Tag Archives: thông tin y học

Niềm hy vọng dành cho bệnh nhân u máu

Sau nhiều năm khám và điều trị các bệnh liên quan đến u máu, ĐH Y Dược TP HCM đã thành lập Trung tâm U máu. Trung tâm có chức năng khám, điều trị; đồng thời là nơi đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về các bệnh lý u máu, rối loạn sắc tố da, một số bệnh da liễu khác. Sau gần 3 năm hoạt động, Trung tâm đã điều trị cho hơn 2.000 lượt trẻ em, đem lại niềm vui vô bờ cho các em nhỏ và gia đình.

Ngỡ ngàng trước điều kỳ diệu

Một ngày tháng 8/2013, anh V.V. M cùng vợ và con gái lặn lội từ Hà Nội vào TP HCM. Con gái anh- bé V.T.T M được 3 tuổi vô cùng xinh xắn và dễ thương.

Chỉ tiếc bé phải mang vết bớt đỏ lan rộng trên gò má bầu bĩnh. Thương con gái có thể mặc cảm khi lớn, vợ chồng anh M đã gom tiền đưa con sang Singapore chữa trị. Mặc dù điều trị có hiệu quả bằng thiết bị laser nhưng chi phí khá đắt, mỗi lần mất hơn 100 triệu đồng, cứ đều đặn 2 tháng/1 lần như thế.

niem-hy-vong-danh-cho-benh-nhan-u-mau

BS Hoàng Văn Minh đang khám cho trẻ mắc bệnh liên quan đến u máu sáng 20/2

Vết bớt trên mặt bé V.T.T M giảm bao nhiêu thì tiền gom góp của vợ chồng anh M cũng cạn bấy nhiêu. Trước nguy cơ không đủ chi phí tiếp tục điều trị, anh M đành chia sẻ điều này cùng với BS Lim Thiam Chye-người trực tiếp điều trị cho cô con gái anh.

“Trong một dịp hội thảo khoa học nào đó, tôi có nghe thông tin tại TPHCM đã có thể điều trị bệnh này của bé, anh thử tìm hiểu xem. Nếu được thì đó là cách giúp anh thoát gánh nặng chi phí…”, vị bác sĩ người Singapore gợi ý. Tiếp nhận thông tin này, vợ chồng anh M “mừng như bắt được vàng” liền tim hiểu rồi tức tốc vào TP HCM.

Thời điểm đó, Khoa Y học hạt nhân (Bệnh viện Ung bướu TP HCM) vừa đầu tư thiết bị điều trị u máu bằng laser nhưng chưa đi vào hoạt động, trong khi đó bé M buộc phải tuân thủ phác đồ điều trị với thời gian được ấn định không thể thay đổi.

Vì vậy, BS Trần Đặng Ngọc Linh- Trưởng khoa Y học hạt nhân đã giới thiệu vợ chồng anh M đưa bé M đến đơn vị thực hành điều trị Trung tâm U máu thuộc ĐH Y Dược TP HCM- một địa chỉ duy nhất ở Việt Nam tại thời điểm đó có đủ điều kiện chữa trị bệnh u máu của bé M theo đúng phác đồ.

“Thật không thể diễn tả hết sự vui mừng của vợ chồng tôi khi nghe các bác sĩ thuộc Trung tâm U máu nói rằng có thể tiếp tục điều trị cho bé M. Ngay khi chúng tôi sắp đối mặt với sự tuyệt vọng thì sự tiếp nhận điều trị của Trung tâm U máu đã thổi bùng hy vọng cho mọi người trong gia đình.

Điều đáng nói là con gái tôi được điều trị miễn phí theo chính sách mà Trung tâm đang áp dụng (điều trị miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi). Với gia đình chúng tôi, chỉ sự hiện hữu của một trung tâm có thể chữa được bệnh u máu bằng laser tại Việt Nam đã là điều kỳ diệu”, anh M chia sẻ.

Hơn 2.000 trẻ được điều trị miễn phí

Sau 3 năm tổ chức khám và điều trị các bệnh liên quan đến u máu với sự hợp tác của 3 trường đại học (Đại học Y khoa Harvard, Đại học Y khoa Baylor, Viện Laser Beckman) và Bệnh viện Đa khoa Massachusetts của Hoa Kỳ, ĐH Y Dược TP HCM đã quyết định thành lập Trung tâm U máu hồi tháng 3/2012.

Đơn vị thực hành điều trị thuộc Trung tâm này đặt tại địa chỉ 221B- Hoàng Văn Thụ, Q. Phú Nhuận, TP HCM. Ngay khi thành lập, Trung tâm đã được các bác sĩ Hoa Kỳ tặng 4 máy laser hiện đại bậc nhất giúp điều trị những bệnh lý về sắc tố và mạch máu.

U máu là bệnh lý bẩm sinh bất thường về mạch máu mà các tổn thương thường xuất hiện ngay sau khi trẻ sinh ra. Đây là một bệnh lành tính có thể khỏi tự nhiên, tuy không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống.

Trước khi phương pháp chữa trị u máu bằng laser với các thiết bị hiện đại đắt tiền hiện diện tại Trung tâm U máu, phương pháp chữa trị bệnh này phổ biến ở Việt Nam là dán P32, tiêm xơ, phẫu thuật…Tuy nhiên, các phương pháp chữa trị này thường để lại di chứng mà chủ yếu là sẹo khiến bệnh nhân mặc cảm, mất tự tin…

BS Hoàng Văn Minh- Giám đốc Trung tâm U máu, chia sẻ: Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã tiếp nhận và điều trị miễn phí cho trẻ bị mắc các bệnh liên quan đến u máu trên khắp cả nước. Hiện mỗi ngày tại Trung tâm có thể trả lại vẻ mặt hoặc thân hình lành lặn bình thường cho trẻ mắc bệnh u máu luôn đông cứng phụ huynh bế con đến khám và điều trị.

Có trẻ thì u máu cả vùng bụng, có trẻ lại hứng cả bờ vai, nhiều trẻ giống như bé M không may nhận cả vết bớt máu trên mặt ngay từ khi sinh ra. Nếu không có Trung tâm U máu với những bác sĩ tận tình, những thiết bị hiện đại bởi sự sẻ chia của nhiều đơn vị bạn từ nước ngoài, kể cả sẻ chia về chuyên môn, có lẽ nhiều em bé Việt Nam sẽ phải lớn lên với nỗi mặc cảm suốt đời.

Theo sức khỏe 

Cần phải kiểm tra sức khỏe định kỳ

Chuyên gia y tế hàng đầu Malaysia nhấn mạnh nguy cơ tử vong từ bệnh động mạch vành và cơ hội ngăn ngừa bằng cách kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm.

Trở lại từ những nhu cầu thiết thực và từ thành công của những chương trình trong năm 2013, vừa qua Hội Đồng Chăm sóc Sức khỏe – Du lịch Malaysia – MHTC ( trực thuộc Bộ Y Tế Malaysia) và Insmart đã tổ chức hội thảo sức khỏe đầu tiên của năm 2014 tại TPHCM. Viện tim quốc gia (IJN), một trung tâm chuyên khoa tim mạch nổi tiếng của Malaysia cùng hai chuyên gia đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc về sự nguy hiểm của căn bệnh tim cho những khách mời đến tham dự hội thảo.

can-phai-kiem-tra-suc-khoe-dinh-ky

… nếu mọi người chú trọng đến hoạt động khám sức khỏe định kỳ nhằm phát hiện sớm các bệnh liên quan đến tim, mạch, theo bác sĩ Ika Faizura.

Chuyên gia lâm sàng – bác sĩ Ika Faizura đã mở đầu buổi hội thảo bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng về nhận thức của bệnh tim mạch, chiếm mức báo động 40% tỉ lệ tử vong hằng năm với căn bệnh phổ biến nhất là bệnh động mạch vành (CAD).

“CAD là nguyên nhân gây ra suy tim và đột tử. Tuy nhiên căn bệnh này có thể được ngăn ngừa bằng cách kiểm tra sức khỏe sớm bởi các liệu pháp kiểm tra gắng sức cơ bản, ECG, Echo, Chụp CT mạch vành xâm lấn và không xâm lấn. Điều trị mạch vành bao gồm sử dụng thuốc và tái thông mạch máu như là phẫu thuật tạo hình mạch (đặt stent) và phẫu thuật bắc cầu”-bác sĩ Ika đưa ra lời khuyên.
Bác sĩ Ika còn chia sẻ thêm với tất cả những người tham dự về các yếu tố rủi ro có thể thay đổi và không thể thay đổi được và sự hiểu biết về chính những nhân tố rủi ro và những hành động cần thiết để giảm thiểu nguy cơ cho bệnh động mạch vành.

Một chuyên gia khác cũng đến từ Viện Tim quốc gia Malaysia, bác sĩ Leong Ming Chern thuộc Nhi khoa tim mạch, đã giới thiệu tóm tắt cho tất cả những người tham gia về bệnh tim bẩm sinh (CHD), vốn là một bất thường trong cấu trúc tim mạch có thể ảnh hưởng đến gần 2/100 trẻ em được sinh ra.

can-phai-kiem-tra-suc-khoe-dinh-ky1

Hội thảo sức khỏe nhận được sự quan tâm của đông đảo người dân.

Đa phần các nguyên nhân không rõ ràng tuy nhiên có một vài yếu tố có thể biết trước như di truyền, lạm dụng thuốc hay ma túy và nhiễm vitus khi mang thai. Có hai dạng bệnh CHD là không tím tái và tím tái. Nguyên nhân xảy ra khi ống dẫn máu từ phần bên trái tim qua bên phải tim do khiếm khuyết trong cấu trúc (lỗ) của vách ngăn khi máu không oxy đi qua phổi và nhập vào hệ tuần hoàn hoặc hỗn hợp cả máu có oxy và máu không có oxy và hệ tuần hoàn.

“Triệu chứng tím tái ở trẻ em thông thường là ngón tay, ngón chân và môi có màu xanh ngay cả khi nằm nghỉ. May mắn thay nhờ có các xét nghiệm thích hợp như siêu âm tim, chụp CT, MRI , thông tim, v..v và phẫu thuật các khuyết tật tim được thực hiện một cách chính xác, vì vậy hầu hết trẻ em có thể lớn lên thành người khỏe mạnh” – bác sĩ Leong nói.

Theo bác sĩ Leong, cách đây nhiều năm Viện tim quốc gia Malaysia từng điều trị thành công cho bệnh nhân Việt Nam và đến nay đã thiết lập sự hợp tác với Viện Tim Tâm Đức (TPHCM), Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), điều này rất quan trọng cho các bệnh nhân khi tiếp tục theo dõi tại Việt Nam.

Tại buổi hội thảo sức khỏe, ông TE Cheam, Giám đốc điều hành Insmart nói rằng Viện tim quốc gia Malaysia sẽ tiếp tục tham gia những hội thảo sức khỏe tương tự tại Việt Nam trong thời gian tới. “Điều đó cho thấy sự cam kết, quan tâm và cống hiến cho cộng đồng tại Việt Nam của chúng tôi”-vị CEO Insmart, một đơn vị hàng đầu về ủy thác bồi thường bảo hiểm tại Việt Nam chia sẻ.

Lợi và hại của điều hòa nhiệt độ

Máy điều hòa là một công cụ công nghệ hữu ích, song nó cũng chứa trong mình nó những tai hại nhất định, mà nếu dùng không biết cách có thể gây ra những biến cố cho sức khỏe. Các tác hại có thể kể ra là nhiễm lạnh đột ngột, viêm đường hô hấp, khô da, dị ứng da, thiếu khí thở… Do đó, lời khuyên khi dùng điều hòa nên thực hiện những biện pháp dưới đây để có được những lợi điểm tốt nhất.

Thứ nhất, không lắp điều hòa theo hướng chĩa thẳng vào giường nằm, nếu là phòng ngủ vì nguồn nhiệt độ lạnh nhất chính là ở chính giữa dòng không khí ra của điều hòa. Con bạn có thể bị nhiễm lạnh bởi dòng không khí này.

Thứ hai, điều chỉnh nhiệt độ, bạn cần thiết chỉ để nhiệt độ trong phòng nằm trong khoảng 28C. Để có được nhiệt độ này, chúng ta chỉ nên duy trì nhiệt độ điều hòa ở ngưỡng từ 27-29C. Khởi động điều hòa có thể dùng chế độ lạnh nhanh hoặc 18C nhưng khi đã đủ mát, nhất thiết bạn phải duy trì về nhiệt độ này.

loi-va-hai-cua-dieu-hoa-nhiet-do

Thứ ba, hơi ẩm, cần thiết duy trì được độ ẩm trong phòng. Nếu có thể, bạn hãy duy trì độ ẩm đạt 70% (có thể xác định được bằng đồng hồ đo độ ẩm). Tuy nhiên, trong môi trường điều hòa thì đạt được độ ẩm khoảng 55-60% là tốt rồi. Hãy để một chậu nước nhỏ hoặc máy tạo hơi nước cấp độ nhỏ là đủ cho cả căn phòng. Nhất là phòng có trẻ em.

Thứ tư, đắp thêm chăn mỏng cho trẻ vào ban đêm, do nhiệt độ là 28C, nhưng khi ngủ thì ít hoạt động, ít nhiệt lượng được tạo ra nên trẻ vẫn có thể bị lạnh. Do vậy, mẹ phải đắp một cái chăn mỏng lên người trẻ từ đầu gối đến hết ngực. Để kiểm tra trẻ có bị lạnh không, bạn hãy sờ chân, tay, vành tai. Nếu những vị trí này mà mát thì đạt yêu cầu, còn nếu mát… lạnh thì cần nâng nhiệt độ lên. Chú ý là chỉ những người ngồi trong điều hoà mới có cảm nhận chính xác nhiệt độ da của trẻ.

Theo sức khỏe đời sống

Cần lưu ý khi dùng thuốc dạng sủi

Không phải bệnh nào cũng uống

Đối với những người già, trẻ nhỏ hay những đối tượng khó uống thuốc, thì những loại thuốc dạng viên sủi như dạng cứu cánh dễ uống dễ sử dụng và rất tiện lợi.

Ưu điểm của thuốc dạng viên sủi là dễ uống, tác dụng nhanh, tiện dụng vì trước khi uống viên sủi được chuyển thành dạng lỏng mang lại hiệu quả tức thì. Trong các thuốc dạng viên sủi thường có mùi hương dễ chịu nên người bệnh mọi lứa tuổi đều thích uống.

thuoc-sui

Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc dạng viên sủi, nhiều người không biết cách hoặc sử dụng viên sủi tùy tiện như uống quá nhiều trong ngày, uống không đúng thời điểm, hoặc pha viên sủi với một số thứ khác linh tinh… Những người đang có những bệnh mà không thể dùng viên sủi này, nhưng vẫn uống dẫn đến việc không những không khỏe mà còn nguy cơ sinh bệnh như anh Hòa và chị Nga đã không tìm hiểu kỹ hoặc tư vấn của những người có chuyên môn để đến khi “tiền mất tật mang” mới ngã ngửa người ra.

Nguyên tắc sử dụng thuốc dạng sủi

Thuốc có tác dụng nhanh, nhưng thuốc có thể gây hại cho sức khỏe nếu lạm dụng hoặc sử dụng không đúng cách.

Ngoài ra, thuốc dạng sủi phải giữ nguyên vẹn viên, phải bảo quản thật tốt để tránh hút ẩm. Bạn không nên dùng thuốc dạng sủi khi đã bị ẩm, vỏ thiếc đã bị thủng. Nên để thuốc ở xa tầm tay của trẻ em.

Bạn chỉ nên uống thuốc sau khi thuốc đã hòa tan hoàn toàn vào một lượng nước sôi để nguội theo hướng dẫn. Đặc biệt, bạn không được bẻ thuốc sủi hoặc để nguyên cho vào miệng và uống. Liều thuốc được chia đều cách nhau ít nhất 4 giờ, người suy thận mỗi lần uống cách nhau ít nhất 8 giờ.
Thuốc dạng sủi có thể gây đầy hơi, táo bón hoặc tiêu chảy, vì thế không nên dùng viên thuốc sủi sau khi đã uống các loại nước giải khát có gas.

Đối với các loại thuốc sủi giảm đau hạ sốt không dùng chung với các loại thuốc khác có chứa paracetamol vì sẽ gây quá liều điều trị.

Những thuốc sủi Efferalgan dành cho người lớn và trẻ em cân nặng trên 15kg, được chỉ định dùng trong các trường hợp đau vừa và đau nặng khi dùng các thuốc khác không kết quả. Những người có tiền đau dạ dày khi dùng loại thuốc giảm đau này cần phải có hướng dẫn cụ thể của bác sĩ, nếu chúng ta lạm dụng quá nhiều vào thuốc dạng sủi giảm đau này càng khiến bệnh dạ day của bạn trở nên tồi tệ.

Đặc biệt, đối những người bị cao huyết áp, người suy thận và những người kiêng ăn muối tuyệt đối không dùng thuốc dạng sủi bọt nói chung. Bởi vì, bất cứ viên sủi bọt nào cũng chứa natri (muối). Vì thế nếu ta dùng nhiều thuốc dạng viêm sủi sàng làm cho bệnh trở nên trầm trọng hợn.

Ngoài ra, có một số thuốc dạng sủi bổ sung vitamin C và canxi, có chứa thành phần muối khoáng canxi thì những người bị bệnh canxi cao trong máu và người sỏi thận cần hết sức lưu ý.

Tốt nhất khi sử dụng các dạng thuốc viên sủi bất kể là thuốc bổ, thuốc điều trị hay các loại thuốc dạng vitamin cũng cần có sự hướng dẫn của bác sĩ để tránh những tác dụng phụ có thể xảy ra khi sử dụng.

Nguồn sức khỏe đời sống

Dầu , gan cá mập rất có ích cho sức khỏe

Từ lâu, con người đã biết cách sử dụng dầu gan cá mập để nâng cao sức khỏe. Hiện nay, khoa học ngày càng làm sáng tỏ thêm vai trò và những đặc tính quý giá của dầu gan cá mập có tác dụng tốt với sức khỏe như: tăng cường hệ miễn dịch, phòng chống ung thư…

Từ nhiều thế kỷ trước, những người đánh cá Bắc Âu đã sử dụng dầu gan cá mập làm thuốc tăng lực, chữa vết thương và bệnh cúm. Còn ở phương Đông, những thủy thủ Nhật Bản từ lâu cũng biết đến lợi ích của chất này, mà họ gọi là “samedawa”, có nghĩa là “thuốc vạn năng chữa tất cả các bệnh”.

Tuy nhiên, phải đến những năm 1950, một thầy thuốc người Thụy Điển mới phân lập được hoạt chất của những yếu tố kích thích miễn dịch trong dầu gan cá mập: đó là những alkylglyceron (AKG), một họ của các hợp chất lipid với những nồng độ đặc biệt cao.

dau-gan-ca

Trong nhiều thế kỷ, các bộ tộc Viking và thủy thủ Nhật Bản đã sử dụng dầu gan cá mập làm chất tăng lực. Họ đã nhận thấy cá mập có một hệ thống miễn dịch cực mạnh làm chúng có khả năng đề kháng đặc biệt chống lại bệnh tật. Một số loài cá mập có thể sống tới hàng trăm năm mà không hề mắc bệnh.

Lúc đầu người ta cho là hiệu quả của hệ miễn dịch của cá mập hoàn toàn dựa trên thành phần của vây cá. Nhưng trên thực tế, chính tại gan cá mập người ta mới thấy nguồn chủ yếu của sự đề kháng miễn dịch đặc biệt này có mối liên quan với tỷ lệ nồng độ cao của các AKG.

Chính các chất AKG được các nhà nghiên cứu Nhật Bản phát hiện từ năm 1922 nhưng những tính chất của chúng chỉ được xác định vào những năm 1950 bởi một nhóm các nhà nghiên cứu Thụy Điển dưới sự chỉ đạo của BS. Astrid Brohult.

Những nghiên cứu khác cũng cho thấy sự có mặt của AKG trong một số bộ phận cơ thể của người liên quan nhiều đến quy trình đề kháng tự nhiên là lách, gan và tủy sống. Sự có mặt của AGK trong sữa mẹ bảo vệ trẻ sơ sinh chống lại nhiễm khuẩn trước khi hệ miễn dịch của trẻ phát triển.

Người ta cũng nhận thấy trong trường hợp nhiễm khuẩn, stress hay dị ứng, tỷ lệ AKG trong cơ thể giảm một cách có ý nghĩa. Đưa một lượng AKG vào cơ thể có khả năng giúp tăng thêm sự miễn dịch đã suy yếu.

Từ thời kỳ đó, những nghiên cứu được thực hiện ở Nhật hoặc châu Âu đều đã chứng minh là dùng các loại dầu cá giàu AKG có nhiều lợi ích để bảo vệ sức khỏe. Đến nay, những nghiên cứu khoa học vẫn đang tiếp tục nhằm làm rõ thêm những cơ chế tác động của AKG đối với con người.
Dầu gan cá mập tăng cường hệ miễn dịch

Dầu gan cá mập lúc đầu được sử dụng rất hiệu quả để chống viêm và chống nhiễm khuẩn. Những người sử dụng chia sẻ những kết quả rất thuyết phục khi dùng để kích thích sức đề kháng miễn dịch để phòng và nhanh khỏi các bệnh như viêm phế quản, cảm cúm và một số bệnh nhiễm khuẩn nhẹ ngoài da.

Việc này rất phổ biến trong cộng đồng những người đánh cá. Những AKG có vai trò hàng đầu trong miễn dịch bằng cách bình thường hóa chức năng của tủy xương thông qua kích thích sự sản xuất bạch cầu gọi là đại thực bào để tiêu diệt các tác nhân gây bệnh. Theo nhiều môn đồ, một liều điều trị dầu cá mập trong vài tuần lễ rất tốt chống sự mệt mỏi trường diễn và người đau cơ. Kết quả này do khả năng của AKG kích thích sự sinh trưởng của Lactobacillus acidophilus, một trong những loài vi khuẩn có ích nhất trong việc bảo vệ miễn dịch của ruột.

Một trong những lợi ích phổ biến của dầu gan cá mập, do tác dụng kích thích miễn dịch là làm tăng hiệu quả các trị liệu chống ung thư và giảm thiểu các tác dụng phụ.

Năm 1954, GS. A.Brohult, người Thụy Điển trình bày những kết quả của một nghiên cứu lâm sàng trên người, chứng minh những lợi ích của AKG như một bổ trợ trong điều trị một số bệnh ung thư. Từ những công bố khoa học đầu tiên, có những công trình khác nhằm chứng minh việc dùng AKG trước, trong và sau hóa trị hay xạ trị đã làm giảm sự hủy hoại bạch cầu do các liệu pháp chống ung bướu cổ điển gây ra.

Tính chất kháng ung bướu này được giải thích bởi tác dụng ức chế của AKG trên các protein kinase C liên quan đến sự tăng sinh của tế bào ung thư. Hơn nữa, các AKG, nhờ tính chất ôxy hóa, cũng tham gia vào việc tiêu hủy các gốc tự do nội bào liên quan đến quy trình gây ung thư.
Vì tất cả những lý do trên, dầu gan cá mập ngày càng được bệnh nhân ung thư sử dụng nhiều hơn để hỗ trợ trong các liệu pháp quy ước.

AKG và vấn đề bảo vệ nguồn sinh thái biển
Nhiều công ty dược phẩm đã gia tăng sản xuất những sản phẩm dược phẩm có nguồn gốc từ dầu gan cá mập. Tuy nhiên, việc các công ty này cần chấp hành những quy định về những quy chế bảo vệ động vật và đánh cá là rất quan trọng. Vì hiện nay một số loài cá mập đang có nguy cơ tuyệt chủng và đang được công ước quốc tế bảo vệ (Công ước Washington). Những quốc gia trong cộng đồng châu Âu bắt buộc phải tuân thủ những quy ước này. Sản phẩm của họ phải bảo đảm không được chế biến từ những loài nằm trong danh mục bị đe dọa.

Mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng gan cá mập được chế biến thường là những sản phẩm phụ của ngành cá, nghĩa là loài cá mập không bị đánh bắt vì mục đích buôn bán dầu lấy từ gan của chúng. Bởi vậy, các quốc gia thuộc cộng đồng châu Âu đã ý thức đến việc đánh bắt có hạn mức (quota) nhất định để bảo vệ hệ sinh thái biển và sự đánh bắt lâu dài.

Nguồn sức khỏe đời sống

Sự thật đằng sau những tin “hot” trong y học năm 2013

1. Vắc xin sốt rét mới có thể cứu sống hàng triệu người

Giữa rừng thông tin về các bệnh liên quan tới lối sống như béo phì và tiểu đường, người ta rất dễ bỏ qua những kẻ “sát nhân” thực sự – như bệnh sốt rét. Căn bệnh chết người này làm chết 600.000 người mỗi năm, phần lớn trong đó là trẻ em

su-that-dang-sau-nhung-tin-hot-trong-y-hoc-nam-2013

Điều đáng phấn khởi là các nhà nghiên cứu Mỹ có lẽ đã tìm ra loại vắc xin chống lại Plasmodium falciparum – loại ký sinh trùng sốt rét gây bệnh nhiều nhất. Đây là bước phát triển tuy còn rất sớm nhưng hứa hẹn nhiều triển vọng.

2. “Đột phá lịch sử” trong nghiên cứu bệnh Alzheimer

su-that-dang-sau-nhung-tin-hot-trong-y-hoc-nam-20131

Tháng 10 năm 2013 nhiều tạp chí y học đã thông báo về đột phá lịch sử trong việc nghiên cứu cách điều trị và khả năng điều trị khỏi những bệnh não thoái hóa thần kinh như bệnh Alzheimer. Một hợp chất được thấy là ngăn ngừa thành công tình trạng chết tế bào não trên chuột bị bệnh dạng Alzheimer.

3. Điều trị sớm có thể là chìa khóa để “chữa khỏi HIV về mặt chức năng”

su-that-dang-sau-nhung-tin-hot-trong-y-hoc-nam-20132

Đôi khi bước tiến mới được tạo không chỉ nhờ xem xét bằng chứng mới mà còn nhờ nghiên cứu lại bằng chứng đã có. Đây là trường hợp đã xảy ra với nhóm các nhà nghiên cứu Pháp, những người mà khi xem xét các báo cáo về ca bệnh riêng lẻ, đã phát hiện ra rằng một số bệnh nhân được điều trị tích cực bằng thuốc chống vi rút sớm sau khi có chẩn đoán đã được “chữa khỏi” HIV một cách hiệu quả.

4. Ăn hạt có vỏ cứng giúp kéo dài tuổi thọ

su-that-dang-sau-nhung-tin-hot-trong-y-hoc-nam-20133

Một nghiên cứu gồm hơn 100.000 người qua 3 thập kỷ xứng đáng giành một chỗ trong top 5 này.

Ngoài một số tin tốt khác, nghiên cứu cho thấy việc ăn các loại hạt có vỏ cứng (không muối) có liên quan chặt chẽ với giảm nguy cơ chết sớm.

5. Nghiên cứu bệnh cúm có thể đưa tới vắc xin toàn cầu

su-that-dang-sau-nhung-tin-hot-trong-y-hoc-nam-20134

Đối với hầu hết chúng ta bệnh cúm chỉ là một trải nghiệm không mấy dễ chịu, nhưng với những người nhạy cảm hơn, bệnh cúm có thể gây chết người. Vì thế thông tin về một kỹ thuật “thay đổi tận gốc quan niệm” bao gồm nhằm vào lõi của vi rút (là phần không thay đổi) thay vì lớp vỏ (luôn thay đổi) đã được chứng minh là thành công chắc chắn sẽ nhận được sự hoan nghênh.

Cẩm Tú

Tác dụng phụ của thuốc chữa viêm khớp

Có thể nói diclofenac là thuốc khá phổ biến và quen thuộc trong điều trị các bệnh viêm khớp. Nhưng bên cạnh tác dụng làm giảm viêm, giảm đau khớp thì thuốc lại có thể gây hại đường tiêu hóa cho người sử dụng như gây loét, chảy máu dạ dày, tá tràng (đây là tác dụng phụ cần lưu ý khi dùng thuốc này). Nguyên nhân là do thuốc làm giảm tổng hợp prostaglandin (chất gây viêm) dẫn đến ức chế tạo mucin (chất có tác dụng bảo vệ đường tiêu hóa). Bên cạnh đó, prostaglandin có vai trò duy trì tưới máu thận nên khi ức chế tổng hợp prostaglandin thuốc lại gây viêm thận kẽ, viêm cầu thận, hoại tử nhú và hội chứng thận hư, đặc biệt ở những người bị bệnh thận hoặc suy tim mạn tính. Với những người bệnh này, các thuốc chống viêm không steroid có thể làm tăng suy thận cấp và suy tim cấp.

tac-dung-phu-cua-thuoc-chua-viem-khop

Có một điều cần lưu ý nữa là, người già thường hay mắc các bệnh về xương khớp hơn và lại mắc nhiều bệnh cùng một lúc, vì vậy, việc phải dùng đồng thời nhiều thuốc đôi khi là điều không tránh khỏi. Diclofenac có thể làm tăng hay ức chế tác dụng của các thuốc khác, do vậy không nên dùng diclofenac phối hợp với các thuốc sau: thuốc chống đông theo đường uống và heparin (vì có nguy cơ gây xuất huyết nặng); kháng sinh nhóm quinolon (diclofenac và các thuốc chống viêm không steroid khác có thể làm tăng tác dụng phụ lên hệ thần kinh trung ương của kháng sinh nhóm quinolon, dẫn đến co giật); aspirin hoặc glucocorticoid (vì các thuốc này làm giảm nồng độ diclofenac trong huyết tương và làm tăng nguy cơ cũng như làm tăng nghiêm trọng tổn thương dạ dày – ruột); thuốc trợ tim digoxin (do diclofenac có thể làm tăng nồng độ digoxin trong huyết thanh và kéo dài nửa đời của digoxin. Cần định lượng nồng độ digoxin trong máu và cần giảm liều digoxin nếu dùng đồng thời cả 2 thuốc), dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung (vì có tài liệu cho biết dùng diclofenac làm mất tác dụng tránh thai)…

Hiện nay trong cộng đồng rất nhiều người tự ý hoặc mách bảo nhau mua thuốc này về dùng mỗi khi có dấu hiệu nhức mỏi, sưng đau khớp. Nhiều trường hợp lạm dụng đã dẫn đến các tai biến do thuốc gây ra, hậu quả là chưa khỏi bệnh khớp lại gánh thêm bệnh loét hoặc chảy máu dạ dày do thuốc. Để tránh những hậu quả trên, người bệnh cần đi khám, dùng thuốc với sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa.

DS. Hoàng Thu Thủy

Nguồn sức khỏe đời sống

Một số loại thuốc tránh dùng khi suy thận nhẹ

 Đa số các loại thuốc: uống, tiêm, dùng ngoài da (nhỏ mắt, mũi, tai; đặt hậu môn, âm đạo) xông hít… đều đào thải qua thận dưới dạng biến đổi hay không biến đổi nên đều có thể gây hại thận tùy theo mức độ độc hại của thuốc. Người suy giảm chức năng thận nhẹ có độ thanh thải creatinin huyết thanh trên 150micro.mol/L và người trên 60 tuổi có độ thanh thải creatinin huyết thanh trên 120 micro.mol/L đã có thể gặp những trường hợp như: không bài xuất hết được thuốc hoặc chất chuyển hóa của thuốc nên tích tụ lại gây nhiễm độc cho cơ thể. Một số thuốc không có hiệu quả hoặc giảm tác dụng khi chức năng thận bị suy giảm.

mot-so-loai-thuoc-tranh-dung-khi-suy-than-nhe

Vì vậy, với những đối tượng này nên lưu ý tránh dùng các thuốc sau: thuốc điều trị bệnh glocom: acetazolamid,  thuốc chống ung thư: cisplatin; ifosfamid;  thuốc chống rối loạn lipid máu: clofibrat, kháng sinh chống nhiễm khuẩn nặng: colistin; thuốc chống viêm không steroid: indomethacin; ibuprofen; ketoprofen;  meloxicam; piroxicam; naproxen; tenoxicam, thuốc điều trị bệnh đái tháo đường typ 2: metformin; thuốc kháng khuẩn tiết niệu: nitrofurantoin; thuốc giải độc kim loại: penicilamin; sulfonamid kháng khuẩn: sulfadiazin; các loại kháng sinh: neomycin; tetracylin và các thuốc cùng nhóm như: doxycylin,  myocylin…

Nguồn sức khỏe đời sống

Công dụng của các loại cá thường ăn hàng ngày

Đương nhiên, các loại cá khác nhau thì có công dụng bồi bổ sức khỏe không giống nhau. Dưới đây là nhiều loại cá bổ dưỡng mà có thể bạn chưa hề biết tới tác dụng của chúng.

Cá trắm cỏ – Làm ấm dạ dày
cong-dung-cua-cac-loai-ca-thuong-an-hang-ngay
Giàu vitamin B1, B2, niacin, axit béo không bão hòa cũng như các khoáng chất như canxi, phốt pho, sắt, kẽm, selen…, là món ăn dưỡng sinh giúp ôn trung bổ hư. Có tác dụng làm ấm dạ dày, bình gan. Món ăn này có thể dùng cho người bị mỡ máu cao, trẻ em phát triển không tốt, người bị sưng phù, phổi kết hạch, ít sữa sau sinh… Cá trắm hấp còn mang lại công dụng sáng mắt, thích hợp cho người già dùng để bồi bổ sức khoẻ.

Cá hồi – Bồi bổ ngũ tạng

cong-dung-cua-cac-loai-ca-thuong-an-hang-ngay1

Có tác dụng làm ấm dạ dày, bổ hư, sáng da, đuổi gió, sát trùng, bồi bổ ngũ tạng…có thể dùng để hỗ điều trị bệnh viêm gan mạn dai dẳng, viêm gan mạn tính. Những người mắc bệnh gan sau khi dùng hấp chín cá hồi dưới một lớp dầu lên trên bề mặt, ăn để cải thiện triệu chứng bệnh.

Cá diếc – Lợi tiểu
cong-dung-cua-cac-loai-ca-thuong-an-hang-ngay2
Cá diếc có vị thơm, là món ăn ngon và lành. Thịt cá chứa nhiều dinh dưỡng: protein chiếm 17,7%, lipit 1,8%, và nhiều khoáng chất như canxi 70mg%, phốt pho 152mg%, sắt 0,8mg%, nhiều vitamin các loại như B1, axit nicotinic… Đông y cho rằng, cá diếc có tác dụng ôn trung bổ hư, ích khí kiện tì, lợi tiểu…, được dùng cho những người bệnh lâu ngày, cơ thể suy nhược, gầy còm ốm yếu, khí huyết bất túc khiến ăn uống kém, ợ chua, hoặc tỳ hư phù nề, tiểu tiện khó…

Ngoài ra, cá diếc còn giúp lợi sữa, có lợi cho chức năng tim mạch, giảm độ nhớt máu, thúc đẩy tuần hoàn máu.

Cá chép – Trị ho và hen suyễn
cong-dung-cua-cac-loai-ca-thuong-an-hang-ngay3
Theo Đông y, cá chép mang vị ngọt tính bình, chứa nhiều đạm và nhiều vitamin. Có tác dụng lợi thủy tiêu thũng, trị ho và hen suyễn, hạ khí thông nhũ, khai vị kiện tỳ (lợi tiểu tiêu phù, thông sữa, tạo thèm ăn và bồi dưỡng hệ tiêu hóa). Bất kể ai có các chứng ứ nước trong cơ thể, tiêu chảy nước, bí tiểu, hoàng đản (vàng da) và thai nghén phù thũng đều có thể dùng.

Đối với những người nhiều đờm ứ tắc, ho suyễn khó thở, thai động bất an, thiếu sữa sau khi sinh cũng có tác dụng điều trị nhất định. Cá chép còn thích hợp cho người luống tuổi, phụ nữ thai nghén hay “tẩm bổ” sau khi sinh.

Cá bống – Tốt cho da
cong-dung-cua-cac-loai-ca-thuong-an-hang-ngay4
Cá bống có công dụng ôn trung ích khí, làm ấm dạ dày, lưu thông khí huyết qua da…là thực phẩm bổ khí dưỡng sinh. Cá bống cũng chứa hàm lượng collagen phong phú, vừa có tác dụng tăng cường sức khoẻ, lại có thể làm đẹp, được coi là thực phẩm lý tưởng cho làn da của chị em, giúp giải quyết các vấn đề như da khô, gàu, tóc khô rụng…

Cá trích – Chống ung thư
cong-dung-cua-cac-loai-ca-thuong-an-hang-ngay5
Cá trích là loại cá ít tanh, ăn rất lành, thịt trắng, ít mỡ ăn rất béo vì chứa nhiều dầu. Dầu trong cá trích chứa nhiều omega-3. Omega-3 là một dạng axit béo sản xuất ra DHA – chất thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của não bộ, tăng cường sức khỏe não bộ, điều chỉnh huyết áp và phòng bệnh tim mạch. Ngoài ra cá trích còn cung cấp vitamin D rất tốt cho cơ thể.

Cá trích có tác dụng bổ khí dưỡng vị, dưỡng ẩm lợi thủy, trừ gió, giảm mệt mỏi… Ngoài ra, các nguyên tố vi lượng như selen, kẽm….trong cá trích còn giúp chống ung thư.

Cá mực – Dưỡng tâm thông mạch
cong-dung-cua-cac-loai-ca-thuong-an-hang-ngay6
Các mực có giá trị dinh dưỡng cao như có nhiều protid, chất béo, đường, khoáng và nhiều loại axit amin. Theo Đông y, thịt cá mực vị mặn, tính hơi ôn, không độc. Thịt cá mực dưỡng huyết thanh vị, dưỡng tâm thông mạch, nhập can bổ huyết, nhập thận tư thủy, cường chí. Công hiệu kiện tỳ, lợi tiểu, cầm máu, chỉ đới, ôn kinh. Chữa thổ huyết, phù thũng, thấp khớp, đau mỏi tê liệt chân tay, cước khí, trĩ, phụ nữ bế kinh.

Cá chạch – Phòng bệnh tiểu đường
cong-dung-cua-cac-loai-ca-thuong-an-hang-ngay7
Trong y học cổ truyền, cá chạch còn gọi là nê thu hay thu ngư. Cá này có vị ngọt, tính bình, tác dụng bổ trung ích khí, khử thấp tà, giải khát, tỉnh rượu… Cá này còn có tác dụng phòng ngừa bệnh tiểu đường, liệt dương, viêm gan virus, trĩ và lở ngứa…

(Theo ttvn.vn)

Chữa bệnh vảy nến bằng thảo dược

Vẩy nến là một bệnh có cơ chế tự miễn, tức là tình trạng hệ miễn dịch sản sinh ra kháng thể tự sinh và tấn công vào các tế bào của chính cơ thể mình. Yếu tố nguy cơ gây bệnh có thể do di truyền, yếu tố stress, nhiễm khuẩn, chấn thương cơ học, vật lý, rối loạn nội tiết, tác dụng phụ của thuốc tây y… Ở Việt Nam, tỉ lệ người mắc vẩy nến chiếm khoảng 5-7% tổng số bệnh nhân đến khám tại các phòng khám da liễu.

Bệnh vẩy nến biểu hiện trên da bằng các mảng đỏ, có ranh giới rất rõ với vùng da lành bên cạnh, kích thước từ vài cm đến hàng chục cm (vẩy nến mảng) hoặc chỉ là các thương tổn màu đỏ, hơi gồ lên mặt da kích thước chừng vài mm, khá đồng đều (vẩy nến giọt). Khi bị vẩy nến tại móng tay, móng chân, những vị trí này sẽ trở nên xù xì, giòn, dễ gẫy. Bệnh cũng có thể làm cho da ở toàn thân bị đỏ, căng không hồi phục (vẩy nến thể đỏ da toàn thân). Vẩy nến ảnh hưởng nhiều đến tâm lý, sinh hoạt, thẩm mỹ, khiến chất lượng cuộc sống của người bệnh bị giảm sút nghiêm trọng.
vay-nen
Về điều trị, bác sĩ thường chỉ định cho bệnh nhân dùng các thuốc ức chế hệ thống miễn dịch như methotrexat, cyclosporin…; các thuốc bôi ngoài da như acid salicylic, kẽm, vitamin D3… Tuy nhiên, các thuốc trong điều trị vẩy nến thường gây ra các tác dụng phụ như: teo cơ, tổn thương gan, thận, máu, ung thư da…

Hiện nay, mặc dù đã có những nghiên cứu về phương pháp điều trị cũng như ngăn ngừa biến chứng do vẩy nến nhưng kết quả vẫn còn hạn chế, bệnh nhân thường gặp nhiều tác dụng phụ khi dùng thuốc điều trị trong thời gian dài. Đặc biệt, đối với các trường hợp phát hiện muộn, việc đẩy lùi vẩy nến càng khó khăn hơn.

Vì vậy, vấn đề cấp bách là cần nâng cao sự hiểu biết cho cộng đồng về căn bệnh này. Các chuyên gia khuyến cáo, việc chẩn đoán và điều trị sớm, đúng cách sẽ giúp giảm thiểu đáng kể triệu chứng, ngăn chặn vẩy nến tái phát. Bệnh nhân có thể thực hiện một số biện pháp nhằm giúp giảm triệu chứng như: ngâm vùng da bị bệnh trong nước ấm từ 10 – 15 phút, bôi một số thuốc dạng kem dưỡng ẩm, bong vẩy lên vùng da bị bệnh…

Bên cạnh đó, hiện nay, xu hướng đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân vẩy nến tin tưởng lựa chọn là sử dụng các sản phẩm thảo dược, hiệu quả bền vững. Ưu điểm của các sản phẩm nguồn gốc thảo dược là có thể tác động vào tận gốc nguyên nhân gây bệnh vẩy nến, giúp tăng cường thông tin giữa các tế bào, điều hòa hệ miễn dịch, từ đó phòng ngừa, hỗ trợ điều trị, cải thiện triệu chứng và ngăn chặn tái phát mà không gây tác dụng phụ kể cả khi sử dụng lâu dài.

Nguồn sức khỏe đời sống

Biểu hiện ngoài da ở người bệnh gan

Suy giảm chức năng của gan, hệ cơ quan lớn thứ hai trong cơ thể, thường gây ra những thay đổi trên da, hệ cơ quan lớn nhất cơ thể. Biểu hiện ngoài da có thể là những dấu hiệu đầu tiên của các bệnh lý ở gan, do đó nhận biết sớm những biểu hiện này có thể giúp phát hiện được những bệnh gan tiềm tàng và có những can thiệp điều trị thích hợp. Các bệnh lý gây suy giảm chức năng gan có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động của rất nhiều hệ cơ quan khác nhau trong cơ thể như hệ tiêu hóa, hệ tạo máu, khớp và da… Xơ gan do rượu thường gây ra các biểu hiện ngoài da hơn so với các bệnh gan mạn tính khác.

Vàng da:

là biểu hiện quan trọng nhất của tình trạng tăng bilirubin (sắc tố mật) trong máu, thường có thể được nhận biết khi nồng độ bilirubin vượt quá 2,5 – 3 mg/dL. Màu sắc của da có thể phản ánh mức độ tăng của bilirubin, trong đó, da thường có màu vàng nhạt khi bilirubin tăng nhẹ và màu vàng sậm hoặc ngả nâu khi bilirubin tăng cao. Một trong những chức năng cơ bản của gan là chuyển hóa bilirubin gián tiếp trong máu thành dạng trực tiếp có thể bài tiết qua phân. Các tổn thương tại gan như viêm gan do virut, nhiễm độc gan do thuốc… thường gây tăng cả bilirubin trực tiếp và gián tiếp trong máu.

bieu-hien-benhgan

Sẩn ngứa: có thể là biểu hiện của một bệnh lý ngoài da đơn thuần hoặc nằm trong bệnh cảnh của một rối loạn mang tính hệ thống hoặc do các bệnh lý tại gan. Gan làm nhiệm vụ trung hòa độc tố và đào thải muối mật, nếu chức năng gan bị suy giảm, những tác nhân này có thể bị tích tụ trong cơ thể và lắng đọng ở da, gây kích ứng và sẩn ngứa. Trong các bệnh lý gan có ứ tắc mật như xơ đường mật tiên phát và tắc đường mật do sỏi, tình trạng sẩn ngứa thường lan tỏa nhưng nặng hơn ở chân và tay.

Mặc dù mức độ của sẩn ngứa không có liên quan trực tiếp với nồng độ của các độc tố và muối mật, nhưng các biện pháp điều trị giảm nồng độ muối mật có thể giúp giảm bớt triệu chứng ngứa. Điều trị sẩn ngứa trong bệnh gan thường gặp rất nhiều khó khăn. Điều trị khởi đầu là sử dụng chất resin trao đổi anion có tác dụng hấp thu các phân tử axít mật như cholestyramine, với liều 4g/ngày, tăng dần đến 24g/ngày, chia 2 lần uống trong bữa ăn. Nếu tình trạng sẩn ngứa không đáp ứng với cholestyramine hoặc người bệnh không dung nạp được với thuốc, có thể điều trị thử bằng thuốc chống lao rifampin, thuốc này có tác dụng thúc đẩy chuyển hóa các chất gây ngứa nội sinh và có hiệu quả giảm ngứa do ứ mật khi được dùng với liều khởi đầu 150mg/ngày và tăng dần lên tới 600mg/ngày, tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng.

Các thuốc dòng thứ 3 có thể được dùng thử là các dẫn xuất kháng thuốc phiện như naltrexone và nalmefene. Gạn huyết tương có thể được cân nhắc sử dụng nếu điều trị bằng thuốc thất bại. Các phương pháp điều trị khác mang tính thực nghiệm bao gồm thay huyết tương, điều trị chống ôxy hóa , chiếu tia hồng ngoại và ghép gan.

Sẩn cục: được đặc trưng bởi sự tạo thành các cục rắn chắc, có vảy và ngứa nhiều, thường đi liền với các vết trầy xước, thâm đen hoặc sẹo do gãi thường xuyên. Nguyên nhân thường gặp của sẩn cục trong các bệnh gan là các loại viêm gan do virut như viêm gan C, viêm gan B… Cơ chế chính xác gây ra sẩn cục trong các bệnh gan còn chưa được biết và phác đồ điều trị chuẩn đối với tình trạng tổn thương này vẫn chưa được xác định, tuy nhiên, trong thực tế, điều trị với thuốc kháng histamin và corticosteroid bôi tại chỗ hoặc tiêm tại chỗ có thể giúp kiểm soát triệu chứng ở phần lớn bệnh nhân. Liều thấp của thalidomide cũng đã được dùng thử an toàn và hiệu quả.

Sao mạch:

biểu hiện là các đốm đỏ nhỏ, nổi gờ nhẹ trên mặt da và từ đó tỏa ra các nhánh mạch máu nhỏ, có thể gặp ở mọi vị trí trên cơ thể nhưng thường ở mặt và thân mình, thường gặp trong xơ gan. Bản thân sao mạch thường vô hại và không gây triệu chứng gì cho người bệnh nên không đòi hỏi phải được điều trị.

Ban đỏ ở lòng bàn tay, bàn chân: là tình trạng biến màu đỏ thẫm ở lòng bàn tay bàn chân, thường gặp nhất trên ô mô út. Biểu hiện này có thể gặp trong nhiều loại bệnh lý khác nhau ở gan, nhưng hay gặp nhất là bệnh gan do rượu và xơ gan. Các bệnh lý này gây rối loạn thăng bằng androgen của cơ thể dẫn đến giãn mạch khu trú và nổi ban đỏ.

U vàng: được tạo thành do sự lắng đọng của cholesterol ở dưới da, thường biểu hiện là các mảng mềm, ranh giới rõ, màu vàng và không đau, có thể to ra trong vòng vài tuần. U vàng trong bệnh gan thường là biểu hiện của tình trạng tăng cholesterol máu thứ phát, gặp trong xơ gan ứ mật tiên phát và các bệnh gan có ứ mật khác. Điều trị tổn thương này cần phối hợp giữa dùng thuốc hạ mỡ máu và can thiệp tại chỗ như chiếu laser hoặc phẫu thuật lấy bỏ.

Một số biểu hiện khác: suy giảm chức năng gan thường gây giảm số lượng tiểu cầu và thiếu hụt các yếu tố đông máu, hậu quả gây ra các đám xuất huyết hoặc bầm tím trên da, có thể xuất hiện ngay cả sau các sang chấn nhẹ hoặc tự nhiên. Tăng sắc tố da cũng có thể gặp trong xơ gan và bệnh gan do rượu. Suy giảm chức năng tế bào gan còn có thể gây rụng tóc và các biến loạn ở móng tay, móng chân như bạch sản móng, mất móng.

BS.Nguyễn Hữu Trường (BV Bạch Mai)

Nguồn sức khỏe đời sống

Nhận biết các biểu hiện của trầm cảm

”Nếu bạn đang ở vào thời điểm mà bạn nghĩ rằng mình cần có 1 liệu pháp hỗ trợ thì rất có thể bạn đang bị trầm cảm”, Tracey Lipsig Kite, một chuyên gia liệu pháp tâm lý Mỹ, cho biết.

Nhiều người bị trầm cảm bị cơ và đau khớp, đau đầu và mệt mỏi Biểu hiện của trầm cảm Trầm cảm là một bệnh kết hợp của những cảm xúc đặc trưng: buồn bã, sự thờ ơ, cảm giác vô dụng và đánh mất đi sự quan tâm đối với các hoạt động xã hội. Những cảm giác này có thể kéo dài đến 2 tuần hoặc tiếp tục trong nhiều năm sau. Sự khác nhau giữa sự chán nản và bệnh trầm cảm là sự kéo dài và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng.

tram-cam_16-26910

Trầm cảm không có nghĩa là lúc nào cũng có những cảm xúc tồi tệ. “Dễ cáu kỉnh là một trong những triệu chứng điển hình của trầm cảm”, ông Rakesh Jain, MD, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu lâm sàng (Texas, Mỹ), nói. Các bác sĩ cũng thường bỏ qua các biểu hiện thể chất trong khi đó 67-69% người bị trầm cảm bị đau cơ, khớp, đau đầu và mệt mỏi. Sharon Charles Haznedar, Giám đốc hành chính Các dịch vụ y tế công New York cho biết trầm cảm là căn bệnh âm thầm và thường làm cho nạn nhân không thể yêu cầu sự giúp đỡ. “Tôi đã từng gặp những bệnh nhân nói rằng họ cần có 1 kế hoạch để đi qua 1 căn phòng”. “Trầm cảm rút cạn năng lượng của một người. Việc đi khám, tìm hiểu về lịch khám và điền thông tin vào tờ đơn có thể là rất khó khăn khi bạn bị trầm cảm”. Sự khác nhau về giới tính trong trầm cảm Phụ nữ mắc trầm cảm cao gấp đôi nam giới.

Tuy nhiên, nam giới thường có xu hướng tự tử do bệnh nặng hơn. Trầm cảm sinh ra trầm cảm Như một vết thương hở hay gãy xương, trầm cảm không thể tự khỏi. Một nửa số người có biểu hiện trầm cảm đã không uống thuốc chống trầm cảm sẽ dễ tái hơn. Và sự tái phát lần 2 sẽ làm tăng nguy cơ của lần 3. Và sau 3 lần bị trầm cảm mà không uống thuốc sẽ có tới 90% nguy cơ tái phát ở lần thứ 4. Và cứ như vậy, những lần tái phát sau sẽ nặng và thường xuyên hơn. Vậy nên nếu nghĩ mình bị trầm cảm thì cần đi khám ngay.

Theo dantri/Health

Dấu hiệu kín của trầm cảm

Bất cứ người nào cũng có thể lâm vào tình trạng bị trầm cảm mà không hay biết, hoặc không thừa nhận rằng tinh thần mình đang xuống dốc.

Sau đây là một số dấu hiệu của bệnh trầm cảm:

Tự tin quá mức

Nhiều người, đặc biệt là những người thành công hơn xung quanh, thường đối phó với trầm cảm bằng cách đi ngược lại điều mà họ đang cảm nhận. Chẳng hạn như họ sẽ theo đuổi những mục tiêu đầy tham vọng một cách bất thường, hoặc từ bỏ việc làm hiện tại để theo đuổi công việc kinh doanh cá nhân. Phản ứng này có thể xảy ra khi một người cảm thấy vô vọng và không kiểm soát được mọi chuyện. Nỗ lực thái quá trong phòng ngủ cũng là điều đáng lưu ý đối với những cá nhân có thể mắc trầm cảm.

tram-cam

Bia rượu vô chừng

Chất cồn giúp gây tê hệ thần kinh, cho phép con người chịu đựng được những hoạt động mỗi ngày, theo nhận xét của nhà soạn kịch người Anh Bernard Shaw. Thực tế cho thấy hành động nhậu nhẹt là phương pháp đối phó phổ biến nhất mà con người thường áp dụng để tự điều trị những chấn thương về cảm xúc. Vấn đề ở đây là liệu pháp này thường đẩy họ vào tình trạng khủng hoảng kép chứ chẳng giúp xoa dịu được tinh thần đang nhức nhối.

Nóng giận vô cớ và vô cảm

Một trong những dấu hiệu đặc trưng của bệnh trầm cảm là dễ nổi nóng một cách vô chừng. Chỉ cần một vụ va quệt nhỏ là đủ khiến họ sửng cồ gây gổ. Hoặc nhiều người chọn cách lờ đi cảm xúc của chính mình, và hậu quả là không giải quyết được chuyện gì mà còn đẩy những người quan tâm vào tình thế khó xử. Một dấu hiệu nữa của trầm cảm là bạn gặp vấn đề khi tiếp nhận sự tán dương hoặc lòng tốt của người khác.

Không thể ngừng quan hệ xã hội

Giao tiếp rộng có vẻ là một hành động tích cực. Tuy nhiên, nếu chỉ nhằm giúp bạn bớt cảm thấy lẻ loi hoặc không phải đối diện với những suy nghĩ và khoảnh khắc buồn bã thực tại, quan hệ xã giao không phải cách giải quyết vấn đề. Đó là chưa kể bạn sẽ chẳng vui vẻ gì khi tối ngày cố gắng lấp đầy thời gian bằng những cuộc hẹn hò vô bổ.

Vô phương tập trung

Nỗ lực hết mức nhưng không thể ngăn chặn những dòng suy nghĩ vẩn vơ tràn ngập đầu óc. Đây có thể là một dấu hiệu của trầm cảm. Nếu mơ mộng nhưng vạch ra được những biện pháp tiến đến mục tiêu cuối cùng, cứ tự nhiên. Nhưng nếu từ một người bình thường muốn trở thành ngôi sao chỉ trong một đêm, đó là khởi đầu của sự bất thường.

Làm cật lực hơn chứ không sáng tạo hơn

Khi tinh thần xuống dốc, người ta không thể đưa ra một cách giải quyết đúng đắn cho một sự việc. Những người bị trầm cảm có thể vùi đầu vào công việc, nhưng kết quả lại chẳng khá khẩm gì, do sự minh mẫn của họ bị che lấp hoàn toàn. Và bất cứ vấn đề nào cũng có thể đẩy người bị trầm cảm vào tình trạng khóc cười khó đoán. Đơn giản là họ không làm chủ được cảm xúc của mình.

Theo tno

Vòng quanh thế giới học cách chăm sóc sức khỏe

 Tăng gia vị như người Mexico

Những thực phẩm cay vừa phải thực sự tốt cho sức khỏe của bạn cũng như giúp bạn giảm cân. Vì thế, hãy tạo nguồn cảm hứng từ những người dân Mexico và sử dụng nhiều loại gia vị hơn trong cách chế biến món ăn hàng ngày.

Lưu ý: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nghệ có thể làm chậm quá trình phát triển bệnh Alzheimer, ớt làm tăng sự trao đổi chất của bạn và giúp bạn giảm cân nhanh hơn bằng cách làm cho bạn ăn từ từ để não bộ có thêm thời gian nhận biết cơ thể đã hấp thu đủ.

Ngủ giấc ngắn như người Tây Ban Nha

ngu

Tây Ban Nha nổi tiếng với việc có giấc ngủ trưa thường xuyên và Nhật Bản cũng đang có xu hướng thỏa thích tận hưởng những giấc ngủ ngắn ngay tại nơi làm việc để tăng năng suất lao động. Các chuyên gia từ lâu đã cho rằng, ngủ đầy đủ không chỉ giảm mức độ căng thẳng, cải thiện trí nhớ mà còn giúp bạn giảm cân và sống lâu hơn.

Lưu ý: Một nghiên cứu đã chứng minh ngủ trưa 4 lần/ tuần, mỗi lần khoảng 20 – 30 phút có tác dụng giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim.

Ăn nhiều cá hơn như người dân Iceland và Nhật Bản

Trong khi nhiều người không hề băn khoăn khi ăn thịt đỏ (mặc dù nó gây ra bệnh tim) thì họ không hề nhận ra rằng nguồn protein lành mạnh có rất nhiều trong hải sản các loại. Chế độ ăn của người Iceland và Nhật Bản luôn có cá vì chúng có những đặc tính có lợi cho sức khỏe.

Lưu ý: Một chế độ ăn bao gồm các loại cá có chứa nhiều Omega-3 được biết đến với tác dụng giảm cơ hội mắc chứng rối loạn thần kinh kéo dài.

Sử dụng các nguyên liệu tươi như người dân Nhật Bản, Nga và Italia

trai-cay

Trong khi các loại thực phẩm đã qua chế biến dường như là một giải pháp nhanh chóng và thuận tiện thì chúng cũng chứa đầy các chất phụ gia có hại và nhiều muối, đường.

Vì thế, lời khuyên của các chuyên gia sức khỏe là nên noi gương những người dân Nhật Bản, Nga và Italy, những người thích ăn thực phẩm tươi theo mùa. Điều đó sẽ mang lại điều kỳ diệu cho sức khỏe của bạn.

Lưu ý: Hãy tập thói quen đi chợ thường xuyên để mua trái cây và rau củ tươi. Đồng thời lên thực đơn cả tuần để không lãng phí thời gian nghĩ món ăn từng bữa.

Ăn không bị phân tâm như người Pháp và Italy

Cho dù ăn một mình hoặc với một người nào đó thì bạn cũng nên tránh xa TV và điện thoại di động. Bên cạnh đó, bạn không bao giờ nên ăn vội vàng. Hãy ăn như người Pháp và Italy – những người muốn thực sự được thưởng thức những bữa ăn của họ.

Lưu ý: Hãy chú ý đến những gì bạn ăn – tập trung vào mùi vị, bố cục và màu sắc món ăn. Khi ăn từ từ, bạn không chỉ sẽ thích món ăn hơn mà còn giảm cơ hội ăn quá mức khuyến nghị.

Theo tiin

Lợi ích tuyệt vời của mồ hôi

Mồ hôi đem đến rất nhiều lợi ích tuyệt vời cho cơ thể.

Giúp máu tuần hoàn tốt hơn

Trong suốt quá trình bài tiết mồ hôi, tốc độ lưu thông máu của chúng ta tăng lên đáng kể. Điều này có thể dễ dàng được kiểm chứng vì sau khi tập thể thao hay xông hơi, da chúng ta thường ửng đỏ. Các nhà khoa học lý giải hiện tượng da ửng hồng lên là do máu tuần hoàn nhanh hơn và lượng máu bơm đi khắp cơ thể cũng tăng lên, giúp tăng cường hoạt động của mọi cơ quan trong cơ thể.

Thanh lọc cơ thể

mo-hoi

Khi cơ thể tiết mồ hôi, nhiều độc tố cũng bị đẩy ra ngoài, do đó việc tiết mồ hôi là một trong những cách thải độc tố hiệu quả nhất. Từ lâu, việc xông hơi để đào thải độc tố đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới và đem lại nhiều kết quả đáng kinh ngạc. Ở các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, xông hơi là hoạt động thư giãn phổ biến nhằm duy trì sức khỏe và thanh lọc cơ thể.

Tăng cường sức đề kháng

Nhờ vào khả năng đào thải độc tố, mồ hôi giúp cơ thể chúng ta khỏe mạnh và tăng cường sức đề kháng. Càng giảm lượng độc tố tích tụ trong cơ thể, khả năng chống lại bệnh tật của con người càng được cải thiện. Chính vì vậy, nhiều bác sĩ khuyên bệnh nhân của họ nên vận động vừa sức để hỗ trợ cơ thể tiết mồ hôi nhằm tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch.

Cân bằng nhiệt độ cho cơ thể

Khi trời nóng, cơ thể chúng ta sẽ tự truyền tín hiệu đến tuyến mồ hôi. Lúc này, mồ hôi sẽ tiết ra nhiều hơn thông thường nhằm làm mát cơ thể, giữ cho nhiệt độ cân bằng. Để hỗ trợ quá trình cân bằng nhiệt độ cơ thể, bạn cần uống đủ nước để tránh mất nước.

Giảm stress

Những người tập thể thao và đổ mồ hôi thường cảm thấy tinh thần dễ chịu hơn mặc dù trước đó họ từng bị căng thẳng. Các nhà khoa học cũng nhấn mạnh, việc tiết mồ hôi có khả năng hạn chế nguy cơ mắc các bệnh về tâm lý như trầm cảm một cách hiệu quả.

Làm sạch lỗ chân lông

Khác với quan điểm của nhiều người khi cho rằng việc đổ mồ hôi làm cho da chúng ta bị bẩn và dễ sinh ra các vấn đề về da như mụn nhọt, sạm nám, sần sùi… mồ hôi thực chất có khả năng làm sạch các lỗ chân lông bị bít kín bởi chất nhờn và bụi bẩn. Khi bạn tập thể thao, lượng mồ hôi tiết ra có thể làm trôi đi lớp cặn trang điểm hay các hạt bụi nằm sâu trong lỗ chân lông. Quan trọng nhất là sau khi tập thể thao, bạn cần lau sạch người rồi tắm lại để quá trình làm sạch này phát huy kết quả tối ưu.

Giảm cân hiệu quả

Lượng độc tố cùng với nước bị thải ra ngoài khi tập thể thao hay xông hơi là phần trọng  lượng đầu tiên sẽ mất đi khi bạn đổ mồ hôi. Nhiều nhà khoa học cho biết quá trình tập luyện các hoạt động thể chất kích thích việc tiết mồ hôi luôn đi kèm với kết quả giảm cân như mong đợi. Những người dễ đổ mồ hôi cũng có xu hướng giảm cân dễ dàng hơn những người khác.

Theo Kenh14

Có thể phát hiện nguy cơ đột quỵ qua đôi mắt

Một nghiên cứu mới do Đại học Quốc gia Singapore cho thấy rằng đôi mắt của bạn có thể là đầu mối phát hiện nguy cơ đột quỵ.

Cụ thể hơn, nhóm nghiên cứu cho rằng hình ảnh võng mạc trong tương lai gần có thể giúp xác định xem bạn có nhiều khả năng tăng nguy cơ đột quỵ hay không.

“Võng mạc cung cấp thông tin về tình trạng của các mạch máu trong não. Quan sát võng mạc có thể là cách chẩn đoán không xâm lấn và chi phí thấp để phát hiện nguy cơ đột quỵ sớm”, ông Mohammad Kamran Ikram trợ lý giáo sư tại Viện nghiên cứu mắt Singapore cho biết.

dot-quy

Kết quả nghiên cứu này đã được công bố và đăng tải gần đây nhất trên Tạp chí Tăng huyết áp.

Nhóm nghiên cứu đã theo dõi nguy cơ đột quỵ xảy ra ở 2.907 bệnh nhân huyết áp cao trong 13 năm. Những bệnh nhân này trước đây chưa từng trải qua cơn đột quỵ nào trước khi tham gia nghiên cứu. Mỗi đối tượng tham gia được chụp một bức ảnh võng mạc.

Kết quả, 146 người phải trải qua ít nhất một cơn đột quỵ trong thời gian nghiên cứu bị gây ra bởi cục máu đông trong não, 25 trường hợp khác do chảy máu trong não.

Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng những bệnh nhân bị võng mạc cao huyết áp nhẹ tăng nguy cơ đột quỵ 35%, nguy cơ đột quỵ tăng cao lên tới 137% ở những người có bệnh võng mạc cao huyết áp trung bình hoặc nặng.

Nhà nghiên cứu Ikram cho biết thêm nghiên cứu cần phải xác định thêm các hình ảnh và tài liệu về võng mạc để phát hiện nguy cơ đột quỵ ở nhiều trường hợp.

Trước đó, các nhà nghiên cứu Đan Mạch cũng đã chỉ ra rằng những bệnh nhân mắc chứng ban vàng quanh mi mắt có nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ tới 48% trong vòng 10 năm tiếp theo.

Theo Kienthuc

Trái chanh xanh và những tác dụng của nó

Chanh xanh là một loại quả tuyệt vời mà bạn có thể thưởng thức theo hai hình thức theo nhiều cách: pha nước uống, dùng trong chế biến thực phẩm… Chanh xanh có thể pha nước để trở thành thức uống giải khát tuyệt vời, nhất là sau khi chạy bộ buổi sáng, sau khi tập yoga, hoặc đi bộ miễn là đáp ứng công dụng như một loại quả giải khát tuyệt vời.

Mặc dù loại quả này có thể trông rất giống với chanh vàng, nhưng nó có một hương vị hoàn toàn khác và có hàm lượng axit chanh thấp hơn so với trái chanh vàng. Dưới đây là một vài lợi ích sức khỏe của loại trái cây tuyệt vời này.

1. Ít calo nên rất tốt cho người ăn kiêng và giảm cân

Là loại trái cây rất ít calo cho nên chanh xanh là thành phần hoàn hảo cho chế độ ăn uống ít chất béo. Ví dụ khi bạn tiêu thụ khoảng 94,5g trái chanh xanh thì nó chỉ cung cấp cho cơ thể bạn khoảng chỉ thêm 43 calo. Carbohydrate thành phần chính của loại năng lượng này.

Trái chanh xanh cũng là loại quả có hàm lượng protein thấp, do đó bạn có thể cần phải bổ sung protein trong chế độ ăn uống của mình, cùng với loại quả này. Vì tất cả những lý do trên mà chanh xanh là một lựa chọn tuyệt vời cho người ăn kiêng, giảm cân và đặc biệt là những người hâm mộ bộ môn thể hình khi nó có khả năng giúp bạn hạn chế độ nhão – xệ của cơ bắp.

5-loi-ich-suc-khoe-cua-trai-chanh-xanh

2. Hỗ trợ tiêu hóa

Trái chanh xanh có chứa flavanoids, có tác dụng thúc đẩy việc sản xuất mật, các axit và dịch tiêu hóa. Flavonoids trong trái chanh xanh còn có tác dụng chống độc, làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan. Điều này giúp cho hệ tiêu hóa của cơ thể hoạt động tốt.

Bằng cách trung hòa các dịch tiêu hóa, chanh xanh còn hỗ trợ đào thải chất độc của cơ thể ra ngoài. Dùng chanh xanh cũng sẽ làm dịu dạ dày trong trường hợp bạn đang bị ói mửa, buồn nôn, hoặc tiêu chảy .

3 . Bổ sung vitamin C

Một người nam giới trưởng thành cần 90mg vitamin C hàng ngày, và người phụ nữ trưởng thành cần khoảng 75mg. Là loại trái cây rất giàu vitamin C, trái chanh xanh có thể dễ dàng giúp bạn đáp ứng nhu cầu bổ sung vitamin hàng ngày cho cơ thể theo cách tự nhiên.

Trong mỗi trái chanh xanh có chứa tối thiểu 50mg vitamin C, vì thế bạn không cần phải lo lắng về việc phải bổ sung thêm vitamin C hàng ngày của mình nếu trong chế độ ăn uống đã có trái chanh. Ngoài ra, nếu bạn đang mang thai thì đây thực sự là loại trái cây có lợi cho bạn.

4 . Rất giàu khoáng chất

Chanh xanh là loại trái cây giàu khoáng chất. Hàm lượng kali trong một trái chanh xanh rất cao (khoảng 490mg). Ngoài ra, nếu thường xuyên tiêu thụ chanh xanh thì cơ thể bạn cũng được cung cấp một lượng khoáng chất khác như đồng, canxi, sắt và phốt pho. Tất cả các khoáng chất này đều có nhiều lợi ích cho sức khỏe .

5. Có thể được sử dụng như một loại thuốc dân gian

Khi bạn dự trữ trái chanh xanh trong nhà, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đang có một phương thuốc dân gian tuyệt vời. Do rất giàu vitamin C cho nên chanh xanh rất tốt để sử dụng khi bạn bị cảm lạnh thông thường. Nó cũng giúp tăng cường hệ miễn dịch của bạn.

Ngoài ra, trái chanh xanh còn được cho rằng có thể có đặc tính kháng virus và sát trùng, tăng cường chức năng gan, giảm các vấn đề không tốt cho hệ tiêu hóa.

Theo afamily

Triệu chứng của bệnh ung thư âm đạo

Mặc dù đa số các trường hợp bị ung thư âm đạo thường không có nhiều triệu chứng rõ rệt, nhưng nếu chị em thấy mình có những triệu chứng sau đây, hãy đi khám sớm.

Ung thư âm đạo là nó là một bệnh ung thư tương đối hiếm gặp ở người phụ nữ, chiếm từ 3-5% các ung thư sinh dục nữ. Bệnh phát triển khi các tế bào ung thư hình thành trong các mô của âm đạo. Tuy nhiên có rất nhiều phụ nữ quan tâm đến các triệu chứng ung thư âm đạo bởi bệnh này không có những triệu chứng rõ rệt ở giai đoạn đầu.

Nguyên nhân gây bệnh cũng chưa được xác định rõ ràng, nhưng cũng theo nhiều chuyên gia sức khỏe thì nhiễm virus gây nhú ở người (HPV) chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới nguy cơ bị ung thư âm đạo. Nhiều trường hợp bệnh xuất hiện sau khi bị sùi mào gà (condyloma).

Mặc dù đa số các trường hợp bị ung thư âm đạo thường không có nhiều triệu chứng đáng chú ý, nhưng theo lời khuyên của các chuyên gia sức khỏe thì nếu chị em thấy mình có những triệu chứng sau đây, hãy đi khám sớm. Vì các triệu chứng này hoàn toàn có thể là dấu hiệu báo trước của bệnh ung thư âm đạo.
chi-em-cho-bo-qua-trieu-chung-cua-benh-ung-thu-am-dao
Chảy máu âm đạo bất thường

Chảy máu âm đạo khi không phải là chu kì kinh, chảy máu sau khi quan hệ tình dục… là những triệu chứng của nhiều bệnh liên quan đến phụ khoa, trong đó có cả bệnh ung thư âm đạo. Mặc dù triệu chứng này còn mơ hồ nhưng chị em cũng không nên bỏ qua, đặc biệt khi thấy liên tục bị chảy máu không rõ nguyên nhân thì càng nên đi khám sớm.

Dịch âm đạo bất thường

Bình thường, âm đạo có thể tiết ra một lượng nhỏ dịch âm đạo nhằm đẩy các chất bẩn ra ngoài. Tuy nhiên, nếu dịch âm đạo tiết ra liên tục các ngày trong chu kì (không chỉ trong thời gian rụng trứng), có thể có hoặc không có mùi hôi thì đó cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo của bệnh ung thư âm đạo.

Đây cũng có thể là triệu chứng của bệnh viêm nhiễm “vùng kín” hoặc bệnh nào khác chứ không phải ung thư âm đạo. Tuy nhiên, nếu không điều trị kịp thời, tình trạng viêm nhiễm có thể lan rộng và hoàn toàn dễ dẫn đến ung thư âm đạo.

Thay đổi thói quen đi tiểu

Thay đổi thói quen đi tiểu có thể là bạn sẽ đi tiểu liên tục hoặc ít hơn. Sự thay đổi này có thể liên quan đến lượng nước bạn uống hàng ngày hoặc bạn uống nhiều đồ uống chứa caffeine. Nó cũng có thể có nguyên nhân từ việc nhiễm trùng đường tiểu.

Nhưng trong trường hợp nghiêm trọng, bạn vừa thay đổi thói quen đi tiểu, lại có máu trong nước tiểu, kèm theo cảm giác đau buốt khi tiểu tiện thì bạn phải đi khám luôn. Nó có thể là biểu hiện của tình trạng nhiễm trùng nặng hoặc là triệu chứng của ung thư âm đạo.

Đau ở vùng xương chậu

Đau vùng xương chậu là một trong những triệu chứng thường gặp nhất của ung thư âm đạo. Khi chị em có triệu chứng này thì tức là bệnh cũng đã phát triển nặng hơn và đang lây lan đến các mô khác. Thông thường, chị em sẽ cảm thấy có cơn đau dưới rốn, liên tục hoặc không liên tục.

Có cảm giác áp lực đè lên âm đạo

Bạn khó định dạng cảm giác này nhưng chắc chắn bạn sẽ thấy âm đạo như trở nên nặng hơn và dường như có một áp lực rất nặng đang đè lên âm đạo. Bệnh u nang buồng trứng cũng có thể tạo ra cảm giác này, vì vậy, nó có thể gây nhầm lẫn trong việc chẩn đoán bệnh.

Để xác định chính xác bệnh, chị em nên đi làm sinh thiết tế bào để biết mình đang bị bệnh gì và điều trị kịp thời.

Thay đổi trong việc đi tiêu

Một số thay đổi trong việc đi tiêu như: liên tục có cảm giác muốn đi tiêu nhưng lại không thể đi, bị táo bón trong nhiều ngày, phân có màu đen hoặc liên tục cảm giác như ruột trống rỗng… có thể là dấu hiệu cảnh báo bênh ung thư âm đạo. Nếu bạn gặp các triệu chứng trên trong nhiều ngày, hãy đi khám ngay nhé.

Trong trường hợp bạn được chẩn đoán bị ung thư âm đạo, các bác sĩ sẽ tùy vào giai đoạn phát triển của bệnh mà có phương pháp chữa trị thích hợp, có thể là dùng phương pháp tế bào miễn dịch, phương pháp xạ trị hoặc phẫu thuật…

Để phòng ngừa bệnh ung thư âm đạo, bạn nên thực hành tình dục an toàn (sử dụng bao cao su trong những lần quan hệ để tránh lây bệnh tình dục), tiêm vắc-xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung  và đi khám phụ khoa theo định kì.

Theo afamily

Cảnh báo chị em về 5 bệnh ung thư phụ khoa

 Ung thư phụ khoa là nhóm các bệnh ung thư có ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản của phụ nữ, cụ thể là ung thư ở cổ tử cung, tử cung, buồng trứng, âm đạo và âm hộ.
Một số bệnh ung thư phụ khoa phổ biến:

1. Ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là do virus Papiloma (HPV) gây nên. Đây là một bệnh lây truyền qua đường tình dục rất phổ biến. Ung thư cổ tử cung thường phát triển rất chậm và có thể bắt đầu từ tình trạng loạn sản tế bào cổ tử cung. Loạn sản là một hình ảnh không bình thường của tế bào cổ tử cung nhưng cũng chưa thể kết luận là ung thư vì có thể do viêm, do nhiễm khuẩn đường sinh dục như bị nấm âm đạo hay nhiễm Chlamydia. Tuy nhiên, nó cũng có thể là tình trạng tiền ung thư.

Tình trạng tiền ung thư này có thể được phát hiện bằng xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung. Đó là lý do tại sao chị em cần thực hiện xét nghiệm tế bào cổ tử cung (pap smear) theo định kì. Hầu hết phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư cổ tử cung hiện nay đều rơi vào trường hợp những chị em không làm xét nghiệm pap hoặc có làm những không thường xuyên.

Những dấu hiệu sớm của ung thư cổ tử cung bao gồm: Ra nhiều huyết trắng kéo dài, chảy máu âm đạo bất thường, chảy máu trong khi quan hệ tình dục, đau khi quan hệ tình dục…
canh-bao-chi-em-ve-5-benh-ung-thu-phu-khoa-
2. Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là tình trạng ung thư bắt đầu trong buồng trứng – nơi sản xuất trứng.

Ung thư buồng trứng ở một hoặc cả hai buồng trứng đều là ung thư biểu mô (ung thư bắt đầu trong các tế bào trên bề mặt của buồng trứng) hoặc là khối u tế bào mầm ác tính (ung thư bắt đầu trong tế bào trứng). Ung thư buồng trứng thường khó phát hiện ở giai đoạn đầu nên việc chẩn đoán và điều trị thường gặp khó khăn vì lúc phát hiện bệnh thì bệnh đã có dấu hiệu di căn.

Nhiều phụ nữ bị ung thư buồng trứng không có triệu chứng rõ ràng hoặc chỉ có triệu chứng nhẹ cho đến khi bệnh đang ở giai đoạn phát triển và khó điều trị. Do vậy, nếu thấy các dấu hiệu sau, chị em nên cảnh giác vì rất có thể đó là những dấu hiệu sớm của bệnh ung thư buồng trứng: Đau bụng hoặc đau vùng chậu, tăng kích thước vòng bụng hoặc đầy hơi, cần tiểu gấp hoặc thường xuyên, gặp khó khăn với việc ăn uống hoặc cảm thấy no nhanh…

3. Ung thư tử cung

Hai hình thức phổ biến của bệnh ung thư tử cung là ung thư cổ tử cung (tế bào ung thư từ cổ tử cung) và nội mạc tử cung (tế bào ung thư từ lớp niêm mạc của các ngữ liệu hoặc cơ thể của tử cung). Giai đoạn đầu của ung thư tử cung được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ (ung thư chỉ giới hạn ở vị trí ban đầu). Nếu không được phát hiện và điều trị đúng cách, tế bào ung thư xâm nhập vào các lớp sâu hơn trong tử cung, sau đó lan rộng đến các cơ quan lân cận như âm đạo, bàng quang, trực tràng và cuối cùng di căn đến các bộ phận khác trong cơ quan sinh sản.

Chị em có nguy cơ bị ung thư tử cung cao là những người thường xuyên bị chảy máu âm đạo hoặc dịch âm đạo bất thường, quan hệ tình dục thường xuyên trước khi 20 tuổi hoặc quan hệ tình dục với nhiều đối tác và chị em không chị ý vệ sinh “vùng kín” sạch sẽ.

Các triệu chứng sớm của bệnh ung thư tử cung cũng tương tự như ung thư cổ tử cung và bệnh cũng có thể được chẩn đoán chính xác thông qua xét nghiệm pap.

4. Ung thư âm đạo

Ung thư âm đạo là một loại ung thư hiếm gặp ở phụ nữ. Trong ung thư âm đạo (ác tính) các tế bào ung thư được tìm thấy trong các mô của âm đạo. Có rất nhiều loại ung thư khác nhau của ung thư âm đạo bao gồm ung thư vảy tế bào (ung thư biểu mô vảy), ung thư biểu mô tuyến, sacôm…

Nguyên nhân gây bệnh ung thư âm đạo chưa được xác định rõ ràng. Theo nhiều chuyên gia sức khỏe thì nhiễm virus gây nhú ở người (HPV) chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới nguy cơ bị ung thư âm đạo. Nhiều trường hợp bệnh xuất hiện sau khi bị sùi mào gà.

Mặc dù đa số các trường hợp bị ung thư âm đạo thường không có nhiều triệu chứng đáng chú ý, nhưng theo lời khuyên của các chuyên gia sức khỏe thì nếu chị em thấy mình có những triệu chứng như: thay đổi thói quen đi tiểu, cảm thấy có áp lực đè lên vùng xương chậu, chảy máu âm đạo bất thường… thì hãy đi khám sớm.

5. Ung thư âm hộ

Ung thư âm hộ là một loại ung thư hiếm gặp. Nó hình thành trong bộ phận sinh dục bên ngoài của một người phụ nữ được gọi là âm hộ. Âm hộ gồm có môi bên trong và bên ngoài của âm đạo, âm vật (mô nhạy cảm giữa môi), cửa âm đạo và các tuyến của nó. Ung thư âm hộ là một loại ung thư xảy ra trên diện tích bề mặt ngoài của cơ quan sinh dục nữ. Âm hộ là vùng da bao quanh niệu đạo và âm đạo, bao gồm âm vật và môi nhỏ.

Các hình thức ung thư âm hộ thường như một khối u hoặc đau ở âm hộ là nguyên nhân gây ngứa và đau đớn. Mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, ung thư âm hộ thường được chẩn đoán ở phụ nữ lớn tuổi.

Ung thư âm hộ có khả năng chữa khỏi cao khi được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Tỷ lệ sống sót phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng giải phẫu bệnh học của hạch bẹn.

Các triệu chứng ban đầu của ung thư âm hộ có thể bao gồm: U, bướu giống như mụn cơm hay đau loét., ngứa âm đạo, da vùng âm đạo thay đổi màu sắc, chảy máu giữa chu kì kinh nguyệt…

Tất cả các bệnh ung thư phụ khoa đều có ảnh hưởng nặng nề đến khả năng sinh sản của chị em. Bệnh nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ khiến chị em phải chịu nhiều đau đớn, suy sụp sức khỏe nhanh chóng và đe dọa tính mạng.

Để đề phòng các bệnh ở cơ qua sinh sản, tránh dẫn tới ung thư phụ khoa, chị em nên lưu ý những điều sau:

– Thực hành tình dục an toàn. Nên sử dụng bao cao su khi có quan hệ tình dục để tránh lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

– Tiêm vacxin phòng ung thư cổ tử cung trước 26 tuổi.

– Tiến hành khám phụ khoa theo định kì, đặc biệt không được bỏ qua thủ tục xét nghiệm pap smear để chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung và ung thư tử cung.

– Giữ vệ sinh sạch sẽ, nhất là trong những ngày có “đèn đỏ”.

Theo ttvn

Những thói quen của chị em làm tăng nguy cơ ung thư vú

 Thường xuyên mặc áo ngực, thức khuya… đều là những thói quen có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú cao.
Mặc áo ngực 24/24 giờ không có lợi

Theo gen di truyền từ mẹ, chị Hồng Tươi ở Cầu Giấy (Hà Nội) sở hữu “phom” người khá chuẩn, chiều cao 1m65, “vòng 3” đầy đặn, “vòng 2” thon gọn. Tuy vậy, vòng 1 của chị khiêm tốn khiến chị mất tự tin, phải sử dụng áo ngực đệm dày cho “tôn dáng”. Áo ngực trở thành phương tiện che khiếm khuyết tế nhị mà chị không thể rời một phút nào, thậm chí chị mặc áo ngực ngay cả khi đi ngủ.

Không chỉ chị Tươi, rất nhiều chị em khác coi chiếc áo ngực như là vật bất ly thân vì áo ngực giúp nâng đỡ, tạo dáng chuẩn cho “núi đôi”. Tuy nhiên, ít ai biết rằng thói quen mặc áo ngực 24/24 giờ làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú cao gấp 125 lần so với những phụ nữ khác.
nhung-thoi-quen-cua-chi-em-lam-tang-nguy-co-ung-thu-vu
Bác sĩ Lê Thị Kim Dung, Chuyên khoa sản, Trung tâm y tế lao động Thái Hà cho biết, bầu ngực của người phụ nữ là nơi tập trung nhiều dây thần kinh và rất nhiều tia tiết sữa để thực hiện chức năng nuôi con. Kích cỡ bầu ngực to hay nhỏ không thể hiện mức độ hoạt động của tia sữa nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn về thẩm mỹ. Vì vậy, rất nhiều chị em lạm dụng áo ngực như công cụ làm đẹp.

Tuy nhiên, bác sĩ Dung dẫn chứng, một công bố y khoa năm 1995 chỉ ra rằng mặc áo ngực làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Những phụ nữ hạn chế mặc áo ngực sẽ ít gặp các vấn đề về cơ, điều đó làm giảm khả năng mắc bệnh ở vú.

Thức khuya, làm việc đêm dễ ung thư vú

Đặc thù công việc, chị Hương Giang ở Yên Phong (Bắc Ninh) thường xuyên phải thức đêm làm việc. Điều kiện gia đình khó khăn, ngoài giờ làm hành chính, chị xin tăng ca đêm để tăng them thu nhập. Tình trạng thức khuya, dậy sớm, ngủ ít làm nhiều kéo dài suốt mấy năm nay không chỉ khiến chị già trước tuổi mà còn ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

Cách đây nửa năm, chị tình cờ phát hiện ngực bên trái nổi một cục nhỏ, bình thường không đau đớn gì nhưng khi ấn vào thấy đau buốt. Suy đi tính lại, hai bên nội ngoại nhà chị không có ai bị bệnh ung bướu gì cũng không có người nào bị bệnh về vú. Nghĩ rằng do áp lực công việc căng thẳng cộng với nuôi 2 đứa con bằng sữa mẹ nên có cặn sữa, chị chủ quan không đi khám. Vài tháng sau thấy cái u phát triển to hơn và xuất hiện những cơn đau nhói bất thường chị dành thời gian đến bệnh viện. Bác sĩ cho biết, chị có khối u ở vú nên điều trị ngay trước khi bệnh tiến triển nặng.

Bác sĩ Dung cho biết, tuy ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào chứng minh thói quen thức đêm làm việc tăng nguy ung thư vú nhưng trong nghiên cứu mới đây của Hiệp hội ung thư Đan Mạch khuyến cáo, phụ nữ thường xuyên làm việc về đêm dễ bị ung thư vú cao hơn hơn so với người bình thường. Các chuyên gia nghiên cứu giải thích, việc thức khuya làm đêm khiến đồng hồ sinh học bị phá vỡ ngăn cản quá trình sản xuất hormone tự nhiên của cơ thể. Bên cạnh đó, việc tiếp xúc với ánh sáng vào ban đêm làm hủy hoại loại hormone có chức năng ức chế khối u.

Ngoài làm ca đêm, mặc áo ngực 24/24 giờ mà lối sống không lành mạnh, sử dụng chất kích thích cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú.

Ngăn ngừa ung thư vú hiệu quả

Ung thư vú là một trong những thể ung thư phổ biến, thường gặp và gây tử vong cao nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới. Ung thư  vú có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào.

Theo bác sĩ Dung, ung thư vú là nỗi ám ảnh của các chị em phụ nữ bởi sự nguy hiểm đáng sợ, việc chẩn đoán sớm không hề đơn giản và nguyên nhân không hề rõ rang. Rất nhiều nguyên nhân gây ung thư vú như tuổi tác càng nhiều tuổi thì nguy cơ mắc bệnh càng cao, những người dậy thì sớm, mãn kinh muộn, người không có con hoặc sinh con muộn cũng có nguy cơ bị ung thư vú. Ngoài ra, bệnh này còn mang yếu tố di truyền. Đôi khi vì suy nghĩ chủ quan hay thói quen thường ngày cũng khiến chị em mắc bệnh. Việc phòng ngừa ung thư vú rất quan trọng, chị em nên quan tâm.

Cách phòng ngừa hiệu quả nhất là không sử dụng rượu, bia, thuốc lá; điều chỉnh thói quen sinh hoạt, lối sống lành mạnh như tập thể dục, đi bộ; bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, ăn nhiều rau quả, duy trì thể trọng cân đối; tự kiểm tra vú mỗi tháng 1 lần; hạn chế mặc áo ngực, thức khuya làm việc đêm; chụp nhũ ảnh mỗi năm một lần đối với phụ nữ ngoài 40 tuổi và đến cơ sở y tế kiểm tra định kỳ tầm soát ung thư vú.

Theo ttvn

Sau 30 tuổi chị em bắt đầu lo lắng về vòng 1

 Sau tuổi 30, do sự thoái hóa của collagen và suy giảm estrogen các tế bào da mất dần tính đàn hồi, các dây chằng bị chùng xuống, vì thế “vòng 1” bị chảy xệ là điều tất yếu.
Tôi nghe nói, ở độ tuổi 30 là người phụ nữ đã bắt đầu phải đối mặt với nguy cơ lão hóa của tuổi già rồi. Không biết điều này có đúng không. Nếu đúng như vậy thì bộ phận nào ở cơ thể người phụ nữ bị tác động nhiều nhất?

Tôi năm nay 28 tuổi và cũng sắp bước sang tuổi 30. Điều làm tôi lo lắng là không biết sang tuổi 30, số đo các vòng của tôi thế nào, đặc biệt là “vòng 1”. Tôi có thể thay đổi cách ăn uống và tập thể dục để không bị béo phì, tăng “vòng 2” nhưng lại chưa biết cách giữ gìn “vòng 1” và những thay đổi của nó khi tôi già thêm.

Mong bác sĩ có thể giải thích giúp tôi là sau tuổi 30, ngực người phụ nữ sẽ thay đổi như thế nào và có cách gì để hạn chế những thay đổi mang tính tiêu cực hay không? Tôi xin cảm ơn bác sĩ nhiều! (Mai Anh)

rac-roi-o-nguc-cua-chi-em-sau-tuoi-30

BS. Hoa Hồng tư vấn:

Bạn Mai Anh thân mến,

Số đo các vòng luôn là mối quan tâm của bất kì chị em nào. Nó không những phản ánh vẻ đẹp cơ thể mà còn có thể là dấu hiệu cảnh báo sức khỏe. Tuy nhiên, không phải chị em nào cũng giữ được số đo lý tưởng của mình theo thời gian. Cùng với tuổi tác, các cơ quan trong cơ thể của chị em có nhiều thay đổi, ngay cả “vòng 1” cũng không tránh được quy luật này.

Bầu ngực phụ nữ có cấu tạo là các cơ vòng tròn không có điểm tựa vững chắc mà chỉ được định vị cố định trên vùng ngực nhờ lớp da săn chắc nâng giữ và kết hợp với sự cương chắc của các tuyến vú.

Sau tuổi 30, do sự thoái hóa của collagen và suy giảm estrogen các tế bào da mất dần tính đàn hồi, các dây chằng bị chùng xuống, không thể đảm nhiệm chức năng nâng đỡ tốt như còn trẻ, vì thế ngực bị chảy xệ là điều tất yếu. Ngoài ra, từ tuổi 30 trở đi, nếu không chăm sóc “vòng 1” chu đáo, chị em có thể gặp phải những thay đổi tiêu cực ở “vòng 1” như sau:

– “Vòng 1” bị nhão: Có nhiều nguyên nhân khiến cho “vòng 1” bị nhão, bao gồm: Các ống dẫn sữa phát triển khiến ngực trở nên lớn hơn làm ngực giãn nở, cho con bú không đúng cách, hơi thể thao, vận động mạnh mà không sử dụng áo lót phù hợp hoặc kéo dài ngực, ép chặt ngực trong một thời gian dài… Sau tuổi 30, lượng estrogen và collagen bị giảm nên nếu chị em có những thói quen này thì càng làm cho bộ ngực của mình nhanh bị nhão hơn so với những chị em chưa đến 30 tuổi.

– “Vòng 1” nhỏ dần: Sự tròn đầy và nở nang của vòng một được quyết định bởi hàm lượng nội tiết tố estrogen tại ngực nên sau tuổi 30 và sinh nở vòng 1 sẽ đối diện với nguy cơ teo nhỏ dần.

Để tránh những thay đổi trên, bạn nên tạo cho mình những thói quen ăn uống, sinh hoạt lành mạnh để vừa giữ sức khỏe vừa giúp cân đối cơ thể. Nếu muốn giảm cân, bạn không nên giảm cân quá nhanh bằng cách ăn kiêng khắc nghiệt, kiêng dầu mỡ triệt để… vì như vậy sẽ càng làm cho “vòng 1” của bạn “gầy đi” mà thôi. Bạn nên giảm lượng chất béo động vật, ăn nhiều ngũ cốc nguyên cám, đậu, rau xanh, dầu ô-liu và trái cây tươi, các loại thực phẩm giàu vitamin B và E, bởi chúng giúp duy trì độ đàn hồi, khoẻ khoắn của da.

Ngoài ra, tập thể dục, bơi lội, lựa chọn áo ngực phù hợp… cũng là cách giúp cho “vòng 1” của bạn không bị già đi theo tuổi.

Chúc bạn luôn vui khỏe, trẻ trung!

Bệnh phổ biến do thiếu vitamin D gây ra

 Nhiều căn bệnh mãn tính khó chữa chính là kết quả của việc thiếu hụt vitamin D trong một thời gian dài. Trong số đó có các bệnh nguy hiểm như cao huyết áp, ung thư…
1. Hen suyễn

Mặc dù nguyên nhân rõ ràng của bệnh hen suyễn vẫn còn là đề tài tranh luận của các nhà khoa học nhưng trong nhiều nghiên cứu gần đây, người ta đã phát hiện ra nhiều mối liên hệ giữa tình trạng thiếu hụt vitamin D của cơ thể và căn bệnh hen suyễn.

Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định việc giảm nồng độ vitamin D trong cơ thể là một trong những yếu tố chính gây ra bệnh này, đặc biệt là ở trẻ em. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra các công dụng của vitamin D bao gồm khả năng giúp làm giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng hen suyễn, và có thể giúp chữa trị tình trạng viêm đường hô hấp.

2. Tăng huyết áp

Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y học của Mỹ đã phát hiện ra rằng những bệnh nhân bị tăng huyết áp sẽ ở trong tình trạng tốt hơn, nghĩa là huyết áp được cân bằng khi nồng độ vitamin D trong máu của họ tăng lên.

Hydroxyvitamin D một loại vitamin D, đã được chứng minh có khả năng điều chỉnh tình trạng viêm mạch máu và làm giảm huyết áp ở những bệnh nhân cao huyết áp. Ngược lại, người bị thiếu vitamin D thường có xu hướng bị tăng huyết áp và không kiểm soát được tình trạng huyết áp.

3. Bệnh viêm đại tràng

Nhiều nghiên cứu được tiến hành ở châu Âu, Ấn Độ, và Hoa Kỳ đã xác định được mối liên hệ giữa nồng độ vitamin D và nguy cơ mắc các bệnh về đường tiêu hóa. Cụ thể là nồng độ vitamin D càng thấp thì nguy cơ mắc các bệnh về ruột và dạ dày càng cao, đặc biệt là bệnh viêm loét đại tràng.

Kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy người dân ở những vùng thường tiếp xúc với ánh sáng mặt trời tự nhiên có khả năng tổng hợp vitamin D cao hơn và cũng ít bị viêm đại tràng hơn.

4. Cảm cúm
8-benh-pho-bien-do-thieu-vitamin-d-gay-ra
Từ lâu, các nhà khoa học đã cho biết rằng tỷ lệ mắc bệnh cảm cúm cao nhất vào mùa đông khi chúng ta ít có cơ hội tiếp xúc với ánh nắng. Điều này, kết hợp với các nghiên cứu khác, cho thấy vitamin D giúp tăng cường hệ miễn dịch.

5. Bệnh tiểu đường

Một nghiên cứu đăng trên tạp chí, AIDS, năm 2011 phát hiện ra rằng thiếu hụt vitamin D có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng của hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân HIV.

Nhưng trong quá trình nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu cũng tìm thấy rằng việc duy trì nồng độ vitamin D cao thông qua việc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, bổ sung thực sự có thể giúp giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2.

6. Sâu răng

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã tiến hành thực nghiệm và các kết quả thu được cho thấy sức khỏe răng miệng kém phần lớn là do thiếu vitamin D. Việc cung cấp cho cơ thể mức độ vitamin D cần thiết, chúng ta đã giúp thúc đẩy sự vôi hóa lành mạnh của răng, trong khi thiếu chất dinh dưỡng quan trọng này có thể dẫn đến nguy cơ sâu răng cao hơn.

7. Viêm khớp dạng thấp

Nếu bạn hay người quen của bạn bị viêm khớp dạng thấp, rất có thể bạn sẽ quan tâm đến nồng độ vitamin D trong cơ thể. Một nghiên cứu gần đây của Canada đã tìm thấy một mối tương quan lớn giữa việc thiếu hụt vitamin D và chứng viêm khớp dạng thấp.

Trong thực tế, những người có nồng độ vitamin D trong máu thấp dễ bị các bệnh liên quan đến viêm khớp hơn những người khác đến 5 lần.

8. Ung thư

Cho dù đó là cơ quan nào trong cơ thể bạn, từ tuyến tiền liệt, cổ tử cung, đại trực tràng, thực quản, dạ dày, nội mạc tử cung, buồng trứng, tuyến tụy, hay thận thì chúng đều có nguy cơ bị ung thư.

Các nhà nghiên cứu cho biết, những người có nồng độ vitamin D trong máu càng thấp càng có nguy cơ mắc các bệnh ung thư. Ngược lại, những người có mức vitamin D tối ưu có xu hướng khỏe mạnh và phòng chống ung thư tốt  hơn.

Theo ttvn

Những cách “chiến đấu” với chứng viêm trong cơ thể

 Chứng viêm là một trong những vấn đề sức khỏe ít được mọi người quan tâm. Nhưng nếu không điều trị, bệnh có thể chuyển sang nhiễm trùng, đe dọa sức khỏe của bạn.
Chứng viêm là hiện tượng xảy ra ở tổ chức tế bào, là phản ứng phòng vệ của cơ thể khi cơ thể bị tấn công, kích thích bởi bên ngoài lên cơ thể thông qua phản xạ của hệ thần kinh. Chứng viêm có thể có biểu hiện là sưng, ứ động dịch, phù, xung huyết, mạch ứ đầy máu…

Chứng viêm có thể do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, virus, kí sinh trung gây nên.

Nhiều người cho rằng chứng viêm chỉ xuất hiện ở một thời điểm nhất định nào đó. Tuy nhiên, chứng viêm hay phản ứng của cơ thể với vết thương hay nhiễm trùng lại có liên quan tới các bệnh như viêm khớp, bệnh tim, tiểu đường, thậm chí là ung thư. Vậy bạn phải làm gì để ngăn ngừa chứng viêm?

1. Ăn nhiều hoa quả và rau xanh

5-cach-chien-dau-voi-chung-viem-trong-co-the

Các sản phẩm chống viêm hoặc các chất hóa học có nguồn gốc thảo dược thường có chứa chất chống oxy hóa. Theo các nhà nghiên cứu khoa học thì các chất chống oxy hóa có khả năng làm giảm nguy cơ của chứng viêm trong cơ thể.

Ví dụ, uống một cốc trà dâu tây mỗi ngày sẽ cung cấp cho bạn 150% lượng vitamin C bạn cần mỗi ngày. Vitamin C cũng là một trong các chất chống oxy hóa có tác dụng phòng ngừa chứng viêm trong cơ thể rất hiệu quả.

2. Không nên ăn nhiều đường

Đường sẽ ảnh hưởng đến tuyến thượng thận – cơ quan kiểm soát căng thẳng trong cơ thể. Do vậy, khi tuyến thượng thận bị suy giảm chức năng hoạt động, khả năng đối phó với căng thẳng của bạn cũng sẽ giảm dần theo thời gian. Đây cũng chính là lý do khiến cơ thể khó chống lại nguy cơ bị viêm bên trong.

Tại sao lại như vậy? Bởi vì khi chúng ta căng thẳng, lượng cortisol trong cơ thể chúng ta sẽ tăng, mà cortisol là một trong những hormone tác động đến chứng viêm trong cơ thể. Lượng cortisol tăng tức là nguy cơ bị viêm cũng tăng lên. Do đó, để cơ thể khỏe mạnh và không mắc phải chứng viêm thì bạn không nên ăn nhiều đường.

3. Uống thuốc đúng liều

Aspirin là thốc chống viêm và uống thuốc này có thể giúp duy trì các tiểu huyết cầu trong máu. Nếu bạn đã được bác sĩ kê cho đơn thuốc có loại thuốc này thì bạn nên uống đều đặn cho đến hết, vì các thuốc đó sẽ giúp bạn giảm tình trạng bị viêm cũng như nguy cơ về bệnh tim mạch.

Nếu uống không đủ liều hoặc bỏ dở giữa chừng, thuốc sẽ không phát huy được tác dụng một cách tốt nhất.

4. Thiền

Cuộc sống bận rộn hiện nay đã đẩy nhiều người vào tình trạng căng thẳng không lối thoát. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng căng thẳng kinh niên có liên quan tới hệ thống miễn dịch của chúng ta. Một khi hệ thống miễn dịch không hoạt động tốt, nguy cơ bị viêm trong cơ thể sẽ tăng lên cao hơn.

Để cân bằng cuộc sống, bạn nên dành 10- 15 phút mỗi ngày để thiền. Bạn cũng có thể đi bộ, tập yoga… bởi chúng đều là những môn rất tốt cho sức khỏe, giúp tăng cường hệ miễn dịch hoạt động tốt.

5. Ngủ đủ giấc

Thiếu ngủ có thể khiến bạn gặp nhiều vấn đề về sức khỏe như tăng cân, bệnh tim mạch và tăng cao tình trạng viêm nhiễm.

Các chứng viêm thường có liên quan đến bệnh tim, đột quỵ, tiểu đường, viêm khớp và lão hóa sớm. Những người ngủ ít hơn 6 tiếng mỗi đêm trong máu có nhiều protein gây viêm nhiễm và C-reactive protein (loại protein có liên quan đến nguy cơ nhồi máu cơ tim). Vì vậy, bạn cần có thời gian ngủ đủ trong ngày.

Theo ttvn

Xơ vữa động mạch là gì?

Xơ vữa động mạch là tổn thương trong đó một khối vật chất bất thường tạo thành bên trong động mạch, nó bám lên thành động mạch làm cho lòng động mạch bị hẹp lại, hậu quả là sự vận chuyển máu trong cơ thể bị cản trở, thiếu máu nuôi các bộ phận cơ thể do động mạch chi phối.

Tại sao lại bị xơ vữa động mạch?

Xơ vữa động mạch là sự thu hẹp của động mạch do các mảng bám được tạo thành trong lòng mạch máu. Xơ vữa động mạch có thể xảy ra, ảnh hưởng đến bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, bao gồm cả động mạch ở tim, não, cánh tay, chân, xương chậu và thận.

so-vua-dong-mach

Đến nay, khoa học vẫn chưa biết rõ nguyên nhân gây xơ vữa động mạch. Các nghiên cứu cho thấy rằng, xơ vữa động mạch là một bệnh tiến triển chậm và phức tạp có thể bắt đầu trong thời thơ ấu, phát triển nhanh hơn khi cao tuổi. Xơ vữa động mạch có thể bắt đầu xảy ra khi các lớp bên trong của động mạch bị tổn thương bởi các yếu tố: hút thuốc lá thuốc lào; số lượng một số chất béo và cholesterol trong máu tăng hơn bình thường; bị bệnh tăng huyết áp; mức đường trong máu cao hơn bình thường; hít phải khói thuốc lá rất nhiều sẽ làm trầm trọng thêm và đẩy nhanh sự phát triển của xơ vữa động mạch trong động mạch vành, động mạch chủ và động mạch ở chân; người ít hoạt động thể chất; người có thói quen ăn ít rau, ăn nhiều chất béo bão hòa, ăn mặn, ăn quá ngọt; người có cha mẹ hoặc anh chị em bị xơ vữa động mạch; bệnh nhân bị bệnh tim mạch; ô nhiễm không khí… Do thành mạch bị tổn thương, cùng với thời gian, chất béo, cholesterol, tiểu cầu, tế bào mảnh vỡ và canxi lắng đọng trên thành động mạch. Các chất này có thể kích thích các tế bào của thành động mạch tạo ra các chất khác tiếp tục làm dày khối xơ vữa dẫn đến có nhiều tế bào tích tụ trong lớp áo trong của thành động mạch, nơi có tổn thương xơ vữa động mạch. Các tế bào này tích lũy lại, trong đó có nhiều tế bào vỡ ra. Đồng thời, chất béo cũng đọng lại xung quanh các tế bào này. Các mảng xơ này có thể dính lại với nhau hình thành cục máu đông.

Biểu hiện của xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là một bệnh diễn tiến chậm, âm thầm và thường không có dấu hiệu ban đầu nên hầu hết người bệnh đều không biết mình có bệnh cho đến khi động mạch bị hẹp một cách trầm trọng hoặc bị tắc hoàn toàn một động mạch. Nguy hiểm hơn, đến khi phải đi cấp cứu khẩn cấp như đau tim hay đột quỵ bệnh nhân mới biết mình bị bệnh. Một số người chú ý đến sức khỏe có thể phát hiện được các triệu chứng như đau ngực hoặc phát ban. Nhìn chung, các triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào động mạch bị tổn thương. Xơ vữa động mạch cảnh là động mạch cung cấp máu lên não, khi bị hẹp có thể bị đột quỵ với triệu chứng: đột ngột suy yếu, khó thở, nhức đầu, nói khó, tê liệt, nhìn khó một mắt hoặc cả hai mắt.

Xơ vữa động mạch vành là động mạch cung cấp máu nuôi tim, nếu sự cung cấp máu đến tim bị thiếu, có thể gây đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, với các triệu chứng: nôn mửa, hốt hoảng, đau ngực, ho…

Xơ vữa động mạch thận là động mạch cung cấp máu đến thận, nếu việc cung cấp máu bị hạn chế sẽ gây tổn thương thận mạn tính. Bệnh nhân có các triệu chứng: mất cảm giác ngon miệng, phù bàn tay và bàn chân, khó tập trung…

Xơ vữa động mạch ngoại biên là các động mạch chân tay, hay gặp ở động mạch chân bị xơ vữa. Các triệu chứng phổ biến nhất là đau chân ở một hoặc cả hai chân, vị trí ở bắp chân, đùi và mông. Tính chất đau: nặng nề ở chi dưới, chuột rút, các cơ bắp chân. Các triệu chứng khác có thể là: rụng lông chân, ở nam có rối loạn cương dương, tê ở chân, màu sắc của da chân thay đổi, chân yếu…

Khám thấy âm thổi đó là một dấu hiệu của mạch máu bị hẹp dẫn tới việc thay đổi dòng chảy trong mạch; giảm huyết áp ở chi; phình mạch ở gối và bụng; mất mạch hoặc giảm cường độ của mạch; siêu âm, chụp cắt lớp thấy tổn thương xơ vữa động mạch. Do thiếu máu làm cho vết thương ở chi lâu lành…

Điều trị và phòng bệnh

Mục đích điều trị nhằm làm giảm triệu chứng, giảm các yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch; giảm nguy cơ hình thành cục máu đông; phòng ngừa xơ vữa động mạch… Bệnh nhân cần thực hiện ăn uống lành mạnh, năng hoạt động thể chất, phòng tránh thừa cân. Điều trị nội khoa: dùng thuốc để ngăn chặn sự hình thành mảng xơ vữa, dùng các thuốc để giảm cholesterol, thuốc hạ huyết áp…

Phẫu thuật để điều trị các trường hợp xơ vữa động mạch nặng, nong mạch vành hoặc bắc cầu động mạch vành…
Phòng tránh xơ vữa động mạch bằng các biện pháp: ăn thực phẩm giàu chất xơ, giảm ăn mặn, giảm các loại thức ăn có nhiều cholesterol; hạn chế uống rượu bia; tập thể dục đều đặn hàng ngày; bỏ hút thuốc lá thuốc lào; tránh căng thẳng về thể chất và tinh thần…
ThS. Nguyễn Mạnh Hà
theo sức khỏe đời sống

Khám phá bệnh gan và hội chứng gan phổi

Hội chứng gan phổi thường gặp ở bệnh nhân có bệnh gan làm ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của phổi. Bệnh gây khó thở, mạch máu phổi bị giãn rộng giảm khả năng cung cấp ôxy đến các mô trong cơ thể.

Mắc bệnh gan sẽ dẫn đến hội chứng gan phổi

Hội chứng gan phổi bắt nguồn từ bệnh của gan gây giãn mạch máu phổi, hậu quả là thiếu hụt ôxy trong máu động mạch. Thiếu ôxy máu động mạch là tình trạng phổ biến khi mắc phải bệnh gan. Khi bệnh gan đến giai đoạn cuối, gan tăng sản xuất, giảm thanh thải các chất, đưa vào hệ tuần hoàn các yếu tố gây giãn mạch như nitric oxide, glucagon, peptide kích hoạt calcitonine, peptide gây giãn mạch ở ruột, và nhất là giãn mạch phổi dẫn đến thiếu ôxy máu. Cho đến nay khoa học vẫn chưa xác định chính xác chất gây giãn mạch phổi, do đó việc điều trị bằng thuốc không có kết quả, mà bệnh nhân phải thở ôxy hoặc ghép gan.
gan
Biểu hiện bệnh

Hội chứng bao gồm 3 triệu chứng chính: suy chức năng gan, giãn mạch máu phổi và rối loạn khí máu động mạch. Mức độ giãn mạch máu trong phổi từ 15 – 160 micron, làm quá tải tưới máu dẫn đến tình trạng thông khí tưới máu không cân bằng và là nguyên nhân chính gây thiếu ôxy máu. Triệu chứng điển hình của hội chứng gan phổi là khó thở, cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi cũng khó thở ở bệnh nhân đã bị bệnh gan nhiều năm. Triệu chứng sẽ nặng hơn trong tư thế đứng thẳng vì từ tư thế nằm sang tư thế đứng, áp suất ôxy trong máu động mạch giảm 5% hoặc xuống thấp hơn 4mmHg. Nguyên nhân gây khó thở do các biến chứng của bệnh gan như thiếu máu, cổ trướng, tụ dịch, hay thoái hóa cơ vân. Các triệu chứng khác như: có nhiều mạch máu li ti kết tỏa thành hình mạng nhện trên da; móng tay hình dùi; da bệnh nhân thường bị chứng xanh tím tái do thiếu ôxy trầm trọng.

Xét nghiệm: đo khí máu động mạch thấy nồng độ cũng như áp xuất ôxy trong máu động mạch giảm so với bình thường. Siêu âm tim thấy hình ảnh các bong bóng nhỏ với đường kính trên 10µm để phát hiện sự giãn nở mạch máu phổi. Do trong thủ thuật này thầy thuốc tiêm dung dịch nước muối đã lắc mạnh vào tĩnh mạch ngoại biên sẽ tạo thành các tiểu bong bóng trong lòng mạch. Theo hệ tuần hoàn máu, những tiểu bong bóng này trở về tâm nhĩ phải, xuống tâm thất phải rồi được đưa đến phổi qua động mạch phổi. Bình thường, các tiểu bong bóng này không qua được hệ mao mạch ở phổi vì đường kính chỉ dưới 8-15µm. Nếu hệ mao mạch giãn nở bất thường thì ta có thể thấy những hạt bong bóng ti li trên hình ảnh siêu âm của nhĩ trái.

Kỹ thuật Scan để tìm đại phức hợp albumin-technetium-99m cũng có cơ chế tương tự với siêu âm tim: tiêm nguyên tố phóng xạ nhân tạo technetium-99m vào máu tĩnh mạch, chất này sẽ gắn kết với albumin trong huyết tương, phức hợp này đi đến phổi, xuất hiện ở thận, não theo dòng máu. Bình thường, albumin có đường kính từ 20-60µm, không đi qua được các mao mạch phổi có đường kính dưới 8µm, chỉ khi giãn mạch máu thì nó mới đi qua được nhanh chóng. Chụp Xquang ngực sẽ thấy các vùng tổ ong, nguyên nhân do các mạch máu giãn làm tăng độ mờ đục của ảnh ở vùng đó. Độ mờ đục tăng từ 5-13,8% ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính và tăng 46-100% ở bệnh nhân bị hội chứng gan – phổi. Chụp cắt lớp  giúp chẩn đoán giãn mạch máu, mức độ giãn tăng dần ở những nhánh cuối đến màng phổi. Chụp mạch phổi để kiểm tra tình trạng tưới máu.

Ðiều trị và phòng bệnh

Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc điều trị bằng thuốc đều không cho kết quả.

Liệu pháp thở ôxy sẽ giúp bệnh nhân giảm được tình trạng thiếu hụt ôxy nghiêm trọng mặc dù hiệu quả và lợi ích của nó không có giá trị lâu dài. Biện pháp cơ học tạo đường nối thông tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch chủ bằng phương pháp TIPS giúp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa, song phương pháp này lại gây tăng tuần hoàn máu, giãn mạch máu phổi và làm hội chứng gan phổi trầm trọng hơn.

Phẫu thuật ghép gan là phương pháp điều trị thành công duy nhất, nhưng tỉ lệ tử vong sau mổ cũng như thời gian từ lúc cấy ghép gan đến khi giảm tình trạng thiếu ôxy trong máu động mạch vẫn tăng cao ở bệnh nhân thiếu ôxy máu nặng.

Phòng bệnh: cần đo khí máu động mạch ở bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính, những người có triệu chứng khó thở hoặc sắp tiến hành ghép gan.
Cấy gan của bệnh nhân đã ghép gan kết hợp với việc theo dõi sát các triệu chứng lâm sàng để có thể kiểm soát tốt hội chứng và điều trị kịp thời. Đối với bệnh nhân đã mắc hội chứng gan phổi nên được ưu tiên ghép gan để có hiệu quả điều trị lâu dài.

theo sức khỏe đời sống

Nhận biết bệnh do ấu trùng sán dây

Ấu trùng sán lớn dưới da là một bệnh mạn tính gây tổn thương ở da, cơ, não… do các u nang sán lợn gây nên. Tùy theo vị trí khu trú của nang ở da ảnh hưởng tới thẩm mỹ, ở não có thể gây động kinh, giảm trí nhớ hoặc rối loạn vận động ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống người bệnh.

Bệnh ấu trùng sán dây lợn có ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các vùng có phong tục ăn thịt lợn sống, chưa nấu chín hoặc quản lý phân chưa tốt. Con sán dây lợn trưởng thành dài từ 2 – 3m. Một đốt sán già có thể chứa tới 55 nghìn trứng, nhữngđốt già ở cuối thường rụng thành từng đoạn 5, 6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài. Người là vật chủ chính của sán, còn lợn là vật chủ phụ. Ngoài lợn, chó mèo cũng có thể là vật chủ phụ của sán dây lợn. Nếu lợn ăn phải đốt sán hoặc trứng sán, trứng sán qua dạ dày đến ruột, ấu trùng chui qua thành ruột vào hệ thống tuần hoàn và đi khắp cơ thể lợn. Chỉ sau 24 – 72 giờ kể từ khi ăn phải ấu trùng sẽ cư trú ở các mô hoặc các cơ. Sau 2 tháng, ấu trùng tạo thành một nang có vỏ bọc ngoài có kích thước 17-20 x 7-10mm), khi đó còn được gọi là gạo lợn (cysticereus cellulosae). Trong nang có dịch màu trắng, có mẩu đầu sán với 4 giác và 2 vòng móc.
Khi người ăn phải trứng sán dây lợn, dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, trứng xuống tá tràng, ấu trùng thoát ra khỏi trứng và chui qua thành ruột vào hệ tuần hoàn đi khắp cơ thể, vào các cơ, các mô, phát triển thành nang ấu trùng sán. Người có nang ấu trùng sán còn gọi là bệnh “người gạo”.

san-day

Một người bị bệnh sẽ có các biểu hiện như sau: Ở da có các nang nhỏ, bằng hạt đỗ hoặc hạt dẻ, tròn, chắc, không đau, di động trên nền sâu và lăn dưới da, màu da ở trên nang vẫn bình thường. U nang sán hay nổi ở mặt trong cánh tay nhưng có thể nổi ở bất kỳ vị trí nào và có tính chất đối xứng. Ở người bị bệnh lâu năm, các u nang sán sau nhiều năm sẽ bị vôi hóa. Biểu hiện ở não giống như một u nang trong não hoặc có thể gây nên nhiều triệu chứng đa dạng như: tăng áp lực sọ não, cơn động kinh, suy nhược thần kinh, rối loạn tâm thần, bệnh nhân có thể bị liệt hoặc bị đột tử. Ở mắt: nang ấu trùng có thể nằm trong hốc mắt, mi mắt, trong kết mạc, thủy tinh thể, tiền phòng… làm giảm thị lực hoặc bị mù tùy theo vị trí của ấu trùng trong mắt. Nang ấu trùng ở cơ tim có thể làm cho tim đập nhanh, tiếng tim bị biến đổi, bệnh nhân dễ bị ngất. Để xác định chính xác cần chọc hút và sinh thiết nang ở da tìm ấu trùng sán lợn. Chụp phim Xquang, chụp não thất hoặc soi đáy mắt phát hiện thấy u nang sán hoặc ấu trùng sán lợn. Ngoài ra, xét nghiệm phân tìm trứng sán.

Bệnh ấu trùng sán lợn dưới da cần phải phân biệt với một số bệnh như: u nang bã, u mỡ, u sarcoidose.

Tẩy sán có dễ không?

Dùng một trong các thuốc sau: Có thể dùng quinacrin, người lớn uống từ 0,9 – 1,2g chia liều nhỏ. Ngày hôm trước khi uống thuốc này, nên dùng thuốc nhuận tràng để làm giảm chất nhầy bám quanh thân sán và sau khi uống thuốc 1 giờ phải dùng thuốc tẩy. Lưu ý là nếu dùng thuốc tẩy chậm hơn thì thuốc quinacrin sẽ ngấm vào máu gây độc. Hoặc dùng thuốc niclosamide 0,5g cho uống 4 – 6 viên, thuốc không độc, hiệu quả cao. Buổi sáng nhai từng viên một, nhai thật kỹ, nhai 10 phút uống với một ít nước. Thuốc có thể làm cho trứng và các đốt sán bị tiêu hủy và đào thải ra ngoài. Nếu bệnh u nang sán lợn ở não, có thể dùng praziquantel, methifolat nên phối hợp với corticoid và thuốc chống phù nề não theo chỉ định của bác sĩ.

Điều trị u nang ở da có thể phẫu thuật khi thật cần thiết để giải quyết yếu tố thẩm mỹ hoặc các u nang chèn ép các dây thần kinh.

ThS. Nguyễn Xuân Lãm

theo sức khỏe đời sống

Bí quyết tránh ngộ độc thực phẩm mà người nội trợ nên biết

Ai trong chúng ta ít nhất cũng đã bị nhiễm độc thực phẩm, người nhẹ thì tự khỏi, người nặng phải đi bệnh viện. Vì thế, ngộ độc thực phẩm là nỗi ám ảnh của rất nhiều người. Khi bị ngộ độc thực phẩm, người bệnh không chỉ tốn tiền chạy chữa mà còn gây tổn hại cho sức khỏe, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Đâu là nguyên nhân?

Nhiễm vi sinh vật: Nguyên nhân này chiếm từ 33 – 49% các ca ngộ độc thực phẩm các ca ngộ độc thực phẩm. Vi sinh vật gây bệnh chủ yếu là các chủng Salmonella, E.Coli, Clostridium Perfringens, Listeria. Trong số các chủng này, vi khuẩn Salmonella (có trong thịt, nghêu, sò, gà chưa nấu chín, sữa sống, trứng sống…) là nguyên nhân của 70% vụ ngộ độc. Khuẩn Listeria (trong thịt ướp lạnh, chế phẩm sữa chưa tiệt trùng, thịt nguội…) ít gặp hơn nhưng lại khá nguy hiểm bởi chúng vẫn phát triển ngay cả ở nhiệt độ thấp (4-6oC); khuẩn Clostridium Perfringens hay phát sinh trong các món được nấu nướng và hâm nóng.

ngo-doc

Nhiễm hóa chất: Chiếm từ 11 – 27%. Các hóa chất thường có mặt trong thực phẩm này là chất bảo quản thực phẩm, chất bảo vệ thực vật.

Độc tố tự nhiên trong thực phẩm: Chỉ chiếm từ 6 – 37,5% ca ngộ độc, nhưng lại rất nguy hiểm cho sức khỏe vì dễ dẫn đến sốc phản vệ và tử vong, như trường hợp ăn phải nấm độc hay cá nóc là ví dụ. Rất nhiều thực phẩm ẩn chứa đằng sau sự tươi ngon là liều thuốc độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, măng tươi chứa chất xyanua (CN) có thể gây tử vong ở liều 50-90mg/kg; măng chua acid cyanhydric (HCN) có thể gây ngộ độc cấp tính; khoai tây mọc mầm hay khi vỏ đã chuyển sang màu xanh chứa ancaloid có thể gây ngộ độc cấp tính… Đặc biệt, do thời tiết nóng ẩm của nước ta nên nấm mốc trong thực phẩm có điều kiện phát triển rất nhanh. Không chỉ gây hỏng thực phẩm, nấm mốc còn sản sinh ra các độc tố nguy hiểm có thể gây ung thư gan.

Ngoài các nguyên nhân trên, có rất nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm không thể xác định được nguyên nhân.

Tác hại khi dùng thực phẩm nhiễm bẩn

Các triệu chứng đầu tiên của ngộ độc cấp tính thực phẩm là đau bụng, nôn mửa và tiêu chảy. Nặng hơn thì kèm theo các biểu hiện trên là rối loạn cảm giác, nhức đầu, mệt lả, hôn mê, liệt chi; thay đổi huyết áp, bí tiểu… Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân rất dễ bị tai biến suy tuần hoàn cấp hay trụy tim mạch và tử vong.

Trong trường hợp bị nhiễm độc do kí sinh trùng hoặc do các chất độc chưa đủ mạnh… thì các triệu chứng sẽ diễn ra chậm hơn. Sự nhiễm độc đó được gọi chung là nhiễm độc tiềm ẩn. Nếu bị nhiễm liên tục có thể sau một thời gian sẽ dẫn đến ung thư, các rối loạn chức năng không rõ nguyên nhân, vô sinh, quái thai…

Ngoài ra, còn có những người bị ngộ độc mạn tính do di chứng của ngộ độc cấp hoặc do hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn. Bệnh nhân dạng này có biểu hiện phát bệnh lặp lại thường xuyên hoặc theo chu kỳ. Bệnh thường khó chữa hoặc không chữa khỏi.

Điều nguy hại của ngộ độc thực phẩm dù ở thể nào cũng làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân được cấp cứu kịp thời và chữa trị tốt thì thời gian hồi phục cũng rất lâu. Những trường hợp ngộ độc cấp rất nặng, ngộ độc cấp không được cứu chữa kịp thời hoặc hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn kéo dài dẫn đến bệnh hiểm nghèo… chắc chắn sẽ tử vong.

Điều cần làm để có bữa ăn sạch

Sử dụng nước sạch và thực phẩm tươi. Đây là các thực phẩm có độ an toàn cao nhất, vì thế, khi chọn thực phẩm, cần lựa chọn thực phẩm tươi và nguyên vẹn, đã được tiệt khuẩn. Dùng nước sạch để xử lí thực phẩm. Không sử dụng thực phẩm đã hết hạn sử dụng.

Vệ sinh sạch sẽ. Các vi khuẩn có độc tố thường có ở tay, áo quần và dụng cụ nhà bếp, đặc biệt là các loại dao, thớt…, nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ, qua sự tiếp xúc có thể truyền chúng vào thực phẩm gây nên ngộ độc. Vì thế, hãy rửa tay sạch sẽ trước khi sử dụng thực phẩm và thường xuyên rửa tay trong suốt quá trình chế biến. Rửa và vệ sinh tất cả bề mặt và thiết bị dùng để chế biến thực phẩm; Bảo vệ khu vực bếp và thực phẩm khỏi gián, bọ, chuột và các động vật khác. Rửa tay sạch sau khi đi vệ sinh.

Để riêng thực phẩm sống và đã nấu chín. Thực phẩm sống, đặc biệt là thịt, gia cầm, hải sản có thể chứa vi sinh vật nguy hiểm, sẽ truyền sang thực phẩm khác trong quá trình chế biến và cất giữ. Hãy sử dụng riêng từng dụng cụ, thiết bị như dao, thớt trong chế biến thực phẩm sống. Khi cất giữ, hãy xếp riêng từng loại vào âu có nắp đậy kín.

Nấu chín. Nhiệt độ cao sẽ diệt hầu hết các vi khuẩn gây bệnh, vì thế, khi chế biến thực phẩm, bạn nên nấu chín, đặc biệt là thịt, gia cầm, trứng và hải sản.
Giữ thực phẩm ở nhiệt độ an toàn: Dù tươi sống hay đã nấu chín, chỉ sau một thời gian nhất định là các vi khuẩn gây bệnh sẽ tấn công thực phẩm. Chính vì thế, việc bảo quản thực phẩm là rất quan trọng. Không giữ thực phẩm đã chín tới ở nhiệt độ phòng nhiều hơn 2 giờ. Hâm thực phẩm đã nấu chín ở nhiệt độ trên 60oC trước khi sử dụng. Không bảo quản thực phẩm quá lâu dù trong tủ lạnh.

theo sức khỏe đời sống

Đừng lo khi mắc thận ứ nước

Thận ứ nước là tổn thương làm cho thận bị giãn và sưng to. Ứ nước có thể chỉ ở một bên thận hoặc ở cả hai bên. Bệnh có thể gây suy giảm chức năng thận, gây tổn thương cấu trúc tế bào thận. Các tổn thương này có thể hồi phục nếu giải quyết nhanh, thận hết ứ nước. Trái lại nếu thận ứ nước kéo dài nhiều tuần, tổn thương là vĩnh viễn.

Các bệnh gây ứ nước ở thận
than-u-nuoc
Có nhiều bệnh là nguyên nhân gây ứ nước ở thận: sỏi thận gây tắc nghẽn niệu quản; nếu là sỏi nhỏ, nó di chuyển từ thận xuống bàng quang, nhưng nếu hòn sỏi quá to sẽ gây tắc nghẽn niệu quản, làm cho nước tiểu sẽ ứ lại trên chỗ tắc; trong khi thận vẫn tiếp tục lọc ra nước tiểu mà niệu quản bị tắc, không xuống được bàng quang nên thận bị ứ nước, giãn to. Niệu quản bị hẹp do vết sẹo mổ lấy sỏi thận trước đó cũng gây tắc nghẽn làm thận ứ nước. Ung thư bàng quang, sỏi bàng quang, cổ bàng quang co bất thường cũng gây tắc nghẽn lối nước tiểu từ quàng quang ra niệu đạo, kết quả là nước tiểu ứ lại từ bàng quang, làm thận bị ứ nước.  Niệu đạo hẹp do bị viêm nhiễm, do sỏi cũng gây ứ nước thận.

Các khối u từ bên ngoài đường tiết niệu chèn ép niệu quản và ngăn chặn dòng chảy của nước tiểu. Ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến tiền liệt, phụ nữ mang thai, sa tử cung… Rối loạn chức năng của bàng quang do u não, tổn thương tủy sống hoặc những khối u, bệnh đa xơ cứng và bệnh đái tháo đường… gây trào ngược bàng quang niệu quản làm thận ứ nước.

Dấu hiệu của thận ứ nước

Nếu thận bị ứ nước cấp tính, thường có các triệu chứng:  đau bụng do sỏi thận di chuyển xuống niệu quản cọ xát gây đau, hoặc viên sỏi mắc kẹt tại chỗ niệu quản bị hẹp gây đau. Đau khởi phát ở hông lưng hoặc sườn lưng lan tới háng, kèm theo nôn, buồn nôn và vã mồ hôi. Đau từng cơn, đau nhiều làm cho bệnh nhân quằn quại hoặc cuộn người lại vì đau đớn. Có thể có máu trong nước tiểu.

Trường hợp thận ứ nước mạn tính, thận giãn to dần trong thời gian dài và có thể không có triệu chứng gì. Nếu có các khối u ở xương chậu hoặc bàng quang gây chèn ép có thể phát triển âm thầm, bệnh nhân có thể có các triệu chứng suy thận: mệt mỏi, buồn nôn và nôn, do rối loạn các chất điện giải natri, kali, canxi, bệnh nhân còn bị rối loạn nhịp tim, co thắt cơ bắp.

Xét nghiệm có thể được yêu cầu là: xét nghiệm nước tiểu để phát hiện máu, vi khuẩn gây nhiễm khuẩn hay các tế bào ung thư. Chụp cắt lớp thấy thận bị ứ nước, phát hiện thấy sỏi. Siêu âm thấy thận bị ứ nước.

Những giải pháp tích cực

Khi bị thận ứ nước, bệnh nhân không nên quá lo lắng bi quan, trái lại cần phải bình tĩnh lạc quan để loại bỏ bệnh tật. Cơ sở của sự lạc quan đó là: khoa học ngày nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh thận ứ nước mà bệnh nhân có thể hy vọng được chữa khỏi bệnh.

Mục tiêu điều trị là thông lại dòng chảy tự do của nước tiểu từ thận xuống bàng quang và ra ngoài; làm giảm sưng và giảm áp lực để ngăn chặn suy giảm chức năng thận. Bệnh nhân cần được giảm thiểu đau đớn và ngăn ngừa nhiễm khuẩn đường tiểu. Phẫu thuật để lấy sỏi niệu quản, loại bỏ khối u gây tắc nghẽn niệu quản. Nhiều trường hợp bệnh nhân có thể được tán sỏi bằng tia lase chứ không cần phải mổ. Sóng xung kích bắn vào viên sỏi, làm nó vỡ ra nhiều mảnh nhỏ có thể đi qua đường tiết niệu trong nước tiểu. Nếu bệnh nhân bị bí tiểu và bàng quang mở rộng như là một nguyên nhân gây ứ nước, có thể đặt ống thông bàng quang để tháo nước tiểu giảm áp lực nước tiểu cho thận và giảm đau cho bệnh nhân. Các bệnh nhân bị hẹp niệu quản hay sỏi niệu quản mà có khó khăn để loại bỏ, bác sĩ có thể đặt một stent vào niệu quản đi qua các vật cản và thông dòng nước tiểu chảy từ thận xuống để ra ngoài. Nếu không đặt được stent, biện pháp thay thế là gắn một ống soi thận qua da. Kỹ thuật này là đặt một ống thông qua các khe gian sườn trực tiếp vào thận để tháo nước tiểu ra ngoài, làm cho thận hết bị giãn căng và giảm đau cho bệnh nhân.

Lời khuyên của thầy thuốc

Thận ứ nước có thể phòng tránh được bằng cách tránh các bệnh là nguyên nhân gây ứ nước thận. Chẳng hạn những người bị sỏi thận có thể loại bỏ sỏi bằng cách uống nhiều nước hàng ngày. Nước có thể dùng là nước đun sôi để nguội, nước nấu các loại thuốc Nam có tác dụng làm tan sỏi như: nước râu ngô, nước sắc bông mã đề, nước sắc kim tiền thảo…

Cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn tiết niệu như: sống chung thủy một vợ một chồng; không quan hệ tình dục với gái mại dâm; vệ sinh bộ phận sinh dục trước và sau quan hệ tình dục; tránh tắm rửa ngâm mình trong nước ao hồ bị ô nhiễm; phụ nữ cần vệ sinh đúng cách: chỉ lau rửa vùng kín từ trước ra sau không lau rửa từ sau về trước… để tránh nhiễm khuẩn tiết niệu ngược dòng dẫn đến chít hẹp đường tiết niệu và gây ứ nước thận.

ThS. Trần Tất Thắng

theo sức khỏe đời sống

Một số nguyên nhân thường gặp gây đau thần kinh hông

Ðau thần kinh hông có phòng được không?

Đau thần kinh hông (thần kinh tọa) thường gặp khá nhiều trong cộng đồng, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới (nữ giới chỉ gặp 1/3). Bệnh gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh hoạt, lao động, thậm chí gây tàn phế. Tuy vậy, bệnh đau thần kinh hông cũng có thể phòng ngừa nếu được quan tâm đúng mức.

Một số nguyên nhân thường gặp gây đau thần kinh hông

Tuổi từ 30 – 60 dễ gặp đau dây thần kinh hông. Đau dây thần kinh hông chủ yếu là đau rễ thần kinh thắt lưng 5 và rễ thần kinh cùng 1. Đau thần kinh hông liên quan mật thiết với tủy sống. Về mặt cấu tạo thì tủy sống nằm trong ống sống. Dọc theo cột sống thì mỗi đoạn tủy sống có một đôi rễ thần kinh tương ứng đi ra khỏi ống sống (mỗi bên một rễ thần kinh). Đôi rễ thần kinh này có chức năng chi phối vận động và chi phối cảm giác từng bộ phận của cơ thể. Đôi rễ thần kinh của thắt lưng số 5 và cùng 1 được gọi là thần kinh hông (thần kinh tọa).
than-kinh-hong-1ebdf
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây đau thần kinh hông, bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nhưng nguyên nhân xuất phát từ cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ cao hơn cả, trong đó thoát vị đĩa đệm đóng vai trò chủ yếu. Nghiên cứu cho thấy thoát vị đĩa đệm gây nên đau thần kinh hông chiếm tỷ lệ rất cao (từ 60 – 90%). Đĩa đệm là phần cấu trúc không xương nằm giữa 2 đốt sống, được cấu tạo bởi các sợi rất chắc bao bọc xung quanh và ở giữa là nhân nhày. Đĩa đệm có tác dụng làm “giảm xóc” khi có lực nén tác động vào cột sống (từ trên xuống hoặc từ dưới lên). Khi lực tác động mạnh, đột ngột lên đĩa đệm thì làm cho các vòng sợi có thể bị rách và nhân nhày bị đẩy ra ngoài, chui vào ống sống hoặc chui vào vị trí thoát ra của rễ thần kinh thắt lưng số 5 và cùng 1 làm chèn ép rễ thần kinh và gây đau. Ở người đang độ tuổi lao động, khi làm việc nặng, quá sức, sai tư thế rất có thể bị tổn thương đĩa đệm.

Tổn thương đĩa đệm thường xảy ra cấp tính. Ở người tuổi xế chiều, đau thần kinh hông thường do thoái hóa đĩa đệm cho nên  thường xảy ra mạn tính và hay tái phát. Đau thần kinh hông cũng có thể do có sự biến đổi bất thường ở đốt sống thắt lưng như trượt đốt sống số 5 do cơ học (bưng bê không cân xứng, mang vác nặng) hoặc do đốt sống thắt lưng đã hoặc đang thoái hóa. Đau thần kinh hông cũng có thể do u xương sống, nhiễm khuẩn (lao cột sống, viêm do tụ cầu…), viêm khớp cùng chậu, ung thư ở cơ quan khác di căn đến. Đau thần kinh hông cũng có thể do viêm đốt sống thắt lưng, viêm cột sống dính khớp làm thu hẹp ống sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh và có thể gây nên hội chứng “đuôi ngựa”. Viêm cột sống dính khớp thường gặp ở tuổi trung niên (dưới 40 tuổi), biểu hiện là đau âm ỉ thắt lưng, mông, đau nhiều về đêm và buổi sáng, thường có biểu hiện cứng khớp cột sống thắt lưng làm hạn chế vận động.

Ngoài ra, người ta cũng thấy đau thần kinh hông có thể có liên quan đến chấn thương trực tiếp vào dây thần kinh hông như bị gãy xương chậu hoặc bị tiêm trực tiếp vào thần kinh hông (tiêm mông sai kỹ thuật) hoặc do một loại thuốc dầu được tiêm mông rồi thuốc khuếch tán đến thần kinh hông hay do loãng xương gây thoái hóa khớp.

Biểu hiện của đau thần kinh hông

Đau thần kinh hông dọc theo đường đi của dây thần kinh, vì vậy, triệu chứng đau rất điển hình. Trước tiên là đau thắt lưng, sau đó đau lan xuống mông, đến mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, rồi lan xuống mặt trước mắt cá ngoài, mu bàn chân và vắt ngang qua ngón cái. Nếu tổn thương ở đốt sống thắt lưng số 5 thì đau ở vùng thắt lưng. Cơn đau thường tự nhiên, bột phát, liên tục nhưng có trường hợp đau cấp tính như dao đâm. Điển hình nhất của cơn đau là xuất hiện khi gắng sức cúi xuống để nâng một vật nặng bỗng thấy đau nhói ở thắt lưng, bắt buộc phải ngừng công việc. Sau một vài giờ, tuy không làm việc nặng nữa nhưng lưng vẫn bị đau và có trường hợp vài ba ngày sau đó lưng vẫn còn tiếp tục đau. Đau tăng lên và lan dọc theo dây thần kinh hông, nhất là khi ho, hắt xì hơi hoặc lúc rặn để đại, tiểu tiện. Cơn đau có thể giảm khi nằm nghỉ, nhất là được nằm trên mặt giường cứng.

Ngoài ra, cũng có thể thấy có cảm giác đau như kiến bò, tê cóng hoặc như kim châm ở bờ ngoài bàn chân, bắt chéo qua mu bàn chân và ngón cái hoặc ngón út bàn chân. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của ngành khoa học y học mà việc chẩn đoán đau dây thần kinh hông có nhiều thuận lợi hơn như chụp bao rễ thần kinh, chụp cắt lớp vi tính (chụp CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI). Đau thần kinh hông nếu không được chữa trị nghiêm túc sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sức lao động, lâu dần sẽ bị teo cơ và có thể gây tàn phế.

Cách phòng bệnh

Ngoài 30 tuổi, (nam và nữ) nên theo dõi mật độ xương định kỳ  nhằm phát hiện sớm hiện tượng loãng xương gây thoái hóa khớp, đặc biệt là người lao động chân tay hoặc người phải ngồi lâu, nhiều giờ trong 1 ngày và kéo dài nhiều tháng, nhiều năm. Hàng ngày, nên tập thể dục đều đặn để khí huyết lưu thông, thuận lợi cho việc nuôi dưỡng các cơ quan và các khớp xương. Cần có các động tác tập các khớp xương thích hợp, nhẹ nhàng, uyển chuyển, ví dụ như các động tác tập thể dục buổi sáng. Những người phải thường xuyên mang vác nặng cần thao tác đúng tư thế, tránh để xảy ra hiện tượng chấn thương lồi đĩa đệm hoặc trật, trượt khớp đốt sống. Khi bị thoái hóa cột sống thắt lưng, viêm khớp cùng chậu, cần điều trị tích cực đúng theo chỉ định của thầy thuốc, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa khớp. Người bị đau thần kinh hông cần điều trị tích cực theo chỉ định của bác sĩ để tránh bệnh trở thành mạn tính, thậm chí gây biến chứng teo cơ, tàn phế. Ngoài ra, cần ăn uống đủ chất và bổ sung lượng canxi cần thiết khi có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình.

PGS.Ts.TTƯT. Bùi Khắc Hậu
theo sức khỏe đời sống

6 loại gia vị phục vụ sức khỏe con người tốt nhất thế giới

Khoa học hiện đại đã phát hiện ra sức mạnh của các loại thảo dược làm gia vị có tác dụng như “vũ khí” chống lại bệnh tật và tăng cường sức khỏe.

Dưới đây là 5 loại gia vị thảo dược được coi là có lợi nhất cho sức khỏe trên toàn thế giới.

1. Cây xô thơm

Tác dụng: Giúp tinh thần tỉnh táo và minh mẫn.

Cây xô thơm còn gọi là cây ngải đắng. Tinh dầu của loại thảo dược này có tác dụng cân bằng hormone, kích thích các giác quan, tăng cường tâm trạng tốt hơn.

Ngoài ra, cây xô thơm còn có nhiều lợi ích trong việc chống nấm, chống lão hóa da, giảm trầm cảm sau sinh, giúp an thần, sát trùng, kích thích tiêu hóa và giảm mệt mỏi…

6-loai-gia-vi-phuc-vu-suc-khoe-con-nguoi-tot-nhat-the-gioi

2. Cây nghệ

Tác dụng: Tăng cường tâm trạng của bạn, làm giảm các triệu chứng tiền kinh nguyệt (PMS)

Đã từ lâu trong y học truyền thống, nghệ được coi là một loại gia vị có thể giúp con người cải thiện tâm trạng nên nó thường được dùng trong các món ăn. Ngoài ra, nghiên cứu từ bệnh viện tâm thần Roozbeh tại Đại học khoa học y học Tehran (Iran) đã tìm thấy rằng nghệ tây có thể giúp giảm các triệu chứng của hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) và trầm cảm. Trong một nghiên cứu, 75% phụ nữ có triệu chứng tiền kinh nguyệt được cho uống viên nang nghệ tây hàng ngày và kết quả là các triệu chứng PMS của họ giảm đi rất nhiều, trong khi số phụ nữ không dùng nghệ tây chỉ có 8%.

3. Ớt

Tác dụng: Tăng cường quá trình trao đổi chất.

Ớt có tác dụng sinh nhiệt nhưng cũng giúp kích hoạt hệ thống làm mát tự nhiên của cơ thể. Capsaicin – một hợp chất cay trong ớt có tác dụng tăng sự trao đổi chất của cơ thể và có thể thúc đẩy việc đốt cháy chất béo, giúp bạn giảm cân. Capsaicin cũng có thể làm giảm nguy cơ loét bằng cách thúc đẩy các tế bào dạ dày để chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra loét và giúp ổn định tim bằng cách giảm cholesterol xấu (LDL).

4. Gừng

Tác dụng: Xoa dịu rối loạn dạ dày, chống đau viêm khớp.

Theo truyền thống, gừng được sử dụng để làm giảm cảm lạnh và các rắc rối dạ dày. Ngoài ra, vì nó giàu các hợp chất chống viêm nên nghệ được coi là có thể có tác dụng trong chống một số bệnh ung thư và giảm đau viêm khớp (ví dụ như đau viêm xương khớp ở đầu gối). Chất chiết xuất từ ​​gừng có thể giúp làm giảm buồn nôn do ốm nghén hoặc phẫu thuật hoặc hóa trị liệu.

5. Quế

Tác dụng: Ổn định lượng đường trong máu.

Quế được đánh giá cao của vua Solomon và được người Hy Lạp, La Mã cổ đại sử dụng rộng rãi để thúc đẩy sự thèm ăn, giảm chứng khó tiêu. Những người bị bệnh tiểu đường type 2 nếu thêm một muỗng cà phê quế trong chế độ ăn uống mỗi ngày có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu tốt hơn vì nó ngăn cản sự tăng lượng đường trong máu sau mỗi bữa ăn.

6. Mùi tây

Tác dụng: Ngăn chặn ung thư.

Các nhà khoa học của Đại học Missouri (Hoa Kỳ) phát hiện ra rằng loại thảo dược này thực sự có thể ức chế sự phát triển tế bào ung thư vú nhờ hoạt chất apigenin. Các chuyên gia khuyên bạn nên thêm một ít rau mùi tươi thái nhỏ vào các món ăn hàng ngày.

Theo afamily