Tag Archives: thuốc lá

Hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư tủy xương

Theo một cuộc nghiên cứu mới đây, những người hút thuốc lá có nguy cơ cao mắc phải các bệnh ung thư của hệ thống miễn dịch và ung thư tủy xương.

Các nhà khoa học làm việc tại phân viện nghiên cứu ung thư của viện dịch tễ học Anh quốc ở đại học Oxford dựa trên dữ liệu thu thập từ 1,3 triệu phụ nữ trung niên tham gia khảo sát đã đi đến kết luận trên.

Theo kết quả từ cuộc nghiên cứu có tổng số 9.000 phụ nữ mắc phải bệnh tăng bạch cầu trong máu, bệnh ung thư hệ thống miễn dịch hay ung thư tủy xương trong một cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian mười năm.

hut-thuoc-co-nguy-co-mac-ung-thu-tuy-xuong

Trung bình có 8 người trong số 1000 người hút thuốc lá đã mắc phải một trong các căn bệnh ung thư kể trên so với 6 người mắc bệnh trong số 1000 người không hút thuốc.

Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng những phụ nữ hút khoảng 20 điếu thuốc mỗi ngày có nguy cơ cao gấp đôi mắc phải bệnh u lymphoma dạng Hodgkin’s và một số chứng bệnh ung thư tủy xương khác.

GS. Valerie Beral, người mà các phát hiện y học được đăng tải trên tạp chí chuyên đề ung thư Anh quốc phát biểu: “Những kết quả từ cuộc nghiên cứu này một lần nữa khẳng định rằng hút thuốc là một nguyên nhân quan trọng của bệnh ung thư. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc phải nhiều loại ung thư, không chỉ là bệnh ung thư phổi. Ngoài ra hút thuốc còn làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và đột quị. Đây chính là vấn đề mà nhiều người còn chưa nhận thức được đầy đủ”.

Sara Hiom, Giám đốc phụ trách thông tin truyền thông của Viện Nghiên cứu ung thư Anh quốc cho rằng bỏ thuốc lá không bao giờ là việc làm quá trễ và khuyến cáo mọi người nên tìm lời khuyên từ bác sĩ của mình cũng như từ các tổ chức y tế ở địa phương nơi họ cư trú.

Nguồn news

Bệnh lý về hô hấp đối đến từ thuốc lá

Thuốc lá là nguyên nhân không những gây ung thư phổi mà nó còn gây ra nhiều bệnh phổi khác nữa như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen…

Ảnh hưởng của thuốc đến chức năng phổi

Khi chúng ta hít vào, không khí sẽ vào đường hô hấp trên qua mũi và miệng, nơi không khí được lọc, sưởi ấm và làm ấm. Không khí hít vào sẽ đi qua khí quản để vào phổi.

Trong mỗi phổi đều có một hệ thống phế quản, phế quản gốc như là nhánh chính của cây  với các cành cây nhỏ là những phế quản, sau 17 – 20 lần phân chia thành các tiểu phế quản tận, từ các tiểu phế quản đó sẽ dẫn đến các túi nhỏ chứa khí gọi là phế nang, nó giống như chùm nho. Ở phế nang quá trình trao đổi khí sẽ xảy ra. Máu sẽ đổi CO2 lấy O2 đến các tổ chức của cơ thể.

thuoc-la-co-hai-cho-phoi

Hệ thống hô hấp có một số hàng rào bảo vệ để chống lại các bệnh. Quá trình lọc ở đường hô hấp trên giúp ngăn chặn vi khuẩn, virút và các chất gây kích thích từ ngoài vào trong phổi. Khí quản và tổ chức phổi sản xuất ra chất nhầy giúp cho việc lấy và mang các chất bẩn ra ngoài. Hỗn hợp chất nhầy và chất tạp nhiễm sẽ được đưa ra ngoài nhờ các lông nhỏ li ti gọi là lông chuyển, những lông này lay động rất nhanh về phía trên, trong một số vùng tốc độ của lông chuyển rất cao tới 1.000 lần trong một phút.

Khi khói thuốc đi vào qua miệng, người hút thuốc đã vô tình bỏ qua cơ chế bảo vệ thứ nhất đó là quá trình lọc ở mũi. Những người hút thuốc thường bài tiết nhiều đờm hơn những người không hút thuốc mà khả năng đưa đờm ra khỏi đường hô hấp lại kém hơn. Điều này là do hệ thống lông chuyển ở người hút thuốc bị liệt thậm chí bị phá hủy. Khói thuốc cũng làm thay đổi cấu trúc các tuyến tiết nhầy và do vậy thành phần của chất nhầy cũng bị thay đổi. Đôi khi các tuyến tiết nhầy bị tắc lại làm giảm khả năng bài tiết đờm. Hậu quả là chất nhầy ở những người hút thuốc bị nhiễm bởi các chất độc hại và bị giữ lại nhiều trong tổ chức phổi, cản trở sự lưu thông trao đổi khí.

Phổi của những người hút thuốc bị giảm diện tích bề mặt và giảm mao mạch, điều này có nghĩa là dòng máu lưu thông qua phổi bị giảm. Dẫn đến làm giảm cung cấp chất dinh dưỡng và oxy cần thiết cho cả nhu môi phổi và các tổ chức khác trong cơ thể để duy trì sự khỏe mạnh và chức năng bình thường của chúng.

Hút thuốc cũng gây ra hiện tượng gọi là tăng tính đáp ứng đường thở, do ảnh hưởng của các chất độc hại trong khói thuốc, đường thở bị co thắt. Khi điều này xảy ra thì luồng khí hít vào và thở ra đều bị cản trở ở người hút thuốc và do đó hình thành các tiếng ran rót, ran ngáy và có thể bị khó thở.

Ở những người hút thuốc có nhiều thông số chức năng thông khí thay đổi, trong đó thể tích khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) giảm rất nhiều.

Khói thuốc làm giảm sự phát triển của phổi và gây viêm tổ chức phổi ở trẻ nhỏ và thiếu niên biểu hiện bằng tốc độ tăng FEV1 chậm lại. Ở lứa tuổi từ 20 – 30 khi hút thuốc thì tổn thương phổi lại khác. Khi ở giai đoạn này của cuộc sống thì phổi tăng trưởng chiều cao nguyên. Ở người hút thuốc giai đoạn phát triển này ngắn lại và làm các bệnh lý gây ra do hút thuốc  sớm xuất hiện. Ở lứa tuổi trên 30 nếu hút thuốc tốc độ giảm FEV1 sẽ tăng gấp đôi (khoảng 40ml/năm) so với người không hút thuốc (khoảng 20ml/năm). Những người hút thuốc ở tuổi càng trẻ thì thời gian hút để gây ra bệnh liên quan đến đường hô hấp càng ngắn so với những người bắt đầu hút ở tuổi muộn hơn.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là thuật ngữ để chỉ những tổn thương ở phổi có liên quan đến sự tăc nghẽn đường thở. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đặc trưng bởi sự rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn, được khẳng định chẩn đoán dựa vào đo hô hấp ký đồ với nghiệm pháp giãn phế quản không hồi phục hoàn toàn.

Theo WHO, trên thế giới năm 2001 có khoảng 600 triệu người mắc BPTNMT. Bệnh tiến triển kéo dài trong nhiều năm và cuối cùng dẫn đến tâm phế mạn và tử vong. BPTNMT là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 4 trên toàn thế giới. Mối liên quan giữa BPTNMT và hút thuốc cũng mạnh như với ung thư phổi.

Thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra BPTNMT, có khoảng 15% những người hút thuốc lá sẽ có triệu chứng lâm sàng BPTNMT và 80 – 90% người mắc BPTNMT là nghiện thuốc lá. Hút thuốc lá làm cho các yếu tố nguy cơ khác của bệnh này trở nên mạnh hơn. Đặc biệt, những người hút thuốc là bị ảnh hưởng xấu hơn bởi ô nhiễm môi trường, nhiễm trùng và phơi nhiễm với các chất khói độc so với người không hút thuốc. Người hút thuốc có tỉ lệ tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao gấp 10 lần so với người không hút thuốc.

Bệnh hen

Hen được đặc trưng bởi tính phản ứng quá mức của đường dẫn khí. Sự phản ứng quá mức này dẫn đến các cơn hen, bệnh nhân thở khò khè, ho và hoặc khó thở.

Hút thuốc không phải là nguyên nhân gây ra cơn hen nhưng nó làm cho tình trạng bệnh hen nặng lên. Những người bị hen hút thuốc sẽ có tăng tiết đờm, giảm cử động của lông chuyển phế quản, tăng nhạy cảm với nhiễm trùng, tăng giải phóng các chất dị ứng tác dụng nhanh và phá hủy các đường dẫn khí nhỏ. Tỉ lệ tử vong ở người bị hen đang hoặc đã từng hút thuốc tăng gấp  trên 2 lần so với những người không hút thuốc.

Nhiễm trùng đường hô hấp

Những người hút thuốc hay bị nhiễm trùng đường hô hấp hơn những người không hút thuốc và thường bị nặng hơn. Trẻ em có bố mẹ hút thuốc lá bị bệnh đường hô hấp nhiều hơn trẻ em có bố mẹ không hút thuốc.

Những người hút thuốc không chỉ hay bị viêm phổi hơn mà còn bị tử vong nhiều hơn.

Những phụ nữ có thai bị viêm phổi mà hút hơn 10 điếu thuốc ngày có tiên lượng xấu hơn những người không hút (chết mẹ, con…).

Những người hút thuốc cũng hay bị cúm. Vắc-xin phòng cúm ít hiệu quả đối với người hút thuốc, và tỉ lệ tử vong do cúm ở những người hút thuốc cao hơn nhiều so với nhóm người không hút thuốc.

BS. HỒ VĂN CƯNG

Theo SKDS

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ di chuyền bệnh viêm khớp

Những người có xu hướng mắc bệnh viên khớp di mặt truyền đồng thời vừa hút thuốc thì sẽ ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm hơn trong tương lai. Các nhà nghiên cứu cảnh báo.

Mọi người đều biết rằng những người hút thuốc thường có nguy cơ mắc bệnh viên khớp cao và bệnh viên khớp có thể di truyền sang người trong gia đình.

hut-thuoc-la-lam-tang-nguy-co-di-chuyen-benh-viem-khop

Một nhóm người Thuỵ Điển từ viện Karolinska đã cho thấy rằng kết hợp với hai yếu tố rủi ro trên sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh của con người lên đến 15 lần.

Các chuyên gia đã kết luận rằng đối với bệnh viêm khớp và thấp khớp, điều quan trọng là phải từ bỏ thuốc lá, như vậy mới hy vọng bảo vệ được sức khoẻ.

NHƯ BÌNH(Theo BBC)

Thuốc lá nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong sớm

Thuốc lá là nguy cơ lớn đối với sức khỏe con người và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong sớm trên toàn thế giới. Các nghiên cứu cho thấy hơn 90% các ca ung thư phổi, 75% các ca bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là do thuốc lá gây ra.

Tuy nhiên, việc bỏ thuốc lá đối với nhiều người là không dễ vì thuốc lá là một chất gây nghiện. Thêm vào đó, ngành công nghiệp thuốc lá hiện nay có nhiều hình thức quảng cáo tinh vi đánh lừa người hút.

Tất cả các dạng thuốc đều có hại

Ths BS Lê Khắc Bảo, Giảng viên Trường đại học Y dược TP.HCM, cho biết, hiện tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới trưởng thành ở Việt Nam còn rất cao, chiếm 47,4% và nữ giới là 1,4%. Đáng lưu ý là doanh số thuốc lá bán ra trên thị trường liên tục tăng hàng năm và ngành công nghiệp thuốc lá hiện nay có nhiều hình thức quảng cáo tinh vi đánh lừa người hút.

thuoc-la-nguyen-nhan-hang-dau-dan-den-tu-vong-som

Theo bác sĩ Bảo, ngành công nghiệp thuốc lá đưa ra nhiều loại thuốc như: thuốc lá nhẹ, thuốc lá dành cho phụ nữ, thuốc lá điện tử hay thuốc lào Ả Rập (Shisha),…nhưng thực tế tất cả các dạng thuốc lá đều có hại.

Đơn cử như loại “thuốc lá nhẹ” được ngành công nghiệp thuốc cho là “khối lượng nicotin và hắc ín ít hơn”; tuy nhiên, người tiêu dùng không hề biết khi khối lượng nicotin và hắc ín ít hơn thì người hút sẽ thay đổi cách hút thuốc lá sao cho họ hút sâu hơn, ép hơi nhiều hơn và hậu quả là lượng chất độc đi vào cơ thể không những không giảm mà còn tăng lên nhiều hơn.

Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, chỉ cần thời gian mỗi lần hít từ 2 – 2,4 giây thì thể tích khói hít vào từ 35ml – 47ml, và khoảng cách thời gian giữa 2 lần hít vào từ 60 giây giảm xuống còn 44 giây đã làm lượng chất độc (hắc ín, nicotin, CO) đi vào cơ thể tăng 12 – 30 lần.

Ths BS Lê Khắc Bảo chia sẻ, thuốc lá điện tử được quảng bá là “chứa nicotin thuần khiết” và cho rằng “đây là phương pháp cai nghiện thuốc lá” nhưng thực tế thì người hút có thể cai thuốc lá bình thường nhưng sẽ trở nên nghiện với thuốc lá điện tử.

Hiện nay, nhiều người lại tìm đến loại thuốc lá Ả Rập (Shisha) vì cho rằng đây là loại rễ cây trộn với mật ong và những chất tạo mùi như hương dâu, táo,…Tuy nhiên, dù rễ cây không có nicotin nhưng người hút vẫn có cảm giác nghiện, say thuốc. Do đó, thực tế shisha có khả năng cung cấp hoạt chất gây nghiện khác.

Cai nghiện thuốc lá bằng dược phẩm

Thuốc lá có hại cho sức khỏe là một sự thật hiển nhiên được mọi người kể cả người đang hút thuốc lá công nhận. Theo các chuyên gia, 70% người hút thuốc lá muốn cai thuốc lá, 2/3 người tái nghiện thuốc lá muốn cai thuốc lá trở lại trong vòng một tháng.

Tuy nhiên, hút thuốc lá không chỉ là một thói quen mà còn gây nghiện; do đó việc điều trị cai nghiện thuốc lá không đơn thuần là việc thực hiện bằng mệnh lệnh hành chính, cấm đoán mà đòi hỏi phải có sự chuẩn xác về mức độ nặng của nghiện, các kiểu nghiện khác nhau mà có biện pháp điều trị cai nghiện thích hợp.
Việc bỏ thuốc lá đối với nhiều người là không dễ dàng

Hiện tại có 4 phương pháp điều trị cai nghiện thuốc lá có đầy đủ chứng cứ khoa học về hiệu quả là: Tư vấn, nicotin thay thế, bupropion và varenicline.

Cơ chế tác dụng chung của 4 biện pháp điều trị là giảm nhẹ và đi đến loại bỏ các củng cố dương tính và âm tính cho hành vi hút thuốc lá; hình thành và tăng cường các củng cố dương tính và âm tính cho hành vi cai thuốc lá.

Theo bác sĩ Bảo, thông qua tư vấn, các bác sĩ sẽ giải thích cho bệnh nhân về tác hại của thuốc lá. Tái nghiện hút thuốc là hiện tượng phổ biến, do đó điều trị củng cố cần kéo dài. Liệu pháp tư vấn được áp dụng rộng rãi cho cai thuốc lá.

Ngoài liệu pháp tâm lý, có thể được áp dụng biện pháp cai thuốc bằng dược phẩm. Các loại thuốc được áp dụng điều trị nicotin thay thế (đó là loại thuốc chứa nicotin với hàm lượng thấp, được bào chế dưới dạng băng dán, viên ngậm, kẹo cao su hay thuốc hít) hoặc thuốc bupropion và varenicline. Các thuốc này sẽ giúp bệnh nhân làm giảm cảm giác khó chịu do cai thuốc lá gây ra. Dần dần sẽ giúp người cai thuốc quên đi thuốc lá.

Tuy nhiên, nếu muốn có sự hỗ trợ từ tân dược thì tốt nhất nên tham khảo ý kiến bác sĩ, không được tự tiện dùng bất cứ loại tân dược nào. Bởi hiện nay có một số loại thuốc có tác dụng phụ làm thay đổi hành vi, gây kích động, stress và đỉnh điểm là muốn tự tử.

Nguồn báo đất việt

Đề phòng trào ngược dạ dày thực quản

Đó là kết luận của nhóm nghiên cứu đa trung tâm tại Seoul, Hàn Quốc vừa được công bố trên tạp chí y khoa ”BMC Pulmonary Medicine”.

Kết quả phân tích dữ liệu từ 141.057 bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính cho thấy tỉ lệ mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản ở các bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính khá cao (lên đến 28%). Nhóm nghiên cứu nhận thấy hầu như các thuốc sử dụng để điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Đặc biệt, khi so sánh với nhóm bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính mà không kèm theo bệnh trào ngược dạ dày thực quản, nhóm có kèm theo bệnh trào ngược dạ dày thực quản luốn luôn có tỉ lệ phải nằm viện để điều trị cao hơn 1,54 lần và tỉ lệ phải vào viện cấp cứu vì các cơn khó thở cấp cũng cao hơn 1,55 lần.
trao-nguoc-da-day

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính hay còn gọi là viêm phế quản mãn và khí phế thủng là bệnh lý mà khí quản, phế quản (đường dẫn khí vào phổi chúng ta) bị viêm mãn tính nên hẹp lại và tiết nhiều chất nhày nhớt, đồng thời 2 lá phổi của chúng ta cũng xơ cứng căng to không còn giãn nỡ đàn hồi tốt theo nhịp thở. Nguyên nhân đứng hàng đầu là do hút thuốc lá và không khí ô nhiễm. Bệnh thường có biểu hiện khó thở, ho kéo dài, ho đàm nhớt, có khi có những cơn khó thở khò khè dữ dội phải nhập viện. Việc điều trị chỉ làm giảm triệu chứng chứ không hồi phục hoàn toàn , nên tốt nhất là cai thuốc lá.

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là bệnh gây ra do sự trào ngược quá nhiều chất acid của dịch vị lên thực quản làm hư hại và lở loét thực quản. Bệnh thường gặp ở người béo phì, uống rượu, hút thuốc lá, nam giới. Bệnh có triệu chứng nóng rát vùng trước ngực, ợ chua, ợ trớ thức ăn hoặc dịch vị lên miệng. Bệnh rất dễ tái phát và cần được điều trị duy trì lâu dài phối hợp với chế độ ăn uống thích hợp.

BS Trần Ngọc Lưu Phương

Phó khoa Nội tiêu hóa – BV Nguyễn Tri Phương

Cách chữa bệnh mề đay

Khi bị mày đay, nên đi khám vì để lâu, mày đay sẽ thành mạn tính và khó chữa. Để điều trị các cơn mày đay sơ phát hoặc tái phát, có thể dùng các loại thuốc kháng histamin kèm theo thuốc an thần, hiện có rất nhiều biệt dược như: Phenergan, Peritol, Zyrtec, Claristin…

Khi cần, phải dùng cả đến thuốc cocticoit (Prednisolon, Cortancyl), kết hợp kháng sinh. Có trường hợp phải kết hợp tẩy giun sán, giải quyết các ổ nhiễm khuẩn ở tai mũi họng, đại tràng nếu có. Trường hợp phù Quinck nặng hoặc mày đay kiểu sốc phản vệ phải được cấp cứu kịp thời ở bệnh viện. Bệnh nhân không nên tự động dùng thuốc.

Tốt nhất là loại bỏ yếu tố gây bệnh nếu biết. Tránh một số thức ăn, một số thuốc có thể gây dị ứng; Tránh các chất kích thích như gia vị, rượu, trà, cà phê…

Trong cơn cấp
me-day

– Ăn nhẹ, giảm muối.

– Trường hợp gây ngứa, khó chịu nhiều, có thể dùng giấm thanh pha trong nước ấm (một phần giấm hai phần nước) để thoa hay tắm.

– Tránh dùng thuốc mỡ kháng histamin (phenergan) thoa vì dễ gây viêm da dị ứng. Mỡ corticoides ít hiệu quả, có thể gây một số tác dụng phụ (nhất là khi thoa trên diện tích quá lớn).

Hiện nay có một số thuốc chống dị ứng (thuốc kháng histamin) thế hệ mới không gây buồn ngủ, có thể sử dụng như:

Tên thuốc Liều dùng/ ngày

Loratadine (Clarityne) 10mg x 1 viên.

Cetirizine (zyrtec) 10mg x 1 viên.

Acrivastine (Semprex) 8mg x 3 viên.

Astemizole (Hismanal) 10mg x 1 viên.

Thuốc corticoides (uống hay tiêm) chỉ nên dùng trong điều trị mày đay cấp, nặng, kèm phù thanh quản; Một số trường hợp nổi mày đay do viêm mạch, mày đay do chèn ép không đáp ứng với các thuốc kháng histamin thông thường; Không nên dùng để điều trị mày đay mạn tính tự phát.

Đối với mày đay mãn tính: vì thường có liên quan tới các bệnh lý bên trong nên bệnh nhân cần đến bác sĩ chuyên khoa khám, làm thêm các xét nghiệm cần thiết để tìm đúng nguyên nhân và có cách điều trị thích hợp

Hằng ngày, nên hạn chế rượu, thuốc lá, cà phê, muối vì chúng làm tăng độ nhạy cảm của thần kinh trung ương và ngoại vi, tăng ngứa. Tư tưởng phải thoải mái, an tịnh, tránh quá lo lắng bi quan vì bệnh. Cố gắng chống gãi để không gây thêm tổn thương trên da. Người bị mày đay do lạnh, nên hết sức thận trọng khi đi tắm sông, tắm biển, đề phòng bị chuột rút rất nguy hiểm.

Nguồn sức khỏe

Viêm niêm mạc dạ dày

I. Định nghĩa viêm niêm mạc dạ dày

Theo các chuyên gia y học, viêm dạ dày là hậu quả của sự kích thích niêm mạc bởi các yếu tố ngoại sinh hoặc nội sinh như: nhiễm độc hóa chất, nhiễm khuẩn (vi khuẩn HP), các rối loạn miễn dịch…

Viêm niêm mạc dạ dày được chia thành 2 nhóm là viêm dạ dày cấp tính và viêm dạ dày mạn tính. Mỗi nhóm có những đặc điểm riêng. Trong thực tế khám và chữa bệnh hằng ngày, các thầy thuốc gặp chủ yếu là viêm dạ dày mạn tính.

II. Viêm dạ dày cấp tính

viem-niem-mac-da-day-300x214

1. Định nghĩa

Viêm dạ dày cấp tính chính là tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày, thường có tính chất tạm thời, có thể kèm xuất huyết niêm mạc và nặng hơn có thể kèm viêm loét niêm mạc dạ dày.

2. Nguyên nhân

Các yếu tố làm tăng tiết acid dịch vị dạ dày đồng thời làm giảm sản xuất các yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày ( dịch nhày bao phủ, pepsin…), giảm lượng máu lưu thông đến dạ dày, do đó làm cho chất acid ứ đọng trong lòng dạ dày dẫn đến tổn thương niêm mạc dạ dày:

– Thuốc: Aspirin, thuốc kháng viêm không có steroid, corticoid…

– Thức ăn: thức ăn cay nóng, gây dị ứng…

– Hóa chất: Rượu, thuốc lá, ngộ độc thuốc trừ sâu, acid…

– Vi khuẩn, vi rus: trong thức ăn hoặc thường gặp nhất là HP (Helicobacter pylori)

– Stress, tia xạ…

3. Triệu chứng

Bệnh nhân bị viêm dạ dày cấp tính có thể không có triệu chứng gì nếu bệnh nhẹ. Trong trường hợp bệnh nặng hơn, bệnh nhân có thể đau bụng, nhiều nhất là vùng thượng vị, đầy chướng bụng, khó tiêu ăn mất ngon, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn. Nặng hơn nữa (viêm có loét chảy máu) có thể nôn ra máu và đi cầu ra phân đen.

Tùy theo tình trạng bệnh, bệnh nhân có thể được cho làm một số xét nghiệm: công thức máu, xét nghiệm phân… Quan trọng và có ý nghĩa nhất là Nội soi dạ dày và sinh thiết niêm mạc dạ dày vùng nghi ngờ có tổn thương

4. Nguyên tắc điều trị

* Không dùng thuốc

– Hạn chế thức ăn kích thích dạ dày: rượu, thuốc lá, cafe, chè, đồ uống có ga, đồ ăn cay nóng…

– Chia làm nhiều bữa trong ngày, ăn nhẹ, thức ăn lỏng mềm, đủ dinh dưỡng

– Thể dục thể thao điều độ, ăn ngủ nghỉ đúng giờ giấc, tránh căng thẳng stress, không thức quá khuya…

– Hạn chế dùng thuốc đã kể trên

* Dùng thuốc

– Giảm tiết acid dịch vị dạ dày,

– Bao bọc bảo vệ niêm mạc dạ dày

– Diệt vi khuẩn

– Giảm đau, chống co thắt

5. Tiến triển, biến chứng

Nếu chế độ điều trị tốt, hầu hết bệnh nhân viêm dạ dày cấp cải thiện rất nhanh.

Nếu điều trị không tốt, bệnh nhân có thể bị mất máu nhiều do chảy máu rỉ rả, hay bệnh có thể diễn tiến sang viêm dạ dày mạn tính.

III. Viêm dạ dày mạn tính

1. Định nghĩa

Viêm dạ dày mạn tính là tình trạng tổn thương có tính chất kéo dài và tiến triển chậm không đặc hiệu, có thể lan toả hoặc khu trú tại một vùng của dạ dày (hang vị, môn vị, tâm vị, hoặc viêm toàn bộ niêm mạc dạ dày).

Lúc đầu là viêm phì đại, về sau là viêm teo, thường là thoái hóa teo đét các tế bào tuyến.

2. Nguyên nhân

– Sự kích thích lâu ngày của các thuốc kháng viêm không phải steroid, corticoid…

– Tình trạng nhiễm vi khuẩn H. pylori,

– Thiếu máu ác tính (còn gọi là thiếu máu tế bào khổng lồ hay thiếu hấp thu vitamin B12, một loại bệnh tự miễn),

– Thoái hóa của lớp niêm mạc dạ dày theo tuổi,

– Trào ngược dịch mật mạn tính.

– Thói quen ăn uống: Nuốt nhiều, nhanh, nhai không kỹ, bữa ăn không đúng giờ giấc, Ăn nhiều thức ăn có nhiễm chất các hoá học dùng trong nông nghiệp và kỹ nghệ thực phẩm, Ăn nhiều gia vị ( chua, cay ), uống cà phê đặc, uống rượu, hút thuốc lá lâu ngày sẽ tác động có hại cho niên mạc dạ dày và gây bệnh.

– Các yếu tố hóa – lý ( phóng xạ, quang tuyến ), một số thuốc nhuận tràng dùng kéo dài, các thuốc bột kiềm gây trung hoà dịch vị quá mức sẽ dẫn tới phản ứng đột biến tăng tiết a xít HCL làm tổn thýõng niêm mạc dạ dày.

– Suy dinh dưỡng: thiếu Fe, thiếu B12, thiếu a xít folic, vitamin C, vitamin PP, thiếu protein.

– Rối loạn nội tiết : trong suy yếu tuyến yên, bệnh Hashimoto, thiểu năng cận giáp, bệnhAddison, tiểu đường …

– Dị ứng: Một số bệnh ngoài da ( mày đay, eczema, licben…) hoặc do ăn uống

– Yếu tố miễn dịch: mới đây phát hiện thấy có các kháng thể kháng tế bào thành, kháng yếu tố nội sinh (chỉ thấy trong bệnh Biermer ), song cõ chế bệnh lý chưa rõ.

– Các rối loạn tâm lý rối loạn thần kinh thực vật, có thể gây nên viêm dạ dày và rối loạn tiêu hoá.

– Yếu tố di truyền: thấy rõ hơn cả trong bệnh Biermer (Hấp thu B12 kém )

3. Triệu chứng

– Cảm giác nặng bụng, chướng bụng, ợ hơi, nhức đầu, mặt đỏ cảm giác đắng miệng vào buổi sáng, buồn nôn, nôn, chán ăn, táo lỏng thất thường.

– Nóng rát vùng thượng vị : xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, đặc biệt rõ sau ăn uống một số thứ như : bia, rýợu, vang trắng, gia vị cay, chua hoặc ngọt. Sau ăn mỡ xuất hiện nóng rát có thể là do trào ngược dịch mật vào dạ dày. Có một số trường hợp nóng rát xuất hiện muộn sau bữa ăn.

– Đau vùng thượng vị : Không đau dữ dội, thường chỉ là cảm giác khó chịu, âm ỉ thường xuyên tăng lên sau ăn.

– Toàn trạng bệnh nhân có thể gầy đi một chút ít, da khô tróc vẩy, có vết ấn của răng trên rìa lưỡi, lở loét, chảy máu lợi, Lưỡi rêu trắng.

4. Nguyên tắc điều trị

– Điều trị các nguyên nhân nếu có,

– Bảo vệ niêm mạc dạ dày, kích thích bài tiết nhầy

– Duy trì tái sinh niêm mạc, Cải thiện tuần hoàn niêm mạc

– Điều trị chống vi khuẩn H. pylori.

– Chống co thắt,

– Chống stress

– Ăn chậm, nhai kỹ, ăn những loại thức ăn dễ tiêu, nấu chín kỹ, khoảng cách giữa các bữa ăn hợp lý, tránh loại thức ăn nhiều chất xơ, quá nóng, qua lạnh, cứng rắn. Kiêng các chất cay, chua, mỡ rán, rượu, cà phê, thuốc lá.

5. Tiến triển biến chứng

Viêm dạ dày mạn tiến triển từ từ, hình thái niêm mạc thay đổi dần dần từ viêm phì đại đến viêm teo (thể teo đơn thuần, thể teo có loạn sản) có thể gây ra một số biến chứng như: Ung thư dạ dày, Xuất huyết tiêu hoá, Viêm quanh dạ dày, tá tràng, Viêm túi mật mạn, viêm tụy mạn

Tác hại của thuốc lá lên xương

Năm 1976, lần đầu tiên người ta bắt đầu đề cập tới mối liên quan giữa hút thuốc lá và loãng xương. Một nghiên cứu tổng hợp đầu tiên vào năm 1993 cho thấy hút thuốc lá làm tăng nguy cơ gãy đầu trên xương đùi. Mới đây TS. Law (Anh) đã thực sự chứng minh được rằng thuốc lá có tác dụng rõ rệt lên mật độ xương và nguy cơ gãy đầu trên xương đùi.

tac_hai_cua_thuoc_la_len_xuong

Hút thuốc lá làm giảm mật độ xương (MĐX)

Law đã tổng kết 29 nghiên cứu trên 2.156 người hút thuốc lá và 9.705 người không hút thuốc lá. Ở những phụ nữ chưa mãn kinh, người ta không tìm thấy bất kỳ sự liên hệ có ý nghĩa giữa thuốc lá và MĐX. Trên những phụ nữ đã mãn kinh thì ngược lại, MĐX giảm đi có ý nghĩa thống kê ở phụ nữ hút thuốc lá, và sự khác nhau đó tăng dần theo tuổi tác. Tuổi cứ tăng lên 10 năm thì MĐX của những người hút thuốc lá lại giảm đi 2% ở thời điểm mãn kinh và 6% ở độ tuổi 80 so với người không hút thuốc lá. MĐX giảm đều ở cả đầu trên xương đùi, xương quay và cả xương gót. Các nghiên cứu khác cũng chứng tỏ những người hút thuốc lá bị mất xương rõ rệt ở cổ xương đùi cũng như trên toàn bộ hệ thống xương. Sự suy giảm MĐX này là do thuốc lá chứ không liên quan gì đến các yếu tố khác như trọng lượng thấp hay giảm vận động ở những người hút thuốc lá.

Ngoài ra thời gian hút thuốc lá còn quan trọng hơn cường độ hút thuốc. Sự mất xương nhiều thường gặp ở những người hút thuốc lá cao tuổi. MĐX còn giảm rõ rệt ở những người đang hoặc đã từng hút thuốc lá trên quần thể 1.302 người Mỹ gốc Nhật có độ tuổi từ 51-82 và trong quần thể gồm 1.812 người dân Nhật Bản tuổi từ 51-82.

Thuốc lá làm tăng tỷ lệ gãy xương do loãng xương

Nguy cơ gãy đầu trên xương đùi không tăng ở phụ nữ hút thuốc lá có độ tuổi 50. Tuy nhiên bắt đầu từ tuổi 50 trở đi, nguy cơ gãy xương bắt đầu tăng lên gấp 1,17 lần ở độ tuổi 60; 1,41 ở độ tuổi 70; và lên tới 1,71 ở độ tuổi 90. Tỷ lệ gãy xương đùi tích lũy ở độ tuổi 85 là 19% ở người hút thuốc lá, trong khi tỷ lệ này chỉ là 12% ở những người không hút thuốc lá. Tới độ tuổi 90 thì tỷ lệ này tăng rất cao, lên tới 37% ở người hút thuốc lá so với 22% ở người không hút thuốc. Từ đó người ta tính ra rằng hút thuốc lá là thủ phạm của 13% các trường hợp gãy đầu trên xương đùi ở phụ nữ. Các nghiên cứu tiếp theo kéo dài trong 12 năm trên 116.229 phụ nữ hút thuốc lá chứng tỏ hút thuốc lá làm tăng nguy cơ gãy đầu trên xương đùi lên 1,3 lần. Nguy cơ gãy xương càng tăng, lên tới 1,6 lần nếu phụ nữ hút hơn 25 điếu thuốc lá mỗi ngày. Nguy cơ gãy xương tăng lên theo thời gian hút thuốc và số lượng thuốc lá sử dụng. Theo Seeman, hút thuốc lá còn làm tăng nguy cơ gãy xương cột sống lên 2,3 lần, thậm chí lên tới 2,8 lần theo nghiên cứu của Scane.

Hiệu quả của dừng hút thuốc lá lên nguy cơ loãng xương

Tác dụng có hại của thuốc lá tồn tại rất lâu sau khi dừng hút thuốc. Nghiên cứu của Forsen trên 35.767 người hút thuốc lá cho thấy nguy cơ gãy đầu trên xương đùi vẫn còn cao ở những người đã từng hút thuốc lá, thậm chí 5-10 năm sau khi cai thuốc. Nguy cơ gãy xương đùi chỉ giảm xuống khi dừng hút thuốc lá trên 10 năm. Tác dụng xấu của thuốc lá lên phụ nữ còn tồn tại lâu hơn ở nam giới. Sau 5 năm dừng hút thuốc lá, nguy cơ gãy xương bắt đầu giảm xuống ở nam giới nhưng lại không hề giảm ở nữ giới.

Cơ chế tác dụng của thuốc lá lên nguy cơ loãng xương

Thuốc lá có thể tác động trực tiếp lên xương. Dioxin, một thành phần của khói thuốc lá đã được chứng minh là làm giảm quá trình tạo xương. Thuốc lá còn có tác dụng chống lại hormon sinh dục nữ estrogen. Nó làm bất hoạt estradiol tại gan khi thúc đẩy việc chuyển hóa nó thành những dẫn xuất ít có hoạt tính hơn. Hút thuốc lá còn làm mãn kinh tới sớm hơn. Do vậy tác dụng bảo vệ xương của hormon estrogen khỏi nguy cơ gãy xương bị suy giảm ở những phụ nữ hút thuốc lá. Ngoài ra hút thuốc lá còn làm giảm cân, làm tăng nguy cơ gãy xương. Hút thuốc lá còn làm giảm hấp thu canxi và chuyển hóa vitamin D, làm giảm nồng độ vitamin D trong máu. Ngoài ra hút thuốc lá còn làm tăng nguy cơ té ngã, một yếu tố chủ chốt gây gãy xương.

Tóm lại, hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ gây loãng xương đã được khẳng định. Thuốc lá làm giảm MĐX, do vậy làm tăng nguy cơ gãy cột sống và đầu trên xương đùi. Tác dụng của thuốc lá trên xương kéo dài thậm chí nhiều năm sau khi cai thuốc. Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh rằng nguy cơ gãy xương giảm đi sau khi dừng hút thuốc lá.

Theo SKĐS

Thuốc lá và bệnh vảy nến

Mới đây một nghiên cứu phối hợp giữa Mỹ và Canada kéo dài trong vòng 5 năm về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người đã phát hiện ra rằng thuốc lá ngoài liên quan các bệnh lý hô hấp, tim mạch… còn có thể gây ra một bệnh lý ngoài da nghiêm trọng: bệnh vảy nến – một bệnh rất khó chữa.

thuoc_la_va_benh_vay_nen

Theo như kết quả của nghiên cứu thì những người hút thuốc lá nguy cơ mắc bệnh vảy nến cao hơn người không hút thuốc là 72%, những người có tiền sử hút thuốc cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn không hút thuốc 37%. Nguy cơ này chỉ giảm sau 20 năm ngừng hút thuốc. Số lượng thuốc lá hút càng nhiều tỷ lệ mắc vảy nên càng cao. Hút thuốc lá thụ động cũng không tránh khỏi nguy cơ nói trên.

Đàm Chính (Theo American Journal of The Medicine)
Theo SKĐS

Bệnh đường hô hấp do thuốc lá gây ra

Thuốc lá là nguyên nhân không những gây ung thư phổi mà nó còn gây ra nhiều bệnh phổi khác nữa như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen…

Ảnh hưởng của thuốc đến chức năng phổi

Khi chúng ta hít vào, không khí sẽ vào đường hô hấp trên qua mũi và miệng, nơi không khí được lọc, sưởi ấm và làm ấm. Không khí hít vào sẽ đi qua khí quản để vào phổi.

Trong mỗi phổi đều có một hệ thống phế quản, phế quản gốc như là nhánh chính của cây  với các cành cây nhỏ là những phế quản, sau 17 – 20 lần phân chia thành các tiểu phế quản tận, từ các tiểu phế quản đó sẽ dẫn đến các túi nhỏ chứa khí gọi là phế nang, nó giống như chùm nho. Ở phế nang quá trình trao đổi khí sẽ xảy ra. Máu sẽ đổi CO2 lấy O2 đến các tổ chức của cơ thể.

tac_hai_thuoc_la_Voi_ho_hap

Hệ thống hô hấp có một số hàng rào bảo vệ để chống lại các bệnh. Quá trình lọc ở đường hô hấp trên giúp ngăn chặn vi khuẩn, virút và các chất gây kích thích từ ngoài vào trong phổi. Khí quản và tổ chức phổi sản xuất ra chất nhầy giúp cho việc lấy và mang các chất bẩn ra ngoài. Hỗn hợp chất nhầy và chất tạp nhiễm sẽ được đưa ra ngoài nhờ các lông nhỏ li ti gọi là lông chuyển, những lông này lay động rất nhanh về phía trên, trong một số vùng tốc độ của lông chuyển rất cao tới 1.000 lần trong một phút.

Khi khói thuốc đi vào qua miệng, người hút thuốc đã vô tình bỏ qua cơ chế bảo vệ thứ nhất đó là quá trình lọc ở mũi. Những người hút thuốc thường bài tiết nhiều đờm hơn những người không hút thuốc mà khả năng đưa đờm ra khỏi đường hô hấp lại kém hơn. Điều này là do hệ thống lông chuyển ở người hút thuốc bị liệt thậm chí bị phá hủy. Khói thuốc cũng làm thay đổi cấu trúc các tuyến tiết nhầy và do vậy thành phần của chất nhầy cũng bị thay đổi. Đôi khi các tuyến tiết nhầy bị tắc lại làm giảm khả năng bài tiết đờm. Hậu quả là chất nhầy ở những người hút thuốc bị nhiễm bởi các chất độc hại và bị giữ lại nhiều trong tổ chức phổi, cản trở sự lưu thông trao đổi khí.

Phổi của những người hút thuốc bị giảm diện tích bề mặt và giảm mao mạch, điều này có nghĩa là dòng máu lưu thông qua phổi bị giảm. Dẫn đến làm giảm cung cấp chất dinh dưỡng và oxy cần thiết cho cả nhu môi phổi và các tổ chức khác trong cơ thể để duy trì sự khỏe mạnh và chức năng bình thường của chúng.

Hút thuốc cũng gây ra hiện tượng gọi là tăng tính đáp ứng đường thở, do ảnh hưởng của các chất độc hại trong khói thuốc, đường thở bị co thắt. Khi điều này xảy ra thì luồng khí hít vào và thở ra đều bị cản trở ở người hút thuốc và do đó hình thành các tiếng ran rót, ran ngáy và có thể bị khó thở.

Ở những người hút thuốc có nhiều thông số chức năng thông khí thay đổi, trong đó thể tích khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) giảm rất nhiều.

Khói thuốc làm giảm sự phát triển của phổi và gây viêm tổ chức phổi ở trẻ nhỏ và thiếu niên biểu hiện bằng tốc độ tăng FEV1 chậm lại. Ở lứa tuổi từ 20 – 30 khi hút thuốc thì tổn thương phổi lại khác. Khi ở giai đoạn này của cuộc sống thì phổi tăng trưởng chiều cao nguyên. Ở người hút thuốc giai đoạn phát triển này ngắn lại và làm các bệnh lý gây ra do hút thuốc  sớm xuất hiện. Ở lứa tuổi trên 30 nếu hút thuốc tốc độ giảm FEV1 sẽ tăng gấp đôi (khoảng 40ml/năm) so với người không hút thuốc (khoảng 20ml/năm). Những người hút thuốc ở tuổi càng trẻ thì thời gian hút để gây ra bệnh liên quan đến đường hô hấp càng ngắn so với những người bắt đầu hút ở tuổi muộn hơn.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là thuật ngữ để chỉ những tổn thương ở phổi có liên quan đến sự tăc nghẽn đường thở. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đặc trưng bởi sự rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn, được khẳng định chẩn đoán dựa vào đo hô hấp ký đồ với nghiệm pháp giãn phế quản không hồi phục hoàn toàn.

Theo WHO, trên thế giới năm 2001 có khoảng 600 triệu người mắc BPTNMT. Bệnh tiến triển kéo dài trong nhiều năm và cuối cùng dẫn đến tâm phế mạn và tử vong. BPTNMT là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 4 trên toàn thế giới. Mối liên quan giữa BPTNMT và hút thuốc cũng mạnh như với ung thư phổi.

Thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra BPTNMT, có khoảng 15% những người hút thuốc lá sẽ có triệu chứng lâm sàng BPTNMT và 80 – 90% người mắc BPTNMT là nghiện thuốc lá. Hút thuốc lá làm cho các yếu tố nguy cơ khác của bệnh này trở nên mạnh hơn. Đặc biệt, những người hút thuốc là bị ảnh hưởng xấu hơn bởi ô nhiễm môi trường, nhiễm trùng và phơi nhiễm với các chất khói độc so với người không hút thuốc. Người hút thuốc có tỉ lệ tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao gấp 10 lần so với người không hút thuốc.

Bệnh hen

Hen được đặc trưng bởi tính phản ứng quá mức của đường dẫn khí. Sự phản ứng quá mức này dẫn đến các cơn hen, bệnh nhân thở khò khè, ho và hoặc khó thở.

Hút thuốc không phải là nguyên nhân gây ra cơn hen nhưng nó làm cho tình trạng bệnh hen nặng lên. Những người bị hen hút thuốc sẽ có tăng tiết đờm, giảm cử động của lông chuyển phế quản, tăng nhạy cảm với nhiễm trùng, tăng giải phóng các chất dị ứng tác dụng nhanh và phá hủy các đường dẫn khí nhỏ. Tỉ lệ tử vong ở người bị hen đang hoặc đã từng hút thuốc tăng gấp  trên 2 lần so với những người không hút thuốc.

Nhiễm trùng đường hô hấp

Những người hút thuốc hay bị nhiễm trùng đường hô hấp hơn những người không hút thuốc và thường bị nặng hơn. Trẻ em có bố mẹ hút thuốc lá bị bệnh đường hô hấp nhiều hơn trẻ em có bố mẹ không hút thuốc.

Những người hút thuốc không chỉ hay bị viêm phổi hơn mà còn bị tử vong nhiều hơn.

Những phụ nữ có thai bị viêm phổi mà hút hơn 10 điếu thuốc ngày có tiên lượng xấu hơn những người không hút (chết mẹ, con…).

Những người hút thuốc cũng hay bị cúm. Vắc-xin phòng cúm ít hiệu quả đối với người hút thuốc, và tỉ lệ tử vong do cúm ở những người hút thuốc cao hơn nhiều so với nhóm người không hút thuốc.

Theo suckhoevadoisong

Mối quan hệ giữa tình trạng suy giảm thính lực ở trẻ em và khói thuốc

Một nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng : “Trẻ em tiếp xúc thụ động với khói thuốc càng nhiều thì tỉ lệ suy giảm thính lực mắc phải càng cao”

Khoảng 1.500 thanh thiếu niên được kiểm tra về thính giác trong nghiên cứu. Họ cũng được kiểm tra nồng độ cotinin, đây là một chất được sản xuất ra trong quá trình chuyển hóa nicotine, đó là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy có những tiếp xúc với khói thuốc lá.

moi_quan_he_giua_tinh_trang_suy_giam_thinh_luc_o_tre_em_va_khoi_thuoc

“Những gì chúng tôi tìm thấy là nồng độ cotinin cao hơn trong máu của họ do mức độ hít hói thuốc thụ động cao hơn – một điều thường gặp ở các trường hợp suy giảm thính lực”, theo Tiến sĩ Anil Lalwani của Đại học Y khoa trung tâm New York, người chỉ đạo nghiên cứu này

Khi tiến hành nghiên cứu, Lalwani muốn mở rộng những gì chúng ta đã biết về mối liên hệ giữa khói thuốc và tai. Ví dụ, trẻ em tiếp xúc với khói thuốc lá mắc phải nhiễm trùng tai nhiều hơn.

“Chúng ta cũng biết rằng người lớn hút thuốc suy giảm thính lực sớm hơn so với người lớn không hút thuốc”, cũng theo Tiến sĩ Lalwani. “Và điều này làm chúng tôi tự hỏi liệu việc tiếp sớm xúc với khói thuốc một cách thụ động ở trẻ em có phải là nguyên nhân ảnh hưởng đến hệ thống thính giác?”

Hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên trong  độ tuổi từ 12 đến 19 trong nghiên cứu có biểu hiện suy giảm thính giác có thể đo lường được lại không cảm nhận được vấn đề chúng đang gặp phải. Các em có thể bỏ lỡ những  điều diễn ra trong lớp và không nghe được trọn vẹn hướng dẫn của giáo viên. Lalwani cho biết suy giảm thính lực này có thể đủ để tạo thành thương tổn thực sự cho trẻ

Tại sao vấn đề thính giác bị tác động bởi hít thuốc lá thụ động vẫn còn một chút bí ẩn. Lalwani gợi ra 1 ý rằng có thể nguyên nhân chính do các tác động đã được biết của khói thuốc lá lên các mạch máu, làm ảnh hưởng đến tuần hoàn máu đến tai trong. Một khả năng khác là tác động trực tiếp của một thành phần độc hại của khói thuốc.

Đăng bởi: Khoa Vi Sinh
Theo benhviennhi.org.vn

Thuốc lá và các bệnh về đường hô hấp

Khói thuốc gây phá hủy phế nang, làm giảm tính đàn hồi của phổi và làm giảm khả năng trao đổi oxy. Phổi của những người hút thuốc bị giảm diện tích bề mặt và giảm mạng mao mạch. Điều này làm cho dòng máu lưu thông qua phổi bị giảm, dẫn đến làm giảm cung cấp chất dinh dưỡng và ôxy cần thiết cho cả nhu mô phổi và các tổ chức khác trong cơ thể để duy trì sự khoẻ mạnh và chức năng bình thường của chúng.

cac_benh_ve_duong_ho_hap_va_khoi_thuoc_la

Khói thuốc làm giảm sự phát triển của phổi và gây viêm tổ chức phổi ở trẻ

Do ảnh huởng của các chất độc hại trong khói thuốc, đường thở bị co thắt Những trẻ em sống trong môi trường có khói thuốc dễ bị viêm họng, viêm tắc mũi, khàn tiếng và dễ bị cúm hơn những đứa trẻ khác. Những trẻ có tiếp xúc với thuốc lá thường phải nạo VA và cắt Amidan nhiều hơn những trẻ khác

Nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Trẻ em hít phải khói thuốc lá có nguy cơ lớn bị những bệnh lý đường hô hấp dưới bao gồm: viêm phế quản và viêm phổi, suyễn, ung thư. Các chuyên gia ước tính rằng mỗi năm khoảng 150.000 -300.000 trẻ em dưới 18 tháng tuổi bị viêm phế quản hoặc viêm phổi có liên quan đến khói thuốc. Những trẻ dưới một tuổi là con của những người hút thuốc bị viêm phế quản hoặc viêm phổi cao gấp đôi so với con của những người không hút thuốc. Những đứa trẻ này thường bị bệnh nặng hơn và thường phải nằm viện lâu hơn 20% thời gian so với con của người không hút thuốc.

Tỷ lệ mắc và mức độ nặng của bệnh hen (suyễn)

Người cha hút thuốc và đặc biệt là người mẹ hút thuốc cũng làm tăng tỉ lệ mắc và mức độ nặng của hen. Những đứa trẻ trong gia đình có người hút thuốc đòi hỏi chăm sóc y tế nhiều hơn, nguy cơ lên cơn hen tăng gấp 2 lần. Số lần phải nhập viện để điều trị cơn hen cũng nhiều hơn so với những đứa trẻ mà các thành viên trong gia đình không hút thuốc. Trên toàn thế giới có khoảng từ 200.000 – 1 triệu trẻ em bị hen đang phải chịu những tác động xấu do cha mẹ chúng hút thuốc.

Đăng bởi: Khoa Hô hấp
Theo benhviennhi.org.vn