên 1000 lần tạo ra sản phẩm cốm Upkid. Cốm Upkid chứa Kẽm, Selen hữu cơ tự nhiên, an toàn với trẻ nhỏ giúp các bé ăn ngon hơn, tăng hấp thu và tăng cường sức đề kháng cho trẻ.

Theo gia đình

Không thể chủ quan với viêm loét dạ dày

iêm loét dạ dày là một trong những bệnh khá phổ biến và ngày càng có xu hướng phát triển ở nước ta. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em. Tùy theo các vị trí của viêm và loét khác nhau mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ, loét hang vị… Bệnh tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng gây nhiều phiền toái cho người bệnh trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, viêm dạ dày, nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm.

Nguyên nhân đa dạng

Đau dạ dày có thể do rất nhiều nguyên nhân: do  nhiễm vi khuẩn HP – đây là một loại vi khuẩn gam âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng; do chế độ ăn uống vô độ không có quy luật, ăn thức ăn nóng quá, lạnh quá, cứng quá, khó tiêu, chua, cay quá, ăn không nhai kỹ, ăn vội… hoặc ăn phải một số thức ăn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc…

Ngoài ra, cũng có thể do uống rượu, chè đặc, cà phê đặc; do uống nhầm phải các chất ăn mòn: axit, kiềm, sút, một số hóa chất có chì, thuỷ ngân… có thể gây bỏng niêm mạc thực quản và dạ dày.

khong-the-chu-quan-voi-viem-loet-da-day

Một nguyên nhân nữa phải kể đến là do dùng các thuốc giảm đau, chống viêm điều trị các bệnh khớp. Những thuốc ấy có tác dụng phụ gây tổn thương niêm mạc dạ dày; những nhiễm khuẩn cấp: cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn… có thể gây viêm dạ dày. Người bị suy thận cũng rất dễ bị viêm dạ dày do ure máu tăng cao.

Yếu tố tinh thần, các trạng thái stress, cáu gắt, trầm cảm, lo nghĩ, căng thẳng… cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tổn thương dạ dày.

Triệu chứng

Đau bụng do bệnh lý ở dạ dày có trường hợp biểu hiện rõ, chẩn đoán tương đối dễ dàng, thường bệnh nhân có những triệu chứng như: Đau vùng bụng trên rốn, đau thường xuất hiện lúc đói hoặc ngay sau ăn nhưng vài trường hợp đau không liên quan gì tới bữa ăn, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội. Đau âm ỉ có khi kéo dài từ vài tháng đến vài ba năm, có khi hàng chục năm. Nhiều bệnh nhân đau có tính chất chu kỳ (một chu kỳ khoảng từ một tuần đến vài tuần trở lên) và thường xảy ra vào lúc giao mùa, đặc biệt là mùa rét.

Kèm theo đau là các biểu hiện của rối loạn tiêu hóa, bệnh nhân thường grain có cảm giác nặng bụng, khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn, nóng rát, trướng bụng, trung tiện, phân có khi nát có khi lỏng, có khi rắn như phân dê. Trong những trường hợp loét hành tá tràng lâu ngày gây co kéo làm hẹp môn vị thì ăn không tiêu, bụng ậm ạch khó chịu, nhiều khi phải móc họng nôn ra mới thấy thoải mái. Vì vậy, người bị loét dạ dày – hành tá tràng lâu năm thường gầy, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt.

Hiện nay, nội soi dạ dày có giá trị lớn trong chẩn đoán viêm, loét dạ dày – tá tràng. Ngoài việc xác định được vị trí tổn thương, tình trạng tổn thương… thì trong những trường hợp nghi ngờ bệnh ác tính có thể sinh thiết để tìm tế bào lạ. Sinh thiết còn giúp cho việc lấy bệnh phẩm để nhuộm gram, thử exam ureaza, nuôi cấy phân lập xác định vi khuẩn HP và làm kháng sinh đồ để xác định tính nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn này.

Tuy nhiên, đa số trường hợp triệu chứng mơ hồ rất khó chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng có vị trí hoặc tính chất gần giống với đau bụng do bệnh lý ở dạ dày, đặc biệt cần chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng đòi hỏi phải được bác sĩ chữa trị và can thiệp kịp thời nếu không sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng như viêm ruột thừa, tắc ruột…

Các biến chứng của viêm loét dạ dày

Hẹp môn vị: Biểu hiện đau bụng và nôn ói rất dữ dội, đặc biệt bệnh nhân ói ra thức ăn của ngày hôm trước, có mùi hôi thối.

Thủng dạ dày: Bệnh nhân đột ngột có cơn đau dữ dội như dao đâm, bụng gồng cứng như gỗ, phải được phẫu thuật kịp thời nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Xuất huyết tiêu hóa: Là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện ói ra máu và đi cầu phân máu có thể máu đỏ, hoặc phân có màu đen hôi thối.

Ung thư dạ dày: Ung thư dạ dày là một dạng ung thư rất thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa và cũng là một trong những biến chứng của các bệnh lý lành tính ở dạ dày mà không được điều trị triệt để.

Điều trị bệnh có khó?

Ăn uống hợp vệ sinh là khâu quan trọng hàng đầu. Cần có chế độ dinh dưỡng tốt, thích hợp cho người mắc bệnh về dạ dày: không nên ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng; không nên ăn quá nhiều chất béo, các chất kích thích như trà, cà phê…; không uống rượu, không hút thuốc lá; không nên ăn quá nhanh, nhai không kỹ; cần ăn đúng bữa, đúng giờ, không ăn quá khuya, bữa ăn cuối cùng trước lúc ngủ ít nhất 4 giờ, không ăn quá no hoặc nhịn đói quá lâu. Ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước và đặc biệt không được tự ý dùng thuốc, nhất là với các thuốc giảm đau, chống viêm mà không có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Kết hợp với chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, tránh làm việc quá sức, highlight kéo dài.

Ngoài ra, việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình điều trị căn bệnh này. Ngày nay, người ta khuyến cáo điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng dựa trên cơ chế tiêu diệt vi khuẩn HP, chống tăng tiết dịch vị và cần có thuốc bao phủ niêm mạc tránh tác dụng của dịch vị. Có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh dạ dày, tùy theo tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có sự lựa chọn thuốc thích hợp.

BS.Nguyễn Thị Phương Anh – skđs

Rối loạn nuốt và hậu quả

Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn nuốt ở người già. Hàng đầu là các thương tổn thần kinh – cơ như nhồi máu não, xuất huyết não, bệnh Parkinson, xơ cứng cột bên teo cơ, đa u tủy xương, nhược cơ, sa sút trí tuệ. Tiếp đến là nhóm nguyên nhân do tổn thương cấu trúc như tuyến giáp to, phì đại đốt sống cổ, túi thừa Zenker, ung thư…; các rối loạn tâm lý, bệnh mô liên kết (viêm đa cơ, loạn dưỡng cơ…), các nguyên nhân do thầy thuốc (phẫu thuật vùng hầu họng, xạ trị, thuốc…) cũng có thể gây những rối loạn nuốt ở người già.

Nuốt là một quá trình sinh lý nhằm đưa thức ăn, các chất dinh dưỡng, nước… vào đường tiêu hóa. Nuốt gồm bốn giai đoạn: sự chuẩn bị của khoang miệng, quá trình đẩy thức ăn xuống của khoang miệng, hầu họng và thực quản. Các giai đoạn này có sự tham gia phối hợp của miệng, hầu họng, thanh quản và thực quản.

Việc suy giảm chức năng các cơ quan, đặc biệt là não bộ ở người già thường gây rối loạn quá trình nuốt như việc suy giảm hoặc mất các phản xạ bảo vệ trong đó có phản xạ đóng nắp thanh môn khi nuốt.

roi-loan-nuot-va-hau-qua

Biểu hiện của các rối loạn về nuốt ở người già rất phong phú và đa dạng. Rối loạn nuốt do miệng và hầu họng thường gây ho, nghẹn, khó nuốt, cảm giác thức ăn vướng ở họng… Rối loạn nuốt do thực quản thường có cảm giác vướng thức ăn trong họng hoặc trong ngực dọc theo xương ức, nghẹn trong ngực. Bên cạnh đó, rối loạn nuốt nói chung thường gây tăng tiết nước bọt, sặc thức ăn lên mũi, ho sặc do thức ăn rơi vào khí quản…

Rối loạn nuốt ở người già có thể gây nhiều hậu quả từ nhẹ đến nặng. Nhẹ nhất cũng là viêm mũi họng, nói khàn, thay đổi thói quen ăn uống. Nếu nặng hơn, bệnh nhân sợ ăn, uống, thậm chí sợ cả nuốt… nước bọt. Điều này sẽ dẫn đến mất nước, điện giải, sụt cân, suy kiệt nặng. Nhưng nguy hiểm nhất là bệnh nhân bị sặc thức ăn, nước, nước bọt…vào phổi gây nên ho, viêm phổi kéo dài và tái đi tái lại. Nhiều trường hợp, lượng dị vật vào phổi quá nhiều gây ho dữ dội, co thắt thanh quản, suy hô hấp cấp và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Trước khi điều trị các rối loạn nuốt, phải đánh giá thật cụ thể mức độ và vị trí tổn thương cũng như nguyên nhân gây ra rối loạn nuốt. Việc đánh giá dựa vào thăm khám kỹ lưỡng vùng họng miệng, thanh quản, khám phát hiện các tổn thương phổi (thường là phổi phải). “Nuốt đồ ký – ghi hình quá trình nuốt” có cản quang là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán các rối loạn về nuốt. Có thể nội soi thực quản, làm điện cơ, chụp CT, MRI sọ não… để xác định nguyên nhân.

Mục tiêu điều trị rối loạn nuốt là tránh viêm phổi hít phải (do sặc), cải thiện khả năng ăn uống để đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân. Các biện pháp bao gồm tìm dạng thức ăn thích hợp, ví dụ bệnh nhân khó nuốt thức ăn cứng thì chuyển chế độ thức ăn mềm hơn, bệnh nhân grain sặc chất lỏng thì chuyển chế độ ăn đặc…

Điều trị phục hồi chức năng nuốt bằng “liệu pháp nuốt” gồm ba phương pháp: hỗ trợ bù khi nuốt, luyện tập tăng cường chức năng các cơ nhai – nuốt và luyện tập khi đang trong quá trình nuốt. Liệu pháp này nhằm làm giảm khả năng sặc thức ăn vào phổi và tránh ứ đọng thức ăn trong miệng. Phẫu thuật cắt cơ nhẫn – hầu để làm thông thoáng đường thức ăn xuống thực quản cũng có thể được áp dụng. Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, mở thông dạ dày – hỗng tràng qua nội soi được chỉ định cho một số trường hợp nặng.

Dự phòng bằng cách nào?

Dự phòng viêm phổi do rối loạn nuốt ở người già bằng cách: nghỉ ngơi trước ăn 30 phút; ngồi khi ăn; ăn miếng nhỏ, thức ăn mềm thích hợp; không nói chuyện, xem ti vi, đọc báo… làm mất tập trung khi đang ăn. Tránh dùng các thuốc an thần, gây ngủ ngoài chỉ định. Làm rỗng dạ dày bằng các thuốc như erythromycin, motilium… Vệ sinh răng miệng thường xuyên để tránh viêm phổi hít phải và hết sức chú ý nếu bệnh nhân đang ăn bị sặc phải biết cách cấp cứu như một hội chứng dị vật thâm nhập đường thở.

Nguồn sức khỏe đời sống

Cần giảm cân đúng cách để bảo vệ sức khỏe

 Nguy cơ bệnh tim mạch

Hai dạng béo phì thường gặp là: mỡ thừa tập trung tại vùng bụng, thường gặp ở nam giới (gọi là “bụng bia” hay người hình quả táo) và tích lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả lê). Kiểu béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột qụy.

Các phương pháp giảm cân nhanh thường chỉ mang lại tác động giảm lượng nước trong cơ thể mà không có tác động làm giảm khối mỡ trong cơ thể đặc biệt là lượng mỡ trong máu. Lượng mỡ trong máu cao khiến hàm lượng cholesterol trong máu cũng tăng cao. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột qụy tim mạch tăng cao theo tuyến tính. Các nhà khoa học khuyến cáo, nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90% vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, cố gắng duy trì con số này dưới 80%.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe
Hội chứng rối loạn chuyển hóa

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: năng lượng dư thừa là nguyên nhân chính của thừa cân – béo phì. Nhưng, giảm cân bằng cách cắt giảm triệt để việc dung nạp thức ăn vào cơ thể lại khiến cơ thể thiếu các loại chất béo, đạm, vitamin và các khoáng chất thiết yếu. Đây là nguyên nhân khiến cơ thể không thể tổng hợp các chất cần thiết làm rối loạn quá trình chuyển hoá và gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng như: rối loạn mỡ máu, tiểu đường, suy nhược sinh dục…

Suy nhược cơ thể, mất tập trung

Nhịn ăn, bỏ bữa và tránh xa các loại thịt cá là một trong những sai lầm nghiêm trọng của những người đang muốn giảm cân. Thực tế, khi nhịn ăn hoặc thực hiện chế độ ăn kiêng bất hợp lý, đồng nghĩa với việc lượng calo và dưỡng chất đưa vào cơ thể bị cắt giảm nghiêm trọng. Điều này không những không đảm bảo đủ năng lượng cho nhu cầu hoạt động hàng ngày mà còn khiến cơ thể thiếu chất. Trong quá trình giảm cân, nếu cơ thể rơi vào tình trạng uể oải, mệt mỏi, mất tập trung, chuyên gia khuyên bạn nên dừng ngay quá trình giảm cân và tìm kiếm một phương pháp giảm cân mới phù hợp hơn với thể trạng của bạn.

Cách giảm cân an toàn

Kiểm soát chế độ ăn: Một trong những vấn đề quan trọng nhất để giảm cân đó chính là có thực đơn ăn uống khoa học. Bí quyết được các chuyên gia đưa ra đó là: bổ sung nhiều rau và hoa quả vào bữa ăn hàng ngày, hạn chế ăn các chất béo và uống các dạng nước có cồn, nước ngọt; không nên ăn sau 20h.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe1
Tập luyện nhẹ: Mỗi ngày bạn nên dành ra khoảng 20 phút để tập một bài thể dục nhẹ hoặc đi bộ. Việc này vừa giúp cho bạn giảm được cân, vừa giúp nâng cao sức khỏe, giải tỏa căng thẳng và giúp đem lại giấc ngủ ngon.

Uống mỗi ngày 2l nước lọc: Uống nước để giảm cân là một phương pháp khoa học và đã được chứng minh rõ ràng. Nếu bạn không uống nước, các chất béo trong cơ thể sẽ rất khó tiến hành trao đổi chất và kết quả là khiến cho trọng lượng cơ thể tăng lên nhiều. Chức năng tiêu hóa của cơ thể cần nước, chức năng nội tiết cũng vậy, sự chuyển hóa các chất độc hại dựa vào nước để loại bỏ độc tố ra ngoài, uống nước đầy đủ còn có thể tránh rối loạn tiêu hoá. Bạn có thể uống nước nửa giờ sau khi ăn để hỗ trợ quá trình này.

Sử dụng các sản phẩm hỗ trợ giảm cân: Giải pháp được các chuyên gia khuyên dùng dành những người bận rộn hoặc đã thực hiện các bước giảm cân trên mà không hiệu quả là sử dụng sản phẩm hỗ trợ giảm cân. Bạn lưu ý nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có giấy phép của Bộ Y tế như LiteFit USA.

Phương Thảo

Theo sức khỏe đời sống

Những lỗi thường gặp cho bữa sáng của bạn

Bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày, tuy nhiên không phải ai cũng biết ăn sáng sao cho đúng.

Nhịn ăn sáng không tốt cho sức khỏe nhưng ăn sáng không đúng cách cũng không có lợi. Nó không những khiến bạn mệt mỏi, thiếu năng lượng mà thậm chí còn ảnh hưởng đến trọng lượng của bạn. Dưới đây là những sai lầm khi ăn bữa sáng mà bạn nên biết để tránh.

1. Ăn sáng ngay sau khi ngủ dậy

Thực tế, ăn sáng ngay sau khi ngủ dậy lại không tốt cho sức khỏe, thậm chí còn có hại cho dạ dày.

Sau một giấc ngủ dài, hầu hết các cơ quan của cơ thể vẫn lưu lại một phần của bữa ăn tối. Cơ quan tiêu hóa vẫn cần thời gian để “xử lý” và hấp thụ nốt phần ăn đó. Nếu bạn ăn bữa sáng quá sớm, thức ăn sẽ chất chồng với nhau, ảnh hưởng đến đường tiêu hóa.

Vì vậy, khi ngủ dậy, bạn nên vận động, nghỉ ngơi và ăn sáng sau đó khoảng 20-30 phút.
an-sang
2. Ăn đồ ăn lạnh

Cho dù đó là mùa hè thì bạn cũng không nên ăn đồ lạnh trong bữa sáng. Buổi sáng, cơ thể bạn bao gồm cơ bắp, thần kinh, mạch máu đang ở trạng thái co lại. Nếu bạn ăn thực phẩm lạnh sẽ khiến lưu lượng máu trong cơ thể khó lưu thông… ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, lâu ngày dẫn đến táo bón, giảm sức đề kháng của cơ thể.

3. Uống nước sinh tố hoa quả thay vì ăn hoa quả tươi

Bạn thích xay hoa quả để làm sinh tố cho bữa sáng hơn là ăn hoa quả tươi. Điều này có thể thỏa mãn khẩu vị của bạn nhưng bạn cần nhớ rằng, hoa quả sau khi xay qua máy xay sinh tố sẽ bị giảm một lượng đáng kể các chất vitamin, khoáng chất và chất xơ. Thay vào đó, bạn nên uống nước lọc và ăn hoa quả tươi để đảm bảo dinh dưỡng và tránh bổ sung nhiều calo, đường vào cơ thể như với sinh tố hoa quả.

4. Ăn một bữa ăn sáng như cho trẻ em

Vì lo sợ tăng cân nên bạn chọn cho mình chế độ ăn uống với lượng thực phẩm ít ỏi như dành cho trẻ em. Tuy nhiên, đây không phải là lựa chọn tốt cho bạn. Bữa sáng là bữa ăn quan trọng vì nó cung cấp năng lượng cho cơ thể để hoạt động trong một ngày mới. Nếu ăn một bữa ăn quá ít calo, lượng calo cung cấp và chuyển hóa thành năng lượng không đủ sẽ khiến cho bạn nhanh chóng bị uể oải, mệt mỏi và đói bụng trước giờ ăn trưa.

5. Ăn đồ ăn thừa từ hôm trước

Không ít người có thói quen ăn đồ ăn thừa còn lại từ hôm trước vào bữa sáng hôm sau. Điều này có thể không gây nhiều ảnh hưởng nếu thực phẩm đó được bảo quản tốt.

Trong một vài trường hợp, thức ăn không giữ lại giá trị dinh dưỡng toàn vẹn sau thời gian dài lưu trữ, thậm chí có những loại thức ăn còn có thể sản sinh ra nitric có hại cho sức khỏe con người. Nếu bạn ăn phải những thức ăn này thì sẽ có thể bị đau bụng hoặc rối loạn tiêu hóa, năng lượng cung cấp cho cơ thể cũng thấp nên bạn sẽ không cảm thấy khỏe khoắn trong một ngày mới.
an-sang-1

6. Uống nhiều cà phê hoặc trà vào bữa sáng

Một tách cà phê hoặc trà có thể giúp thúc đẩy tâm trạng và tăng sự trao đổi chất của bạn, nhưng bạn không nên uống quá nhiều.

Caffeine có trong cà phê, trà sẽ kích thích sản xuất hormone gây stress trong cơ thể, tạo cảm giác ngon miệng và thèm ăn khiến bạn ăn nhiều, tăng cân. Đồng thời, caffeine còn có tác dụng kích thích làm tăng tiết axit dịch vị, ảnh hưởng đến dạ dày.

7. Ăn buffet cho bữa sáng

Một bữa ăn buffet sẽ khiến bạn khó xác định được lượng calo mình tiêu thụ cũng như các loại thực phẩm bạn ăn. Do đó, bạn dễ gặp phải sai lầm trong lựa chọn thực phẩm (chọn nhiều đồ ăn chứa đường, dầu mỡ…), khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, uể oải trong buổi sáng, giảm sự tập trung trong công việc. Thậm chí, bạn sẽ có nguy cơ tích thêm nhiều mỡ vào cơ thể nếu thường xuyên ăn sáng theo cách này.

8. Vừa đi vừa ăn

Để tiết kiệm thời gian, không ít người có thói quen vừa đi vừa ăn hoặc ăn trong lúc chờ xe bus… Tuy nhiên, điều này lại có thể khiến cho dạ dày của bạn phải làm việc vất vả hơn. Đây cũng chính là lý do khiến nhiều người bị chứng đau dạ dày hoặc rối loạn tiêu hóa, thường xuyên đau bụng.

Theo aFamily.vn/Pháp Luật Xã Hội

Phòng khám đa khoa YKAO

Địa chỉ: 27 Đường Trung Yên 1 – Phường Yên Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 04 6269 4533

Wesite: http://ykao.com.vn

Nhóm địa điểm: Phòng khám đa khoa

Cảnh giác với bệnh trĩ sau khi sinh

Sinh con xong, nhiều chị em bị chảy máu hậu môn mỗi khi đại tiện, song hầu hết chị em đều chủ quan cho đó chỉ là chứng táo bón thông thường.

Cảnh giác với biểu hiện chảy máu hậu môn của bệnh trĩ

Trĩ là căn bệnh phổ biến ở phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ mang thai và sau khi sinh con.

Theo Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Nhâm, Chủ tịch Hội hậu môn trực tràng Việt Nam thì trĩ là căn bệnh đứng đầu trong các bệnh lý về hậu môn. Mặc dù nguyên nhân chưa xác định rõ nhưng có nhiều yếu tố được xem là tạo điều kiện thuận lợi để bệnh trĩ hình thành và phát triển.

canh-giac-voi-benh-tri-sau-khi-sinh
Đặc biệt là đối với phụ nữ sau khi sinh, thông thường sau khi sinh chị em sẽ phải kiêng cữ thường nhiều thứ như phải nằm, ngồi một chỗ, ít di chuyển, vận động, ăn ít rau, uống nước ít,… nên bệnh trĩ được đà xâm nhập, phát triển. Trong khi đó, có nhiều trường hợp chị em bị trĩ từ khi mang thai do thai nhi chèn áp trực tràng. Trong lúc vượt cạn, việc rặn không đúng cách làm tăng áp lực lên ổ bụng, khiến búi trĩ dễ sa ra ngoài. Sau khi sinh con chăm sóc sức khỏe không đúng cách cũng khiến bệnh tiến triển nặng hơn.

Bệnh nhân có thể phát hiện chảy máu sau khi đại tiện. Mỗi lần đi đại tiện, bệnh nhân bị trĩ thường phải rặn nhiều, máu chảy thành giọt hay từng tia nhỏ. Kèm theo hiện tượng chảy máu, sẽ có một khối thịt nhỏ lồi ra khỏi lỗ hậu môn và khối thịt sẽ thụt vào sau khi đại tiện xong. Bệnh diễn tiến nặng bệnh nhân có thể có cảm giác được sự lồi ra, thụt vào rõ ràng. Sau một thời gian, khối thịt sẽ lồi to ra, dài hơn, rồi nằm luôn ở phía ngoài hậu môn. Tình trạng này được gọi là sa búi trĩ.

Búi trĩ sa ra ngoài, tiết dịch gây viêm da vùng hậu môn. Nếu bệnh nhân có cảm giác đau, khi đó trĩ đã bị tắc nghẽn hoặc do quá trình rặn đã làm hậu môn bị nứt, áp xe. Vì vậy, mỗi khi đi tiểu, bệnh nhân lại có cảm giác ngứa quanh hậu môn.

Chảy máu hậu môn là biểu hiện đầu tiên dễ thấy nhất ở bệnh nhân trĩ. Tuy nhiên, bệnh nhân cũng cần phải cảnh giác bởi chảy máu trong khi đi tiểu còn là biểu hiện của một số căn bệnh như ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung.

Bệnh trĩ nếu để lâu sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt thường ngày. Việc điều trị phụ thuộc vào mức độ của bệnh. Bệnh nhân có thể dùng thuốc uống hoặc các loại thuốc bôi tại chỗ để đẩy lùi sự viêm nhiễm. Chính vì vậy, khi phát hiện sự bất thường, chị em nên đến ngay cơ sở y tế chuyên môn để xác định đúng bệnh và xử lý kịp thời.

Sinh nửa năm hậu môn vẫn chảy máu

Sau khi sinh con gái đầu lòng, chị Hoàng Vân 30 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên bị chảy máu hậu môn mỗi khi đại tiện. Chị Vân cho biết, từ khi mang thai chị hay bị táo bón vài ngày mới đi vệ sinh 1 lần mà đại tiện rất khó khăn, chị thường phải gắng sức rặn. Mặc dù vậy, chưa có lần nào chị bị chảy máu hậu môn nhưng sau khi sinh con, nhiều lần chị thấy máu khi đi vệ sinh.

Thậm chí, có lần chị còn phát hiện máu chảy nhỏ giọt khi đại tiện, vùng hậu môn ngứa ngáy rất khó chịu sau khi tiểu tiện. Chị cho rằng, đó đơn giản là bệnh táo bón nên chỉ cần thay đổi khẩu phần ăn phù hợp, dễ tiêu hóa để giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, dù ăn nhiều rau quả tình hình cũng không cải thiện được là mấy tình trạng táo bón được cải thiện nhưng vùng hậu môn của chị vẫn còn cảm giác đau, đôi khi ngứa rát, sờ vào thấy có một khối thịt nhỏ thò ra. Lúc này chị mới đến bệnh viện khám, bác sĩ kết luận chị bị bệnh trĩ.

Tương tự, chị Lan Anh ở Ba Đình, Hà Nội cũng gặp rắc rối ở hậu môn sau khi sinh em bé. Với chị, mỗi lần đại tiện đều như cực hình. Hậu môn đau rát, ra máu và cảm giác có một khối thịt nhỏ lồi ra khỏi hậu môn, đại tiện xong quanh vùng hậu môn ngứa ngáy rất khó chịu. Nhiều lần trong lúc đi tiểu chị hốt hoảng phát hiện máu chảy thành giọt.

Càng ngày chị càng cảm nhận rõ khối thịt nhỏ ở hậu môn lồi ra, thụt vào mỗi khi đi tiểu. Một thời gian sau đó, khối thịt lồi to, dài và nằm luôn bên ngoài hậu môn cọt sát với quần gây đau. Gọi cho cô bạn thân làm bác sĩ để tư vấn, chị được xác định là bị bệnh trĩ. Tuy nhiên, hàng ngày đi vệ sinh chị thấy máu chảy nhiều nên vô cùng lo lắng. Cuối cùng chị phải đến bệnh viện để khám xét cẩn thận, bác sĩ xác nhận chị bị bệnh trĩ ngoại.

Nguồn afamily

Dùng thuốc chữa táo bón như thế nào cho chuẩn

Khi bị táo bón có thể xuất hiện các triệu chứng như đầy bụng, trướng bụng, mệt mỏi, buồn nôn, nhức đầu… táo bón lâu ngày có thể gây nổi mụn trên da, trĩ, nhiễm độc cơ thể, nặng hơn là ung thư đại – trực tràng.

Nguyên nhân dẫn đến táo bón do ăn uống không hợp lý như trong khẩu phần ăn thường ngày bị thiếu chất xơ, uống ít nước làm cho phân cứng khó đào thải ra ngoài, ít vận động, stress, do uống thuốc tây có tác dụng phụ gây táo bón như các loại thuốc chữa dạ dày, tăng huyết áp…

Tuy nhiên còn tùy theo cơ chế tác dụng, nên các thuốc điều trị bệnh táo bón được chia ra các loại sau:

Thuốc trị táo bón tạo khối (igol, metamucil): nhóm thuốc này chứa chất xơ, chất sợi (từ vỏ, hạt, củ), chất nhầy (thạch rau câu), cám lúa mì, được cấu tạo gồm những hạt rất nhỏ có thể giữ một thể tích nước gấp nhiều lần thể tích của chúng. Khi uống vào thuốc sẽ hút nước làm tăng thể tích phân ở trực tràng tạo phản xạ đi tiêu tự nhiên. Nhóm thuốc này có tác dụng tương đối chậm nhưng ít can thiệp vào hoạt động bình thường của đại tràng hơn những thuốc nhuận tràng khác.
cach-chua-tao-bon-luu-y-66b79
Thuốc trị táo bón thẩm thấu (sorbitol, forlax, lactitol): chứa các muối vô cơ, đường. Khi uống vào, thuốc giữ nước trong lòng ruột giúp thải phân ra ngoài dễ dàng hơn.

Các thuốc làm mềm phân (docusat) giúp nước thấm vào khối phân, làm phân mềm và dễ di chuyển hơn.

Các thuốc bôi trơn (norgalax, microlax): dùng bơm hậu môn. Thuốc chứa dầu khoáng chất (parafin) và các chất giúp thấm nước tốt (glycerin). Không dùng thuốc quá lâu ngày vì có thể làm kích ứng niêm mạc trực tràng, làm tổn thương niêm mạc trực tràng.

Thuốc trị táo bón kích thích (bisacodyl, cascara): thuốc tác động trực tiếp lên thần kinh chức năng vận động bài tiết của ruột, gây co bóp các cơ thành ruột tạo nhu động ruột đẩy phân ra ngoài. Không nên dùng thuốc này quá một tuần vì chúng có thể gây đau quặn bụng và tiêu chảy. Không dùng nhóm thuốc này cho phụ nữ có thai và chỉ dùng khi những điều trị khác bị thất bại.

Mặt khác, có thể dùng phương pháp điều trị kết hợp hỗ trợ như dùng sữa chua hoặc sữa bột có bổ sung chất xơ, trà thảo dược…

Chú ý không được sử dụng bất kỳ một loại thuốc điều trị bệnh táo bón nào kéo dài quá 8 – 10 ngày. Sử dụng thuốc phải có chỉ định của bác sĩ. Sau khi điều trị bằng thuốc giúp cơ thể vượt qua giai đoạn bất bình thường trong bài tiết, cần điều chỉnh lại lối sống, chế độ ăn uống, luyện tập cho phù hợp.

Để phòng tránh táo bón: cần tạo ra thói quen đi tiêu hàng ngày vào một thời gian nhất định (tốt nhất vào buổi sáng khi thức dậy); không được nhịn đi tiêu; nên ăn nhiều rau, hoa quả chứa nhiều chất xơ; tập thể dục đều đặn (điều này không chỉ giúp chúng ta có được sức khỏe tốt, thân hình cân đối mà còn rất tốt cho hệ tiêu hóa); uống nhiều nước hàng ngày sẽ giúp làm sạch hệ tiêu hóa và làm mềm phân để đẩy ra ngoài được dễ dàng.

BS. Hoàng Thanh Sơn

Nguồn sức khỏe đời sống

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

Nguy cơ mắc bệnh viêm ruột ở phụ nữ

Theo một nghiên cứu mới từ Pháp, ăn nhiều protein động vật sẽ gia tăng nguy cơ mắc các bệnh viêm ruột (IBD) ở phụ nữ, Reuters đưa tin.

Nghiên cứu của tiến sĩ Franck Carbonnel thuộc Center Hospitalier Universitaire de Bicetre tại Paris (Pháp) đã được công bố trên Tạp chí Tiêu hóa Mỹ, cho biết những ảnh hưởng của chế độ ăn uống đối với bệnh viêm ruột ở phụ nữ.

Nghiên cứu tiến hành trên 67.000 phụ nữ tuổi từ 40 đến 65, trong thời gian 10 năm. Theo đó, những người tiêu thụ lượng protein động vật nhiều nhất là những người có nguy cơ mắc các bệnh viêm ruột cao nhất, cao gấp ba lần so với những người có chế độ ăn hợp lý, không quá nhiều protein từ động vật.

thica-viem-ruot

Các bệnh viêm ruột là một thuật ngữ chung cho các bệnh đặc trưng bởi viêm nhiễm nghiêm trọng trong hệ thống tiêu hóa như viêm loét đại tràng, bệnh Crohn. Căn bệnh này trở nên phổ biến trên toàn thế giới sau chiến tranh thế giới thứ II, tính trung bình cứ 500 người thì có một người bị mắc phải.

Các nhà khoa học cũng chỉ rõ một chế độ ăn giàu protein có thể làm thay đổi cấu trúc, hoạt động của các loại vi khuẩn sống trong đại tràng.

Hiện cũng đã có những nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu hụt lượng vitamin D cần thiết cho cơ thể cũng có thể dẫn đến các bệnh viêm ruột. Hay tăng cường lượng axit béo omega-3 giúp giảm nguy cơ mắc bệnh viêm ruột, trong khi ăn nhiều axit béo omega-6 lại làm tăng nguy cơ này…

Từ kết quả của những nghiên cứu trên, các nhà khoa học cho biết họ sẽ tiếp tục tiến hành nghiên cứu trên đối tượng là nam giới và trẻ em, để tìm ra những nguy cơ thực sự của một chế độ ăn uống quá nhiều protein thịt cá đối với sức khỏe của con người.

Theo TNO

Mẹp vặt chống lão hóa

Cùng với tuổi tác, các chị em đều mong muốn bản thân mình không bị lão hóa quá sớm. Nhưng nếu không biết cách thì chị em sẽ khó tránh được quy luật thực tế: lão hóa và xuất hiện nếp nhăn khi có tuổi. Vì thế, bạn nên chú ý về chuyện ăn uống của mình. Bạn nên tránh những thực phẩm dưới đây vì chúng chính là nguyên nhân gây ra các nếp nhăn.
1. Thực phẩm chứa chì

Chì sẽ khiến hàm lượng adrenaline, dopamine và 5-hydroxytryptamine (5-HT hoặc serotonin) trong não giảm đáng kể, dẫn tới sự truyền tải các dây thần kinh bị đình trệ, giảm trí nhớ, mất trí nhớ, sự phát triển của trí tuệ gặp cản trở. Cơ thể nạp quá nhiều chì còn trực tiếp gây tổn thương não, hệ thần kinh, giảm chỉ số IQ, gây ra huyết áp cao, các vấn đề về tiêu hóa, lão hóa sớm, đau cơ và khớp.
2. Thực phẩm ướp muối
muoi-dua
Những thực phẩm là nguyên nhân gây ra các nếp nhăn – Sức Khỏe – Chăm sóc sức khỏe – Sức khỏe gia đình

Khi ướp muối các thực phẩm như rau, thịt, cá, rất dễ chuyển hóa muối nạp vào cơ thể thành muối axit nitrit, mà dưới xúc tác của các enzym trong cơ thể, dễ khiến các vật chất trong cơ thể phản ứng thành những chất gây ung thư như imin. Ăn quá nhiều chất này dẫn đến dễ mắc ung thư và đẩy nhanh tốc độ lão hóa, gia tăng nếp nhăn trên da mặt.
3. Thực phẩm bị mốc

Khi ngũ cốc, các loại dầu, lạc, đậu, thịt cá bị mốc, sẽ sản sinh ra rất nhiều vi khuẩn và độc tố aflatoxin. Những chất độc này một khi bị hấp thụ vào cơ thể, nhẹ sẽ dẫn tới một loạt các triệu chứng như tiêu chảy, nôn mửa, đau đầu, hoa mắt, khó chịu, viêm ruột, mất thính lực và toàn thân mất hết sức lực, nặng sẽ dẫn tới ung thư, dị tật thai nhi và lão hóa da.
4. Nước cặn

Trà hoặc nước lọc sau một thời gian sẽ sinh cặn, nếu không kịp thời làm sạch, thường xuyên uống sẽ gây tổn thương hệ tiêu hóa, thần kinh, tiết niệu, máu, tuần hoàn và dẫn tới lão hóa, đây là do nhiều nguyên tố kim loại có hại chứa khá nhiều trong cặn nước như cadmium, thủy ngân, thạch tín, nhôm, vv gây ra.

Các nhà khoa học từng tiến hành phân tích hóa học với cặn nước trong một bình nước nóng được sử dụng trong 98 ngày phát hiện, có khá nhiều nguyên tố kim loại độc hại: cadmium là 0.034 mg, thủy ngân là 0,44 mg, asen là 0,21 mg, nhôm là 0,012 mg. Các kim loại độc hại này vô cùng có hại cho sức khỏe con người.
5. Thực phẩm chứa lipid peroxide

Lipid peroxide là một loại peroxit axit béo không bão hòa. Thực phẩm chứa quá nhiều lipid peroxide sẽ làm tổn thương một số hệ thống trao đổi chất, phá hủy các tế bào não, khiến não bị sớm bị lão hóa, mất trí nhớ. Chất này thường có nhiều trong thực phẩm chiên ở nhiệt độ cao, và thực phẩm thời gian dài để lộ dưới ánh sáng mặt trời, như đồ hun khói, cá khô.
6. Thực phẩm đun nấu ở nhiệt độ cao

Những thực phẩm là nguyên nhân gây ra các nếp nhăn – Sức Khỏe – Chăm sóc sức khỏe – Sức khỏe gia đình

Khi chiên đồ ăn ở nhiệt độ cao, các vitamin trong thức ăn dễ bị phân hủy, đồng thời các thành phần trong dầu ăn khi phân hủy tạo thành khói bốc lên có chứa butadiene, tương tự khi nướng thức ăn trên bếp lửa mỡ chảy ra rơi xuống tạo mùi thơm nhưng thực chất đó là carbuahydro vòng không tốt cho cơ thể và đó chính là một trong các tác nhân gây ung thư nếu chúng ta thường xuyên hít phải.
7. Đồ uống có cồn

Các loại thực phẩm có chứa cồn có thể làm tổn thương gan và hệ thần kinh. Thậm chí nó có thể làm giảm khả năng tình dục nam giới, gây rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, giảm ham muốn tình dục của phụ nữ thậm chí dẫn tới lãnh cảm. Vì vậy, chúng ta không nên uống rượu quá nhiều rượu. Bạn có thể uống rượu vang nho, bia hoặc rượu vang màu vàng với một lượng vừa phải.
8. Thực phẩm chứa chất bảo quản và sắc tố

Không ít thực phẩm (như kẹo chứ chất tạo màu, cá khô, đồ đóng hộp…) vì muốn sử dụng trong thời gian dài nên buộc lòng phải dùng chất bảo quản, chất tạo màu, mùi vị. Mà các chất này chính là một trong những tác nhân gây mệt mỏi, giảm năng lực tập trung, trí nhớ kém.
9. Thực phẩm hun khói

Nếu người ta thường ăn các loại thực phẩm có chứa chất gây ung thư trong cuộc sống hàng ngày, có thể được gây ra lão hóa sớm. Vì vậy, mọi người nên giảm việc tiêu thụ các loại thực phẩm có dầu và các loại thực phẩm hun khói. Khi họ ăn những thức ăn như vậy, họ nên ăn một số loại trái cây và rau quả để giảm bớt những ảnh hưởng đến sức khỏe và làn da, tránh các nếp nhăn xuất hiện sớm.

Ngoài ra, có một điều mà ít ai để ý, khói cũng chính là một trong những tác nhân khiến gia tăng các nếp nhăn trên khuôn mặt chúng ta.

5 bí quyết giảm cân nghe lạ tai nhưng có hiệu quả thật

Đôi khi bạn có thể bắt gặp những biện pháp giảm cân nghe rất lạ tai và bạn nghĩ rằng nó thật là phi lý, không hiệu quả. Nhưng thực tế có thể hoàn toàn ngược lại.

Dưới đây là 5 biện pháp giúp giảm cân rất tốt nhưng có thể bạn lại không hề tin từ trước đến nay.

1. Giảm cân với chuối

Hầu hết chị em muốn giảm cân đều biết bí quyết: ăn chuối giảm cân. Nhưng không phải ai cũng rõ nguyên do ăn chuối lại có thể giúp mình giảm cân.

Thực tế trong chuối có chứa hàm lượng enzym cao, giúp thúc đẩy quá trình tiêu hóa và chuyển hóa năng lượng, giảm thiểu lượng mỡ thừa tích lại cơ thể. Ăn chuối còn cung cấp nhiều tinh bột cho cơ thể, nhờ đó, bạn sẽ có cảm giác no lâu, không thèm ăn. Ngoài ra, chất tinh bột trong chuối còn giúp đốt cháy chất béo trong cơ thể, chất kali phong phú trong chuối kích thích sự phát triển cơ bắp, từ đó cải thiện tình trạng đốt cháy mỡ thừa, giúp giảm cân hiệu quả.

5-bi-quyet-giam-can-nghe-la-tai-nhung-co-hieu-qua-that

2. Giảm cân với cơm nguội

Cùng là cơm nhưng tại sao cơm nóng lại không có tác dụng giảm cân trong khi cơm nguội lại có hiệu quả này? Câu trả lời là: thành phần tinh bột trong cơm nóng khi vào cơ thể sẽ kích thích hoạt động của của dạ dày và hệ thống tiêu hóa khiến cho quá trình tiêu hóa diễn ra nhanh hơn, bạn sẽ nhanh đói hơn.

Trong khi đó, nếu ăn cơm nguội, thành phần kháng tinh bột sẽ kìm hãm sự hoạt động của cơ quan tiêu hóa khiến cho việc tiêu hóa chậm lại, giúp cơ thể không dễ dàng hấp thụ chất kháng tinh bột, do đó nó không được chuyển hóa hết thành năng lượng mà đào thải ra ngoài cơ thể.

Hơn nữa, chất kháng tinh bột còn có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu, ức chế bài tiết insulin, từ đó cản trở quá trình tổng hợp chất béo trong cơ thể nên giảm tình trạng mỡ thừa gây tăng cân.

5-bi-quyet-giam-can-nghe-la-tai-nhung-co-hieu-qua-that1

3. Giảm cân với dầu ăn

Từ trước đến nay bạn vẫn nghĩ rằng tất cả các loại dầu ăn đều không có lợi cho mục đích giảm cân. Nhưng thực tế, một số chất béo lành mạnh lại có tác dụng chống lại chất béo trong cơ thể. Hai loại dầu được cho rằng có tác dụng này là dầu dừa và dầu ôliu.

Dầu dừa chứa ít calo hơn các loại dầu khác (6,8Kcal/gram dầu dừa so với 9Kcal/gram dầu khác). Hơn nữa, năng lượng trong dầu dừa gần giống như carbohydrate  vừa dễ tiêu hóa lại có thể được gan “đốt cháy” nhanh chóng để chuyển thành năng lượng và tránh tạo thành mỡ thừa tích trữ trong cơ thể. Dầu ôliu rất giàu axit béo không bão hòa đơn mà chất béo này lại có tác dụng giúp mỡ ít tích trữ trong cơ thể. Bên cạnh đó, dầu ôliu còn chứa hàm lượng lớn adiponectin – một loại hormone giúp phá vỡ các thành phần chất béo trong cơ thể.

Đó chính là lý do tại sao 2 loại dầu này lại có tác dụng giúp bạn tránh tăng cân.

4. Giảm cân nhờ kem đánh răng bạc hà

Đã bao giờ bạn nghĩ rằng kem đánh răng có vị bạc hà có thể hạn chế sự thèm ăn của bạn? Thực tế đúng là vậy. Mùi vị bạc hà không những có thể lấn át được mùi thức ăn mà nó còn khiến bạn không còn cảm giác thèm ăn.

Hơn nữa, sau mỗi lần đánh răng, bạn sẽ có cảm giác răng sạch sẽ và từ đó cũng ngại chuyện ăn uống nên cũng hạn chế được việc bổ sung calo vào cơ thể.

Theo các chuyên gia sức khỏe, mùi bạc hà giúp bạn tỉnh táo, giảm đi sự mệt mỏi, tăng cảm giác no nếu như bạn vừa ăn trước đó. Hương vị dễ chịu và the mát của bạc hà sẽ truyền đến rất nhanh cơ quan vị giác và khứu giác, làm giảm khả năng thèm ăn của bạn.

Thói quen này không chỉ giảm cân hiệu quả và an toàn mà còn giúp bạn có một hàm răng chắc khỏe.

5. Giảm cân nhờ cười

Nụ cười của bạn không đơn thuần chỉ làm tinh thần vui vẻ, sáng khoải mà còn giúp bạn đốt cháy lượng calo đáng kể. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ thực hiện trên 100 người vừa được công bố cho thấy, nếu giữ được mật độ cười đều  đặn mỗi ngày, thì trong 1 năm có thể giảm được 2 kg.

Khảo sát được thực hiện với hơn 100 tình nguyện viên. Những người này được cho xem các chương trình hài hước trên tivi (họ không được báo trước về các chương trình mình sẽ xem).

Kết quả cho thấy những người cười nhiều thì sẽ tăng tốc độ trao đổi chất lên 20% so với bình thường. Nghĩa là, nếu cười 10-15 phút/ngày, cơ thể sẽ giảm được từ 10-40 calorie, cười như vậy đều đặn mỗi ngày, trong 1 năm có thể giảm được 2 kg.

Cười có thể giúp giảm cân là bởi vì, khi cười nhiều, bạn sẽ đẩy lùi trạng thái căng thẳng. Căng thẳng là nguyên nhân khiến cơ thể bạn lưu trữ chất béo  do cơ thể sản xuất ra hormone drenalin, corticotrophin và cortisol, khiến chúng ta cần thêm năng lượng ngay lập tức. Do đó, bạn càng ăn nhiều hơn. Cười nhiều chính là một cách giảm nhu cầu nạp năng lượng, từ đó bạn cũng tránh được nguy cơ tăng cân.

Theo afamily

Những điều dễ quên khi bị đường tiêu hóa

Ít ai ngờ đường tiêu hóa trở chứng nhiều lúc lại vì một số lý do rất thông thường. Vì thế bạn nên nhớ những chỉ dẫn sau.Có một chuyện chắc chắn rất quen thuộc trong nhiều phòng khám. Đó là không ít bệnh nhân gõ cửa thầy thuốc vì rối loạn tiêu hóa dưới dạng đầy bụng, khó tiêu, ợ hơi, nhất là đói run nhưng vừa ăn ít miếng đã no ngang.

Bệnh không nặng đến độ gọi xe cấp cứu nhưng cứ rề rề nay đau mai yếu làm giảm chất lượng cuộc sống. Khổ không chỉ cho bệnh nhân mà còn kẹt cho thầy thuốc vì thường khi siêu âm, nội soi, xét nghiệm thì không tìm ra nguyên nhân.

Hậu quả là bệnh nhân đổi thầy thuốc hoài nhưng vẫn tức cành hông. Đáng tiếc là ít ai ngờ đường tiêu hóa trở chứng nhiều lúc lại vì một số lý do rất thông thường. Chẳng hạn:
duong-tieu-hoa
– Tuy làm đúng nhưng thực hiện quá nhanh, chẳng hạn đổi từ gạo trắng sang gạo lức, sang nếp… cái rụp! Tương tự như thế là trường hợp của người trước đó mạnh miệng với thực phẩm công nghệ bỗng chuyển sang khẩu phần với nhiều rau quả tươi.

– Thông hiểu tính chất hữu ích của chất xơ trong rau quả, mễ cốc nhưng dùng quá liều khiến bội tăng hiện tượng đầy hơi trong khung ruột.

– Thường có khẩu phần quá nhiều tinh bột nên vô tình tiếp tay cho phản ứng lên men của lực lượng vi sinh có hại luôn sống chực chờ trên nền ruột.

– Quá mạnh miệng với các món ngọt theo kiểu ăn vặt suốt ngày mà không ngờ là đường ủ đến lên men rồi thành rượu ngay trong lòng ruột.

– Có thói quen ăn quá nhiều rau cải tươi trong bữa cơm chiều trong khi lá gan theo đúng nhịp sinh học lại giảm hoạt động sau 19 giờ. Hậu quả, các loại hơi có hại cho sức khỏe dễ tích lũy trong lòng ruột.

– Trước đó mạnh miệng với thịt, cá bỗng đổi sang chay trường. Hậu quả là lượng mật trước đó được bài tiết theo thói quen nay bỗng thừa thãi. Mật khi đó sẽ kích ứng khung ruột. Đừng quên rằng mật rất cần thiết để tiêu hóa chất béo trong thịt, cá nhưng thừa mật trong lòng ruột lại là một trong các nguyên nhân dẫn đến ung thư ruột già.

– Uống trà suốt ngày mà không ngờ lượng trà quá cao là lý do khiến thất thoát khoáng tố kali. Hậu quả là nhu động của khung ruột trở nên ù lỳ nên gia chủ không nuốt hơi mà vẫn đầy bụng, không ăn nhiều mà vẫn khó tiêu.

Đổi hướng nếu cần thiết tất nhiên là đúng nhưng cũng như việc điều khiển xe, nếu quẹo quá gắt thì có khi lạc tay lái rồi mất cả chì lẫn chài!

Theo NLĐ

Trẻ bị táo bón khi bổ sung canxi không đúng cách

Chú trọng bổ sung canxi cho các bé là điều tốt, nhưng bổ sung canxi không đúng cách lại gây ra những tác động xấu cho sức khỏe của trẻ.

Canxi là một yếu tố có lợi khi được hấp thu đúng mức. Nhưng khi bổ sung quá nhiều canxi sẽ làm cho bé dễ bị táo bón, đồng thời gây ra chứng chán ăn, buồn nôn, khó tiêu và các triệu chứng khác.

Trên tạp chí “Dinh dưỡng học lâm sàng Mỹ”, bác sĩ dinh dưỡng Marvel Jackson sẽ chỉ ra cho các mẹ những sai lầm nghiêm trọng nhất khi bổ sung canxi cho con khiến bé bị táo bón.

Có rất nhiều sai lầm khi bổ sung canxi có thể gây chứng táo bón ở trẻ:
tre-bi-tao-bon-khi-bo-xung-canxi-ko-dung-cach
Ăn nhiều thực phẩm giàu axit oxalic khi bổ sung canxi

Một số loại rau như rau bina, rau dền, măng tây, hành, đậu trắng, đậu tương, có chứa oxalat dễ dàng kết hợp với canxi trong cơ thể để tạo thành canxi oxalate, ảnh hưởng đến tiêu hóa và hấp thụ canxi trong cơ thể, gây ra chứng táo bón ở trẻ. Vì vậy khi bổ sung canxi cho con mẹ nên lưu ý đến điều này.

Ăn quá nhiều thực phẩm béo và các loại dầu

Khi bổ sung canxi cho bé phải cẩn thận giảm bớt các thức ăn có quá nhiều chất béo và các loại dầu. Ăn nhiều thực phẩm có axit béo tự do, chất béo tạo ra sau khi tiêu hóa rất dễ kết hợp với canxi, làm giảm sự hấp thụ canxi. Canxi không hấp thụ được sẽ theo vào các chất thải, gây ra táo bón ở trẻ.

Ăn nhiều loại thực phẩm giàu chất xơ

Ngũ cốc thô và chế độ ăn uống quá giàu chất xơ cũng là một nguy cơ gây táo bón. Thành phần chất xơ thực vật cũng dễ kết hợp với canxi, làm giảm sự hấp thu canxi, dẫn đến kết tủa canxi, gây ra táo bón cho trẻ.

Trộn canxi với thức ăn, sữa

Một số cha mẹ nghiền nát viên canxi và trộn lẫn với thức ăn hoặc sữa để cho bé ăn. Phương pháp này rất phản khoa học. Trẻ chỉ có thể hấp thụ tối đa 20% canxi trộn lẫn trong thức ăn, phần còn lại sẽ bị bài tiết sau khi tiêu hóa. Lượng canxi tồn đọng nhiều, lâu ngày sẽ gây ra táo bón ở trẻ.

Giúp trẻ bị táo bón trong giai đoạn bổ sung canxi như thế nào?

Các mẹ cần trao đổi với bác sĩ về tình trạng của bé nếu con bạn chưa được 1 tuổi. Nếu bé trên 1 tuổi, bạn có thể thử một trong các cách sau:

– Khuyến khích trẻ uống thật nhiều nước nhưng không nên uống nước ngọt và nước có ga bởi vì chúng sẽ làm hỏng men răng.

Khuyến khích bé uống nhiều loại nước: nước trắng, nước hoa quả pha loãng và sữa (ở một số trẻ, uống quá nhiều sữa cũng có thể gây tác dụng ngược, làm cho tình trạng táo bón nặng thêm). Nước mận, lê và táo chứa rất nhiều đường sorbitol, đặc biệt tốt cho đường ruột của bé.

Ăn sáng sớm. Đối với nhiều trẻ, bữa sáng có tác dụng kích thích nhu động ruột. Nếu ăn sáng sớm, trẻ sẽ có nhiều thời gian để dành cho việc đi cầu ngay tại nhà thay vì đến trường (bởi nhiều trẻ rất ngại đi cầu ở trường).

Nên cho trẻ ngồi ghế đi cầu riêng thay vì ngồi bồn cầu người lớn bởi vì ngồi thẳng, 2 chân chạm đất sẽ giúp trẻ đi cầu dễ dàng hơn.

– Đừng cho trẻ uống thuốc nhuận tràng nếu không có chỉ định của bác sĩ.

Rối loạn tiêu hóa ở trẻ

Rối loạn tiêu hóa (RLTH) là một thuật ngữ thường dùng để chỉ những bất thường về chức năng dạ dày. Nguyên nhân RLTH rất đa dạng như: bệnh lý của cơ thể, thay đổi chế độ ăn, dùng thuốc… đặc biệt là sự thay đổi chế độ ăn đột ngột của trẻ em khi bắt đầu ăn dặm, sẽ gây nên RLTH thể hiện qua các triệu chứng như: đầy hơi, chướng bụng, táo bón, tiêu chảy, phân sống.

Với những trẻ thường xuyên có biểu hiện bất thường tại đường tiêu hóa, chắc chắn khả năng cung cấp đủ các chất cho cơ thể bị ảnh hưởng.

Trẻ ăn vào ói ra, kém hấp thu… lâu ngày sẽ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng và diễn tiến đến suy dinh dưỡng.

Vì vậy, những trẻ có biểu hiện RLTH nên được đi khám sớm và đúng chuyên khoa để có hướng điều trị đúng cho trẻ.
nhung-roi-loan-tieu-hoa-thuong-gap-o-tre
Dưới đây là một số bệnh lý tiêu hóa thường gặp ở trẻ em.

Trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản là hiện tượng trào ngược những chất chứa trong dạ dày vào trong thực quản.

Do cấu trúc giải phẫu dạ dày – thực quản của trẻ nhỏ không giống như người lớn, thực quản thì ngắn, phần dưới hơi nở rộng, lớp cơ chưa phát triển hoàn chỉnh và còn yếu, cơ tâm vị co thắt bất thường nên bé rất dễ nôn trớ.

Nếu trẻ nôn ít (vài ba ngày mới ọc 1 lần hay 1 ngày ọc 2 lần), vẫn bú khỏe, lên cân tốt thì không sao và hiện tượng trào ngược này sẽ giảm dần khi trẻ lớn.

Dù có điều trị hay không thì đến năm 2 tuổi, khoảng 60% trẻ sẽ tự hết, 40% còn lại có thể kéo dài đến 4 tuổi.

Táo bón

Táo bón không phải là bệnh, mà chỉ là 1 triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau hoặc chỉ là 1 rối loạn cơ năng (thường gặp nhất).

Táo bón được định nghĩa khi bé có số lần đi tiêu ít hơn bình thường (thay đổi theo lứa tuổi và mỗi cá nhân) với phân to, cứng, đau khi đi tiêu và đôi khi có máu.

Táo bón có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như: viêm ruột, thủng ruột… Do đó, cần được khám và tìm nguyên nhân gây táo bón để có điều trị thích hợp.

Táo bón rất hay gặp ở trẻ còn nhỏ khi thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm và ít chất khoáng, cũng có khi do uống nhiều sữa bò, sữa bột vì ít sữa mẹ.

Các cơ bụng và thành ruột cũng có vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón.

Những đứa trẻ còi xương, sinh thiếu tháng rất hay bị táo bón. Ở những trẻ lớn hơn, táo bón thường do ăn nhiều thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết, có khi do lỗ hậu môn bị rạn.

Việc cho trẻ ăn nhiều rau quả sẽ giúp cho cơ bụng và thành ruột co bóp tốt hơn. Các loại nước ận ép hoặc nước luộc củ cải cũng có tác dụng chống táo bón.

Cách đề phòng táo bón tốt nhất là tập cho trẻ thói quen đi ngoài vào một giờ cố định trong ngày.

Các thuốc nhuận tràng chỉ nên uống sau khi hỏi ý kiến của bác sĩ.

Tiêu chảy

Khi trẻ đi tiêu ra phân lỏng như nước trên 3 lần một ngày thì được coi là tiêu chảy.

Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời.

Do đó, điều quan trọng nhất khi trẻ bị tiêu chảy là phải bù điện giải cho trẻ, tốt nhất bằng nước oresol và phải tuân thủ hướng dẫn pha oresol, cho trẻ uống đúng cách, uống từng ít một, uống liên tục và rải rác trong ngày.

Còn nếu trẻ diễn tiến bệnh nặng hơn, tốt nhất hãy đưa trẻ đến một cơ sở y tế để điều trị.

Để phòng bệnh tiêu chảy, cha mẹ cần chú ý đảm bảo vệ sinh cho trẻ, thực hiện ăn chín uống sôi, vệ sinh tay sạch sẽ trước và sau ăn.

Còn khi bệnh, ngoài việc bù nước, điện giải tốt nhất, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, ăn những thức ăn loãng, dễ tiêu giúp tăng cường sức khỏe, trẻ sẽ có đủ sức chống đỡ bệnh, cơ thể chóng phục hồi, không bị suy sụp vì thiếu dinh dưỡng sau tiêu chảy.

Theo sức khỏe đời sống

Đa số trẻ nhỏ đều mắc bệnh giun

Khoảng 34% trẻ 2-5 tuổi bị các bệnh giun lây truyền từ đất nhưng nhiều cha mẹ lại quên tẩy giun cho con. Trong khi đó, bệnh diễn biến âm ỉ, kéo dài, dần dần trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn, sức đề kháng kém.

Thông tin được ông Nguyễn Mạnh Hùng, Viện trưởng Viện Sốt rét – Ký sinh trùng Trung ương cho biết mới đây

Theo số liệu điều tra trong 4 năm gần đây của Viện, bệnh giun truyền qua đất ở nước ta vẫn còn khá phổ biến. Tỷ lệ nhiễm chung các bệnh cao nhất tại vùng trung du và miền núi phía Bắc (hơn 65%), sau đó là đồng bằng sông Hồng. Trong đó, thấp nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ nhiễm giun chỉ khoảng 12-14%.
cu 10 tre co 3 be bi giun
Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh tiểu học đã giảm nhưng tỷ lệ tái nhiễm tương đối cao. Chẳng hạn, tại Thừa Thiên Huế, tỷ lệ nhiễm giun trước khi can thiệp là 70%, sau can thiệp 2 tuần là hơn 24% và sau 6 tháng thì đã gần như trở lại với tỷ lệ ban đầu.

Cũng theo ông Hùng, điều đáng lưu ý là tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản rất cao. Tỷ lệ nhiễm tại các tỉnh như Yên Bái, Sơn La, Thanh Hóa… đều ở mức trên 50%. Tại Hà Nội, tỷ lệ này cũng lên đến gần 20%.

Với phụ nữ trưởng thành và phụ nữ ở độ tuổi sinh sản, nhiễm giun ảnh hưởng tới thời kỳ mang thai, gây thiếu máu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con cái họ, có thể gây đẻ non, trẻ thiếu cân, tử vong mẹ và trẻ sơ sinh.

Trẻ bị nhiễm giun sẽ bị rối loạn tiêu hóa, cản trở quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng. Lâu ngày có thể khiến trẻ bị suy dinh dưỡng, sức đề kháng kém, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn.

Các chuyên gia khuyến cáo, để phòng bệnh giun người dân cần tiến hành tẩy định kỳ. Với người lớn sau 6 tháng hoặc một năm tẩy giun một lần, còn trẻ nhỏ thì phải có chỉ định của bác sĩ.

Theo sức khỏe đời sống

Các bệnh thường gặp ở họng trẻ nhỏ

Họng là nơi tiếp xúc đầu tiên với các yếu tố môi trường như không khí, khói bụi, các loại thực phẩm, các yếu tố dị nguyên… nên rất dễ tổn thương.

Tại họng tập trung nhiều các tổ chức lympho tạo thành từng đám gọi là amiđan. Các amiđan hình thành nên vòng bạch huyết Waldeyer bao gồm: amiđan vòm (V.A), amiđan vòi, amiđan khẩu cái (thường gọi là amiđan), amiđan lưỡi và hạch Gillet. Các amiđan sản xuất ra những tế bào lympho T và B tham gia vào miễn dịch tế bào bảo vệ cơ thể, trong đó quan trọng nhất là amiđan vòm (V.A) và amiđan khẩu cái (amiđan).

Đám rối thần kinh họng (vận động, cảm giác, thực vật) là cơ chế gây ra các phản xạ thần kinh, nội tiết để gây ra các biến chứng toàn thân từ viêm họng.

Nguyên nhân gây bệnh

Viêm mũi họng là tình trạng niêm mạc mũi họng bị viêm nhiễm do tác nhân vi khuẩn, virus, nấm hoặc dị ứng.
cac-benh-thuong-gap-o-hong
Nguyên nhân gây bệnh thường là virus (chiếm 60-80%). Vi khuẩn: thường gặp là phế cầu, Hemophilus Influenzae, tụ cầu và nguy hiểm nhất là liên cầu ß tan huyết nhóm A. Nấm: rất hiếm, mặc dù bình thường khi nuôi cấy dịch họng kết quả chỉ ra có khoảng 70% các trường hợp có sự tồn tại của nấm. Trong những trường hợp cơ thể suy giảm sức đề kháng như hội chứng suy giảm miễn dịch, dùng quá nhiều kháng sinh, súc thuốc súc họng, sử dụng viên ngậm bừa bãi hoặc dùng các thuốc xịt họng không đúng chỉ định… nấm mới trở nên gây bệnh.

Người ta nhận thấy đa phần những bệnh nhân bị viêm họng tái diễn nhiều lần thường hay kèm thêm một số yếu tố thuận lợi như sự thay đổi của khí hậu, người tiếp xúc với các yếu tố vật lý hóa học độc hại, làm việc trong môi trường bụi bẩn…

Viêm V.A cấp

Viêm V.A cấp là một bệnh hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Tỷ lệ trẻ bị viêm V.A chiếm một tỷ lệ cao từ 40 – 53% số trẻ đi khám bệnh tùy theo từng mùa, địa dư sinh sống, điều kiện sống và sinh hoạt.

Biểu hiện của viêm V.A cũng dễ nhận biết.

– Cha mẹ thường thấy con mình thở to hơn bình thường khi ngủ, kèm theo là chảy nước mũi, hơi thở hôi. Sau hai ba ngày trẻ bắt đầu sốt. Nhiệt độ dao động từ 38-40˚C. Trẻ mệt mỏi, quấy khóc, kém ăn, ăn hay nôn trớ. Cửa mũi có dịch chảy ra, lúc đầu dịch trong, nếu trẻ không được điều trị dịch sẽ chuyển dần thành màu vàng xanh. Ngạt mũi làm trẻ phải thở bằng mồm. Nếu còn bú mẹ sẽ thấy trẻ không bú được dài hơi, bú được một lúc lại phải dừng lại để thở. Trẻ bị ho, có thể có đờm do dịch xuất tiết từ mũi họng kích thích.

– Điều trị viêm V.A cấp:

Điều trị theo nguyên nhân.

+ Toàn thân

• Nếu viêm V.A do vi khuẩn:

Kháng sinh đường uống thông thường. Các vi khuẩn gây viêm V.A cấp thường bị tiêu diệt bởi nhóm ß-lactam…

Điều trị các triệu chứng: hạ sốt, giảm đau bằng paracetamol, chống xung huyết, chống phù nề bằng corticoid hoặc chống viêm (α choay)…

• Nếu do virus, sẽ chỉ điều trị cho trẻ các triệu chứng: hạ sốt, giảm xuất tiết và chống xung huyết mũi.

+ Tại chỗ: điều trị ngạt mũi và chảy mũi với các thuốc co mạch xylomethazoline 0,05%, chống viêm…

– Phòng bệnh trong viêm V.A cũng rất quan trọng: tránh cho trẻ dưới 5 tuổi đến những chỗ đông người như chợ, các lễ hội…vì khả năng miễn dịch ở lứa tuổi này chưa hoàn thiện nên dễ nhiễm bệnh. Giữ ấm cho trẻ khi thời tiết chuyển lạnh, tránh gió lùa lúc tắm, thường xuyên vệ sinh tay chân cho trẻ sạch sẽ…
Khám họng cho trẻ

Viêm V.A mạn tính

Viêm V. mạn tính hình thành do viêm V.A cấp không được điều trị đúng.

Viêm V.A mạn tính thường xuất hiện ở trẻ dưới 6 tuổi với các biểu hiện:

– Ngạt mũi thường xuyên, ngày càng tăng.

– Chảy dịch ra cửa mũi trước.

– Trẻ hay ho và sốt vặt, do mũi chảy xuống họng và mủ đọng ở hốc mũi.

– Trẻ biểu hiện ngủ không yên giấc, ngáy to, giật mình.

– Tai nghễnh ngãng và cũng dễ bị viêm.

– Cơ thể trẻ chậm phát triển so với lứa tuổi, kém nhanh nhẹn, ăn uống ít biết ngon. Người gầy hoặc béo bệu, nước da trắng bệch.

Tiến triển bệnh

Viêm V.A mạn tính không điều trị kịp thời, trẻ thiếu thở dẫn đến hiện tượng thiếu oxy mạn tính, hình thành bộ mặt V.A: da xanh, miệng há, môi trên bị kéo xếch lên để lộ răng cửa vẩu, răng hay mọc lệch, môi dưới dài, thõng, đôi mắt mở to, trẻ có vẻ ngây ngô.

Ngoài bộ mặt V.A, trẻ còn có những biến dạng ở thân mình: lồng ngực bị dẹt, hẹp bề ngang, lưng bị cong, vẹo hoặc gù, bụng ỏng, đít teo.

Về mặt tinh thần, những trẻ này thường không tập trung tư tưởng, lười biếng, buồn ngủ, trong lớp trẻ hay học kém do trẻ nghe kém nên không hiểu những lời giảng của giáo viên, không thấy hứng thú trong học tập.

Sự phát triển trí tuệ ở một trẻ bị viêm V.A cũng hạn chế do nghe kém và thở kém làm giảm lượng oxy cung cấp cho não trẻ.

Tiên lượng bệnh không nặng nề nếu trẻ được điều trị viêm V.A mạn tính trước khi để lại di chứng.

Viêm amiđan

Viêm amiđan là nhóm bệnh hay gặp, đứng hàng đầu trong những bệnh lý về họng. Bệnh tiến triển có thể cấp tính hay mạn tính. Viêm amiđan rất hay tái phát và có thể gây các biến chứng nguy hiểm.

Viêm amiđan cấp

Viêm amiđan cấp là viêm nhiễm của amiđan khẩu cái do virus hoặc vi khuẩn.

– Bệnh hay gặp ở trẻ lớn, trên 7 tuổi và người lớn. Tỷ lệ bị bệnh khoảng 10% dân số.

– Viêm amiđan cấp thường gặp do bệnh nhiễm trùng còn phổ biến ở nước ta.

– Viêm amiđan cấp không khó phát hiện, nhiều khi bản thân người bệnh tự phát hiện.

– Bệnh nhân bị bệnh thấy người mệt mỏi, kém ăn, cảm giác ớn lạnh. Sốt 39º-40˚C.

– Nuốt đau, rát họng là dấu hiệu mà bệnh nhân hay phàn nàn, đôi khi đau lan lên tai khi nuốt. Kèm theo có ho từng cơn do kích thích hoặc ho có đờm bởi dịch xuất tiết ở họng. Giọng nói có thể thay đổi, trở nên ồm ồm. Trẻ nhỏ thường thở khò khè, ngáy to. Hơi thở hôi.

– Khám họng: hai amiđan to, đỏ, ướt, có thể thấy các mạch máu nổi rõ hoặc các chấm mủ trắng ở các khe, có khi thành đám như giả mạc nhưng lấy ra dễ dàng, tan trong nước. Hạch góc hàm sưng to và đau.

– Những đợt viêm amiđan cấp diễn biến khoảng 7 ngày là khỏi. Nhưng nếu không được điều trị bệnh có thể lan xuống thanh quản, phế quản hoặc gây các biến chứng như áp xe quanh amiđan, viêm tai giữa, viêm cầu thận cấp, thấp tim, viêm khớp cấp.

– Điều trị kháng sinh nếu viêm amiđan cấp mủ.

– Điều trị triệu chứng: hạ sốt, giảm đau, giảm ho, chống phù nề và xung huyết. Nếu nghi ngờ viêm amiđan do nguyên nhân liên cầu ß tan huyết nhóm A, phải điều trị ngay bằng kháng sinh chống liên cầu như penniciline G và kéo dài trong 2 tuần.

Viêm amiđan mạn tính

– Bệnh nhân có nhiều đợt viêm cấp trong năm (trên 5 lần).

– Viêm amiđan mạn tính xuất hiện nếu viêm cấp không được điều trị đúng, kháng sinh không đủ liều, không đúng cách.

– Bệnh nhân hay ho húng hắng, hay đau rát họng, nuốt vướng như có dị vật, đau nhói lên tai khi nuốt, hơi thở hôi, ngủ ngáy, đôi khi giọng nói bị thay đổi.

– Khám thấy amiđan quá phát hoặc xơ teo, trên bề mặt amiđan có những chấm mủ như bã đậu. Vuốt dọc theo trụ trước của amiđan thấy có mủ trắng từ các hốc amiđan.

– Hạch góc hàm to, cứng, có khi đau.

Biến chứng của viêm amiđan và V.A

– Biến chứng tại chỗ: viêm tấy hoặc áp xe quanh amiđan.

– Biến chứng bộ phận hô hấp: viêm thanh quản, khí quản và phế quản

– Cơn khó thở đột ngột và kịch liệt về đêm, nhất là ở những trẻ có cân nặng trên mức bình thường, tổ chức lympho thường quá phát – nguy cơ co thắt nguy hiểm.

– Trên những trẻ có cơ địa bị hen, viêm V.A làm cho những cơn hen xuất hiện thường xuyên hơn và nặng hơn.

– Biến chứng viêm tai giữa cấp, mạn.

– Viêm amiđan, V.A mạn tính hay gây rối loạn tiêu hoá ở trẻ nhỏ.

– Viêm hạch: thường là viêm hạch trên nhiều vùng ở cổ, hạch nhỏ, không đau, di động dễ. Những hạch này có thể bị nhiễm trùng, đặc biệt là hạch Gillete gây áp xe thành sau họng ở trẻ dưới 2 tuổi.

– Biến chứng mắt: viêm màng tiếp hợp, viêm mí mắt, chảy nước mắt.

– Biến chứng toàn thân: viêm cầu thận, thấp tim, thấp khớp.

Theo sức khỏe đời sống

Xử lý trẻ tiêu chảy khi đi chơi xa

Rối loạn tiêu hóa là một cụm từ dùng để chỉ sự xuất hiện một số triệu chứng ở đường tiêu hóa như nôn, buồn nôn; đau bụng có khi âm ỉ, có khi từng cơn, có khi đau quặn; đi lỏng, phân lúc nhão, lúc rắn; bí trung tiện, táo bón…

Mùa hè đến là thời điểm các gia đình tổ chức các kì nghỉ hè, đi chơi, du lịch. Đây là thời điểm tốt để trẻ được giao lưu, khám phá thế giới bên ngoài. Sẽ thật không may nếu sau mỗi chuyến đi trẻ lại bị ốm hay bị rối loạn tiêu hóa đặc biệt là tiêu chảy.
Baby girl
Chị Thu Phương (Thái Thịnh – Hà Nội) tâm sự, hè năm ngoái gia đình chị có tổ chức cho cả nhà đi biển Sầm Sơn nghỉ hè. Cu Bin nhà chị (4 tuổi) thích lắm, lần đầu tiên được đi xa, cái gì cũng mới lạ. Nhưng ngay hôm đầu tiên thì cu Bin đã bị tiêu chảy nặng. Nguyên nhân là do buổi tối cả nhà đi ăn hải sản, đồ ăn vừa lạ vừa ngon nên cu Bin ăn nhiệt tình và hậu quả là suốt đêm Bin bị đau bụng đi ngoài. Thế là hôm sau cả nhà phải quay về Hà Nội gấp, mấy ngày sau dù đã uống thuốc cầm tiêu chảy, kháng sinh nhưng Bin vẫn bị dai dẳng, tuy với số lần ít hơn. Chị Phương lo nếu tình trạng này cứ kéo dài thì cu Bin sẽ bị tiêu chảy mạn tính, khó dứt và sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của Bin. Rất nhiều gia đình cũng giống như gia đình chị Phương gặp tình trạng trẻ bị rối loạn tiêu hóa sau mỗi chuyến đi do ăn thức ăn lạ, hoặc do giờ giấc ăn uống bị thay đổi.

Rối loạn tiêu hóa là một cụm từ dùng để chỉ sự xuất hiện một số triệu chứng ở đường tiêu hóa như nôn, buồn nôn; đau bụng có khi âm ỉ, có khi từng cơn, có khi đau quặn; đi lỏng, phân lúc nhão, lúc rắn; bí trung tiện, táo bón… kèm theo phân bị thay đổi cả về số lượng lẫn mùi, màu sắc và tính chất. Ở trẻ nhỏ, rối loạn tiêu hóa thường do ăn uống: ăn quá nhiều hay ăn thức ăn lạ, (đặc biệt hay gặp trong các chuyến đi du lịch); bị ngộ độc hay nhiễm khuẩn; dùng thuốc kháng sinh mà dùng không đúng liều lượng hoặc dùng kháng sinh không đúng chỉ định làm cho mất cân bằng hệ vi sinh vật ở đường ruột khiến trẻ bị loạn khuẩn ruột. Khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa làm cho sức đề kháng kém, trẻ biếng ăn, chán ăn dẫn đến suy dinh dưỡng.

Với trẻ bị rối loạn tiêu hóa dù với nguyên nhân nào đều cần có chế độ ăn uống và sinh hoạt cho trẻ hợp lý. Thức ăn phải cung cấp đủ 4 nhóm chất: cung cấp năng lượng (gạo, khoai, mì…), chất đạm (thịt, cá, trứng,..), chất béo (mỡ động vật, trứng, sữa và các loại hạt có dầu,…), vitamin và khoáng chất (rau xanh…), để tăng sức đề kháng cần cho trẻ ăn thêm nhiều hoa quả tươi. Đặc biệt khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa cần chế biến thức ăn dưới dạng dễ tiêu hóa hơn như cháo, súp, mì… Bổ sung các thực phẩm chứa các loại vi khuẩn có ích như sữa chua, váng sữa. Ngoài ra bổ sung cho trẻ các chế phẩm men vi sinh. Các vi khuẩn này có vai trò ức chế các vi khuẩn gây hại, ngăn tiết độc tố. Giúp cải thiện tình trạng rối loạn tiêu hóa và tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng cho cơ thể.

Báo Dân Trí

Nguy hiểm Trẻ tiểu ra máu vì dị ứng đạm trong sữa bò

 Cậu con trai 6 tháng tuổi liên tục đi ngoài ra máu, chị Tuyết đưa con đến bệnh viện khám, nhận được kết quả chẩn đoán bé dị ứng với đạm có trong thành phần của sữa.

Phụ huynh cho biết, lúc đầu khi thấy con đi tiêu ra máu, chị chỉ nghĩ bé bị kiết lỵ nên cho uống dung dịch bù nước và uống sữa để bù dinh dưỡng.
“Đến khi vào bệnh viện, tôi mới biết con mình bị dị ứng với protein có trong thành phần của loại sữa bò mà cháu đang uống”, chị Tuyết nói.
Theo lời khuyên của bác sĩ, chị Tuyết dừng cho con uống sữa bò và đổi sang sữa đậu nành. Tuy nhiên hiện tượng đi tiêu ra máu vẫn thi thoảng xảy ra.
Một trường hợp khác, bé Xuân 4 tháng tuổi ở Hóc Môn, TP HCM, cũng được đưa đến bệnh viện vì chứng tiêu ra máu. Theo hướng dẫn của bác sĩ, bé được ngừng uống sữa bò, từ đó hết bị đi ngoài ra máu.

tretieuramau1
Theo các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa nhi, hiện tượng dị ứng sữa bò không phải quá hiếm, nhất là đối với trẻ từ 1 đến 3 tuổi. Những thực phẩm dễ gây dị ứng nhất là trứng, lạc và sữa bò. Phần lớn trường hợp dị ứng với sữa bò sẽ khỏi hẳn, tuy nhiên khoảng 10% người sẽ phải sống cùng bệnh này suốt đời.
Nguyên nhân của hiện tượng dị ứng sữa chưa được làm rõ, nhưng được cho có thể là do yếu tố di truyền kết hợp với việc cho trẻ ăn sữa bò quá sớm. Triệu chứng thường thấy của dị ứng sữa bò ở trẻ sơ sinh là chứng viêm da, da nổi mẩn đỏ, nôn trớ, thở khò khè, có máu ở trong phân và chậm tăng cân. Nhiều bé có thể bị sốc phản vệ nặng, tím tái

Thạc sĩ – bác sĩ Nguyễn Diệu Vinh, Khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Nhi Đồng 2, cho biết, dị ứng với đạm sữa bò là tình trạng hệ miễn dịch trong cơ thể của trẻ phản ứng một cách bất thường những thành phần protein trong sữa
. Khi trẻ bị dị ứng phụ huynh thường được khuyên cho bé chuyển sang uống sữa đậu nành. Song lại có khá nhiều trẻ dị ứng sữa bò cũng bị dị ứng với các protein trong thành phần sữa đậu nành do sữa có thành phần đạm thủy phân.
“Nguyên tắc điều trị dị ứng sữa bò chủ yếu là tránh tác nhân gây dị ứng, do đó khi bắt đầu cho bé ăn dặm, phụ huynh có thể sử dụng một số thực phẩm như bột gạo, bột ngũ cốc, hoặc thực phẩm không chứa sữa như: kem, chocolate, pho mát, sữa chua”, bác sĩ Vinh nói.
Theo các bác sĩ Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, để tránh dị ứng và giúp trẻ phát triển tốt trong giai đoạn đầu đời, nên cho bé bú mẹ. “Sữa mẹ thường rất ít gây dị ứng cho trẻ. Hiện tượng dị ứng chỉ xảy ra do mẹ ăn trứng hoặc uống sữa. Người mẹ cần loại bỏ các thực phẩm này ra khỏi bữa ăn thì trẻ sẽ không bị nữa”, một bác sĩ nói.

theo internet