Tag Archives: thuốc giảm đau

Lợi và hại của thuốc giảm đau bằng hormon

Thông tin về công trình nghiên cứu sử dụng hormon để giảm đau của các nhà khoa học Mỹ đăng trên tạp chí Americain Academy of Pain Medicin tháng 3/2014 đã sử dụng hai loại thuốc chứa hormon là oxytocin và human chorionic gonadotropin thấy có tác dụng giảm đau tương đối tốt và chưa thấy tác dụng phụ.

Tuy nhiên, đây là một thí nghiệm nhỏ chỉ có 7 người nên chỉ có tác dụng định hướng cho những nghiên cứu rộng hơn. Mặt khác, thuốc có chứa hormon là loại thuốc phải được bác sĩ chỉ định mới được dùng, vì vậy không được tự ý mua dùng, tai họa sẽ khôn lường.

loi-va-hai-cua-thuoc-giam-dau-bang-hormon

Oxytocin là hormon thùy sau tuyến yên. Thuốc tiêm dùng để gây sẩy thai; gây chuyển dạ đẻ; thúc đẻ khi tử cung bị đờ; phòng và điều trị chảy máu sau đẻ và ho ra máu do lao phổi; chỉ có bác sĩ chuyên khoa trong bệnh viện có sẵn phương tiện phẫu thuật mới được dùng oxytocin.

Human chorionic gonadotropin, biệt dược IVF- C 5000UI hormon hướng sinh dục ở nhau thai người (được chiết xuất và tinh chế từ nước tiểu của người mang thai) là thuốc tiêm bắp dùng để kích thích phóng noãn, chữa suy sinh dục do tuyến yên, tinh hoàn ẩn trước tuổi dậy thì; kích thích tạo tinh trùng cho người tinh trùng yếu hoặc không có tinh trùng; ít kinh nguyệt; đa huyết kinh hoặc tử cung chảy máu; đe dọa sẩy thai; sẩy thai liên tiếp; vô kinh nguyên phát hoặc thứ phát.

Hormon nội sinh trong cơ thể người trưởng thành có tác dụng giảm đau như oxytocin, endorphin do não tiết ra (endorphin là morphin nội sinh có tác dụng giảm đau nhưng không gây nghiện và không độc hại như tiêm morphin) đã được các nhà khoa học biết đến từ nhiều năm trước đây, nó được đặt tên là “hormon tình yêu” do được sinh ra nhiều trong các hoạt động như: hoạt động tình dục như ôm nhau, hôn nhau, làm tình (kích thích các vùng nhạy cảm trên cơ thể); khi đạt đến “cực khoái” cơ thể tiết ra nhiều DHEA (dehydroepiandrosterone) thì lượng oxytocin tăng gấp 5 lần; khi mẹ cho con bú; khi được an ủi, vỗ về, chia sẻ nỗi bất hạnh… cũng kích thích não tiết ra oxytocin.

Endorphin còn được tiết ra khi đau đẻ, khi ăn ớt thật cay, khi ăn một mẩu socola đen khoảng 7g, khi vận động cơ thể tập luyện thể dục thể thao… Đặc biệt là trong nụ hôn cháy bỏng của nam nữ yêu nhau thì lượng endorphin tiết ra càng nhiều.

Như vậy, muốn sử dụng hormon để giảm đau bạn hãy tạo ra hormon nội sinh bằng nhiều cách nói trên, sẽ lợi cả đôi đường và an toàn nhất.

Nguồn sức khỏe đời sống

Triệu chứng viêm tủy răng

Tủy răng là một tổ chức đặc biệt gồm mạch máu, thần kinh… nằm trong một hốc giữa ngà răng. Các tổ chức tủy răng thông với cơ thể qua các lỗ rất nhỏ ở cuống răng. Chúng có thể bị viêm do vi khuẩn, hóa chất và nhiều yếu tố khác.

Tác nhân gây viêm tủy răng thường gặp nhất là vi khuẩn. Chúng tồn tại ở trong miệng, xâm nhập tủy răng chủ yếu qua các lỗ sâu và cuống răng… Ngoài ra, hóa chất (nhiễm độc chì, thủy ngân…), sang chấn, thay đổi áp suất môi trường… cũng có thể gây viêm. Một số trường hợp không tìm thấy nguyên nhân.

trieu-chung-viem-tuy-rang

Cấu trúc răng

Viêm là một phản ứng bảo vệ của tủy răng đối với các tác nhân gây bệnh. Bệnh có thể diễn biến qua nhiều giai đoạn, nhiều dạng thương tổn khác nhau:

Viêm tủy răng có hồi phục (tiền tủy viêm): Nguyên nhân thường do sâu răng. Người bệnh tự nhiên thấy xuất hiện cơn đau thoáng qua. Ban đêm, họ dễ cảm nhận thấy cơn đau hơn, dễ nhầm với cảm giác ê buốt của sâu răng. Các kích thích (đụng chạm, nóng, lạnh) có thể làm xuất hiện cơn đau hoặc gia tăng cường độ đau. Giai đoạn này tồn tại không lâu, nếu không được điều trị sẽ chuyển sang các thể viêm tủy khác.

Viêm tủy răng cấp: Người bệnh tự nhiên xuất hiện từng cơn đau dữ dội, đau đến chảy nước mắt khi thức ăn lọt vào lỗ sâu hay uống nước lạnh; đau lan ra các răng kế cận. Hết cơn, người bệnh lại bình thường. Nếu có mủ, người bệnh đau dữ dội hơn, đau giật như mạch đập, như gõ trống trong tai, răng đau có cảm giác lung lay nhẹ và trồi cao hơn các răng khác.

Viêm tủy mạn tính: Người bệnh thường đau tự nhiên từng cơn âm ỉ, liên tục hàng giờ, khoảng cách giữa các cơn đau rất ngắn, đau nhiều hơn về đêm. Các kích thích cơ học làm gia tăng cơn đau.

Tủy răng bị viêm không được điều trị sẽ dẫn đến hoại tử. Trường hợp này thường bệnh nhân không thấy đau.

Về điều trị, cần dùng thuốc giảm đau theo chỉ định của bác sĩ. Sau đó, bệnh nhân phải chữa viêm tủy răng tại các cơ sở chuyên khoa (lấy bỏ tủy răng, hàn kín ống tủy…).

BS Trịnh Thu Hà

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

9 sai lầm thường gặp khi dùng thuốc giảm đau

Chia sẻ đơn thuốc với người khác, tích trữ thuốc đến hết hạn, dùng nhiều thuốc cùng hoạt chất… là những sai lầm thường gặp trong sử dụng thuốc giảm đau.
Chuyện kể rằng, vợ Dâu có một số thuốc percocet (thuốc tổng hợp gồm paracetamol và oxycodone) còn lại từ một lần đi khám răng, cùng lúc có một lọ tylenol (paracetamol) ở phía trên chậu rửa. Dâu lấy mỗi loại 2 viên và uống trôi cùng với một cốc bia.

Thật may mắn vì Dâu chỉ là nhân vật hư cấu cho bài viết này. Nhưng thực tế có rất nhiều Dâu trong đời thường đã mắc những sai lầm lớn với những thuốc không cần đơn (OTC – over the counter) cũng như những thuốc cần đơn.

Dưới đây là một số sai lầm khi dùng thuốc giảm đau mà các chuyên gia của Hiệp hội Dược sĩ Mỹ đã chỉ ra, những sai lầm này cũng rất thường gặp ở Việt Nam chúng ta.

nhung-sai-lam-thuong-gap-khi-dung-thuoc-giam-dau

Nếu 1 là tốt, 2 có lẽ tốt hơn

Một số người khi dùng liều thuốc đầu tiên để giảm đau, nhưng sau vài phút không thấy đau giảm lại tiếp tục uống thêm một liều nữa với suy nghĩ “một liều đã tốt rồi thì 2 liều có lẽ tốt hơn”. Suy nghĩ này là vô cùng nguy hiểm vì nếu bạn làm vậy, rất có thể bạn sẽ được đưa đến phòng cấp cứu. Thường khi bác sĩ kê đơn thuốc giảm đau cho bạn, họ đã phải cân nhắc về lợi ích và tác hại để đưa ra liều cho tác dụng tốt nhất với tác dụng phụ ít nhất. Việc tăng gấp đôi hoặc gấp ba liều lượng sẽ không làm tăng tác dụng điều trị mà ngược lại nó có thể làm tăng tác dụng phụ có hại.

Một trường hợp khác cũng vô cùng tai hại đó là dùng cùng lúc nhiều loại thuốc giảm đau mà bạn có như paracetamol, ibuprofen và naproxen…, điều này cũng làm gia tăng các tác dụng phụ có hại mà bạn có thể gặp phải.

Bởi vậy, nếu bạn đã uống thuốc giảm đau đúng chỉ dẫn về liều lượng mà sau một thời gian nó vẫn không kiểm soát cơn đau, bạn không được tăng liều gấp đôi hoặc dùng thêm thuốc khác, mà cần gặp bác sĩ để bác sĩ có thể thay đổi phương thức điều trị cho bạn.

Quá liều do dùng thuốc cùng hoạt chất

Nhiều người thường dùng thuốc giảm đau OTC và thậm chí cả thuốc giảm đau theo đơn mà không đọc nhãn và thành phần của thuốc. Có nghĩa là họ thường không biết được loại thuốc họ đang dùng. Điều đó không bao giờ là một ý tưởng tốt, vì có thể bạn sẽ dùng các thuốc có cùng thành phần và gây nên tình trạng quá liều.

Trong trường hợp của Dâu, anh ta lấy 2 viên thuốc giảm đau theo đơn (percocet) có chứa paracetamol cùng với một liều đầy đủ thứ hai của paracetamol từ tylenol, làm anh ta có nguy cơ bị tổn thương do quá liều paracetamol.

Uống thuốc giảm đau cùng với rượu, bia

Sai lầm này làm tăng hiệu quả của nhau. Rượu làm bạn say và một số thuốc giảm đau làm tăng cảm giác đó. Trong một số trường hợp khác, rượu làm bạn đau đầu và bạn dùng thuốc giảm đau để chữa. Nhưng bạn cần nhớ rằng, sử dụng kết hợp thuốc giảm đau và rượu sẽ làm tăng tác hại lên gan, vì bản thân rượu và thuốc giảm đau riêng rẽ đều là những thứ không tốt cho gan.

Đó là lý do tại sao nhiều loại thuốc được gán nhãn “no alcohol” (không dùng đồ uống có cồn). Nhãn này được ký hiệu bởi một cái ly rượu, xung quanh là ký hiệu “không” mang tính quốc tế với vòng tròn và dấu gạch chéo. Ký hiệu này được áp dụng cho cả rượu và bia.

Tương tác thuốc

Trước khi dùng bất cứ loại thuốc giảm đau nào, bạn hãy nghĩ xem mình có đang dùng một loại thuốc, thảo dược hay thực phẩm chức năng nào khác hay không. Một vài loại thuốc và thực phẩm chức năng này có thể tương tác với thuốc giảm đau hoặc làm tăng nguy cơ tác dụng phụ.

Ví dụ, aspirin có thể ảnh hưởng đến tác dụng của một số loại thuốc tiểu đường non-insulin; codeine và oxycodone có thể làm giảm tác dụng của thuốc chống trầm cảm.

Uống thuốc khi lái xe

Thuốc giảm đau có thể làm cho bạn buồn ngủ và gây nguy hiểm khi lái xe. Nhưng không phải ai cũng có phản ứng giống nhau với các loại thuốc. Vì vậy các chuyên gia khuyên bạn nên thử trước loại thuốc đó ở nhà để xem nó có gây cho bạn cảm giác buồn ngủ hay không.

Chia sẻ đơn thuốc với người khác

Đây là điều rất phổ biến ở Việt Nam và thậm chí là cả ở những nước phát triển. Điều này rất nguy hiểm cho người được chia sẻ vì có thể gây ra cho họ tình trạng dị ứng, tương tác thuốc hoặc quá liều.

Không trao đổi với dược sĩ

Các quảng cáo giới thiệu thuốc đều khuyến cáo “Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng”, nhưng quả thật không phải dễ dàng để đọc và hiểu được các hướng dẫn đó. Bởi vậy, bạn nên đề nghị với dược sĩ hoặc người bán thuốc hướng dẫn bạn cặn kẽ cách dùng thuốc và các nguy cơ ngay tại cửa hàng.

Tích trữ thuốc hết hạn

Vợ Dâu thực sự đã có lỗi trong sai lầm của anh ấy. Đáng lẽ cô ấy nên vứt bỏ những viên thuốc giảm đau này từ khi cố ấy hết đau răng. Lý do là thuốc được lưu trữ ở nhà bắt đầu phân hủy ngay sau khi hết hạn, đặc biệt đúng với các thuốc giữ trong môi trường ẩm ướt của tủ thuốc phòng tắm. Dùng thuốc quá hạn sẽ không còn tác dụng chữa bệnh, thậm chí bạn còn có thể bị ngộ độc do các sản phẩm phân hủy của thuốc.

Bẻ viên thuốc không được bẻ

Viên thuốc thực sự là những cái máy nhỏ để vận chuyển thuốc. Chúng sẽ không còn hữu dụng khi chúng bị bẻ ra theo cách không được phép. Cần lưu ý, chỉ những viên thuốc có khía rãnh mới được phép bẻ ra, còn tất cả các thuốc không có rãnh đều không được bẻ.

BS. Mai Trung Dũng

Theo SKDS

Dùng thuốc chống trầm cảm điều trị hội chứng kích thích ruột

Hội chứng ruột kích thích (HCRKT) là một rối loạn tiêu hóa chức năng, gây không ít khó chịu tới cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người bệnh. Tuy nhiên, do bệnh không có tổn thương thực thể nên việc điều trị không có thuốc đặc hiệu và thường phải dùng nhiều loại thuốc khác nhau, tùy theo triệu chứng của bệnh. Trong đó, ở một số người bệnh cần phải dùng tới thuốc chống trầm cảm. Trong nhóm thuốc này, hai loại thuốc là imipramine và amitriptylin được tập trung nghiên cứu, bởi thuốc có tác dụng giảm đau nội tạng bằng cách tăng ngưỡng chịu đau ở ruột. Thuốc kéo dài thời gian thức ăn di chuyển từ dạ dày đến manh tràng, giảm đau bụng, giảm tiêu chất nhày, giảm số lần đi tiêu và tăng chất lượng sống. Hiệu quả ở liều thấp hơn liều chống trầm cảm cho thấy thuốc tác động theo một cơ chế độc lập khác.

dung-thuoc-chong-tram-cam-trong-hoi-chung-ruot-kich-thich

Tác dụng phụ hay gặp nhất của imipramine là nhịp tim nhanh, mờ mắt, khó tiểu, khô miệng, táo bón, sút cân, hạ huyết áp tư thế đứng. Hiếm khi gặp phát ban, co giật và viêm gan. Imipramine cũng có thể làm tǎng nhãn áp ở một số bệnh nhân tǎng nhãn áp. Quá liều imipramine gây loạn nhịp, đe dọa tính mạng hoặc co giật. Sau khi dùng liều cao, kéo dài ngừng thuốc đột ngột có thể gây các triệu chứng như buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy. Vì vậy, cần phải giảm liều từ từ nếu cần ngừng thuốc.

Imipramine làm tăng độc tính của các thuốc nhái giao cảm, như isoproterenol và epinephrine bằng cách cộng hưởng tác dụng và ức chế tác động hạ huyết áp của clonidin.

Không được dùng thuốc cho các trường hợp có tiền sử mẫn cảm; tăng nhãn áp góc hẹp, giai đoạn phục hồi sau nhồi máu cơ tim cấp tính; tránh dùng chung với MAOIs hay fluoxetine, hoặc ở những bệnh nhân đã dùng 2 loại thuốc này 2 tuần trước đó.

Thận trọng: Có nguy cơ đối với thai trong các nghiên cứu ở động vật nhưng chưa xác nhận hoặc chưa được nghiên cứu ở người, có thể sử dụng nếu lợi ích cao hơn nguy cơ cho thai.

Thuốc làm giảm khả năng tinh thần và thể lực cần có để thực hiện các nhiệm vụ nguy hiểm; dùng thận trọng ở những bệnh nhân tim mạch, có các rối loạn co giật, bí tiểu, cường giáp, hoặc đang dùng thuốc điều trị tuyến giáp. Thuốc có thể gây buồn ngủ, lú lẫn, táo bón, nhịp tim nhanh, chậm dẫn truyền nhĩ thất, tụt huyết áp tư thế đứng, mờ mắt, khô miệng.

Amitriptylin: Thuốc có hiệu ứng giảm đau nội tạng bằng cách tăng ngưỡng chịu đau ở ruột. Thuốc kéo dài thời gian vận chuyển của thức ăn từ dạ dày đến manh tràng, làm giảm đau bụng, tiêu phân nhầy, giảm số lần đi tiêu, tăng chất lượng sống. Hiệu quả ở dưới liều điều trị chống trầm cảm cho thấy, thuốc tác dụng theo một cơ chế độc lập khác.

Phenobarbital có thể làm giảm tác dụng của thuốc amitriptylin. Dùng chung với thuốc ức chế hệ thống enzym CYP2D6 (như cimetidine, quinidine) có thể làm tăng nồng độ amitriptylin; amitriptylin ức chế tác dụng hạ huyết áp của guanethidine; thuốc có thể tương tác với các thuốc tuyến giáp, rượu, thuốc ức chế thần kinh trung ương, thuốc an thần và disulfiram.

Không được dùng thuốc trong các trường hợp có tiền sử mẫn cảm với thuốc; bệnh nhân đã dùng thuốc nhóm MAOI trong vòng 14 ngày trước, tiền sử động kinh, rối loạn nhịp tim, tăng nhãn áp hoặc bí tiểu.

Thận trọng: Có nguy cơ đối với thai trong các nghiên cứu ở động vật nhưng chưa được chứng minh ở người, có thể sử dụng nếu lợi ích lớn hơn nguy cơ cho thai nhi.
Dùng cẩn thận trong các rối loạn dẫn truyền tim, tiền sử cường giáp, suy thận hoặc suy gan, tránh sử dụng ở người cao tuổi; có thể gây buồn ngủ, lú lẫn, táo bón, bí tiểu, nhịp tim nhanh, chậm dẫn truyền nhĩ thất, tụt huyết áp tư thế đứng, mờ mắt, khô miệng, chóng mặt, gây rối loạn tâm thần ở bệnh nhân tâm thần phân liệt.

BS. Khanh Ngọc

Theo SKDS

Hội chứng đường hầm cổ tay

Vùng cổ tay (phía trước) có các gân gấp chung các ngón và gấp riêng ngón cái chui qua một đường hầm mà phía sau là khối xương cổ tay, phía trước là một vòng xơ, bọc quanh hai gân là hai bao hoạt dịch, nằm ở chính giữa đường hầm là dây thần kinh giữa. Khi đường hầm này bị bóp nghẹt thì dây thần kinh giữa bị chèn ép gây đau và tê bàn tay, còn gọi là hội chứng đường hầm cổ tay (hay còn gọi là hội chứng ống cổ tay).

Nguyên nhân gây bệnh

hoi_chung_duong_ham_co_tay01

Thần kinh giữa bị chèn ép gây đau, tê tay

Có nhiều nguyên nhân gây hội chứng đường hầm cổ tay, thường là do một số nguyên nhân sau:

– Chấn thương vùng cổ tay, khiến cấu trúc của cổ tay thay đổi.

– Bệnh thấp khớp (có thể khiến bàn tay, ngón tay biến dạng, cong queo), bệnh lupus, bệnh đái tháo đường.

– Thai nghén, bệnh suy tuyến giáp trạng, suy thận cần lọc thận.

– Các bất thường của những dây gân trong đường hầm cổ tay.

Ngoài ra còn có thể do đặc thù công việc (cử động cổ tay nhiều, chỉ sử dụng một số cơ bắp nhỏ ở bàn tay liên tục kéo dài, chấn động rung do dụng cụ cầm tay gây nên) như công nhân làm việc trong các dây chuyền công nghiệp, nhân viên đánh máy tính văn phòng,..

hoi_chung_duong_ham_co_tay02

Điều trị hội chứng đường hầm cổ tay bằng cách tiêm thuốc vào ống cổ tay

Triệu chứng chính là đau, tê tay

Thần kinh giữa chạy giữa cẳng tay xuống đến cổ tay. Thần kinh giữa phụ trách việc dẫn truyền cảm giác từ các ngón cái, trỏ, giữa, và một nửa ngón đeo nhẫn của bàn tay. Thần kinh giữa cũng điều khiển các cử động của ngón cái. Trong hội chứng đường hầm cổ tay, thần kinh giữa bị chèn ép khiến bàn tay và cổ tay bị đau, tê.

Các triệu chứng điển hình của hội chứng đường hầm cổ tay như sau: đau nóng, giảm cảm giác, hoặc thấy tê như kiến bò ở các ngón cái, trỏ, giữa và một nửa ngón tay đeo nhẫn. Đau có thể lan lên khuỷu tay, thỉnh thoảng lên đến vai. Xoa nắn bàn tay và các ngón tay, hoặc vẩy vẩy bàn tay giúp ta thấy đỡ hơn.

Người bệnh thường bị đau tay vào ban đêm khi đang ngủ, vì ban đêm, đường hầm bàn tay dễ sưng, chật hơn ban ngày, thêm vào đó khi ngủ, ta lại hay gập cổ tay, khiến đường hầm càng bóp nhỏ thu hẹp. Lâu dần, triệu chứng xảy ra cả vào ban ngày, sau khi dùng bàn tay để làm việc.

Tê tay cũng thường xuất hiện khi cầm tay lái xe máy đi xa, tay bị đau và tê khiến người đang đi xe máy phải dừng lại buông tay ra, xoa nắn và vẩy vẩy mấy cái, rồi mới đi tiếp được.

Thường thì phần lớn người bệnh bị đau ở bàn tay thuận, phải làm việc nhiều, nhưng cũng có nhiều người bị đau cả hai bàn tay.

hoi_chung_duong_ham_co_tay03

Phẫu thuật nội soi điều trị hội chứng đường hầm cổ tay

Bệnh tiến triển nặng khiến bàn tay trở nên yếu ớt, vụng về khi làm những công việc tỉ mỉ như cài cúc áo, xỏ kim,… Triệu chứng nặng hơn khi ta sử dụng bàn tay lâu, như lúc lái xe, viết lách, đọc sách, đánh máy tính, khi thực hiện những hoạt động cần đến bàn tay trong tư thế nắm chặt, hay phải chuyển động các ngón tay và cổ tay liên tục, gấp hoặc ưỡn cổ tay sẽ cảm thấy đau tăng dữ dội. Cuối cùng, ngón cái ngày càng kém sức, bắp thịt phía dưới ngón cái teo nhỏ.

Nếu không được điều trị, các triệu chứng sẽ tiến triển thành cơn đau cấp tính hoặc đau kéo dài, đôi khi nghiêm trọng đến mức người bệnh không thể làm được những việc đơn giản trong gia đình vì chức năng bàn tay đã bị tổn thương nghiêm trọng và không thể phục hồi. Khi tiến triển nặng sẽ phải phẫu thuật.

Điều trị sớm hiệu quả cao

Tùy theo nguyên nhân và tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị thích hợp. Ở mức độ nhẹ, người bệnh mới bị đau, tê tay thì chỉ cần dùng các thuốc giảm đau chống viêm uống, hoặc tiêm trực tiếp vào trong ống cổ tay. Bệnh có thể khỏi từ vài tháng đến nhiều năm, tùy thuộc vào việc bệnh được phát hiện và điều trị càng sớm thì thời gian càng khỏi được lâu. Nhưng đối với những trường hợp đã tiến triển nặng, người bệnh thường xuyên bị đau, tê tay, ngón tay bắt đầu yếu sức thì cần phải phẫu thuật để giải phóng dây thần kinh ra khỏi ống cổ tay.

Điều quan trọng là khi thấy có biểu hiện đau, tê tay, người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa xương khớp để khám xác định nguyên nhân gây bệnh và điều trị. Việc điều trị sớm sẽ không khó khăn và có hiệu quả tốt. Trong thời gian điều trị người bệnh cần nghỉ ngơi, hạn chế vận động ở tay có thể làm nặng bệnh. Ngoài ra có thể kết hợp dùng phương pháp vật lý trị liệu để hỗ trợ điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ.

Bác sĩ  Trọng Nghĩa
Theo SKĐS

Chất nhờn giúp điều trị thoái hóa khớp gối

Thoái hóa khớp gối là một vị trí thường gặp nhất của bệnh thoái hóa khớp. Trong những đợt cấp của bệnh, có thể dùng các thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau đơn thuần, nhưng các thuốc này có nhiều tác dụng phụ trên đường tiêu hóa như loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa. Một số thuốc chống viêm không steroid như indometacin về lâu dài lại có tác dụng có hại lên sụn khớp, làm trầm trọng thêm quá trình thoái hoá khớp (THK). Biện pháp cuối cùng là phải phẫu thuật thay khớp giả, rất tốn kém. Để khắc phục những nhược điểm này, hiện nay, biện pháp sử dụng chất nhờn (như acid hyaluronic hay dẫn xuất của nó) đã được ứng dụng rộng rãi vì tính an toàn và hiệu quả kéo dài.

Acid hyaluronic và THK

Bình thường khớp gối chứa khoảng 2ml dịch khớp. Acid hyaluronic (AH) là một polysacharid có trong thành phần dịch khớp, với hàm lượng từ 2,5 – 4,0mg/ml. Nó bôi trơn mô mềm và phủ trên bề mặt sụn khớp và được tổng hợp bởi tế bào sụn. AH có nhiệm vụ đệm giảm xóc, bôi trơn và bảo vệ khớp. Nó có các tính chất nhớt và đàn hồi tùy thuộc vào lực tác động. Nếu lực tác động lên mạnh, nó có tính chất đàn hồi, còn nếu lực tác động nhẹ thì nó như là dầu bôi trơn. Khi khớp bị thoái hóa, số lượng acid hyaluronic và chất lượng chất này trong dịch khớp bị giảm. Ở bệnh nhân THK gối, lượng acid  hyaluronic chỉ còn một nửa đến hai phần ba so với bình thường, do đó có hiện tượng dịch khớp giảm độ nhớt, mất khả năng bảo vệ sụn khớp, dẫn đến tiến triển huỷ hoại khớp.

chat_nhon_giup_dieu_tri_thoai_hoa_khop_goi

Tiêm AH vào khớp

Tác dụng điều trị của AH trong thoái hóa khớp

Sự bổ sung AH trong thoái hoá khớp dẫn đến tăng kéo dài nồng độ và trọng lượng phân tử của AH nội sinh, làm cải thiện đáng kể chức năng khớp, giảm đau và tác dụng này có thể kéo dài hàng tháng. Thuốc có tác dụng giảm đau do khi tiêm vào trong khớp, nó làm giảm sản sinh các hóa chất gây viêm trong dịch khớp (PE G2, bradykinin), ức chế cảm thụ đau ở bệnh nhân THK. AH có tác dụng kháng viêm do ngăn chặn tác dụng của cytokyne và ngăn chặn sinh tổng hợp PGE2. Tuy chỉ lưu trong dịch khớp 7 ngày nhưng duy trì tác dụng trong 6 tháng do kích thích sản xuất AH nội sinh. Các thử nghiệm trên lâm sàng đã chứng tỏ, ở người THK, việc bổ sung acid hyaluronic nội khớp có tác dụng giảm đau tốt hơn giả dược. Thuốc đạt hiệu quả tương tự khi tiêm corticoid nội khớp song tác dụng bền vững hơn. Trong thí nghiệm trên động vật, tiêm AH còn có tác dụng bảo vệ và sửa chữa lại các tế bào sụn. AH ức chế thoái hoá sụn khớp do gia tăng hoạt tính của men TIMP (tisue inhibitor metalloprotease), kết khối các proteoglycan và tăng sinh tổng hợp của tế bào sụn khớp. Thuốc có hiệu quả tác dụng rõ rệt đối với bệnh nhân THK trên nhiều mặt, đặc biệt là cải thiện chức năng khớp.

Những trường hợp THK nào được sử dụng AH?

Liệu pháp tiêm sodium hyaluronate vào khớp gối có tác dụng trong điều trị THK gối từ mức độ từ trung bình đến nặng vừa. Nó có ích lợi đặc biệt đối với những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị thông thường, không dung nạp được thuốc đặc biệt là thuốc chống viêm không steroid, cũng như  giúp trì hoãn thời gian thực hiện phẫu thuật thay khớp vốn khó khăn và tốn kém. Có nhiều loại thuốc chứa AH. Thường là hộp 5 ống chứa 2- 2,5ml AH, AH tiêm nội khớp gối 1 ống/tuần trong 5 tuần liên tục. Khi tiêm nội khớp AH cần đảm bảo vô khuẩn khi tiến hành thủ thuật. Khi đã bóc hộp bơm tiêm ra rồi phải tiêm ngay. Nếu khớp có dịch phải hút ra rồi mới tiêm. Thuốc chỉ có hiệu quả khi tiêm hết 3 lần (synvic) hoặc 5 tuần (hyalgan). Thuốc có độ dung nạp khá tốt. Trong một số ít trường hợp chỉ gặp đau nơi tiêm, phản ứng viêm tại chỗ, đau cơ, đau khớp, cảm giác mệt mỏi. Các triệu chứng này chỉ thoáng qua, sau 2-3 ngày là biến mất và thường chỉ gặp trong lần tiêm đầu tiên.

PGS.TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn

Có nhiều nguyên nhân gây ra gãy xương như: bom đạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động…, có thể là gãy xương hở hoặc gãy xương kín. Xương thường bị gãy vỡ thành nhiều mảnh, có khi bị mất từng đoạn xương hay các đoạn xương bị di lệch. Chúng ta cần biết cố định xương gãy là để tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn.

Vì sao cần cố định xương gãy?

Khi gãy xương, đầu xương gãy sắc nhọn dễ làm tổn thương mạch máu, thần kinh. Nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến những tai biến nặng như: sốc do mất máu và đau đớn, nhất là khi gãy các xương lớn; làm tổn thương phần mềm do các đầu xương gãy đâm rách; nhiễm khuẩn vết thương. Cố định tạm thời gãy xương là một kỹ thuật quan trọng để hạn chế những tai biến đó và giữ cho ổ gãy xương được ổn định để vận chuyển an toàn bệnh nhân đến bệnh viện.

tu_cuu_minh_va_cuu_nguoi_khi_gap_tai_nan

Yêu cầu cố định xương gãy như thế nào?

Khi cố định tạm thời xương gãy phải đảm bảo không làm cho bệnh nhân bị đau thêm. Muốn thế phải giảm đau tốt cho bệnh nhân trước khi tiến hành băng bó cố định chi gãy, không được nâng nhấc, băng bó, cố định chi gãy nếu chưa dùng thuốc giảm đau cho bệnh nhân. Nẹp phải đủ dài để cố định được cả khớp trên và khớp dưới ổ gãy, buộc chắc chắn vào chi. Nếu chi gãy bị di lệch, biến dạng nhiều thì sau khi đã giảm đau thật tốt, có thể nhẹ nhàng kéo chỉnh lại trục chi để giảm bớt biến dạng, giảm bớt nguy cơ thương tổn phần mềm do các đầu xương gãy gây ra. Không đặt nẹp cứng sát vào chi mà phải lót bằng bông, gạc… Khi cố định xương gãy, không cần cởi quần áo người bị thương vì quần áo có tác dụng tăng cường đệm lót cho nẹp.

Các loại nẹp dùng để cố định xương gãy

Nẹp tre (hoặc gỗ), kích thước dài ngắn tùy chi thể của người bị thương. Các nẹp được bọc trước bằng bông hoặc giấy xốp cuốn băng xô, trên toàn bộ chiều dài, bịt kín 2 đầu nẹp. Ngoài ra còn loại nẹp Crame là loại nẹp làm bằng sợi kẽm, bẻ uốn được, hình bậc thang, có nhiều kích thước thích hợp cho từng đoạn chi. Dùng nẹp Crame cũng cần có đủ các kích thước phù hợp với từng đoạn chi và cũng cần bọc lót bông gạc như với nẹp tre. Tuy nhiên khi gặp tình huống khẩn cấp mà không có nẹp đã chuẩn bị sẵn, có thể sử dụng các phương tiện sẵn có như đòn gánh, cành cây, gậy gỗ, dát giường… để cố định xương gãy.

Phương pháp cố định tạm thời ở một số gãy xương lớn

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng tay: Đặt nẹp ngắn ở mặt trước cẳng tay đi từ nếp khuỷu đến khớp ngón – bàn. Đặt nẹp dài ở mặt sau cẳng tay, từ quá mỏm khuỷu, đối xứng với nẹp ở mặt trước. Buộc 2 đoạn cố định 2 nẹp vào bàn tay và cẳng tay. Đoạn thứ nhất ở bàn tay và cổ tay, đoạn thứ 2 ở dưới và trên khớp khuỷu. Dùng băng cuộn để treo cẳng tay ở tư thế gấp 900.

– Cố định tạm thời gãy xương cánh tay: Ở mặt trong cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên lên tới hố nách, đầu dưới sát nếp khuỷu. Mặt ngoài cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên quá khớp vai nách, đầu dưới quá khớp khuỷu. Cố định nẹp ở 2 đoạn: đoạn một ở 1/3 trên cánh tay và khớp vai, đoạn hai ở trên và ở dưới khớp khuỷu. Dùng băng tam giác hoặc băng cuộn treo cẳng tay vuông góc 900 với cánh tay và cuốn 1 vài vòng băng buộc cánh tay vào thân.

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng chân: Đặt 2 nẹp ở mặt trong và mặt ngoài chi gãy đi từ giữa đùi tới quá cổ chân. Nếu có nẹp thứ 3 thì đặt ở mặt sau cẳng chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn cổ chân, dưới và trên khớp gối, giữa đùi.

– Cố định tạm thời gãy xương đùi: Dùng 3 nẹp để cố định, nẹp ở mặt ngoài đi từ hố nách đến quá gót chân. Nẹp ở mặt trong đi từ bẹn đến quá gót chân. Nẹp ở mặt sau đi từ trên mào chậu đến quá gót chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn chân, cổ chân, 1/3 trên cẳng chân, trên gối, bẹn, bụng và dưới nách. Trước khi vận chuyển: buộc chi gãy đã cố định vào chi lành ở ba vị trí cổ chân, đầu gối và đùi.

BS. Trần Văn Phong
Theo SKĐS

Thuốc không sử dụng trong bệnh da zona

Virut Varicella zoster gây bệnh thủy đậu ở trẻ em, sau đó nằm yên trong hạch rễ thần kinh hàng chục năm, khi có cơ hội sẽ gây bệnh zona (herpes zoster) còn gọi là bệnh “giời leo”. Nếu làm phản ứng huyết thanh thì có khoảng 90% người lớn có bằng chứng nhiễm virut Varicella zoster song chỉ có khoảng 0,15-0,3% mắc zona và hàng năm có thêm 0,2% người mắc mới. Ở người trẻ, bệnh thường lành tính, ít khi để lại di chứng. Ở người già,  bệnh dễ trầm trọng, thường để lại di chứng. Riêng di chứng đau thần kinh sau zona, người trên 50 tuổi thường có tỷ lệ xuất hiện cao gấp 15-25 lần người dưới 30 tuổi.

Một số thuốc thường dùng

Nhóm kháng virut

Dùng trong giai đoạn cấp tính, thường dùng acyclovir, valacylovir, famcilovir. Cả ba đều có tính năng tương tự: rút ngắn thời gian bài xuất virut, ngăn chặn sự hình thành tổn thương mới, đẩy nhanh tốc độ liền sẹo, giảm độ nặng của cơn đau cấp. Cần dùng thuốc sớm trong vòng 24 – 48 giờ  khi có triệu chứng và dùng với liều cao. Không dùng dạng thuốc bôi vì không có hiệu quả. Thuốc không gây tác dụng bất lợi nào, tuy nhiên, với người suy thận cần giảm liều.

ton-thuong-da-do-benh-gioi-leo

Nhóm giảm đau

Đau thần kinh sau zona là những triệu chứng đau xuất hiện sau 30 hay 60 ngày sau khi nổi phát ban hay sau khi liền sẹo. Cảm giác đau rất khó chịu: nhức nhối, rát bỏng như dao đâm, điện giật. Đau có thể kéo dài nhiều tháng nhiều năm kèm theo một số rối loạn cảm giác khác nhau, đặc trưng nhất là loạn cảm giác đau (chỉ sờ chạm nhẹ như áo quần bị tiếp xúc với vùng da bị ảnh hưởng cũng có thể gây đau dữ dội). Ngoài ra, có thể dị cảm (cảm giác như kim châm xảy ra tự phát), loạn cảm (cảm giác bất thường với các kích thích lên da), có thể kèm triệu chứng trầm cảm. Thuốc có thể dùng riêng hay phối hợp, gồm:

Lidocain: dùng dưới dạng thuốc dán 5%, có thể dùng tới 3 miếng dán trong vòng 12 giờ. Thuốc có thể gây kích ứng tại chỗ, ít khi gây độc hại toàn thân. Chỉ được bôi lên vùng da nguyên vẹn.

Kem capsaicin (hoạt chất lấy từ quả ớt) 0,025 – 0,075%: bôi thuốc có nồng độ capsaicin lúc đầu thấp, sau đó dùng thuốc có nồng độ cao. Thuốc gây rát bỏng. Chỉ được bôi lên vùng da nguyên vẹn. Một số người bệnh bỏ dở điều trị vì không chịu nổi rát bỏng.

Amtriptylin, nortripylin: là thuốc chống trầm cảm 3 vòng. Bắt đầu dùng với liều thấp sau tăng cao, chia thành 3 lần uống trong ngày. Thuốc có thể  gây an thần, gây lú lẫn, bí tiểu tiện, hạ huyết áp tư thế, khô miệng, loạn nhịp tim (nên hạn chế  dùng cho người già).

Gabapentin: bắt đầu bằng liều thấp và tăng dần liều cao, chia ra 3 lần dùng trong ngày. Thuốc dung nạp tốt nhưng có thể gây chóng mặt, nhức đầu, u ám, mất ý thức.

Một số thuốc không nên dùng

Thuốc chống dị ứng: Zona có biểu hiện giống dị ứng nhưng không phải là hiện tượng dị ứng, không dùng thuốc chống dị ứng (chlopheniramin, corticoid) trong trường hợp này.

Thuốc kháng sinh: Zona khi ở giai đoạn hóa mủ, loét, trông giống như nhiễm khuẩn nhưng là bệnh do virut nên dùng thuốc kháng virut chứ không dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn thông thường.

Thuốc giảm đau thông thường: Đau sau zona là đau có nguồn gốc thần kinh. Dùng các thuốc giảm đau thông thường (giảm đau không steroid) sẽ không có hiệu quả.

Không dùng thảo dược: Không có loại thảo dược nào chống lại được virut. Không dùng thảo dược đắp lên  tổn thương do zona (dễ gây nhiễm khuẩn nguy hiểm).

Khi bị zona cần điều trị tích cực bằng thuốc kháng virut nhằm tránh bệnh diễn biến xấu. Khi bệnh chuyển sang giai đoạn đau thần kinh sau zona cần phải nhớ kỹ việc đã từng bị bệnh zona trước đó để trình bày với thầy thuốc (nếu đến nơi khám mới) nhằm tránh dùng thuốc giảm đau không thích hợp. Khi có dấu hiệu bệnh lý về mắt (thường đến muộn) cần đến với thầy thuốc chuyên khoa mắt.

DS. Bùi Văn Uy

Theo SKDS

Bệnh viêm quanh khớp vai: Chớ nên coi thường (kỳ II)

Kỳ 2: Điều trị và dự phòng viêm quanh khớp vai

Viêm quanh khớp vai bao gồm các trường hợp đau và hạn chế vận động của khớp vai do tổn thương phần mềm quanh khớp vai như gân cơ, dây chằng, bao khớp. Trong 10 trường hợp đau vùng khớp vai thì có tới 9 trường hợp do viêm quanh khớp vai, tức là không phải đau ở khớp vai mà là đau xung quanh khớp vai. Nguyên nhân của bệnh rất phong phú, chủ yếu là do chấn thương, do thời tiết lạnh và ẩm, các bệnh vùng cổ, ngực, bệnh lý thần kinh.

benh_viem_quanh_khop_vai_cho_nen_coi_thuong_ky2

Hậu quả của điều trị không đúng hoặc không được điều trị

Bệnh viêm quanh khớp vai nếu điều trị không đúng thì sẽ tiến triển nặng dần, dẫn đến các biến chứng đứt gân, khiến khả năng phục hồi rất khó khăn. Bệnh nhân bị đau đớn, hạn chế vận động kéo dài sẽ bị trầm cảm, lo lắng, ảnh hưởng lớn đến khả năng làm việc, sinh hoạt và giấc ngủ. Khớp vai có thể bị đông cứng, giả liệt, gây tàn phế cho bệnh nhân. Ngoài ra bệnh nhân có thể phải gánh chịu các tai biến do dùng thuốc hay thủ thuật như bị nhiễm khuẩn khớp vai hay áp-xe cơ vùng vai, dị ứng thuốc, có thể dẫn đến tử vong. Để tránh các hậu quả của viêm quanh khớp vai khi bị đau vai, bệnh nhân cần đến bệnh viện  khám ngay để được chẩn đoán đúng và điều trị bệnh kịp thời.

Các phương pháp điều trị bệnh viêm quanh khớp vai

Điều trị viêm quanh khớp vai bao gồm điều trị đợt cấp và điều trị duy trì. Điều trị đợt đau cấp làm giảm nhanh chóng các triệu chứng đau vai, góp phần sớm phục hồi được chức năng vận động của khớp. Điều trị duy trì có mục tiêu phục hồi các mô bị tổn thương, tăng cường sức mạnh của khớp vai và tránh tái phát bệnh. Bệnh nhân cần xác định thái độ kiên trì và hợp tác với bác sĩ, tránh nôn nóng, chạy chữa hết nơi này đến nơi khác… Điều trị viêm quanh khớp vai phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như nội khoa, ngoại khoa, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả Đông y. Ở bệnh viện bác sĩ có thể kê đơn thuốc giảm đau, chống viêm (celebrex, mobic), giãn cơ (myonal), an thần hay tiêm thuốc chống viêm corticoid tại chỗ vào vùng bao gân cơ bị tổn thương. Có thể áp dụng các biện pháp vật lý trị liệu như chườm lạnh, hay dùng đèn hồng ngoại, laser, sóng ngắn, vi sóng, điện từ trường. Có thể chườm lạnh bằng cách lấy nước đá viên cho vào túi ni lông rồi chườm lạnh vùng vai đau trong 5-10 phút. Khi vai đỡ đau thì mới được vận động nhẹ nhàng. Cũng có thể xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu. Khi cần cũng có thể dùng cồn thuốc đắp trên vùng khớp vai bị đau. Cánh tay được nghỉ ngơi sẽ hồi phục dần dần mà không cần phải phẫu thuật. Đa số bệnh nhân viêm quanh khớp vai có thể khỏi bệnh sau 6 tháng đến 3 năm. Chỉ có các vận động viên thể thao trẻ, sau khi được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau mà không khỏi mới có thể tính đến phẫu thuật. Ngoài ra trong trường hợp bị đứt gân cơ quanh vai có thể chỉ định phẫu thuật nối gân.

Chế độ sinh hoạt, vận động thế nào khi bị viêm quanh khớp vai?

Trong giai đoạn đau vai cấp tính cần phải để cho vai được nghỉ ngơi. Khi bị đau vai  ít thì chỉ cần tránh không cử động tay bên vai bị đau. Khi đau vai nhiều thì cần cố định cánh tay bên vai đau bằng một cái khăn đeo vào cổ để cho cơ vai được nghỉ ngơi dưỡng thương. Sau khi điều trị có hiệu quả thì bắt đầu tập luyện để phục hồi chức năng khớp vai. Tuy nhiên các bài tập luyện bao giờ cũng phải dần dần, từ nhẹ đến nặng, từ dễ đến khó, không được quá sức. Cần phải luyện tập thường xuyên vùng khớp vai trong 1-2 năm. Có thể tập thái cực quyền. Để phòng tránh bệnh nên kiên trì tập luyện sức khỏe ngay từ khi còn trẻ để phòng tránh quá trình thoái hóa vai khi đến tuổi trung niên. Mùa hè tránh để gió thổi vào người quá lâu. Khi bị mưa ướt cần phải tắm bằng nước nóng ngay. Tăng cường giữ ấm vào mùa đông, ban đêm ngủ nên tránh để lộ vai ra ngoài. Tránh lao động quá mức trong thời gian dài. Tăng cường dinh dưỡng, nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Bệnh nhân cũng cần được an ủi về mặt tâm lý, tránh những biểu hiện lo âu, căng thẳng, lo lắng vì bệnh tật. Cũng cần chăm sóc bệnh nhân trong sinh hoạt hằng ngày.

Theo SKĐS

Bệnh thoái hóa khớp: thuốc điều trị

Thoái hóa khớp là một bệnh khớp thường gặp nhất ở người lớn tuổi với chi phí xã hội cho chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh ngày càng tăng.

Hiện tại có thể khẳng định chưa có thuốc nào điều trị khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp. Điều trị thoái hóa khớp nhằm mục đích giảm đau cho bệnh nhân và duy trì vận động khớp.

Lựa chọn các thuốc điều trị thích hợp cho một bệnh nhân phải dựa trên hoàn cảnh cụ thể của bệnh nhân đó, như tuổi, trọng lượng, mức độ thoái hóa cũng như các bệnh kèm theo.

benh_thoai_hoa_khop_thuoc_dieu_tri

Thuốc giảm đau đơn thuần:

Chỉ định trong những trường hợp thoái hóa khớp nhẹ, kết hợp với chế độ vận động hợp lý. Thuốc giảm đau có thể dùng đơn thuần là paracetamol nhưng không được vượt quá 3g một ngày. Nếu bệnh nhân vẫn đau, chuyển sang dùng dạng kết hợp paracetamol + codein (như efferalgan codein hoặc di-antalvic).

Thuốc chống viêm giảm đau không steroid (CVKS):

Đây là nhóm thuốc điều trị triệu chứng tác dụng nhanh. Do trong bệnh thoái hóa khớp có kèm hiện tượng viêm màng hoạt dịch khớp nên việc dùng thuốc nhóm này có tác dụng tốt đối với bệnh. Cơ chế chính của nhóm thuốc này là thông qua ức chế men cyclooxygenase 2 (COX-2) ức chế tổng hợp các prostaglandin gây viêm. Tuy nhiên, một số thuốc sẽ ức chế cả men COX-1 có tác dụng trong quá trình tổng hợp các prostaglandin có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày. Vì vậy, người ta chia nhóm thuốc này  thành các nhóm: nhóm CVKS không chọn lọc (ức chế cả COX-1 và COX-2) có tác dụng phụ nhiều hơn trên dạ dày. Một số thuốc trong nhóm như aspirin hoặc diclofenac.

Nhóm thứ hai là nhóm ức chế COX-2 không chuyên biệt (chủ yếu ức chế COX-2 nhưng vẫn ức chế COX-1), ví dụ meloxicam  hoặc nimesulid.

Nhóm thứ ba là nhóm ức chế COX-2 tương đối chuyên biệt (ít tác dụng phụ lên dạ dày) như celecoxib viên 100mg, 200mg, ngày uống từ 1 – 2 viên. Lưu ý thận trọng ở những bệnh nhân mắc các bệnh tim mạch do làm gia tăng các biến cố tim mạch.

Các tác dụng phụ của thuốc CVKS như gây giảm chức năng thận, tăng men gan; đặc biệt về dạ dày – ruột gây viêm, xuất huyết tiêu hóa. Có thể hạn chế tác dụng phụ trên dạ dày bằng cách sử dụng thuốc điều trị viêm dạ dày nhóm ức chế bơm proton (omeprazon, nesomeprazon), hoặc thuốc kháng histamin H2 (ranitidin), hoặc đồng đẳng của prostaglandine E1 (misoprostol – cytotex).

Một dạng CVKS dùng an toàn hơn là thuốc bôi ngoài như diclofenac gel bôi, hoặc chế phẩm có aspirin bôi tại chỗ khớp tổn thương cũng có tác dụng tốt.

Thuốc có corticoid:

Không được dùng corticoid đường toàn thân (prednisolon, dexamethason) uống, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch trong điều trị bệnh thoái hóa khớp. Đây là sai lầm mà nhiều bệnh nhân hay thầy thuốc không chuyên khoa hay mắc.

Đường tiêm nội khớp có hiệu quả đối với các dấu hiệu chức năng của bệnh như giảm đau, cải thiện chức năng vận động. Có thể dùng hydrocortison acetate 2-3 mũi tiêm một đợt với khoảng cách giữa hai mũi tiêm từ 5-7 ngày và khoảng cách giữa hai đợt phải ít nhất 3 tháng. Hoặc methylprednisolon acetat (depomedron 40mg), tiêm mỗi đợt 1-2 mũi, cách khoảng 2 tuần một mũi, khoảng cách mỗi đợt tương tự trên.

Lưu ý, chỉ được tiêm khớp khi có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa xương khớp và trong điều kiện vô trùng tuyệt đối tại cơ sở y tế chuyên khoa. Hiện nay có rất nhiều người không có bằng cấp chuyên môn tự ý tiêm các thuốc corticoid không đúng chỉ định, không đúng liều lượng và vị trí, trong điều kiện không vô khuẩn gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng cho bệnh nhân như nhiễm trùng khớp, da, cơ hay hội chứng phụ thuộc corticoid.

Thuốc chống thoái hóa khớp tác dụng chậm:

Đây là nhóm thuốc điều trị cơ bản có tác dụng chậm (thường sau 2- 4 tuần) nhưng hiệu quả điều trị được duy trì cả sau khi ngừng điều trị (sau vài tuần đến 2-3 tháng). Tuy nhiên, thường phải dùng kéo dài từ 1-2 tháng hoặc hơn mỗi đợt và cần nhắc lại liệu trình điều trị sau một thời gian nghỉ. Dung nạp thuốc tốt, dường như không có tác dụng phụ. Các thuốc thường dùng gồm các loại như glucosamin sulfat uống hoặc tiêm bắp, chondroitine sulfat hoặc dạng phối hợp hai thuốc; hoặc diacerhein.

Liệu pháp bổ sung chất nhầy bằng muối natri của acid hyaluronic:

Thuốc có tác dụng bao phủ và bôi trơn bề mặt sụn khớp, ngăn cản sự mất sụn, có tác dụng giảm đau và cải thiện biên độ vận động khớp. Tiêm natri hyaluronat có trọng lượng phân tử cao vào nội khớp bị thoái hóa sẽ bổ sung độ nhớt cho khớp. Có thể nhắc lại liệu pháp bổ sung chất nhờn sau một năm. Hiện nay đã mở rộng tiêm chất nhờn ra một số vị trí thoái hóa khớp khác như khớp vai hoặc mở rộng ra các khớp nhỏ hơn như khớp cổ tay, khớp khuỷu, thậm chí cả khớp đốt bàn ngón tay.

Theo SKĐS

Chăm sóc sức khoẻ gia đình với những thực phẩm tự nhiên

Những loại thực phẩm dưới đây được coi như những lá “bùa hộ mệnh” từ thiên nhiên sẽ giúp cải thiện và duy trì, chăm sóc sức khỏe tốt cho cả gia đình bạn.

Phòng ngừa teo mô liên kết trong gan: Khoai lang

Khoai lang là thực phẩm giàu dinh dưỡng nên nó rất có tác dụng trong việc chăm sóc sức khỏe. Do khoai lang có thể cung cấp một lượng lớn protein chất nhầy, đường, vitamin A và vitamin C cho cơ thể, nên có tác dụng bổ hư, ích khi, kiện tỳ, cường thận và làm ấm dạ dày, ích phổi…. Vì thế, thường xuyên ăn khoai lang có thể phòng ngừa teo mô liên kết trong gan và thận, ngăn chặn sự xuất hiện các bệnh collagen.

thuc_pham_cham_soc_suc_khoe_01

Khoai lang là thực phẩm giàu dinh dưỡng nên nó rất có tác dụng trong việc chăm sóc sức khỏe

Giảm đau do viêm loét dạ dày: Cải thìa

Theo Đông y, cải thìa tốt cho dạ dày, vị đắng, tính hàn, nhuận tràng. Loại thực phẩm này còn giàu vitamin C và còn chứa cả canxi, sắt, phốt pho, carotene và vitamin nhóm B…

Cũng giống như cải thảo, bắp cải cuộn tròn, tính vị đắng, có thể ích tâm, thận, kiện tỳ vị, giảm đau do viêm loét dạ dày – tá tràng, thúc đẩy chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe.

Xây dựng collagen: Súp lơ

Giàu các vật chất như vitamin, mỗi 200gr súp lơ tươi có thể cung cấp trên 75% vitamin A/ngày cần thiết cho một người trưởng thành. Hàm lượng vitamin C trong đó còn nhiều hơn, mỗi 100gr có thể đạt 80mg, cao gấp 3- 4 lần so với các loại bắp cải, giá đậu, gấp đôi so với cam quýt. Chính vì vậy, súp lơ có tác dụng rất tốt trong việc xây dựng collagen, chăm sóc sức khỏe nói chung tốt hơn.

Tác dụng tiêu đờm: Cần tây

Đông y cho rằng, cần tây tính mát, bình gan, kiện vị, có vị ngọt, không độc, giàu protein, các loại đường, carotene, vitamin C, axit amin, có thể làm hưng phấn các dây thần kinh, kích thích dạ dày tiết dịch, tăng cảm giác thèm ăn và có tác dụng tiêu đờm.

Thúc đẩy trao đổi chất: Bắp cải

Hàm lượng vitamin C trong bắp cải cao gấp 3,5 lần so với cà chua, hàm lượng canxi cao gấp 2 lần so với dưa chuột. Bắp cải còn chứa khá nhiều nguyên tố vi lượng và mangan, là nguyên liệu không thể thiếu để cơ thể chế tạo ra các hoạt chất như dung môi, enzym… Ngoài ra, còn có thể thúc đẩy sự trao đổi chất, vô cùng có lợi cho sự phát triển của trẻ nhỏ. Hàm lượng vitamin C trong đó có thể tăng cường khả năng chống chăm sóc sức khỏe, giúp cơ thể chống lại nguy cơ ung thư.

thuc_pham_cham_soc_suc_khoe_02

Bắp cải giúp trao đổi chất

Giảm mệt mỏi: Giá đậu

Đậu nành, đậu xanh chứa một lượng lớn chất béo, protein, carbonhydrate cũng như các nguyên tố vi lượng trong chế độ ăn uống cần thiết cho cơ thể như natri, phốt pho, sắt, canxi.

Sau khi ủ đậu thành giá đỗ, không những vẫn giữ nguyên vật chất ban đầu mà còn làm tăng hàm lượng vitamin, giúp giảm mệt mỏi, chất diệp lục trong giá đỗ có thể phòng và điều trị ung thư trực tràng và chăm sóc sức khỏe toàn diện.

Lợi tiểu: Măng tây

Mùa thu nên ăn nhiều măng tây để có thể tăng cường sự bài tiết dịch vị dạ dày và dịch tiêu hóa, tăng bài tiết mật. Hơn nữa vitamin trong đó còn giúp lợi tiểu, duy trì cân bằng nước, có tác dụng rất lớn đối với những người mắc bệnh huyết áp cao và tim mạch.

thuc_pham_cham_soc_suc_khoe_03

Mùa thu nên ăn nhiều măng tây để có thể tăng cường sự bài tiết dịch vị dạ dày

Tốt cho người mới ốm dậy: Khoai môn

Khoai môn giàu tinh bột, dinh dưỡng nên có tác dụng chăm sóc sức khỏe rất tốt. Trong 100gr khoai môn chứa 91calo, 2,4g protein, 0,2g chất béo, 20,5g hợp chất carbonhydrate, 14g canxi, 43g phốt pho, 0,5g sắt, 10mg vitamin C, 10,09mg vitamin B, 20,04mg vitamin B.

Đồng thời khoai môn còn chứa cả polisacarit sữa, tinh chất làm mềm xương, dễ tiêu hóa, có tác dụng kiện vị, rất thích hợp với những bệnh tỳ vị hư, đường ruột, bệnh lao, người bệnh mới ốm dậy, là thuốc bổ cho trẻ nhỏ và người già.

Loại bỏ độc tố: Củ cải

Củ cải nhiều nước, vitamin C, một lượng nhất định canxi, phốt pho, carbonhydate và một lượng nhỏ sắt, protein và các vitamin khác, ngoài ra còn chứa cả các thành phần có ích như lignin, cholin, hormon enzym, amylase, mù tạt dầu. Đông y cho rằng, củ cải tính mát, vị ngọt, mát phổi, có thể loại bỏ độc tố, tiêu đờm, giảm sự xâm nhập khí vào cơ thể, giải độc, giúp no bụng, lợi tiểu…

Theo 24h

Giảm ung thư da hắc tố với thuốc aspirin

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng thuốc giảm đau aspirin có thể làm giảm nguy cơ ung thư da hắc tố và giảm sự phát triển của các khối u ác tính ở phụ nữ.

Từ việc nghiên cứu gần 60.000 phụ nữ độ tuổi 50 – 79 trong hơn 12 năm, các nhà nghiên cứu xác định rằng những người sử dụng thuốc aspirin thường xuyên có khả năng mắc ung thư da hắc tố ít hơn 21% hơn so với người không sử dụng. Những người sử dụng aspirin từ 5 năm trở lên thì nguy cơ phát triển các khối u ác tính sẽ giảm 30%.

giam-nguy-co-ung-thu-da-hac-to-voi-aspirine

Tiến sĩ Jean Tang, trường Đại học Y Stanford Mỹ, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết aspirin có tác dụng làm giảm viêm, đó chính là lý do tại sao khi sử dụng aspirin có thể làm giảm nguy cơ phát triển cúa những khối u ác tính. Bà cho biết thêm thuốc giảm đau khác như paracetamol không làm được điều này.

Aspirin đã được mệnh danh là loại thuốc kỳ diệu. Một nghiên cứu gần đây cũng cho biết rằng nó làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày và ruột tới 40% ở những người sử dụng thường xuyên. Nhưng nếu sử dụng lâu dài nó có thể gây ra chảy máu và loét dạ dày.

Aspirin được chứng minh là có tác dụng hiệu quả chống lại ung thư ruột – một trong những căn bệnh phổ biến, đặc biệt đối với bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc bệnh này. Sử dụng aspirin là một phương pháp điều trị được tiến hành cho các bệnh nhân bệnh tim bởi nó giúp ngăn ngừa sự hình thành các cục máu đông trong động mạch, nguyên nhân dẫn đến một cơn đau tim. Vì lý do này, 2.000.000 người bị đau thắt ngực ở Anh đang sử dụng nó hàng ngày.

Tuy nhiên bà Jessica Harris, Viện nghiên cứu ung thư Vương quốc Anh, cũng khuyến cáo rằng aspirin có một số các tác dụng phụ nguy hiểm nhưng nếu dùng đúng thì lợi ích mà nó mang lại là nhiều hơn tác hại.

Nghiên cứu được hình thành một phần từ Tổ chức sáng kiến sức khỏe phụ nữ WHI và được công bố trên Tạp chí về ung thư.

Theo Dân trí/SKDS