Tag Archives: thức ăn

Ung thư có thể mắc phải do cách nấu ăn

Duy trì thói quen đun nấu dưới đây trong thời gian dài có thể sẽ đưa bạn chạm mặt tử thần do mắc các bệnh ung thư nguy hiểm.

Nêm quá nhiều muối
Các chuyên gia thuộc Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NIC) cho hay, khẩu phần ăn uống có quá nhiều muối chính là thủ phạm khiến dễ mắc ung thư dạ dày bởi nó làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn gây u xơ.

Lạm dụng đồ nướng
Khi nướng thịt, nó sẽ sản sinh các amin dị vòng (HCAs) và hydrocarbon thơm đa vòng (PAHs) – những hợp chất có khả năng tác động lên cấu trúc tế bào gây ung thư. Thực vậy, bàn về vấn đề này các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Oregon (OSU) từng khẳng định PAHs có thể làm thay đổi và tổn thương cấu trúc DNA, gây ung thư lớn hơn 400 lần so với những người ít tiếp xúc với thực phẩm nướng.

ung-thu-co-the-mac-phai-do-cach-nau-an

Đồ nướng tiềm ẩn nguy cơ ung thư

Dùng đồ nhôm tái chế
Vì giá thành rẻ nên nhiều bà nội trợ lựa chọn các loại xoong nồi tái chế. Song họ không biết rằng trong quá trình tái tạo, nhôm nhiễm bẩn còn được độn thêm nhiều loại hóa chất, phụ gia khiến các tạp chất này dễ bị bung ra khi đun nấu, cọ rửa hoặc chà xát mạnh.

Việc lưu trữ thức ăn trong nồi nhôm kém chất lượng thực sự rất độc hại vì chúng dễ hòa tan với thức ăn. Sau thời gian phơi nhiễm, lượng nhôm tích tụ trong các mô cơ thể có thể gây nhiễm độc nặng như suy thoái não, dị hình xương. Bên cạnh đó, nó cũng là nguyên nhân gây nên các vấn đề như: mất ngủ, căng thẳng, giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ và thậm chí là những bệnh ung thư nguy hiểm.

Đổ dầu mỡ quá tay
Các nhà khoa học Italy nhận thấy những phụ nữ có chế độ ăn nhiều chất béo làm tăng khoảng 30% nguy cơ phát triển ung thư vú. Cụ thể, hấp thu nhiều loại thực phẩm này làm tăng lượng calo trong cơ thể, gây tình trạng thừa cân, béo phì. Trong khi đó, phụ nữ béo phì có xu hướng đạt nồng độ estrogen và insulin cao hơn những người có vóc dáng tương đối. Đây cũng chính là nhân tố gây nên ung thư vú và nội mạc tử cung.

Hun khói thực phẩm tạo mùi
Phân tích thịt xông khói , gan, cá hun khói… cho thấy đây là những đồ ăn có chứa hàm lượng benzopyrene cao. Thực tế, benzopyrene từ lâu được biết đến là hợp chất làm tăng nguy cơ mắc ung thư dạ dày và thực quản.

Ướp quá nhiều đường
Tuy không trực tiếp gây ung thư nhưng hấp thu nhiều đường có thể gây nên tình trạng thừa cân và béo phì. Được biết, béo phì gây ra những thay đổi về hàm lượng insulin và hormon giới tính trong cơ thể. Sự thay đổi này tác động làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú, đại tràng và ung thư tử cung.

Theo sức khỏe đời sống

Sắc đẹp đến từ chính thức ăn của bạn

Mỗi phụ nữ hãy là một “bà nội trợ kiểu mới”

sac-dep-nam-trong-chinh-thuc-an-cua-ban

Hà Kiều Anh sang trọng lịch lãm trong các sự kiện nhưng lại rất gần gũi và giản dị ở đời thường.

Gặp Hà Kiều Anh vào một chiều nắng đẹp, cựu Hoa hậu không ngần ngại cho biết, bản thân cô cũng luôn muốn mình thực sự được chồng, con và mọi người xung quanh yêu mến gọi là một bà nội trợ kiểu mới: chăm sóc gia đình, con cái một cách chu toàn và khéo léo nhưng vẫn thu xếp được công việc ngoài xã hội và vẫn dành thời gian chăm sóc cho sắc đẹp bản thân. Kiều Anh cười rất tươi: “Khái niệm nội trợ giờ đây đã khác xa với thế hệ các bà, các mẹ ngày xưa. Giờ đây người phụ nữ hiện đại không phải quá cực nhọc với những công việc nhà như trước. Nhưng tôi vẫn rất thích được tự tay nấu những bữa ăn cho cả nhà hay chọn từng bộ quần áo cho con đi học bởi niềm tự hào và hạnh phúc của mọi phụ nữ là được chăm lo cho mái ấm của mình”. Hà Kiều Anh cũng rất mong muốn chị em phụ nữ Việt Nam sẽ ngày càng được gia đình và xã hội trân trọng và tôn vinh hơn, ngày càng vươn tới hình mẫu của người phụ nữ hiện đại: biết cân bằng tốt nhất cuộc sống gia đình và công việc. Với Hà Kiều Anh, sự tự tin, năng động và bản lĩnh chính là bí quyết để cô vượt qua nhiều sóng gió, thành đạt trong sự nghiệp và có một gia đình hạnh phúc. Bên cạnh đó, “bà nội trợ” Hà Kiều Anh cũng rất chú tâm đến việc chăm sóc bản thân mình để luôn giữ được sức khỏe và sắc đẹp, Hoa hậu Việt Nam 1992 còn vui vẻ “bật mí” bí quyết giữ gìn vẻ thanh xuân của mình, đó là: “Hãy chú ý đến thức ăn, vì đó chính là… sắc đẹp của bạn”!

sac-dep-nam-trong-chinh-thuc-an-cua-ban-1

Cá và rau, củ, quả là những thực đơn thường xuyên của “bà nội trợ” Hà Kiều Anh.

Thường thì chúng ta chỉ có thói quen bảo vệ làn da trước nắng, mưa và sự ảnh hưởng của thời tiết chứ ít người để ý đến mối liên hệ giữa làn da và chế độ ăn uống. Nhưng theo nghiên cứu của những nhà khoa học, chính chế độ ăn uống lại có ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe và vẻ đẹp của chúng ta, nhất là vẻ đẹp của làn da phụ nữ… Hà Kiều Anh chia sẻ, cô rất thích ăn cá bởi cũng theo nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới thì những người ăn cá sẽ trẻ đẹp và sống lâu hơn những người ăn thịt… “So với thịt, hàm lượng chất béo của cá thấp hơn, protein trong cá dễ hấp thụ, vì thế dạ dày không phải làm việc nhiều giờ để tiêu hóa, giúp bạn tránh được nguy cơ bệnh đái tháo đường, béo phì…”. Cá thu có công dụng làm bớt mụn da trên mặt, làm xẹp nhanh những mụn bọc. Ngoài ra, trong cá thu, cá cháy, cá hồi, cá xanh còn có axít omega 3 giúp bảo vệ tế bào chống lại sự tấn công của vi khuẩn. Nên ăn cá 3 lần một tuần hoặc có thể uống dầu cá bổ sung mỗi ngày. Thực đơn của “bà nội trợ” Kiều Anh cũng tránh xa thịt ba rọi rán và pho-mát mềm bởi đó là kẻ thù của làn da. Những thức ăn này ăn nhiều có thể làm nghẹt mạch máu và bít lỗ chân lông, làm mất sự co giãn của da, làm giảm sự lưu thông máu dưới da, ngăn cản mồ hôi tiết ra qua các lỗ chân lông. Còn nếu hàng ngày sử dụng quá nhiều đường sẽ có thể khiến làn da trở nên nhăn nheo, nhiều tàn nhang. Theo Kiều Anh, nước đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giữ cho da đẹp vì nó giữ cho da luôn ẩm, thiếu nước làn da sẽ trở nên khô ráp. Mỗi ngày cô uống ít nhất 8 cốc nước, nếu hôm nào tập thể dục thể thao hay làm vườn cô sẽ uống nhiều hơn. Những loại rau lá xanh như cải, mùng tơi, rong biển có công dụng làm tiêu mụn, tăng chất sắt và tăng khả năng đề kháng. Những phụ nữ thiếu chất sắt trong cơ thể thường phát sinh những quầng đen dưới mắt. Chất xanh trong rau cải chứa nhiều chất kẽm rất tốt cho việc chữa trị bệnh ngoài da, có tác dụng giúp giảm thiểu sự tiêu hủy tế bào. Rau cải có nhiều sinh tố A và C hơn các loại rau khác, có công dụng giúp da dẻo dai, không bị nhiễm khuẩn, phòng tránh ung thư da… Các loại củ, quả, hạt như đậu nành, trái dâu, trái dưa tây, cà rốt, cam tươi, mơ, khoai lang… giúp ngừa sự lão hóa của da, làm tăng sinh tố A, C trong cơ thể nên nếu có điều kiện hãy ăn càng nhiều càng tốt… Một thứ nữa mà Kiều Anh khuyên các bà nội trợ không nên bỏ qua, đó chính là dầu olive. Khi cơ thể thiếu chất dầu, da sẽ bị khô. Mỗi ngày nên dùng một muỗng canh dầu olive là đủ cho cơ thể chống lại sự khô da, làm da mềm mại.

Quang Hải

Béo phì do ngồi xem tivi quá nhiều

Theo nghiên cứu của các chuyên gia tại trường Đại học Harvard, hai tiếng ngồi xem tivi mỗi ngày gia tăng nguy cơ béo phì lên 23%.

Khi ngồi xem tivi, cơ thể bạn ở trạng thái yên tĩnh, huyết áp và các hoạt động chuyển hóa giảm, hoạt động cơ bắp không tồn tại, bạn chỉ phải tiêu tốn 20-30 calo/giờ.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia tại trường Đại học Harvard, hai tiếng ngồi xem tivi mỗi ngày gia tăng nguy cơ béo phì lên 23%. Điều này không ngoại lệ dù bạn có tập thể dục, ăn kiêng hay đang trong chế độ giảm cân.

beo-phi-do-ngoi-xem-tivi-qua-nhieu

Trong khi đó, ngồi xem Tivi, tiềm ẩn nhiều “cám dỗ” khiến bạn nạp thức ăn nhiều hơn.

Bạn ăn nhiều hơn

Theo nghiên cứu tại trường Đại học Loughborough về mối liên kết giữa xem tivi và chế độ ăn uống, những người ngồi xem tivi thường có thói quen thưởng thức đồ ăn nhẹ, đồ ăn/ uống nhanh (dạng fastfoods), trong khi ăn rất ít trái cây, rau quả… Những đồ ăn fastfood tiềm ẩn nguy cơ gây béo phì và hệ quả là các bệnh liên quan đến tim mạch.

Thói quen vừa ăn vừa xem tivi cũng gây ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa, bạn bị phân tán sự tập trung và giảm khả năng cảm nhận hương vị của các món ăn. Bạn đồng thời khó kiểm soát được lượng thức ăn nạp vào cơ thể.

Không ăn trong khi xem tivi

Bạn nên luyện tập từ bỏ thói quen vừa ăn vừa xem tivi. Hãy tập trung vào món ăn của mình để lắng nghe những báo hiệu từ cơ thể. Kiểm soát được lượng thức ăn nạp vào cơ thể đồng thời bạn sẽ làm chủ được số đo cơ thể mình.

Cám dỗ bởi các quảng cáo đồ ăn vặt

Các quảng cáo hấp dẫn xung quanh chương trình truyền hình “dẫn dắt” trí nhớ của bạn tới hầu hết các loại thực phẩm có làm lượng chất béo cao, luôn kích thích bạn, dù rằng bạn không thực sự đói hoặc chưa có nhu cầu.

Không ngồi yên một chỗ

Xem tivi không có nghĩa là bạn phải ngồi yên một chỗ. Hãy đa dạng các tư thế như chùng người, tập ngồi xổm hay đi trên máy đi bộ để vừa xem, vừa vận động đốt cháy calo. Trong thời gian quảng cáo, bạn có thể tranh thủ làm việc nhà, dọn bàn ăn, rửa bát… để vận động tích cực hơn

Xem tivi khoa học

Liệt kê các chương trình bạn không có nhiều hứng thú và sắp xếp thời gian xem tivi hợp lí. Ngoài ra, bạn có thể tạo cho mình nhiều công việc khác nhau hơn là lười biếng ngồi trước tivi như đi dạo vào buổi tối, hẹn hò hoặc đi chơi cùng bạn bè.

Nguồn giáo dục

Những loại rau củ quả tốt cho dạ dày

Một số người muốn cải thiện chức năng dạ dày bằng cách sử dụng thuốc. Tuy nhiên, trong thực tế, các loại rau phổ biến có thể bảo vệ dạ dày của bạn một cách hiệu quả. Bao gồm: cà rốt, rau chân vịt, cải bắp, khoai tây, khoai lang và bí ngô.

Cà rốt

Cà rốt là nguồn có chứa carotene dồi dào. Carotene có thể được chuyển đổi thành vitamin A trong cơ thể con người. Theo y học cổ truyền, bạn có thể ăn cà rốt để cải thiện lá lách và gan, tăng cường chức năng đường ruột và dạ dày, bảo vệ mắt và tăng cường miễn dịch đối với các bệnh khác nhau.

Rau chân vịt

nhung-loai-rau-cu-qua-tot-cho-da-day

Nếu bạn thường xuyên ăn rau chân vịt, dạ dày của bạn có thể được bảo vệ tốt.

Rau chân vịt có chứa hàm lượng lớn scellulose. Sự hấp thụ đầy đủ của cellulose có thể thúc đẩy nhu động đường ruột và cải thiện đại tiện. Nếu bạn thường xuyên ăn rau chân vịt, gan, ruột và dạ dày của bạn có thể được bảo vệ tốt. Ngoài ra, ăn rau chân vịt thường xuyên có thể thúc đẩy sự bài tiết của tuyến tụy và cải thiện tiêu hóa.

Cải bắp

Cải bắp chứa rất nhiều vitamin K1 và vitamin U. Sự hấp thu vitamin K1 và vitamin U có thể chống loét dạ dày, bảo vệ màng nhầy và làm giảm nguy cơ mắc bệnh dạ dày cho bạn.

Những bệnh nhân loét dạ dày và loét tá tràng có thể làm giảm bớt các bệnh bằng cách uống nước ép bắp cải. Họ cũng thể thêm mật ong vào nước trái cây để tăng cường sự phục hồi của vết loét.

Khoai tây

nhung-loai-rau-cu-qua-tot-cho-da-day1

Khoai tây có chứa hàm lượng cao của tinh bột. Sau khi tinh bột xâm nhập vào cơ thể của bạn, nó có thể được chuyển đổi nhanh chóng thành glucose. Nó có thể bảo vệ dạ dày của bạn và thúc đẩy nhu động dạ dày và đường ruột bằng cách ăn khoai tây ngọt ngào trong cuộc sống hàng ngày của bạn.

Khoai lang

Khoai lang giàu protein, đường, vitamin, chất béo, canxi, muối vô cơ, sắt …Một lượng vừa đủ khoai lang có thể giúp bạn nuôi dưỡng lá lách, dạ dày, thận và da. Với khoai lang, dạ dày của bạn có thể chống lại cái lạnh trong mùa đông.

Bí ngô

nhung-loai-rau-cu-qua-tot-cho-da-day2

Bí ngô có chứa một lượng lớn Pectin. Pectin có hiệu quả có thể hấp thụ các vi khuẩn và các chất độc hại như kim loại nặng để làm sạch cơ thể của bạn. Đồng thời, pectin có thể bảo vệ dạ dày của bạn và làm giảm bớt loét dạ dày.

Nhiều người muốn tiêu diệt các vi khuẩn trong cơ thể của họ bằng cách ăn bí ngô. Bạn có thể nấu bí ngô vào súp hoặc cháo cho bữa ăn tối.

Những loại rau phổ biến ở trên có thể giúp bạn bảo vệ dạ dày hiệu quả. Bạn nên thường xuyên ăn các loại thực phẩm này. Nếu bạn đang bị đau dạ dày, bạn không nên ăn một số loại thực phẩm khiến bệnh trầm trọng thêm bệnh, chẳng hạn như ớt, thực phẩm không lành mạnh.

Ăn uống thế nào tốt cho dạ dày

Tiến sĩ – Bác sĩ Trần Thiện Trung, Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM cho rằng, ăn uống có vai trò rất quan trọng đối với người bị bệnh loét dạ dày.

Không ăn quá no, nên nhai kĩ, nuốt chậm: Ăn quá no vì sẽ làm dạ dày phồng căng, sinh ra nhiều axít có hại, dễ gây đau. Khi ăn nên nhai kỹ, nuốt chậm, vì trong khi nhai có thể tăng thêm sự bài tiết của nước bọt, nước bọt có tác dụng giảm axít và bão hòa axít có trong dạ dày.

Ăn thức ăn ăn giàu dinh dưỡng, mềm và dễ tiêu hóa: Những thức ăn chính như cháo, mỳ sợi nhỏ, cơm nhão… trong đó ăn những thức ăn làm bằng bột mỳ là tốt nhất. Vì những thức ăn này mềm, dễ tiêu hóa, lại có chất kiềm, có tác dụng làm bão hòa axít trong dạ dày.

Không nên ăn những thức ăn cứng: Các loại quả khô, lương thực cứng, rau cần, hẹ, dưa, măng… là những loại thức ăn khó tiêu hoá, làm hỏng niêm mạc dạ dày, khó lành chỗ loét, thậm chí càng loét thêm.

Tránh những thức ăn có chất hoá học kích thích niêm mạc dạ dày: Cà phê, trà đặc, rượu mạnh, các thức ăn cay, hay những thức ăn dễ sản sinh vị chua và hơi như khoai lang, khoai tây, bánh kẹo, đường dấm, dưa muối là những thức ăn có thể kích thích bài tiết nhiều axít, không có lợi cho việc làm lành chỗ loét.

Ngoài ra, không nên ăn những thức ăn sống, lạnh, tuyệt đối không nên ăn những thức ăn đã biến chất. Tốt nhất là ăn những thức ăn hấp, xào, nấu, ninh; còn những thức ăn rán, chiên, muối, trộn nộm không dễ tiêu hóa, sẽ tăng thêm gánh nặng cho dạ dày, ảnh hưởng đến quá trình làm lành chỗ loét.

Những người bị loét dạ dày, còn phải giữ cho tinh thần luôn vui vẻ, gây dựng thói quen tốt trong sinh hoạt, không nên làm việc quá mệt mỏi, căng thẳng, hút thuốc lá và uống rượu, như vậy mới có thể tránh khỏi sự dày vò của căn bệnh này.

Nguồn giáo dục

Gia vị chữa đầy bụng trong những ngày tết

 Thức ăn khi vào cơ thể sẽ được cơ quan tiêu hóa chọn lọc các chất cần thiết để hấp thu và thải ra ngoài những chất cơ thể không có nhu cầu. Nếu thức ăn tồn đọng lâu trong ống tiêu hóa, sẽ gây ra chứng đầy hơi, trướng bụng, khó tiêu.

Trong những ngày Tết, nếu ăn quá nhiều thức ăn chứa chất béo, tinh bột, đạm, nhiều gia vị, uống nhiều bia rượu; hoặc ăn uống quá nhanh, nhai không kỹ, ăn xong đã đi nằm… bạn sẽ dễ phát sinh chứng đầy hơi, khó tiêu, đặc biệt với những người trong quá khứ có bệnh mạn tính của hệ tiêu hóa như viêm dạ dày, viêm đại tràng, viêm gan, viêm tụy.

Biểu hiện của chứng đầy hơi, khó tiêu là cảm giác nặng bụng, căng trướng vùng thượng vị (dưới xương ức), bứt rứt, ợ hơi, ợ chua, đau âm ỉ, râm ran, có khi kèm táo bón, tiêu chảy hoặc nôn, buồn nôn, mệt mỏi, hơi thở ngắn. Những biểu hiện này có thể tự khỏi, nhưng nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt chung và khó chịu. Bạn có thể dùng các món ăn cũng là vị thuốc dễ tìm có sẵn trong bếp để xử lý như sau:

Gừng: Gừng có vị cay, tính ấm, có tác dụng điều chỉnh tình trạng co thắt cơ trơn dạ dày – ruột, giúp tiêu hóa thức ăn. Có thể dùng gừng dạng tươi hoặc khô.
gia-vi-chua-day-bung-trong-nhung-ngay-tet

– Vài lát gừng tươi, nhai ít một cho đến khi hết cảm giác đầy trướng.

– Giã nhuyễn gừng, pha với nước nóng hoặc với mật ong uống từ từ.

– Pha một muỗng nước gừng + một muỗng nước cốt chanh + một muỗng mật ong với một ly nhỏ ấm rồi uống từ từ.

– Dùng 150g gừng tươi băm nhỏ, phơi hoặc sấy khô trộn với mật ong để ăn từ từ trong ngày.

– Gừng khô 10g, hãm với 100ml nước sôi uống dần trong ngày.

Lưu ý: Phụ nữ đang hành kinh, rong kinh hoặc có thai chỉ nên dùng một lượng ít.

Rau răm: Có vị cay, tính ấm, là vị thuốc giúp kích thích tiêu hóa, trị các chứng đau bụng, đầy hơi. Lấy khoảng 15g rau răm (cả thân và lá), có thể ăn sống hoặc giã nhuyễn vắt lấy nước uống.

Chữa đầy bụng dịp Tết bằng 5 gia vị ngay trong bếp 2

Tỏi: Lấy 15g tỏi giã nát, trộn với 5g đường phèn, hòa tan với 60ml nước ấm, uống dần dần.

Tía tô: Dùng cả lá và thân mềm, khoảng 30g, giã nhuyễn, vắt lấy nước uống hoặc đem chưng cách thủy cho nóng lên rồi uống khi còn ấm, giúp tiêu hóa thức ăn và chống dị ứng do thức ăn hiệu quả.

Nghệ: Một muỗng bột nghệ pha với một ly nước sôi và một muỗng mật ong, uống khi còn ấm, có thể thay bột nghệ bằng vài lát nghệ tươi.

Theo BS Trần Văn Năm, cách tốt nhất vẫn là phòng bệnh, cần thực hiện ăn uống hợp lý, khoa học. Cụ thể, về rau củ, nên ưu tiên các loại vẫn thường dùng ngày Tết nhưng tốt cho tiêu hóa như hẹ, rau dấp cá, tía tô, khoai tây, bưởi, lê, thơm, cam, nho…

Tết không thể thiếu dưa món làm từ tỏi, hành hoặc củ kiệu. Đây là loại củ có thể ngừa chứng đầy hơi, khó tiêu hiệu quả. Trong một số món ăn ngày Tết, nên “cải cách” bằng cách cho ít gừng vào. Thức ăn có gừng sẽ giúp cơ thể chuyển hóa tốt thức ăn dầu mỡ, phòng ngừa rối loạn lipid trong máu khi ăn những món quá nhiều chất béo.

“Nếu sau khi sử dụng các biện pháp trên trong một vài ngày mà chứng đầy hơi, khó tiêu vẫn không khỏi, cần đến bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị phù hợp” – BS Trần Văn Năm khuyến cáo.

Theo Phụ nữ

Liệt thần kinh do nhiễm khuẩn thức ăn

Có nhiều loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn thức ăn, trong đó có vi khuẩn Clostridium botulinum (C. botulinum) là loại có thể gây liệt thần kinh nếu ăn phải thức ăn bị nhiễm vi khuẩn này. Trước, trong và sau Tết là dịp mọi gia đình dùng nhiều loại thực phẩm nên cần phải chú ý đề phòng nhiễm loại vi khuẩn này.

C.botulinum là trực khuẩn có đặc điểm: sống trong điều kiện kị khí tuyệt đối, nghĩa là chúng phát triển trong môi trường không có oxy. Vi khuẩn này tồn tại trong đất, nước, phân động vật, ruột cá, ruột động vật có vú… Chúng xâm nhập vào thực phẩm, sinh độc tố gây ngộ độc cho cơ thể người ăn phải. Trong điều kiện nhiệt độ cao và các yếu tố môi trường bất lợi, vi khuẩn này chuyển thành các bào tử rất bền vững. Khi gặp điều kiện thuận lợi, vi khuẩn phát triển nhanh ở 3 – 43°C, trong môi trường không có oxy, ẩm ướt và độ pH acid yếu (pH> 4,6), bào tử lại biến đổi thành vi khuẩn và phát triển, tiết ra độc tố botulinum. Vi khuẩn gây bệnh ở người thường là C. botulinum týp A, B, E và F. Lưu ý rằng: bản thân vi khuẩn và bào tử của nó không gây ra bệnh mà chỉ độc tố do vi khuẩn sinh ra mới gây bệnh, gây liệt thần kinh.

liet-than-kinh-do-nhiem-khuan-thuc-an

Các trường hợp dễ nhiễm bệnh

Trên thực tế, các trường hợp sau đây dễ nhiễm C. botulinum mắc bệnh: thức ăn dễ nhiễm độc tố vi khuẩn thường là ở rau củ, nước sốt, thịt, hải sản đóng gói bằng phương pháp thủ công. Trẻ nhũ nhi: thường gặp do trẻ ăn mật ong, vì đây chính là nguồn chứa bào tử C. botulinum. Do đó, các bậc cha mẹ không nên cho trẻ dưới 1 tuổi sử dụng mật ong tươi. Khi trẻ ăn phải bào tử của vi khuẩn có trong mật ong, sau đó bào tử nảy nở và sinh độc tố trong ruột của trẻ và gây bệnh. Nhiễm khuẩn đường ruột ở người lớn, cơ chế cũng giống ở trẻ nhũ nhi, nghĩa là cũng do ăn mật ong hay thức ăn bị nhiễm khuẩn. Những người bị thương rất dễ nhiễm khuẩn từ vết thương.

Biểu hiện khi bị bệnh

Độc tố của vi khuẩn C. botulinum là độc tố thần kinh, vì vậy, đặc trưng của bệnh là gây liệt thần kinh cơ. Thời gian ủ bệnh của vi khuẩn C. botulinum nhiễm qua đường tiêu hóa sớm là 6 – 36 giờ, còn muộn là 6 – 8 ngày. Nói chung, thời gian ủ bệnh ngắn hoặc dài tùy thuộc lượng độc tố bị nhiễm nhiều hay ít. Triệu chứng bệnh thường là: nhìn mờ, nhìn đôi, nói khó, nuốt khó, khô miệng, buồn nôn, yếu cơ dần dần ở cả toàn thân. Các trường hợp nhiễm nặng có thể gây liệt cơ hô hấp và gây tử vong. Biểu hiện bệnh ở trẻ nhũ nhi thường thấy là ngủ gà, táo bón, khó bú, khó nuốt, khóc yếu. Đối với các trường hợp bệnh nhân bị nhiễm bệnh từ vết thương cũng có các triệu chứng giống như nhiễm bệnh từ thức ăn, nhưng chỉ khác là thời gian ủ bệnh kéo dài trong khoảng 7 – 14 ngày sau khi bị nhiễm khuẩn. Sở dĩ nhiễm khuẩn qua vết thương cần thời gian ủ bệnh lâu hơn vì vi khuẩn tăng sinh chậm nên phải trong thời gian dài mới có đủ số lượng và mới tiết ra đủ lượng độc tố để gây bệnh.

Việc chẩn đoán bệnh dựa vào kết quả xét nghiệm máu; xét nghiệm: phân, dịch nôn, dịch dạ dày, mẫu thức ăn nghi ngờ nhiễm khuẩn hoặc độc tố để phát hiện được bào tử và vi khuẩn. liet-than-kinh-do-nhiem-khuan-thuc-an-1Phương pháp điều trị

Bệnh nhân phải nhập viện để điều trị nhằm theo dõi chặt các triệu chứng, đo phế dung ký, oxy máu, khí máu động mạch để đánh giá mức độ suy hô hấp. Phải đặt nội khí quản và cho thở máy đối với bệnh nhân bị liệt tiến triển nhanh, hạ oxy máu kèm tăng CO2 máu. Phải dùng kháng độc tố càng sớm càng tốt, vì điều trị giải cảm ứng sớm và tích cực mới ngăn chặn được bệnh tiến triển nặng. Cần dùng thuốc gây nôn hay rửa dạ dày đối với các trường hợp ngộ độc do thức ăn mà thời gian còn sớm. Trường hợp bị thương, phải rửa sạch vết thương và dùng kháng sinh bôi lên vết thương để diệt trừ vi khuẩn ở vết thương, sau đó phải dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ. Chú ý nâng cao thể trạng cho bệnh nhân bằng việc dùng các vitamin nhóm B, C và ăn uống tốt.

Lời khuyên của bác sĩ

Liệt thần kinh do C. botulinum là bệnh nặng, nhưng có thể phòng tránh được bằng các biện pháp dễ thực hiện như sau: chống nhiễm khuẩn thức ăn bằng cách ngăn cản sự phát triển của C. botulinum như: dùng nhiệt độ cao (100oC); tạo môi trường axit (pH< 4.6); chế biến thực phẩm bằng cách làm khô, ướp muối hoặc đường. Tuy bào tử vi khuẩn bền với nhiệt, nhưng độc tố của nó thì dễ bị hủy bởi nhiệt độ cao, vì vậy, dùng phương pháp nấu lại các loại thức ăn đóng gói thủ công ở nhiệt độ 100°C trong 10 – 20 phút là biện pháp phòng bệnh tốt. Đối với thực phẩm đóng gói công nghiệp như thịt hộp, cá hộp, không nên sử dụng nếu thấy hộp bị phồng, rách hay cận đát hoặc đã hết hạn sử dụng.

Bảo quản thức ăn bằng cách: giữ thức ăn chưa dùng ở nhiệt độ dưới 5oC; thịt nên để đông lạnh, chỉ rã đông ngay trước khi nấu. Nên dùng hết thực phẩm đã rã đông, nhưng không cấp đông lại thực phẩm đã rã đông vì có thể bị nhiễm bệnh. Đối với thực phẩm đã nấu chín, phải giữ ở nhiệt độ trên 57oC hoặc dưới 5oC. Rửa tay, dụng cụ, tiếp xúc thức ăn bằng xà phòng sau khi chế biến thức ăn tươi, thịt, cá.

ThS. Nguyễn Thế Minh

Theo SKDS

Những món ăn nguy hiểm khi dùng chung

Với nhiều người, một bữa ăn lớn với đủ loại hương vị rất khoái khẩu. Nhưng một số thức ăn không kèm được với các loại khác, do vậy khi dùng chung sai lầm, người ta có thể không hấp thụ được dưỡng chất trong đó, thậm chí có tác dụng phụ nghiêm trọng.

Cua và quả hồng là một ví dụ điển hình. Khi ăn cùng nhau chúng gây ỉa chảy.

Li Hongyan, một chuyên gia dinh dưỡng cao cấp tại Tập đoàn thực phẩm Tongmai (Thượng Hải) giới thiệu một số lưu ý về các món ăn:

Đậu phụ và cải bó xôi

Khi ăn chung, chúng ảnh hưởng đến việc hấp thụ canxi và có thể dẫn tới lắng đọng trong ruột. Cải bó xôi chứa axit oxalic, có thể phản ứng với canxi trong đậu phụ ở ruột và hình thành các kết tủa canxi oxalate không tan.

Sữa và chocolate

nhung-mon-an-nguy-hiem-khi-dung-chung

Bạn có thể không tin điều này, nhưng sữa và chocolate không hợp nhau. Trong khi sữa giàu protein và canxi, thì chocolate chứa axit oxalic. Khi ăn chung với nhau, chúng cũng tạo thành chất kết tủa canxi oxalate, không tiêu hóa được và có thể gây ỉa chảy.

Sữa và bưởi

Protein trong sữa có thể phản ứng với axit tươi trong bưởi và khiến cho bụng chướng lên. Nếu quá nhiều có thể gây tiêu chảy.

Sữa chua với jăm bông và thịt hun khói

Nhiều người thích ăn bánh sandwich với sữa chua. Tuy nhiên, jam bông và thịt hun khói trong bánh sandwich khi tương tác với sữa chua có thể gây ung thư. Để tăng thời hạn bảo quản thịt, nhà sản xuất bổ sung nitrate để ngăn ngừa sự phân hủy. Nhưng khi nitrate gặp axit hữu cơ, nó có thể chuyển thành nitrosamine, một chất sinh ung thư.

Sữa đậu nành và trứng

Sữa đậu nành chứa các dưỡng chất như protein thực vật, chất béo, carbonhydrat, vitamin và khoáng chất. Uống một mình nó sẽ rất giàu dinh dưỡng. Nhưng nếu ăn chung với sữa, nó thể tạo ra phản ứng khiến cơ thể không hấp thụ được protein. Dĩ nhiên, trứng ăn một mình cũng rất bổ.

Thịt bò và hạt dẻ

Cả hai loại thức ăn này đều tốt cho dạ dày. Tuy nhiên hạt dẻ giàu vitamin C, có thể tương tác với các nguyên tố vi lượng trong thịt bò và làm giảm dưỡng chất của hạt dẻ. Nó cũng không tốt cho tiêu hóa và có thể gây khó tiêu.

Cua và nước chè

Chè chứa nhiều axit tannic như quả hồng, vì thế phản ứng không tốt khi gặp protein trong cua.

Tôm và vitamin C

Nếu bạn ăn tôm và đồng thời ăn nhiều vitamin C trong cùng ngày, bạn có thể gặp nguy hiểm. Tôm chứa hợp chất phản ứng với vitamin C để tạo ra asen độc hại.

Củ cải trắng và cà rốt

Men trong cà rốt có thể phá hủy vitamin C trong củ cải trắng. Để hấp thu dưỡng chất tốt nhất, bạn hãy ăn chúng riêng ra.

Theo VnExpress (Shanghai Daily)

Phòng và phát hiện ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp ở Việt Nam, theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội đứng hàng thứ hai trong các bệnh ung thư. Ung thư dạ dày gặp ở người lớn và mọi lứa tuổi nhưng hiếm khi gặp ở người dưới 50 tuổi, ở nam nhiều hơn ở nữ.

Triệu chứng mơ hồ

phong-va-phat-hien-ung-thu-da-day1

Ung thư dạ dày nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời trước khi lây lan sang các bộ phận khác thì cơ hội điều trị thành công sẽ cao hơn.

Tuy nhiên, các triệu chứng của ung thư dạ dày thường là mơ hồ và không đặc hiệu. Hay gặp nhất là chứng khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ, chướng bụng, ợ hơi, buồn nôn, chán ăn. Những triệu chứng này dễ bị bỏ qua nhưng bạn phải đi khám nếu các triệu chứng này kéo dài hơn 2 tuần. Các biểu hiện khác có thể là: nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng hoặc đi ngoài phân đen.

Do đó, theo PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, Bệnh viện K, để chẩn đoán đúng bệnh, bác sĩ cần phải khám kỹ càng; bệnh nhân được chụp phim Xquang dạ dày dùng thuốc cản quang, nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, sinh thiết chẩn đoán và có thể được chụp ảnh dạ dày qua ống nội soi.

Nếu có chẩn đoán là ung thư dạ dày thì cần làm thêm một số xét nghiệm như chụp cắt lớp vi tính, siêu âm để đánh giá sự phát triển của ung thư đến các cơ quan khác.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

phong-va-phat-hien-ung-thu-da-day

Ung thư dạ dày có mối liên quan chặt chẽ với khẩu phần ăn chứa nhiều chất hun khói, chất bảo quản thực phẩm và ít hàm lượng rau, hoa quả tươi.

Các nghiên cứu được tiến hành tại Mỹ và một số nước phương Tây cho thấy có mối liên quan nhân quả giữa chế độ ăn nhiều chất béo, ít rau với ung thư đại trực tràng.

Còn theo Ban điều hành dự án phòng chống ung thư thuộc chương trình mục tiêu Quốc gia Dự án phòng chống ung thư, trong khẩu phần ăn có nhiều thực phẩm có nguồn gốc thực vật đặc biệt là rau, hoa quả có màu xanh hoặc vàng giảm được nguy cơ mắc ung thư phổi, đại – trực tràng, thực quản và dạ dày.

Ngoài ra, cần tránh xa các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng; ăn nhiều chất hun khói, chất bảo quản thực phẩm; lười vận động hoặc béo phì; cần điều trị viêm loét dạ dày triệt để cũng như  ngăn ngừa tình trạng lây nhiễm khuẩn helicobacter pylori bằng cách chế biến thức ăn an toàn (VD: chỉ mua các loại sữa đã khử khuẩn và đóng chai lọ kín); nấu thức ăn chín kỹ; ăn thức ăn vừa nấu xong; bảo quản cẩn thận thức ăn đã nấu chín; nấu kỹ lại thức ăn chưa sử dụng hết; tránh để lâu thức ăn chín và sống; rửa tay nhiều lần (trước khi ăn, nấu ăn …); dùng nước sạch.

Nguồn dân trí

Rối loạn nuốt và hậu quả

Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn nuốt ở người già. Hàng đầu là các thương tổn thần kinh – cơ như nhồi máu não, xuất huyết não, bệnh Parkinson, xơ cứng cột bên teo cơ, đa u tủy xương, nhược cơ, sa sút trí tuệ. Tiếp đến là nhóm nguyên nhân do tổn thương cấu trúc như tuyến giáp to, phì đại đốt sống cổ, túi thừa Zenker, ung thư…; các rối loạn tâm lý, bệnh mô liên kết (viêm đa cơ, loạn dưỡng cơ…), các nguyên nhân do thầy thuốc (phẫu thuật vùng hầu họng, xạ trị, thuốc…) cũng có thể gây những rối loạn nuốt ở người già.

Nuốt là một quá trình sinh lý nhằm đưa thức ăn, các chất dinh dưỡng, nước… vào đường tiêu hóa. Nuốt gồm bốn giai đoạn: sự chuẩn bị của khoang miệng, quá trình đẩy thức ăn xuống của khoang miệng, hầu họng và thực quản. Các giai đoạn này có sự tham gia phối hợp của miệng, hầu họng, thanh quản và thực quản.

Việc suy giảm chức năng các cơ quan, đặc biệt là não bộ ở người già thường gây rối loạn quá trình nuốt như việc suy giảm hoặc mất các phản xạ bảo vệ trong đó có phản xạ đóng nắp thanh môn khi nuốt.

roi-loan-nuot-va-hau-qua

Biểu hiện của các rối loạn về nuốt ở người già rất phong phú và đa dạng. Rối loạn nuốt do miệng và hầu họng thường gây ho, nghẹn, khó nuốt, cảm giác thức ăn vướng ở họng… Rối loạn nuốt do thực quản thường có cảm giác vướng thức ăn trong họng hoặc trong ngực dọc theo xương ức, nghẹn trong ngực. Bên cạnh đó, rối loạn nuốt nói chung thường gây tăng tiết nước bọt, sặc thức ăn lên mũi, ho sặc do thức ăn rơi vào khí quản…

Rối loạn nuốt ở người già có thể gây nhiều hậu quả từ nhẹ đến nặng. Nhẹ nhất cũng là viêm mũi họng, nói khàn, thay đổi thói quen ăn uống. Nếu nặng hơn, bệnh nhân sợ ăn, uống, thậm chí sợ cả nuốt… nước bọt. Điều này sẽ dẫn đến mất nước, điện giải, sụt cân, suy kiệt nặng. Nhưng nguy hiểm nhất là bệnh nhân bị sặc thức ăn, nước, nước bọt…vào phổi gây nên ho, viêm phổi kéo dài và tái đi tái lại. Nhiều trường hợp, lượng dị vật vào phổi quá nhiều gây ho dữ dội, co thắt thanh quản, suy hô hấp cấp và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Trước khi điều trị các rối loạn nuốt, phải đánh giá thật cụ thể mức độ và vị trí tổn thương cũng như nguyên nhân gây ra rối loạn nuốt. Việc đánh giá dựa vào thăm khám kỹ lưỡng vùng họng miệng, thanh quản, khám phát hiện các tổn thương phổi (thường là phổi phải). “Nuốt đồ ký – ghi hình quá trình nuốt” có cản quang là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán các rối loạn về nuốt. Có thể nội soi thực quản, làm điện cơ, chụp CT, MRI sọ não… để xác định nguyên nhân.

Mục tiêu điều trị rối loạn nuốt là tránh viêm phổi hít phải (do sặc), cải thiện khả năng ăn uống để đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân. Các biện pháp bao gồm tìm dạng thức ăn thích hợp, ví dụ bệnh nhân khó nuốt thức ăn cứng thì chuyển chế độ thức ăn mềm hơn, bệnh nhân grain sặc chất lỏng thì chuyển chế độ ăn đặc…

Điều trị phục hồi chức năng nuốt bằng “liệu pháp nuốt” gồm ba phương pháp: hỗ trợ bù khi nuốt, luyện tập tăng cường chức năng các cơ nhai – nuốt và luyện tập khi đang trong quá trình nuốt. Liệu pháp này nhằm làm giảm khả năng sặc thức ăn vào phổi và tránh ứ đọng thức ăn trong miệng. Phẫu thuật cắt cơ nhẫn – hầu để làm thông thoáng đường thức ăn xuống thực quản cũng có thể được áp dụng. Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, mở thông dạ dày – hỗng tràng qua nội soi được chỉ định cho một số trường hợp nặng.

Dự phòng bằng cách nào?

Dự phòng viêm phổi do rối loạn nuốt ở người già bằng cách: nghỉ ngơi trước ăn 30 phút; ngồi khi ăn; ăn miếng nhỏ, thức ăn mềm thích hợp; không nói chuyện, xem ti vi, đọc báo… làm mất tập trung khi đang ăn. Tránh dùng các thuốc an thần, gây ngủ ngoài chỉ định. Làm rỗng dạ dày bằng các thuốc như erythromycin, motilium… Vệ sinh răng miệng thường xuyên để tránh viêm phổi hít phải và hết sức chú ý nếu bệnh nhân đang ăn bị sặc phải biết cách cấp cứu như một hội chứng dị vật thâm nhập đường thở.

Nguồn sức khỏe đời sống

Thực phẩm dễ gây sâu răng

Nguyên nhân khiến bé bị sâu răng chủ yếu là do khi bé ăn các thực phẩm có chứa nhiều chất đường mà không vệ sinh răng sạch sẽ. Thông thường, chỉ 15 phút sau khi ăn, các vi sinh vật sinh này sẽ hấp thu và tiêu hóa chất đường, biến đường thành axit hữu cơ làm mất khoáng men răng dẫn đến sâu răng. Những thực phẩm dễ gây sâu răng cho trẻ gồm:

– Thực phẩm có chứa chất đường:

thuc-pham-de-gay-sau-rang

Trẻ em thường thích ăn thức ăn ngọt như: Kẹo trái cây, kẹo bông gòn, “si rô đá bào”, các loại trà sữa, nước ngọt… các thực phẩm này chủ yếu được chế biến từ đường (đường saccarose, loại đường gây sâu răng nhiều nhất), hương liệu, phẩm màu… Ngoài ra, trong nước ngọt có gas còn có chứa hàm lượng lớn axit gây bào mòn men răng.

– Các loại thức ăn có tính dính như:

Khoai lang, khoai tây, thức ăn được chế biến từ nếp và các loại bột (xôi, bánh trung thu, bánh cốm), bánh snack… Các thực phẩm này, ngoài đường còn có chứa nhiều tinh bột, là một loại đường đa cũng có khả năng gây sâu răng, ngoài ra nó tạo những mảng bám rất khó làm sạch, giúp các vi khuẩn gây sâu răng như streptococcus mutans, lactobacillus acidophillus… phát triển thuận lợi.

– Thực phẩm có tính axit:

Các loại “thức ăn đường phố” yêu thích của trẻ như: Cóc ngâm, xoài  dầm chua, me ngào, mứt chùm ruột, cà na … bên cạnh lượng đường cho vào khi chế biến dễ gây sâu răng, bản thân các loại trái cây chua có chứa nhiều axit gây mòn men răng.

Nguồn gia đình

Cần giảm cân đúng cách để bảo vệ sức khỏe

 Nguy cơ bệnh tim mạch

Hai dạng béo phì thường gặp là: mỡ thừa tập trung tại vùng bụng, thường gặp ở nam giới (gọi là “bụng bia” hay người hình quả táo) và tích lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả lê). Kiểu béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột qụy.

Các phương pháp giảm cân nhanh thường chỉ mang lại tác động giảm lượng nước trong cơ thể mà không có tác động làm giảm khối mỡ trong cơ thể đặc biệt là lượng mỡ trong máu. Lượng mỡ trong máu cao khiến hàm lượng cholesterol trong máu cũng tăng cao. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột qụy tim mạch tăng cao theo tuyến tính. Các nhà khoa học khuyến cáo, nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90% vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, cố gắng duy trì con số này dưới 80%.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe
Hội chứng rối loạn chuyển hóa

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: năng lượng dư thừa là nguyên nhân chính của thừa cân – béo phì. Nhưng, giảm cân bằng cách cắt giảm triệt để việc dung nạp thức ăn vào cơ thể lại khiến cơ thể thiếu các loại chất béo, đạm, vitamin và các khoáng chất thiết yếu. Đây là nguyên nhân khiến cơ thể không thể tổng hợp các chất cần thiết làm rối loạn quá trình chuyển hoá và gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng như: rối loạn mỡ máu, tiểu đường, suy nhược sinh dục…

Suy nhược cơ thể, mất tập trung

Nhịn ăn, bỏ bữa và tránh xa các loại thịt cá là một trong những sai lầm nghiêm trọng của những người đang muốn giảm cân. Thực tế, khi nhịn ăn hoặc thực hiện chế độ ăn kiêng bất hợp lý, đồng nghĩa với việc lượng calo và dưỡng chất đưa vào cơ thể bị cắt giảm nghiêm trọng. Điều này không những không đảm bảo đủ năng lượng cho nhu cầu hoạt động hàng ngày mà còn khiến cơ thể thiếu chất. Trong quá trình giảm cân, nếu cơ thể rơi vào tình trạng uể oải, mệt mỏi, mất tập trung, chuyên gia khuyên bạn nên dừng ngay quá trình giảm cân và tìm kiếm một phương pháp giảm cân mới phù hợp hơn với thể trạng của bạn.

Cách giảm cân an toàn

Kiểm soát chế độ ăn: Một trong những vấn đề quan trọng nhất để giảm cân đó chính là có thực đơn ăn uống khoa học. Bí quyết được các chuyên gia đưa ra đó là: bổ sung nhiều rau và hoa quả vào bữa ăn hàng ngày, hạn chế ăn các chất béo và uống các dạng nước có cồn, nước ngọt; không nên ăn sau 20h.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe1
Tập luyện nhẹ: Mỗi ngày bạn nên dành ra khoảng 20 phút để tập một bài thể dục nhẹ hoặc đi bộ. Việc này vừa giúp cho bạn giảm được cân, vừa giúp nâng cao sức khỏe, giải tỏa căng thẳng và giúp đem lại giấc ngủ ngon.

Uống mỗi ngày 2l nước lọc: Uống nước để giảm cân là một phương pháp khoa học và đã được chứng minh rõ ràng. Nếu bạn không uống nước, các chất béo trong cơ thể sẽ rất khó tiến hành trao đổi chất và kết quả là khiến cho trọng lượng cơ thể tăng lên nhiều. Chức năng tiêu hóa của cơ thể cần nước, chức năng nội tiết cũng vậy, sự chuyển hóa các chất độc hại dựa vào nước để loại bỏ độc tố ra ngoài, uống nước đầy đủ còn có thể tránh rối loạn tiêu hoá. Bạn có thể uống nước nửa giờ sau khi ăn để hỗ trợ quá trình này.

Sử dụng các sản phẩm hỗ trợ giảm cân: Giải pháp được các chuyên gia khuyên dùng dành những người bận rộn hoặc đã thực hiện các bước giảm cân trên mà không hiệu quả là sử dụng sản phẩm hỗ trợ giảm cân. Bạn lưu ý nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có giấy phép của Bộ Y tế như LiteFit USA.

Phương Thảo

Theo sức khỏe đời sống

Những lỗi thường gặp cho bữa sáng của bạn

Bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày, tuy nhiên không phải ai cũng biết ăn sáng sao cho đúng.

Nhịn ăn sáng không tốt cho sức khỏe nhưng ăn sáng không đúng cách cũng không có lợi. Nó không những khiến bạn mệt mỏi, thiếu năng lượng mà thậm chí còn ảnh hưởng đến trọng lượng của bạn. Dưới đây là những sai lầm khi ăn bữa sáng mà bạn nên biết để tránh.

1. Ăn sáng ngay sau khi ngủ dậy

Thực tế, ăn sáng ngay sau khi ngủ dậy lại không tốt cho sức khỏe, thậm chí còn có hại cho dạ dày.

Sau một giấc ngủ dài, hầu hết các cơ quan của cơ thể vẫn lưu lại một phần của bữa ăn tối. Cơ quan tiêu hóa vẫn cần thời gian để “xử lý” và hấp thụ nốt phần ăn đó. Nếu bạn ăn bữa sáng quá sớm, thức ăn sẽ chất chồng với nhau, ảnh hưởng đến đường tiêu hóa.

Vì vậy, khi ngủ dậy, bạn nên vận động, nghỉ ngơi và ăn sáng sau đó khoảng 20-30 phút.
an-sang
2. Ăn đồ ăn lạnh

Cho dù đó là mùa hè thì bạn cũng không nên ăn đồ lạnh trong bữa sáng. Buổi sáng, cơ thể bạn bao gồm cơ bắp, thần kinh, mạch máu đang ở trạng thái co lại. Nếu bạn ăn thực phẩm lạnh sẽ khiến lưu lượng máu trong cơ thể khó lưu thông… ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, lâu ngày dẫn đến táo bón, giảm sức đề kháng của cơ thể.

3. Uống nước sinh tố hoa quả thay vì ăn hoa quả tươi

Bạn thích xay hoa quả để làm sinh tố cho bữa sáng hơn là ăn hoa quả tươi. Điều này có thể thỏa mãn khẩu vị của bạn nhưng bạn cần nhớ rằng, hoa quả sau khi xay qua máy xay sinh tố sẽ bị giảm một lượng đáng kể các chất vitamin, khoáng chất và chất xơ. Thay vào đó, bạn nên uống nước lọc và ăn hoa quả tươi để đảm bảo dinh dưỡng và tránh bổ sung nhiều calo, đường vào cơ thể như với sinh tố hoa quả.

4. Ăn một bữa ăn sáng như cho trẻ em

Vì lo sợ tăng cân nên bạn chọn cho mình chế độ ăn uống với lượng thực phẩm ít ỏi như dành cho trẻ em. Tuy nhiên, đây không phải là lựa chọn tốt cho bạn. Bữa sáng là bữa ăn quan trọng vì nó cung cấp năng lượng cho cơ thể để hoạt động trong một ngày mới. Nếu ăn một bữa ăn quá ít calo, lượng calo cung cấp và chuyển hóa thành năng lượng không đủ sẽ khiến cho bạn nhanh chóng bị uể oải, mệt mỏi và đói bụng trước giờ ăn trưa.

5. Ăn đồ ăn thừa từ hôm trước

Không ít người có thói quen ăn đồ ăn thừa còn lại từ hôm trước vào bữa sáng hôm sau. Điều này có thể không gây nhiều ảnh hưởng nếu thực phẩm đó được bảo quản tốt.

Trong một vài trường hợp, thức ăn không giữ lại giá trị dinh dưỡng toàn vẹn sau thời gian dài lưu trữ, thậm chí có những loại thức ăn còn có thể sản sinh ra nitric có hại cho sức khỏe con người. Nếu bạn ăn phải những thức ăn này thì sẽ có thể bị đau bụng hoặc rối loạn tiêu hóa, năng lượng cung cấp cho cơ thể cũng thấp nên bạn sẽ không cảm thấy khỏe khoắn trong một ngày mới.
an-sang-1

6. Uống nhiều cà phê hoặc trà vào bữa sáng

Một tách cà phê hoặc trà có thể giúp thúc đẩy tâm trạng và tăng sự trao đổi chất của bạn, nhưng bạn không nên uống quá nhiều.

Caffeine có trong cà phê, trà sẽ kích thích sản xuất hormone gây stress trong cơ thể, tạo cảm giác ngon miệng và thèm ăn khiến bạn ăn nhiều, tăng cân. Đồng thời, caffeine còn có tác dụng kích thích làm tăng tiết axit dịch vị, ảnh hưởng đến dạ dày.

7. Ăn buffet cho bữa sáng

Một bữa ăn buffet sẽ khiến bạn khó xác định được lượng calo mình tiêu thụ cũng như các loại thực phẩm bạn ăn. Do đó, bạn dễ gặp phải sai lầm trong lựa chọn thực phẩm (chọn nhiều đồ ăn chứa đường, dầu mỡ…), khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, uể oải trong buổi sáng, giảm sự tập trung trong công việc. Thậm chí, bạn sẽ có nguy cơ tích thêm nhiều mỡ vào cơ thể nếu thường xuyên ăn sáng theo cách này.

8. Vừa đi vừa ăn

Để tiết kiệm thời gian, không ít người có thói quen vừa đi vừa ăn hoặc ăn trong lúc chờ xe bus… Tuy nhiên, điều này lại có thể khiến cho dạ dày của bạn phải làm việc vất vả hơn. Đây cũng chính là lý do khiến nhiều người bị chứng đau dạ dày hoặc rối loạn tiêu hóa, thường xuyên đau bụng.

Theo aFamily.vn/Pháp Luật Xã Hội

Đánh tan đầy bụng, khó tiêu bằng thực phẩm

Trong một số trường hợp, triệu chứng đầy bụng, khó tiêu còn khiến bạn cảm thấy buồn nôn và rất muốn nôn. Làm sao để nhanh chóng loại bỏ cảm giác khó chịu này.

Đầy bụng, khó tiêu là một trạng thái vô cùng khó chịu. Những người bị đầy hơi, chướng bụng là do hơi được sinh ra trong quá trình chuyển hóa thức ăn không ra ngoài theo đường hậu môn (trung tiện) mà lại đi ngược lên thực quản do cơ thắt thực quản bị giãn ra và được đưa ra ngoài bằng đường miệng bởi triệu chứng ợ.

day-lui-chung-day-bung-kho-tieu-ngay-lap-tuc-nho-thuc-pham

Nguyên nhân đầy bụng, khó tiêu là do bạn ăn uống vô độ, ăn nhiều thực phẩm giàu chất đạm, béo, đường hoặc uống quá nhiều rượu gây ra.

Trong một số trường hợp, triệu chứng đầy bụng, khó tiêu còn khiến bạn cảm thấy buồn nôn và rất muốn nôn. Cảm giác buồn nôn cũng có thể đi kèm với triệu chứng hoa mắt, chóng mặt.

Bạn chỉ muốn nhanh chóng loại bỏ cảm giác khó chịu này. Vậy phải làm sao?

Cách đơn giản nhất để đẩy lùi triệu chứng đầy bụng, khó tiêu là hãy ăn các loại thực phẩm như dưới đây nhé:

– Ăn dứa: Dứa có chứa bromelain và đây là một loại enzyme có tác dụng thúc đẩy tiêu hóa, giảm bớt hơi bị ứ đọng và di ngược lên thực quản, từ đó giảm cảm giác bị đầy bụng. Những người bị bệnh thận không nên ăn dứa vì trong dứa giàu bromelain, sẽ làm hòa tan hemaleucin và casein ở thận, làm suy giảm chức năng của thận.

– Ăn đu đủ: Trong đu đủ có chứa papain, một loại enzyme tiêu hóa có chức năng phá vỡ thức ăn và tiêu hóa hết protein, giải phóng khí và hơi trong bụng. Từ đó, thức ăn được chuyển hóa hết và không gây đầy bụng. Tuy nhiên, những người bị viêm loét dạ dày hoặc các bệnh dạ dày khác nên tránh ăn đủ đủ vì nó có thể khiến bệnh trầm trọng hơn.

– Ăn cần tây: Cần tây giúp giảm bớt lượng nước trữ trong cơ thể vì nó có tác dụng như một loại thuốc lợi tiểu. Khi lượng nước trong cơ thể giảm đi thì chứng đầy bụng cũng được đẩy lùi.

– Ăn măng tây: Măng tây khuyến khích sự phát triển của vi khuẩn “tốt” trong đường ruột. Các vi khuẩn này có tác dụng làm giảm sự gia tăng của khí trong dạ dày và giảm chứng đầy bụng.

– Ăn sữa chua: Tuy sữa dễ gây đầy hơi nhưng sữa chua lại tốt cho đường ruột do chứa vi khuẩn lactobacillus, giúp tiêu diệt các vi khuẩn có hại gây đầy hơi.

– Tiêu thụ hạt tiêu đen: Tinh dầu của hạt tiêu đen có tác dụng xoa bóp dạ dày và tiêu hóa thức ăn, nhờ đó, không còn hiện tượng thức ăn và khí hơi lưu lại ở dạ dày nên tránh được tình trạng đầy bụng.

– Uống trà bạc hà trà: Trà bạc hà hỗ trợ tiêu hóa bằng cách giúp thức ăn được “xử lý” qua dạ dày một cách nhanh chóng. Bạn có thể dùng trà bạc hà đóng gói sẵn trong túi hoặc lá bạc hà tươi vì cả hai đều có tác dụng loại bỏ chứng đầy hơi, đày bụng khó chịu.

Ngoài ra, nếu không áp dụng những cách trên, bạn có thể trị đầy bụng bằng các cách sau đây:

– Uống trà gừng nóng, chiêu từng ngụm nhỏ.

– Uống nước chanh gừng, gồm nước ấm pha với một thìa mật ong, hai thìa nước cốt chanh và vài lát gừng.

– Ăn vài lát gừng tươi chấm muối.

– Xoa nhẹ nhàng vùng bụng, xoa vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới rồi quay lại. Có thể bôi chút dầu nóng khi thoa.

Theo afamily

Ăn chay khoa học để giảm cân

Một số chị em tiến hành giảm cân bằng cách thực hiện chế độ ăn chay. Tuy nhiên, cách giảm cân kiểu này có thể hiệu quả với người này, nhưng chưa chắc đã hữu ích với người kia.

Một số chị em tiến hành giảm cân bằng cách thực hiện chế độ ăn chay. Tuy nhiên, cách giảm cân kiểu này có thể hiệu quả với người này, nhưng chưa chắc đã hữu ích với người kia.

Nhiều nghiên cứu chứng minh, ăn chay có giúp ích cho việc giảm cân, nhưng không phải ăn thế nào cũng được. Muốn giảm cân bằng cách ăn chay, hãy chú ý 5 điều dưới đây.

1. Ăn chay với lượng vừa phải

Đừng cho rằng cứ ăn chay là được phép ăn no bụng tùy ý, có một vài thực phẩm dù có nguồn gốc thực vật nhưng nếu bạn ăn quá nhiều, cũng có thể gây béo phì, chẳng hạn như các loại hạt, sữa chua hạnh nhân… Giảm béo và ăn chay thực ra không lại có mối liên hệ khá phức tạp. Không phải cứ ăn chay là bạn sẽ giảm cân. Nếu bạn tiêu thụ quá nhiều chất carbonhydrate trong bánh mì, mỳ ống theo chế độ ăn chay, bạn vẫn có thể tăng cân.

an-chay

Một người trưởng thành, nếu nạp tinh bột vượt quá 400g/ngày, sẽ có nguy cơ béo phì. Bởi vì bản thân chúng ta không thể tiêu thụ hết lượng carbonhydrate dư thừa, nếu nạp quá nhiều, những carbonhydrate dư thừa này sẽ chuyển hóa thành chất béo, từ đó khiến bạn ngày càng béo hơn! Muốn giảm cân, tốt nhất bạn chỉ cần nhớ kỹ hãy ăn nhiều đồ ăn ít béo, ít đường.

2. Nấu ăn đúng cách

Cách nấu nướng liên quan đến tổng số lượng calo cuối cùng nạp vào cơ thể bạn, vì thế nó vô cùng quan trọng. Cho dù thực đơn của bạn toàn là rau và hoa quả, thì tốt nhất cũng không nên chiên dầu, hãy cố gắng lựa chọn cách luộc và hấp. Nếu nhất định phải ăn rau xào, hãy hạn chế dầu ăn. Loại dầu ăn được coi là tốt cho chế độ ăn chay nhằm giảm cân dầu ôliu.

Còn về gia vị, bạn cũng nên hạn chế dùng các loại gia vị như tương mè, tương đậu, kem, phô mai… thay vào đó hãy thêm một chút gia vị cay nếu bạn đang có mục đích giảm cân.

3. Nên tự chế biến thức ăn

Những thực phẩm chế biến sẵn trên thị trường thường giàu calo, hơn nữa khi ăn xong vẫn cảm thấy đói. Còn khi tự chế biến thức ăn, bạn sẽ biết nên cắt giảm những gì để hạn chế lượng calo mà vẫn giúp bạn ngon miệng, ví dụ như thay đổi các loại gia vị hoặc dầu ăn, hạn chế cho nhiều muối…

Vậy nên, hãy ăn nhiều thực phẩm tự nhiên và có hàm lượng calo thấp như những món ít béo, tách kem, lúa mạch…Với đồ uống thì nên chọn nước lọc hoặc trà, những thứ này đều giúp bạn hạn chế nạp quá nhiều calo.

4. Uống nhiều nước

Cho dù bạn có ăn chay hay không, thì nước vẫn rất cần cho cơ thể, đặc biệt là khi bạn muốn giảm béo. Đừng nghĩ rằng, ăn chay với các loại thực phẩm từ tự nhiên có thể cung cấp một lượng nước lớn cho cơ thể. Mặc dù các thực phẩm từ rau củ quả có thể có chứa một lượng nước nhất định nhưng lượng nước đó không thể thay thế nước bạn cần uống hàng ngày.

Uống nước không những giúp bạn đỡ khát mà còn tạo điều kiện tiêu hóa thức ăn tốt hơn do nó thúc đẩy hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, đồng thời còn giảm được lượng mỡ tích tụ. Nếu bạn muốn uống nước hoa quả, hãy pha thêm nước lọc để bớt lượng đường.

5. Không ăn đường
Hậu quả của việc ăn đường đó là càng muốn ăn nhiều đường hơn. Bởi vì đường có thể khiến nồng độ đường trong máu của bạn cao thấp không ổn định, từ đó kích thích vị giác của bạn khiến bạn luôn muốn ăn nữa. Vì thế, hãy cố gắng loại bỏ đường ra khỏi chế độ ăn uống của bạn. Nếu lên cơn thèm đường, hãy thay thế bằng hoa quả.

Theo Tri thức trẻ

Sỏi đường tiết niệu

Sỏi tiết niệu là nguyên nhân thứ ba gây suy thận mạn tính. Thống kê trung bình tại bệnh viện Bạch Mai, khoa Tiết niệu Việt Đức, học viện Quân y cho thấy từ 25 – gần 30% bệnh nhân bị cắt thận trong số những người mắc sỏi thận gây viêm thận, bể thận. Tỉ lệ tái phát của sỏi thận là từ 10 – 50%.
Nguyên nhân, triệu chứng của bệnh

Sỏi tiết niệu là những khối tinh thể kết tụ một số thành phần trong nước tiểu ở đường niệu trên (chủ yếu từ can-xi). Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 20 – 60, trong đó, nam dễ mắc bệnh hơn nữ.

Bệnh thường do các dị tật bẩm sinh làm ứ đọng nước tiểu như bệnh Cacchi-Ricci, hẹp khúc nối bể thận – niệu quản, thận đa nang, sa niệu quản, niệu quản đôi… hoặc do nhiễm khuẩn đường niệu; mất mồ hôi nhiều, mắc bệnh tiêu chảy mạn… Bệnh cũng khởi phát từ chế độ ăn uống, sinh hoạt không hợp lý. Ví dụ như, uống quá ít nước, ăn quá nhiều thức ăn giàu protein, đường, natri, oxalat…

nuoc-uong4-90ffd

Cơn đau của bệnh này thường đến đột ngột, rất dữ dội và chỉ ở một bên. Đau bắt đầu ở vùng thắt lưng rồi lan sang phía bụng, nách và các cơ quan sinh dục. Có lúc đau giảm đi nhưng sau đó lại xuất hiện cơn khác dữ dội hơn. Bệnh nhân có thể nôn, buồn nôn, ra mồ hôi, mạch nhanh nhưng không sốt; buồn tiểu nhưng lại không cảm thấy dễ chịu sau khi tiểu.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Để phòng bệnh, cần bắt đầu từ nguyên nhân gây bệnh mà chủ yếu bắt nguồn từ lối sống, thói quen ăn uống và sinh hoạt. Cụ thể là: Hạn chế chất can-xi, protein, oxalat, purin, thức ăn mặn… Nên uống từ 2 – 3 lít nước mỗi ngày, bảo đảm bài tiết 1,5 lít nước tiểu hằng ngày và nên dành thời gian vận động. Không nên ăn quá nhiều đậu nành vì nó chứa rất nhiều oxalat, ăn quá nhiều sẽ khiến can-xi và oxalat kết dính thành khối gây ra sỏi thận.

Tùy theo nguyên nhân gây sỏi, người bệnh cần có chế độ ăn khác nhau:

Sỏi canxi: Giới hạn lượng can-xi đưa vào <600 mg/ngày, gia tăng chất xơ (từ rau và trái cây). Không nên dùng các loại nước “cứng”.

Sỏi oxalat: Không ăn măng tây, đậu cô ve, củ cải đường, đào lộn hột, rau diếp, đậu bắp, nho, mận, khoai lang và trà. Cảnh giác với thức ăn chua hay các viên vitamin C liều cao.

Sỏi axit uric: Các sỏi này liên quan đến chuyển hóa purin và đôi khi là một biến chứng của bệnh gút. Nên giảm ăn những chất có purin (thức ăn quá nhiều đạm).

Sử dụng liệu pháp đến từ thiên nhiên để điều trị

Các nguyên tắc chính trong điều trị sỏi đường tiết niệu như sau: Điều trị nội khoa (không cần mổ) được áp dụng đối với sỏi không gây bế tắc, không gây triệu chứng, không có nhiễm trùng. Sỏi nhỏ hơn 4-5mm có thể tự ra theo dòng nước tiểu, bệnh nhân được khuyên nên uống nhiều nước. Sỏi niệu quản có kích thước nhỏ hơn 4mm thì 90% sẽ tự tiểu ra. Sỏi lớn hơn 6mm thì khả năng tiểu ra sỏi chỉ khoảng 20%. Sỏi đường tiết niệu gây nhiễm trùng hoặc bế tắc có chỉ định can thiệp ngoại khoa càng sớm càng tốt. Tùy kích thước và vị trí của sỏi trên đường tiết niệu và đặc điểm bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị khác nhau như: mổ mở, tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL), phẫu thuật nội soi lấy sỏi qua da (PCNL), nội soi bàng quang niệu quản tán sỏi, phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản. Mỗi phương pháp có những chỉ định cũng như ưu nhược điểm khác nhau.

Xu hướng trở về với thiên nhiên trong chữa trị bệnh đã và đang được sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới bởi giá thành điều trị thấp, tránh được các biến chứng xấu của phẫu thuật, giảm tác dụng phụ so với các thuốc sử dụng nguyên liệu tổng hợp nhưng vẫn đạt hiệu quả mĩ mãn.

Chế độ ăn cần thiết cho tuổi dậy thì

Nếu không cung cấp đúng và đủ trẻ sẽ bị thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến chậm hoàn thiện và phát triển các bộ phận cơ thể.

Khi trẻ bước vào giai đoạn dậy thì mỗi ngày cần 2.200 -2.400 calo, tương đương với lượng ăn của người trưởng thành. Nếu không cung cấp đúng và đủ trẻ sẽ bị thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến chậm hoàn thiện và phát triển các bộ phận cơ thể.

Dậy thì là lúc trẻ phát triển mạnh, nhanh về thể lực, sự thay đổi của hệ thần kinh, nội tiết mà nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục tăng lên gây ra những biến đổi về hình thức và sự tăng trưởng của cơ thể trẻ. Lúc này, ngoài sự phát triển và hoàn thiện cơ thể cũng là lúc trẻ hoạt động nhiều nhất, nên cần phải có một chế độ dinh dưỡng thật tốt cho trẻ ở giai đoạn này.

chedoanchotuoidaythi
Chất đạm: Trẻ dậy thì cơ bắp giai đoạn này phát triển nên lượng đạm cần cao hơn người trưởng thành. Chất đạm chiếm 14-15% tổng số năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày. Lượng đạm lấy từ thực phẩm như thịt, cá, tôm, cua, trứng sữa… Trong đó đạm động vật là tốt nhất vì thức ăn có nguồn gốc động vật chứa nhiều sắt – chất sắt có vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu.

Chất béo: Dầu, mỡ không chỉ giúp trẻ ăn ngon miệng mà còn là nguồn cung cấp năng lượng tốt và giúp cơ thể hấp thu các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. Ở giai đoạn này cần cả chất béo no có trong thức ăn chứa nhiều đạm động vật và chất béo không no trong dầu ăn và cá, nên cho trẻ ăn cả mỡ động vật và dầu thực vật, khoảng 40 – 50gr mỗi ngày.

Chất bột: Là chất cung cấp năng lượng chính cho cơ thể chiếm60 – 70% năng lượng có trong gạo, bột mì, và sản phẩm chế biến, khoai, củ… Nên chọn lựa những loại bột đường thô để cung cấp chất xơ tốt cho đường tiêu hóa và phòng chống béo phì.

Canxi: Canxi rất cần thiết cho lứa tuổi dậy thì, nếu được cung cấp đủ sẽ giúp xương chắc khỏe và độ đậm xương đạt mức tối đa giúp trẻ phát triển tốt về chiều cao và phòng được bệnh loãng xương sau này. Mỗi ngày trẻ cần 1.000 – 1.200mg can xi. Can xi có nhiều trong sữa, cả sữa bò và sữa đậu nành, các loại thủy sản, xương cá (nên kho nhừ cá để có thể ăn cả xương). Nên uống 400 -500ml sữa/ ngày.

Chất sắt: Bé gái khi bước vào tuổi dậy thì cần lượng sắt nhiều hơn bé trai do mất máu trong chu kỳ kinh nguyệt. Nên bé trai chỉ cần 12 – 18 mg sắt/ngày trong đó bé gái cần tới 20 mg sắt/ngày. Chất sắt có nhiều trong thịt, phủ tạng động vật:gan, tim, bầu dục…, lòng đỏ trứng, đậu đỗ, rau xanh có nhiều vitamin C giúp hấp thu sắt tốt hơn… Nếu thiếu sắt trẻ sẽ bị thiếu máu gây ra các triệu chứng mệt mỏi, hay quên, buồn ngủ, da xanh…
Các vitamin: Đây là những vi chất dinh dưỡng cần thiết chocơ thể. Thiếu vitamin A có thể gây bệnh ở mắt, nhiễm khuẩn đường hô hấp vàđường tiêu hóa; chậm phát triển chiều cao. Khi thiếu vitamin C, quá trình tổnghợp collagen gặp trở ngại, làm giảm quá trình hình thành tế bào ở các thành mạch, mô liên kết, xương, răng, giảm sức đề kháng.

Theo SKĐS

Những triệu chứng của bệnh tiểu đường

Một số dấu hiệu chức năng có thể giúp dự báo tình trạng tiền tiểu đường. Chúng là những dấu hiệu đầu tiên về rối loạn chuyển hóa đường trong cơ thể bạn và nếu được chú ý phát hiện sớm, bạn có thể phòng tránh được bệnh tiểu đường thực sự trước khi nó xảy ra.

1. Cảm giác mệt mỏi hay buồn ngủ sau khi ăn

Hầu như mọi thức ăn đều có chứa một lượng glucose nhất định. Rất nhanh sau khi thức ăn vào dạ dày, số glucose này sẽ đi vào máu và phát tín hiệu cho tuyến tụy tiết ra thêm insulin – một hormone giúp đưa glucose vào tế bào. Nhưng quy trình này sẽ bị rối loạn khi lượng đường mà bạn ăn vào quá nhiều, khi đó tế bào sẽ từ chối tiếp nhận và gần như trơ với insulin, trong khi tụy vẫn tiếp tục tiết insulin. Tình trạng quá tải này gây hiệu ứng ức chế lên hệ thần kinh dẫn tới cảm giác mệt mỏi và buồn ngủ. Nếu cảm giác này xuất hiện thường xuyên sau mỗi bữa ăn, chính là dấu hiệu cho thấy đã có hiện tượng kháng insulin lặp lại.

393941nhungdauhieusomcuabenhtieuduong

Xử trí: Bạn có thể giảm sự quá tải về chuyển hóa glucose theo hai cách. Đầu tiên, tránh ăn những thực phẩm chứa quá nhiều đường đơn glucose (bánh kẹo, mứt, nước ngọt). Thay vào đó, bạn nên ăn những thực phẩm tự nhiên (như hạt ngũ cốc, rau cải, trái cây), nhằm trì hoãn sự phân hủy đường khi tiêu hóa. Cách khác là tạo ra thói quen vận động nhẹ sau bữa ăn: thay vì nằm yên một chỗ xem tivi, bạn có thể đi bộ hoặc rửa chén…

2. Cảm giác ghiền ăn vặt

Những thức ăn vặt như khoai chiên, bánh snack, sôcôla… đều rất ngon miệng và kích thích sự thèm ăn, bạn sẽ càng muốn ăn nhiều hơn. Nhưng chúng cũng chứa rất nhiều đường. Sự kết hợp giữa hai yếu tố: thói quen ăn liên tục và lượng đường cao sẽ tạo nên vòng lặp lẩn quẩn của chuỗi đáp ứng “tăng đường – tăng insulin” trong máu. Cơ thể phải liên tục trải qua những cơn “no đường” thoáng qua, rồi nhanh chóng bị “đói đường” dẫn tới thèm ăn vặt nhiều hơn nữa.

Xử trí: Bắt buộc phải bỏ thói quen ăn quà vặt, dù đây là một thử thách với các bạn. Bạn có thể vượt qua cơn ghiền bằng cách thay thế những món ăn đó với những thứ cùng kích thước và mùi vị nhưng an toàn hơn cho sức khỏe, ví dụ trái cây, đậu, cà rốt tươi…

3. Thừa cân

Sự liên hệ giữa béo phì và bệnh tiều đường là một điều xưa như trái đất, nhưng sự thật là đa số người ăn kiêng chỉ chú tâm đến lượng calorie trong bữa ăn chứ chưa hiểu được quan hệ tương tác giữa đường và mỡ. Khi tế bào không dung nạp đường nữa, cơ thể sẽ chuyển sang năng lượng từ mỡ, và tích trữ mỡ là khó tránh khỏi.

Xử trí: Khi bạn bị thừa cân, không nên quá lo lắng về việc giảm cân, thực ra bạn không cần phải làm biến mất ngay lập tức số cân nặng này. Chỉ cần giảm được 5-7% trọng lượng là có thể giảm 60% nguy cơ của bệnh tiểu đường.

4. Hình dáng cơ thể

Kiểm soát cân nặng dĩ nhiên là quan trọng, nhưng có lẽ ít người biết sự tích trữ mỡ cục bộ trên một số vùng của cơ thể có sự liên hệ nhiều hơn với tình trạng kháng insulin và tiền tiểu đường. Thật vậy, tăng lượng mỡ ở vùng eo và bụng sẽ nguy hiểm hơn là mỡ ỡ những vùng thấp hơn như đùi và chân. Những người có nhiều mỡ bụng thường có nguy cơ bị cao huyết áp, bệnh tim mạch và tiểu đường.

Xử trí: Ngoài việc ăn kiêng, nên tập thể dục 30-60 phút mỗi ngày để tránh nguy cơ tiểu đường, đặc biệt các bài tập ở bụng. Tập thể dục có lợi ích kép là làm giảm mỡ và phát triển cơ bắp, làm tăng lượng enzyme chuyển hóa glucose cho tế bào cơ.

5.Cao huyết áp

Phần lớn người có triệu chứng cao huyết áp thường chỉ lo nghĩ về vấn đề tim, mạch máu của họ, nhưng không biết rằng có sự liên hệ giữa lưu thông mạch máu và rối loạn chuyển hóa đường. Tăng inslulin và đường huyết là một yếu tố bệnh lý góp phần tạo ra tình trạng viêm trong mạch máu, làm thay đổi cấu trúc và tính đàn hồi của mạch máu tạo cản trở cho dòng máu lưu thông. Vì vậy, tăng huyết áp có thể là dấu hiệu của bệnh tiểu đường.
Xử trí: Người có triệu chứng cao huyết áp nên thay đổi chế độ ăn và thường xuyên vận động cơ thể. Cần kiểm tra đường huyết định kì và đặt ra vấn đề với bác sĩ điều trị của mình.

Theo báo sức khỏe