Tag Archives: thuốc

Những tương tác nguy hiểm giữa rượu và thuốc

Rượu là một dung môi hữu cơ. Thuốc cũng phần lớn là các chất hữu cơ, rất dễ hòa tan vào nhau, tạo nên một hỗn dịch có thể là tương hợp hoặc tương kỵ trong cơ thể con người.

Theo các nhà tương tác học thì rượu có tương tác với hàng trăm thuốc và dẫn xuất của nó. Có rất nhiều tương kỵ gây nên nhiều triệu chứng, bệnh lý như ức chế thần kinh trung ương, ức chế hô hấp, tăng hoặc hạ huyết áp, giãn mạch, tim đập nhanh, tăng hoặc hạ thân nhiệt, buồn nôn, ban đỏ, trụy tim mạch, thiểu năng tế bào gan, độc với gan, hạ đường huyết, tăng acid uric máu, xơ hóa gan, kích ứng tiêu hóa gây xuất huyết…

Tùy thuộc vào lượng rượu uống có thể đưa đến những triệu chứng lâm sàng, bệnh lý nặng nề có thể gây tử vong.

nhung-tuong-tac-nguy-hiem-giua-ruou-va-thuoc

Dưới đây là một số tương kỵ thường gặp khi uống thuốc đồng thời uống rượu và ngược lại:

Hiệu ứng antabuse: Rượu tạo nên một tỷ lệ bất thường acetaldehyd tích lũy ở mô (ức chế enzym) kéo theo các dấu hiệu làm tăng như cơn vận mạch, giãn mạch nặng, nhịp tim nhanh, thân nhiệt tăng cao, buồn nôn, nôn, phát ban da, có thể gây hạ huyết áp, trụy tim mạch có thể đưa đến tử vong. Hiệu ứng này xảy ra với các thuốc sau đây:

Các thuốc chống nấm dẫn xuất imidzol, đặc biệt với các loại thuốc uống (ketoconazol, miconazol, tinidazol…).
Các thuốc biguanid và dẫn xuất trị tăng đường huyết như buformin, metformin.
Các cephalosporin có cấu trúc nhân tetrazol như cefamandol, latamoxef, cefoperazon, cefmenoxim…
Các sulfamid trị tăng đường huyết như glibenclamid, gliclazid, glipizid, gliquidon, tolbutamid…
Với các thuốc khác như isoniazid (trị lao), griseofulvin (thuốc trị nấm), nitrofural (kháng sinh tổng hợp nhóm nitrofuran), các phenicol (kháng sinh như chloramphenicol), procarbazin (tác nhân kìm tế bào tân sinh) cũng gây hiệu ứng antabuse.
Ức chế thần kinh trung ương, gây tăng an thần, ngủ sâu đến hôn mê với các thuốc sau đây:

Amantadin, thuốc trị virut cúm típ A2 và trị triệu chứng Parkinson; các chất chủ vận morphin; thuốc trầm cảm 3 vòng; thuốc chống động kinh không barbituric như natri valproat; các thuốc kháng histamin H1 làm dịu; barbituric (thuốc ngủ); các benzodiazepin gây an thần, giải lo âu gây ngủ, giãn cơ chống co giật; các carbamat; carbamazepin (thuốc trị động kinh); dantrolen (thuốc thư giãn cơ); dextropropoxyphen (thuốc giảm đau); fluoxetin (thuốc trị trầm cảm); fluvoxamin (thuốc trị trầm cảm không an thần); glutethimid (an thần, gây ngủ); interferon alfa (thuốc trị virut); mianserin (thuốc trị trầm cảm); medifoxamin (thuốc trị trầm cảm); methyldopa (trị tăng huyết áp); oxaflozan (thuốc trị trầm cảm); primidon (thuốc trị động kinh).

Có thể nói để dễ nhớ, tương kỵ giữa rượu (kể cả những chế phẩm có chứa rượu) và các thuốc gây nên ức chế thần kinh trung ương đến mức chống chỉ định tuyệt đối là các thuốc gây ngủ, an thần, thuốc trị động kinh, thuốc chống trầm cảm và thuốc kháng histamin H1 làm dịu.

Lại càng phải được chú ý với người đứng máy, người lái xe, người làm việc trên cao hoặc làm việc nơi nguy hiểm, người đang cần tập trung tinh thần, tư tưởng cho công việc.

Độc với gan: Gan là cơ quan có nhiều chức năng đối với quá trình chuyển hóa, tham gia vào nhiều cơ chế duy trì và điều hòa hoạt động của cơ thể để duy trì sự hằng định (tương đối) ở máu, nhất là vai trò thải độc của cơ thể.

Rượu, bản thân nó đã là kẻ thù của gan, nếu dùng cùng lúc với các dẫn xuất imidazol, đặc biệt với ketoconazol (thuốc chống nấm) nguy cơ độc với gan tăng rất cao, với các dẫn xuất biguanid (thuốc trị đái tháo đường) gây thiểu năng tế bào gan. Hầu hết các thuốc gây hiệu ứng antabuse trên đây đều cũng gây độc với gan. Ngoài ra còn methotrexat do cộng hợp tác dụng phụ rất độc với gan gây xơ hóa gan, với paracetamol dùng liều cao và dài ngày làm tăng chất chuyển hóa độc với gan.

Hạ đường huyết quá mức: Nhất là uống rượu lúc đói trong khi có dùng các biguanid (metformin, buformin…) các sulffamid hạ đường huyết (xem trên đây), đặc biệt insulin sẽ gây hạ đường huyết nặng nề biểu hiện toát mồ hôi, chóng mặt, đánh trống ngực, đói cồn cào, run rẩy, bồn chồn, tê tay chân, lưỡi, môi, choáng váng, nhức đầu, lơ mơ, mắt mờ. Có thể bị kích thích bất thường, nặng hơn có thể dẫn đến hôn mê, co giật và nguy cơ tử vong.

Hạ huyết áp: Rượu cùng với các thuốc chủ vận morphin không những gây ức chế thần kinh trung ương, tăng an thần, ức chế hô hấp mà còn gây hạ huyết áp. Các thuốc dẫn xuất nitrat như nitroglycelin và các thuốc trị tăng huyết áp gây giãn mạch, chống đau thắt ngực đều làm hạ huyết áp quá mức. Với guanethidin gây hạ huyết áp thế đứng, có thể ngã, với viloxazin, nicorandil không những gây hạ huyết áp mà còn có thể dẫn tới sốc rất nguy hiểm.

Độc tính với dạ dày: Bản thân rượu cũng đã độc với dạ dày. Thật sai lầm là một số người dùng aspirin để giải những cơn say. Xin lưu ý rằng các dẫn xuất của salicylat (như aspirin) trong môi trường rượu sẽ gây kích ứng tiêu hóa dẫn đến xuất huyết. Với colchicin, một thuốc đặc hiệu trị bệnh gút, cùng với rượu không những độc với dạ dày ruột mà còn làm giảm tác dụng điều trị kèm theo tăng acid uric máu.

Còn khá nhiều thuốc khác nữa nên tránh dùng đồng thời với rượu như thuốc chống đông máu kháng vitamin K (làm giảm tác dụng), với etretinat gây tăng lipid máu, với các thuốc ức chế monoamino oxydase không chọn lọc gây hiệp đồng ức chế thần kinh trung ương, với các thuốc mê bay hơi halogen gây đối kháng tác dụng gây ngủ…

Trên đây là nói tương kỵ giữa thuốc và rượu nhưng là rượu “sạch”. Nhưng nếu lại dùng phải rượu “bẩn”, rượu có nhiều tạp chất như ceton, aldehyd, chất bay hơi, đặc biệt là methanol và các chất khác lạ làm cho nó bốc thì sự nguy hại ấy sẽ tăng lên gấp bội.

Nguồn khoa học

Tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm

Khảo sát của nhóm nghiên cứu người Anh tại ĐH Liverpool ghi nhận những tác dụng phụ về mặt tâm lý của thuốc chống trầm cảm mà trên thực tế cho thấy nghiêm trọng hơn người ta vẫn tưởng.

Trang tin Science Daily dẫn lời trưởng nhóm nghiên cứu, GS John Leed: “Tác dụng phụ về sinh học của thuốc chống trầm cảm như tăng cân, buồn nôn đã được ghi nhận nhưng ảnh hưởng về tâm lý và giao tiếp chưa được nhận biết rõ. Chúng tôi thấy những ảnh hưởng đó phổ biến một cách đáng báo động”. Các nhà khoa học đã khảo sát trên 1.829 người uống thuốc chống trầm cảm theo toa của bác sĩ. Bệnh nhân được yêu cầu điền vào để trả lời bảng câu hỏi về 20 tác dụng không mong muốn có thể xảy ra.

thuoc-chong-tram-cam

Kết quả cho thấy hơn một nửa cho biết họ có ý định tự sát. Tỉ lệ người cảm thấy trở ngại trong sinh hoạt tình dục là 62%, tê liệt về cảm xúc là 60%, cảm giác không giống như chính mình là 52%, giảm cảm giác tích cực là 42% và ít quan tâm chăm sóc người khác là 39%. Khảo sát cũng cho thấy bệnh nhân ít khai báo những điều nêu trên với thầy thuốc.

Nhóm nghiên cứu khuyến cáo các bác sĩ nên cân nhắc khi ra toa thuốc chống trầm cảm, đồng thời khuyến khích nghiên cứu thêm về lợi ích và khả năng tác hại do có đến 82% người trong số này cho rằng chứng trầm cảm của họ thuyên giảm nhờ dùng thuốc.

Nguồn báo lao động

Dị ứng – sự thật cần biết

Trẻ béo phì thường có nguy cơ bị dị ứng, con đầu lòng cũng dễ mắc bệnh này hơn con thứ, dị ứng có thể tự biến mất…

Dị ứng xảy ra khi hệ miễn dịch của cơ thể phản ứng quá mức với các tác nhân vô hại từ môi trường như phấn hoa, bụi nhà, một số thức ăn… Phản ứng này làm giải phóng nhiều loại hóa chất trung gian như histamine, serotonin… là những tác nhân trực tiếp gây ra các triệu chứng dị ứng như nổi ban đỏ, phù nề mắt môi, khó thở, ngạt sổ mũi… Sự phiền toái của các bệnh dị ứng là điều dễ nhận thấy, tuy nhiên, có những sự thật về dị ứng có thể khiến nhiều người ngạc nhiên.

di-ung-su-that-can-biet1

Dị ứng có tính di truyền
Mặc dù các nhà khoa học chưa thể xác định chính xác gene gây ra tình trạng dị ứng nhưng có thể khẳng định cơ địa dị ứng có tính di truyền rõ rệt. Trong một gia đình, nếu bố hoặc mẹ có cơ địa dị ứng thì các con của họ có 30% nguy cơ mắc các bệnh này, nhưng nếu cả bố và mẹ cùng bị dị ứng thì nguy cơ mắc tình trạng này ở những đứa con lên tới 70%.

Dị ứng có thể gây ra do mọi tác nhân
Không chỉ do nguyên nhân quen thuộc như phấn hoa, thuốc, hải sản…, các bệnh dị ứng còn có thể gây ra do những nguyên nhân khó tin như nước, ánh nắng mặt trời, hơi lạnh… Mặc dù hiếm gặp nhưng các trường hợp dị ứng này có thể rất nguy hiểm và khó đề phòng.

di-ung-su-that-can-biet

Những trẻ béo phì thường có nguy cơ bị dị ứng
Hầu hết mọi người mới biết đến tác động của béo phì với các bệnh lý về tim mạch, chuyển hóa, tuy nhiên các nghiên cứu khoa học còn cho thấy một sự thật rất đáng ngạc nhiên là béo phì có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh dị ứng ở trẻ em. Trẻ béo phì có tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng nói chung cao hơn 26% và dị ứng thức ăn cao hơn 59% so với tỷ lệ chung trong cộng đồng.

Dị ứng có thể xuất hiện đột ngột ở tuổi trưởng thành
Dị ứng thường xuất hiện từ nhỏ và có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, dị ứng có thể xuất hiện khá muộn ở tuổi trưởng thành, mặc dù trước đó họ chưa từng mắc. Nguyên nhân vì sao dị ứng xuất hiện muộn trong những trường hợp này còn chưa được hiểu rõ.

Con đầu lòng thường có tỷ lệ dị ứng cao hơn
Thứ tự sinh có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc các bệnh dị ứng. Một số nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, những đứa con đầu lòng có tỷ lệ mắc bệnh dị ứng cao hơn những đứa con đẻ sau. Nguyên nhân vì sao có sự khác biệt này còn chưa được hiểu rõ nhưng một giả thuyết được đưa ra là sự khác biệt về tình trạng trong buồng tử cung ở đứa trẻ đẻ đầu tiên.

Dị ứng là một trong 5 nguyên nhân hàng đầu của các bệnh mạn tính trên thế giới
Các bệnh dị ứng như hen phế quản, viêm mũi dị ứng là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây nghỉ học, nghỉ làm và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống người bệnh.

Có thể có mối liên quan giữa dị ứng và trầm cảm
Khi đi tìm nguyên nhân của trầm cảm, các thầy thuốc thường ít nghĩ đến các bệnh dị ứng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, có mối liên quan giữa dị ứng theo mùa và trầm cảm. Theo đó, các triệu chứng trầm cảm thường nặng lên vào giữa mùa phấn hoa.

Tình trạng dị ứng có thể tự biến mất
Diễn biến của tình trạng dị ứng thường khó đoán trước, nó có thể biến mất ở một số trẻ em và người trưởng thành. Trẻ em có nhiều khả năng thoát khỏi bệnh dị ứng, đặc biệt là dị ứng sữa. Mặc dù khả năng biến mất của các bệnh dị ứng là có thể nhưng sự thận trọng của người bệnh và gia đình luôn là điều cần thiết. Không nên coi mọi bệnh dị ứng đều có thể khỏi hoàn toàn.

Dị ứng có thể giúp giảm nguy cơ xuất hiện u não
Bên cạnh việc gây nhiều phiền toái cho người bệnh, dị ứng có thể đem lại những lợi ích. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, những người bị dị ứng giảm được 33% nguy cơ mắc một số loại u não. Nguyên nhân của điều này được cho là do kháng thể dị ứng IgE có một vai trò nào đó trong việc làm giảm sự tạo thành của u não.

Theo VNE

Báo động tình trạng vô sinh ở nam giới

Nam học có 11 bệnh, trong đó có 4 bệnh thường gặp ở VN là: rối loạn cương, rối loạn xuất tinh, vô sinh nam giới, mãn dục nam giới ở cao tuổi.

Đa số người dân Việt hầu như chưa có hiểu biết thực sự về các bệnh nam học nói chung, thường nghe theo các truyền miệng và quảng cáo để tự dùng mà không mấy người biết được có một sự khác biệt rất lớn giữa các loại thuốc ấy.

bao-dong-tinh-trang-vo-sinh-o-nam-gioi

Vai trò của testosterone

Testosterone là hooc môn chủ yếu được tiết ra bởi tinh hoàn. Nhưng không gây ra sự phát triển tinh hoàn, nó làm giảm sự bài tiết các hormone hướng sinh dục của tuyến yên, ức chế sinh tinh.

Sự thật là khi Adam bước vào tuổi ngũ tuần, tức là đến thời kỳ “mãn kinh” nam, cơ thể sẽ giảm sản xuất testosterone, đồng nghĩa với việc giảm thiểu khoái cảm, giảm phân bổ mỡ trên cơ thể.

Mặc dù suy giảm nhưng hàm lượng testosterone vẫn ở trong giới hạn cho phép, giúp đàn ông vẫn có thể duy trì “bản lĩnh” của mình. Tuy nhiên, khoảng 1/5 nam giới độ tuổi 60 trở lên có mức testosterone thấp hơn mức bình thường.

Tuy nhiên, những bệnh lý khác như bệnh gan, thiểu năng tuyến giáp hoặc có thể do sử dụng các loại dược phẩm như thuốc trị cao huyết áp, thuốc giảm đau, thuốc chống trầm cảm cũng tạo ra các triệu chứng giống với người bị suy giảm testosterone. Ngoài ra không loại trừ lý do sự suy giảm các loại hormone khác chứ không phải testosterone.

Tự dùng testosrerone và những hậu quả khó lường

Nhiều quý ông theo lời rỉ tai của bạn bè đã tự mua thuốc chứa hormone sinh dục nam testosterone để chữa trị chứng “yếu sinh lý”. Không ít trường hợp đã tiền mất tật mang, thậm chí trở nên vô sinh vì nó ức chế sự sinh tinh trùng.

+ Đã có những bằng chứng cho thấy có mối liên hệ giữa testosterone và ung thư vú ở đàn ông (đây là một dạng ung thư lệ thuộc hormone). Sử dụng testosterone lâu ngày có thể gây phì đại vú ở đàn ông. Vì vậy, nam giới có tiền sử gia đình bị ung thư vú hoặc ung thư tuyến tiền liệt cần hết sức thận trọng khi sử dụng liệu pháp testosterone.

+ Giới y học cũng cho rằng áp dụng testosterone liệu pháp ở đàn ông lớn tuổi sẽ mang đến một số lợi ích nhất định. Tuy nhiên, lạm dụng testosterone làm tăng nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến, vô sinh, tổn thương gan, tăng xuất hiện các cục máu đông trong lòng thành mạch, dễ có nguy cơ tai biến tim mạch hay não. (Theo kết quả nghiên cứu của Edmund Sabanegh – chủ tịch khoa tiết niệu của BV Cleveland).

Sau khi đã tiến hành theo dõi một số người có nhu cầu bổ sung testosterone không cần thiết với nhu cầu cải thiện cuộc sống của họ, đặc biệt là nhu cầu cải thiện khả năng tình dục của họ đang xuống không phanh và kết luận, testosterone chỉ nên sử dụng khi có xét nghiệm chứng tỏ sự “yếu sinh lý” do nồng độ chất sinh học này trong máu thấp, tức là do nội tiết tố.

Đi tìm nhân tố chính quyết định đến khả năng xuất tinh ở nam giới

Đáp án chính là: NO – nito monoxit.

Với tim, NO là thành phần quan trọng trong việc điều tiết máu, tăng lưu lượng máu điều khiển dòng chảy, đưa các chất dinh dưỡng nuôi dưỡng tim và các mô của toàn bộ cơ thể, tạo cơ sở vững chắc cho huyết áp được ổn định.

Với dương vật của nam giới, rối loạn chức năng gây cương là do thiếu NO, khi có kích thích tình dục lập tức, NO được giải phóng từ các đầu dây thần kinh, mạch máu và cơ trơn của thể hang dương vật, máu lưu thông và đổ về dương vật khiến nó trở nên to, cứng chắc.

Cơ chế của thuốc có chứa NO này là ức chế enzyme, NO được duy trì làm cho bộ phận sinh dục nam được ví như mạch máu lớn dãn ra, máu tưới nhiều vào đó giúp cho sự cương, sức bền và khả năng chiến đấu lâu như mong muốn của mày râu.

Lưu ý: Thuốc suy giảm ham muốn khác với rối loạn cương dương (xuất tinh sớm)

Testosterone: đây là nội tiết tố (hormone) sinh dục nam. Thuốc này được sử dụng khi có sự chẩn đoán xác định được nguyên nhân bất lực là do yếu tố nội tiết, có sự giảm chức năng tuyến sinh dục nam.

Các thuốc này được tiêm bắp, mỗi tháng chỉ tiêm 1 lần và có thể phải điều trị trong nhiều tháng. Cũng có loại testosterone dùng để uống. Nên lưu ý, vì là thuốc có nguồn gốc nội tiết tố sinh dục nên chỉ sử dụng khi có sự thăm khám và chỉ định, theo dõi của bác sĩ.

Nguồn giáo dục

Trà xanh ức chế thuốc chống ung thư

Trái lại với những suy nghĩ thông thường về lợi ích của trà xanh, các nhà khoa học thuộc đại học Southern California (USC) phát hiện ra rằng một chất phụ gia được sử dụng rộng rãi trong sản xuất các loại trà xanh ức chế hoạt động của thuốc điều trị các bệnh ung thư máu.

Nghiên cứu tìm thấy rằng một hoạt chất li trích từ trà xanh gọi là EGCG phá hủy hoàn toàn hoạt tính của thuốc Velcade trên chuột bị khối u, công trình này sẽ được công bố trên tạp chí Blood.

Phó giáo sư, tiến sĩ Axel H. Schonthal, khoa Vi sinh và miễn dịch học, trường Y khoa Keck, USC, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: “Việc phát hiện ra trà xanh hay EGCC ức chế hoạt tính của Velcade là hoàn toàn bất ngờ. Giả thuyết của chúng tôi là hoàn toàn ngược lại, chúng tôi đã mong đợi rằng trà xanh (hay EGCC) kết hợp với Velcade sẽ cho khả năng điều trị ung thư cao hơn so với chỉ dùng Velcade.”

uong-tra

Những phương thuốc từ thảo dược, bao gồm trà xanh, trở thành một phương pháp phổ biến tăng cường hoạt tính hóa trị liệu cho các bệnh nhân ung thư. Tuy nhiên, những hợp chất bổ sung mà đa số những lợi ích hay những tác động xấu của chúng chưa được nghiên cứu lại không được kiểm soát trong sản xuất.

Sử dụng các mô hình cận lâm sàng và chuột, các nhà khoa học phát hiện ra rằng tác động ức chế hoạt động của Velcade chủ yếu dựa trên các phản ứng hóa học. Phân tử EGCG và Velcade tác động qua lại có khả năng hình thành liên kết hóa học, điều đó có nghĩa là các phân tử Velcade sẽ mất đi khả năng gắn kết với các tế bào ung thư đích.

Những thử nghiệm y khoa nhằm xác minh lại kết quả trên người sẽ gặp nhiều khó khăn về mặt đạo đức y học vì chúng có thể đem lại những hậu quả nằm ngoài tầm kiểm soát. Tuy nhiên, các nhà khoa học hy vọng rằng kết quả nghiên cứu này sẽ được ứng dụng trên những bệnh nhân ung thư.

“Kết luận trước mắt từ nghiên cứu của chúng tôi khuyến cáo các bệnh nhân đang điều trị ung thư bằng Velcade cần phải tránh dùng trà xanh, và đặc biệt là các sản phẩm trà xanh đậm đặc được bán tự do tại các cửa hàng thực phẩm”. Schonthal còn nhấn mạnh: “Một việc quan trọng nữa là cần phải gửi thông điệp này đến các tổ chức y tế nhằm kiểm soát việc sử dụng Velcade cho các bệnh nhân.”

Schonthal chỉ ra rằng đối với những bệnh nhân ung thư sử dụng Velcade, việc giảm bớt hàm lượng chất phụ gia trong trà xanh có thể sẽ tốt hơn cho họ, nhưng điều đó cũng sẽ làm tăng lên giá thành của sản phẩm.

“Quan trọng là, bên cạnh việc không thể tấn công được các tế bào ung thư, Velcade cũng sẽ không tạo nên các tác dụng phụ (là những tác dụng không mong muốn trong sử dụng hóa trị liệu chống ung thư). Kết quả là các bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn và cho rằng trà xanh giúp giảm đi các tác dụng phụ này, trong khi thực tế Velcade đã bị mất hoạt tính chính của nó.”

Những kết quả này là một phần trong một công trình khoa học lớn: “Tính chất của tinh chất trà xanh kết hợp với hóa trị liệu trong điều trị ung thư: lợi bất cập hại” được nghiên cứu bởi một nhóm các nhà khoa học

“Rõ ràng, sự kết hợp giữa trà xanh hay EGCG với Velcade là một ví dụ điển hình cho việc “cập hại”. Nhưng chúng tôi cũng đang nghiên cứu những loại thuốc phổ biến khác, những thuốc mà sự bổ sung EGCG được mong đợi sẽ mang lại lợi ích tốt đẹp như dự đoán ban đầu hơn là những tác hại từ chúng.”

Nguyễn Hằng (Theo Science Daily)

Quyết định đình chỉ lưu hành thuốc Fenactada

Ngày 10/12/2013, Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) ban hành quyết định đình chỉ lưu hành thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng đối với thuốc Fenactada và các đơn vị phải báo cáo kết quả thu hồi thuốc này về Cục Quản lý Dược trước 6/1/2014.

Trong công văn gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và công ty Cổ phần dược Lâm Đồng, Cục Quản lý Dược cho biết căn cứ các quy định về quản lý dược hiện hành của Việt Nam và căn cứ công văn số 1142/VKNTTW-KH ngày 25/11/2013 của Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương gửi kèm Phiếu kiểm nghiệm số 43Gt70 ngày 25/11/2013 về thuốc viên nén bao phim Fenactada (Diclofenac natri 75mg), Số lô: 010412, NSX: 02/05/2012, HD: 02/05/2015, SĐK: VD-15089-11 do Công ty Cổ phần dược Lâm Đồng sản xuất.

quyet-dinh-dinh-chi-luu-hanh-thuoc-fenactada

Mẫu thuốc do Trung tâm Kiểm nghiệm Quảng Ninh lấy tại Công ty TNHH Dược phẩm Hạ Long, số 8 Hoàng Long, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu độ hòa tan.

Cục Quản lý dược thông báo đình chỉ lưu hành trên toàn quốc thuốc viên nén bao phim Fenactada (Diclofenac natri 75mg), Lô số: 010412, NSX: 02/05/2012, HD: 02/05/2015, SĐK: VD-15089-11 do Công ty Cổ phần dược Lâm Đồng sản xuất.

Cục yêu cầu Công ty Cổ phần dược Lâm Đồng phối hợp với nhà phân phối, phải gửi thông báo thu hồi tới những nơi phân phối, sử dụng thuốc viên nén bao phim Fenactada (Diclofenac natri 75mg), Lô số: 010412, NSX: 02/05/2012, HD: 02/05/2015, SĐK: VD-15089-11, do Công ty sản xuất và tiến hành thu hồi toàn bộ lô thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng nói trên.

Các đơn vị phải gửi báo cáo thu hồi, hồ sơ thu hồi thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định Thông tư số 09/2010/TT-BYT ngày 28/4/2010 của Bộ Y tế hướng dẫn việc quản lý chất lượng thuốc về Cục Quản lý dược trước ngày 06/01/2014.

Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Y tế các ngành thông báo cho các cơ sở kinh doanh, sử dụng thuốc thu hồi lô thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng nêu trên; kiểm tra và giám sát các đơn vị thực hiện thông báo này; xử lý những đơn vị vi phạm theo quy định hiện hành; báo cáo về Cục Quản lý dược và các cơ quan chức năng có liên quan.

Sở Y tế tỉnh Lâm Đồng, Sở Y tế tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, xử lý các đơn vị vi phạm theo quy định hiện hành.

Yến Ngọc

Những nguyên nhân và dấu hiệu con bạn đang bị còi xương

Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu ánh sáng mặt trời, do kiêng khem quá mức và chế độ ăn nghèo canxi – photpho; những trẻ không được bú mẹ dễ bị còi xương hơn trẻ bú mẹ.

Trẻ em bị còi xương là do cơ thể bị thiếu hụt vitamin D làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu và chuyển hóa canxi và phospho. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu ánh sáng mặt trời, do kiêng khem quá mức và chế độ ăn nghèo canxi – phospho; những trẻ không được bú mẹ dễ bị còi xương hơn trẻ bú mẹ.

Giai đoạn đầu còi xương

Giai đoạn này thường khởi phát trong khoảng thời gian 6 tháng đầu đời của trẻ và nó ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thần kinh. Nếu bạn thấy bé có những biểu hiện như ngủ không ngon, đổ mồ hôi nhiều hoặc bị chứng rôm sảy… thì nên chú ý chăm sóc trẻ cẩn thận hơn.

nhung-nguyen-nhan-va-dau-hieu-con-ban-dang-bi-coi-xuong

Nếu thấy bé mọc ít tóc, phần tóc khá mỏng đặc biệt là phần tóc phía trước và sau gáy thì khả năng bé bị còi xương là rất cao. Trong trường hợp này, bạn nên đưa bé đến gặp bác sĩ để tiến hành xét nghiệm máu, kiểm tra lượng canxi của trẻ. Nếu trẻ không bị thiếu canxi thì nhiều khả năng bị thiếu phốt pho.

Giai đoạn còi xương nặng

Giai đoạn này cũng xuất hiện trong thời điểm 6 tháng đầu đời. Bạn cần chú ý nếu thấy bé hoạt động kém hơn bình thường, chân tay uể oải, chân có dáng vòng kiềng, những mảng hói lớn trên da đầu của bé…

Ở giai đoạn bệnh trở nặng, bạn sẽ thấy xương của bé mềm đến mức khi chạm vào có cảm giác như bé không có xương. Hình dáng đầu của bé cũng bị thay đổi, vùng đỉnh đầu và phía trước gần như nhô to hơn. Phần xương ở cổ tay và ngón tay có xu hướng nhô hẳn lên.

Chứng còi xương có thể làm thay đổi khung xương chậu và trở thành dấu hiệu nghiêm trọng trong quá trình phát triển của các bé gái.

Ngoài ra còn một số biểu hiện khác có thể nhận biết được khi bé bị còi xương như:

– Các biểu hiện ở xương: thóp rộng, bờ thóp mềm, thóp lâu kín, có các bướu đỉnh, bướu trán (trán dô), đầu bẹp cá trê.

– Các trường hợp còi xương nặng có di chứng: chuỗi hạt sườn, dô ức gà, vòng cổ chân, cổ tay, chân cong hình chữ X, chữ O.

– Răng mọc chậm, trương lực cơ nhão, táo bón.

– Trong trường hợp còi xương cấp tính: bé có thể bị co giật do hạ canxi máu.

– Các cơ nhão làm trẻ chậm biết lẫy, bò, ngồi, đứng, đi. Nếu không kịp thời điều trị sẽ để lại di chứng ở hệ xương như: Lồng ngực biến dạng, gù, vẹo cột sống, chân tay cong, chân vòng kiềng (chữ O) hoặc chân chữ bát (chữ X)… Các biến dạng của xương làm giảm chiều cao của trẻ, hạn chế chức năng hô hấp, thay đổi dáng đi và ảnh hưởng xấu đến sinh đẻ sau này đối với bé gái.

A baby being lifted by mother under blue sky

Cách phòng bệnh còi xương cho trẻ

– Với mẹ: để phòng bị còi xương ở trẻ các chuyên gia y tế khuyến cáo là trong thời gian mang thai và cho con bú người mẹ cần được tắm nắng, có thời gian hoạt động ngoài trời, nên ăn những thực phẩm giàu vitamin D và canxi. Nếu mẹ không có điều kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thì cần được uống bổ sung vitamin D theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

– Với con: Trẻ sinh ra cần được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Sữa mẹ không chỉ có một hàm lượng vitamin D nhất định mà còn chứa những chất chuyển hóa của vitamin D. Sau giai đoạn cai sữa vẫn tiếp tục cho bé uống sữa công thức tối thiểu 300-400ml/ngày.

Thông thường trẻ được cung cấp vitamin D từ 2 nguồn: từ thức ăn (sữa mẹ, gan, trứng, một số loại rau quả…). Tuy nhiên hàm lượng vitamin D có trong sữa mẹ hoặc thức ăn không nhiều. Ngoài ra vitamin D được tổng hợp từ các tiền vitamin D ở dưới da, dưới tác động quang hóa của tia cực tím trong ánh sáng mặt trời mới chính là nguồn cung cấp chủ yếu vitamin D cho cơ thể trẻ. Trẻ em không bị còi xương hằng ngày cũng cần được tắm nắng khoảng 10-15 phút trước 9 giờ sáng hoặc sau 4 giờ chiều để tiền tố vitamin D trên da trẻ sẽ được chuyển thành vitamin D.

Khi trẻ bắt đầu ăn dặm cần cho trẻ ăn nhiều hơn những thức ăn có đủ chất canxi, phốt pho để phòng bệnh. Một số thực phẩm chứa nhiều canxi mà các bà mẹ có thể dùng nấu cho trẻ ăn là cua, tép khô, ốc, tôm, cá , lòng đỏ trứng, hến, sữa bò tươi, sữa chua, vừng đen, rau ngót, rau đay, rau muống…

Khi cho trẻ ăn dặm cha mẹ phải nhớ bổ sung đủ dầu/mỡ vào các bữa ăn dặm để bảo đảm đủ chất béo làm dung môi giúp cơ thể hấp thu vitamin D.

Đối với trẻ đẻ non, thiếu cân, có thể cho uống vitamin D, 400 đơn vị mỗi ngày trong suốt năm đầu.

Cho trẻ tắm nắng hàng ngày: để chân, tay, lưng, bụng trẻ lộ ra ngoài từ 10 -15 phút lúc buổi sáng (trước 9 giờ). Về mùa đông không có ánh nắng cho trẻ đi tắm điện ở khoa vật lý liệu pháp tại các bệnh viện. Dưới da có sẵn các tiền vitamin D là 7 dehydrocholesterol, dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời các tiền vitamin sẽ bị hoạt hóa chuyển thành vitamin D. Vitamin D có tác dụng điều hòa chuyển hóa và hấp thu canxi, phospho, ánh nắng mặt trời phải được chiếu trực tiếp trên da mới có tác dụng, nếu qua lần vải thì sẽ còn rất ít tác dụng.

– Cho trẻ uống thêm các chế phẩm có canxi như: canxi B1 – B2 – B6: 1 – 2 ống/ngày, trẻ lớn có thể ăn cốm canxi 1 – 2 thìa cà phê/ngày.

– Cho trẻ bú mẹ, ăn bổ sung các loại thực phẩm có chứa nhiều canxi: sữa, cua, tôm, cá trong các bữa ăn hàng ngày (cần xóa bỏ quan niệm cho trẻ ăn xương ống, xương chân gà sẽ chống được còi xương); cho dầu mỡ vào bữa ăn hàng ngày của trẻ vì: vitamin D là loại tan trong dầu, nếu chế độ ăn thiếu dầu mỡ thì dù có được uống vitamin D trẻ cũng không hấp thu được nên vẫn bị còi xương.

Theo giáo dục

Tác dụng phụ của thuốc chữa viêm khớp

Có thể nói diclofenac là thuốc khá phổ biến và quen thuộc trong điều trị các bệnh viêm khớp. Nhưng bên cạnh tác dụng làm giảm viêm, giảm đau khớp thì thuốc lại có thể gây hại đường tiêu hóa cho người sử dụng như gây loét, chảy máu dạ dày, tá tràng (đây là tác dụng phụ cần lưu ý khi dùng thuốc này). Nguyên nhân là do thuốc làm giảm tổng hợp prostaglandin (chất gây viêm) dẫn đến ức chế tạo mucin (chất có tác dụng bảo vệ đường tiêu hóa). Bên cạnh đó, prostaglandin có vai trò duy trì tưới máu thận nên khi ức chế tổng hợp prostaglandin thuốc lại gây viêm thận kẽ, viêm cầu thận, hoại tử nhú và hội chứng thận hư, đặc biệt ở những người bị bệnh thận hoặc suy tim mạn tính. Với những người bệnh này, các thuốc chống viêm không steroid có thể làm tăng suy thận cấp và suy tim cấp.

tac-dung-phu-cua-thuoc-chua-viem-khop

Có một điều cần lưu ý nữa là, người già thường hay mắc các bệnh về xương khớp hơn và lại mắc nhiều bệnh cùng một lúc, vì vậy, việc phải dùng đồng thời nhiều thuốc đôi khi là điều không tránh khỏi. Diclofenac có thể làm tăng hay ức chế tác dụng của các thuốc khác, do vậy không nên dùng diclofenac phối hợp với các thuốc sau: thuốc chống đông theo đường uống và heparin (vì có nguy cơ gây xuất huyết nặng); kháng sinh nhóm quinolon (diclofenac và các thuốc chống viêm không steroid khác có thể làm tăng tác dụng phụ lên hệ thần kinh trung ương của kháng sinh nhóm quinolon, dẫn đến co giật); aspirin hoặc glucocorticoid (vì các thuốc này làm giảm nồng độ diclofenac trong huyết tương và làm tăng nguy cơ cũng như làm tăng nghiêm trọng tổn thương dạ dày – ruột); thuốc trợ tim digoxin (do diclofenac có thể làm tăng nồng độ digoxin trong huyết thanh và kéo dài nửa đời của digoxin. Cần định lượng nồng độ digoxin trong máu và cần giảm liều digoxin nếu dùng đồng thời cả 2 thuốc), dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung (vì có tài liệu cho biết dùng diclofenac làm mất tác dụng tránh thai)…

Hiện nay trong cộng đồng rất nhiều người tự ý hoặc mách bảo nhau mua thuốc này về dùng mỗi khi có dấu hiệu nhức mỏi, sưng đau khớp. Nhiều trường hợp lạm dụng đã dẫn đến các tai biến do thuốc gây ra, hậu quả là chưa khỏi bệnh khớp lại gánh thêm bệnh loét hoặc chảy máu dạ dày do thuốc. Để tránh những hậu quả trên, người bệnh cần đi khám, dùng thuốc với sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa.

DS. Hoàng Thu Thủy

Nguồn sức khỏe đời sống

Sai lầm phổ biến khi dùng kháng sinh

Không dùng hết liệu trình điều trị, tự ý dùng thuốc, tự ý đổi thuốc kháng sinh vì “uống mãi” chưa đỡ… là những sai lầm vô cùng phổ biến của các bà mẹ khi chăm con ốm. Kéo theo một loạt hậu quả nguy hiểm cho sức khỏe của trẻ

Dùng không hết liệu trình!

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) phải “kêu trời” vì thói quen dùng thuốc của các bà mẹ.

“Bác sĩ kê kháng sinh là 5 ngày, có trường hợp là 7 ngày. Thế nhưng không ít bà mẹ, sau khi con dùng được 3 ngày, hết sốt, hết triệu chứng thì dừng lại luôn, không uống tiếp kẻo “hại người”. Điều này là vô cùng nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây kháng kháng sinh”, TS Dũng nói.

TS Dũng giải thích, nguyên tắc là chỉ dùng kháng sinh khi xác định nhiễm khuẩn. Khi đã xác định nhiễm khuẩn thì phải dùng ngay kháng sinh và phải diệt sạch vi khuẩn.

sai-lam-pho-bien-khi-dung-khang-sinh

“Nếu một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn, điều trị thích hợp là làm sạch vi khuẩn (khỏi lâm sàng tối đa, giảm tối thiểu nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc). Còn nếu điều trị không thích hợp, thất bại khiến bệnh nhân có thể nhiễm tái phát, có thể gây kháng thuốc. Vì vậy, liệu trình dùng kháng sinh là phải đảm bảo, dùng đủ liều để tiêu diệt vi khuẩn. Chứ không thể uống nửa chừng, thấy đỡ triệu chứng thì dừng lại. Chỉ có thể tiêu diệt vi khuẩn tốt thì bệnh mới khỏi, đỡ kháng thuốc”, TS Dũng khuyến cáo.

Cũng theo chuyên gia này, việc dùng kháng sinh tiêu diệt sạch vi khuẩn càng cao thì tỉ lệ thất bại lâm sàng càng ít. Nếu thất bại lâm sàng càng nhiều, thất bại vi khuẩn cũng càng nhiều.

Tùy tiện dùng thuốc!

Theo một nghiên cứu của BV Nhi trung ương thì có tới 44% bà mẹ tự mua thuốc cho con uống mà không cần kê đơn của bác sĩ. Việc tùy tiện dùng thuốc khi chưa có chỉ định là rất nguy hiểm, gây hại cho sức khỏe của trẻ.

Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, đây là một sai lầm rất đáng trách của các bà mẹ. “Việc tự chữa cho con, chữa theo đơn của bé khác… khiến nhiều trẻ bị biến chứng nặng là viêm phổi, viêm tiểu phế quản do vi rút rất nặng. Những bé này thời gian điều trị sẽ lâu hơn, tốn kém hơn do phải dùng các loại thuốc đắt tiền hơn”, TS Dũng nói.

TS Dũng cho biết thêm, tình trạng tự làm bác sĩ của các bà mẹ ngày càng phổ biến. Họ lý giải, đưa con đi khám, thấy bác sĩ nghe nghe, nhòm vào miệng con thế là xong, kê đơn cũng chẳng có gì đặc biệt, sốt vi rút thì không dùng kháng sinh, mà nhiễm khuẩn thì vẫn kê các loại kháng sinh thông thường nên lần sau, họ tự biến mình thành bác sĩ.

Theo TS Dũng, để người bác sĩ khám phân phân biệt vi-rút hay vi khuẩn đã khó huống hồ chỉ định kháng sinh. Dùng kháng sinh gì, liều bao nhiêu, cho thời gian bao lâu… là cả một nghệ thuật, trình độ của bác sĩ. Không học, cứ hồn nhiên cho con dùng thuốc tưởng là giỏi, là tiết kiệm, không mất thời gian, không phải đưa con đến viện là một sai lầm. Từ những viêm nhiễm thông thường đường hô hấp trên có thể biến chứng viêm phổi, điều trị tốn kém, lâu dài, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng trẻ.

Nguyên tắc đầu tiên của việc dùng kháng sinh, đó là chỉ dùng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn (vi khuẩn). Thống kê tại Mỹ, tất cả các trường hợp dùng kháng sinh trong nhiễm khuẩn hô hấp trên, số đơn được kê kháng sinh so với bệnh nhân có bằng chứng nhiễm vi khuẩn thì lớn hơn rất nhiều. Tại Việt Nam, thực trạng cũng như vậy.

TS Dũng cho biết, một nghiên cứu do BV Bạch Mai phối hợp trường ĐH Harvard taok 16 huyện ở Việt Nam cho thấy, có đến 97 – 99% các cháu dưới 5 tuổi đến các phòng khám vì ho, sốt, chảy nước mũi được chỉ định dùng kháng sinh.

Như vậy, việc dùng kháng sinh bừa bãi không chỉ ở phía người dân, mà cũng có một phần từ bác sĩ, đặc biệt ở tuyến cơ sở.

Ví dụ, một bệnh đơn giản là viêm họng (ở cả người lớn trẻ em) việc chẩn đoán khó nhất là xác định do vi rút hay vi trùng liên cầu (có thể có biến chứng, thấp tim, khớp)… người bác sĩ cần liệt kê giữa các triệu chứng do vi rút (có kèm đau mắt, chảy mũi, ho, đặc biệt là ho, bởi viêm họng có ho thường do vi rút), trong khi đó, triệu chứng của liên cầu (sưng đau hạch cổ, xuất tiết ở họng). Chỉ cần dựa vào lâm sàng này là bác sĩ đã có thể kê thuốc hợp lý. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều trẻ chỉ viêm họng, ho do vi rút nhưng vẫn được chỉ định dùng kháng sinh.

Tùy tiện đổi thuốc

Theo TS Dũng, cũng chính vì thói quen tùy tiện dùng thuốc, tự mua thuốc uống mà không ít người đang uống kháng sinh A được 2 – 3 ngày không đỡ liền đi mua kháng sinh khác về uống.

Với thuốc kháng sinh, không chỉ cứ thích là uống. Bởi khi đi vào cơ thể, kháng sinh tồn tại trong huyết thanh, đi đến vị trí nhiễm khuẩn như vào phổi, vào não… Chính nồng độ kháng sinh tại vị trí nhiễm khuẩn này sẽ cho chúng ta hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, kháng sinh không chỉ đi như vậy, nó còn vào các cơ quan khác. Như chỉ viêm phổi, kháng sinh không chỉ vào phổi mà vẫn đi vào các cơ quan khác như thận, gan… và gây độc.

“Vì thế, mục đích là àm thế nào để kháng sinh vào cơ quan đích nhiều hơn, vào các cơ quan khác ít hơn. Nghiên cứu vấn đề này giúp chúng ta chọn liều lượng thích hợp, đặc biệt là chế độ liều, để trả lời khi nào dùng liều cao, khi nào rút ngắn khoảng liều, khi nào đổi kháng sinh khác, khi nào phối hợp kháng sinh. Và để làm được điều này, chỉ có thể là bác sĩ để ra chỉ định hợp lý, vì thế, người dân không nên tùy tiện dùng thuốc”, TS Dũng cảnh báo.

(Theo dantri.com.vn)

Nhà thuốc Phương

Địa chỉ: số 404 Đại lộ Bình Dương – Phường Phú Lợi – Thủ Dầu Một – Bình Dương

Điện thoại: 0918 236 239

Nhóm địa điểm: Hiệu thuốc

Nhà thuốc PHƯƠNGDs. Bành Kim Huy PhươngĐT: 0918.236.239Email: nhathuocphuong@gmail.com

Nên uống thuốc vào thời điểm nào là tốt nhất

Uống thuốc lúc nào tốt nhất?

Đối với thuốc loại uống, đặc biệt phải uống đôi ba lần trong ngày, người ta rất quan tâm đến thời điểm dùng thuốc, tức vào lúc nào trong ngày xem là tốt nhất cho việc uống thuốc.

Từ lâu, người ta thường chọn lựa thời điểm dùng thuốc thích hợp dựa vào các bữa ăn (ngay, gần hoặc xa bữa ăn) tùy vào sự tương tác thuốc và thức ăn, thức uống. Thức ăn thức uống nếu được dùng chung cùng với thuốc sẽ ảnh hưởng làm thay đổi mức độ hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ thuốc, do đó làm thay đổi tác dụng và cả độc tính đối với thuốc. Tức là, nếu dùng thuốc không đúng lúc, thuốc và thức ăn thức uống có thể gây tương tác với thuốc dùng một cách bất lợi. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều thuốc không ảnh hưởng bởi thực phẩm, muốn uống lúc nào cũng được.

Trước hết, thức ăn thức uống có thể làm thay đổi mức độ hấp thu của thuốc đưa đến thuốc có tác dụng nhanh hay chậm. Nếu uống thuốc vào lúc đói (trước khi ăn 1 giờ chẳng hạn) thời gian lưu thuốc tại dạ dày chỉ trong vòng vài chục phút rồi tống ngay xuống ruột giúp thuốc được hấp thu khá nhanh. Trái lại, nếu thuốc uống ngay sau bữa ăn, thời gian lưu thuốc tại dạ dày sẽ lâu hơn, từ 1 – 4 giờ làm ảnh hưởng đến sinh khả dụng của thuốc, tức thuốc được hấp thu chậm và kém, đưa đến thuốc cho tác dụng chậm.

Dựa vào bữa ăn, có thể chia thuốc uống ra làm 4 loại: loại nên uống vào lúc bụng no, loại uống vào lúc bụng đói, loại nên uống cùng với bữa ăn, và loại uống tùy thuộc vào tính chất của từng loại thuốc.
Uong-thuoc-luc-nao-tot-nhat-d7afc
Thuốc nên uống vào lúc bụng no (tức uống ngay sau khi ăn):

Một số kháng sinh kém bền với môi trường acid như ampicillin, erythromycin, lincomycin… nên uống vào lúc bụng no (nhờ thức ăn trung hòa acid ở dạ dày); nếu uống vào lúc bụng đói làm tăng khả năng phân hủy thuốc do môi trường có nhiều acid tại dạ dày. Aspirin và các thuốc chống viêm không steroid (NSAID: ibuprofen) nếu dùng dạng không bao bảo vệ niêm mạc dạ dày thì nên uống vào lúc bụng no để không hại dạ dày.

Thuốc nên uống vào lúc bụng đói (tức uống trước khi ăn 1 giờ hoặc sau khi ăn 1 – 2 giờ):

Có khá nhiều thuốc kháng sinh nên uống vào lúc bụng đói vì giúp hấp thu thuốc vào máu nhanh hơn để thuốc sớm cho tác dụng điều trị.  Còn thuốc được bào chế dạng bao tan ở ruột (như Aspirin pH8) hay dạng phóng thích dược chất kéo dài (như Adalate LP) nên uống vào lúc bụng đói, tức để thuốc được đưa xuống ruột nhanh giúp màng bao viên thuốc không bị vỡ gây ảnh hưởng đến tác dụng thuốc.

Thuốc nên uống cùng với bữa ăn:

Các thuốc tan nhiều trong dầu mỡ như: vitamin A, D, E, K, kháng sinh kháng nấm griseofulvin nên uống cùng bữa ăn (ngay trước hoặc ngay sau cũng được) để nhờ chất béo của thức ăn thức uống giúp thuốc hấp thu tốt hơn. Thuốc trợ tiêu hóa bổ sung enzyme tiêu hóa pancreatin (Festal, Neopeptine…) cũng nên uống cùng với bữa ăn (hoặc trước khi ăn 5 – 10 phút) để giúp tiêu hóa thức ăn tốt hơn.

Thuốc uống lúc nào tùy thuộc vào tính chất của từng loại thuốc:

Vì mỗi loại thuốc có bản chất khác nhau nên không có quy luật chung về uống thuốc vào lúc nào cho tất cả các loại thuốc. Cũng như không có tài liệu nào trình bày đầy đủ cách uống thuốc cho mọi loại thuốc. Mà cách dùng thuốc lúc nào sẽ tùy vào sự hiểu biết về dược động học, dược lực học của từng loại thuốc cụ thể mà được áp dụng (thông thường bản hướng dẫn sử dụng thuốc có đề cập nhưng có khi không nói đến).

Ví dụ thứ nhất cho thấy uống thuốc lúc nào tùy thuộc vào tác dụng của thuốc. Domperidon (Motilium-M) là thuốc có tác dụng kích thích nhu động của dạ dày, làm tăng trương lực cơ thắt tâm vị và làm tăng biên độ mở rộng của cơ thắt môn vị sau bữa ăn; cho nên, domperidon được dùng trị chứng khó tiêu đầy bụng, no lâu do thức ăn chậm xuống ruột. Cần uống thuốc domperidon 15 – 30 phút trước bữa ăn nhằm cho thuốc có đủ thời gian hấp thu vào máu cho tác dụng trị chứng khó tiêu do dạ dày hoạt động không tốt. Bởi vì sau khi uống doperidom khoảng 30 phút thì thuốc mới vào được trong máu và đạt được nồng độ đỉnh trong huyết tương, tức khi đó thuốc mới cho tác dụng tốt nhất. Nếu ta uống thuốc sau bữa ăn, và thời gian uống sau bữa ăn lại quá dài, domperidon không kịp phát huy tác dụng trị chứng khó tiêu đã phát sinh.

Ví dụ thứ hai cho thấy uống thuốc lúc nào không chỉ tùy thuộc vào tác dụng của thuốc mà còn tùy thuộc vào tác dụng phụ có hại của thuốc. Glimepirid là thuốc trị trị đái tháo đường týp 2 (ĐTĐ2) theo cơ chế kích thích tế bào bêta của tuyến tụy tiết insulin để giúp hạ đường huyết nếu có sự tăng đường huyết. Đối với người bệnh ĐTĐ2, thời điểm tăng đường huyết dễ xảy ra sau bữa ăn. Vì vậy, nên uống thuốc glimepirid ngay trước bữa ăn sáng hoặc bữa ăn chính đầu tiên trong ngày (có tài liệu ghi uống vào bữa ăn thì cũng tương tự). Uống ngay trước bữa ăn để glimepirid có thời gian cho tác dụng đúng lúc đường huyết bắt đầu tăng do bữa ăn. Còn metformin cũng là thuốc trị ĐTĐ 2 nhưng nên uống metformin sau bữa ăn vì metformin có tác dụng phụ gây rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy), nếu uống bụng trống dễ bị rối loạn tiêu hóa hơn (uống trước bữa ăn do bụng đói dễ bị nôn hơn)..

PGS.TS.DS. NGUYỄN HỮU ĐỨC
Theo sức khỏe đời sống

NHÀ THUỐC ĐỨC THỌ SANH

nha-thuoc-my-chau

Địa chỉ 57 Đường 1/5 P1 Thị Xã Vĩnh Long, Thị xã Vĩnh Long, VĨNH LONG

Điện thoại (070)822676

Những bệnh liên quan dị ứng thời tiết

Những bệnh thường gặp ở người có cơ địa quá mẫn cảm với thời tiết như: đau nhức đầu, viêm mũi dị ứng, bệnh mề đay, á sừng… thường chỉ điều trị được về triệu chứng, hầu như không thể điều trị dứt điểm. Tuy nhiên, có những tác động làm giảm các nguy cơ giúp tình trạng bệnh không bị nặng lên.

Viêm mũi dị ứng do thời tiết

Những thay đổi về thời tiết từ nóng sang lạnh và ngược lại; thay đổi hướng gió, gặp mưa… rất dễ gây viêm mũi dị ứng và bệnh đau đầu.

Triệu chứng điển hình của viêm mũi dị ứng là hắt hơi hàng tràng, sổ mũi, mắt đỏ và ngứa, khô họng, ngạt mũi. Nếu bị nặng có thể lên cơn khó thở, khò khè. Các biểu hiện này tồn tại trong vòng 15-20 phút, sau đó giảm dần. Số cơn xuất hiện trong ngày tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh.

dau-dau-do-di-ung

Bệnh thường xuất hiện vào mùa đông, khi thời tiết lạnh, độ ẩm cao. Còn nếu bệnh trở thành mạn tính thì chỉ cần thay đổi thời tiết là xuất hiện, bất kể mùa đông hay mùa hè.

Để phòng chống các cơn viêm mũi dị ứng, cách tốt nhất là tránh tiếp xúc với các dị nguyên. Cũng nên dự trữ sẵn các thuốc chống dị ứng phòng khi thời tiết thay đổi và uống thuốc ngay từ khi có biểu hiện nhẹ.

Đau đầu do thời tiết

Thời tiết thay đổi làm cho mạch máu não giãn ra là một nguyên nhân gây đau nhức đầu. Uống thuốc giảm đau lúc này chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng. Không nên lạm dụng thuốc giảm đau, mà chỉ nên uống thuốc khi quá đau, thấy không thể chịu đựng hơn được nữa.

Để phòng những cơn đau đầu dị ứng thời tiết, nên ăn nhiều rau xanh, rau quả có nhiều vitaminC. Cũng có thể uống các loại thuốc bổ B1, B6, B12… Tránh làm việc dưới trời nóng gắt. Về mùa đông, nên mặc ấm và giữ ấm đầu.

Bệnh về da

Nhiều người cứ đến mùa đông, ra gió lạnh hay ngồi quạt… là bị ban mề đay. Ở mức độ nhẹ, trên da xuất hiện một vài chấm nốt, chỉ trong một thời gian ngắn từ 1 đến vài tiếng rồi lại mất. Nặng hơn là các đám nhỏ, lớn với hình thù tròn, bầu dục, hình bản đồ… Có trường hợp, ban mề đay làm tổn thương niêm mạc ruột gây đi ngoài, nôn, thậm chí gây phù nề thanh phế quản làm suy thở cấp có thể gây tử vong ngay.

Dùng thuốc không có tác dụng phòng tránh ban mề đay, do vậy những người bị mề đay khi thời tiết thay đổi cần tránh lạnh, tránh gió, mặc quần áo ấm. Nên hạn chế một số chất cay; chất tanh như tôm, cua, cá, ốc, da gà; các chất kích thích như rượu bia, chè, cà phê.

Bệnh á sừng

Bệnh á sừng gặp ở nữ nhiều hơn nam và thường ở những người có cơ địa mẫn cảm với thời tiết. Thông thường, bệnh nặng về mùa đông, nhưng ở một số người, bệnh lại nặng về mùa hè.

Biểu hiện của á sừng là các vết nứt làm da hằn sâu, thậm chí nứt xuống, bong vẩy để lại một nền da đỏ, bóng. Người bị á sừng thường rất ngứa, đau.

Để phòng bệnh, cần phải hạn chế tiếp xúc với nước, kiêng xà phòng, nước rửa bát, dầu gội đầu, các chất tẩy rửa tuyệt đối.

Kiều Nga – Hồng Hải
Việt Báo (Theo_DanTri)

Thực phẩm dành cho người bệnh gout

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng khi một người đã mắc bệnh gút thì rất khó chữa trị khỏi hẳn mà nên xác định là “sống chung với bệnh gút”. Ngoài việc điều trị giảm sưng, đau khớp khi lên cơn cấp tính thì những thuốc và thực phẩm giúp cơ thể đào thải acid uric cũng có tác dụng tốt với người bệnh.

Bệnh gút thường gây đau và viêm tấy ở khớp xương, đặc biệt là khớp ngón cái, khớp gối và đau nhiều nhất về ban đêm. Đau kèm theo rát bỏng rất khó chịu. Lý do đau khớp là vì khi acid uric vượt quá 8 mg/dl trong máu mà khả năng bài xuất theo nước tiểu lại giảm đi thì tinh thể urát lắng đọng lại trong khớp xương. Nguyên nhân của bệnh gút là do rối loạn chuyển hóa chất purin làm tăng lượng acid uric trong máu. Người bình thường thì lượng acid uric sản xuất ra và lượng thải trừ chúng luôn luôn cân bằng. Khi các loại thực phẩm có chứa nhân purin đưa vào cơ thể được phân hủy thành acid uric thì lượng acid uric trong máu sẽ tăng cao. Acid uric là loại trung tính mà cơ thể con người không cần thiết loại này cho nên sẽ bị thận lọc ra khỏi dòng máu, bài tiết ra ngoài cơ thể theo đường niệu. Khi lượng purin quá nhiều thì lượng acid uric được tạo ra cũng tăng theo nên cơ thể không thể đào thải ra hết được. Thực phẩm có nhiều chất purin (trừ các loại rau xanh nhiều prurin lại không làm gia tăng bệnh gút) là phủ tạng động vật như óc, thận, gan, tim; thịt đỏ như các loại thịt: chó, bò, trâu, cừu, ngan, vịt, ngỗng và hải sản như tôm, mực. Người ta cũng cho biết, ăn thịt chứa nhiều mỡ, sữa có nhiều chất béo, bia, thực phẩm sấy khô (cá khô, mực khô, thịt hun khói) và các chất ngọt nhân tạo có nguy cơ cao gây mắc bệnh gút.

thuc_pham_danh_cho_nguoi_benh_gout

Ngô và rau mùng tơi tốt cho người bệnh gút

Nên ăn thực phẩm gì và nên kiêng thực phẩm gì đối với người bị bệnh gút?

Nói chung, người bị gút nên sử dụng thức ăn ít chứa nhân purin như ngũ cốc (gạo, ngô, bánh mì), các loại hạt, bơ, dầu, mỡ,  đường, trứng, sữa, phomat tươi, rau, quả. Hạn chế sử dụng thịt, cá, hải sản, gia cầm, đậu đỗ. Nên kiêng ăn óc, gan, tim, thận, nấm. Tuyệt đối không uống rượu, bia, cà phê, chè nhưng cần uống nước lọc đủ lượng hằng ngày. Khi đang lên cơn đau gút cấp thì tạm thời chỉ ăn thức ăn: cơm, bánh mì, bột ngũ cốc, trái cây, rau các loại và không nên sử dụng chất đạm (nước mắm). Khi hết cơn đau, có thể ăn một số thức ăn có hàm lượng purin vừa như các loại họ đậu, rau dền, thịt gà, cá nhưng lượng ít. Đối với người béo, thừa cân mà bị bệnh gút thì nên có kế hoạch giảm cân từ từ, nếu giảm nhanh quá hoặc nhịn ăn thì nồng độ acid uric có thể tăng lên do sự phân hóa chính các tế bào của cơ thể dẫn đến cơn đau do gút.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu
Theo SKĐS

thuốc đưa vào cơ thể bằng mũi

Có thể dùng đường mũi để đưa thuốc vào cơ thể với hai mục tiêu: trị bệnh tại chỗ (local) và trị bệnh toàn thân (systemic). Trong đó bao gồm cả một số loại vaccin chủng ngừa (thay vì phải dùng đường tiêm), thậm chí là các vitamin.

Tác dụng trị liệu tại chỗ được dùng cho các loại thuốc như thuốc trị nghẹt mũi, dị ứng… Còn trị liệu toàn thân được dùng cho các loại thuốc như trị hen suyễn (có thuốc symbicort turbuhaler), thuốc trị nhức nửa đầu (migraine, thiên đầu thống, có thuốc imigran nasal spray)… và để chủng ngừa thì có trường hợp dùng vaccin ngừa cúm (thuốc flu-mist). Ngay cả vitamin, đã có thuốc vitamin B12 dùng qua đường mũi (nascobal).

dung-thuoc-qua-mui-co-hai-khong

Một số ưu điểm

Thuốc hấp thu qua niêm mạc mũi, không bị chuyển hóa như qua đường tiêu hóa. Thuốc uống (thuốc viên, thuốc nước) khi uống đều phải qua giai đoạn chuyển hóa ở gan và bị phân hủy bởi tác động của nhiều loại men chuyển hóa. Ví dụ, các loại thuốc như desmopressin trị đái tháo nhạt, đái dầm được bào chế dưới dạng bơm, xịt vào mũi để tránh bị phân hủy khi đi qua đường tiêu hóa hoặc thuốc sumatriptan trị nhức đầu kiểu “migraine” dùng cách đưa qua đường mũi vừa cho tác động nhanh hơn vừa tránh bị phản ứng gây nôn khi uống thuốc dưới dạng viên.

Những giới hạn và tác hại

Những loại thuốc phải dùng thường xuyên và đưa vào cơ thể nhiều lần trong ngày không thích hợp với đường mũi vì có thể gây hại cho tế bào màng mũi khi dùng liên tục. Hơn nữa, dùng thuốc qua đường này khó kiểm soát chính xác số lượng thuốc được hấp thu qua đường mũi. Vì thế, bệnh nhân dùng thuốc qua đường mũi phải được hướng dẫn tỉ mỉ cách bơm xịt và hít thở đúng để thuốc (đặc biệt là thuốc trị suyễn, COPD) không bị thất thoát.

Cần lưu ý, thuốc dùng qua mũi vẫn có thể gây ngộ độc, đặc biệt là trẻ em nếu dùng thuốc không đúng. Ví dụ, dầu gió, cao xoa (còn gọi là dầu cù là) rất thông dụng và để có tác dụng thông mũi, sát trùng đường hô hấp và giảm đau thì trong dầu gió hay cao xoa chứa nhiều loại tinh dầu bay hơi như: tinh dầu bạc hà (menthol), tinh dầu long não (camphor), đặc biệt, một số dầu xoa có chứa thêm methyl salicylat, tinh dầu bạch đàn (tinh dầu khuynh diệp), tinh dầu thông… Đã có nhiều thông tin báo cáo trẻ sơ sinh bị ngộ độc vì bà mẹ dùng dầu gió xức cho mình và làm dầu này dính trên mũi của trẻ. Nguyên nhân là do menthol, camphor có tác dụng kích ứng hô hấp trẻ sơ sinh, khi trẻ hít phải các chất này sẽ làm trẻ ngưng thở do suy hô hấp. Phụ nữ cho con bú cũng tránh không nên dùng thuốc thoa có chứa methyl salicylat vì thuốc có thể dính ở đầu vú, trẻ ngậm vú sẽ nuốt phải methyl salicylat và ngộ độc. Vì vậy, không nên dùng dầu gió, cao xoa, thuốc thoa có chứa tinh dầu cho trẻ sơ sinh, phụ nữ cho con bú.

Một loại thuốc dùng qua mũi là thuốc nhỏ mũi có tác dụng co mạch chống sung huyết nhằm trị nghẹt mũi, sổ mũi có thể trở thành tai họa cho trẻ nhỏ. Khi thời tiết thay đổi, trẻ em dễ bị nghẹt mũi, sổ mũi, làm cho trẻ bỏ bú, bỏ ăn, gây lo lắng cho các bậc phụ huynh. Một số cha mẹ tự mua thuốc nhỏ mũi co mạch nhỏ cho trẻ và có trường hợp trẻ bị ngộ độc. Từ năm 1985 – 2012, Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) đã xác định có 96 trường hợp trẻ em ở Mỹ từ 1 tháng đến 5 tuổi bị ngộ độc vì các chế phẩm chứa chất co mạch là naphazolin. Còn ở nước ta trong thời gian qua, Bệnh viện Nhi đồng 1 TP. Hồ Chí Minh đã cấp cứu cho một số trẻ nhũ nhi bị thở yếu, tay chân lạnh, tím tái vì được cho nhỏ mũi thuốc có chứa naphazolin.

Ta cần biết, bị sổ mũi, nghẹt mũi là do ở niêm mạc mũi bị rối loạn như bị dị ứng gây giãn mạch, tiết dịch và có hiện tượng sung huyết. Vì thế, khi dùng thuốc nhỏ mũi có chứa dược chất có tác dụng cường giao cảm thần kinh (hay trực giao cảm thần kinh) như naphazolin (nasoline, rhinex 0,05%), oxymetazolin, xylometazolin… làm cho co mạch và giảm sung huyết ở niêm mạc mũi, làm nước mũi hết chảy ràn rụa. Đối với trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh, trẻ nhũ nhi, tác dụng gây co mạch của thuốc không chỉ khu trú ở niêm mạc mũi mà gây co mạch toàn thân, tức co mạch ở cả tim, gan, thận… đưa đến tai biến gây tím tái, vã mồ hôi, choáng, phải được cấp cứu tại bệnh viện. Vì vậy, đối với trẻ dưới 8 tuổi, tuyệt đối không dùng thuốc nhỏ mũi chứa dược chất làm co mạch, chống sung huyết để nhỏ mũi. Cũng vì tác dụng cường giao cảm thần kinh gây co mạch mà người lớn là bệnh nhân bị bệnh tăng huyết áp, tim mạch, cường giáp hay phụ nữ có thai và cho con bú phải rất thận trọng, chỉ nên dùng thuốc nhỏ mũi loại này khi được bác sĩ chỉ định, không nên tự ý sử dụng bừa bãi. Đặc biệt, thuốc nhỏ mũi co mạch chống sung huyết dùng lâu dài có thể gây hiện tượng “bật lại” (rebound) tức lúc đầu làm hết sổ mũi, nghẹt mũi nhưng sau đó gây nghẹt mũi trở lại, làm viêm mạn tính niêm mạc mũi rất khó trị. Như vậy, chính thuốc nhỏ mũi loại này gây ra một loại bệnh gọi là “bệnh viêm mũi do thuốc” mà việc điều trị bệnh này rất khó khăn. Vì vậy, có khuyến cáo không dùng thuốc nhỏ mũi co mạch, chống sung huyết quá 5 ngày. Trẻ nhỏ, trẻ nhũ nhi, phụ nữ có thai hoặc người lớn cần nhỏ mũi thường xuyên nên dùng dung dịch natri clorid 0,9%, còn gọi là dung dịch “nước muối sinh lý” để nhỏ.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức

Theo SKDS

Chế độ dinh dưỡng phòng, chữa đau khớp

Trong những ngày mùa đông giá rét hay khi mưa phùn gió bấc, nhiều người, nhất là người lớn tuổi thường hay than phiền về những cơn đau chân, tay, đau nhức mình mẩy hay sưng các khớp gối, lên xuống cầu thang khó khăn. Đó có thể là những biểu hiện tái phát của căn bệnh thoái hóa khớp. Ngoài thuốc, chế độ ăn uống có thể góp phần phòng, chống chứng bệnh này.

Thoái hóa khớp (THK) là một bệnh khớp của người cao tuổi. Khi cơ thể già đi, bị lão hóa thì các khớp cũng bị lão hóa theo. Đó chính là bệnh THK. Tuy bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc bệnh này. Ngay cả những cụ trên 70 tuổi thì chỉ có 80% mắc bệnh THK. Người ta chỉ nói về THK khi người cao tuổi có các triệu chứng đau khớp, hạn chế vận động hay sưng khớp, biến dạng khớp. Những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này. Vậy làm thế nào để có được chế độ ăn uống phù hợp để dự phòng và giảm nhẹ căn bệnh THK?.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_01

Canh xương hầm tốt cho người bệnh khớp

Chế độ dinh dưỡng trong bệnh THK

Về thịt thì có thể ăn thịt lợn, thịt gia cầm (gà, vịt), tôm, cua. Đặc biệt là nên ăn cá nước lạnh như cá hồi, cá ngừ vì chúng chứa nhiều acid béo omega-3. Nhiều người quan niệm “ăn gì bổ nấy”, do vậy để phòng ngừa THK, họ thường ăn những món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn. Về mặt khoa học, nước hầm từ xương ống hay sụn sườn bò và bê có chứa nhiều glucosamin và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn, có tác dụng giúp sụn chắc khỏe. Ngoài ra, các món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn còn có thể bổ sung nguồn canxi quí báu cho cơ thể. Việc ăn các món ăn từ tôm, cá hầm cả xương cũng giúp bổ sung canxi. Những người cao tuổi nếu có điều kiện thì nên sử dụng những “dược liệu” tự nhiên này.

Về thực vật thì cần ăn đầy đủ các loại ngũ cốc. Ngoài ra, một số thực vật như đậu nành, rau xanh, hạt mầm có đặc tính chống bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch, kháng oxy hóa.

Về hoa quả thì nên ăn đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, hai hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Đặc biệt hiện nay người ta đã phát hiện được tác dụng chữa THK của quả bơ kết hợp với đậu nành. Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng các chất trong trái bơ hay đậu nành có thể kích thích tế bào sụn sinh trưởng collagen, một thành phần protein chủ yếu của gân, sụn và xương. Trong một cuộc nghiên cứu, những người bị THK gối hay khớp háng được cho uống trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng thấy giảm các triệu chứng của THK và không phát hiện thấy tác dụng phụ gì cả. Một số gia vị như ớt, hạt tiêu, gừng, lá lốt đều có tác dụng chống viêm, giảm đau đối với bệnh THK. Thậm chí người ta còn phân tách được từ ớt hoạt chất capsain có thể bôi chữa sưng đau khớp thoái hóa.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_02

Người bệnh khớp ăn cà chua không nên bỏ hạt

Nấm và mộc nhĩ: có nhiều loại nấm rất có ích cho sức khỏe người cao tuổi. Các món ăn chế từ nấm như canh nấm đông cô, lẩu nấm, nấm hương xào thập cẩm rất được ưa chuộng. Không chỉ là món ăn ngon, các loại nấm còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống lão hóa, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như ung thư, tim mạch… là các bệnh thường hay gặp ở người cao tuổi. Mộc nhĩ và nấm hương là những thực phẩm gia vị được dùng phổ biến để nấu cỗ, trong các dịp Tết lễ. Tuy nhiên, mộc nhĩ còn có tác dụng hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch. Mộc nhĩ còn chứa một loại polysaccharid có khả năng tăng cường miễn dịch trong cơ thể người để chống chất phóng xạ và ức chế khối u. Nấm hương được mệnh danh là “vua của các loại nấm” còn có tác dụng chống viêm, chữa cơ thể suy nhược, chứng chân tay tê bại. Y học hiện đại coi nấm hương như một nguồn bổ sung đáng kể lượng vitamin D2 để phòng và chống bệnh còi xương, trị chứng thiếu máu. Đó là do chất ergosterol có trong nấm hương, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D2.

Nấm hương, mộc nhĩ có thể kết hợp với súp lơ xanh, cà rốt, ớt đỏ để tạo thành món nấm hương xào thập cẩm, không chỉ ngon mà còn có khả năng phòng bệnh THK. Cà rốt và ớt rất giàu vitamin A và E, hai nhân tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương. Súp lơ xanh là thực phẩm giàu vitamin K và C, giúp cho xương khớp chắc khỏe. Ngoài ra ăn cà chua cũng rất có lợi cho khớp.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng. Hiện nay, các thực phẩm chức năng đang rất phổ biến, nhưng giá cả còn tương đối cao, không phải ai cũng có thể sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên nếu chỉ chú ý một chút, chúng ta có thể lựa chọn thực phẩm hàng ngày là các thức ăn tự nhiên nhưng cũng có các công dụng phòng chống THK có hiệu quả. Trong dân gian có rất nhiều thực phẩm có thể trở thành bài thuốc phòng ngừa hoặc làm giảm những cơn đau do viêm xương khớp, trong khi đó thì nhiều người thường “ngại” dùng thuốc. Có một số thực phẩm giúp cho phòng bệnh THK nói riêng và tốt cho sức khỏe xương khớp nói chung.

 

Có quan điểm cho rằng khi chế biến cà chua phải bỏ hạt vì ăn phải thì dễ bị viêm xương khớp. Trên thực tế không đúng như vậy. Ăn cà chua rất có lợi vì có thể làm bớt đau khớp. Hạt cà chua không những không có hại mà còn có thể thay thế aspirin, có tác dụng giảm đau, chống viêm khớp.

Tuy nhiên có một số thực phẩm không có lợi cho những người cao tuổi như các chất béo (dầu, mỡ các loại), chất ngọt như kẹo, bánh, đồ uống ngọt thì nên hạn chế.

Về đồ uống, các nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển đã chứng tỏ uống rượu vang có điều độ có thể làm giảm một nửa nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp mạn tính.

Tóm lại, nếu chúng ta biết cách lựa chọn các thực phẩm bổ dưỡng và phối hợp sử dụng chúng thường xuyên thì có thể nấu được những món ăn rất ngon miệng mà lại có tác dụng phòng chống bệnh THK.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)
Theo SKĐS

Biện pháp điều trị loãng xương sau mãn kinh

Các biện pháp điều trị loãng xương sau mãn kinh hiện nay có thể làm giảm tới một nửa nguy cơ gãy xương ở phụ nữ mãn kinh đã có giảm mật độ xương.

Trước hết phụ nữ sau mãn kinh cần phải thường xuyên tập thể dục để duy trì sự mềm dẻo của cơ bắp, cơ lực và sự cân bằng. Ở người cao tuổi, dự phòng ngã là rất quan trọng, sự thay đổi môi trường sao cho thuận tiện, phù hợp với sinh hoạt của người cao tuổi, điều trị các bệnh có thể gây ngã, theo dõi quản lý tốt việc dùng thuốc hạ huyết áp và thuốc ngủ… Trong trường hợp có nguy cơ ngã cao như bị bệnh cơ hay thần kinh ở chi dưới và bị ngã nhiều thì cần mang dụng cụ bảo vệ háng để khỏi bị gãy đầu trên xương đùi.

bien_phap_dieu_tri_loang_xuong_sau_man_kinh

Phụ nữ sau mãn kinh cần luôn cố gắng cung cấp đủ lượng calci cho cơ thể, chủ yếu qua đường thức ăn nếu có thể (liều lượng 1.500 mg/ngày ở phụ nữ mãn kinh và người trên 65 tuổi). Vitamin D cũng rất quan trọng giúp cho việc hấp thu canxi từ ruột nhu cầu sinh lý hằng ngày là 400 – 800 UI. Ở phụ nữ trên 80 tuổi và ở trong trại dưỡng lão, kết hợp dùng 1.200 mg canxi và 800 UI vitamin D làm giảm 30% nguy cơ gãy đầu trên xương đùi. Các thuốc này nhìn chung dung nạp tốt.

Việc điều trị đặc hiệu loãng xương chủ yếu là raloxifen và biphosphonat. Các thuốc thuộc nhóm biphosphonat có tác dụng chống tiêu xương do ức chế hủy cốt bào. Các thuốc này kém hấp thu qua đường tiêu hóa (<1%) và áp lực với xương rất lớn. Do vậy, bệnh nhân cần nắm vững cách uống thuốc để tránh kích thích trên đường tiêu hoá. Các thuốc được dùng thông dụng hiện nay là: fosamax, actonel…

Trong tương lai gần, với sự phát triển của khoa học sẽ có những chỉ số gãy xương cho phép đánh giá nguy cơ tuyệt đối gãy xương sau 5 hay 10 năm và có những thuốc mới, đặc biệt là các thuốc tăng đồng hoá cho phép làm phong phú hơn các chiến lược điều trị.

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Tác hại của thuốc với khả năng sinh sản

thuoc_va_khan_nang_ss

Với nữ, những khó khăn về rụng trứng là nguyên nhân quan trọng gây hiếm muộn, chỉ cần một trục trặc nhỏ ở trục dưới đồi – tuyến yên là có thể dẫn đến sự thiếu hụt về hormon nên thuốc kích thích rụng trứng trở thành giải pháp hiệu quả.

Những thuốc thường dùng để tăng khả năng thụ thai có nhiều loại nhưng tác dụng chính là kích thích buồng trứng tạo ra nhiều nang noãn, làm cho nang noãn chín và vỡ ra để trứng phóng ra ngoài.

– Loại thuốc tác động đến não để tiết ra nhiều hormon kích thích buồng trứng như clomiphen citrat (tên biệt dược là clomid, serophen).

– Loại kích thích buồng trứng tạo ra nhiều nang noãn hơn và nhờ thế tăng số lượng trứng như hMG (humegon, pergonal…); trong thuốc này có chứa hormon tạo thể vàng (LH) và hormon kích thích nang noãn (FSH).

– Loại có tác dụng làm cho các nang noãn chín và kích thích nang vỡ để phóng ra trứng như hCG (profasi, pregnyl).

– Loại chuẩn bị nội mạc tử cung để phôi làm tổ như progesteron, có thể tiêm bắp hay viên nang đặt âm đạo. Cũng có nhiều phác đồ khác nhau để các thầy thuốc cân nhắc và lựa chọn.

– Loại thuốc tác động đến não để triệt tiêu sự tiết ra hormon của chính cơ thể do đó ngăn cản nang noãn phát triển và rụng trứng như leuprolid acetat (lupron). Thường dùng phối hợp với các thuốc khác để kiểm soát tốt hơn chu kỳ của phụ nữ.

Acid folic cần thiết để phòng ngừa khuyết tật bẩm sinh ở ống thần kinh: các cơ quan của thai hình thành trong 6-8 tuần lễ đầu của thai nghén khi người phụ nữ có thể chưa biết mình có thai, vì vậy để phòng ngừa khuyết tật bẩm sinh, nên dùng acid folic mỗi ngày từ 3 tháng trước khi có thai và multivitamin suốt kỳ thai nghén.

Một số thuốc dùng cho nữ có thể tạm thời ảnh hưởng đến khả năng sinh sản nhưng hầu hết các trường hợp khả năng sinh sản sẽ phục hồi sau khi ngừng thuốc.

Với nam, có nhiều thuốc tăng chất lượng tinh trùng.

Hằng ngày dùng multivitamin để cung cấp selenium, kẽm và acid folic – những vi chất rất quan trọng để giúp tinh trùng có chất lượng và hoạt động tốt nhất. Trong viên multivitamin có cả những vitamin chống ôxy hóa như vitamin C và E có tác dụng bảo vệ tinh trùng không bị tổn thương.

Những thuốc không dùng:

– Các loại hormon có tác dụng xấu như hormon steroid đồng hóa (anabolic steroid) thường được dùng lén lút trong thi đấu thể thao có thể làm teo nhỏ tinh hoàn và giảm rõ rệt khả năng sinh sản. Các thuốc steroid như prednisolon và cortison trong điều trị hen phế quản, viêm khớp và bệnh ngoài da có tác động đến khả năng sinh sản nam. Các hormon kháng androgen được dùng để chữa phì đại lành tính và ung thư tuyến tiền liệt cũng ảnh hưởng đến sự sản xuất ra tinh trùng. Bổ sung testosteron cũng làm giảm khả năng sinh sản.

– Tagamet (cimitedin), sulfasalazin hay nitrofurantoin trong điều trị viêm loét dạ dày và nhiễm khuẩn tiết niệu có thể ảnh hưởng đến sự sản xuất và số lượng tinh trùng.

– Tránh dùng thuốc bôi trơn khi quan hệ tình dục: nước thơm, dầu bôi trơn và cả nước bọt cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng di chuyển của tinh trùng.

Hạn chế các tác động có hại đến tiến trình sinh sản cả hai giới

Tăng khả năng sinh sản không chỉ là dùng thuốc mà còn phải hạn chế nhiều tác động có hại đến chất lượng tinh trùng và trứng:

– Đề phòng các độc tố có trong môi trường sống tự nhiên, xã hội cũng như gia đình: kim loại nặng, các thuốc diệt côn trùng và nhiều hóa chất có trong các loại dung môi. Các chất độc có trong môi trường có thể làm giảm số lượng tinh trùng. Những hóa chất giống estrogen được dùng rộng rãi trong nông nghiệp và công nghiệp nhưng có ở cả nước uống và sản phẩm dùng trong gia đình. Hormon tăng trưởng dùng trong chăn nuôi cũng có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nam.

– Không hút thuốc lá: Nam giới hút thuốc có thể làm cho tinh trùng có hình thể bất thường và khả năng chuyển động chậm hơn so với những người không hút thuốc. Hút thuốc còn làm tổn thương đến nguyên liệu di truyền của tinh trùng tức ADN, vì thế có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sự tăng trưởng của thai và tăng khả năng trẻ có vấn đề về sức khỏe. Một số thuốc lá dạng nhai cũng không an toàn, có thể làm giảm số lượng và gây tổn thương cho tinh trùng. Nam hút thuốc lá còn giảm khả năng cương dương; nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng người nghiện cả thuốc lá và rượu thì số lượng và sự di chuyển của tinh trùng kém hơn so với người chỉ nghiện một thứ. Phụ nữ hút thuốc giảm khả năng có thai và giảm hiệu quả của liệu pháp tăng khả năng sinh sản. Tỷ lệ sảy thai ở phụ nữ hút thuốc cũng thường gặp hơn.

– Hạn chế rượu: Nghiện rượu nặng có thể làm giảm cả số lượng và chất lượng tinh trùng. Hạn chế rượu ở mức cho phép, bia: 330ml là chấp nhận được (360ml tương đương 1 lon), rượu vang: 125ml (hơn nửa lon), rượu mạnh (gin, vodka, whiskey) 40ml… Đặc biệt có hại là nghiện cả rượu và thuốc lá. Không có nồng độ rượu nào là chắc chắn an toàn cho sự thụ thai hay khi có thai.

– Tránh xa các loại ma túy: Loại ma túy có tên là marijuana có thể làm giảm mật độ và di chuyển của tinh trùng, tăng số lượng tinh trùng bất thường. Cocain và thuốc có nguồn gốc thuốc phiện ảnh hưởng đến khả năng cương dương, amphetamin giảm ham muốn tình dục.

– Cà phê: Dùng vừa phải không có vấn đề gì nhưng dùng nhiều có thể làm chậm sự di chuyển của tinh trùng.

– Không tắm quá nóng: Để tinh trùng có số lượng và chất lượng tối đa thì không nên tắm quá nóng; tắm quá 30 phút ở nhiệt độ 40oC hay cao hơn có thể làm giảm số lượng tinh trùng. Tắm hơi cũng có tác động tương tự.

– Hóa liệu pháp và tia xạ có thể gây vô sinh hay thay đổi nghiêm trọng về số lượng và chất lượng tinh trùng (đôi khi rất nghiêm trọng) nhưng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nữ. Chức năng sinh sản nam bị ảnh hưởng bởi hóa liệu pháp nghiêm trọng hơn so với nữ. Tia xạ càng gần tinh hoàn khiến bệnh nhân càng có nhiều nguy cơ bị vô sinh.

Theo suckhoevadoisong

Món ăn bổ thận, tráng dương cho người hiếm muộn

Nam giới được coi là hiếm muộn nếu không có khả năng sinh con sau 2 năm quan hệ với vợ không dùng biện pháp tránh thai, đồng thời bộ máy sinh sản của người vợ không có vấn đề gì. Để điều trị hiếm muộn nam, điều quan trọng là phải dùng thuốc hoặc món ăn có tác dụng bổ thận, tráng dương, sinh tinh ích tủy, trong đó tăng cường chức năng của thận có vai trò vô cùng quan trọng. Dưới đây là những món ăn có tác dụng bổ thận, tráng dương, sinh tinh ích tủy giúp khắc phục hiếm muộn nam:

Gà hầm kỷ tử

Gà trống 1 con, kỷ tử 20g, hoàng tinh 20g. Gà làm thịt, bỏ ruột, rửa sạch, cho 2 vị thuốc vào hầm nhừ để ăn. Món ăn bài thuốc này thích hợp với bệnh nhân vô sinh có các triệu chứng: thắt lưng, đầu gối mỏi nhừ, miệng khô, hoa mắt, chóng mặt.

Canh đuôi lợn, tục đoạn

Đuôi lợn 50g, đỗ trọng 20g, ba kích, tục đoạn 20g, nhục thung dung 20g, đậu đen 30g, gia vị vừa đủ. Đuôi lợn rửa sạch đem hầm với các vị thuốc trên nêm gia vị vừa dùng. Dùng liên tục 7 – 10 ngày. Công dụng: bổ thận, sinh tinh.

bo_than_trang_Duong

 Canh đuôi lợn.

Canh tôm, thịt dê

Thịt dê 250g, tôm nõn 25g, gừng, hành, muối, hạt tiêu bột, vừa đủ. Rửa sạch thịt, luộc chín thái mỏng, cho vào nồi đất cùng tôm, gừng, hành, muối, tiêu bột, nước vừa đủ, đun to lửa tới sôi rồi nhỏ lửa nấu tới chín nhừ là được. Ăn kèm trong bữa cơm. Công dụng: ôn thận bổ dương, cường thận, giúp tăng số lượng và chất lượng tinh trùng.

Cháo hạt dẻ – dương vật bò

Dương vật bò 25g, dương khởi thạch (một loại khoáng chất) 25g, bột hạt dẻ 25g, gạo tẻ 100g. Nấu dương khởi thạch lấy nước, dùng nước đó nấu cháo với dương vật bò để ăn, ngày 2 lần. Thích hợp với bệnh nhân liệt dương, không xuất tinh, tinh trùng ít và yếu.

Sốt ở trẻ nhỏ

Cha mẹ nào cũng có ngày rơi vào hoàn cảnh: thức dậy nửa đêm và thấy con đứng bên giường, nhăn nhó, trán ấm hoặc người đẫm mồ hôi. Bé đã bị sốt – phải làm gì tiếp đây? Tự theo dõi hay gọi ngay cho bác sĩ?

Sốt là đáp ứng của cơ thể đối với những điều kiện khác nhau, trong đó nhiễm khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất. Sốt xuất hiện khi thân nhiệt cơ thể tăng hơn so với bình thường.

Hầu như đứa trẻ nào cũng có lần bị sốt nên vấn đề của cha mẹ là phải biết xử trí ra sao khi đó.

sot_o_tre_nho

KIỂM SOÁT THÂN NHIỆT

Thân nhiệt được kiểm soát bởi vùng hạ đồi của não. Thân nhiệt thay đổi trong ngày trong một khoảng tương đối hẹp với sự duy trì của vùng hạ đồi. Vùng hạ đồi điều chỉnh thân nhiệt độ bằng cách cân bằng giữa việc tạo nhiệt độ của các cơ và gan với sự mất nhiệt qua da và phổi.

Sốt xảy ra khi vùng hạ đồi làm tăng thân nhiệt. Sốt có thể do đáp ứng của hệ miễn dịch đối với tác nhân nhiễm khuẩn như vi khuẩn hoặc virus.

ĐỊNH NGHĨA SỐT

– Nhiệt độ ở trực tràng > 100.4ºF (38ºC)
– Nhiệt độ miệng > 99.5ºF (37.5ºC)
– Nhiệt độ nách > 99ºF (37.2ºC)
– Nhiệt độ tai > 100.4º (38ºC)

NGUYÊN NHÂN

Nhiễm khuẩn là nguyên nhân thường gây sốt nhất. Các bệnh lý do virus và vi khuẩn như cảm, tiêu chảy, nhiễm khuẩn tai, viêm thanh quản cấp và viêm tiểu phế quản thường là nguyên nhân hàng đầu gây sốt.

Mọc răng thường không gây sốt; Một số nghiên cứu cho thấy nhiệt độ ³ 101.3ºF (38.5ºC) thường không liên quan đến mọc răng.

Quấn trẻ < 3 tháng tuổi trong quá nhiều quần áo có thể làm tăng nhẹ thân nhiệt trẻ. Tuy nhiên, nhiệt độ hậu môn ³  101ºF (38.5ºC) thường không liên quan đến việc quấn đứa trẻ và khi đó, trẻ cần được xem xét kỹ hơn để tìm nguyên nhân gây sốt.

Vài loại vaccin có thể gây sốt; Thời gian sốt thay đổi tùy theo loại vaccin sử dụng.

CÁCH ĐO THÂN NHIỆT TRẺ

Cách tốt nhất để đo thân nhiệt đứa trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đo nhiệt độ ở trực tràng là phương pháp chính xác nhất. Tuy nhiên, cũng có thể đo nhiệt độ ở miệng ( đối với trẻ từ 4 – 5 tuổi trở lên) hay đo nhiệt độ ở tai (khi trẻ > 6 tháng). Đo thân nhiệt ở nách là phương pháp được xem là ít chính xác nhất , nhưng là phương pháp thuận tiện, nhất là khi trẻ < 3 tháng tuổi. Nếu nhiệt độ ở nách > 99ºF (37.2ºC) thì nên sử dụng phương pháp đo thân nhiệt ở trực tràng.

Nhiệt kế điện tử không đắt lắm, phổ biến, an toàn và chính xác hơn nên cần thay thế cho nhiệt kế thủy ngân.

Phương pháp đo thân nhiệt ở trực tràng:

– Trẻ sơ sinh hay trẻ nhỏ nên nằm sấp trong lòng người lớn.

– Thoa một lượng nhỏ chất bôi trơn (Vaseline, …) vàp phần cuối của nhiệt kế.

– Nhẹ nhàng đặt nhiệt kế vào hậu môn trẻ cho đến khi phần đầu bạc của nhiệt kế không còn thấy nữa (1/4 – ½ inch ≈ 0,6 – 1,3 cm) bên trong hậu môn.

– Giữ nguyên nhiệt kế. Nhiệt kế thủy ngân cần khoảng 2 phút trong khi nhiệt kế điện tử chỉ cần dưới 1 phút.

(Phương pháp đo thân nhiệt độ ở miệng (không nên đo nếu trẻ đã ăn hoặc uống đồ nóng trong vòng 30 phút):

– Rửa nhiệt kế bằng nước lạnh và xà bông, sau đó rửa sạch lại với nước.

– Đặt đầu  nhiệt kế vào dưới lưỡi của trẻ. Bảo trẻ giữ nhiệt kế bằng môi. Giữ cho môi kín xung quanh nhiệt kế.

– Nhiệt kế thủy ngân cần khoảng 3 phút trong khi nhiệt kế điện tử chỉ cần dưới 1 phút.

Phương pháp đo thân nhiệt độ ở nách:

– Giữ nhiệt kế ở kẽ nách trẻ (phải lau khô nách trước khi đo).

– Giữ nhiệt kế bằng việc ép sát khuỷu tay vào ngực trong vòng 4 – 5 phút.

Phương pháp đo thân nhiệt độ ở tai (không áp dụng cho trẻ < 6 tháng tuổi; Nếu trẻ vừa ngoài trời lạnh vào, đợi 15 phút truớc khi tiên hành đo nhiệt độ; Ống tai và bệnh ở tai không ảnh hưởng đến kết quả):

– Kéo tai ngoài của trẻ trước khi đặt nhiệt kế vào.

– Giữ đầu dò nhiệt kế trong tai trong vòng 2 giây.

KHI NÀO CẦN ĐIỀU TRỊ SỐT

Việc điều trị sốt còn nhiều bàn cãi. Sốt có thể giữ vai trò chống nhiễm khuẩn mặc dù sốt có thể làm trẻ khó chịu. Sốt cao không phải luôn luôn là yếu tố quyết định xem trẻ có cần được chữa trị hay không. Thay vào đó là xem hành vi và vẻ ngoài của trẻ. Sốt thường đi kèm các triệu chứng khác. Những triệu chứng này cần được xem xét bởi nhân viên y tế.

Trong đa số trường hợp, sốt có thể được theo dõi và điều trị tại nhà. Tuy nhiên, điều quan trọng là cha mẹ cần biết khi nào nên đưa trẻ đi khám bệnh và khi nào cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt.

Dưới đây là một số hướng dẫn chung để tham khảo (không hoàn toàn đầy đủ để áp dụng cho mọi tình huống); Cha mẹ cần liên hệ với nhân viên y tế để có những hướng dẫn cụ thể hơn về tình trạng của con mình.

Cần đưa trẻ đi khám bệnh khi:

– Trẻ < 3 tháng tuổi: sốt ³ 100,4ºF (38ºC), ngay cả khi vẻ ngoài của trẻ vẫn có vẻ tốt.
– Trẻ > 3 tháng tuổi: sốt ³ 100,4ºF (38ºC) hơn 3 ngày hay khi vẻ ngoài của trẻ không tốt (bứt rứt, không chịu bú, …)
– Trẻ 3 – 36 tháng: sốt ³ 102ºF (38,9ºC)
– Trẻ sốt ³ 104ºF (40ºC)
– Trẻ bị sốt cao co giật.
– Trẻ sốt tái đi tái lại.
– Trẻ có bệnh nền: tim mạch, ung thư, lupus, hay hồng cầu liềm, …
– Trẻ sốt kèm phát ban da.

XỬ TRÍ SỐT

1. Thuốc:

Thuốc có hiệu quả hạ sốt ở trẻ em là Acetaminophen hay Ibuprofen. Các thuốc này giúp trẻ dễ chịu hơn và giảm thân nhiệt trẻ khoảng 2 – 3ºF (1 – 1.5º C).

Aspirin không được chỉ định do có thể gây các bệnh lý nghiêm trọng như hội chứng Reye.

Acetaminophen có thể dùng mỗi 4 – 6 giờ khi cần, với liều 10 – 15 mg/kg/lần . Nếu thân nhiệt vẫn tiếp tục cao và trẻ > 6 tháng tuổi, Ibuprofen có thể để thay thế hoặc kết hợp với Acetaminophen và sử dụng mỗi 6 giờ, với liều: 5–10 mg/kg uống mỗi  6 – 8 giờ. Liều lượng của Acetaminophen hay Ibuprofen (nên được tính theo cân nặng của trẻ, không nên theo tuổi).

Chưa có tài liệu đầy đủ về tình trạng an toàn khi sử dụng kếp hợp Acetaminophen và Ibuprofen xen kẽ nhưng các cha mẹ cũng nên biết việc sử dụng cả 2 loại thuốc sẽ ít an toàn hơn như khi sử dụng một loại thuốc đơn thuần.

Thuốc hạ sốt chỉ được sử dụng khi cần thiết, và sẽ ngưng khi các triệu chứng không còn.

2. Đắp mát và tắm mát:

Lau mát là đặt trẻ trong chậu tắm và dùng khăn đắp nước ấm (85ºF or 30ºC) khắp thân trẻ. Trẻ sẽ mát hơn khi nước bốc hơi qua da. Do đó, trẻ không nên được đắp bằng khăn ướt hay tắm bằng nước mát.

Đắp mát cần được kết hợp với thuốc hạ sốt khi trẻ không dung nạp được thuốc.

Đắp mát với alcohol cần phải tránh vì hơi alcohol có thể hấp thu qua da và phổi.

3. Tăng lượng nước vào:

Sốt làm tăng nguy cơ mất nước ở trẻ. Để giảm nguy cơ này, cha mẹ nên khuyên khích trẻ uống đủ nước. Trẻ bị sốt có thể không đói và không cần thiết ép trẻ ăn. Tuy nhiên, các loại nước uống như sữa (sữa bò hay sữa mẹ), sữa bột, và nước cần phải uống thường xuyên. Trẻ lớn hơn có thể ăn bột, soup hoặc kem lạnh. Nếu trẻ không chịu uống hoặc không uống được, cha mẹ cần tham vấn BS.

4. Nghỉ ngơi:

Sốt là nguyên nhân gây mệt mỏi và đau nhức. Trong thời gian này, cha mẹ nên khuyến khích trẻ nghỉ ngơi như trẻ mong muốn. Không cần thiết ép trẻ ngủ hoặc nghỉ ngơi nếu trẻ đã cảm thấy khỏe hơn. Trẻ có thể đi học lại hoặc tham gia các hoạt động khác khi thân nhiệt đã trở về bình thường sau 24 giờ.

Theo: www.uptodate.com/patients
Last literature review version 18.3: September 2010
This topic last updated: August 18, 2010
Đăng bởi: Bs Hồ Thị Kim Thoa-TK Nội tổng hợp
Theo benhviennhi.org.vn

Chữa bệnh viên xoan với phụ nữ cho con bú

Viêm mũi xoang là bệnh phổ biến ở Việt Nam và có xu hướng ngày càng tăng.

Theo thống kê, 70% phụ nữ có thai bị ngạt tắc mũi và có thể dẫn tới viêm xoang nếu không được điều trị thích hợp. Viêm xoang vẫn có thể tồn tại ngay cả khi đang mang thai hoặc bà mẹ mắc phải sau sinh.

Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú thường có tâm lý ngại sử dụng thuốc, chính vì thế mà họ cố chịu đựng cho tới khi không thể. Lúc này bệnh lý xoang thường đã nặng và đã có biến chứng, hay gặp nhất là viêm thanh quản, viêm phế quản.

Viêm xoang là hiện tượng bít tắc các lỗ thông từ xoang đổ ra mũi gây ra hiện tượng ứ trệ dịch trong xoang, làm vi khuẩn phát triển và gây nên quá trình viêm. Sự bít tắc các lỗ thông của xoang có thể gây ra do rất nhiều nguyên nhân nhưng thường là do viêm nhiễm từ mũi.

Mục đích khi điều trị là trả lại sự thông thoáng cho hệ thống lỗ thông của mũi xoang. Điều trị viêm mũi xoang đặc biệt là viêm mũi xoang mạn tính gặp rất nhiều khó khăn vì cấu tạo của hệ thống mũi xoang rất phức tạp nên bệnh hay tái phát, đồng thời quan niệm chưa đúng đắn của bệnh nhân trong quá trình điều trị làm giảm tỷ lệ thành công khi chữa viêm mũi xoang.

Thuốc chữa viêm mũi xoang là những thuốc có thể can thiệp để giải phóng tình trạng tắc nghẽn của lỗ thông mũi xoang. Các thuốc này phải được phối hợp đồng bộ dưới sự theo dõi chặt chẽ của các thầy thuốc tai mũi họng. Tùy theo giai đoạn của viêm mũi xoang, loại viêm mũi xoang (viêm mũi xoang mủ, viêm mũi xoang dị ứng, viêm xoang do nấm…) mà thầy thuốc ra quyết định sử dụng thuốc như thế nào.

Thuốc toàn thân

– Kháng sinh uống hoặc tiêm: Ở phụ nữ đang cho con bú thường sử dụng nhóm ß lactam.

– Thuốc chống viêm, giảm phù nề để giải phóng lỗ thông mũi xoang.

Thuốc hay sử dụng là kháng viêm nhóm steroid và non steroid như prednisolone, medrol, medexa, celestene… Nhóm thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ như loét, thủng dạ dày, loãng xương, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, tăng đường huyết, suy tuyến thượng thận… Chính vì thế các thuốc này thường được dùng trong thời gian ngắn (dưới 1 tuần ở giai đoạn cấp) và phải được thầy thuốc chỉ định mới dùng.

Nhóm thuốc chống viêm do các men đảm nhận để chống phù nề như alphachymotrypsine choay uống hoặc ngậm.

– Thuốc giảm đau như paracetamol.

– Thuốc long đờm: acetylcysteine, ambroxol, carbocisteine.

– Thuốc chống dị ứng: telfast, clarytine…

chua_viem_cho_phu_nu_mang_thai

Phẫu thuật chữa viêm xoang khi điều trị nội khoa thất bại.

Thuốc tại chỗ

Là phươmg pháp điều trị hữu hiệu nhất với viêm mũi xoang cho các phụ nữ nuôi con bú.

Thuốc chống viêm, chống xung huyết mũi, thuốc co mạch.

Nhóm thuốc nhỏ mũi thường phải phối hợp giữa kháng sinh với một số thành phần chống viêm, giảm phù nề, giảm xung huyết mới có hiệu quả.

Kháng sinh nhóm moxifloxacine hydrochloride, tobramycine thường được sử dụng để bào chế làm thành phần của thuốc nhỏ mũi. Lý do chính là qua nghiên cứu người ta nhận thấy khả năng thấm qua máu thấp dưới 2%, đồng thời thuốc lại không bị hấp thu qua đường tiêu hoá nên khá an toàn khi sử dụng. Tuy nhiên khi dùng kéo dài thuốc nhỏ mũi chứa kháng sinh thì khả năng tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, bao gồm cả nấm có thể xảy ra. Nếu bội nhiễm xuất hiện phải ngưng thuốc và chuyển sang phương pháp điều trị thích hợp khác.

Thuốc co mạch – chống ngạt là loại thuốc hiện nay đang được sử dụng rộng rãi. Thuốc có tác dụng thu nhỏ tổ chức cương ở cuốn mũi dưới, chống xung huyết niêm mạc. Thuốc tác dụng nhanh trong vài phút và duy trì trong nhiều giờ sau đó. Thuốc nhỏ mũi có khả năng gây các phản ứng dị ứng tại chỗ như cảm giác ngứa mũi, sưng mũi, đỏ cánh mũi, đau nhức dọc theo sống mũi… tuy không xảy ra tới 3% các trường hợp dùng thuốc.

Một số bệnh nhân gặp phản ứng không dung nạp thuốc. Tại niêm mạc hốc mũi biểu hiện có cảm giác như kim châm, hiếm gặp phản ứng dị ứng toàn thân như phù da, niêm mạc vùng mặt, ngoại lệ có thể gây phù Quincke. Trong trường hợp này phải ngưng dùng thuốc ngay và trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị.

Thuốc nên sử dụng trong 7 – 10 ngày. Không nên điều trị kéo dài nếu không có chỉ định và theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

Các thuốc chống viêm có corticoid dạng nhỏ như polydexa, collydexa… dạng xịt phun sương. Thuốc corticoid tại chỗ tuy chỉ có khoảng 2 % hấp thu vào máu nhưng nếu không được điều trị đúng cách cũng sẽ gây một số biến chứng của corticoid nói chung như ức chế vỏ thượng thận tiết hormon làm tuyến vỏ thượng thận bị teo. Gây hội chứng biến dưỡng hậu quả từ việc tăng giữ muối, nước gây hiện tượng béo giả, ứ đọng mỡ ở một số bộ phận như mặt, gây tăng đường huyết – nguy cơ của đái tháo đường bên cạnh đó làm tăng huyết áp, giảm kali máu kết hợp rối loạn cân bằng muối – nước gây nhiều bất lợi cho người bị bệnh tim mạch, người glaucoma… Rối loạn quá trình tái tạo xương, biến dưỡng cơ dẫn đến loãng xương và teo cơ. Giảm sức đề kháng chung của cơ thể nên rất dễ bị nhiễm trùng, nhiễm nấm đặc biệt là ở hệ thống mũi xoang. Một số trường hợp xuất hiện rối loạn kinh nguyệt hoặc chảy máu mũi. Những thuốc này cũng bài tiết qua sữa nên cần cân nhắc trước khi dùng.

Phòng bệnh

Viêm mũi xoang là loại bệnh có thể phòng tránh được nếu bạn có chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh như ở những người có cơ địa dị ứng cần tự tìm hiểu xem mình có thể bị dị ứng với loại thức ăn nào để phòng tránh. Ví dụ, nếu bạn ăn tôm mà xuất hiện hắt hơi nhiều, ngứa mũi thì nên dừng ngay loại thức ăn đó. Đeo khẩu trang khi đi ở những nơi nhiều bụi bẩn… Nếu xuất hiện tình trạng ngạt mũi tăng cần phải sử dụng thuốc để điều trị ngay, tránh việc lỗ thông mũi xoang bị tắc. Trong trường hợp cần sử dụng thuốc phải được đi khám và điều trị tại cơ sở chuyên khoa để an toàn và hiệu quả.

Theo 24h

Phương pháp chữa bệnh viêm xoang ở phụ nữ cho con bú

Viêm mũi xoang là bệnh phổ biến ở Việt Nam và có xu hướng ngày càng tăng.

Theo thống kê, 70% phụ nữ có thai bị ngạt tắc mũi và có thể dẫn tới viêm xoang nếu không được điều trị thích hợp. Viêm xoang vẫn có thể tồn tại ngay cả khi đang mang thai hoặc bà mẹ mắc phải sau sinh.

Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú thường có tâm lý ngại sử dụng thuốc, chính vì thế mà họ cố chịu đựng cho tới khi không thể. Lúc này bệnh lý xoang thường đã nặng và đã có biến chứng, hay gặp nhất là viêm thanh quản, viêm phế quản.

Viêm xoang là hiện tượng bít tắc các lỗ thông từ xoang đổ ra mũi gây ra hiện tượng ứ trệ dịch trong xoang, làm vi khuẩn phát triển và gây nên quá trình viêm. Sự bít tắc các lỗ thông của xoang có thể gây ra do rất nhiều nguyên nhân nhưng thường là do viêm nhiễm từ mũi.

Mục đích khi điều trị là trả lại sự thông thoáng cho hệ thống lỗ thông của mũi xoang. Điều trị viêm mũi xoang đặc biệt là viêm mũi xoang mạn tính gặp rất nhiều khó khăn vì cấu tạo của hệ thống mũi xoang rất phức tạp nên bệnh hay tái phát, đồng thời quan niệm chưa đúng đắn của bệnh nhân trong quá trình điều trị làm giảm tỷ lệ thành công khi chữa viêm mũi xoang.

Thuốc chữa viêm mũi xoang là những thuốc có thể can thiệp để giải phóng tình trạng tắc nghẽn của lỗ thông mũi xoang. Các thuốc này phải được phối hợp đồng bộ dưới sự theo dõi chặt chẽ của các thầy thuốc tai mũi họng. Tùy theo giai đoạn của viêm mũi xoang, loại viêm mũi xoang (viêm mũi xoang mủ, viêm mũi xoang dị ứng, viêm xoang do nấm…) mà thầy thuốc ra quyết định sử dụng thuốc như thế nào.

Thuốc toàn thân

– Kháng sinh uống hoặc tiêm: Ở phụ nữ đang cho con bú thường sử dụng nhóm ß lactam.

– Thuốc chống viêm, giảm phù nề để giải phóng lỗ thông mũi xoang.

Thuốc hay sử dụng là kháng viêm nhóm steroid và non steroid như prednisolone, medrol, medexa, celestene… Nhóm thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ như loét, thủng dạ dày, loãng xương, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, tăng đường huyết, suy tuyến thượng thận… Chính vì thế các thuốc này thường được dùng trong thời gian ngắn (dưới 1 tuần ở giai đoạn cấp) và phải được thầy thuốc chỉ định mới dùng.

Nhóm thuốc chống viêm do các men đảm nhận để chống phù nề như alphachymotrypsine choay uống hoặc ngậm.

– Thuốc giảm đau như paracetamol.

– Thuốc long đờm: acetylcysteine, ambroxol, carbocisteine.

– Thuốc chống dị ứng: telfast, clarytine…

Thuốc chữa viêm xoang ở phụ nữ cho con bú, Sức khỏe đời sống, viem mui, viem xoang, suc khoe, ba bau, mang thai, thuoc

chua_viem_xoan

Phẫu thuật chữa viêm xoang khi điều trị nội khoa thất bại.

Thuốc  tại chỗ

Là phươmg pháp điều trị hữu hiệu nhất với viêm mũi xoang cho các phụ nữ nuôi con bú.

Thuốc chống viêm, chống xung huyết mũi, thuốc co mạch.

Nhóm thuốc nhỏ mũi thường phải phối hợp giữa kháng sinh với một số thành phần chống viêm, giảm phù nề, giảm xung huyết mới có hiệu quả.

Kháng sinh nhóm moxifloxacine hydrochloride, tobramycine thường được sử dụng để bào chế làm thành phần của thuốc nhỏ mũi. Lý do chính là qua nghiên cứu người ta nhận thấy khả năng thấm qua máu thấp dưới 2%, đồng thời thuốc lại không bị hấp thu qua đường tiêu hoá nên khá an toàn khi sử dụng. Tuy nhiên khi dùng kéo dài thuốc nhỏ mũi chứa kháng sinh thì khả năng tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, bao gồm cả nấm có thể xảy ra. Nếu bội nhiễm xuất hiện phải ngưng thuốc và chuyển sang phương pháp điều trị thích hợp khác.

Thuốc co mạch – chống ngạt là loại thuốc hiện nay đang được sử dụng rộng rãi. Thuốc có tác dụng thu nhỏ tổ chức cương ở cuốn mũi dưới, chống xung huyết niêm mạc. Thuốc tác dụng nhanh trong vài phút và duy trì trong nhiều giờ sau đó. Thuốc nhỏ mũi có khả năng gây các phản ứng dị ứng tại chỗ như cảm giác ngứa mũi, sưng mũi, đỏ cánh mũi, đau nhức dọc theo sống mũi… tuy không xảy ra tới 3% các trường hợp dùng thuốc.

Một số bệnh nhân gặp phản ứng không dung nạp thuốc. Tại niêm mạc hốc mũi biểu hiện có cảm giác như kim châm, hiếm gặp phản ứng dị ứng toàn thân như phù da, niêm mạc vùng mặt, ngoại lệ có thể gây phù Quincke. Trong trường hợp này phải ngưng dùng thuốc ngay và trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị.

Thuốc nên sử dụng trong 7 – 10 ngày. Không nên điều trị kéo dài nếu không có chỉ định và theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

Các thuốc chống viêm có corticoid dạng nhỏ như polydexa, collydexa… dạng xịt phun sương. Thuốc corticoid tại chỗ tuy chỉ có khoảng 2 % hấp thu vào máu nhưng nếu không được điều trị đúng cách cũng sẽ gây một số biến chứng của corticoid nói chung như ức chế vỏ thượng thận tiết hormon làm tuyến vỏ thượng thận bị teo. Gây hội chứng biến dưỡng hậu quả từ việc tăng giữ muối, nước gây hiện tượng béo giả, ứ đọng mỡ ở một số bộ phận như mặt, gây tăng đường huyết – nguy cơ của đái tháo đường bên cạnh đó làm tăng huyết áp, giảm kali máu kết hợp rối loạn cân bằng muối – nước gây nhiều bất lợi cho người bị bệnh tim mạch, người glaucoma… Rối loạn quá trình tái tạo xương, biến dưỡng cơ dẫn đến loãng xương và teo cơ. Giảm sức đề kháng chung của cơ thể nên rất dễ bị nhiễm trùng, nhiễm nấm đặc biệt là ở hệ thống mũi xoang. Một số trường hợp xuất hiện rối loạn kinh nguyệt hoặc chảy máu mũi. Những thuốc này cũng bài tiết qua sữa nên cần cân nhắc trước khi dùng.

Phòng bệnh

Viêm mũi xoang là loại bệnh có thể phòng tránh được nếu bạn có chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh như ở những người có cơ địa dị ứng cần tự tìm hiểu xem mình có thể bị dị ứng với loại thức ăn nào để phòng tránh. Ví dụ, nếu bạn ăn tôm mà xuất hiện hắt hơi nhiều, ngứa mũi thì nên dừng ngay loại thức ăn đó. Đeo khẩu trang khi đi ở những nơi nhiều bụi bẩn… Nếu xuất hiện tình trạng ngạt mũi tăng cần phải sử dụng thuốc để điều trị ngay, tránh việc lỗ thông mũi xoang bị tắc. Trong trường hợp cần sử dụng thuốc phải được đi khám và điều trị tại cơ sở chuyên khoa để an toàn và hiệu quả.

Theo suckhoevadoisong/24h

Đa nang buồng trứng có thể gây vô sinh

da_nang_buong_trung

Buồng trứng bình thường (trên) – Buồng trứng đa nang (dưới).

Không phải ai bị buồng trứng đa nang cũng bị vô sinh nhưng hầu như nếu không phát hiện sớm thì buồng trứng đa nang là một trong những nguyên nhân gây nên sự hiếm muộn về đường con cái. Khi testosteron sinh ra trong buồng trứng quá nhiều, trứng phát dục chậm hoặc dừng phát triển khi ở giai đoạn chưa chín. Người bị mắc bệnh buồng trứng đa nang có thể kinh nguyệt ít, ít dần, không đúng chu kỳ, không thấy hiện tượng trứng rụng hằng tháng, kết hôn sau 3 năm vẫn chưa có con. Buồng trứng đa nang có một lớp vỏ dày, chắc và không có sẹo phóng noãn. Nếu không được điều trị, các nang trứng không to lên được, không vỡ được, nằm dưới lớp vỏ dày của buồng trứng. Khi siêu âm, đặc biệt là siêu âm bằng đầu dò qua đường âm đạo, sẽ thấy nhiều nang trứng kích thước dưới 10mm, phân bố như chuỗi hạt đeo cổ nằm ngay lớp vỏ buồng trứng. Phẫu thuật ổ bụng có thể phát hiện thấy vỏ màng bao quanh buồng trứng dày lên, mặt cắt cho thấy có nhiều bọc rỗng với kích thước khác nhau. Để điều trị bệnh đa nang buồng trứng có rất nhiều phương pháp nhưng trước hết là phải gây phóng noãn. Đối với phụ nữ chưa lập gia đình, chưa quan hệ tình dục, chưa muốn sinh con thì được dùng thuốc kích thích phóng noãn. Tùy thuộc vào độ dày của vỏ buồng trứng và sự đáp ứng thuốc của từng cơ thể, trứng sẽ phát triển to lên và tự vỡ. Đối với phụ nữ hiếm muộn, trước hết cho dùng thuốc kích thích phóng noãn, tiếp theo là can thiệp ngoại khoa bằng việc cắt bỏ một phần hoặc chọc thủng vài vị trí bề mặt buồng trứng bằng nội soi. Ngoài việc chọc vài điểm trên bề mặt buồng trứng để phá vỡ bức tường dày, bác sĩ thường chọc bớt một vài nang noãn phát triển dở dang trước kia để làm thay đổi nội tiết, làm tăng tác dụng của thuốc kích thích phóng noãn. Động tác này cũng giúp các nang noãn có cơ hội phát triển và lách vào những khoảng trống vừa tạo để to lên và vỡ ra ngoài. Bị mắc bệnh buồng trứng đa nang mà có thai thì cũng phải cẩn thận vì rất dễ bị sảy thai. Vì vậy, nếu có thai, hãy thông báo với bác sĩ về bệnh tật của mình để được hướng dẫn cách giữ gìn và bảo vệ thai nhi.

Theo suckhoevabuongtrung