Tag Archives: thua can

Những trường hợp tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà

Đối với trẻ nhỏ, từ trước đến nay trứng gà luôn là một món ăn bổ dưỡng mà các mẹ vẫn cho bé ăn hàng ngày, thậm chí trứng gà còn được coi là một món ăn nhất-thiết-phải-có mỗi khi bé ốm sốt hay cảm gió. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học đã chứng mình điều ngược lại khiến một số mẹ phải giật mình: nếu cho con ăn không đúng lúc và đúng cách, mẹ có thể sẽ vô tình làm hại con. Hãy cùng  điểm ra những trường hợp mẹ tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà sau đây:

1. Bé dưới một tuổi
Trong rất nhiều tài liệu hướng dẫn ăn dặm hay ngay cả trong thực tiễn hàng ngày, trứng gà vẫn được liệt kê như là một thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng cho trẻ. Ngay cả phương pháp ăn dặm kiểu Nhật hiện đang thu hút sự chú ý của các mẹ cũng gợi ý món cháo trứng gà cho bé 7 tháng tuổi. Nhưng có một sự thật mẹ không hề hay biết, trứng gà và các sản phẩm làm từ trứng gà có thể gây ra nguy cơ dị ứng cao cho bé. Bé bị dị ứng trứng thường do phản ứng của hệ miễn dịch với các loại protein có trong trứng gà (nhất là lòng đỏ). Có một lượng nhỏ những chất hóa học trong trứng gà cũng khiến bé có cơ địa mẫn cảm xuất hiện dấu hiệu dị ứng. Thậm chí với một số bé quá nhạy cảm, làn da bé cũng nhanh chóng bị dị ứng ngay khi vừa tiếp xúc với mùi vị trứng. Vì những nguy cơ tiềm ẩn này, mẹ chớ dại cho con ăn trứng gà khi bé chưa đầy 1 tuổi.

nhung-truong-hop-tuyet-doi-khong-nen-cho-be-an-trung-ga

Không cho trẻ dưới 1 tuổi ăn cháo trứng

2. Bé vừa ốm dậy
Nếu các mẹ vẫn hay chế biến trứng cho con mỗi khi con bị cảm sốt, hãy suy nghĩ lại bởi có thể mẹ không biết hành động của mẹ có thể gây ra sai lầm tai hại đến thế nào. Thành phần chủ yếu của trứng gà gồm có anbumin và ovoglobumin, là protein hoàn toàn, được cơ thể hấp thu 99,7%, sau khi ăn vào sẽ tạo ra một nhiệt lượng đáng kể. Như vậy khi bé bị sốt mà còn ăn thêm trứng, nhiệt độ cơ thể sẽ càng tăng mạnh khiến bệnh của bé không những cải thiện mà còn trầm trọng thêm.

3. Bé bị cảm, sốt
Mẹ cũng nên thật cẩn thận khi nấu thực phẩm này cho con khi bé mới ốm dậy. Trên bề mặt vỏ trứng có chứa rất nhiều lỗ nhỏ li ti nên không khí và vi khuẩn rất dễ xâm nhập, thậm chí có thể nhiễm vi khuẩn salmonella trong lòng đỏ trứng. Khi bé mới khỏi ốm, sức đề kháng còn quá yếu nên mẹ không nên cho bé ăn trứng tươi, luộc chưa chín hay đập vào cháo nóng.

4. Bé bị tiêu chảy
Khi bé bị tiêu chảy, việc chuyển hoá các chất mỡ, đạm (có nhiều trong trứng gà) và đường bị rối loạn, trong khi trứng gà không dễ tiêu. Nếu không để đường ruột nghỉ ngơi, không những mẹ làm mất tác dụng bồi bổ mà còn làm cho bệnh của bé nặng thêm.

5. Bé có tiền sử tim mạch
Đối với những bé có các bệnh về tim mạch như tim bẩm sinh, hở van tim v.v, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi trong trứng có hàm lượng cholesterol cao dễ ảnh hưởng đến bệnh của trẻ.

nhung-truong-hop-tuyet-doi-khong-nen-cho-be-an-trung-ga1

6. Bé bị tiểu đường
Trẻ em bị đái tháo đường là một khái niệm mới lạ nhưng đã dần trở nên quen thuộc trong thời điểm hiện tại. VÌ chế độ ăn uống của trẻ không lành mạnh và chưa quá nhiều đồ ngọt nên rất nhiều trẻ em tiểu học hiện nay mắc căn bệnh này. Nếu bé của mẹ đang bị tiểu đường, ngoài các đồ ăn ngọt và tinh bột, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi thực phẩm này chứa nhiều chất gây hại cho bệnh tình của bé

7. Bé bị thừa cân, béo phì
Vì trong trứng chưa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa, một trong những thủ phạm của tình trạng thừa cân ở trẻ, nên mẹ có thể hạn chế tối đa việc chế biến trứng đối với những bé đang thừa cân. Thay vào đó, một chế độ ăn hợp lý bao gồm các loại rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin là những món ăn mẹ cần cung cấp cho bé mỗi ngày.

Người bị béo phì nên hạn chế ăn muối

Một nghiên cứu mới của Mỹ cho thấy, thanh thiếu niên béo phì ăn nhiều thực phẩm chứa quá nhiều muối có thể già nhanh hơn.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu Mỹ cũng chỉ ra rằng, tiêu thụ quá nhiều muối có thể khiến con người dễ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Georgia Regents, tại Augusta, Mỹ tiết lộ rằng việc giảm lượng muối ăn có thể làm chậm quá trình lão hóa của các tế bào. Điều này đặc biệt hiệu quả cho những người bị thừa cân hoặc béo phì. Tuổi thọ thường bị rút ngắn do hút thuốc, thiếu vận động và dung nạp lượng chất béo cao.

beo-phi-khi-an-nhieu-muoi

Kết luận trên được rút ra dựa trên một cuộc khảo sát với 766 người từ 14 -18 tuổi về mức độ tiêu thụ muối. Trẻ vị thành niên bị béo phì ăn quá nhiều muối làm cho Telomere ngắn hơn so với những người ăn ít muối. Các Telomere giống áo khoác sinh học ở 2 đầu nhiễm sắc thể và bảo vệ các ADN khỏi những nguy hại. Khi chúng ta già đi, các Telomere ngày càng ngắn hơn, dẫn đến DNA bị nguy hại và nguy cơ cao mắc các bệnh như Anzheimer, tiểu đường và tim mạch. Các Telomere ngắn hơn bình thường là dấu hiệu bệnh tật và có nguy cơ dẫn đến tử vong.

Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Haidong Zhu cho biết: “Ngay cả đối với những người trẻ tuổi tương đối khỏe mạnh, việc ăn nhiều thức ăn chứa muối có thể đẩy nhanh quá trình lão hóa tế bào, đặc biệt ở trẻ béo phì”.

Giảm lượng muối trong chế độ ăn của trẻ có thể là bước đầu tiên dễ dàng hơn cho việc giảm cân của những trẻ thừa cân và cũng là cách giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

Đa số thực phẩm chế biến sẵn thường chứa nhiều muối. Vì vậy, các bậc phụ huynh nên cho con em mình ăn thêm rau xanh và trái cây tươi cho một bữa ăn nhẹ thay vì khoai tây chiên.

Theo đời sống pháp luật

Thiếu cân nguy hiểm hơn dư cân

Một nghiên cứu của các nhà khoa học chỉ ra rằng, tình trạng thiếu cân còn nguy hiểm hơn nhiều so với béo phì.

Trong lúc có nhiều khuyến cáo tập trung về nguy cơ bệnh tật và tử vong ở người béo phì, nghiên cứu của các nhà khoa học Canada tại ĐH St. Michael ở TP Toronto cảnh báo rằng tình trạng thiếu cân có thể gây bệnh tật dẫn đến tử vong thậm chí còn cao hơn dư cân.

Trong công trình được công bố trên Tạp chí Dịch tễ học và Sức khỏe cộng đồng, TS Joel Ray và cộng sự đã phân tích dữ liệu của hơn 50 nghiên cứu trước đây về mối liên quan giữa chỉ số thể hình (BMI) với bệnh tật gây tử vong từ nhiều nguyên nhân.

thieu-can-nguy-hiem-hon-du-can-1Kết quả cho thấy bệnh nhân thiếu cân (BMI dưới 18,5) ở mọi độ tuổi có nguy cơ tử vong cao hơn 1,8 lần so với bệnh nhân có thể trọng bình thường (BMI từ 18,5 đến 25,9). Trong khi đó, bệnh nhân dư cân (BMI từ 30 đến 34,9) có nguy cơ tử vong cao hơn 1,2 lần và bệnh nhân có BMI trên 35 cao hơn 1,3 lần so với bệnh nhân có thể trọng lành mạnh. Các nhà khoa học cảnh báo những yếu tố chính gây thiếu cân như dinh dưỡng kém, sử dụng rượu hay ma túy, hút thuốc lá, tình trạng nghèo khó và bệnh tâm thần.

Theo Trúc Lâm (Người lao động/eva)

Béo phì khiến trí nhớ và cảm xúc thay đổi

Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ vừa được công bố trên tạp chí Neuroimage Clinical cho thấy tình trạng béo phì có thể làm suy giảm mức độ phân tử N-acetyl-aspartate (NAA) – vốn phản ánh sức khỏe của tế bào não ở vùng hồi hải mã và có liên quan đến trí nhớ, việc học tập, cảm xúc.

Giáo sư tâm thần học Jeremy D. Coplan tại Trung tâm Y tế Sunny Downstate thuộc ĐH New York và cộng sự tại một số viện nghiên cứu đã dùng thiết bị hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) để khảo sát về NAA. Kết quả cho thấy người béo phì có mức độ NAA tại vùng hồi hải mã thấp hơn so với người có thể trọng bình thường.

beo-phi-khien-tri-nho-va-cam-xuc-thay-doi

Hồi hải mã là cơ quan giống hình cá ngựa nằm trong thùy thái dương, từng được ghi nhận có vai trò quan trọng trong việc hình thành và bảo tồn trí nhớ cũng như liên quan đến cảm xúc. Mặt khác, vai trò của nó trong việc kiểm soát sự ngon miệng khi ăn uống cũng được lưu ý nhưng chưa khẳng định rõ.

Đây là công trình đầu tiên nêu mối liên quan giữa NAA và tình trạng béo phì. Tuy nhiên, GS Coplan đặt vấn đề: “Liệu mức độ NAA thấp có phải là hậu quả hoặc nguyên nhân của tình trạng béo phì hay không là điều cần được khẳng định trong những nghiên cứu sau này”.

Trích báo người lao động

Hút mỡ để giảm cân có ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào

Rất nhiều bệnh nhân béo phì đến gặp bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ, yêu cầu giải quyết các vấn đề do quá cân gây ra, tuy nhiên, cần hiểu cho đúng mục đích của việc hút mỡ thẩm mỹ.

Nhu cầu thường gặp nhất ở những bệnh nhân này là: hút mỡ ở các vùng cơ thể để giảm cân; hút hoặc cắt các vùng da – mỡ thừa gây vướng víu, cản trở sinh hoạt; thu gọn da thừa, làm căng lại các vùng da bị chùng, nhão sau quá trình giảm cân.

Vậy các phẫu thuật này có nguy hiểm và có nên thực hiện hay không?

Giới chuyên môn cho rằng, hút mỡ không phải là phương pháp để giảm cân. Hút mỡ chỉ đạt kết quả tốt nhất khi bệnh nhân có cân nặng ổn định gần với mức cân nặng lý tưởng và được thực hiện với mục đích chỉnh sửa các đường cong cơ thể.

hut-mo-de-giam-can-co-anh-huong-den-suc-khoe-nhu-the-nao

Số lượng tế bào mỡ trong cơ thể người trưởng thành là cố định. Hút mỡ là phương pháp bỏ lượng mỡ dư thừa, làm giảm thiểu số lượng tế bào mỡ của cơ thể. Tuy nhiên, các tế bào mỡ khi tích trữ tối đa có khả năng phồng to gấp 50 lần so với thể tích tế bào ở trạng thái bình thường. Do vậy, sau khi hút mỡ, nếu bệnh nhân tăng cân thì các tế bào mỡ còn lại sẽ phồng lên, làm chiều dày lớp mỡ tăng trở lại. Lúc này, trong vùng hút mỡ lại có các tổ chức xơ sẹo gây ra sau quá trình hút mỡ, làm cho tính đàn hồi vùng da đó kém đi, dễ gây nên hiện tượng lồi lõm, da sần vỏ cam, kết quả thẩm mỹ kém.

Một người ở trạng thái dư cân hay béo phì, thường mắc các bệnh do hậu quả của béo phì như: tăng mỡ máu, tăng huyết áp, suy tim, suy hô hấp, giãn và tắc tĩnh mạch chân… Do vậy, nếu thực hiện phẫu thuật hút mỡ hay cắt mỡ thừa, nguy cơ mắc các biến chứng nặng của các loại phẫu thuật này tăng cao gấp nhiều lần. Các biến chứng nguy hiểm có thể đến là: chảy máu, tắc mạch phổi, suy hô hấp sau mổ…

Vì vậy, muốn cải thiện vóc dáng cơ thể, bước đầu tiên cần thực hiện là chế độ ăn kiêng hợp lý và tập thể dục để giảm cân. Một số trường hợp thậm chí phải phẫu thuật thu hẹp hay đặt bóng dạ dày với mục đích giảm thể tích dạ dày. Khi cân nặng đã ổn định ở mức gần lý tưởng thì mới được thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ để chỉnh sửa các điểm chưa hoàn thiện.

Các phẫu thuật thẩm mỹ phổ biến cho bệnh nhân béo phì sau giai đoạn giảm cân là: căng da bụng, căng da đùi, thu gọn da cánh tay, thu gọn và treo vú sa trễ. Đối với các trường hợp sau quá trình giảm cân mà da còn đàn hồi tốt, phẫu thuật hút mỡ nhằm trả lại các đường cong cho cơ thể.

Dù vậy, không phải bệnh nhân nào cũng đủ điều kiện và quyết tâm để giảm cân. Nhu cầu phẫu thuật tạo hình – thẩm mỹ đôi khi vẫn phải đặt ra ngay cả khi bệnh nhân đang ở trạng thái thừa cân nặng. Trong một số trường hợp, dư cân tạo ra tạp dề da-mỡ lớn ở thành bụng, hay khối mỡ tụ quá nhiều ở mặt trong đùi, hông, làm bệnh nhân đi lại khó khăn, sinh hoạt hàng ngày bị cản trở. Phẫu thuật trong trường hợp này với mục đích chính là cải thiện chức năng, mục đích thẩm mỹ là phụ.

Tóm lại, không nên nghĩ tới việc cắt mỡ hay hút mỡ để giảm cân. Khi đã dư cân, hãy giảm cân với chế độ dinh dưỡng hợp lý và luyện tập tích cực.

Nguồn đẹp

Sai lầm do nôn nóng muốn giảm cân

Thừa cân, béo phì khiến nhiều người thiếu tự tin nên tìm cách giảm cân. Có nhiều cách khác nhau để giảm cân, nhưng giữa rừng thông tin về giảm cân cấp tốc không phải ai cũng biết tác hại của nó.

Nôn nóng giảm cân lúc đang cho con bú

Sau khi sinh con chị em vẫn thường bị thừa cân, béo phì nên ra sức áp dụng các biện pháp giảm cân. Tuy nhiên, chính sự nôn nóng giảm cân trong thời kỳ cho con bú đã gây tác hại cho cả mẹ và con. Theo các chuyên gia, việc giảm cân phải được bà mẹ kiểm soát ngay từ khi mang thai và có những phương pháp khoa học.

Theo TS.Nguyễn thị Lâm, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hiện nay một số bà mẹ cho con bú thường chưa biết cách kiểm soát cân nặng nên đã có những sai lầm.

sai-lam-do-non-nong-muon-giam-can

Ví dụ để dự phòng thừa cân, béo phì thì ngay cả thời gian mang thai tuy bà mẹ phải bồi dưỡng những cũng chỉ nên ở mức vừa phải. Các bà bầu chỉ nên tăng từ 9 – 12 kg trong thời kỳ mang thai là đủ để sinh ra một đứa con khỏe mạnh. Thế nhưng nhiều bà bầu bồi dưỡng quá và sau khi sinh con cân nặng lại tăng quá. Đến lúc này các bà mẹ mới tập trung giảm cân qua nhanh. Điều này cũng không tốt.

Ngược lại, có những bà mẹ sợ thừa cân, béo phì lại ăn quá ít. Có bà mẹ còn uống trà giảm béo, gây nhuận tràng, mất chất dinh dưỡng. Điều này ảnh hưởng đến lượng sữa cho con bú và khiến cả mẹ với con đều mệt mỏi.

Như vậy, việc kiểm soát cân nặng là việc làm cần thiết, tuy nhiên việc làm này phải được thực hiện một cách khoa học và duy trì thường xuyên chứ không phải chỉ trong một sớm một chiều. Sự nôn nóng của chị em không những khiến quá trình giảm cân không được như mong muốn mà còn có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của con. Các bà mẹ nên thận trọng trước khi áp dụng bất kỳ phương pháp giảm cân nào trong thời kỳ cho con bú.

Hậu quả của việc giảm cân cấp tốc

Không chỉ chị em sau sinh phải đối mặt với những nguy cơ khi nôn nóng giảm cân mà các chuyên gia cũng chỉ ra rằng, với mọi đối tượng thì việc giảm cân thiếu khoa học cũng có thể dẫn tới những nguy hại khôn lường.

Nhiều người vì muốn giảm cân nhanh thường nhịn ăn, bỏ bữa, nhưng theo các chuyên gia, ăn kiêng quá mức, thiếu tính khoa học sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả xấu đối với cơ thể như: vô sinh, hạ huyết áp, hệ miễn dịch kém, biếng ăn…

Ngoài ra, để nhịn được lâu nhiều người dùng đến sự hỗ trợ của thuốc, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc hoặc không có sự hướng dẫn của bác sỹ. Theo chuyên gia dinh dưỡng, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe.

Nếu dùng thuốc chúng ta sẽ không có cảm giác đói, cảm giác thèm ăn thì sẽ giảm cân rất nhanh nhưng sẽ rất nguy hại đến sức khỏe. Trong trường hợp dùng những thuốc thải chất béo sẽ khiến cơ thể không thể hấp thu chất béo, đồng thời cơ thể sẽ không hấp thu được các chất tan trong chất béo. Như vậy cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe.

Theo VnMedia

Cần giảm cân đúng cách để bảo vệ sức khỏe

 Nguy cơ bệnh tim mạch

Hai dạng béo phì thường gặp là: mỡ thừa tập trung tại vùng bụng, thường gặp ở nam giới (gọi là “bụng bia” hay người hình quả táo) và tích lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả lê). Kiểu béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột qụy.

Các phương pháp giảm cân nhanh thường chỉ mang lại tác động giảm lượng nước trong cơ thể mà không có tác động làm giảm khối mỡ trong cơ thể đặc biệt là lượng mỡ trong máu. Lượng mỡ trong máu cao khiến hàm lượng cholesterol trong máu cũng tăng cao. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột qụy tim mạch tăng cao theo tuyến tính. Các nhà khoa học khuyến cáo, nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90% vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, cố gắng duy trì con số này dưới 80%.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe
Hội chứng rối loạn chuyển hóa

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: năng lượng dư thừa là nguyên nhân chính của thừa cân – béo phì. Nhưng, giảm cân bằng cách cắt giảm triệt để việc dung nạp thức ăn vào cơ thể lại khiến cơ thể thiếu các loại chất béo, đạm, vitamin và các khoáng chất thiết yếu. Đây là nguyên nhân khiến cơ thể không thể tổng hợp các chất cần thiết làm rối loạn quá trình chuyển hoá và gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng như: rối loạn mỡ máu, tiểu đường, suy nhược sinh dục…

Suy nhược cơ thể, mất tập trung

Nhịn ăn, bỏ bữa và tránh xa các loại thịt cá là một trong những sai lầm nghiêm trọng của những người đang muốn giảm cân. Thực tế, khi nhịn ăn hoặc thực hiện chế độ ăn kiêng bất hợp lý, đồng nghĩa với việc lượng calo và dưỡng chất đưa vào cơ thể bị cắt giảm nghiêm trọng. Điều này không những không đảm bảo đủ năng lượng cho nhu cầu hoạt động hàng ngày mà còn khiến cơ thể thiếu chất. Trong quá trình giảm cân, nếu cơ thể rơi vào tình trạng uể oải, mệt mỏi, mất tập trung, chuyên gia khuyên bạn nên dừng ngay quá trình giảm cân và tìm kiếm một phương pháp giảm cân mới phù hợp hơn với thể trạng của bạn.

Cách giảm cân an toàn

Kiểm soát chế độ ăn: Một trong những vấn đề quan trọng nhất để giảm cân đó chính là có thực đơn ăn uống khoa học. Bí quyết được các chuyên gia đưa ra đó là: bổ sung nhiều rau và hoa quả vào bữa ăn hàng ngày, hạn chế ăn các chất béo và uống các dạng nước có cồn, nước ngọt; không nên ăn sau 20h.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe1
Tập luyện nhẹ: Mỗi ngày bạn nên dành ra khoảng 20 phút để tập một bài thể dục nhẹ hoặc đi bộ. Việc này vừa giúp cho bạn giảm được cân, vừa giúp nâng cao sức khỏe, giải tỏa căng thẳng và giúp đem lại giấc ngủ ngon.

Uống mỗi ngày 2l nước lọc: Uống nước để giảm cân là một phương pháp khoa học và đã được chứng minh rõ ràng. Nếu bạn không uống nước, các chất béo trong cơ thể sẽ rất khó tiến hành trao đổi chất và kết quả là khiến cho trọng lượng cơ thể tăng lên nhiều. Chức năng tiêu hóa của cơ thể cần nước, chức năng nội tiết cũng vậy, sự chuyển hóa các chất độc hại dựa vào nước để loại bỏ độc tố ra ngoài, uống nước đầy đủ còn có thể tránh rối loạn tiêu hoá. Bạn có thể uống nước nửa giờ sau khi ăn để hỗ trợ quá trình này.

Sử dụng các sản phẩm hỗ trợ giảm cân: Giải pháp được các chuyên gia khuyên dùng dành những người bận rộn hoặc đã thực hiện các bước giảm cân trên mà không hiệu quả là sử dụng sản phẩm hỗ trợ giảm cân. Bạn lưu ý nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có giấy phép của Bộ Y tế như LiteFit USA.

Phương Thảo

Theo sức khỏe đời sống

Điều cần làm khi mắc bệnh gan nhiễm mỡ

Cuộc sống bận rộn, thói quen ăn uống bừa bãi và ít vận động không chỉ làm cho nhiều người thừa cân mà còn gây ra nhiều bệnh nguy hiểm, trong đó có bệnh gan nhiễm mỡ.

Gan nhiễm mỡ thực chất là một biểu hiện của việc tích lũy quá nhiều lượng mỡ ở gan. Gọi gan nhiễm mỡ hay thoái hóa mỡ gan khi sự tích lũy chất béo trong gan vượt quá 5% trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ diễn tiến âm thầm, đôi khi không có triệu chứng và bệnh thường được phát hiện rất tình cờ. Người bệnh gan nhiễm mỡ có nguy cơ xơ cứng gan, ung thư gan cao gấp 150 lần bình thường.

Thực tế, gan nhiễm mỡ là bệnh mà nhiều người mắc phải đặc biệt là những người béo phì, uống rượu nhiều,…tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về bệnh.

Người mắc bệnh gan nhiễm mỡ ngày càng gia tăng
dieu-can-lam-khi-mac-benh-gan-nhiem-mo
Trước đây, các nhà nghiên cứu phát hiện ra bệnh gan nhiễm mỡ ở người uống nhiều rượu bia, người thừa cân béo phì và xếp những người này vào nhóm nguy cơ cao. Chính vì thế, rất nhiều người lầm tưởng rằng cơ thể gầy thì không mắc các loại bệnh nhiễm mỡ như gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ.

Nhiều người nghĩ rằng người béo thì thừa nhiều mỡ nên mỡ lan vào gan gây ra bệnh. Thực chất mỡ thừa ở người béo chỉ tích tụ vào xung quanh lá gan, bám vào bề mặt gan. Gần đây những trường hợp mắc bệnh ở người gầy càng nhiều. Bệnh gan nhiễm mỡ chủ yếu do rối loạn chuyển hóa tế bào gan gây ra.

Một số người phòng ngừa bệnh gan nhiễm mỡ bằng cách ăn chay. Tuy nhiên, thực tế thực phẩm chay sẽ làm cho cơ thể dung nạp quá ít chất béo, chất béo trong cơ thể phân giải quá nhiều không những không thể chữa trị gan nhiễm mỡ mà còn làm bệnh nặng thêm. Ngoài ra, người ăn chay dung nạp không đủ protein còn hợp thành protein chất béo chậm, chất béo vận chuyển trở ngại, gan nhiễm mỡ còn nặng thêm.

Một số người lại cho rằng, các loại hoa quả giàu vitamin, chất khoáng và chất xơ, những chất này đều thúc đẩy chất béo trao đổi. Tuy nhiên, lượng đường trong hoa quả khá cao, nếu ăn quá nhiều sẽ gây rối loạn trao đổi của đường, gây ảnh hưởng không tốt cho đường huyết. Trong khi đó, nhiều loại đường trong cơ thể có thể chuyển hóa thành chất béo, làm nặng thêm gan nhiễm mỡ. Do vậy, người bị gan nhiễm mỡ có được ăn nhiều hoa quả hay không, ăn loại hoa quả nào, ăn bao nhiêu, ăn như thế nào thì tùy thuộc vào tình trạng cơ thể.

Những người bị thiếu chất dinh dưỡng, thiếu các vi chất cần thiết sẽ làm hoạt động chuyển hóa mỡ không hiệu quả và gan bị nhiễm mỡ. Cụ thể là ăn ít hay ăn kiêng quá mức sẽ dẫn đến lượng đường trong máu quá thấp làm tăng phân giải mỡ thành năng lượng cung cấp trong cơ thể. Trong quá trình phân giải mỡ, lượng axit béo đi vào máu quá nhiều làm axit béo tự do trong máu tăng, dẫn đến tích trữ mỡ trong gan. Những người gầy, thiếu protein trong thời gian dài sẽ làm mỡ trong máu không thể chuyển hóa nên sinh ra gan nhiễm mỡ. Ngoài ra, những người gầy nhưng bị nhiêm virus viêm gan B, C hoặc dùng thuốc hại cho gan đều có nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ.

Làm gì khi gan nhiễm mỡ?

Khám sức khỏe định kỳ: Khi phát hiện mình bị gan nhiễm mỡ, người bệnh cần được khám sức khỏe định kỳ để theo dõi tiến triển của bệnh, kịp thời điều trị, đề phòng biến chứng. Đặc biệt là những người bị béo phì, người nghiện rượu, người bị tiểu đường tuýp 2 và những người bị suy dinh dưỡng thì việc khám sức khỏe định kỳ là vô cùng cần thiết. Ngoài ra, những người bị viêm gan C mãn tính, người bị tăng mỡ máu, người dùng liều cao một số thuốc như corticoides, tetracycline, estrogen cũng nên đi khám sức khỏe định kỳ.

– Giảm ăn các thực phẩm giàu cholesterol như các loại phủ tạng động vật, da động vật, lòng đỏ trứng.

– Hạn chế chất béo, ưu tiên chọn dầu thực vật (trừ dầu dừa), hạn chế mỡ động vật (trừ mỡ cá). Nên ăn các món ăn luộc, hạn chế các món rán, chiên mỡ, chiên bơ.

– Cân đối bữa ăn, nên tăng cường ăn cá tôm, cua, đậu.

– Nên uống sữa, và chỉ nên sử dụng các loại sữa không đường ít béo và tốt nhất là nên ăn sữa chua.

– Ăn uống điều độ, ăn đúng bữa, đúng giờ. Không nên ăn bữa tối quá muộn và nên ăn ít trước khi đi ngủ.

– Hạn chế rượu bia

– Tập luyện thể thao hợp lý kiểm soát cân nặng. Các chuyên gia khuyến cáo, bạn nên dành khoảng 30 phút để tập aerobic mỗi ngày, đi bộ hoặc đi xe đạp.

– Khi dùng thuốc người bệnh cần hỏi bác sĩ về tác dụng gây độc gan của thuốc, và hạn chế tối đa sử dụng các thuốc gây độc cho gan.

Biểu hiện của bệnh gan nhiễm mỡ

Thông thường gan nhiễm mỡ không gây ra triệu chứng gì đáng kể. Khi bệnh trở nên trầm trọng hơn có thể có một số triệu chứng: Mệt mỏi, yếu ớt, khó chịu, buồn nôn và bụng nôn nao khó chịu; Lá gan có thể bị sưng to; Một số ít người có thể bị vàng da.

Nếu gan chỉ bị nhiễm mỡ thôi, bệnh không nguy hiểm cho lắm. Tuy nhiên, nếu hệ thống miễn nhiễm phát hiện có sự bất thường và hoạt động loại bỏ những tế bào gan hư hỏng này, bạch huyết cầu sẽ xuất hiện khắp nơi gây ra viêm gan. Viêm lâu ngày sẽ đưa đến xơ rồi chai gan.

Nguyên nhân của bệnh gan nhiễm mỡ

– Do dinh dưỡng: ăn nhiều thực phẩm có nhiều chất béo, hấp thu quá nhiều đường, uống nhiều rượu bia, thói quenngồi nhiều, ít vận động, căng thẳng, di truyền nếu trong gia đình có nhiều người bị béo phì.

– Do chất hóa học như uống quá nhiều bia rượu, nhiễm độc phospho, Arsenic, chì…

– Do nội tiết, do bệnh tiểu đường…

-Do miễn dịch.

– Do dùng một số loại thuốc có thể dẫn đến bệnh như các loại corticide, Tetracyclin, các thuốc kháng ung thư, thuốc hocmon sinh dục nữ…

– Do vi khuẩn, virus trong quá trình bị viêm gan siêu vi B, C thường có biến chứng gan nhiễm mỡ đặc biệt là viêm gan siêu vi C (nhiều khi còn gọi là hậu viêm gan siêu vi là gan nhiễm mỡ).

Theo afamily

Cân bằng dinh dưỡng cho trẻ nhờ đâu ?

Để cân bằng dinh dưỡng cho trẻ, bạn nên lưu ý năng lượng khuyến nghị theo lứa tuổi, giới tính và tình trạng sinh lý; cân đối giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao…

“Sinh con đã khó, nuôi con càng khó hơn”, đó là tâm lý chung của các bậc phụ huynh có con dưới 6 tuổi tại các đô thị lớn hiện nay. Việc trẻ ăn nhiều loại thực phẩm nhưng vẫn không tăng cân, hoặc tăng cân đến mức có nguy cơ béo phì vì ăn liên tục những món yêu thích khiến nhiều phụ huynh đau đầu.
can-bang-dinh-duong
Theo các bác sĩ chuyên khoa nhi và chuyên gia về dinh dưỡng, việc thiếu hay thừa năng lượng đều là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi và suy dinh dưỡng thể béo phì. PGS TS Phạm Văn Hoan, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết để xác định cân đối năng lượng phải đảm bảo 4 yếu tố. Trong đó, trẻ cần đủ nhu cầu năng lượng khuyến nghị theo lứa tuổi, giới tính và tình trạng sinh lý. Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng Quốc gia Việt Nam, nhu cầu năng lượng cho trẻ 2-3 tuổi (với cân nặng trung bình 14kg) là 1.180Kcal một ngày; trẻ 4-6 tuổi (nặng trung bình 20kg) cần 1.470Kcal và trẻ 7-9 tuổi (nặng trung bình 2kg) cần 1.825Kcal một ngày. Khẩu phần ăn với các loại thực phẩm quá cao về năng lượng có thể làm mức năng lượng cao vượt quá mức khuyến nghị, gây ra tình trạng trẻ thừa cân béo phì hoặc cơ thể không khoẻ do không được cung cấp đa dạng dưỡng chất, vi chất cần thiết.

Ngoài ra, các bậc phụ huynh cũng nên chú ý đối tỷ trọng của 3 chất dinh dưỡng sinh năng lượng P:L:G (Protein:Lipid:Glucid). Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia Việt Nam thì tỷ lệ năng lượng được khuyến cáo cho trẻ (%) giữa Protein:Lipid:Glucid là 15:20-25: 65-60, có nghĩa là nếu khẩu phần ăn có 15% protein cần có tỷ lệ lipid tương ứng từ 20 đến 25% và glucid là 65 hoặc 60%. Để đảm bảo mức cân đối này, bạn nên hạn chế cho trẻ ăn nhiều các loại thực phẩm chế biến sẵn (thường có nhiều chất béo); các loại váng sữa quá giàu năng lượng; không uống các loại nước ngọt có ga; hạn chế bánh kẹo, đường, kem.

Thứ 3 là cân đối giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao: Khi năng lượng ăn vào bằng năng lượng tiêu hao (chủ yếu cho các hoạt động thể lực), cơ thể sẽ khỏe mạnh, phát triển bình thường. Khi năng lượng ăn vào thấp hơn năng lượng tiêu hao sẽ dẫn đến hậu quả suy dinh dưỡng. Ngược lại, nếu năng lượng ăn vào vượt mức năng lượng tiêu hao quá nhiều, hậu quả sẽ là thừa cân, béo phì.

Điều cuối cùng, cha mẹ nên cân đối năng lượng giữa các bữa ăn và sắp xếp thời gian ăn hợp lý. Theo đó, bạn có thể phân bố năng lượng hợp lý cho các bữa ăn: 30% năng lượng cho bữa sáng, 35% năng lượng cho bữa trưa, 25% năng lượng cho bữa tối và 10% năng lượng cho bữa phụ.
2.JPG
Cân đối hợp lý khẩu phần ăn là điều cha mẹ nên làm để con trẻ được phát triển toàn diện.

Để giúp trẻ phát triển lành mạnh và toàn diện, cha mẹ cần quan tâm đến sự cân đối năng lượng cung cấp khi cho trẻ ăn với 4 nhóm chất: đạm, béo, bột đường, vitamin và khoáng chất. Ngoài ra, phụ huynh cũng nên bổ sung những bữa ăn phụ với thực phẩm như sữa chua mỗi ngày để trẻ tiêu hoá tốt hơn, tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể. Sữa chua trộn hoa quả, hoặc sữa chua có bổ sung chất xơ sẽ giúp trẻ ăn ngon miệng hơn.

(Theo Vnexpress)

Trẻ thèm ngọt là do… cha mẹ

Một nghiên cứu tại Anh cho thấy, bố mẹ thường dùng món ăn ngọt để “dụ” trẻ kén ăn, khiến chúng dễ nghiện các món ngọt và béo phì khi lớn lên, theo Daily Mail.

Vitabiotics WellKid Baby Drops, hãng sản xuất các sản phẩm dinh dưỡng dành cho trẻ tại London (Anh) thực hiện một cuộc nghiên cứu về thói quen ăn uống của trẻ.

Nhóm nghiên cứu tiếp xúc với 2.002 bà mẹ của trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi.
tre-them-ngot-la-do-cha-me
Họ phát hiện 26% các bà mẹ cho con mình nếm sô cô la trước khi được 9 tháng tuổi và hơn một nửa các bà mẹ cho trẻ nếm món ngọt này khi chúng được 12 tháng tuổi. 61% các bà mẹ cho trẻ ở tuổi vừa biết đi ăn kẹo mỗi ngày.

Cứ 3 người thì có 1 người thừa nhận dùng bánh kẹo để “dụ” trẻ kén ăn. 58% các bà mẹ tin rằng con mình đã bắt đầu thèm thức ăn ngọt khi chúng lên 3 tuổi.

Nguồn st

Cao huyết áp ở trẻ em – Những điều cần biết

Cao huyết áp ở trẻ em ít được chú ý do quan niệm rằng trẻ em không thể mắc bệnh cao huyết áp. Vì thế khi trẻ em  có những triệu chứng như: nhức đầu, ói, ù tai, hay chảy máu mũi, co giật thì thầy thuốc thường hay nghĩ đến một bệnh khác.

cao_huyet_ap_o_tre_em_nhung_dieu_can_biet

Nguyên nhân:

– Béo phì và thừa cân  làm tăng khả năng cao huyết áp gấp 3 lần, tình trạng béo phì và thừa cân ngày càng gia tăng và kéo theo đó là nguy cơ gia tăng bệnh tim mạch và tiểu đường.

– Mắc các bệnh về thận.

– Bệnh hẹp động mạch thận.

– Bệnh về ĐMC như: Takayashu( hẹp nhiều đoạn của ĐMC).

– Xem tivi hay chơi game vi tính quá lâu sẽ có nguy cơ cao huyết áp.

Phòng bệnh:

– Chú ý lượng muối ăn trong chế độ ăn hàng ngày cho trẻ em từ 4- 8 tuổi là 1,2 g/ngày, trẻ lớn hơn là 1,5 g/ngày. Tránh ăn các loại thực phẩm làm sẳn không ghi rõ lượng muối (sodium, potassium) trên nhãn

– Tăng hoạt động thể lực, tập đi bộ đều đặn 30- 60 phút/ ngày sẽ làm giảm nguy cơ cao huyết áp và bệnh lý tim mạch

– Khuyến khích trẻ bớt ăn ngọt, ăn mặn, tinh bột, chất béo, tăng ăn rau và thực phẩm có nhiều chất xơ.

– Giới hạn thời gian xem tivi hoặc chơi game của trẻ dưới 2 giờ/ ngày.

Đăng bởi: ĐDT. Đặng Thị Phương Nhi
Theo benhviennhi.org.vn

Thừa có thể gây vô sinh sau này

Trẻ em và thanh thiếu niên béo phì sẽ gặp nhiều khó khăn về nguy cơ vô sinh khi trưởng thành so với những trẻ không có vấn đề về tình trạng thừa cân.

Kết luận trên đã được các nhà khoa học của trường Đại họcOregon – Mỹ khẳng định trên cổng thông tin y tế Medical Xpress. Các nhà khoa học đã đưa ra 2 dẫn chứng để giải thích lý do tại sao điều này có thể xảy ra.

Dẫn chứng thứ nhất cho rằng chất béo dư thừa trong cơ thể trẻ em làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc sản xuất neurohormones có chức năng sinh sản của cơ thể. Dẫn chứng thứ 2 dựa trên các mối quan hệ giữa béo phì và các chu kỳ sinh học trong cơ thể đang giảm dần. Điều đó làm ảnh hưởng đến sự phát triển số lượng cần thiết của testosterone, cortisol và insulin.

thua_can_gay_vo_sinh

Đối với trẻ em nam, thừa cân trong thời gian dậy thì có thể gây ra những ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản

Đối với trẻ em nam, thừa cân trong thời gian dậy thì có thể gây ra những ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản như việc sản xuất tinh trùng ít hay vấn đề về rối loạn cương dương khi trưởng thành. Các tế bào chất béo sản sinh ra estrogen, mà nam giới có cân nặng càng nhiều thì càng tăng số lượng tuần hoàn của estrogen trong cơ thể.Đây chính là một trong những nguyên nhân gây vô sinh ở nam giới. Còn đối với các em gái, béo phì từ khi còn nhỏ sẽ dẫn tới sự mất cân bằng nồng độ một số hormone trong cơ thể như: androgen, estrogen, progesterone có thể thay đổi chu kỳ kinh nguyệt. Cân bằng nồng độ các hormone này là điều rất cần thiết cho việc thụ thai và mang thai. Ngoài ra, sự tích tụ chất béo trong buồng trứng cũng làm đảo lộn sự phát triển của bào thai dẫn tới nguy cơ sảy thai.

Các nhà khoa học  cho rằng, có rất nhiều cách để giảm cân cho những người béo phì và thừa cân, nhưng có những người béo bệnh thì không thể can thiệp bằng cách luyện tập thể thao và chế độ ăn uống. Béo bệnh được xem là một rối loạn y học cần được điều trị lâm sàng bằng phẫu thuật giảm cân, điều này là giải pháp hiệu quả nhất để đạt được trọng lượng cần thiết của các bệnh nhân béo bệnh. Ông Patrick Chappell, người đứng đầu công trình nghiên cứu cho biết thêm: “Chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu bệnh béo phì ở trẻ vị thành niên ngoài ảnh hưởng tới khả năng sinh sản ra, liệu nó có ảnh hưởng đến

Theo anninhthudo/24h