Tag Archives: tiêu chảy

Những trường hợp tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà

Đối với trẻ nhỏ, từ trước đến nay trứng gà luôn là một món ăn bổ dưỡng mà các mẹ vẫn cho bé ăn hàng ngày, thậm chí trứng gà còn được coi là một món ăn nhất-thiết-phải-có mỗi khi bé ốm sốt hay cảm gió. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học đã chứng mình điều ngược lại khiến một số mẹ phải giật mình: nếu cho con ăn không đúng lúc và đúng cách, mẹ có thể sẽ vô tình làm hại con. Hãy cùng  điểm ra những trường hợp mẹ tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà sau đây:

1. Bé dưới một tuổi
Trong rất nhiều tài liệu hướng dẫn ăn dặm hay ngay cả trong thực tiễn hàng ngày, trứng gà vẫn được liệt kê như là một thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng cho trẻ. Ngay cả phương pháp ăn dặm kiểu Nhật hiện đang thu hút sự chú ý của các mẹ cũng gợi ý món cháo trứng gà cho bé 7 tháng tuổi. Nhưng có một sự thật mẹ không hề hay biết, trứng gà và các sản phẩm làm từ trứng gà có thể gây ra nguy cơ dị ứng cao cho bé. Bé bị dị ứng trứng thường do phản ứng của hệ miễn dịch với các loại protein có trong trứng gà (nhất là lòng đỏ). Có một lượng nhỏ những chất hóa học trong trứng gà cũng khiến bé có cơ địa mẫn cảm xuất hiện dấu hiệu dị ứng. Thậm chí với một số bé quá nhạy cảm, làn da bé cũng nhanh chóng bị dị ứng ngay khi vừa tiếp xúc với mùi vị trứng. Vì những nguy cơ tiềm ẩn này, mẹ chớ dại cho con ăn trứng gà khi bé chưa đầy 1 tuổi.

nhung-truong-hop-tuyet-doi-khong-nen-cho-be-an-trung-ga

Không cho trẻ dưới 1 tuổi ăn cháo trứng

2. Bé vừa ốm dậy
Nếu các mẹ vẫn hay chế biến trứng cho con mỗi khi con bị cảm sốt, hãy suy nghĩ lại bởi có thể mẹ không biết hành động của mẹ có thể gây ra sai lầm tai hại đến thế nào. Thành phần chủ yếu của trứng gà gồm có anbumin và ovoglobumin, là protein hoàn toàn, được cơ thể hấp thu 99,7%, sau khi ăn vào sẽ tạo ra một nhiệt lượng đáng kể. Như vậy khi bé bị sốt mà còn ăn thêm trứng, nhiệt độ cơ thể sẽ càng tăng mạnh khiến bệnh của bé không những cải thiện mà còn trầm trọng thêm.

3. Bé bị cảm, sốt
Mẹ cũng nên thật cẩn thận khi nấu thực phẩm này cho con khi bé mới ốm dậy. Trên bề mặt vỏ trứng có chứa rất nhiều lỗ nhỏ li ti nên không khí và vi khuẩn rất dễ xâm nhập, thậm chí có thể nhiễm vi khuẩn salmonella trong lòng đỏ trứng. Khi bé mới khỏi ốm, sức đề kháng còn quá yếu nên mẹ không nên cho bé ăn trứng tươi, luộc chưa chín hay đập vào cháo nóng.

4. Bé bị tiêu chảy
Khi bé bị tiêu chảy, việc chuyển hoá các chất mỡ, đạm (có nhiều trong trứng gà) và đường bị rối loạn, trong khi trứng gà không dễ tiêu. Nếu không để đường ruột nghỉ ngơi, không những mẹ làm mất tác dụng bồi bổ mà còn làm cho bệnh của bé nặng thêm.

5. Bé có tiền sử tim mạch
Đối với những bé có các bệnh về tim mạch như tim bẩm sinh, hở van tim v.v, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi trong trứng có hàm lượng cholesterol cao dễ ảnh hưởng đến bệnh của trẻ.

nhung-truong-hop-tuyet-doi-khong-nen-cho-be-an-trung-ga1

6. Bé bị tiểu đường
Trẻ em bị đái tháo đường là một khái niệm mới lạ nhưng đã dần trở nên quen thuộc trong thời điểm hiện tại. VÌ chế độ ăn uống của trẻ không lành mạnh và chưa quá nhiều đồ ngọt nên rất nhiều trẻ em tiểu học hiện nay mắc căn bệnh này. Nếu bé của mẹ đang bị tiểu đường, ngoài các đồ ăn ngọt và tinh bột, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi thực phẩm này chứa nhiều chất gây hại cho bệnh tình của bé

7. Bé bị thừa cân, béo phì
Vì trong trứng chưa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa, một trong những thủ phạm của tình trạng thừa cân ở trẻ, nên mẹ có thể hạn chế tối đa việc chế biến trứng đối với những bé đang thừa cân. Thay vào đó, một chế độ ăn hợp lý bao gồm các loại rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin là những món ăn mẹ cần cung cấp cho bé mỗi ngày.

Phòng bệnh Rubella bẩm sinh

Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm do virut sởi gây ra, bệnh rất dễ lây và gây thành dịch. Mọi trẻ em chưa có miễn dịch phòng bệnh sởi đều có thể mắc bệnh. Bệnh có thể gây nên các biến chứng như viêm phổi, viêm não, tiêu chảy, suy dinh dưỡng, mù loà thậm chí có thể tử vong. Qua nhiều năm triển khai tiêm chủng vắc-xin sởi trong tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên, bệnh sởi vẫn có nguy cơ bùng phát thành dịch nếu không duy trì tỷ lệ chủng cao trong cộng đồng.

Bệnh Rubella là bệnh bệnh truyền nhiễm do virut Rubella gây ra. Bệnh Rubella ở trẻ em thường nhẹ, ít biến chứng. Tuy nhiên, nếu phụ nữ nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây ra sẩy thai, thai chết lưu, trẻ sinh ra có thể mắc hội chứng Rubella bẩm sinh (bao gồm các dị tật tim, đục thuỷ tinh thể, điếc bẩm sinh, chậm phát triển… thậm chí đa dị tật). Trẻ bị hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm trên toàn cầu có khoảng 110.000 trẻ em sinh ra mắc hội chứng Rubella bẩm sinh. Ở Việt Nam, từ năm 2004 – 2011 liên tục ghi nhận các vụ dịch Rubella với tổng số trên 3.500 trường hợp. Trong số các trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh có tới trên 90% trẻ mắc các dị tật phức tạp ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ như các dị tật về tim, 45% trẻ bị đục thủy tinh thể, 37 % lách to, 15% vàng da nhân, 12% trẻ chậm phát triển…

Tiêm vắc-xin sởi - Rubella.

Tiêm vắc-xin sởi – Rubella.

Bệnh sởi và Rubella không có thuốc điều trị đặc hiệu. Tiêm vắc-xin là cách phòng bệnh chủ động và hiệu quả

Với sự hỗ trợ của Liên minh Toàn cầu về vắc-xin và tiêm chủng (GAVI), được sự đồng ý của Chính phủ, trong năm 2014 – 2015 tất cả trẻ từ 1 tuổi đến 14 tuổi trong toàn quốc được tiêm 1 mũi vắc-xin sởi – Rubella miễn phí trong chiến dịch tại các điểm tiêm chủng trong trường học hoặc trạm y tế xã/ phường.

Chiến dịch này sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm gánh nặng bệnh sởi, Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh trong cộng đồng và hướng tới mục tiêu Loại trừ bệnh sởi trong tương lai.
Vắc-xin sởi – Rubella là vắc-xin có tính an toàn cao. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn tiêm chủng trước khi tiêm các bà mẹ hãy cho trẻ ăn no và chủ động thông báo với cán bộ y tế tiêm chủng về tình trạng sức khỏe của con mình nếu trẻ đang bị sốt, đang mắc bất cứ bệnh nào hoặc đã bị phản ứng với lần tiêm chủng trước.

Tiêm vắc-xin sởi-Rubella là cách tốt nhất để phòng bệnh sởi, Rubella.
“Đừng bỏ lỡ cơ hội được tiêm vắc-xin sởi – Rubella trong chiến dịch dành cho trẻ em từ 1 – 14 tuổi trong toàn quốc”.

Nguồn sức khỏe đời sống

Cần lưu ý khi dùng thuốc dạng sủi

Không phải bệnh nào cũng uống

Đối với những người già, trẻ nhỏ hay những đối tượng khó uống thuốc, thì những loại thuốc dạng viên sủi như dạng cứu cánh dễ uống dễ sử dụng và rất tiện lợi.

Ưu điểm của thuốc dạng viên sủi là dễ uống, tác dụng nhanh, tiện dụng vì trước khi uống viên sủi được chuyển thành dạng lỏng mang lại hiệu quả tức thì. Trong các thuốc dạng viên sủi thường có mùi hương dễ chịu nên người bệnh mọi lứa tuổi đều thích uống.

thuoc-sui

Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc dạng viên sủi, nhiều người không biết cách hoặc sử dụng viên sủi tùy tiện như uống quá nhiều trong ngày, uống không đúng thời điểm, hoặc pha viên sủi với một số thứ khác linh tinh… Những người đang có những bệnh mà không thể dùng viên sủi này, nhưng vẫn uống dẫn đến việc không những không khỏe mà còn nguy cơ sinh bệnh như anh Hòa và chị Nga đã không tìm hiểu kỹ hoặc tư vấn của những người có chuyên môn để đến khi “tiền mất tật mang” mới ngã ngửa người ra.

Nguyên tắc sử dụng thuốc dạng sủi

Thuốc có tác dụng nhanh, nhưng thuốc có thể gây hại cho sức khỏe nếu lạm dụng hoặc sử dụng không đúng cách.

Ngoài ra, thuốc dạng sủi phải giữ nguyên vẹn viên, phải bảo quản thật tốt để tránh hút ẩm. Bạn không nên dùng thuốc dạng sủi khi đã bị ẩm, vỏ thiếc đã bị thủng. Nên để thuốc ở xa tầm tay của trẻ em.

Bạn chỉ nên uống thuốc sau khi thuốc đã hòa tan hoàn toàn vào một lượng nước sôi để nguội theo hướng dẫn. Đặc biệt, bạn không được bẻ thuốc sủi hoặc để nguyên cho vào miệng và uống. Liều thuốc được chia đều cách nhau ít nhất 4 giờ, người suy thận mỗi lần uống cách nhau ít nhất 8 giờ.
Thuốc dạng sủi có thể gây đầy hơi, táo bón hoặc tiêu chảy, vì thế không nên dùng viên thuốc sủi sau khi đã uống các loại nước giải khát có gas.

Đối với các loại thuốc sủi giảm đau hạ sốt không dùng chung với các loại thuốc khác có chứa paracetamol vì sẽ gây quá liều điều trị.

Những thuốc sủi Efferalgan dành cho người lớn và trẻ em cân nặng trên 15kg, được chỉ định dùng trong các trường hợp đau vừa và đau nặng khi dùng các thuốc khác không kết quả. Những người có tiền đau dạ dày khi dùng loại thuốc giảm đau này cần phải có hướng dẫn cụ thể của bác sĩ, nếu chúng ta lạm dụng quá nhiều vào thuốc dạng sủi giảm đau này càng khiến bệnh dạ day của bạn trở nên tồi tệ.

Đặc biệt, đối những người bị cao huyết áp, người suy thận và những người kiêng ăn muối tuyệt đối không dùng thuốc dạng sủi bọt nói chung. Bởi vì, bất cứ viên sủi bọt nào cũng chứa natri (muối). Vì thế nếu ta dùng nhiều thuốc dạng viêm sủi sàng làm cho bệnh trở nên trầm trọng hợn.

Ngoài ra, có một số thuốc dạng sủi bổ sung vitamin C và canxi, có chứa thành phần muối khoáng canxi thì những người bị bệnh canxi cao trong máu và người sỏi thận cần hết sức lưu ý.

Tốt nhất khi sử dụng các dạng thuốc viên sủi bất kể là thuốc bổ, thuốc điều trị hay các loại thuốc dạng vitamin cũng cần có sự hướng dẫn của bác sĩ để tránh những tác dụng phụ có thể xảy ra khi sử dụng.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bài thuốc chữa đau bụng do lạnh

Rau muối thường mọc ở các bãi sông, ven đường, ruộng và nương rẫy bỏ hoang thường được bà con miền núi, ven biển sử dụng làm rau nấu canh ăn có tác dụng thanh nhiệt. Cây rau muối đã có vị mặn nên khi chế biến nên không cần bỏ muối.

Loài cây thảo mà mặt lá có những điểm trắng rất nhỏ như giọt sương muối nên được gọi là cây rau muối. Thân cây nhẵn, phân nhánh nhiều. Lá mọc so le, có cuống ngắn, các lá phía dưới lớn hơn, có hình thoi, có răng lượn sóng ở mép, lá có màu lục trắng và có phấn (do có lông mọng nước, làm cho mặt lá như rắc bột, rắc muối). Hoa tập hợp thành chùm, bao hoa trắng không cuống, nhuỵ có 2 đầu nhuỵ. Quả bế; hạt óng ánh, màu đen. Mùa ra hoa khoảng tháng 2 – 6, có quả vào mùa thu.

Toàn cây được sử dụng làm thuốc, thân cây có lá chứa 87,7% nước, 5,3% protein, 1,2% glucid và khoáng toàn phần 2,2%. Ngoài ra cây có các muối khoáng như: calcium, phospho, vitamin C…
Theo Đông y, rau muối có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, sát khuẩn, chữa tả lỵ, chống ngứa. Ngoài ra rau có tác dụng nhuận tràng và trừ giun, lá có tác dụng chống viêm, an thần, nhuận tràng nhẹ, trị kiết lỵ, tiêu chảy…

bai-thuoc-chua-dau-bung-do-lanh

Một số bài thuốc thường dùng

Bài 1: Chữa đau bụng do lạnh: Rễ cây rau muối 20g, rửa sạch. Cho 500ml nước sắc còn 150ml nước, chia 2 lần uống trong ngày. Uống lúc còn ấm, dùng liền 5 ngày.

Bài 2: Chữa cước khí đầu gối, bàn chân đau nhức: Lá rau muối 20g, cho 500ml nước sắc còn 150ml nước, chia 3 lần uống nóng trong ngày, cách nhau mỗi lần 3 giờ. Dùng 5 – 10 ngày. Kết hợp với ngâm chân. Lấy cả cây rau muối (1 nắm to), rửa sạch cho vào nồi đổ ngập nước, đun sôi khoảng 15 phút. Để nước ấm (tránh bị nóng gây bỏng) ngâm chân 15 phút, ngâm cho nước đến nguội (rồi chế thêm nước cho nóng). Sau đó, lau khô chân và xoa bóp 2 bàn chân, đặc biệt gan bàn chân (xoa bóp 5 phút). Làm như vậy nhiều lần sẽ rất tốt.

Bài 3: Giảm đau răng, viêm chân răng: Lấy 20g lá rau muối, rửa sạch, cho 400ml nước, sắc đặc còn 100ml nước, ngậm và súc miệng thường xuyên sẽ hiệu nghiệm (sau mỗi lần ngậm hay súc miệng không được nuốt).

Lưu ý: Để bài thuốc có hiệu quả và phù hợp với cơ địa cần được các nhà chuyên môn bắt mạch tư vấn

Theo sức khỏe đời sống

Dịch sởi nặng nhất trong hàng chục năm

Ngày 4/4, cùng với sự tham gia của đại diện Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện Saint Paul, Bệnh viện Sản nhi Ninh Bình, Bộ Y tế tiếp tục làm việc với Bệnh viện Nhi Trung ương về vấn đề quá tải bệnh nhân nặng và khó, trong đó có rất nhiều người bị sởi. Bệnh này xảy ra trùng với thời điểm của các bệnh hô hấp do chuyển mùa đang có xu hướng tăng nên tình trạng quá tải càng thêm trầm trọng.

Theo thống kê của Bệnh viện Nhi Trung ương, trong tháng 3 có tới 345 bệnh nhi nhập viện vì bệnh sởi, nhiều nhất là trẻ mắc viêm phế quản phổi. Tiến sĩ Phạm Nhật An cho biết, trước đây ông từng chứng kiến trẻ mắc sởi bị hoại tử, mù lòa, tiêu chảy, suy sinh dưỡng… nhưng năm nay sởi có diễn biến rất đặc biệt, biến chứng viêm phổi rất nặng nề. Dù đã điều trị tăng cường miễn dịch, dùng kháng sinh ngay từ đầu nhưng tình trạng bệnh của trẻ vẫn rất nặng

dich-soi

“Số trẻ bệnh nặng nhiều nên bệnh viện rất đông. Chưa bao giờ Bệnh viện lại dành riêng khoa lây chỉ để tiếp nhận các trẻ mắc sởi”, tiến sĩ An nhấn mạnh.

Còn theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), đặc điểm khác biệt của dịch sởi năm nay là có nhiều trẻ dưới 9 tháng tuổi – độ tuổi tiêm phòng mũi đầu tiên, thậm chí có bé 4 ngày tuổi đã bị. Khoa của ông tiếp nhận đến 3 bé có diễn biến bệnh đặc biệt (một tử vong) do virus sởi tấn công trực tiếp vào phổi. Trong khi với những ca sởi thông thường, sau khi ban bay, sức đề kháng giảm, trẻ mới bị biến chứng do bội nhiễm vi khuẩn khác (không phải do virus sởi).

Để giảm sự lây lan của dịch sởi, ông Mai Trọng Khoa – Phó Cục trưởng quản lý Khám chữa bệnh Bộ Y tế – đề nghị Bệnh viện Nhi Trung ương làm tốt công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện, phòng lây truyền sởi như phòng cúm. Nhân viên y tế có thể không bị lây nhiễm bệnh nhưng với trẻ dưới 9 tháng tuổi, miễn dịch kém thì nguy cơ này rất lớn.

Các chuyên gia khuyến cáo, cha mẹ nên đưa trẻ đi tiêm phòng để vừa phòng bệnh cho trẻ vừa tạo miễn dịch bền vững để khi thế hệ này trưởng thành, đến tuổi sinh đẻ có đủ miễn dịch truyền cho con. Đồng thời, không phải trường hợp nào mắc sởi cũng cần cho vào bệnh viện, nếu bị nhẹ có thể chữa ở nhà sẽ an toàn hơn. Tương tự, khi trẻ mắc bệnh hô hấp thông thường nên để trẻ chữa ở tuyến dưới vì đã có phác đồ điều trị chung. Thực tế có trẻ viêm phế quản phổi nằm viện điều trị 5 ngày, sau đó lại bị lây sởi và bệnh diễn biến nặng hơn.

Nguồn đọc báo

Bệnh nhiễm khuẩn Helicobacter pylori

Nguyên nhân

Helicobacter pylori lây chủ yếu qua đường ăn uống. Helicobacter pylori có thể lây qua nước bọt, phân, dịch tiêu hóa, trong những gia đình có thói quen ăn uống chung…Sự lây nhiễm có thể xảy ra khi dùng thức ăn, nước uống không sạch có chứa vi khuẩn Helicobacter pylori, đặc biệt là khi nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh như nước sông, hồ v..v và điều này cũng lý giải tại sao ở các quốc gia đang phát triển, khi mà điều kiện vệ sinh môi trường còn thấp, thì tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori rất cao. Cụ thể ở Việt Nam tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori không dưới 70%.

Sau khi xâm nhập cơ thể, Helicobacter pylori sẽ chui vào lớp nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày, tại đây chúng tiết ra những chất làm kích thích dạ dày tiết nhiều acid hơn. Không những thế chúng còn làm suy yếu lớp nhầy bảo vệ và tiết ra một số độc tố làm tổn thương các tế bào nằm bên dưới lớp nhầy. Do đó niêm mạc dễ dàng bị ăn mòn bởi chất acid có trong dịch tiêu hóa của dạ dày, gây ra viêm loét dạ dày hay tá tràng. Tất cả điều này gây ra những triệu chứng đau, ợ chua, cồn cào, nóng rát sau xương ức… và các biến chứng khác. Ở một số bệnh nhân, nhiễm Helicobacter pylori có thể gây ra sự thay đổi cấu trúc bất thường của tế bào, dẫn đến ung thư.

Heli

Triệu chứng
– Cồn cào, nóng rát, đau quặn vùng trên rốn xuất hiện vài giờ sau khi ăn
hay vào nửa đêm
– Đau, khó chịu vùng trên rốn và đau nhiều hơn sau khi ăn
– Buồn ói hay ói
– Ợ hơi, ợ chua, ợ nóng, cảm giác đầy bụng dù ăn ít
– Chậm tiêu, khó tiêu, không đói
– Rối loạn tiêu hóa không rõ nguyên nhân
Những triệu chứng trên có thể là do bạn đã nhiễm một loại vi khuẩn có tên là: Helicobacter pylori

Điều trị

Điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng có nhiễm Helicobacter pylori rất khó khăn, rất dễ đề kháng hay tái phát do vậy cần phải được bác sĩ chuyên khoa hướng dẫn. Thông thường bác sĩ sẽ cho bạn sử dụng phác đồ có ít nhất 3 thứ thuốc điều trị phối hợp trong thời gian từ 7 đến 14 ngày tùy từng trường hợp. Gồm:
– Kháng sinh chủ lực : Clarithromycin
– Kháng sinh hỗ trợ Amoxicillin hay Metronidazol
– Thuốc có tác dụng ức chế tiết acid mạnh để làm tăng hiệu quả diệt khuẩn
của kháng sinh: Omeprazole, Esomeprazol

Ngoài ra, một số phác đồ còn phối hợp thêm Bismusth Citrat.
Nếu bạn uống đúng và đủ liều thuốc thì phác đồ trên có khả năng diệt sạch vi khuẩn Helicobacter pylori đến hơn 90%

Bạn không được tự sửa đổi liều thuốc, thay thuốc hay tự ý ngưng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ điều trị. Bởi vì nếu sử dụng thuốc không đúng và không đủ liều thì vi khuẩn Helicobacter pylori vẫn chưa được tiêu diệt sạch và khả năng tái phát bệnh cao, có nghĩa là bạn sẽ không khỏi bệnh. Hơn nữa, những lần tái phát sau vi khuẩn sẽ rất dễ lờn thuốc, làm cho điều trị sẽ trở nên khó khăn và tốn kém hơn.

Tuy nhiên, khi sử dụng phác đồ điều trị Helicobacter pylori bạn cũng có thể gặp một số những khó chịu như cảm giác đắng miệng, đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi… song những triệu chứng này sẽ hết sau khi ngưng thuốc.

Phòng tái phát

Vì vi khuẩn lây qua đường tiêu hóa. Vì vậy để hạn chế tái nhiễm nên sử dụng nguồn nước sạch, tuân thủ những nguyên tắc vệ sinh trong ăn uống như ăn chín, uống sôi, rửa tay trước khi ăn, không dùng chung ly, chén… đối với trẻ em, không nên dùng miệng thổi thức ăn còn nóng, nhai mớm… vì nước bọt sẽ văng vào thức ăn làm lây bệnh cho bé.

Trầm cảm ở trẻ nhỏ

Thiếu sự chăm sóc của người thân, đặc biệt là mẹ, trẻ nhỏ dưới 3 tuổi dễ mắc bệnh “trầm cảm vắng mẹ”, ảnh hưởng đến phát triển tinh thần và thể chất của trẻ

Do chồng công tác trong ngành hàng hải thường xuyên vắng nhà, bản thân cũng phải đi làm nên chị Nguyễn T.H.T (quận 5 – TPHCM) buộc phải để người vú nuôi đảm đương hầu hết việc chăm sóc con gái T.H.Nh từ lúc 4 tháng tuổi. Mỗi ngày, chị ra khỏi nhà từ sáng sớm khi con còn ngủ, đến tối mới về và thời gian dành cho con cũng hạn hẹp bởi nhiều đêm chị cũng bận rộn với công việc.

Sự cô đơn của con trẻ

tram-cam-o-tre-nho
Khi bé Nh. được hơn 1 tuổi, công việc thư thả hơn, có thời gian chơi với con, chị lại nhận ra dường như cháu bé cũng không thích chơi với mẹ mà chỉ loay hoay một mình với đồ chơi. Nh. thờ ơ với mọi nỗ lực giao tiếp của mẹ, cứ nhìn sang chỗ khác mỗi khi chị chuyện trò, nói chuyện với con. Qua sách vở, chị T. thấy con có những dấu hiệu hay gặp ở trẻ tự kỷ nên đưa đi khám. Rất may, Nh. không bị tự kỷ, cháu chỉ rơi vào trạng thái trầm cảm nhẹ vì gần một năm trời thiếu vòng tay mẹ.

“Khi ở trong bụng mẹ, đứa bé với mẹ là một. Khi ra đời, trẻ cần được cảm nhận hơi ấm, mùi của mẹ. Tuy nhiên ngày nay, người mẹ thường tham gia vào công việc xã hội chứ không ở nhà chăm con như những thế hệ trước. Đa phần sau 4 tháng bà mẹ nghỉ thai sản, đứa bé đã phải xa mẹ và thường được giao cho bà, người thân trong gia đình hay người giữ trẻ chăm sóc. Thậm chí có nhiều phụ nữ phải đi làm sớm hơn. Nếu công việc của mẹ quá bận rộn khiến bé cảm thấy thiếu hơi ấm, tình thương, sự vuốt ve của mẹ, không được bú mẹ… rất có thể bé sẽ bắt đầu tự cô lập mình và có những dấu hiệu xa cách với mẹ” – BS Phạm Ngọc Thanh, cố vấn Khoa Tâm lý Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 1, phân tích.

Trong trầm cảm ở trẻ em nói chung, sự thiếu vắng mẹ trong những năm tháng đầu đời cũng có thể dẫn đến một dạng trầm cảm đặc trưng ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi – “trầm cảm vắng mẹ”. Trẻ mắc bệnh này có những biểu hiện khá giống với bệnh tự kỷ: không nhìn mẹ, phớt lờ nỗ lực giao tiếp của mẹ; không chịu bú, bú vào là ói hoặc các dạng rối loạn ăn uống khác; khó ngủ, hay khóc… BS Thanh lý giải: “Khi vắng mẹ, ban đầu trẻ sẽ cố gắng tìm cách để được gần mẹ, kêu gọi sự chú ý của mẹ. Nhưng nếu làm mãi không được, trẻ dần cô lập mình và “không thèm” mẹ nữa rồi rơi vào trạng thái trầm cảm. “Trầm cảm vắng mẹ” ở trẻ nhỏ có thể kéo dài đến 3 tuổi, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ về thể chất lẫn tinh thần”.

Trầm cảm ở trẻ em có thể bám theo trẻ cho đến tuổi trưởng thành và có thể hình thành từ những bất ổn tinh thần ở giai đoạn sơ sinh đối với trẻ không được gần gũi mẹ. BS Phạm Văn Trụ, Phó Giám đốc BV Tâm thần TPHCM, cho biết: “Trẻ ở giai đoạn sơ sinh đã cần có sự tiếp xúc với người thân, đặc biệt là mẹ. Nếu quan sát một đứa trẻ sơ sinh vừa mở mắt, chúng ta sẽ nhận ra khi trẻ nhìn thấy người đầu tiên – thường là mẹ – trẻ sẽ chúm chím cười. Khi cảm nhận được khuôn mặt người mẹ trong một thời gian dài, trạng thái tâm thần của trẻ sẽ phát triển ổn định nhất”.

Trẻ cần môi trường ổn định
BS Thanh cho biết một số trẻ em lại bắt đầu bị trầm cảm ở tuổi đi nhà trẻ – khoảng 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi. Thiếu mẹ, bị gửi đến môi trường lạ, nhiều trẻ không đủ khả năng thích nghi và bị stress. Cha mẹ thấy con có biểu hiện lạ, nghĩ rằng nhà trẻ ấy không phù hợp, trẻ bị đối xử không tốt, bị bạn bè bắt nạt… lại vội vàng tìm nhà trẻ khác. Càng bị thay đổi về môi trường, trẻ càng stress và lâu ngày sẽ trầm cảm. Điều này cũng khiến trẻ bị ảnh hưởng về thể chất, giảm sức đề kháng, dễ bị ho, sốt, tiêu chảy… Gia đình thấy bé bệnh, để bé ở nhà chăm sóc. Được gần mẹ, người thân, trẻ tự dưng khỏi bệnh nhưng khi cha mẹ gửi nhà trẻ trở lại thì trẻ lại bị… bệnh tiếp.

“Trẻ bị trầm cảm thường dễ cáu gắt, khóc, từ chối mẹ sau một thời gian vô vọng đòi mẹ, thu mình vào thế giới riêng. Nhiều trẻ sẽ có xu hướng gắn bó với người nuôi dưỡng – có thể là người thân nào đó hay người giúp việc. Người nuôi dưỡng này nếu bị thay đổi nhiều lần cũng dễ ảnh hưởng đến tinh thần của trẻ” – BS Thanh lưu ý.

Nguồn báo người lao động

Biểu hiện của ngộ độc thức ăn

Dấu hiệu ngộ độc thức ăn – Tất cả các loại thực phẩm tự nhiên chứa một lượng nhỏ vi khuẩn, xử lý thực phẩm không tốt, nấu ăn không đúng hoặc lưu trữ không đảm bảo có thể dẫn đến vi khuẩn nhân lên với số lượng đủ lớn để gây bệnh…

dau-hieu-ngo-doc-thuc-an

Tất cả các loại thực phẩm tự nhiên chứa một lượng nhỏ vi khuẩn. Nhưng xử lý thực phẩm không tốt, nấu ăn không đúng cách hoặc lưu trữ không đảm bảo có thể dẫn đến vi khuẩn nhân lên với số lượng đủ lớn để gây bệnh. Ký sinh trùng, vi rút, chất độc và hóa chất cũng có thể làm ô nhiễm thực phẩm và gây ra bệnh tật.

Biểu hiện thông thường bao gồm

Tiêu chảy.
Buồn nôn.
Đau bụng.
Nôn (đôi khi).
Mất nước (đôi khi).
Với mất nước đáng kể, có thể cảm thấy
Choáng hoặc ngất xỉu, đặc biệt là tư thế đứng.
Nhịp tim nhanh.
Cho dù bị bệnh sau khi ăn thực phẩm bị ô nhiễm, tình trạng bệnh phụ thuộc vào cơ thể, lượng ăn vào, độ tuổi và sức khỏe.

Nhóm nguy cơ cao bao gồm
Người cao tuổi. Khi có tuổi, hệ miễn dịch không thể đáp ứng một cách nhanh chóng và một cách hiệu quả với các sinh vật truyền nhiễm như người trẻ hơn.
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Hệ thống miễn dịch chưa phát triển đầy đủ.
Người có bệnh mãn tính. Có một tình trạng mãn tính như bệnh tiểu đường hoặc AIDS, hoặc điều trị hóa trị hoặc xạ trị liệu ung thư làm giảm phản ứng miễn dịch.
Nếu bị ngộ độc thức ăn

Nghỉ ngơi và uống nhiều chất lỏng.
Không sử dụng thuốc chống tiêu chảy, vì có thể làm chậm việc loại bỏ vi khuẩn khỏi hệ thống tiêu hóa.
Ngộ độc thực phẩm sẽ cải thiện trong vòng 48 giờ. Gọi bác sĩ nếu cảm thấy ốm dài hơn hai hoặc ba ngày hoặc nếu máu xuất hiện trong phân.
Gọi trợ giúp khẩn cấp y tế nếu
Có triệu chứng trầm trọng, chẳng hạn như tiêu chảy lỏng mà lẫn máu trong vòng 24 giờ.

Nhóm nguy cơ cao.
Ngộ độc thực phẩm có khả năng gây tử vong là kết quả từ một độc tố hình thành bởi các bào tử nhất định trong thực phẩm. Ngộ độc độc tố thường được tìm thấy trong thực phẩm đóng lon, đặc biệt là đậu xanh và cà chua. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ngộ độc thường bắt đầu 12 – 36 giờ sau khi ăn thức ăn bị ô nhiễm và có thể bao gồm đau đầu, mờ mắt, yếu cơ và cuối cùng là liệt. Một số người cũng có buồn nôn và nôn, táo bón, bí tiểu, khó thở và khô miệng.

Chăm sóc con trong thời dịch sởi

Khi trẻ mắc bệnh sởi, nếu được mẹ lưu ý phát hiện sớm sẽ không có gì đáng lo lại. Tuy nhiên, nếu để lâu sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong.

Sởi là một bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao do virus gây ra, bệnh chủ yếu gặp ở trẻ em. Khi trẻ mắc bệnh sởi, nếu được mẹ lưu ý phát hiện sớm sẽ không có gì đáng lo lại. Tuy nhiên, nếu để lâu sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong. Vì vậy, điều mình muốn chia sẻ trước tiên với các bà mẹ, đó là hãy nắm rõ những biểu hiện của trẻ khi lên sởi.

benh-soi

Trẻ bị sởi cần được bổ sung nhiều nước

Trẻ lên sởi thường có biểu hiện:

– Thân nhiệt tăng cao, đau mắt (viêm kết mạc) và chảy nước mũi là những dấu hiệu đầu tiên.

– Xuất hiện những đốm trắng nhỏ trong miệng một ngày hoặc kéo dài vài ngày.

– Ho khan dữ dội.

– Chán ăn, bỏ ăn.

– Tiêu chảy hoặc ói mửa.

– Da phát ban. Trên da xuất hiện những vết mẩn đỏ từ 1 đến 2 ngày trước khi trẻ cảm thấy mệt mỏi và ốm. Trẻ có thể bị sốt cao khi các nốt phát ban xuất hiện. Phát ban thường bắt đầu ở mặt và đầu, sau đó có thể lan rộng ra ngực, lưng, bụng, tay, chân và bàn chân. Các vết mẩn trên da sẽ tự bay mất sau từ 5 – 8 ngày, tiếp đó là hiện tượng bong da.

Khi trẻ bị lên sởi, mẹ cần lưu ý những “Nguyên tắc vàng” sau khi chăm sóc con:

– Cho con uống nhiều nước: Khi bị sởi, cơ thể trẻ rất dễ bị mất nước do nôn, tiêu chảy và đi tiểu nhiều vì vậy cần phải được bù nước.Mẹ hãy cho bé uống từ 6 – 8 cốc nước mỗi ngày để giảm thiểu tình trạng mất nước của cơ thể.

– Sử dụng các loại thuốc hạ sốt theo chỉ định: Paracetamol và ibuprofen là hai loại thuốc hạ sốt cơ bản và có tác dụng tốt để giảm bớt đau nhức và hạ sốt khi con bị lên sởi.

– KHÔNG dùng kháng sinh: Thuốc kháng sinh không tiêu diệt được virus bệnh sởi mà thậm chí còn có thể khiến bệnh ngày càng trầm trọng hơn.

– Bổ sung vitamin A: Vitamin A đã được chứng mình giúp ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng khi con lên sởi. Mẹ nên lưu ý cho bé ăn các loại thực phẩm giàu vitamin A

– Tạo độ ẩm không khí: Nên bằng cách này hay cách khác làm tăng độ ẩm không khí trong phòng của trẻ. Điều này sẽ giúp các chất nhầy ở cổ, mũi lỏng ra, làm bé dễ thở hơn, làm dịu những cơn ho.

– Giữ cho mũi của trẻ luôn sạch và “thông thoáng”: Mũi của trẻ nên được giữ sạch, không có gỉ mũi nhất là khi bú mẹ hay bú bình để trẻ dễ thở hơn. Lau mũi sạch trước khi đi ngủ.

– Tránh để mắt trẻ tiếp xúc với ánh sáng: Trẻ bị lên sởi thường rất nhạy cảm với ánh sáng, nhất là khi mắt đang bị đau nhức và ra ghèn gỉ. Mẹ nên dùng kèo rèm cửa để chắn sáng và cho bé ở trong phòng với ánh sáng yếu những vẫn đảm bảo thông thoáng.

– Kiêng gió kiêng nước những vẫn phải giữ vệ sinh: Trẻ bị sởi thường được khuyên kiêng gió kiêng nước. Vậy nhưng mẹ vẫn phải lưu ý lau nhanh người cho con bằng nước ấm đê giữ vệ sinh và thấm mồ hôi cho con.

Để phòng tránh bị lây sởi, mẹ đừng quên:

Tiêm vaccine: Tiêm vaccine là cách tốt nhất để giúp bé tránh được bệnh sởi. Mẹ nên lưu ý tiêm cho bé đủ 2 mũi sởi vào tháng 9 -11 và tháng thứ 15-18. Sau khi trẻ được tiêm đủ 2 mũi vắc xin theo lịch tiêm chủng hoặc sau khi trẻ mắc sởi thì trẻ sẽ có miễn dịch có thể bền vững suốt đời.

Hạn chế đưa trẻ đến những nơi đông người, dễ tiếp xúc với nguồn bệnh. Vệ sinh cá nhân cho bé cẩn thận mỗi khi ra ngoài và tiệt trùng đồ chơi trẻ em, dụng cụ ăn uống của con sạch sẽ cũng là điều chị em nên lưu ý.

Theo khám phá

Tiêu chảy phân mỡ

Bệnh tiêu chảy phân mỡ là gì?

Bệnh tiêu chảy phân mỡ hay bệnh ruột nhạy cảm gluten là tình trạng phản ứng miễn dịch quá mức với gluten trong thức ăn. Gluten là một loại protein có trong lúa mì, đại mạch, lúa mạch đen, một số người bị mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ còn phản ứng với cả yến mạch. Điều trị bằng cách loại khỏi gluten ra khỏi chế độ ăn. Bệnh có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng hơn như loãng xương, vô sinh và ung thư ruột nếu không điều trị. Các triệu chứng thay đổi tùy người nhưng có thể bao gồm mệt mỏi, thiếu máu, tiêu chảy, bụng ấm ách khó chịu, sụt cân, nôn và loét miệng. Bệnh ở trẻ em có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và tăng trưởng của trẻ.

Không dung nạp gluten gây phản ứng viêm làm tổn thương ruột. Các vi nhung mao trong lòng ruột trở nên bị viêm và dẹt lại (teo nhung mao) làm giảm bề mặt hấp thu các chất dinh dưỡng từ thức ăn. Khi đó cơ thể không thể hấp thu tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết từ thức ăn. Vì thiếu các chất dinh dưỡng nên những bệnh nhân mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ không được chẩn đoán có thể có rất nhiều các biểu hiện dạ dày ruột và có thể bị thiều các chất dinh dưỡng.

tieu-chay-phan-mo1

Các biểu hiện của tiêu chảy phân mỡ

Các triệu chứng thay đổi từ nhẹ đến nặng, bao gồm: đầy bụng, tiêu chảy, buồn nôn, mệt mỏi, táo bón, loét miệng, đau đầu, sụt cân, rụng tóc, các vấn đề về da, tầm vóc thấp, trầm cảm, vô sinh, sẩy thai nhiều lần và đau xương khớp. Một số triệu chứng có thể lẫn với các biểu hiện của hôi chứng ruột kích thích hoặc không dung nạp lúa mì trong khi các triệu chứng khác lại được cho là do stress hoặc quá trình lão hóa.

Nên làm gì khi nghi ngờ mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ

Nếu bạn có các biểu hiện trên có thể bạn bị tiêu chảy phân mỡ và nên tiến hành các bước chẩn đoán sau đây:

Bước 1: đầu tiên là nói với bác sĩ những triệu chứng và lo lắng của mình. Không nên làm trong bước này là loại gluten ra khỏi chế độ ăn vì các xét nghiệm sẽ cho kết quả không chính xác. Tiếp tục ăn uống như bình thường và nếu bạn đã loại gluten ra khỏi chế độ ăn thì phải ăn lại ít nhất trong vòng 6 tuần trước khi làm xét nghiệm.
Bước 2: bác sĩ có thể cho làm xét nghiệm máu để kiềm tra kháng mô bọc sợi cơ và/ hoặc kháng thể transglutaminase mô.
Bước 3: sinh thiết ruột qua nội soi ống mềm để lấy một mẫu mô quan sát dưới kính hiển vi tìm những bất thường.

Các nguy cơ đối với sức khỏe là gì?

Rất may là các nguy cơ đối với sức khỏe liên quan đến bệnh tiêu chảy phân mỡ là rất ít khi bạn có thể loại khỏi gluten ra khỏi chế độ ăn. Tuy nhiên có thể có các ảnh hưởng nghiêm trọng kéo dài nếu không được chẩn đoán cho tới giai đoạn muộn của cuộc đời vì có nguy cơ cao bị ung thư ruột, loãng xương và các vấn đề vô sinh.

Nguy cơ loãng xương tăng lên ở những người được chẩn đoán muộn do giảm hấp thụ calci vì vậy điều trị hiệu quả là rất cần thiết để tránh các biến chứng của loãng xương như gãy xương.

Tăng nguy cơ mắc bệnh ác tính như u lympho ruột là biến chứng nghiêm trọng nhất, tuy nhiên nguy cơ sẽ giảm về bình thường nếu loại gluten ra khỏi chế độ ăn trong vòng 3-5 năm.

Nguy cơ vô sinh và các biến chứng thai nghén tăng lên nhưng cũng sẽ giảm đi khi được chẩn đoán và loại ra khỏi chế độ ăn.

tieu-chay-phan-mo

Các tình trạng liên quan với bệnh tiêu chảy phân mỡ?

Có mối liên quan giữa bệnh tiêu chảy phân mỡ và các bệnh tự miễn dịch khác, thường là đái tháo đường typ 1 (đái tháo đường phụ thuốc insulin) và giảm năng tuyến giáp.

Hầu như bệnh nhân viêm da dạng herpes đều có những mức độ khác nhau của bệnh tiêu chảy phân mỡ vì vậy điều trị thường bắt đầu bằng cách loại gluten ra khỏi chế độ ăn mặc dù nhiều bệnh nhân cần phải bắt đầu điều trị bằng thuốc.

Không dung nạp lactose là hiện tượng phổ biến hơn ở những người mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ không được chẩn đoán hoặc mới được chẩn đoán. Nguyên nhân là do ruột không thể phân hủy lactose trong khi đang bị tổn thương dẫn đến các triệu chứng như đầy bụng, khó chịu. Nếu bạn cảm thấy không dung nạp lactose ra khỏi chế độ ăn sẽ ảnh hưởng đến lượng calci. Một khi ruột lành lại thì vấn đề thường được giải quyết.

Sự khác nhau giữa dị ứng và không dung nạp

Không dung nạp thức ăn thường được mô tả chung chung là phản ứng với thức ăn bao gồm dị ứng thức ăn thật sự và bệnh tiêu chảy phân mỡ mà cả hai loại này đều ảnh hưởng đến hệ miễn dịch. Tiêu chảy phân mỡ là bệnh tự miễn dịch do không dung nạp gluten, bệnh kéo dài và có các phương pháp chẩn đoán đặc hiệu liên quan đến nội soi và sinh thiết. Chẩn đoán dị ứng thức ăn dựa vào tiền sử ăn uống, phát hiện kháng thể và các xét nghiệm khác. Các triệu chứng bao gồm sưng miệng và họng, nôn, đau bụng, ban da, ho, giảm huyết áp và có thể dẫn đến sốc phản vệ.

Không dung nạp thức ăn không ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và vấn đề thường chỉ là tạm thời. Các triệu chứng có thể bao gồm tiêu chảy, táo bón, các vấn đề da và hen phế quản và cách duy nhất để chẩn đoán là loại chất đó ra khỏi chế độ ăn.

Nguồn sức khỏe

Những khó chịu ở đường tiêu hóa

Trào ngược axit, viêm dạ dày hay ăn không tiêu đều khiến bạn mệt mỏi. Dưới đây là những biện pháp khắc phục nhanh các triệu chứng khó chịu ở đường tiêu hóa mà bạn thường gặp.

Táo bón

Chế độ ăn nhiều thịt và tinh bột nhưng thiếu các loại chất xơ từ rau củ quả sẽ gây ra hiện tượng táo bón. Tuy không gây đau bụng quá nhiều như các loại bệnh về dạ dày và ruột khác nhưng về lâu dài, người bệnh có thể gặp nhiều hậu quả nghiêm trọng như bệnh trĩ, nhiễm trùng,… Trong trường hợp này, sinh tố hoa quả hoặc ăn các thực phẩm có tính mát, nhuận tràng như khoai lang, chuối tiêu… có thể giúp bạn đẩy lùi chứng táo bón.

nhung-kho-chiu-o-duong-tieu-hoa

Đầy hơi

Khi bạn bị đầy hơi, bụng sẽ chứa đầy khí gas, gây đau, tức bụng và ợ nóng. Để phòng bệnh bạn nên tránh thức ăn nhiều dầu mỡ, các món ngọt. Cách chữa nhanh trong trường hợp khẩn cấp là uống thật nhiều nước để nhanh chóng giải phóng gas tích tụ trong dạ dày và ruột, đồng thời kết hợp động tác yoga ngồi ép bụng vào gối. Đây là động tác rất hữu hiệu, giúp bạn nhanh chóng loại bỏ khí gas dư thừa.

Đau bụng tiêu chảy

Cơ thể mệt mỏi kết hợp với việc ăn phải thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn là nguyên nhân chính của chứng tiêu chảy. Người bệnh thường đau bụng dưới dữ dội, đi ngoài nhiều, dễ bị kiệt sức.

Trong trường hợp không may bị đau bụng đi ngoài, bạn nên bổ sung chất lỏng để bù nước và dùng trà gừng để hạn chế tiêu chảy nếu không có sẵn thuốc.

Khó tiêu

Những nguyên nhân gây khó tiêu bao gồm việc dị ứng men lactose của sữa, ăn thức ăn quá cay hoặc quá nóng, nếu từng có tiền sử bị chứng khó tiêu bạn nên hạn chế các thực phẩm cay nóng.

Bạn nên dùng các thực phẩm mềm, ăn nhiều rau, nhai kỹ và tham khảo bác sĩ về việc dùng thuốc phù hợp để cải thiện chứng bệnh này.

Trào ngược dạ dày

Bạn  bị trào ngược dạ dày khi lượng axit trong dạ dày tăng cao, triệu chứng thường thấy là ợ chua, nóng rát vùng cổ, ngực, thỉnh thoảng sẽ đi kèm cảm giác khó thở và đau vùng thượng vị. Nguyên nhân chính là do bạn bỏ bữa nên khi bạn ăn lượng axit thừa sẽ phản ứng và trào ngược gây khó chịu.

Cách khắc phục là thay đổi tư thế nằm (gối đầu cao khoảng 15cm hoặc kê vai cao 25cm); tránh tư thế cúi lâu, tránh nằm ngửa ngay sau bữa ăn và trong khoảng 3 giờ.

Theo afamily.vn

Trẻ bị hăm da do tiêu hóa

Các bà mẹ có con bị tiêu chảy thường ít khi để ý đến một biến chứng, đó là hăm da. Vùng viêm đỏ do tiêu chảy xung quanh hậu môn nếu không chăm sóc kịp thời sẽ lan rộng, trở nên loét trợt, có mủ lâu lành, gây sốt, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng máu, rất nguy hiểm.

Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM cho thấy, trẻ em dưới 3 tuổi rất dễ bị hăm da do tiêu chảy. Bệnh tập trung ở trẻ nhỏ hơn 2 tuổi, xảy ra trẻ trai nhiều hơn trẻ gái. Nguy cơ cao hơn ở những trẻ tiêu chảy nhiều lần (trên 10 lần trong ngày).

Tại sao trẻ tiêu chảy dễ bị hăm da? Nguyên nhân chủ yếu là vùng quanh hậu môn tiếp xúc thường xuyên với các chất kích thích da. Khi trẻ bị tiêu chảy nhiều lần không được chăm sóc, vệ sinh thích hợp, da vùng này sẽ bị ẩm ướt thường xuyên bởi phân và nước tiểu. Sự hiện diện của các men đường ruột, vi sinh vật có trong phân và ammoniac có trong nước tiểu sẽ gây kích thích da, gây viêm cấp tính, làm da bị đỏ lên, gây hăm, loét.

tre-bi-ham-da-do-tieu-hoa

Tình trạng ẩm ướt liên quan với số lần đi cầu nhiều lần. Trẻ nhỏ có làn da mỏng manh, ít khả năng chống đỡ với các chất gây viêm nên dễ bị hăm da hơn trẻ lớn. Những trẻ bú sữa nhân tạo có độ pH của phân cao hơn trẻ bú mẹ nên cũng dễ bị hăm da hơn. Ngoài ra, có các yếu tố nguy cơ khác như sử dụng tã giấy không đúng cách, chọn tã chật quá gây cọ sát da, không thay tã sau mỗi lần đi tiêu tiểu hoặc thay không đúng cách, mặc tã vào lúc vùng mông còn ướt gây ẩm ướt thường xuyên…

Hăm da do tiêu chảy cấp thường xuất hiện vào ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 sau khi bị tiêu chảy. Vùng quanh hậu môn có màu đỏ tươi, sau thành loét đỏ, chảy nước, chảy máu, diễn tiến có mủ. Trẻ bị hăm da thường đau lúc đi cầu, quấy nhiều, thậm chí kém ăn, ít ngủ, rất khó chăm sóc.

Hăm da bội nhiễm xảy ra khi vùng hăm bị trầy loét, có mủ. Lúc này thường có dấu hiệu toàn thân sốt cao, có khi nơi hăm da trở thành ổ mủ kéo dài cả tháng. Hăm da lan rộng xuất hiện khi tổn thương lan ra 2 bên bẹn và bộ phận sinh dục ngoài; da bị đỏ loét, chảy nước, đỏ vùng bộ phận sinh dục ngoài; thường kèm theo biến chứng nhiễm trùng tiểu làm trẻ tiểu đau, tiểu khó, gây sốt kéo dài.

Nếu phát hiện sớm và được chăm sóc thích hợp, tình trạng hăm da thường lành từ từ trong vòng 5 đến 10 ngày. Cách chăm sóc trẻ bị hăm da tại nhà là giữ vệ sinh, giữ khô da để ngăn chận viêm da diễn tiến tiếp tục. Giúp da mau lành bằng cách làm thoáng để giảm ngứa và giảm các kích thích ở da:

Vệ sinh da đúng cách, thay tã thường xuyên, sau mỗi lần trẻ đi tiêu tiểu. Rửa sạch da nhẹ nhàng bằng nước ấm và xà phòng, tránh chà sát mạnh, chờ khô da mới mặc tã.

Làm thoáng da, băng tã không quá chặt. Buổi tối hoặc khi trẻ ngủ có thể để thoáng tã, dành thời gian để da bị hăm tiếp xúc với không khí. Lưu ý chọn tã phù hợp với kích thước trẻ, không quá nhỏ. Nếu da bị trầy loét, chảy nước, bôi tại chỗ dung dịch sát khuẩn có tác dụng làm khô da như xanh methylène, betadine.

Không bôi phấn rôm vì phấn sẽ bám lên vùng hăm da gây kích thích. Đưa trẻ đi khám bệnh khi trẻ trông mệt, vùng hăm da lan rộng, trầy loét, chảy máu, có mủ, trẻ có thêm dấu hiệu sốt hoặc hăm da không giảm sau 3 ngày.

Theo thanh niên

Các biểu hiện của bệnh tiêu chảy phân mỡ

1. Bệnh tiêu chảy phân mỡ là gì?

Bệnh tiêu chảy phân mỡ hay bệnh ruột nhạy cảm gluten là tình trạng phản ứng miễn dịch quá mức với gluten trong thức ăn. Gluten là một loại protein có trong lúa mì, đại mạch, lúa mạch đen, một số người bị mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ còn phản ứng với cả yến mạch. Điều trị bằng cách loại khỏi gluten ra khỏi chế độ ăn. Bệnh có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng hơn như loãng xương, vô sinh và ung thư ruột nếu không điều trị. Các triệu chứng thay đổi tùy người nhưng có thể bao gồm mệt mỏi, thiếu máu, tiêu chảy, bụng ấm ách khó chịu, sụt cân, nôn và loét miệng. Bệnh ở trẻ em có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và tăng trưởng của trẻ.

Không dung nạp gluten gây phản ứng viêm làm tổn thương ruột. Các vi nhung mao trong lòng ruột trở nên bị viêm và dẹt lại (teo nhung mao) làm giảm bề mặt hấp thu các chất dinh dưỡng từ thức ăn. Khi đó cơ thể không thể hấp thu tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết từ thức ăn. Vì thiếu các chất dinh dưỡng nên những bệnh nhân mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ không được chẩn đoán có thể có rất nhiều các biểu hiện dạ dày ruột và có thể bị thiều các chất dinh dưỡng.

cac-bieu-hien-cua-benh-tieu-chay-phan-mo

Hình minh hoa

2. Các biểu hiện của tiêu chảy phân mỡ

Các triệu chứng thay đổi từ nhẹ đến nặng bao gồm: đầy bụng, tiêu chảy, buồn nôn, mệt mỏi, táo bón, loét miệng, đau đầu, sụt cân, rụng tóc, các vấn đề về da, tầm vóc thấp, trầm cảm, vô sinh, sẩy thai nhiều lần và đau xương khớp. Một số triệu chứng có thể lẫn với các biểu hiện của hội chứng ruột kích thích hoặc không dung nạp lúa mì trong khi các triệu chứng khác lại được cho là do stress hoặc quá trình lão hóa.

Nên làm gì khi nghi ngờ mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ

 Nếu bạn có các biểu hiện trên có thể bạn bị tiêu chảy phân mỡ và nên tiến hành các bước chẩn đoán sau đây:

Bước 1: đầu tiên là nói với bác sĩ những triệu chứng và lo lắng của mình. Không nên làm trong bước này là loại gluten ra khỏi chế độ ăn vì các xét nghiệm sẽ cho kết quả không chính xác. Tiếp tục ăn uống như bình thường và nếu bạn đã loại gluten ra khỏi chế độ ăn thì phải ăn lại ít nhất trong vòng 6 tuần trước khi làm xét nghiệm.

Bước 2: bác sĩ có thể cho làm xét nghiệm máu để kiềm tra kháng mô bọc sợi cơ và/ hoặc kháng thể transglutaminase mô.

Bước 3: sinh thiết ruột qua nội soi ống mềm để lấy một mẫu mô quan sát dưới kính hiển vi tìm những bất thường

Các nguy cơ đối với sức khỏe là gì?

Rất may là các nguy cơ đối với sức khỏe liên quan đến bệnh tiêu chảy phân mỡ là rất ít khi bạn có thể loại khỏi gluten ra khỏi chế độ ăn. Tuy nhiên có thể có các ảnh hưởng nghiêm trọng kéo dài nếu không được chẩn đoán cho tới giai đoạn muộn của cuộc đời vì có nguy cơ cao bị ung thư ruột, loãng xương và các vấn đề vô sinh.

Nguy cơ loãng xương tăng lên ở những người được chẩn đoán muộn do giảm hấp thụ calci vì vậy điều trị hiệu quả là rất cần thiết để tránh các biến chứng của loãng xương như gãy xương.

Tăng nguy cơ mắc bệnh ác tính như u lympho ruột là biến chứng nghiêm trọng nhất, tuy nhiên nguy cơ sẽ giảm về bình thường nếu loại gluten ra khỏi chế độ ăn trong vòng 3 – 5 năm.

Nguy cơ vô sinh và các biến chứng thai nghén tăng lên nhưng cũng sẽ giảm đi khi được chẩn đoán và loại ra khỏi chế độ ăn.

Các tình trạng liên quan với bệnh tiêu chảy phân mỡ?

Có mối liên quan giữa bệnh tiêu chảy phân mỡ và các bệnh tự miễn dịch khác, thường là đái tháo đường typ 1 (đái tháo đường phụ thuốc insulin) và giảm năng tuyến giáp.

Hầu như bệnh nhân viêm da dạng herpes đều có những mức độ khác nhau của bệnh tiêu chảy phân mỡ vì vậy điều trị thường bắt đầu bằng cách loại gluten ra khỏi chế độ ăn mặc dù nhiều bệnh nhân cần phải bắt đầu điều trị bằng thuốc.

Không dung nạp lactose là hiện tượng phổ biến hơn ở những người mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ không được chẩn đoán hoặc mới được chẩn đoán. Nguyên nhân là do ruột không thể phân hủy lactose trong khi đang bị tổn thương dẫn đến các triệu chứng như đầy bụng, khó chịu. Nếu bạn cảm thấy không dung nạp lactose ra khỏi chế độ ăn sẽ ảnh hưởng đến lượng calci. Một khi ruột lành lại thì vấn đề thường được giải quyết.

3. Sự khác nhau giữa dị ứng và không dung nạp

Không dung nạp thức ăn thường được mô tả chung chung là phản ứng với thức ăn bao gồm dị ứng thức ăn thật sự và bệnh tiêu chảy phân mỡ mà cả hai loại này đều ảnh hưởng đến hệ miễn dịch. Tiêu chảy phân mỡ là bệnh tự miễn dịch do không dung nạp gluten, bệnh kéo dài và có các phương pháp chẩn đoán đặc hiệu liên quan đến nội soi và sinh thiết. Chẩn đoán dị ứng thức ăn dựa vào tiền sử ăn uống, phát hiện kháng thể và các xét nghiệm khác. Các triệu chứng bao gồm sưng miệng và họng, nôn, đau bụng, ban da, ho, giảm huyết áp và có thể dẫn đến sốc phản vệ.

Không dung nạp thức ăn không ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và vấn đề thường chỉ là tạm thời. Các triệu chứng có thể bao gồm tiêu chảy, táo bón, các vấn đề da và hen phế quản và cách duy nhất để chẩn đoán là loại chất đó ra khỏi chế độ ăn.

 (TTVN số 14)

Các biện pháp xử trí khi bị ngộ độc thực phẩm tại nhà

Ngộ độc thực phẩm là biểu hiện bệnh lý xuất hiện sau khi ăn, uống những thức ăn nhiễm độc, nhiễm khuẩn, thức ăn bị biến chất ôi thiu, có chất bảo quản, phụ gia. Đặc biệt, tỉnh ta là một tỉnh miền núi, vẫn còn một số bộ phận người dân vùng sâu xùng xa chưa đề cao ý thức trong việc sử dụng thực phẩm như: các loại rau rừng, quả rừng, nấm…chứa các độc tố tự nhiên. Hơn nữa, vào mùa mưa, sau khi nước lũ qua đi nguồn nước, thực phẩm bị ôi nhiễm…cũng là nguyên nhân gây ra các vụ ngộ độc. Vậy khi bị ngộ độc thực phẩm cần phải xử trí như thế nào?

cac-bien-phap-xu-tri-khi-bi-ngo-doc-thuc-pham-tai-nha

Người bị ngộ độc thường có biểu hiện: nôn mửa, tiêu chảy, chóng mặt, sốt, đau bụng… gây hại tới sức khỏe, khiến cơ thể mệt mỏi, nếu không có biện pháp xử lý kịp thời có thể dẫn tới tử vong. Do đó, khi nhận thấy những biểu hiện ngộ độc như trên cần biết cách xử trí kịp thời: Nếu có các biểu hiện ngộ độc xảy ra sau khi ăn thức ăn gây ngộ độc trước 6h thì cần làm cho người bị ngộ độc nôn ra hết thức ăn đã ăn vào, bằng cách: Dùng lông gà ngoáy họng, uống nước mùn thớt, uống nước muối (2 thìa canh muối pha với 1 cốc nước ấm) hoặc uống đầy nước rồi móc họng để kích thích gây nôn. Tuy nhiên, khi sơ cứu bằng gây nôn cho trẻ, người lớn phải lưu ý móc họng trẻ cho khéo, tránh làm xây xát họng trẻ. Phải để trẻ nằm đầu thấp, nghiêng đầu sang một bên rồi móc họng để trẻ nôn thức ăn ra. Không để trẻ nằm ngửa và nôn vì như vậy có thể gây sặc lên mũi, xuống phổi và rất dễ dẫn đến tử vong. Trong quá trình gây nôn, phải luôn phải khăn để lau chùi. Móc sạch thức ăn trẻ nôn ra rồi dùng khăn mềm lau sạch miệng trẻ.

Với trường hợp ngộ độc xảy ra sau khi ăn phải thức ăn gây độc sau 6h, lúc này chất độc đã bị hấp thu một phần vào cơ thể, thì cần xử trí bằng cách:

– Dùng chất trung hòa: nếu người bị ngộ độc do những chất acid có thể dùng những chất kiềm chủ yếu như: nước xà phòng 1%, nước magie oxyt 4%, cứ cách 5 phút cho người bệnh uống 15ml. Tuy nhiên, tuyệt đối không được dùng thuốc muối để tránh hình thành C­­O2 làm thủng dạ dày cho bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày. Nếu người bị ngộ độc do chất kiềm thì cho uống dung dịch acid nhẹ như: dấm, nước quả chua….

– Dùng chất bảo vệ niêm mạc dạ dày như: dùng bột mì, bột gạo, sữa, lòng trắng trứng gà, nước cháo…để ngăn cản sự hấp thu của dạ dày, ruột đối với chất độc.

– Dùng chất kết tủa: nếu bị ngộ độc kim loại (chì, thủy ngân…) có thể dùng lòng trắng trứng, sữa hoặc 4 – 10g natri sunfat.

– Dùng chất giải độc: với người bị ngộ độc kim loại nặng, axit… có thể uống kết hợp với chất độc thành chất không độc như: uống hỗn hợp than bột, magie oxit.

Lưu ý: Đối với tất cả các trường hợp ngộ độc đều phải được đưa ngay tới cơ sở Y tế để được bác sỹ đưa ra phác đồ cấp cứu điều trị, phù hợp, kịp thời.

Viêm ruột thừa và biến chứng nguy hiểm thường găp

Viêm ruột thừa là một bệnh khá phổ biến, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3 – 4 tuổi. Có những trường hợp viêm ruột thừa chưa biến chứng, việc xử trí đơn giản, nhưng cũng có những trường hợp viêm ruột thừa khi nhập viện đã có biến chứng như vỡ, áp-xe ruột thừa, mủ tràn khắp ổ bụng, sau khi mổ, hậu phẫu vẫn còn nhiều phức tạp… Do vậy, việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

Viêm ruột thừa là gì?

Ruột thừa là một túi nhỏ nhô ra hình con giun của manh tràng (đoạn đầu của ruột già), dài khoảng 5 – 6cm. Ruột thừa nằm ở phần dưới phải của ổ bụng, có thể thay đổi vị trí. Theo các chuyên gia tiêu hóa, ruột thừa không có chức năng gì nên việc cắt bỏ nó không ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của cơ thể.

Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa. Khi ruột thừa bị tắc nghẽn, các vi khuẩn bình thường trú trong lòng ruột thừa bắt đầu xâm lấn vào thành ruột thừa. Cơ thể đáp ứng với hiện tượng xâm lấn này bằng cách tấn công các vi khuẩn. Hiện tượng tấn công các vi khuẩn đó được gọi là viêm.

viem-ruot-thua-va-bien-chung-nguy-hiem-thuong-gap

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa là do lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng bị tắc nghẽn. Hiện tượng tắc nghẽn này là do tích tụ nhiều chất dịch nhầy trong lòng ruột thừa hoặc do phân từ manh tràng đi vào ruột thừa. Chất nhầy hay phân trở nên cứng, giống như đá và làm tắc nghẽn lỗ thông. Hiện tượng phân cứng như đá được gọi là “sỏi phân” (phân có kích thước bằng hạt đậu, cứng và bị canxi hóa gây tắc nghẽn lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng). Có thể có hiện tượng mô bạch huyết của ruột thừa bị phù và làm tắc nghẽn ruột thừa gây viêm.

Những triệu chứng của viêm ruột thừa đôi khi rất mơ hồ, nhất là ở trẻ em và người già nên một số người chủ quan đã tự mua thuốc về cho bệnh nhân uống vì tưởng bị rối loạn tiêu hóa… Điều này càng làm lu mờ các triệu chứng của bệnh, gây khó khăn cho quá trình chẩn đoán. Đây là việc làm hết sức nguy hiểm vì viêm ruột thừa nếu xử lý chậm sẽ bị vỡ, gây viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng và có thể dẫn đến tử vong. Chính vì vậy, việc phát hiện và xử trí bệnh kịp thời là điều vô cùng quan trọng để giảm thiểu những biến chứng nguy hiểm của viêm ruột thừa có thể xảy ra.

Triệu chứng phát hiện bệnh
Các triệu chứng ban đầu của viêm ruột thừa rất dễ nhầm với nhiễm virut đường ruột. Các triệu chứng bao gồm đầy bụng mơ hồ, khó tiêu và đau bụng ít thường được cảm nhận ở vùng quanh rốn. Khi nhiễm khuẩn nặng hơn, đau trở nên nổi bật hơn ở phần phải của bụng dưới. Bệnh nhân thường có buồn nôn, nôn và chán ăn. Ðau thường liên tục và ngày càng nặng. Bệnh nhân có thể tiêu chảy, sốt và lạnh run kèm theo căng cứng cơ bụng.
Mức độ đau tăng lên khi người bệnh di chuyển, ho, ngáy, hắt hơi và thở sâu. Nếu bụng mềm, phía phải bụng dưới (vị trí ruột thừa) bị đau khi ấn vào, thân nhiệt không cao thì chứng viêm còn nhẹ. Nếu viêm nặng, đã có mủ, hoại tử, hoặc đã thủng thì bệnh nhân đau bụng dữ dội, phạm vi bị đau cũng mở rộng kèm theo sốt cao. Khi ấn bụng thì cơ bụng căng cứng hoặc sờ thấy có cục cứng phía bên phải bụng dưới.

Những triệu chứng này tiến triển từ vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có thể không có đủ các triệu chứng trên. Vì thế việc chẩn đoán viêm ruột thừa chính xác thường gặp khó khăn. Đặc biệt là ở trẻ em và người cao tuổi.

Cần phân biệt viêm ruột thừa với các bệnh cảnh khác có thể giống như viêm dạ dày ruột, sỏi thận, nhiễm khuẩn đường tiểu, u nang buồng trứng và nhiễm khuẩn khung chậu… Nếu viêm ruột thừa không được điều trị, ruột thừa sẽ vỡ hoặc thủng. Ðiều này đưa đến các biến chứng như viêm toàn bộ ổ bụng (viêm phúc mạc), hình thành áp-xe ruột thừa và tắc ruột.

Làm thế nào để phát hiện?
Siêu âm và chụp Doppler cũng là phương tiện phát hiện viêm ruột thừa, nhưng có thể bỏ sót một số trường hợp (khoảng 15%), đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi chưa hình thành dịch, siêu âm hố chậu không cho thấy bất thường mặc dù đã có viêm ruột thừa. Tuy nhiên, đây là phương tiện phát hiện cận lâm sàng tốt, không gây hại. Siêu âm có thể thấy được hình ảnh ruột thừa to hơn bình thường, thấy được dịch trong ổ bụng… giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt nhiều loại bệnh lý khác nhau có cùng triệu chứng là đau bụng.

Nhưng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa mà tùy thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. Do đó, siêu âm nên được xem là một công cụ hỗ trợ trong công tác theo dõi viêm ruột thừa chứ không phải là tiêu chuẩn vàng quyết định viêm ruột thừa.
Chẩn đoán viêm ruột thừa chủ yếu dựa vào lâm sàng (các triệu chứng của bệnh) kết hợp với nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ và siêu âm hỗ trợ. Ở những nơi có trang bị CTscan hay chụp cắt lớp, đây là phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng được ưa dùng. Phim chụp cắt lớp CTscan thực hiện đúng quy cách có độ phát hiện (độ nhạy) hơn 95%.

Điều trị thế nào?

Nếu viêm ruột thừa, tốt nhất là phẫu thuật loại bỏ ruột thừa (cắt ruột thừa). Cắt ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt bỏ ruột thừa được thực hiện qua nội soi ổ bụng. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất tùy vào từng đối tượng bệnh nhân.

Nếu ruột thừa viêm không bị vỡ tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân thường được xuất viện trong vòng 1 – 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ, thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 – 7 ngày, tùy vào mức độ trầm trọng của bệnh. Kháng sinh đường tĩnh mạch được chỉ định trong khi nằm viện để giúp tránh  nhiễm khuẩn thêm và tạo áp-xe.

Tùy thuộc vào mức độ viêm của ruột thừa mà sau khi mổ xong có thể biến chứng gì khác không. Nếu là viêm ruột thừa cấp (mới chớm viêm trong vòng 6 tiếng), viêm ruột thừa mủ chưa vỡ thì khả năng biến chứng sau mổ là rất thấp. Nhưng đối với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa thì nguy cơ biến chứng tắc ruột do các dây dính tạo thành sau mổ là rất cao. Nhiều trường hợp tắc ruột phải mổ lại để gỡ các dây dính này.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những thức ăn nên tránh khi bị bệnh đường ruột

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là căn bệnh đường ruột phổ biến nhất hiện nay. Các triệu chứng của bệnh này bao gồm đau bụng, sình bụng, tiêu chảy, táo bón, đau lưng, đau khớp, nhức đầu… Có một số loại thực phẩm cần tránh khi bị chứng bệnh đường ruột này.

Thực phẩm cay

Cà ri và các loại thực phẩm cay khác làm gia tăng hoạt động trong ruột lên mức cao hơn bình thường. Điều này làm tăng rủi ro bị các triệu chứng như tiêu chảy và đau quặn bụng.

Chất béo

duong-ruot

Những loại thực phẩm nhiều chất béo có thể khiến ruột co thắt nhiều hơn bình thường, vốn có thể gây đau quặn bụng. Người bị IBS nên tránh dùng hoặc ăn chất béo bão hòa có nguồn gốc động vật, thay vào đó nên sử dụng các sản phẩm chứa chất béo không bão hòa dạng đơn thể (chẳng hạn như dầu ô liu) hoặc chất béo không bão hòa dạng đa thể (như dầu hạt hướng dương) trong chế độ ăn. Các loại thực phẩm cần tránh đối với bệnh nhân IBS là thịt chế biến (chẳng hạn như xúc xích, pa tê), các loại quà vặt nhiều chất béo (bánh quy, thực phẩm dạng hạt) và mayonnaise.

Đường và đường thay thế

Fructose, thành phần tạo ra đường, khó tiêu hóa hơn ở bệnh nhân IBS. Táo bón, tiêu chảy và đầy hơi đều do sự hiện diện của đường trong chế độ ăn gây ra. Các loại đường thay thế như sorbitol và splenda có cùng tác động như vậy. Những loại thực phẩm cần tránh ở người bị IBS bao gồm mứt, si rô, bánh kẹo và nước trái cây có đường.

Sản phẩm sữa

Những người bị IBS và không dung nạp lactose khó tiêu hóa một số sản phẩm sữa. Sữa, kem bánh và kem ăn chứa các loại đường tự nhiên, trong quá trình tiêu hóa có thể gây tiêu chảy đau quặn bụng và táo bón. Phó mát và sữa chua không gây các triệu chứng này. Nếu bạn không thể dung nạp lactose, tốt nhất nên giảm bớt lượng sản phẩm sữa trong chế độ ăn và tham khảo ý kiến bác sĩ.

Rau cải

duong-ruot1

Trong khi một chế độ ăn lành mạnh và cân bằng được khuyến khích, một số loại rau có thể gây ra chứng đầy hơi, một triệu chứng bình thường trong các cơn phát bệnh IBS. Bạn có thể bị đau quặn bụng vì chứng đầy hơi do bông cải xanh, cải bắp và củ hành gây ra.

Lúa mì

Bánh mì, ngũ cốc và các sản phẩm lúa mì có thể gây ra IBS. Chúng có thể làm trầm trọng thêm bất kỳ triệu chứng nào đã từng trải qua.

Trái cây nhiều a xít

Chanh, cam, quýt, và các loại trái cây khác chứa nhiều a xít có thể gây ra hoặc làm gia tăng các triệu chứng của IBS.

Rượu

Đối với một số bệnh nhân IBS, rượu là thứ không nên dùng. Rượu kích thích lớp niêm mạc ruột, gây ra các triệu chứng chẳng hạn như đau bụng.

Cà phê

Thường gây ra nhiều vấn đề cho người bị IBS, nó kích thích ruột gây tiêu chảy và đau quặn bụng.

Bữa ăn “hoành tráng”

Những bữa ăn lớn thường gây khó tiêu và ở người bị IBS chúng có thể khiến hệ tiêu hóa trở nên quá tải, dẫn đến những cơn đau quặn bụng và bệnh tiêu chảy. Bệnh nhân IBS được khuyên chia nhỏ bữa ăn và có thể ăn 5-6 bữa mỗi ngày.

Quyên Quân
Thanh niên

Nguy cơ ngộ độc khi dùng thuốc bổ thông thường

Nguy cơ xuất hiện phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction – ADR) là hậu quả không thể tránh khỏi khi dùng thuốc, có rất nhiều nguyên nhân làm xuất hiện ADR, trong đó có một nguyên nhân cần phải nhắc tới đó là tương tác giữa các thuốc với nhau. Đặc biệt là loại thuốc bổ sung hàng ngày lại đang ít được quan tâm.

Vitamin A

Vitamin A là dạng vitamin tan trong dầu, có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể giúp tế bào thực hiện hoạt động sao chép bình thường, cần thiết cho sức khỏe thị giác, giúp các tế bào trong một loạt cấu trúc của mắt luôn khỏe mạnh. Ngoài ra, nó còn rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển bình thường của phôi thai và thai nhi, cần thiết cho chức năng sinh sản.

nguy-co-ngo-doc-khi-dung-thuoc-bo-thong-thuong
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nếu như sử dụng không đúng cách, chúng ta sẽ gặp phải những tác dụng bất lợi của vitamin A mà điển hình là tình trạng viêm gan cấp hoặc mạn do dùng liều cao kéo dài, đặc biệt với trẻ em. Ở trẻ em, có hai lý do dễ dẫn tới ngộ độc vitamin A, đó là trẻ đang uống sữa công thức (bởi vì bản thân trong sữa công thức mà bé đang dùng đã có một lượng vitamin A phù hợp) và trẻ được bà mẹ cho uống các loại vitamin bổ sung khác mà không biết trong thuốc bổ sung này cũng có lượng vitamin A. Tất cả tình huống này nếu tiếp tục bổ sung mà không có ý kiến của bác sĩ sẽ dẫn tới tình trạng tích tụ vitamin A trong gan.

Cần lưu ý một số tương tác thuốc có thể xảy ra như dùng vitamin A với các thuốc hạ huyết áp có thể làm tăng tác dụng của các thuốc này và dẫn tới hạ huyết áp quá mức; dùng vitamin A cùng thuốc tránh thai sẽ làm giảm tác dụng của thuốc tránh thai; dùng vitamin A với thuốc chống đông sẽ làm tăng nguy cơ chảy máu.

Vitamin D

Vitamin D là một vitamin có vai trò hết sức quan trọng đối với cơ thể người. Tuy vậy, uống nhiều vitamin D quá không tốt cho cơ thể, thậm chí là gây nguy hại. Dùng vitamin D liều cao dài ngày gây tích lũy thuốc, làm tăng calci trong máu, gây mệt mỏi, chán ăn, nôn, tiêu chảy, đau nhức xương khớp. Ngoài ra còn có thể gây tổn thương thận, tăng huyết áp.

Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ rất nhạy cảm với sự thừa vitamin D. Trẻ em dưới 1 tuổi cho ăn các hỗn hợp thay thế sữa mẹ có bổ sung vitamin D ở liều không thích hợp với lứa tuổi có thể bị thừa vitamin này. Việc bổ sung thường xuyên vitamin D với liều > 400 IU/ngày cho trẻ dưới 1 tuổi khỏe mạnh làm tăng canxi trong máu, thậm chí còn có thể gây suy thận và tử vong. Trẻ nhỏ bị ngộ độc vitamin D sẽ biếng ăn, buồn nôn và ói mửa. Trẻ luôn khát nước và tiểu nhiều. Ngộ độc vitamin D ở trẻ thường do cha mẹ tùy tiện cho uống dài ngày các loại thuốc bổ sung vitamin và chất khoáng, trong đó có chứa vitamin D liều cao hoặc cho trẻ uống cùng lúc các loại thuốc có chứa vitamin D.

Ngoài ra cần lưu ý, vitamin D có thể làm giảm hiệu quả của thuốc làm hạ cholesterol khi cùng sử dụng. Dùng vitamin D liều cao cùng với một loại thuốc lợi tiểu có thể dẫn đến tăng đào thải calci qua nước tiểu dẫn tới sỏi thận.

Calci

Calci là chất cần thiết cho sự phát triển của bộ xương. Tuy nhiên, khi bổ sung calci cần lưu ý: để calci hấp thụ tốt cần phải có vitamin D, vitamin D có nhiều trong bơ, sữa, trứng, gan… tắm nắng là nguồn cung cấp vitamin D quan trọng cho cơ thể.

Bên cạnh các ưu điểm, khi bổ sung calci cần hết sức lưu ý, chia nhỏ liều và uống với nhiều nước; nếu sử dụng cùng các thực phẩm bổ sung khác cũng có calci sẽ dễ dẫn tới nguy cơ gây táo bón hoặc dễ kết tủa gây sỏi thận. Đặc biệt với những người đang bổ sung calci mà có chế độ ăn nhiều đạm sẽ làm gia tăng lượng bài tiết calci qua nước tiểu và do đó dẫn tới sỏi thận. Ngoài ra, nếu uống calci mà có sử dụng cafein và nicotin cũng là một tác nhân làm tăng lượng thải calci qua đường nước tiểu.

Lưu ý: Calci có thể làm giảm sự hấp thu của cơ thể đối với nhiều loại thuốc, bao gồm cả thuốc theo toa loãng xương được gọi là bisphosphonates, thuốc kháng sinh tetracycline fluoroquinolone và levothyroxine.

Nếu không cẩn thận khi dùng calci chung với các loại thuốc khác, bạn có thể bị sỏi do các thuốc tác dụng với nhau gây kết tủa.

Chính vì sự “lợi bất cập hại” như trên, nên khi sử dụng thuốc để điều trị, phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của thuốc để lựa chọn thuốc phù hợp với đặc điểm bệnh nhân và tình trạng bệnh tật. Nếu hiểu biết đầy đủ về thuốc sử dụng, đặc điểm người bệnh và các yếu tố ảnh hưởng làm tăng nguy cơ ADR thì có thể hạn chế được ADR. Tuyệt đối không nên tự ý dùng thuốc, chỉ dùng thuốc khi có ý kiến của bác sĩ.

(theo SK&ĐS)

Mùa nóng cảnh giác với bệnh lỵ

Mùa hè đến có nhiều bệnh về đường tiêu hóa có thể xảy ra, trong đó có bệnh lỵ.

Bệnh lỵ là bệnh đường ruột liên quan mật thiết đến vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Bệnh lỵ có thể là bệnh lỵ trực trùng hoặc bệnh lỵ amíp, cả 2 loại bệnh lỵ này đều có thể lây lan thành dịch nhưng đặc biệt là lỵ trực trùng nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể có nguy cơ tử vong.

Đặc điểm của lỵ

Nói đến lỵ là nói đến lỵ vi khuẩn mà thường gọi là lỵ trực trùng (còn gọi là lỵ trực khuẩn) và lỵ do ký sinh trùng gây ra là lỵ amíp (do ký sinh trùng amíp). Bệnh lỵ trực trùng là bệnh do vi khuẩn lỵ (Shigella) gây ra khác với bệnh kiết lỵ do ký sinh trùng amíp.

mua-nong-canh-giac-benh-ly

Bệnh lỵ trực khuẩn lây theo đường ăn uống và rất có khả năng gây thành dịch lớn bởi vì chúng có khả năng tồn tại trong thiên nhiên khá lâu.

Vi khuẩn lỵ có thể sống và phát triển trong nước ngọt, rau sống, thức ăn tối thiểu từ 7 – 10 ngày và cũng có thể sống lâu hơn nữa. Ở các quần áo, đồ dùng trong ăn uống của người bệnh lỵ trực khuẩn hoặc trong đất có khi chúng tồn tại tới từ 6 -7 tuần lễ.

Nguồn đào thải trực khuẩn lỵ là chất thải (phân), thức ăn, nước uống, dụng cụ ăn uống của người đang mắc bệnh lỵ trực khuẩn và người lành mang trực khuẩn lỵ. Đối với những đối tượng là người lành mang vi khuẩn lỵ, khi sức khỏe tốt thì chúng coi như sống cộng sinh nhưng khi sức đề kháng kém chúng trở nên gây bệnh. Điều quan trọng nhất của người lành mang vi khuẩn lỵ là luôn luôn đào thải mầm bệnh ra môi trường theo phân làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt là những vùng mà quản lý phân người chưa thật tốt hoặc không đảm bảo vệ sinh. Từ những đối tượng này lỵ trực khuẩn sẽ theo phân, theo thức ăn, nước uống bị nhiễm trực trùng lỵ đi ra ngoài làm ô nhiễm môi trường xung quanh nhất là ô nhiễm nguồn nước, từ đây trực khuẩn lỵ được lan theo các loại thức phẩm có dùng nước bị ô nhiễm để rửa (rau, thịt, cá…) và lây sang cho người lành bằng con đường ăn, uống. Lỵ trực khuẩn có trong nước ô nhiễm nếu người nào uống nước chưa được đun sôi thì nguy cơ mắc bệnh lỵ trực khuẩn lỵ là điều rất khó tránh khỏi.

Người ta chia lỵ trực khuẩn thành 4 nhóm: S. dysentriae, S. Flexnerie, S. Boydii và S. sonnei. Trong 4 nhóm lỵ trực khuẩn này thì nhóm hay gặp nhất ở Việt Nam là lỵ trực khuẩn nhóm S. flexneri.

Qua nhiều nghiên cứu người ta thấy rằng, nhóm lỵ trực khuẩn gây bệnh lỵ nặng nhất là lỵ nhóm 1, trong đó týp S. shiga gây bệnh nặng, nguy kịch hơn cả và rất dễ đưa đến tử vong nếu không phát hiện, điều trị kịp thời. S. shiga gây bệnh nặng và nguy hiểm bởi vì chúng vừa gây bệnh bằng nội độc tố và ngoại độc tố. Đối với các loại vi khuẩn thì loại nào gây bệnh bằng ngoại độc tố cũng có bệnh cảnh lâm sàng rất nặng. Và nếu vi khuẩn vừa gây bệnh bằng nội độc tố và vừa gây bệnh ngoại độc tố, bệnh cảnh lâm sàng càng trầm trọng hơn.

Mọi người có thể mắc bệnh lỵ trực khuẩn đặc biệt là những người chưa có miễn dịch chống lại trực khuẩn lỵ. Sau khi có một lượng lớn trực khuẩn lỵ vào trong cơ thể khoảng vài ba ngày là bắt đầu xuất hiện các triệu chứng sốt cao, rối loạn tiêu hóa như đau bụng, buồn nôn, nôn, đi lỏng nhiều lần, phân có máu. Giai đoạn đầu phân còn có khuôn nhưng sau một thời gian ngắn phân sẽ lỏng kèm theo có chất nhầy như mũi và có máu. Máu xuất hiện là do độc tố vi khuẩn lỵ làm tổn thương niêm mạc ruột. Máu chảy ra trộn lẫn với phân. Lúc đầu là máu tươi, dần dần phân lỏng ra và máu hòa lẫn với phân, chất tiết dịch của ruột cho nên màu của phân lúc này lờ lờ như máu cá nhất là phân của bệnh nhân bị lỵ trực khuẩn týp S. shiga.

Với thể bệnh do lỵ S.shiga, giai đoạn đầu còn biết số lần đi ngoài trong ngày nhưng vài ba ngày sau thì không thể đếm được số lần đi ngoài do phân cứ tự chảy ra ở hậu môn. Đồng thời thể rạng suy sụp do nhiễm độc độc tố nặng. Song song với nhiễm độc độc tố thì đối với bệnh lỵ trực khuẩn thường là đi ngoài nhiều lần cho nên xảy ra hiện tượng mất nước và chất điện giải có khi rất trầm trọng. Nhiễm độc độc tố nặng và mất nước, chất điện giải dễ đưa đến tử vong đặc biệt là trẻ em và người cao tuổi già yếu nếu không cấp cứu kịp thời.

Với bệnh lỵ amíp thì tác nhân gây bệnh là ký sinh trùng amíp (Entamoeba histolitica), chúng thuộc loại đơn bào, khả năng tồn tại trong môi trường tự nhiên tuy có ngắn ngày hơn so với trực khuẩn lỵ nhưng vai trò gây bệnh của chúng cũng không thể xem thường. Bệnh lỵ amíp chủ yếu là tình trạng nhiễm trùng ở ruột già. Khi bị bệnh thường có 2 loại: cấp tính và mạn tính. Thể cấp tính thường gặp là những hội chứng lỵ, bao gồm đau bụng, mót rặn và đi ngoài phân có máu lẫn với chất nhầy như chấttiết ở mũi (nhầy máu mũi). Đi ngoài nhiều lần trong ngày nhưng mỗi lần đi ngoài không có nhiều phân. Đối với một số bệnh nhân thỉnh thoảng có tiêu chảy nhưng không rầm rộ, ồ ạt như bệnh lỵ trực khuẩn. Người bệnh thường xuất hiện đau quặn bụng từng cơn, đau dọc theo khung đại tràng trước khi đi ngoài. Song song với đau bụng là mót rặn. Người bệnh đau bụng rất muốn đi ngoài nhưng khi ngồi vào nhà vệ sinh rất lâu nhưng không đi ngoài được (đi nhanh về chậm). Nếu ở thể nhẹ thì sức khỏe ít bị ảnh hưởng nhưng khi bệnh nặng thì bệnh nhân có thể bị suy kiệt (đi ngoài ra máu nhiều lần trong ngày), rối loạn chất điện giải, bụng trướng.

Khi bị lỵ amíp không được điều trị hoặc điều trị không dứt điểm, không đúng phác đồ thì bệnh sẽ chuyển thành mạn tính và khi đó lỵ amíp sẽ chui vào trong niêm mạc ruột tạo thành các kén amíp, từng đợt chúng lại xuất hiện gây đau bụng, đi ngoài ra máu tươi nhất là khi ăn các loại thức ăn lạ, nhiều mỡ… Hậu quả của lỵ amíp mạn tính là gây nên viêm đại tràng mạn tính làm cho người bệnh rất khó chịu và dễ bị suy kiệt do rối loạn tiêu hóa kéo dài. Mắc bệnh lỵ amíp còn có một nguy cơ lan truyền ngược dòng gây nên hiện tượng ápxe gan.

Phòng bệnh lỵ như thế nào?

Muốn phòng bệnh lỵ (lỵ trực khuẩn và lỵ amíp) có hiệu quả thì cần đảm bảo vệ sinh môi trường, quản lý chất thải và phân của người bệnh đúng quy định như cho vào hố xí, có các chất sát khuẩn mạnh kèm theo như vôi bột, cloramin đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Không được xả phân và giặt quần áo của người bệnh lỵ ra sông, suối, ao, hồ. Không nên ăn rau sống không hợp vệ sinh, không uống nước chưa được đun sôi, không ăn tiết canh, gỏi, nem chạo, nem chua… Cần phải rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh và trước khi ăn.

Trong gia đình có người mắc bệnh lỵ nên cách ly các dụng cụ ăn uống và đồ dùng trong sinh hoạt. Các dụng cụ ăn uống cần luộc bằng nước đun sôi. Đối với các cơ sở buôn bán, kinh doanh thực phẩm và các nhà hàng, khách sạn có liên quan đến ăn, uống cần kiểm tra sức khỏe nhân viên phục vụ, đặc biệt là xét nghiệm phân định kỳ nhằm phát hiện người lành mang lỵ amíp hoặc lỵ trực khuẩn.

Đối với người lành mang mầm bệnh cần được điều trị dứt điểm và cần xét nghiệm phân theo định kỳ. Những vùng có nguy cơ mắc lỵ trực khuẩn cần được sử dụng vắc-xin phòng bệnh lỵ trực khuẩn theo chỉ dẫn của cán bộ y tế địa phương.

PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU

Theo sức khỏe đời sống

Biểu hiện khi bị loạn khuẩn do kháng sinh

Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy, có thể do vi khuẩn, do virut, do nhiễm ký sinh trùng nhưng cũng có thể do dùng kháng sinh. Đây là một tác dụng phụ không mong muốn khi dùng kháng sinh cho trẻ. Hầu hết thường nhẹ và tự hết khi bạn ngưng dùng kháng sinh. Đôi khi có một loại tiêu chảy nặng xảy ra gọi là viêm ruột màng giả.

Vì sao kháng sinh gây loạn khuẩn?

Bình thường trong đường ruột luôn tồn tại một quần thể vi khuẩn lành tính với nhiều loài khác nhau. Các vi khuẩn này luôn duy trì ở thế cân bằng nhằm tăng cường quá trình tiêu hóa, hấp thụ chất dinh dưỡng, thải trừ các chất độc hại, kìm hãm và làm mất tác dụng của các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột.

loan-khuan

Kháng sinh là một chất mà ngay ở nồng độ thấp nhất cũng có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Khi sử dụng một hoặc nhiều loại kháng sinh mạnh có tác dụng lên nhiều loại vi khuẩn, với liều cao và kéo dài thì các loài vi khuẩn lành tính nói trên cũng bị kháng sinh tiêu diệt, phá vỡ thế cân bằng gây ra hiện tượng loạn khuẩn, do đó thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn gây bệnh có sẵn hoặc mới xâm nhập, dẫn tới chứng tiêu chảy hoặc viêm ruột do kháng sinh.

Kháng sinh có nhiều nhóm khác nhau, trong mỗi nhóm có nhiều loại biệt dược mà hầu hết kháng sinh đều có thể gây ra sự mất cân bằng vi khuẩn trong cơ thể, vì vậy, khi muốn sử dụng một loại kháng sinh nào đó phải biết được kháng sinh đó thuộc nhóm nào, nhất là khi muốn kết hợp kháng sinh. Các loại kháng sinh hay gây tiêu chảy nhất là ampicillin, các cephalosporin, erythromycin và clindamycin.

Biểu hiện khi bị loạn khuẩn do kháng sinh

Hầu hết các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh là nhẹ với biểu hiện chính là đi ngoài phân sống, phân lỏng nhiều lần trong ngày, đặc biệt không có sốt, triệu chứng tự hết sau khi ngừng dùng kháng sinh. Nếu tiêu chảy do các nguyên nhân nhiễm khuẩn ở trẻ đều có sốt, mức độ tiêu chảy nặng hơn, kèm theo các biểu hiện tiêu hóa khác như nôn, đau bụng.

Một số trường hợp suy giảm miễn dịch, trẻ suy dinh dưỡng, có bệnh lý nặng kèm theo, khi dùng kháng sinh phổ rộng, liều cao, kéo dài có thể gây ra tình trạng tiêu chảy nặng hơn, được gọi là viêm đại tràng giả mạc. Trong trường hợp này, các biểu hiện có thể gặp bao gồm: tiêu chảy, phân nhiều nước và có thể có máu; đau bụng; buồn nôn và nôn, sốt. Với các trường hợp viêm đại tràng giả mạc do kháng sinh, cần đưa trẻ đến bác sĩ và xét nghiệm phân để chẩn đoán phân biệt.

Điều trị như thế nào?

Để hạn chế tác dụng không mong muốn của kháng sinh nói chung và loạn khuẩn ruột do kháng sinh gây ra nói riêng, trước hết các bà mẹ cần tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị của bác sĩ, không tự ý mua thuốc điều trị cho con.

Với trường hợp nhẹ, khi ngừng kháng sinh đang sử dụng thì triệu chứng thuyên giảm rõ rệt hoặc có thể khỏi hẳn.

Khi bị loạn khuẩn mà vẫn phải sử dụng kháng sinh hoặc bị loạn khuẩn nặng thì phải điều trị hỗ trợ thêm các chế phẩm vi sinh có chứa probiotic và prebiotic có tác dụng cân bằng lại các chủng vi khuẩn đường ruột. Tuy nhiên, với trường hợp kết hợp với các chế phẩm vi sinh mà không có hiệu quả cần đưa bé tới gặp bác sĩ để thay thế bằng kháng sinh khác và được điều trị tiêu chảy kịp thời. Không sử dụng men tiêu hóa trong các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh.

Cần làm gì tại nhà?

Bù nước và điện giải là vấn đề quan trọng nhất, đặc biệt ở trẻ em, thể trọng cơ thể nhỏ, khi tiêu chảy bị mất nước và điện giải sẽ nhanh chóng gây giảm khối lượng tuần hoàn và rối loạn nước điện giải. Vì vậy, phải cho bé uống bù nước ngay khi biết bé bị tiêu chảy.

Ngay tại nhà, cần bù nước cho trẻ bằng dung dịch oresol hoặc viên hydrite. Cần chú ý pha dung dịch bù nước phải theo đúng hướng dẫn sử dụng, không được chia nhỏ gói oresol hoặc viên hydrit để pha làm nhiều lần. Dung dịch bù nước đã pha nếu quá 12 giờ không uống hết phải bỏ đi. Việc cho uống bù nước phải được duy trì đến khi bé đi tiêu phân sệt và dưới 3 lần mỗi ngày.

Một điểm hết sức quan trọng nữa đó là trong khi bé bị tiêu chảy cần duy trì chế độ ăn thích hợp. Thức ăn cần mềm và lỏng hơn bình thường nhưng vẫn phải đủ 4 nhóm thực phẩm, cho bé ăn nhiều bữa nhỏ. Nếu bé còn bú mẹ hoặc bú sữa ngoài thì vẫn tiếp tục duy trì cho bú.

ThS. Nguyễn Vân Anh

Tác dụng của Hạt sen : dưỡng tâm, an thần, ngon, mát, bổ

Hạt sen dùng cho các trường hợp: tỳ hư tiết tả (tiêu chảy), tiêu chảy lỏng, lỵ dài ngày, hồi hộp mất ngủ, cơ thể suy nhược.

Tất cả các bộ phận của cây sen đều được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền. Đặc biệt, hạt sen có nhiều dưỡng chất (tinh bột, protein, lipid, bêta-amyrin, anpha-amyrin, stigmasterol, bêta-sitosterol, campestola, Ca, P, Fe…), không những là nguyên liệu để chế biến nhiều món ngon trong ngày hè như chè hạt sen, cháo gà hạt sen, cơm chiên hạt sen… mà còn là vị thuốc quý cho sức khỏe.
7d7hatsen

Hạt sen tên thuốc là liên nhục, có vị ngọt, chát, tính bình; vào các kinh: tâm, tỳ và thận. Có tác dụng dưỡng tâm an thần, ích thận, bổ tỳ, sáp tràng, an thai, lợi thủy. Dùng cho các trường hợp di tinh đái hạ, tỳ hư tiết tả (tiêu chảy), tiêu chảy lỏng, lỵ dài ngày, hồi hộp mất ngủ, cơ thể suy nhược. Hằng ngày có thể dùng 12g – 20g dưới dạng nấu, hầm, tán bột, làm mứt…

Một số cách dùng hạt sen làm thuốc

Dưỡng tâm, an thần:toan táo nhân 12g, hạt sen 12g, viễn chí 12g, phục thần 12g, hoàng kỳ 12g, đảng sâm 12g, cam thảo 4g, trần bì 6g. Sắc uống. Trị chứng hư lao tâm phiền không ngủ được, tim đập hồi hộp, đầu váng, mắt hoa…

Kiện tỳ, cầm tiêu chảy:hạt sen 16g, hoàng liên 6g, đảng sâm 12g. Sắc uống. Dùng trị chứng tỳ hư tiết tả, lỵ lâu ngày không khỏi.

Ích thận, cố tinh: hạt sen, ba kích, bổ cốt chỉ, sơn thù, long cốt, phụ tử, phục bồn tử. Các vị liều lượng bằng nhau. Nghiền chung thành bột mịn, dùng hồ nếp làm hoàn. Mỗi lần uống 12g, vào lúc đói, chiêu với nước muối loãng. Dùng trị chứng thận hư, di tinh, băng lậu, đới hạ…

Một số món ăn – bài thuốc có hạt sen

Chè bột trứng gà hạt sen:hạt sen 30g, đường 30g, rượu 30ml, trứng gà 1 quả. Nấu hạt sen chín nhừ, cho đường, rượu và lòng đỏ trứng, khuấy tan. Đun sôi lại, cho ăn trước khi đi ngủ. Dùng cho các trường hợp bị bệnh lâu ngày, người cao tuổi, sau đẻ, cơ thể suy nhược.

Chè hạt sen củ súng:hạt sen 30g, củ súng 30g, đường liều thích hợp. Nấu chè cho ăn vào bữa điểm tâm buổi sáng. Dùng cho các trường hợp di tinh, tảo tiết, đái hạ huyết trắng, kinh nguyệt quá nhiều, tiểu đêm nhiều.

Hạt sen hầm thịt lợn: hạt sen 30g, thịt lợn nạc 150g, thêm gia vị hầm nhừ. Ăn ngày 1 lần. Dùng cho các trường hợp doạ sẩy thai, sẩy thai liên tiếp, phụ nữ có thai đau lưng.

Cháo hạt sen:hạt sen 30g, gạo tẻ 150g. Nấu cháo, thêm đường hoặc muối. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, tiêu lỏng dài ngày.

Kiêng kỵ: Hạt sen tính bình không độc, không có cấm kỵ đặc biệt nhưng các trường hợp đầy bụng, không tiêu, táo bón nên hạn chế.

Theo Sức khoẻ & Đời sống

Trẻ bị tiêu chảy, mẹ cật lực kiêng khem là sai lầm

Đặc biệt trong mùa hè, trẻ bị tiêu chảy càng nhiều, để chăm con đúng cách trong trường hợp này không phải bậc phụ huynh nào cũng biết.

Trẻ bị tiêu chảy, mẹ cật lực kiêng khem

Mới đi học mẫu giáo được vài ngày, bé Cún đã được mẹ là chị Thu (Yên Ninh, Hà Nội) cho nghỉ học gấp vì bé bị sụt sịt liên miên, mấy hôm nay còn kèm theo tiêu chảy. Nghe bà hàng xóm mách, chị ngừng toàn bộ sữa, các chế phẩm từ sữa, thịt, cá, tôm, cua… chị chỉ cho bé Cún ăn cháo trắng với nước mắm.

dieu-tri-tre-bi-tieu-chay-sai-lam-khi-me-qua-kieng-khem

Chị cho rằng: “Con bị tiêu chảy chứng tỏ hệ thống tiêu hóa của con đang bị ốm yếu, nếu ăn thức ăn khó tiêu như thịt cá, sữa thì càng mệt hơn. Tốt nhất ăn càng ít càng tốt”. Lý do tưởng chừng như hợp lý trên lại là một sai lầm phổ biến của nhiều bà mẹ.

Chị Hằng (Hà Đông, Hà Nội) là một ví dụ. Thực đơn ăn của bé Mai nhà chị dạo này chỉ là cháo trắng loãng với cà rốt. Nguyên nhân cũng chỉ do bé bị tiêu chảy, chị nghĩ nát óc mà không hiểu tại sao con lại bị đi ngoài. Thấy con héo mòn, ăn cháo trắng suốt nên chán, lười ăn, chị càng lo lắng hơn. Nhìn con đòi ăn sữa mà chị xót hết cả ruột. Nhưng cái sự kiêng khem của chị chưa đi đến đâu bởi bé ngày một ốm yếu, xanh rớt, phải đến khi bé ngất xỉu chị mới đưa bé vào viện.

Tại bệnh viện, bác sĩ nói rằng: “May chị vào sớm để bé được truyền nước kịp thời, chậm chút nữa thì tính mạng bé còn khó giữ”. Nghe những lời nói này mà gia đình chị lo lắng vô cùng, chị không tin được rằng kinh nghiệm “vàng” truyền miệng như vậy hóa ra là sai lầm.

Chăm trẻ bị tiêu chảy: Sai lầm khi kiêng khem

Thạc sĩ, Bác sĩ Vũ Văn Lực – Viện Bảo hộ lao động cho rằng, không chỉ hai trường hợp trên mà có rất rất nhiều bậc phụ huynh mắc phải sai lầm này. Họ cứ thấy con bị tiêu chảy là họ cho dừng toàn bộ đồ ăn dinh dưỡng, chỉ cho con ăn cháo loãng với muối hoặc nước mắm.

Tiêu chảy là một bệnh lý mà trẻ gặp khá nhiều. Khi bị mắc phải bệnh này, trẻ sẽ thường xuyên trong tình trạng chán ăn, cơ thể mệt mỏi vì bị mất nước và một điều vô cùng nguy hiểm là nếu cha mẹ không bù nước kịp thời cho con, cơ thể con sẽ gặp tình trạng mất nước, mất nước là một nguy cơ khiến trẻ bị tử vong rất cao.

Bác sĩ khẳng định việc cha mẹ cho bé kiêng ăn tôm, cua, thịt, cá sữa là một hành động sai lầm, nếu kéo dài, chính cha mẹ sẽ khiến bé phải đối diện với nguy cơ bị suy dinh dưỡng cơ thể trong tương lai.

Vậy khi bé bị tiêu chảy thì cha mẹ phải làm gì?

Bé bị tiêu chảy nên thường bị mất nước, cơ thể thiếu nước sẽ dẫn đến những biến chứng nặng nề, có thể ảnh hưởng đến tính mạng. Việc cần làm đầu tiên đó là cha mẹ nên cho bé uống bù nước ngay và liên tục. Ngoài nước lọc, cha mẹ có thể cho bé uống các dung dịch bù nước thông dụng như oresol, dừa xiêm non, mỗi 15 phút cho bé uống một lần. Cha mẹ nên theo dõi nếu bé đi tiểu nhiều, linh động, da tươi tắn, hồng hào thì đó là một dấu hiệu tốt.

Bậc phụ huynh nên chủ động cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho bé (bữa ăn hàng ngày luôn đủ 4 nhóm thực phẩm chính: bột đường, chất đạm, chất béo, rau củ quả). Bác sĩ Lực khuyên chị em nên cho bé ăn đầy đủ chất đặc biệt là thịt gà, lợn, cá nạc, sữa và các chế phẩm từ sữa. Trong thời điểm này, có thể bé rất mệt mỏi lười ăn nhưng cha mẹ không nên quá lo lắng, không nên ép bé mà nên động viên khuyến khích bé ăn. Cho bé ăn giãn bữa, ăn ít một, ăn theo nhu cầu với đồ ăn mềm, loãng. Với trẻ nhỏ, mẹ nên tăng cường cho bé bú.

Ngoài ra, bậc phụ huynh nên chú ý tới vệ sinh an toàn thực phẩm, tránh nguy cơ bị bội nhiễm. Cha mẹ cần cho bé ăn chín uống sôi, hạn chế sử dụng lò vi sóng bởi chưa chắc đồ ăn đã được đun kỹ. Cha mẹ cần chế biến đồ ăn ăn tới đâu nấu tới đó, tránh thức ăn cũ, lưu cữu ngày này qua ngày khác.

Phòng ngừa bệnh tiêu chảy cũng là một điều mà cha mẹ nên nằm lòng, bạn cần lưu ý những điều sau: Cha mẹ nên mua, chế biến những thực phẩm sạch và được nấu chín, hạn chế cho bé ăn thức ăn nhanh, thức ăn không đảm bảo được bày bán ngoài đường. Giúp bé có thói quen rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn, dạy bé nói không với mút tay. Tuyệt đối cho bé tránh xa ổ bệnh, người đang bị tiêu chảy.

Nếu bé có dấu hiệu của tiêu chảy, sau khi làm theo những lời khuyên trên mà chưa thấy bé đỡ, cha mẹ không nên chần chừ, hãy đưa bé ngay tới bệnh viện để thăm khám kịp thời.

Chế độ dinh dưỡng BRAT giúp bé chống tiêu chảy

 Các nhà khoa học đã đưa ra chế độ BRAT giúp bé chống tiêu chảy hiệu quả.

Hầu hết trẻ nhỏ đều ít nhất một lần bị tiêu chảy, cho dù mẹ có chăm sóc bé kỹ đến đâu đi nữa. Làm sao để giúp bé vượt qua những ngày mệt mỏi này?

Các nhà khoa học đưa ra chế độ dinh dưỡng BRAT – gồm 4 loại thực phẩm cần thiết để giúp bé chống lại tiêu chảy. Chúng là chuối (banana), gạo (rice), táo (apple) và bánh mì nướng (toast).

Chuối
chuoi-chong-tieu-chay
Chuối giúp hệ tiêu hóa hoạt động mạnh mẽ hơn. Với trẻ trong độ tuổi ăn dặm, có thể nghiền nát chuối tươi hoặc trộn chung với bột của bé.

Gạo

Cơm hoặc ngũ cốc từ bột gạo cũng là một loại thực phẩm mà bé nên ăn trong thời kỳ này. Tuy nhiên, với bé còn nhỏ mẹ chỉ nên cho bé dùng ngũ cốc hoặc cháo loãng. Gạo là thực phẩm đường bột nên sẽ lấp đầy dạ dày, giúp bé chống chọi với căn bệnh.

Táo

Táo hoặc xốt táo, sinh tố táo rất cần thiết để đẩy lùi tiêu chảy. Xốt táo chứa pectin, có khả năng liên kết phân lỏng. Đồng thời lượng đường tự nhiên trong xốt táo còn giúp bổ sung năng lượng dồi dào. Xốt táo dễ ăn, nhẹ bụng và cung cấp nước cho cơ thể trong những ngày tiêu chảy.

Tuy nhiên, các món xốt táo được làm sẵn ở ngoài thường chứa lượng đường khá lớn nên có khả năng khiến bệnh tiêu chảy của bé nặng hơn.Vì vậy, mẹ nên tự làm xốt táo hoặc kiểm tra chỉ số dinh dưỡng trên bao bì khi mua.

Đây được coi là lựa chọn khá lý tưởng vì xốt táo, hoặc táo xắt nhỏ rất dễ phối hợp với các thực phẩm khác cho trẻ, kể cả trẻ ăn dặm, thậm chí còn kích thích vị giác của bé.

Bánh mì nướng

Bánh mì khô là một phần trong chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị tiêu chảy bởi chúng cung cấp “nguyên liệu” lớn để tạo phân ra ngoài. Bên cạnh đó, bánh mì nướng còn chứa rất nhiều cacbohydrate tạo năng lượng và pectin.

Tuy bé trong tuổi ăn dặm không thể nhai bánh mì nướng nhưng bạn có thể cắt từng miếng cho bé. Bánh mì nướng nên ăn chung với xốt táo hoặc chuối dằm thay cho bơ đường để giảm lượng chất béo.

Nhận diện nguyên nhân gây ra tiêu chảy mùa nắng nóng

Mùa nắng nóng nhiều bệnh tật luôn rình rập, trong đó bệnh do vi sinh vật gây ra đáng lo ngại hơn cả, nhất là loại bệnh gây thành dịch. Khi nhận mặt được kẻ thù gây nên bệnh tiêu chảy trong mùa nắng nóng, chúng ta sẽ tìm các biện pháp ngăn chặn chúng nhằm hạn chế đến mức tối đa không để chúng gây bệnh cho con người.

Điểm mặt một số kẻ thù gây tiêu chảy mùa nắng nóng

Mùa nắng nóng làm đổi thay nhiều điều trong sinh hoạt hằng ngày của con người và mùa nắng nóng cũng tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, đặc biệt lưu ý là các loại vi sinh vật gây bệnh cho con người. Có rất nhiều loại vi sinh vật có khả năng phát triển mạnh vào mùa hè, trong đó phải kể đến vi sinh vật thuộc hệ đường tiêu hóa. Vi sinh vật gây bệnh cho đường ruột vào mùa nắng nóng có thể gặp virut, vi khuẩn hoặc vi nấm. Vi khuẩn đường ruột gây bệnh tiêu chảy đáng chú nhất là vi khuẩn tả (V.cholerae). Vi khuẩn tả là một loại vi khuẩn có độc lực rất mạnh, cùng một lúc, ở trong một địa phương có thể có nhiều người chưa có miễn dịch chống vi khuẩn tả có thể mắc bệnh tả.

nhan-dien-nguyen-nhan-gay-tieu-chay-o-tre-mua-nang-nong

Triệu chứng của bệnh tiêu chảy do vi khuẩn tả rất rầm rộ, diễn biến phức tạp, người bệnh bị mất nhiều nước và chất điện giải trong một thời gian rất ngắn. Vì vậy, rất có khả năng dẫn đến truỵ tim mạch và có nguy cơ tử vong, nếu không phát hiện và xử trí kịp thời.

Vi khuẩn thương hàn (Salmonella) cũng là một loại kẻ thù đáng sợ trong bệnh tiêu chảy mùa nắng nóng. Vi khuẩn thương hàn thuộc họ vi khuẩn đường ruột, chúng có khả năng gây bệnh cho nhiều người, đặc biệt là những người chưa có miễn dịch chống lại vi khuẩn thương hàn. Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn thương hàn cũng chủ yếu lây theo đường ăn uống, bệnh cảnh lâm sàng diễn biến theo các giai đoạn khác nhau. Ngoài triệu chứng gây rối loạn tiêu hóa (đau bụng, tiêu chảy) thì chúng còn gây nhiễm khuẩn huyết – một thể bệnh hết sức trầm trọng. Một số trường hợp bị bệnh thương hàn có thể bị thủng ruột, nếu không phát hiện sớm và cấp cứu không kịp thời, rất nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Một kẻ đồng phạm gây tiêu chảy mùa nắng nóng là vi khuẩn lỵ (Shigella). Đây là loại vi khuẩn có khả năng gây nhiễm khuẩn đường tiêu hóa mạnh, thể hiện là tiêu chảy cấp, phân lỏng có kèm theo máu tươi, tạo nên màu của phân giống như máu cá. Tiêu chảy do vi khuẩn lỵ cũng thuộc loại tiêu chảy cấp tính, có nhiều trường hợp số lần tiêu chảy trong ngày là rất lớn, có khi không thể đếm được số lần do phân tự chảy ra hậu môn. Vi khuẩn lỵ (Shigella) có 4 nhóm huyết thanh, nhưng nguy hiểm nhất là nhóm I, týp S.shiga bởi vì týp này vừa gây bệnh bằng nội độc tố, vừa gây bệnh bằng ngoại độc tố cho nên bệnh cảnh lâm sàng rất nặng, diễn biến phức tạp.

Vi khuẩn E.coli, một kẻ thù gây bệnh tiêu chảy mùa nắng nóng không thể bỏ qua. Vi khuẩn E.coli có trong phân người và động vật, vì vậy nó xuất hiện nhiều nơi trong tự nhiên như đất, nước, không khí, bụi, rác thải, thực phẩm không đảm bảo vệ sinh. Trong những năm gần đây, người ta đã nghiên cứu thấy rằng vi khuẩn E.coli có 2 loại chủ yếu, một loại mang gen tiêu chảy và một loại mang gen nhiễm khuẩn bệnh viện. Loại vi khuẩn mang gen tiêu chảy có khả năng gây tiêu chảy. Mùa nắng nóng là mùa có điều kiện sống rất thuận lợi cho vi khuẩn E.coli phát triển, cho nên chúng rất dễ gây bệnh vào mùa này nhất là gây tiêu chảy cho trẻ. Bệnh tiêu chảy do E.coli gây ra cũng thuộc loại tiêu chảy cấp, nếu không phát hiện sớm và có hướng xử lý kịp thời thì bệnh cảnh ngày một trầm trọng hơn. Bệnh tiêu chảy do E.coli cũng lây lan theo đường ăn uống do nước, thực phẩm không đảm bảo vệ sinh.

Các loại virut thường gặp nhất là Enterovirus nhưng đáng lưu ý hơn cả là loại Rotavirus. Rotavirus gây tiêu chảy cho trẻ em là chủ yếu. Nhiều công trình nghiên cứu trong nước cho thấy, tỷ lệ tiêu chảy ở trẻ em do Rotavirus chiếm tới 27% (ở các nước phát triển thì tỷ lệ này chiếm tới 50%). Điều này có liên quan mật thiết với tình hình vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm. Bệnh tiêu chảy mùa nắng nóng cũng có thể do ký sinh trùng gây nên bởi người sử dụng nước hoặc thực phẩm không đảm bảo vệ sinh như uống nước chưa đun sôi, ăn rau sống, dùng nước đá không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh. Điển hình bệnh gây tiêu chảy do ký sinh trùng là bệnh do giun đũa, bệnh kiết lỵ do lỵ amíp gây nên.

Phòng bệnh tiêu chảy mùa nắng nóng
Muốn phòng bệnh tiêu chảy mùa hè tốt, trước tiên phải quản lý phân, chất thải, vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm thật tốt, đồng thời các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cần được phòng bệnh bằng vaccin. Bởi vì đối với bệnh tiêu chảy mà đã có vaccin thì dùng vaccin là một biện pháp hữu hiệu nhất trong các biện pháp phòng bệnh nhiễm khuẩn. Mặt khác, không nên ăn rau sống, không ăn các thực phẩm chưa được nấu chín như tiết canh, thịt tái (phở tái), nem chạo, nem chua, các loại gỏi (gỏi cá). Tuyệt đối không ăn các loại thức ăn đã bị ôi thiu, không uống nước lã (nước chưa được đun sôi), không ăn kem không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, không uống các loại nước giải khát bán dạo, mất vệ sinh. Cần vệ sinh tay sạch sẽ bằng xà phòng và đi găng đảm bảo tiêu chuẩn trước khi chế biến thực phẩm. Không dùng dụng cụ chế biến thực phẩm sống chung với thực phẩm đã nấu chín. Cần rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu

Theo SKDS

Trẻ bị táo bón – đề phòng và chữa trị

Táo bón là hiện tượng ruột co bóp kém hoặc không đủ mạnh để bài tiết phân ra ngoài. Các cơ bụng và thành ruột cũng có một vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón. Có nhiều nguyên nhân gây táo bón như: rối loạn chuyển hóa, rối loạn tuyến nội tiết, có sự bất thường ở đường tiêu hoá…

Khi trẻ bị táo bón, phân thường cứng và khô. Táo bón là một triệu chứng hay gặp ở trẻ em khi thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm và ít chất khoáng, cũng có khi do uống nhiều sữa bò, sữa bột vì ít sữa mẹ hoặc do ăn quá nhiều thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết.

Bạn hãy cho cháu uống nhiều nước và nước ép trái cây. Các loại nước mận ép hoặc nước luộc củ cải cũng có tác dụng chống táo bón.

Hãy cố đưa nhiều chất xơ hơn và chế độ ăn của con bạn. Chất xơ đem lại khối lượng độn giúp cho ruột bám chặt và chuyển được những gì có trong ruột. Việc cho trẻ ăn nhiều rau quả sẽ giúp cho cơ bụng và thành ruột co bóp tốt hơn.

Đối với những trẻ còn bú thì pha sữa loãng hơn bình thường một chút, có thể pha thêm một thìa cà phê nước quả (cam, quýt) vào cốc sữa cho trẻ, hoặc dùng nước cháo pha sữa. Có một điều cũng khá quan trọng là mẹ bị táo bón mà cho con bú thì trẻ cũng sẽ bị táo bón. Vì vậy cần phải điều trị táo bón cho mẹ trước.

Khi trẻ bị táo bón, ngoài việc điều chỉnh chế độ ăn uống bạn nên tập cho trẻ thói quen đi ngoài vào một giờ cố định trong ngày. Nên chọn thời gian lúc trẻ không vội vã, thời gian sau bữa ăn là lúc thích hợp nhất, vì lúc này nhu động ruột hoạt động tăng.
taobonotre
Bạn đừng có hối thúc con bạn khi cháu đang ngồi bô nhưng cũng đừng bỏ mặc cháu ở đó quá lâu. Nếu cháu có vẻ bị táo bón, bạn hãy thoa vaseline quanh hậu môn cho cháu trước khi cho cháu ngồi bô, để làm cho cháu đi cầu dễ hơn.

Bạn đừng quá lo lắng khi con bạn bị táo bón nhất thời, chứng đó sẽ không gây hại gì cho cháu. Nhưng nếu bé bị táo bón kéo dài trên 3 ngày, khóc kêu đau khi đi cầu hoặc có những vệt máu trong phân, trong tã hay đũng quần thì bạn nên đưa trẻ đi khám bệnh để được điều trị ngay, tránh trường hợp bé bị táo bón nặng đến độ phân quá to và khô cứng, gây tổn thương nặng ở hậu môn.

Nguồn st

Lưu ý khi chữa trị bệnh tiêu chảy

Mùa hè với thời tiết nắng nóng là điều kiện hết sức thuận lợi cho các bệnh tiêu chảy cấp. Có nhiều loại vi khuẩn gây nên bệnh lý tiêu chảy cấp như tụ cầu vàng, E.coli, phẩy khuẩn tả, giun, sán, vi khuẩn Salmonela, Shigela hoặc Rotavirus. Khi nhiễm bệnh, cho dù nguyên nhân là gì và loại vi khuẩn nào gây nên thì việc quan trọng nhất và đầu tiên cần làm là bù nước và điện giải. Ngay tại nhà, cần bù nước bằng dung dịch oresol hoặc viên hydrite. Cần chú ý pha dung dịch bù nước phải theo đúng hướng dẫn sử dụng, không được chia nhỏ gói oresol hoặc viên hydrit để pha làm nhiều lần. Dung dịch bù nước đã pha nếu quá 12 giờ không uống hết phải bỏ đi. Việc cho uống bù nước phải được duy trì đến khi người bệnh đi tiêu phân sệt và dưới 3 lần mỗi ngày.

luu-y-benh-tieu-chay-

Một điểm hết sức quan trọng nữa đó là trong khi bị tiêu chảy cần duy trì chế độ ăn thích hợp. Thức ăn cần mềm và lỏng hơn bình thường, nhưng vẫn phải đủ 4 nhóm thực phẩm. Nếu bệnh nhân là trẻ nhỏ thì vẫn phải cho trẻ bú mẹ và các bữa ăn dặm phải lỏng hơn, mềm hơn và chia thành nhiều bữa nhỏ.

Ngoài ra, tùy thuộc vào nguyên nhân gây tiêu chảy mà có thể sử dụng kháng sinh, thuốc làm giảm nhu động ruột hoặc men tiêu hóa. Tuy nhiên, chỉ có bác sĩ mới có quyền chỉ định cho dùng thuốc gì, bạn không nên tự ý sử dụng thuốc để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Với tiêu chảy do phẩy khuẩn tả, bệnh nhân sẽ được điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu, bù nước và điện giải. Tiêu chảy cấp do Salmonella thì điều trị chủ yếu bằng bù dịch, hạ sốt, dùng thuốc an thần hoặc dùng kháng sinh nếu cần. Tiêu chảy cấp do độc tố của tụ cầu, đều cần bổ sung nước và điện giải, trợ tim mạch. Bệnh do Rotavirus thì chỉ cần cân bằng nước và điện giải…
Tiêu chảy cấp nói chung và tiêu chảy cấp do nhiễm khuẩn nói riêng là nguyên nhân gây tử vong quan trọng ở nhiều vùng trên thế giới, trong đó có một số vùng ở Việt Nam do vậy cần hết sức quan tâm đến việc tuyên truyền giáo dục cho mọi người dân có ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, giữ gìn vệ sinh và bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo quản tốt thức ăn, nước uống trước, trong và sau khi chế biến; ăn chín, uống sôi; tạo lập thói quen rửa tay trước khi ăn, rửa tay sau khi đi vệ sinh; quản lý tốt chất thải sinh hoạt, đặc biệt chất thải của con người nhất là của bệnh nhân tiêu chảy cấp. Khi vật nuôi bị ốm vì bất cứ nguyên nhân gì cũng cần cách ly chúng, không nên tiếp xúc, đặc biệt là trẻ em.

ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Theo SKDS

Trẻ bị tiêu chảy và những sai lầm của bà mẹ

Nhiều người không cho con ăn rau, dầu mỡ, hoa quả, tôm cá… khi trẻ bị tiêu chảy, vì cho rằng những thức ăn này khó tiêu, chua hoặc tanh. Sự kiêng ky đó sẽ khiến trẻ lâu bình phục hơn, vì những thực phẩm này chứa các chất rất cần thiết cho việc tái tạo niêm mạc đường tiêu hóa và tăng cường dinh dưỡng cho trẻ.

Sau đây là một số sai lầm khác mà nhiều người mắc phải:

– Cho trẻ nhịn ăn để ruột được nghỉ ngơi: Nhiều nghiên cứu cho thấy, niêm mạc ruột tuy bị tổn thương do bệnh tiêu chảy nhưng vẫn đủ khả năng hấp thu nước và 70% các chất  dưỡng. Vì vậy, cần tiếp tục cho trẻ ăn uống như bình thường, nhằm giúp trẻ có đủ dưỡng chất, tăng sức chống đỡ với bệnh tật. Nếu trẻ đang bú mẹ thì hãy tiếp tục cho bú theo nhu cầu và tăng số lần bú. Ngoài đảm bảo dinh dưỡng, điều này còn có tác dụng chống mất nước do tiêu chảy.

tieuchay-

– Người mẹ kiêng nhiều loại thức ăn để sữa được lành: Nhiều người mẹ thậm chí chỉ ăn cơm với muối khi con bị tiêu chảy, cho rằng việc này sẽ giúp đứa trẻ an toàn khi bú mẹ. Tuy nhiên, sự kiêng kỵ này không những khiến trẻ không nhận đủ dinh dưỡng mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng tiết sữa của người mẹ.

– Không cho trẻ ăn sữa chua vì sợ ruột bị bào mòn: Thực tế, sữa chua làm giảm thời gian và độ nặng của đợt tiêu chảy, do quá trình lên men đã chuyển phần lớn đường lactose (loại đường khó hấp thu) trong sữa bò sang một dạng dễ hấp thu hơn. Ngoài ra, một số chủng vi khuẩn trong sữa chua có khả năng ức chế sự phát triển và gây bệnh của các vi sinh vật có hại trong đường tiêu hóa, tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch.

Lưu ý:

– Trẻ khi bị tiêu chảy thường chán ăn. Các bậc cha mẹ cần chia nhỏ bữa và kiên trì động viên, khuyến khích trẻ. Không dùng thức ăn chứa nhiều đường hoặc nước giải khát công nghiệp vì những thực phẩm này có thể làm tình trạng tiêu chảy nặng hơn.

– Thức ăn cho trẻ phải được nghiền nhỏ, nấu hơi loãng hơn thường ngày. Mỗi bữa ăn cần có đủ chất bột, đạm, vitamin và muối khoáng.

– Nếu ngày thường trẻ có ăn sữa bò và sữa đậu nành thì khi trẻ bị tiêu chảy, chế độ ăn này vẫn cần được duy trì. Tuy nhiên, khi bị tiêu chảy, một số trẻ không dung nạp được đường lactose trong sữa bò hoặc protein của sữa đậu nành. Biểu hiện là mặc dù trẻ rất thèm ăn nhưng sau khi ăn khoảng 30 phút thì quấy khóc, nôn và tiêu chảy nặng thêm. Trong trường hợp này, hãy pha sữa bằng nước cơm để giảm nồng độ lactose trong sữa hoặc làm sữa chua cho trẻ ăn.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng bệnh tiêu chảy ở trẻ nhỏ

Tiêu chảy là một căn bệnh thường gặp ở trẻ, đặc biệt trẻ dưới 2 tuổi, trong đó tỷ lệ phát bệnh ở trẻ dưới 1 tuổi chiếm tỷ lệ 50%. Thời điểm bệnh bùng phát cao nhất là mùa hè và mùa thu.

Theo một nghiên cứu kéo dài 14 năm của Mỹ, trẻ nhỏ bị tiêu chảy tái diễn sẽ kém phát triển trí tuệ khi trưởng thành, nguyên nhân có thể là do cơ thể của trẻ bị bệnh không hấp thu được một số chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trí não.

phong-benh-tieu-chay-cho-be-trong-mua-thu-1

Triệu chứng của bệnh

Căn bệnh tiêu chảy có triệu chứng nôn, tiêu chảy là chính. Trẻ bị nặng còn bị mất nước, rối loạn chất điện giải và bị chứng trúng độc toàn thân, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe.

Điều chỉnh việc ăn uống của trẻ bị tiêu chảy như thế nào?

Sau khi trẻ sơ sinh bị tiêu chảy, việc điều chỉnh lại chế độ ăn uống và hạn chế ăn uống giúp cho việc khôi phục lại chức năng đường ruột, dạ dày nhanh hơn.

Khi trẻ bị tiêu chảy, tốt nhất là bù nước cho trẻ bằng Oresol ngay từ lần đầu tiêu chảy. Cứ sau mỗi lần trẻ đi ngoài lại cho trẻ uống từ 50 – 100ml (đối với trẻ dưới 2 tuổi) và từ 100 – 200ml (đối với trẻ trên 2 tuổi).

Lúc mới bị bệnh có thể cho trẻ nhịn từ 6 – 8 tiếng đồng hồ. Sau khi nhịn 6-8 tiếng, không nên cho trẻ ăn bình thường mà nên cho trẻ ăn dần dần ít một và điều chỉnh theo khả năng tiêu hóa của đường ruột. Khi trẻ ăn lại bình thường nếu trẻ vẫn bú sữa mẹ nên rút ngắn thời gian bú mỗi lần. Bú xong vắt bỏ hết sữa còn lại trong vú (vì lượng sữa còn lại đặc, nhiều chất béo, khó tiêu hóa).

Những trẻ bị tiêu chảy nặng có thể chỉ tăng 1 – 2 lần bú sữa và thay bằng nước gạo rang để dễ tiêu hóa.

Lưu ý các biện pháp trên chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn. Khi trẻ hết tiêu chảy, cần cho ăn uống trở lại bình thường để cung cấp dinh dưỡng đầy đủ cho trẻ.

Những trẻ nuôi bằng sữa ngoài có thể cho uống nước cháo trước, sau đó hòa loãng nước cháo với sữa bò. phong-benh-tieu-chay-cho-be-trong-mua-thu-2

Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy thường xuất phát từ những lý do sau đây

Viêm nhiễm trong đường ruột

Tục ngữ có câu “Bệnh vào từ miệng”, đối với trẻ sơ sinh nuôi bằng sữa ngoài, nếu việc sát trùng bình sữa và núm vú không kỹ hoặc sữa cho trẻ bú không được sạch sẽ, trẻ rất dễ bị nhiễm vi trùng hoặc virus gây nên tiêu chảy.

Viêm nhiễm ngoài đường ruột

Các khí quản khác bị viêm nhiễm cũng dẫn đến tiêu chảy, thường thấy các bệnh như viêm tai giữa, viêm họng, viêm hệ thống tiết niệu, viêm da và bệnh truyền nhiễm cấp tính khác. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác: phát sốt và chịu ảnh hưởng độc tố của các sinh vật gây bệnh có thể làm rối loạn chức năng tiêu hóa, gây nên bệnh tiêu chảy. phong-benh-tieu-chay-cho-be-trong-mua-thu-3

Việc nuôi dưỡng trẻ không hợp lý

Nuôi dưỡng không hợp lý là một trong những nguyên nhân gây nên bệnh tiêu chảy. Phần lớn hay xảy ra ở các trường hợp nuôi con bằng sữa ngoài. Tất cả các yếu tố như: cho trẻ ăn quá no, quá ít, ăn không theo thời gian quy định nào, thành phần thức ăn không thích hợp, cho trẻ ăn bột, ăn cơm hoặc ăn các chất béo quá sớm và đột nhiên thay đổi chủng loại tính chất thức ăn không phù hợp, hay đột ngột cắt sữa đều dẫn đến rối loạn chức năng tiêu hóa mà gây ra tiêu chảy.

Ảnh hưởng của khí hậu

Khí hậu nóng mồ hôi ra nhiều, men tiêu hóa và lượng axit trong dạ dày bị suy giảm cũng làm ảnh hưởng đến việc tiêu hóa thức ăn của trẻ. Khí hậu chuyển lạnh nhưng lại không giữ ấm cho phần bụng và xương cụt sẽ làm cho sức nhu động của đường ruột tăng lên đều có khẳ năng gây nên bệnh tiêu chảy.

Theo CNMS/SKDS

Tiêu chảy hay viêm ruột do kháng sinh

Một số thân nhân thường hay than phiền sau khi hoặc đang điều trị ho thì bé bị tiêu chảy,    “ chưa hết bệnh này đã nhiễm bệnh khác ”.

Tiêu chảy có thể do nhiều nguyên nhân như: do vi trùng hoặc ký sinh trùng đường ruột, do chế độ ăn uống, hoặc có thể là loạn khuẩn đường ruột do lạm dụng kháng sinh…

Nếu bé bị tiêu chảy khi đang điều trị một bệnh nào đó như viêm phổi chẳng hạn, mà đã loại trừ hết các nguyên nhân khác thì có thể là loạn khuẩn đường ruột do kháng sinh.

tieu_chay_hay_viem_ruot_do_khang_sinh

Bình thường trong đường ruột luôn tồn tại một quần thể vi khuẩn lành tính với nhiều loài khác nhau. Các vi khuẩn này luôn duy trì ở thế cân bằng, nhằm tăng cường quá trình tiêu hoá, hấp thụ chất dinh dưỡng, thải trừ các chất độc hại, kìm hãm và làm mất tác dụng của các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột . Khi sử dụng một hoặc nhiều loại kháng sinh mạnh có tác dụng lên  nhiều loại vi khuẩn, với liều cao và kéo dài, thì các loài vi khuẩn lành tính nói trên cũng bị kháng sinh tiêu diệt, phá vỡ thế cân bằng gây ra hiện tượng loạn khuẩn, do đó thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn gây bệnh có sẵn hoặc mới xâm nhập, dẫn tới chứng tiêu chảy hoặc viêm ruột do kháng sinh.

Khi bị loạn khuẩn đường ruột, bé có triệu chứng phân lỏng, phân sống, đôi khi có lẫn chất nhày hoặc ít máu, đôi khi có cảm giác chướng bụng, sốt nhẹ. Nếu dùng thuốc chống tiêu chảy, thì các triệu chứng trên thuyên giảm, nhưng nếu ngừng thuốc thì lại tái phát trở lại. Với các trường hợp nhẹ, khi ngừng kháng sinh đang sử dụng thì triệu chứng thuyên giảm rõ rệt hoặc có thể khỏi hẳn. Trong trường hợp vẫn cần thiết phải sử dụng kháng sinh hoặc loạn khẩn nặng thì phải điều trị hỗ trợ thêm các thuốc “men tiêu hoá”chứa các loại vi khuẩn lành tính như: Antibio, Biosubtyl, Probio, Lacteol fort,…(có tác dụng cân bằng lại các chủng vi khuẩn đường ruột)

Nếu chứng loạn khuẩn không được điều trị sớm, có thể dẫn đến hiện tượng mất nước, rối loạn điện giải, duy dinh dưỡng, suy kiệt…

Nên cho bé đi khám lại nếu có dấu hiệu loạn khuẩn để được BS điều chỉnh lại kháng sinh, đồng thời thêm các loại thuốc hỗ trợ tiêu hoá khác.

Đăng bởi: BS.CK1.Nguyễn phương Hòa Bình – TK.Khám Bệnh
Theo benhviennhi.org.vn

Làm gì khi trẻ nôn ói

Những ngày gần tết, các bé có triệu chứng nôn ói đến khám tại phòng khám “Bệnh viện Nhi đồng 2” tăng. Có nhiều nguyên nhân gây nôn ói ở trẻ, những ngày gần tết do các phụ huynh muốn tăng cường thêm năng lượng cho trẻ bằng cách cố ép trẻ ăn nhiều hơn, hoặc do bố mẹ nhiều việc nên không kiểm soát việc ăn uống của trẻ, trẻ dễ dẫn đến các rối loạn tiêu hóa.

Các cháu mới sinh thường hay ói. Có nhiều nguyên nhân. Người lớn coi sóc các cháu nên chú ý xem cháu bị nôn ói trong trường hợp nào, có kèm theo các triệu chứng gì không thì mới xác định được là hiện tượng này không quan trọng hoặc đáng lo ngại. Hiện tượng nôn ói có thể như sau :

lam_gi_khi_tre_non_oi

* Ðang khỏe mạnh bỗng nôn ói kèm sốt, tiêu chảy: có thể do bị bệnh thuộc loại tai-mũi-họng, hoặc vì các chất tiêu hóa di chuyển ngược chiều đoạn dạ dày – ruột Nôn ói sẽ dẫn tới hiện tượng cơ thể thiếu nước.

* Bỗng nhiên bị nôn ói, không sốt nhưng không muốn uống, bị đau bụng không đi tiêu được: có thể bị rối loạn tiêu hóa hoặc lồng ruột, tắc ruột. Cần tới bác sĩ ngay.

* Bị nôn nhiều lần, bị đi bị lại, ngưng tăng cân: viêm tai hay viêm niệu đạo.

Phần lớn các cháu bé nôn ói vì thức ăn chuyển động ngược lại đoạn thực quản – dạ dày

Các cháu nhỏ thường nôn ói vì động cơ tâm lý, làm nũng mẹ.

Các cháu lớn hơn nếu bị nôn ói kèm theo đau bụng và sốt có thể do các bệnh đau ruột thừa,  viêm gan…

Làm gì khi trẻ hay nôn ói ?

1. Đưa trẻ đi khám bác sĩ để loại trừ nguyên nhân trẻ bị ói do bệnh (ví dụ: viêm họng, bệnh lý đường tiêu hóa)

2. Tạo không khí thoải mái khi cho trẻ ăn như kể chuyện, chơi đồ chơi, bố làm trò, xem tivi… Tuy nhiên nên giảm dần khi trẻ ăn khá hơn để tránh trở thành điều bắt buộc phải có cho mỗi bữa ăn.

3. Đừng cố ép trẻ ăn quá no. Thay vào đó, bạn nên chia làm nhiều bữa ăn. Quan trọng là lượng thức ăn cả ngày.

4. Sau bữa ăn nên cho trẻ vận động nhẹ nhàng. Tránh chọc trẻ khóc hay cười quá mức cũng có thể làm trẻ bị ói.

5. Nên sắp xếp cữ ăn gần cữ ngủ; giấc ngủ sẽ giúp cho cữ ăn của bé được an toàn.

6. Không nên la mắng khi trẻ bị ói. Một số trẻ giả vờ ói để dọa  hay phản đối khi không muốn ăn nữa, lúc đó bạn vờ như không chú ý đến điều đó. Sau một vài lần thực hiện không hiệu quả, trẻ sẽ không làm điều đó nữa.

7. Cuối cùng, tình thương của bạn sẽ giúp trẻ vượt qua tất cả

Đăng bởi: Bs Nguyễn Văn Tân Minh
Theo benhviennhi.org.vn

Bệnh lý tiêu hóa thường gặp ở trẻ em

Rối loạn tiêu hóa (RLTH) là một thuật ngữ thường dùng để chỉ những bất thường về chức năng dạ dày. Nguyên nhân của RLTH rất đa dạng như: bệnh lý của cơ thể, thay đổi chế độ ăn, dùng thuốc… đặc biệt là sự thay đổi chế độ ăn đột ngột của trẻ em khi bắt đầu ăn dặm, sẽ gây nên TLTH thể hiện qua các triệu chứng như: đầy hơi, chướng bụng, táo bón, tiêu chảy, phân sống.

Với những trẻ thường xuyên có biểu hiện bất thường tại đường tiêu hóa, chắc chắn khả năng cung cấp đủ các chất cho cơ thể bị ảnh hưởng. Trẻ ăn vào ói ra, kém hấp thu… lâu ngày sẽ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng và diễn tiến đến suy dinh dưỡng.

Vì vậy, những trẻ có biểu hiện RLTH nên được đi khám sớm và đúng chuyên khoa để có hướng điều trị đúng cho trẻ. Dưới đây là một số bệnh lý tiêu hóa thường gặp ở trẻ em.

benh_ly_tieu_hoa_thuong_gap_o_tre_em

Trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản là hiện tượng trào ngược những chất chứa trong dạ dày vào trong thực quản. Do cấu trúc giải phẫu dạ dày – thực quản của trẻ nhỏ không giống như người lớn, thực quản thì ngắn, phần dưới hơi nở rộng, lớp cơ chưa phát triển hoàn chỉnh và còn yếu, cơ tâm vị co thắt bất thường nên bé rất dễ nôn trớ. Nếu trẻ nôn ít (vài ba ngày mới ọc 1 lần hay 1 ngày ọc 2 lần), vẫn bú khỏe, lên cân tốt thì không sao và hiện tượng trào ngược này sẽ giảm dần khi trẻ lớn. Dù có điều trị hay không thì đến năm 2 tuổi, khoảng 60% trẻ sẽ tự hết, 40% còn lại có thể kéo dài đến 4 tuổi.

Táo bón

Táo bón không phải là bệnh, mà chỉ là 1 triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau hoặc chỉ là 1 rối loạn cơ năng (thường gặp nhất). Táo bón được định nghĩa khi bé có số lần đi tiêu ít hơn bình thường (thay đổi theo lứa tuổi và mỗi cá nhân) với phân to, cứng, đau khi đi tiêu và đôi khi có máu. Táo bón có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như: viêm ruột, thủng ruột… Do đó, cần được khám và tìm nguyên nhân gây táo bón để có điều trị thích hợp. Táo bón rất hay gặp ở trẻ còn nhỏ khi thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm và ít chất khoáng, cũng có khi do uống nhiều sữa bò, sữa bột vì ít sữa mẹ. Các cơ bụng và thành ruột cũng có vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón. Những đứa trẻ còi xương, sinh thiếu tháng rất hay bị táo bón. Ở những trẻ lớn hơn, táo bón thường do ăn nhiều thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết, có khi do lỗ hậu môn bị rạn. Việc cho trẻ ăn nhiều rau quả sẽ giúp cho cơ bụng và thành ruột co bóp tốt hơn. Các loại nước ận ép hoặc nước luộc củ cải cũng có tác dụng chống táo bón.

Cách đề phòng táo bón tốt nhất là tập cho trẻ thói quen đi ngoài vào một giờ cố định trong ngày. Các thuốc nhuận tràng chỉ nên uống sau khi hỏi ý kiến của bác sĩ.

Tiêu chảy

Khi trẻ đi tiêu ra phân lỏng như nước trên 3 lần một ngày thì được coi là tiêu chảy. Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời. Do đó, điều quan trọng nhất khi trẻ bị tiêu chảy là phải bù điện giải cho trẻ, tốt nhất bằng nước oresol và phải tuân thủ hướng dẫn pha oresol, cho trẻ uống đúng cách, uống từng ít một, uống liên tục và rải rác trong ngày. Còn nếu trẻ diễn tiến bệnh nặng hơn, tốt nhất hãy đưa trẻ đến một cơ sở y tế để điều trị.

Để phòng bệnh tiêu chảy, cha mẹ cần chú ý đảm bảo vệ sinh cho trẻ, thực hiện ăn chín uống sôi, vệ sinh tay sạch sẽ trước và sau ăn. Còn khi bệnh, ngoài việc bù nước, điện giải tốt nhất, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, ăn những thức ăn loãng, dễ tiêu giúp tăng cường sức khỏe, trẻ sẽ có đủ sức chống đỡ bệnh, cơ thể chóng phục hồi, không bị suy sụp vì thiếu dinh dưỡng sau tiêu chảy.

BS. Ngọc Lan
Theo SKDS