Tag Archives: thông tin sức khoẻ

Bài thuốc dân gian trị đau răng

Có rất nhiều nguyên nhân gây đau nhức răng như sâu răng, viêm lợi, nướu răng,… Người bệnh cần khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị triệt để. Trong quá trình điều trị để răng đỡ đau và đạt kết quả nhanh có thể dùng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Quả vải phơi khô 20g, rễ lá lốt 20g, đổ một bát nướcsắc lấy nước đặc. Ngậm nhiều lần trong ngày.

Bài 2: Lá trầu không, củ nghệ vàng, búp bàng, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, giã nhỏ, ngâm với rượu. Khi dùng đem đun cách thuỷ (đậy kín nút chai để rượu không bay hơi) cho sôi 30 phút rồi lấy ra để nguội. Ngậm (súc miệng) trong 5 – 10 phút hay dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ đau, sau nhổ nước thuốc đi. Hoặc lấy vài lá trầu không, rửa sạch, thêm ít muối, giã nhỏ, hoà vào một chén rượu. Gạn lấy nước trong để ngậm liên tục tới khi giảm đau nhức.

nghe-vang

Bài 3: Vỏ thân cây gạo 50g, thạch xương bồ 50g, sắc lấy nướcđặc để ngậm. Trước khi ngậm cho thêm vài hạt muối.

Bài 4: Vỏ trắng của cây ruối 100g, rượu 100ml. Cạo vỏ ngoài,thái nhỏ cho vào rượu ngâm, ngày ngậm 4 – 5 lần, dùng trong 2 – 3 ngày liềnhoặc sắc nước lá ruối hòa với một ít muối để súc miệng.

Bài 5: Hoa tươi của cây cúc áo 50g hoa ngâm với 300ml rượu trắng. Ngâm trong 10 – 15 ngày là được. Khi bị đau răng ngậm một ít rượu này trong vài phút, sau đó nhổ đi và súc miệng sạch. Ngày ngậm 5 – 10 lần.

Bài 6: Nhân hạt gấc nướng chín vàng, tán bột, trộn với một ít dấm thanh, chấm vào chỗ răng đau. Chỉ cần chấm vài lần vào buổi chiều là đêm hết đau và có thể ngủ được.

Bài 7: Vỏ thân cây trám trắng, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, phơi khô, lấy 50g thái mỏng, sắc lấy nước đặc, ngậm nhổ nước. Ngày làm nhiều lần.

Bài 8: Lấy rễ lá lốt, rửa thật sạch, giã nát với mấy hạt muối, vắt lấy nước cốt, dùng bông sạch chấm vào răng đau, ngậm 2 – 3 phút rồi súc miệng bằng nước muối. Ngày chấmthuốc 3 – 5 lần.

Bài 9: Vỏ thân cây sao đen 100g, cạo bỏ lớp bẩn thô bênngoài, rửa sạch, thái mỏng, sắc đặc, ngậm khi răng đau. Có thể phối hợp hai vịlá lốt và sao đen, 2 vị bằng nhau, sắc đặc, ngậm khi răng đau nhức, tác dụnggiảm đau nhanh hơn.

Theo Bác sĩ Thu Vân
SKĐS

Nữ giới nhịn tiểu gây ra vô sinh

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

nhin-tieu

Nếu thường xuyên nhịn tiểu, tử cung đổ về phía sau rất khó trở lại vị trí cũ. Khi bàng quang chèn ép tử cung nhiều, ép vào dây thần kinh ở trước xương cùng, làm cho phần xương cùng đau nhức, nặng sẽ gây ra vô sinh.

Nhịn tiểu gây ra tiểu dắt

Không có 2 vòng cơ thắt bằng cơ vân như nam giới, phụ nữ chỉ có 1 vòng cơ thắt do đó nếu thời gian dài nhịn tiểu, cơ vòng sẽ mệt mỏi, nhão, từ đó dẫn đến tiểu dắt; lâu dài gây lão hóa, dễ viêm nhiễm hệ tiết niệu.

Ngoài ra, do kết cấu các bộ phận trong bàng quang của nữ khá phức tạp, hệ thống tiết niệu dễ bị vi khuẩn xâm hại hơn nam giới. Nhịn tiểu không chỉ ảnh hưởng đến chức năng của bàng quang, gây viêm nhiễm đường niệu đạo mà còn gây tiểu nhiều, tiểu ra máu, tiểu khó, tiểu buốt và cả bụng dưới khó chịu vv.

Thường ngày chú ý uống nhiều nước, đi tiểu nhiều

Chuyên gia đặc biệt khuyến cáo phụ nữ không nên chờ khát mới uống nước, đặc biệt là những người vận động nhiều.

Nên chú ý ăn nhạt, thanh đạm, ít dầu mỡ. Nếu ăn quá nhiều thức ăn dầu mỡ hoặc ăn mặn, nên uống nhiều nước hơn thường ngày. Trời lạnh nên uống nước ấm, trước khi ngủ và sau khi thức dậy nên uống 2 cốc nước lọc, trời lạnh cũng nên uống để giúp cho nước tiểu kịp thời đẩy ra ngoài, tránh vi khuẩn ở trong đường tiết niệu phát triển.

Theo Dân trí

Những hậu quả khó lường khi ngồi bắt chéo chân

Phụ nữ, dân văn phòng thường hay ngổi thẳng bắt chéo chân để tạo dáng đẹp, tuy nhiên tư thế ngồi như thế này lại mang đến 6 nguy hại cho cơ thể.

Chân biến thành “chân dạng 0”

Hai chân chồng lên bắt chéo nhau, chân nghiêng kiễng lên co vào trong, như vậy sẽ làm cho dây chằng của chân dày, to, phát viêm, gây ra sưng phù chân, thậm chí còn có thể làm cho chân trở thành “chân dạng 0” đồng thời hình dáng chân trở nên xấu xí, thô, cong.

ngoivatchan

Xuất hiện viêm khớp thoái hóa sớm

Đầu tiên chân bị chèn ép, phải chịu đựng áp lực của chân còn lại, thời gian dài gánh chịu lực bên ngoài bất thường làm cho phía trên đầu gối thoái hóa, bào mòn, các bệnh về đầu gối sẽ tìm đến làm phiền. Rất nhiều người chưa già đã thoái hóa, bị mắc chứng chứng viêm khớp thoái hóa khi còn trung niên.

Căn cơ cội nguồn của chứng bệnh này chính là “bắt béo chân”. Điều đáng sợ hơn, loại bệnh này không có khả năng “biến mất” mà luôn đeo đám người mắc bệnh đến tàn tật, chỉ có phẫu thuật thay khớp nhân tạo mới giảm bớt được. Vì vậy, chúng ta nên thay đổi ngay thói quen ngồi này.

Hai chân dễ bị co giãn tĩnh mạch

Chân bị chèn ép sẽ khiến khí huyết không được lưu thông, làm tăng nguy cơ bị giãn tĩnh mạch, nghiêm trọng còn gây ra phù thũng chân dưới, làm cho vết thương nhỏ xíu khó lành, tăng thêm nguy cơ lở loét chân.

Xuất hiện hội chứng chèn ép thần kinh

Cảm giác tê, mất cảm giác ở chân là do thần kinh phụ trách cảm giác nằm ở mặt trước đùi bị chèn ép và lâu dài sẽ phải điều trị.

Xương lườn cũng dễ bất thường

Không đơn giản là chân đau sưng, tĩnh mạch giãn, ngồi bắt chéo chân còn làm cho xương lưng và cột sống bất thường, bao gồm vẹo cột sống, đĩa đêm tổn thương, lồi vv. Chữa trị chứng mãn tính loại này rất khó, phức tạp.

Ngồi bắt chéo hai chân thực sự là thói quen rất không tốt, vị trí khớp hông hai bên (khớp giữa chân và phần hông) một cao một thấp, lien đới làm cho vị trí xương chậu tách xa nhau, góc xương lưng và cột sống cũng sẽ thay đổi.

Ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản

Nam giới ngồi liên tục hai chân bắt chéo tại sao lại gieo họa đến đời sau? Bởi vì hai chân bắt chéo sẽ làm cho nhiệt độ bên trong chân và xung quanh bộ phận sinh dục tăng cao, ảnh hưởng tới sự hình thành của tinh binh.

Chuyên gia kiến nghị: Ngồi bắt chéo chân tốt nhất không vượt quá 10 phút, hai chân kỵ bắt chéo nhau quá khít, nếu cảm thấy bên trong đùi có mồ hôi túa ra, tốt nhất nên đi đến chỗ thông khí và thông gió đi lại một lúc để giúp tản hết nhiệt tập trung ở chân.

Theo Dân Trí

Nguy hiểm chứng bệnh giời leo

Điều trị chứng “giời leo”

“Giời leo không phải là bệnh nguy hiểm, nhưng vì dễ nhầm lẫn với bệnh ngoài da khác nên có thể dẫn đến viêm nhiễm nặng do điều trị sai. Từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm là thời điểm bệnh giời leo hoành hành…”- Ths.BS Đinh Doãn Thạch, Trưởng khoa Khám bệnh (BV Da liễu Hà Đông) cho biết.

Nhiều bệnh nhân đến khám tại BV Da liễu Trung ương vì bị giời leo tấn công. Ảnh: P.T.

Tự ý điều trị làm tổn thương sâu hơn

gioi-leo

Thống kê tại BV Da liễu Trung ương và BV Da liễu Hà Nội, trung bình mỗi ngày có từ 40- 50 bệnh nhân bị giời leo (hay còn gọi là viêm da do tiếp xúc với côn trùng) đến khám. Tất cả các trường hợp đều có biểu hiện bằng các đám đỏ, có các mụn nước và phỏng nước, ở giữa có một vùng hơi lõm, thậm chí hoại tử kéo dài thành vệt dài 3 – 10cm ở mặt, cổ, đùi, hai cánh tay… ảnh hưởng nặng đến thẩm mỹ. Bệnh nhân có cảm giác nóng rát tại chỗ, ngứa. Có trường hợp bị nhiễm trùng gây phát sốt.

Theo BS. Đinh Doãn Thạch, bệnh giời leo là hiện tượng viêm da cấp tính do chất tiết của côn trùng khi tiếp xúc trực tiếp với da. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, tăng nhiều vào tháng 7 – 10 vì đây là mùa mưa, khí hậu nóng ẩm. Mưa làm ngập ruộng nên các côn trùng ở bờ ruộng, ở các thân cây bay vào nhà theo ánh đèn tiếp xúc với người gây bệnh. Côn trùng thường bám trên người gây rát bỏng ở những vùng da bị tiếp xúc, đặc biệt là ở những vùng da mỏng như mặt, cổ, tay chân. Nguy hiểm nhất là tổn thương ở vùng mắt, nếu không chữa trị kịp thời và đúng cách có thể ảnh hưởng đến thị lực, sẹo giác mạc. Nặng hơn, có thể bị tăng nhãn áp về sau dẫn đến mù loà.

“Đa số bệnh nhân là những người làm việc dưới ánh đèn, phần lớn họ đều phát hiện các tổn thương trên da đầu tiên vào buổi sáng. Đáng lo ngại, vì nhầm lẫn giữa bệnh zona và bệnh giời leo nên nhiều người tự mua thuốc điều trị. Cứ 10 bệnh nhân đến khám thì có đến 4 người tự ý sử dụng thuốc sai. Điều này làm tổn thương da sâu hơn, gây phù nề khiến việc điều trị càng phức tạp. Lúc này, bệnh nhân ngoài bôi thuốc phải dùng kháng sinh để phòng nhiễm trùng do tổn thương lan rộng, nổi mủ” – BS Thạch nói.
BS Lê Quang Lộc – nguyên Trưởng khoa Da liễu (BV Xanh Pôn) cho biết, cách phân biệt bệnh giời leo với zona thần kinh không khó nếu để ý kỹ các triệu chứng. Khi bị viêm da tiếp xúc do côn trùng thường ngứa, rát chỉ sau vài phút tiếp xúc với côn trùng, sau đó thì đỏ, phồng rộp lên. Còn với bệnh zona thần kinh là do virus, cảm giác đau nhiều hơn rát, đau giật theo đường dây thần kinh ngoại biên. Giời leo có thể gặp bất kỳ tại vùng da nào trên cơ thể, zona là những vệt tấy đỏ viêm da chạy dọc kéo dài theo dây thần kinh trên cơ thể như dọc cánh tay, dọc thân sườn… Thường tổn thương chỉ ở một bên nửa cơ thể, bên phải hoặc bên trái. Bệnh zona khi bị một lần thường không bị lại nhưng với giời leo thì trong một mùa hè, bệnh nhân có thể bị đi bị lại 3 – 4 lần.

Điều trị bằng cách nào?

BS. Lê Quang Lộc cho biết, khi bị viêm da do côn trùng, người bệnh không nên tùy tiện mua thuốc về bôi, cũng không nên gãi mạnh chỗ bị tổn thương. Ngay sau khi xuất hiện đỏ và ngứa da, cần phải rửa bằng nước sạch hoặc nước muối 0,9% để làm sạch chất gây viêm da từ côn trùng. Không dùng nước xà phòng rửa vì sẽ làm tăng kích ứng da. Đặc biệt, tuyệt đối không bôi các loại thuốc mỡ vào chỗ tổn thương. Nó sẽ làm tăng bám bụi, ứ đọng dịch tiết phù nề khiến bệnh dễ lây lan hơn. Nên bôi bằng hồ nước hoặc thuốc màu, tốt nhất là thuốc màu xanh. Để tránh lây lan, người bệnh nên tránh sờ tay vào chỗ phù nề rồi lại chạm vào vùng da khác hoặc người khác vì chất độc từ côn trùng ở phần da viêm nhiễm sẽ bám vào phần da mới tiếp xúc và gây bệnh.

Một quan niệm sai lầm mà nhiều người cho rằng cần phải kiêng nước nên ngại tắm rửa. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được tắm sạch sẽ, vệ sinh kỹ lưỡng bởi nếu không tắm, chất tiết côn trùng vẫn còn trên da sẽ gây nguy hiểm. Khi tắm mọi người cần phải giữ ấm và tắm nước nóng vì sức đề kháng giảm. Tránh hoạt động mạnh, nghỉ ngơi nhiều để cơ thể có điều kiện chống lại vi khuẩn.

BS Thạch cho hay, nếu điều trị đúng cách, bệnh giời leo thường khỏi nhanh trong 3 – 7 ngày. Mọi người nên dùng các dung dịch làm dịu da như kem kẽm, dung dịch jarish bôi, đắp ngày 2 – 3 lần; có thể thay bằng nước lá khế đun sôi để nguội, hồ nước bôi ngày 2 – 3 lần. Khi có nhiễm khuẩn nên dùng các dung dịch sát khuẩn, mỡ kháng sinh như: Samicason, Begendrem,… Điều trị toàn thân bằng thuốc kháng histamin như: Cetrizin, Loratadin…; thuốc giảm đau khi đau nhiều, có thể dùng Paracetamol, hỗn hợp thần kinh…  Tuyệt đối không tự ý bôi thuốc hoặc nhai gạo nếp, đỗ xanh đắp vào vết phù nề có thể gây nhiễm trùng, để lại sẹo sau này.

Theo afamly

Tử vong vì uống Nhân trần với cam thảo

Nhân trần với cam thảo – sự kết hợp “chết người”

Nhân trần vốn có vị đắng nên để dễ uống nhiều gia đình hoặc hàng nước vỉa hè đã kết hợp cho thêm cam thảo với mục đích tăng thêm vị ngọt, nhưng ít ai biết đó là sự kết hợp “chết người”.

Theo các bác sĩ Nguyễn Xuân Hướng – Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam – cam thảo có tính chất giữ nước, trong khi nhân trần lại giúp đào thải, hai vị thuốc trái ngược nhau được sử dụng chung sẽ không có lợi cho cơ thể.

nhan-tran
Bên cạnh đó, việc uống nhân trần thường xuyên có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì nhân trần có tác dụng lợi mật, nhuận gan, nhưng người ta chỉ cần lợi mật khi mật không tiết ra (mật viêm, tắc mật…) và nhuận gan khi gan có vấn đề. Nếu không có bệnh mà lại uống hàng ngày, nghĩa là bắt gan và mật không có nhu cầu tiết cũng phải tiết, dẫn tới phải làm việc nhiều hơn nên dễ bị tổn thương, mất cân bằng và sinh bệnh.

Đối với phụ nữ mang thai, nếu không có bệnh lý về gan, không được bác sĩ chỉ định thì tuyệt đối không nên dùng nhân trần. Bởi nếu uống nước này nhiều sẽ làm xuất tiết các tuyến trong cơ thể. Vì vậy, sau khi sinh, người mẹ thường bị mất sữa hoàn toàn hoặc chỉ có rất ít.

Ngoài ra, nhân trần thường đến với tay người tiêu dùng ở dạng khô và khi thời tiết ẩm rất khó để bảo quản được lâu. Nếu để kinh doanh, các cửa hàng thường phải dùng thuốc chống ẩm mốc, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng. Thậm chí, nhiều người vì lợi nhuận đã phun thuốc diệt cỏ vào cây tươi để cây nhanh héo và khô, dễ dàng chặt ra đem bán. Sản phẩm chứa thuốc diệt cỏ hết sức nguy hiểm cho sức khỏe người dùng.

Theo VnMedia.vn

Hệ số mắc bệnh của nhóm máu A là cao nhất

Thống kê của các nhà khoa học cho thấy, nhóm máu có mối quan hệ với nguy cơ ung thư, cụ thể là ung thư dạ dày.

Tiền sử gia đình làm tăng khả năng ung thư

Trong nghiên cứu dịch tễ học phân tử ung thư dạ dày và đại trực tràng ở Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Thị Thu (trường Đại học Y Hà Nội) làm chủ nhiệm đề tài cho thấy, trong số 612 bệnh nhân mắc bệnh ung thư và không mắc bệnh ung thư thì tiền sử mắc bệnh ung thư của gia đình đối tượng nghiên cứu có sự liên quan đến bệnh ung thư. Cụ thể, trong gia đình có người bị ung thư thì khả năng làm tăng nguy cơ ung thư với chỉ số nguy cơ mắc bệnh ung thư là 1,82.

nhom-mau-ung-hut

Theo các chuyên gia, không chỉ trong đề tài này mà nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước cũng đã cho thấy, tại gia đình có người bị ung thư thì nguy cơ mắc bệnh thường rất cao, gấp 2 lần so với người khác. Bên cạnh đó, các xem xét tiền sử bệnh loét dạ dày ở các đối tượng nghiên cứu thông qua con số đã chỉ ra rằng: Trong tổng số 133 người có tiền sử bị loét dạ dày thì có 87 người bị ung thư dạ dày, tức chiếm 65,4%.

Kết luận này phù hợp với công bố của Viện Nghiên cứu Ung thư Petrov (CHLB Nga) là 70% ung thư dạ dày phát sinh ở người có viêm loét dạ dày kéo dài trên 10 năm.

Nhóm máu A, B nguy cơ mắc ung thư cao

PGS.TS Lê Trần Ngoan, Bộ môn Sức khoẻ nghề nghiệp, trường Đại học Y Hà Nội là phó chủ nhiệm đề tài trên cho hay: Một số nghiên cứu cho thấy, ung thư dạ dày có liên quan đến nhóm máu. Hệ số mắc bệnh của nhóm máu A là cao nhất: 1,35%; nhóm máu B là 1,21; nhóm máu AB là 1,01 và nhóm máu O là 0,73. Trong đó, tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày ở nhóm máu A tăng 15 – 20%.

“Đã có những nghiên cứu cho thấy, yếu tố gen có một vai trò tiềm tàng trong quá trình sinh ra bệnh ung thư của dạ dày. Điều này cũng tương đồng với nghiên cứu trong nhóm tiền sử gia đình có khả năng làm tăng nguy cơ ung thư. Có những gia đình nguy cơ cao gấp 2-3 lần so với cộng đồng và những người nhóm máu A cũng có tỷ lệ ung thư cao hơn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp các kết luận là những người có nhóm máu A và B nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn nhóm đối chứng”, PGS.TS Lê Trần Ngoan nói.

Tuy nhiên, các chuyên gia khẳng định: Nhóm máu không tự nó có thể gây ung thư. Có thể có các yếu tố phối hợp nào đó mới gây được ung thư dạ dày ở những người có nhóm máu A hoặc B. Vì thế, cần có các nghiên cứu tiếp để chứng minh cho giả thuyết này đồng thời góp phần phòng bệnh ung thư dạ dày có hiệu quả.

“Các khảo sát và chứng minh khoa học là thế, nhưng tất cả mọi người nói chung và những ai có nhóm máu A hoặc B hãy phòng bệnh ung thư dạ dày và nhiều loại ung thư khác bằng cách thay đổi thói quen như không hút thuốc lá, thuốc lào, uống rượu hoặc bia dưới 50ml/ngày. Không nấu thức ăn ở nhiệt độ cao như rang, rán, nướng, quay sẽ an toàn hơn”, PGS.TS Lê Trần Ngoan đưa ra lời khuyên.

Uống chè xanh có thể giảm nguy cơ ung thư

Trong quá trình khảo sát, các nhà khoa học chưa thấy được mối liên hệ giữa thói quen uống trà và cà phê liên quan đến nguy cơ ung thư. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu bệnh chứng về chế độ ăn và ung thư dạ dày ở Thổ Nhĩ Kỳ của Tanner Demirer và cộng sự khi họ khẳng định chưa thấy được sự khác biệt trong việc sử dụng trà giữa nhóm bệnh và nhóm đối chứng.

Trong khi đó, nghiên cứu thử nghiệm ở Nhật Bản và Trung Quốc đã chứng minh được chè xanh có nhiều hợp chất polyphenolic có tác dụng ngăn tạo khối u trên động vật. Nghiên cứu cho chuột uống nước chè xanh của tác giả Allan Conney ở Trường tổng hợp Tutger đã xác định nước chè có tác dụng giảm nguy cơ ung thư dạ dày tới 58%. Theo dõi trên người ở nghiên cứu về dinh dưỡng và ung thư dạ dày ở Nhật Bản thì thấy rằng uống chè xanh trên 10 chén/ngày có thể giảm nguy cơ gây ung thư dạ dày.

Theo afamily

Xơ vữa động mạch là gì?

Xơ vữa động mạch là tổn thương trong đó một khối vật chất bất thường tạo thành bên trong động mạch, nó bám lên thành động mạch làm cho lòng động mạch bị hẹp lại, hậu quả là sự vận chuyển máu trong cơ thể bị cản trở, thiếu máu nuôi các bộ phận cơ thể do động mạch chi phối.

Tại sao lại bị xơ vữa động mạch?

Xơ vữa động mạch là sự thu hẹp của động mạch do các mảng bám được tạo thành trong lòng mạch máu. Xơ vữa động mạch có thể xảy ra, ảnh hưởng đến bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, bao gồm cả động mạch ở tim, não, cánh tay, chân, xương chậu và thận.

so-vua-dong-mach

Đến nay, khoa học vẫn chưa biết rõ nguyên nhân gây xơ vữa động mạch. Các nghiên cứu cho thấy rằng, xơ vữa động mạch là một bệnh tiến triển chậm và phức tạp có thể bắt đầu trong thời thơ ấu, phát triển nhanh hơn khi cao tuổi. Xơ vữa động mạch có thể bắt đầu xảy ra khi các lớp bên trong của động mạch bị tổn thương bởi các yếu tố: hút thuốc lá thuốc lào; số lượng một số chất béo và cholesterol trong máu tăng hơn bình thường; bị bệnh tăng huyết áp; mức đường trong máu cao hơn bình thường; hít phải khói thuốc lá rất nhiều sẽ làm trầm trọng thêm và đẩy nhanh sự phát triển của xơ vữa động mạch trong động mạch vành, động mạch chủ và động mạch ở chân; người ít hoạt động thể chất; người có thói quen ăn ít rau, ăn nhiều chất béo bão hòa, ăn mặn, ăn quá ngọt; người có cha mẹ hoặc anh chị em bị xơ vữa động mạch; bệnh nhân bị bệnh tim mạch; ô nhiễm không khí… Do thành mạch bị tổn thương, cùng với thời gian, chất béo, cholesterol, tiểu cầu, tế bào mảnh vỡ và canxi lắng đọng trên thành động mạch. Các chất này có thể kích thích các tế bào của thành động mạch tạo ra các chất khác tiếp tục làm dày khối xơ vữa dẫn đến có nhiều tế bào tích tụ trong lớp áo trong của thành động mạch, nơi có tổn thương xơ vữa động mạch. Các tế bào này tích lũy lại, trong đó có nhiều tế bào vỡ ra. Đồng thời, chất béo cũng đọng lại xung quanh các tế bào này. Các mảng xơ này có thể dính lại với nhau hình thành cục máu đông.

Biểu hiện của xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là một bệnh diễn tiến chậm, âm thầm và thường không có dấu hiệu ban đầu nên hầu hết người bệnh đều không biết mình có bệnh cho đến khi động mạch bị hẹp một cách trầm trọng hoặc bị tắc hoàn toàn một động mạch. Nguy hiểm hơn, đến khi phải đi cấp cứu khẩn cấp như đau tim hay đột quỵ bệnh nhân mới biết mình bị bệnh. Một số người chú ý đến sức khỏe có thể phát hiện được các triệu chứng như đau ngực hoặc phát ban. Nhìn chung, các triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào động mạch bị tổn thương. Xơ vữa động mạch cảnh là động mạch cung cấp máu lên não, khi bị hẹp có thể bị đột quỵ với triệu chứng: đột ngột suy yếu, khó thở, nhức đầu, nói khó, tê liệt, nhìn khó một mắt hoặc cả hai mắt.

Xơ vữa động mạch vành là động mạch cung cấp máu nuôi tim, nếu sự cung cấp máu đến tim bị thiếu, có thể gây đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, với các triệu chứng: nôn mửa, hốt hoảng, đau ngực, ho…

Xơ vữa động mạch thận là động mạch cung cấp máu đến thận, nếu việc cung cấp máu bị hạn chế sẽ gây tổn thương thận mạn tính. Bệnh nhân có các triệu chứng: mất cảm giác ngon miệng, phù bàn tay và bàn chân, khó tập trung…

Xơ vữa động mạch ngoại biên là các động mạch chân tay, hay gặp ở động mạch chân bị xơ vữa. Các triệu chứng phổ biến nhất là đau chân ở một hoặc cả hai chân, vị trí ở bắp chân, đùi và mông. Tính chất đau: nặng nề ở chi dưới, chuột rút, các cơ bắp chân. Các triệu chứng khác có thể là: rụng lông chân, ở nam có rối loạn cương dương, tê ở chân, màu sắc của da chân thay đổi, chân yếu…

Khám thấy âm thổi đó là một dấu hiệu của mạch máu bị hẹp dẫn tới việc thay đổi dòng chảy trong mạch; giảm huyết áp ở chi; phình mạch ở gối và bụng; mất mạch hoặc giảm cường độ của mạch; siêu âm, chụp cắt lớp thấy tổn thương xơ vữa động mạch. Do thiếu máu làm cho vết thương ở chi lâu lành…

Điều trị và phòng bệnh

Mục đích điều trị nhằm làm giảm triệu chứng, giảm các yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch; giảm nguy cơ hình thành cục máu đông; phòng ngừa xơ vữa động mạch… Bệnh nhân cần thực hiện ăn uống lành mạnh, năng hoạt động thể chất, phòng tránh thừa cân. Điều trị nội khoa: dùng thuốc để ngăn chặn sự hình thành mảng xơ vữa, dùng các thuốc để giảm cholesterol, thuốc hạ huyết áp…

Phẫu thuật để điều trị các trường hợp xơ vữa động mạch nặng, nong mạch vành hoặc bắc cầu động mạch vành…
Phòng tránh xơ vữa động mạch bằng các biện pháp: ăn thực phẩm giàu chất xơ, giảm ăn mặn, giảm các loại thức ăn có nhiều cholesterol; hạn chế uống rượu bia; tập thể dục đều đặn hàng ngày; bỏ hút thuốc lá thuốc lào; tránh căng thẳng về thể chất và tinh thần…
ThS. Nguyễn Mạnh Hà
theo sức khỏe đời sống

Khám phá bệnh gan và hội chứng gan phổi

Hội chứng gan phổi thường gặp ở bệnh nhân có bệnh gan làm ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của phổi. Bệnh gây khó thở, mạch máu phổi bị giãn rộng giảm khả năng cung cấp ôxy đến các mô trong cơ thể.

Mắc bệnh gan sẽ dẫn đến hội chứng gan phổi

Hội chứng gan phổi bắt nguồn từ bệnh của gan gây giãn mạch máu phổi, hậu quả là thiếu hụt ôxy trong máu động mạch. Thiếu ôxy máu động mạch là tình trạng phổ biến khi mắc phải bệnh gan. Khi bệnh gan đến giai đoạn cuối, gan tăng sản xuất, giảm thanh thải các chất, đưa vào hệ tuần hoàn các yếu tố gây giãn mạch như nitric oxide, glucagon, peptide kích hoạt calcitonine, peptide gây giãn mạch ở ruột, và nhất là giãn mạch phổi dẫn đến thiếu ôxy máu. Cho đến nay khoa học vẫn chưa xác định chính xác chất gây giãn mạch phổi, do đó việc điều trị bằng thuốc không có kết quả, mà bệnh nhân phải thở ôxy hoặc ghép gan.
gan
Biểu hiện bệnh

Hội chứng bao gồm 3 triệu chứng chính: suy chức năng gan, giãn mạch máu phổi và rối loạn khí máu động mạch. Mức độ giãn mạch máu trong phổi từ 15 – 160 micron, làm quá tải tưới máu dẫn đến tình trạng thông khí tưới máu không cân bằng và là nguyên nhân chính gây thiếu ôxy máu. Triệu chứng điển hình của hội chứng gan phổi là khó thở, cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi cũng khó thở ở bệnh nhân đã bị bệnh gan nhiều năm. Triệu chứng sẽ nặng hơn trong tư thế đứng thẳng vì từ tư thế nằm sang tư thế đứng, áp suất ôxy trong máu động mạch giảm 5% hoặc xuống thấp hơn 4mmHg. Nguyên nhân gây khó thở do các biến chứng của bệnh gan như thiếu máu, cổ trướng, tụ dịch, hay thoái hóa cơ vân. Các triệu chứng khác như: có nhiều mạch máu li ti kết tỏa thành hình mạng nhện trên da; móng tay hình dùi; da bệnh nhân thường bị chứng xanh tím tái do thiếu ôxy trầm trọng.

Xét nghiệm: đo khí máu động mạch thấy nồng độ cũng như áp xuất ôxy trong máu động mạch giảm so với bình thường. Siêu âm tim thấy hình ảnh các bong bóng nhỏ với đường kính trên 10µm để phát hiện sự giãn nở mạch máu phổi. Do trong thủ thuật này thầy thuốc tiêm dung dịch nước muối đã lắc mạnh vào tĩnh mạch ngoại biên sẽ tạo thành các tiểu bong bóng trong lòng mạch. Theo hệ tuần hoàn máu, những tiểu bong bóng này trở về tâm nhĩ phải, xuống tâm thất phải rồi được đưa đến phổi qua động mạch phổi. Bình thường, các tiểu bong bóng này không qua được hệ mao mạch ở phổi vì đường kính chỉ dưới 8-15µm. Nếu hệ mao mạch giãn nở bất thường thì ta có thể thấy những hạt bong bóng ti li trên hình ảnh siêu âm của nhĩ trái.

Kỹ thuật Scan để tìm đại phức hợp albumin-technetium-99m cũng có cơ chế tương tự với siêu âm tim: tiêm nguyên tố phóng xạ nhân tạo technetium-99m vào máu tĩnh mạch, chất này sẽ gắn kết với albumin trong huyết tương, phức hợp này đi đến phổi, xuất hiện ở thận, não theo dòng máu. Bình thường, albumin có đường kính từ 20-60µm, không đi qua được các mao mạch phổi có đường kính dưới 8µm, chỉ khi giãn mạch máu thì nó mới đi qua được nhanh chóng. Chụp Xquang ngực sẽ thấy các vùng tổ ong, nguyên nhân do các mạch máu giãn làm tăng độ mờ đục của ảnh ở vùng đó. Độ mờ đục tăng từ 5-13,8% ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính và tăng 46-100% ở bệnh nhân bị hội chứng gan – phổi. Chụp cắt lớp  giúp chẩn đoán giãn mạch máu, mức độ giãn tăng dần ở những nhánh cuối đến màng phổi. Chụp mạch phổi để kiểm tra tình trạng tưới máu.

Ðiều trị và phòng bệnh

Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc điều trị bằng thuốc đều không cho kết quả.

Liệu pháp thở ôxy sẽ giúp bệnh nhân giảm được tình trạng thiếu hụt ôxy nghiêm trọng mặc dù hiệu quả và lợi ích của nó không có giá trị lâu dài. Biện pháp cơ học tạo đường nối thông tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch chủ bằng phương pháp TIPS giúp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa, song phương pháp này lại gây tăng tuần hoàn máu, giãn mạch máu phổi và làm hội chứng gan phổi trầm trọng hơn.

Phẫu thuật ghép gan là phương pháp điều trị thành công duy nhất, nhưng tỉ lệ tử vong sau mổ cũng như thời gian từ lúc cấy ghép gan đến khi giảm tình trạng thiếu ôxy trong máu động mạch vẫn tăng cao ở bệnh nhân thiếu ôxy máu nặng.

Phòng bệnh: cần đo khí máu động mạch ở bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính, những người có triệu chứng khó thở hoặc sắp tiến hành ghép gan.
Cấy gan của bệnh nhân đã ghép gan kết hợp với việc theo dõi sát các triệu chứng lâm sàng để có thể kiểm soát tốt hội chứng và điều trị kịp thời. Đối với bệnh nhân đã mắc hội chứng gan phổi nên được ưu tiên ghép gan để có hiệu quả điều trị lâu dài.

theo sức khỏe đời sống

Nhận biết bệnh do ấu trùng sán dây

Ấu trùng sán lớn dưới da là một bệnh mạn tính gây tổn thương ở da, cơ, não… do các u nang sán lợn gây nên. Tùy theo vị trí khu trú của nang ở da ảnh hưởng tới thẩm mỹ, ở não có thể gây động kinh, giảm trí nhớ hoặc rối loạn vận động ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống người bệnh.

Bệnh ấu trùng sán dây lợn có ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các vùng có phong tục ăn thịt lợn sống, chưa nấu chín hoặc quản lý phân chưa tốt. Con sán dây lợn trưởng thành dài từ 2 – 3m. Một đốt sán già có thể chứa tới 55 nghìn trứng, nhữngđốt già ở cuối thường rụng thành từng đoạn 5, 6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài. Người là vật chủ chính của sán, còn lợn là vật chủ phụ. Ngoài lợn, chó mèo cũng có thể là vật chủ phụ của sán dây lợn. Nếu lợn ăn phải đốt sán hoặc trứng sán, trứng sán qua dạ dày đến ruột, ấu trùng chui qua thành ruột vào hệ thống tuần hoàn và đi khắp cơ thể lợn. Chỉ sau 24 – 72 giờ kể từ khi ăn phải ấu trùng sẽ cư trú ở các mô hoặc các cơ. Sau 2 tháng, ấu trùng tạo thành một nang có vỏ bọc ngoài có kích thước 17-20 x 7-10mm), khi đó còn được gọi là gạo lợn (cysticereus cellulosae). Trong nang có dịch màu trắng, có mẩu đầu sán với 4 giác và 2 vòng móc.
Khi người ăn phải trứng sán dây lợn, dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, trứng xuống tá tràng, ấu trùng thoát ra khỏi trứng và chui qua thành ruột vào hệ tuần hoàn đi khắp cơ thể, vào các cơ, các mô, phát triển thành nang ấu trùng sán. Người có nang ấu trùng sán còn gọi là bệnh “người gạo”.

san-day

Một người bị bệnh sẽ có các biểu hiện như sau: Ở da có các nang nhỏ, bằng hạt đỗ hoặc hạt dẻ, tròn, chắc, không đau, di động trên nền sâu và lăn dưới da, màu da ở trên nang vẫn bình thường. U nang sán hay nổi ở mặt trong cánh tay nhưng có thể nổi ở bất kỳ vị trí nào và có tính chất đối xứng. Ở người bị bệnh lâu năm, các u nang sán sau nhiều năm sẽ bị vôi hóa. Biểu hiện ở não giống như một u nang trong não hoặc có thể gây nên nhiều triệu chứng đa dạng như: tăng áp lực sọ não, cơn động kinh, suy nhược thần kinh, rối loạn tâm thần, bệnh nhân có thể bị liệt hoặc bị đột tử. Ở mắt: nang ấu trùng có thể nằm trong hốc mắt, mi mắt, trong kết mạc, thủy tinh thể, tiền phòng… làm giảm thị lực hoặc bị mù tùy theo vị trí của ấu trùng trong mắt. Nang ấu trùng ở cơ tim có thể làm cho tim đập nhanh, tiếng tim bị biến đổi, bệnh nhân dễ bị ngất. Để xác định chính xác cần chọc hút và sinh thiết nang ở da tìm ấu trùng sán lợn. Chụp phim Xquang, chụp não thất hoặc soi đáy mắt phát hiện thấy u nang sán hoặc ấu trùng sán lợn. Ngoài ra, xét nghiệm phân tìm trứng sán.

Bệnh ấu trùng sán lợn dưới da cần phải phân biệt với một số bệnh như: u nang bã, u mỡ, u sarcoidose.

Tẩy sán có dễ không?

Dùng một trong các thuốc sau: Có thể dùng quinacrin, người lớn uống từ 0,9 – 1,2g chia liều nhỏ. Ngày hôm trước khi uống thuốc này, nên dùng thuốc nhuận tràng để làm giảm chất nhầy bám quanh thân sán và sau khi uống thuốc 1 giờ phải dùng thuốc tẩy. Lưu ý là nếu dùng thuốc tẩy chậm hơn thì thuốc quinacrin sẽ ngấm vào máu gây độc. Hoặc dùng thuốc niclosamide 0,5g cho uống 4 – 6 viên, thuốc không độc, hiệu quả cao. Buổi sáng nhai từng viên một, nhai thật kỹ, nhai 10 phút uống với một ít nước. Thuốc có thể làm cho trứng và các đốt sán bị tiêu hủy và đào thải ra ngoài. Nếu bệnh u nang sán lợn ở não, có thể dùng praziquantel, methifolat nên phối hợp với corticoid và thuốc chống phù nề não theo chỉ định của bác sĩ.

Điều trị u nang ở da có thể phẫu thuật khi thật cần thiết để giải quyết yếu tố thẩm mỹ hoặc các u nang chèn ép các dây thần kinh.

ThS. Nguyễn Xuân Lãm

theo sức khỏe đời sống

Bí quyết tránh ngộ độc thực phẩm mà người nội trợ nên biết

Ai trong chúng ta ít nhất cũng đã bị nhiễm độc thực phẩm, người nhẹ thì tự khỏi, người nặng phải đi bệnh viện. Vì thế, ngộ độc thực phẩm là nỗi ám ảnh của rất nhiều người. Khi bị ngộ độc thực phẩm, người bệnh không chỉ tốn tiền chạy chữa mà còn gây tổn hại cho sức khỏe, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Đâu là nguyên nhân?

Nhiễm vi sinh vật: Nguyên nhân này chiếm từ 33 – 49% các ca ngộ độc thực phẩm các ca ngộ độc thực phẩm. Vi sinh vật gây bệnh chủ yếu là các chủng Salmonella, E.Coli, Clostridium Perfringens, Listeria. Trong số các chủng này, vi khuẩn Salmonella (có trong thịt, nghêu, sò, gà chưa nấu chín, sữa sống, trứng sống…) là nguyên nhân của 70% vụ ngộ độc. Khuẩn Listeria (trong thịt ướp lạnh, chế phẩm sữa chưa tiệt trùng, thịt nguội…) ít gặp hơn nhưng lại khá nguy hiểm bởi chúng vẫn phát triển ngay cả ở nhiệt độ thấp (4-6oC); khuẩn Clostridium Perfringens hay phát sinh trong các món được nấu nướng và hâm nóng.

ngo-doc

Nhiễm hóa chất: Chiếm từ 11 – 27%. Các hóa chất thường có mặt trong thực phẩm này là chất bảo quản thực phẩm, chất bảo vệ thực vật.

Độc tố tự nhiên trong thực phẩm: Chỉ chiếm từ 6 – 37,5% ca ngộ độc, nhưng lại rất nguy hiểm cho sức khỏe vì dễ dẫn đến sốc phản vệ và tử vong, như trường hợp ăn phải nấm độc hay cá nóc là ví dụ. Rất nhiều thực phẩm ẩn chứa đằng sau sự tươi ngon là liều thuốc độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, măng tươi chứa chất xyanua (CN) có thể gây tử vong ở liều 50-90mg/kg; măng chua acid cyanhydric (HCN) có thể gây ngộ độc cấp tính; khoai tây mọc mầm hay khi vỏ đã chuyển sang màu xanh chứa ancaloid có thể gây ngộ độc cấp tính… Đặc biệt, do thời tiết nóng ẩm của nước ta nên nấm mốc trong thực phẩm có điều kiện phát triển rất nhanh. Không chỉ gây hỏng thực phẩm, nấm mốc còn sản sinh ra các độc tố nguy hiểm có thể gây ung thư gan.

Ngoài các nguyên nhân trên, có rất nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm không thể xác định được nguyên nhân.

Tác hại khi dùng thực phẩm nhiễm bẩn

Các triệu chứng đầu tiên của ngộ độc cấp tính thực phẩm là đau bụng, nôn mửa và tiêu chảy. Nặng hơn thì kèm theo các biểu hiện trên là rối loạn cảm giác, nhức đầu, mệt lả, hôn mê, liệt chi; thay đổi huyết áp, bí tiểu… Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân rất dễ bị tai biến suy tuần hoàn cấp hay trụy tim mạch và tử vong.

Trong trường hợp bị nhiễm độc do kí sinh trùng hoặc do các chất độc chưa đủ mạnh… thì các triệu chứng sẽ diễn ra chậm hơn. Sự nhiễm độc đó được gọi chung là nhiễm độc tiềm ẩn. Nếu bị nhiễm liên tục có thể sau một thời gian sẽ dẫn đến ung thư, các rối loạn chức năng không rõ nguyên nhân, vô sinh, quái thai…

Ngoài ra, còn có những người bị ngộ độc mạn tính do di chứng của ngộ độc cấp hoặc do hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn. Bệnh nhân dạng này có biểu hiện phát bệnh lặp lại thường xuyên hoặc theo chu kỳ. Bệnh thường khó chữa hoặc không chữa khỏi.

Điều nguy hại của ngộ độc thực phẩm dù ở thể nào cũng làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân được cấp cứu kịp thời và chữa trị tốt thì thời gian hồi phục cũng rất lâu. Những trường hợp ngộ độc cấp rất nặng, ngộ độc cấp không được cứu chữa kịp thời hoặc hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn kéo dài dẫn đến bệnh hiểm nghèo… chắc chắn sẽ tử vong.

Điều cần làm để có bữa ăn sạch

Sử dụng nước sạch và thực phẩm tươi. Đây là các thực phẩm có độ an toàn cao nhất, vì thế, khi chọn thực phẩm, cần lựa chọn thực phẩm tươi và nguyên vẹn, đã được tiệt khuẩn. Dùng nước sạch để xử lí thực phẩm. Không sử dụng thực phẩm đã hết hạn sử dụng.

Vệ sinh sạch sẽ. Các vi khuẩn có độc tố thường có ở tay, áo quần và dụng cụ nhà bếp, đặc biệt là các loại dao, thớt…, nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ, qua sự tiếp xúc có thể truyền chúng vào thực phẩm gây nên ngộ độc. Vì thế, hãy rửa tay sạch sẽ trước khi sử dụng thực phẩm và thường xuyên rửa tay trong suốt quá trình chế biến. Rửa và vệ sinh tất cả bề mặt và thiết bị dùng để chế biến thực phẩm; Bảo vệ khu vực bếp và thực phẩm khỏi gián, bọ, chuột và các động vật khác. Rửa tay sạch sau khi đi vệ sinh.

Để riêng thực phẩm sống và đã nấu chín. Thực phẩm sống, đặc biệt là thịt, gia cầm, hải sản có thể chứa vi sinh vật nguy hiểm, sẽ truyền sang thực phẩm khác trong quá trình chế biến và cất giữ. Hãy sử dụng riêng từng dụng cụ, thiết bị như dao, thớt trong chế biến thực phẩm sống. Khi cất giữ, hãy xếp riêng từng loại vào âu có nắp đậy kín.

Nấu chín. Nhiệt độ cao sẽ diệt hầu hết các vi khuẩn gây bệnh, vì thế, khi chế biến thực phẩm, bạn nên nấu chín, đặc biệt là thịt, gia cầm, trứng và hải sản.
Giữ thực phẩm ở nhiệt độ an toàn: Dù tươi sống hay đã nấu chín, chỉ sau một thời gian nhất định là các vi khuẩn gây bệnh sẽ tấn công thực phẩm. Chính vì thế, việc bảo quản thực phẩm là rất quan trọng. Không giữ thực phẩm đã chín tới ở nhiệt độ phòng nhiều hơn 2 giờ. Hâm thực phẩm đã nấu chín ở nhiệt độ trên 60oC trước khi sử dụng. Không bảo quản thực phẩm quá lâu dù trong tủ lạnh.

theo sức khỏe đời sống

Đừng lo khi mắc thận ứ nước

Thận ứ nước là tổn thương làm cho thận bị giãn và sưng to. Ứ nước có thể chỉ ở một bên thận hoặc ở cả hai bên. Bệnh có thể gây suy giảm chức năng thận, gây tổn thương cấu trúc tế bào thận. Các tổn thương này có thể hồi phục nếu giải quyết nhanh, thận hết ứ nước. Trái lại nếu thận ứ nước kéo dài nhiều tuần, tổn thương là vĩnh viễn.

Các bệnh gây ứ nước ở thận
than-u-nuoc
Có nhiều bệnh là nguyên nhân gây ứ nước ở thận: sỏi thận gây tắc nghẽn niệu quản; nếu là sỏi nhỏ, nó di chuyển từ thận xuống bàng quang, nhưng nếu hòn sỏi quá to sẽ gây tắc nghẽn niệu quản, làm cho nước tiểu sẽ ứ lại trên chỗ tắc; trong khi thận vẫn tiếp tục lọc ra nước tiểu mà niệu quản bị tắc, không xuống được bàng quang nên thận bị ứ nước, giãn to. Niệu quản bị hẹp do vết sẹo mổ lấy sỏi thận trước đó cũng gây tắc nghẽn làm thận ứ nước. Ung thư bàng quang, sỏi bàng quang, cổ bàng quang co bất thường cũng gây tắc nghẽn lối nước tiểu từ quàng quang ra niệu đạo, kết quả là nước tiểu ứ lại từ bàng quang, làm thận bị ứ nước.  Niệu đạo hẹp do bị viêm nhiễm, do sỏi cũng gây ứ nước thận.

Các khối u từ bên ngoài đường tiết niệu chèn ép niệu quản và ngăn chặn dòng chảy của nước tiểu. Ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến tiền liệt, phụ nữ mang thai, sa tử cung… Rối loạn chức năng của bàng quang do u não, tổn thương tủy sống hoặc những khối u, bệnh đa xơ cứng và bệnh đái tháo đường… gây trào ngược bàng quang niệu quản làm thận ứ nước.

Dấu hiệu của thận ứ nước

Nếu thận bị ứ nước cấp tính, thường có các triệu chứng:  đau bụng do sỏi thận di chuyển xuống niệu quản cọ xát gây đau, hoặc viên sỏi mắc kẹt tại chỗ niệu quản bị hẹp gây đau. Đau khởi phát ở hông lưng hoặc sườn lưng lan tới háng, kèm theo nôn, buồn nôn và vã mồ hôi. Đau từng cơn, đau nhiều làm cho bệnh nhân quằn quại hoặc cuộn người lại vì đau đớn. Có thể có máu trong nước tiểu.

Trường hợp thận ứ nước mạn tính, thận giãn to dần trong thời gian dài và có thể không có triệu chứng gì. Nếu có các khối u ở xương chậu hoặc bàng quang gây chèn ép có thể phát triển âm thầm, bệnh nhân có thể có các triệu chứng suy thận: mệt mỏi, buồn nôn và nôn, do rối loạn các chất điện giải natri, kali, canxi, bệnh nhân còn bị rối loạn nhịp tim, co thắt cơ bắp.

Xét nghiệm có thể được yêu cầu là: xét nghiệm nước tiểu để phát hiện máu, vi khuẩn gây nhiễm khuẩn hay các tế bào ung thư. Chụp cắt lớp thấy thận bị ứ nước, phát hiện thấy sỏi. Siêu âm thấy thận bị ứ nước.

Những giải pháp tích cực

Khi bị thận ứ nước, bệnh nhân không nên quá lo lắng bi quan, trái lại cần phải bình tĩnh lạc quan để loại bỏ bệnh tật. Cơ sở của sự lạc quan đó là: khoa học ngày nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh thận ứ nước mà bệnh nhân có thể hy vọng được chữa khỏi bệnh.

Mục tiêu điều trị là thông lại dòng chảy tự do của nước tiểu từ thận xuống bàng quang và ra ngoài; làm giảm sưng và giảm áp lực để ngăn chặn suy giảm chức năng thận. Bệnh nhân cần được giảm thiểu đau đớn và ngăn ngừa nhiễm khuẩn đường tiểu. Phẫu thuật để lấy sỏi niệu quản, loại bỏ khối u gây tắc nghẽn niệu quản. Nhiều trường hợp bệnh nhân có thể được tán sỏi bằng tia lase chứ không cần phải mổ. Sóng xung kích bắn vào viên sỏi, làm nó vỡ ra nhiều mảnh nhỏ có thể đi qua đường tiết niệu trong nước tiểu. Nếu bệnh nhân bị bí tiểu và bàng quang mở rộng như là một nguyên nhân gây ứ nước, có thể đặt ống thông bàng quang để tháo nước tiểu giảm áp lực nước tiểu cho thận và giảm đau cho bệnh nhân. Các bệnh nhân bị hẹp niệu quản hay sỏi niệu quản mà có khó khăn để loại bỏ, bác sĩ có thể đặt một stent vào niệu quản đi qua các vật cản và thông dòng nước tiểu chảy từ thận xuống để ra ngoài. Nếu không đặt được stent, biện pháp thay thế là gắn một ống soi thận qua da. Kỹ thuật này là đặt một ống thông qua các khe gian sườn trực tiếp vào thận để tháo nước tiểu ra ngoài, làm cho thận hết bị giãn căng và giảm đau cho bệnh nhân.

Lời khuyên của thầy thuốc

Thận ứ nước có thể phòng tránh được bằng cách tránh các bệnh là nguyên nhân gây ứ nước thận. Chẳng hạn những người bị sỏi thận có thể loại bỏ sỏi bằng cách uống nhiều nước hàng ngày. Nước có thể dùng là nước đun sôi để nguội, nước nấu các loại thuốc Nam có tác dụng làm tan sỏi như: nước râu ngô, nước sắc bông mã đề, nước sắc kim tiền thảo…

Cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn tiết niệu như: sống chung thủy một vợ một chồng; không quan hệ tình dục với gái mại dâm; vệ sinh bộ phận sinh dục trước và sau quan hệ tình dục; tránh tắm rửa ngâm mình trong nước ao hồ bị ô nhiễm; phụ nữ cần vệ sinh đúng cách: chỉ lau rửa vùng kín từ trước ra sau không lau rửa từ sau về trước… để tránh nhiễm khuẩn tiết niệu ngược dòng dẫn đến chít hẹp đường tiết niệu và gây ứ nước thận.

ThS. Trần Tất Thắng

theo sức khỏe đời sống

Một số nguyên nhân thường gặp gây đau thần kinh hông

Ðau thần kinh hông có phòng được không?

Đau thần kinh hông (thần kinh tọa) thường gặp khá nhiều trong cộng đồng, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới (nữ giới chỉ gặp 1/3). Bệnh gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh hoạt, lao động, thậm chí gây tàn phế. Tuy vậy, bệnh đau thần kinh hông cũng có thể phòng ngừa nếu được quan tâm đúng mức.

Một số nguyên nhân thường gặp gây đau thần kinh hông

Tuổi từ 30 – 60 dễ gặp đau dây thần kinh hông. Đau dây thần kinh hông chủ yếu là đau rễ thần kinh thắt lưng 5 và rễ thần kinh cùng 1. Đau thần kinh hông liên quan mật thiết với tủy sống. Về mặt cấu tạo thì tủy sống nằm trong ống sống. Dọc theo cột sống thì mỗi đoạn tủy sống có một đôi rễ thần kinh tương ứng đi ra khỏi ống sống (mỗi bên một rễ thần kinh). Đôi rễ thần kinh này có chức năng chi phối vận động và chi phối cảm giác từng bộ phận của cơ thể. Đôi rễ thần kinh của thắt lưng số 5 và cùng 1 được gọi là thần kinh hông (thần kinh tọa).
than-kinh-hong-1ebdf
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây đau thần kinh hông, bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nhưng nguyên nhân xuất phát từ cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ cao hơn cả, trong đó thoát vị đĩa đệm đóng vai trò chủ yếu. Nghiên cứu cho thấy thoát vị đĩa đệm gây nên đau thần kinh hông chiếm tỷ lệ rất cao (từ 60 – 90%). Đĩa đệm là phần cấu trúc không xương nằm giữa 2 đốt sống, được cấu tạo bởi các sợi rất chắc bao bọc xung quanh và ở giữa là nhân nhày. Đĩa đệm có tác dụng làm “giảm xóc” khi có lực nén tác động vào cột sống (từ trên xuống hoặc từ dưới lên). Khi lực tác động mạnh, đột ngột lên đĩa đệm thì làm cho các vòng sợi có thể bị rách và nhân nhày bị đẩy ra ngoài, chui vào ống sống hoặc chui vào vị trí thoát ra của rễ thần kinh thắt lưng số 5 và cùng 1 làm chèn ép rễ thần kinh và gây đau. Ở người đang độ tuổi lao động, khi làm việc nặng, quá sức, sai tư thế rất có thể bị tổn thương đĩa đệm.

Tổn thương đĩa đệm thường xảy ra cấp tính. Ở người tuổi xế chiều, đau thần kinh hông thường do thoái hóa đĩa đệm cho nên  thường xảy ra mạn tính và hay tái phát. Đau thần kinh hông cũng có thể do có sự biến đổi bất thường ở đốt sống thắt lưng như trượt đốt sống số 5 do cơ học (bưng bê không cân xứng, mang vác nặng) hoặc do đốt sống thắt lưng đã hoặc đang thoái hóa. Đau thần kinh hông cũng có thể do u xương sống, nhiễm khuẩn (lao cột sống, viêm do tụ cầu…), viêm khớp cùng chậu, ung thư ở cơ quan khác di căn đến. Đau thần kinh hông cũng có thể do viêm đốt sống thắt lưng, viêm cột sống dính khớp làm thu hẹp ống sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh và có thể gây nên hội chứng “đuôi ngựa”. Viêm cột sống dính khớp thường gặp ở tuổi trung niên (dưới 40 tuổi), biểu hiện là đau âm ỉ thắt lưng, mông, đau nhiều về đêm và buổi sáng, thường có biểu hiện cứng khớp cột sống thắt lưng làm hạn chế vận động.

Ngoài ra, người ta cũng thấy đau thần kinh hông có thể có liên quan đến chấn thương trực tiếp vào dây thần kinh hông như bị gãy xương chậu hoặc bị tiêm trực tiếp vào thần kinh hông (tiêm mông sai kỹ thuật) hoặc do một loại thuốc dầu được tiêm mông rồi thuốc khuếch tán đến thần kinh hông hay do loãng xương gây thoái hóa khớp.

Biểu hiện của đau thần kinh hông

Đau thần kinh hông dọc theo đường đi của dây thần kinh, vì vậy, triệu chứng đau rất điển hình. Trước tiên là đau thắt lưng, sau đó đau lan xuống mông, đến mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, rồi lan xuống mặt trước mắt cá ngoài, mu bàn chân và vắt ngang qua ngón cái. Nếu tổn thương ở đốt sống thắt lưng số 5 thì đau ở vùng thắt lưng. Cơn đau thường tự nhiên, bột phát, liên tục nhưng có trường hợp đau cấp tính như dao đâm. Điển hình nhất của cơn đau là xuất hiện khi gắng sức cúi xuống để nâng một vật nặng bỗng thấy đau nhói ở thắt lưng, bắt buộc phải ngừng công việc. Sau một vài giờ, tuy không làm việc nặng nữa nhưng lưng vẫn bị đau và có trường hợp vài ba ngày sau đó lưng vẫn còn tiếp tục đau. Đau tăng lên và lan dọc theo dây thần kinh hông, nhất là khi ho, hắt xì hơi hoặc lúc rặn để đại, tiểu tiện. Cơn đau có thể giảm khi nằm nghỉ, nhất là được nằm trên mặt giường cứng.

Ngoài ra, cũng có thể thấy có cảm giác đau như kiến bò, tê cóng hoặc như kim châm ở bờ ngoài bàn chân, bắt chéo qua mu bàn chân và ngón cái hoặc ngón út bàn chân. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của ngành khoa học y học mà việc chẩn đoán đau dây thần kinh hông có nhiều thuận lợi hơn như chụp bao rễ thần kinh, chụp cắt lớp vi tính (chụp CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI). Đau thần kinh hông nếu không được chữa trị nghiêm túc sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sức lao động, lâu dần sẽ bị teo cơ và có thể gây tàn phế.

Cách phòng bệnh

Ngoài 30 tuổi, (nam và nữ) nên theo dõi mật độ xương định kỳ  nhằm phát hiện sớm hiện tượng loãng xương gây thoái hóa khớp, đặc biệt là người lao động chân tay hoặc người phải ngồi lâu, nhiều giờ trong 1 ngày và kéo dài nhiều tháng, nhiều năm. Hàng ngày, nên tập thể dục đều đặn để khí huyết lưu thông, thuận lợi cho việc nuôi dưỡng các cơ quan và các khớp xương. Cần có các động tác tập các khớp xương thích hợp, nhẹ nhàng, uyển chuyển, ví dụ như các động tác tập thể dục buổi sáng. Những người phải thường xuyên mang vác nặng cần thao tác đúng tư thế, tránh để xảy ra hiện tượng chấn thương lồi đĩa đệm hoặc trật, trượt khớp đốt sống. Khi bị thoái hóa cột sống thắt lưng, viêm khớp cùng chậu, cần điều trị tích cực đúng theo chỉ định của thầy thuốc, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa khớp. Người bị đau thần kinh hông cần điều trị tích cực theo chỉ định của bác sĩ để tránh bệnh trở thành mạn tính, thậm chí gây biến chứng teo cơ, tàn phế. Ngoài ra, cần ăn uống đủ chất và bổ sung lượng canxi cần thiết khi có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình.

PGS.Ts.TTƯT. Bùi Khắc Hậu
theo sức khỏe đời sống

Ung thư khoang miệng “tấn công” người trẻ

Bệnh rất dễ chẩn đoán và phát hiện sớm nhưng do chủ quan, thậm chí nhầm lẫn với chứng loét miệng nên bệnh nhân thường được điều trị khi đã quá muộn.

Chủ quan, coi thường bệnh nhẹ, anh Trịnh Văn Ngọc, 42 tuổi, ngụ tỉnh Ninh Bình, phát hiện bị ung thư lưỡi khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, cả lưỡi bị xâm nhiễm cứng đờ, không nói được.

Tại Bệnh viện (BV) K Trung ương, các bác sĩ đã phải cắt bỏ hoàn toàn lưỡi của anh Ngọc và tiến hành liệu trình xạ trị. Người thân của anh cho biết ban đầu, anh Ngọc chỉ bị nhiệt miệng (loét miệng), cứnghĩ do “nóng trong người” nên ăn đồ ăn “mát”, thậm chí uống cả thuốc nam, thuốc bắc nhưng bệnh vẫn không giảm. Anh Ngọc đến BV tỉnh khám, nghi ngờ bị ung thư khoang miệng nên được giới thiệu nhập BV K.

ung-thu-khoang-mieng-tan-cong-nguoi-tre

Đừng để quá muộn

Theo BS Nguyễn Quốc Bảo, Trưởng Khoa ngoại đầu cổ BV K, anh Ngọc được xác định ung thưlưỡi, một dạng của ung thư khoang miệng. Bệnh rất dễ chẩn đoán nhưng bệnh nhân thường đến các cơ sởy tế chuyên khoa khi đã ở giai đoạn muộn với khối u lớn, xâm lấn hạch và tổ chức xung quanh. Nguyên nhân, theo bác sĩ Bảo, ung thư khoang miệng giai đoạn đầu ít có cảm giác đau rát, khó chịu hoặc bệnh nhân chấp nhận được tình trạng loét và đau do lầm tưởng là chứng nhiệt miệng nên chủ quan, không đi khám.

Chỉ đến khi tổn thương lan tỏa, vết loét không liền và xuất hiện nhiều triệu chứng như khó ăn uống, khó nuốt, chảy máu, đau tai, có hạch ở cổ… thì đã quá muộn. “Hầu hết các trường hợp này, khối u khoang miệng đã lớn trên 4 cm, vết loét xâm lấn cả sàn miệng, khoang họng, thậm chí lưỡi cũng bịxâm nhiễm cứng không nói được, di căn hạch vỡ loét” – bác sĩ Bảo chia sẻ.

Đáng lo ngại là trong những năm gần đây, bệnh gia tăng và đứng trong tốp 10 ung thư thường gặp nhất ở Việt Nam. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 40-60 nhưng nay đang có xu hướng trẻ dần. “Cách đây chỉ một vài tuần, chúng tôi đã tiếp nhận và điều trị cho 2 trường hợp khá trẻ là một nam thanh niên mới 17 tuổi và một phụ nữ 23 tuổi – những trường hợp mà trước đây rất hiếm gặp. Điều đáng nói là những yếu tố nguy cơ đối với bệnh ung thư khoang miệng như hút thuốc lá, lạm dụng đồ uống có cồn, ăn trầu… ở những bệnh nhân này đều không có” – bác sĩ Bảo cho biết.

Nhiều dấu hiệu báo trước

Theo BS Trần Xuân Bách, BV Tai Mũi Họng Trung ương, cần đến khám ngay bác sĩ chuyên khoa nếu một người bình thường xuất hiện một hay nhiều các dấu hiệu như khối sưng to, cứng chắc bất thường ở môi, miệng, họng mà phát hiện qua soi gương hoặc sờ tay.

Cùng đó, vết loét, trượt xuất hiện trong miệng cố định ở một vị trí, không liền vết thương hoặc có xu hướng lan rộng, kể cả khi sử dụng các loại thuốc thông thường trong 2-3 tuần. Hay đó là cảm giác đau khó tả, buốt chói, đau âm ỉ, đau không rõ ràng; nuốt sặc, nuốt nghẹn, nuốt vướng hay khó khăn khi nuốt. Người bệnh khàn tiếng bất thường, thay đổi giọng khác lạ, sụt cân, mệt mỏi bất thường…

Các nguyên nhân gây bệnh ung thư khoang miệng, theo BS Bách, đến nay vẫn chưa được khẳng định chắc chắn nhưng nghiện thuốc lá và lạm dụng đồ uống có cồn là những yếu tố có liên quan đến bệnh. Ngoài ra, một số yếu tố khác như phơi nắng quá nhiều, nhai trầu, thói quen ăn dưa muối, cà muối, cá muối… hay quan hệ tình dục theo đường miệng cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh. Viêm cận răng cũng là nguyên nhân sinh ra tế bào ung thư, tình trạng vệ sinh răng miệng kém, hàm răng giảkhông thích hợp, được coi là thủ phạm.

BS Bảo cho biết trước đây, với bệnh nhân ung thư khoang miệng có di căn hạch sớm thường được chỉ định xạ trị nhưng hiện nay, với những trường hợp này vẫn được chỉ định phẫu thuật vét hạch. Bởi không giống các ung thư khác, hạch ung thư khoang miệng sớm vẫn có khả năng kháng tia xạ, hóa chất và xâm nhiễm vào các tổ chức phần mềm, phá vỡ mạch máu khiến bệnh tái phát, tiến triển nhanh hơn.

BS Bách cho rằng cách tối ưu để phòng tránh ung thư khoang miệng là loại bỏ yếu tố nguy cơ. “Việc thi thoảng hút một điếu thuốc cũng có nguy cơ gần như tương đương với hút thường xuyên. Những người vừa uống rượu vừa hút thuốc lá nguy cơ mắc bệnh tăng gấp nhiều lần” – BS Bách nói.

Theo afamily

Méo miệng vì… thời tiết lạnh

Thay vì quàng khăn ấm, đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm thì nhiều người (đặc biệt là thanh niên) ngại vướng víu không dùng, để gió lạnh quất vào mặt, khiến vùng đầu bị nhiễm lạnh.

Hậu quả là không ít trong số này phải nhập viện vì chứng méo miệng.

Trời lạnh, bệnh tăng 2-3 lần

Ngồi chờ đến lượt khám tại Bệnh viện Châm cứu T.Ư với khuôn mặt lệch hẳn về bên phải, anh Nguyễn Văn C (25 tuổi, ở Hoàng Mai, Hà Nội) cho biết: “Cách đây hơn 2 tuần, đúng vào dịp Hà Nội có nhiệt độ thấp nhất từ đầu mùa đông, tôi đi chơi đêm với bạn mà không đội mũ bảo hiểm. Sáng hôm sau ngủ dậy, một bên mặt bị giật giật, cấu vào không có cảm giác đau, tôi giật mình soi gương thấy khuôn mặt biến dạng với miệng méo xệch, cả mắt cùng phía cũng không thể nào nhắm lại được dù cố mọi cách”.

meo-mieng-vi-thoi-tiet-lanh

PGS Nghiêm Hữu Thành – Giám đốc Bệnh viện Châm cứu T.Ư cho biết, trường hợp bệnh nhân C chỉ là một trong số rất nhiều bệnh nhân tìm đến viện điều trị méo miệng vì lạnh.

Chứng bệnh này do mạch máu (bao gồm cả động mạch và tĩnh mạch) suy yếu, khi gặp gió lạnh, mạch dương minh và tĩnh mạch tiểu dương bị kích thích mạnh, gây cản trở kinh khí, từ đó làm suy nhược chức năng hoạt động của dây thần kinh quanh vùng mặt, huyết quản của thần kinh dinh dưỡng cục bộ bị co giật mạnh làm cho tổ chức thần kinh bị thiếu máu, sưng, ứ nước, chỉ cần một áp lực nhỏ (gió lạnh) có thể dễ dàng mắc chứng liệt mặt.

Qua nhiều năm khám, điều trị, các chuyên gia Bệnh viện Châm cứu T.Ư nhận thấy, chứng bệnh này xảy ra ở mọi thời điểm, nhưng cứ đến trời lạnh, số người mắc lại tăng. Nhóm tuổi nào cũng có thể mắc bệnh, có trẻ 4-5 tháng tuổi cũng bị.

Bệnh thường gặp ở độ tuổi trung và thanh niên, nam giới có tỷ lệ mắc bệnh này nhiều hơn so với nữ do chủ quan, ăn mặc phong phanh. Những người có sức đề kháng yếu, hay bị căng thẳng, mệt mỏi và làm việc ngoài trời nhiều cũng có nguy cơ bị méo miệng cao hơn. Đợt lạnh này, số bệnh nhân bị méo miệng đến khám và điều trị tăng 2 – 3 lần.

Bệnh dễ tái phát
Các chuyên gia cho biết, chứng liệt mặt này không nguy hiểm đến tính mạng nhưng cũng gây nhiều khó khăn cho bệnh nhân trong thể hiện cảm xúc. Vì vậy phải điều trị sớm. Trung bình thời gian điều trị là 3-4 tuần, với 20-30 lần châm cứu. Trường hợp điều trị muộn có khi kéo dài trong nhiều tháng mới hiệu quả.

Nếu để lâu không chữa, bệnh có thể để lại di chứng nặng nề như: Teo cơ một bên mặt, mắt viêm nhiễm do không chớp được, ăn uống rất khó khăn do môi không khép kín. Ngoài ra, bệnh cũng rất dễ tái phát, có nhiều bệnh nhân điều trị đến 3 lần trong cùng một bên mặt do không giữ gìn theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Vì thế, theo PGS Thành, để phòng bệnh, quan trọng nhất là giữ ấm vùng đầu mặt cổ. Đối với trẻ nhỏ, khi chơi ngoài trời lạnh, cha mẹ cần chú ý mặc ấm, quấn khăn, đội mũ cho bé, chơi trong thời gian ngắn.

Đối với người lớn, luôn giữ gìn để không bị lạnh, tránh ngồi trúng luồng gió, không tắm quá khuya, khi ra ngoài cần mặc ấm, đeo khẩu trang, kính bịt mặt để tránh gió lùa. Sau khi uống rượu, bia không đi ngoài trời lạnh, tắm lạnh. Khi đã mắc bệnh, cần tuyệt đối tránh gió, hàng ngày rửa mặt bằng dung dịch muối NaCl 9%o hoặc cloramphenicol 10,4%.

Theo afamily

Tăng cường hệ miễn dịch tốt nhất

Trong suốt một kiếp người, hệ miễn dịch của cơ thể chúng ta làm một công việc tử tế, đó là giúp cho cơ thể chúng ta luôn luôn khỏe mạnh. Thế nhưng, đối lúc cũng “lực bất tòng tâm”. Hệ miễn dịch bị làm việc “quá tải” và phút chốc bỗng trở nên “nhu nhược” trước vô số các loại vi khuẩn, virút dập dìu bên ngoài lẫn bên trong cơ thể.

Nhiệm vụ đầy trọng trách

Hệ miễn dịch của cơ thể là một cơ chế tuyệt vời nhằm bảo vệ cơ thể trước sự rình rập, dòm ngó của các loại vi khuẩn, virút, ký sinh trùng, vi sinh vật, độc chất… Những phần tử cơ hội này chỉ chực chờ những khoảnh khắc cơ thể bị suy yếu để ra tay, chúng dễ dàng vượt qua hàng rào phòng ngự của cơ thể để rồi xâm luợc toàn bộ cơ thể chúng ta. Thế nhưng, khi cơ thể khỏe mạnh, chúng ta không hề biết rằng hệ miễn dịch của chúng ta phải làm việc cần mẫn như thế nào. Chỉ đến khi “long thể bất an” thì chúng ta mới nhận ra vai trò của hàng phòng thủ. Để ý một chút, chúng ta sẽ thấy công trạng to lớn của hệ miễn dịch. Hãy tự hỏi sao vết thương của chúng ta mau lành? Tại sao chúng ta phải hắt hơi hoặc ho mỗi khi hít phải những phần tử lạ? Tại sao chúng ta phải nôn mửa mỗi khi ăn phải những loại thức ăn bị nhiễm độc…

Tang-cuong-hang-phong-thu

Nếu hệ miễn dịch của chúng ta làm việc một cách vô trách nhiệm thì cơ thể chúng ta phải nhận lấy một hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Hệ miễn dịch đảm bảo sự cân bằng nội môi cũng như “đại tu” những chỗ hư hỏng. Nếu hệ miễn dịch lười biếng thì chúng ta cũng sẽ bị bất an ngay dù chỉ uống một ly nước hoàn toàn tinh khiết. Chúng ta cần phải biết rằng hệ miễn dịch của chúng ta làm việc hiệu quả đến đâu, chúng ta có bạc đãi nó hay không?

Các tế bào trong hệ miễn dịch của chúng ta đảm nhận vô số công việc khác nhau. Nhóm thì làm “vệ sĩ”, nhóm thì làm “công nhân dọn rác”. Có nhóm lại làm lính gác thành và “tổng tư lệnh”. Nhóm khác lại đảm nhiệm chức năng như là một kho vũ khí.

Nói một cách đơn giản: cơ thể chúng ta được bảo vệ ở ba mức độ na ná như tiền vệ, trung vệ và hậu vệ. Hàng “tiền vệ” để bảo vệ cơ thể chính là lớp da bao bọc chung quanh để bảo vệ cơ thể chúng ta đồng thời tiết ra những chất liệu có tác dụng chống lại những vi sinh vật gây hại. Hàng tiền vệ cũng bao gồm dịch nhầy mũi, nước mắt có tác dụng chống đỡ những phần tử xâm nhập gia cư bất hợp pháp.

Nếu những vị khách không mời mà đến dùng mọi thủ đoạn để vượt qua hàng tiền vệ thì chúng sẽ gây kích ứng cơ thể. Lúc này, hàng trung vệ sẽ ra tay, chẳng hạn như: đáp trả bằng những phản ứng viêm. Cuối cùng, hàng hậu vệ sẽ tạo ra những đáp ứng miễn dịch, chống lại những phần tử xâm lăng chuyên biệt. Đây chính là vai trò của bạch huyết cầu.

Cấu tạo của hệ miễn dịch khá phức tạp. Hệ miễn dịch tác động lên tất cả các mô trong cơ thể để duy trì sự cân bằng trong các hoạt động của những mô này. Các tế bào của hệ miễn dịch hoạt động một cách không riêng lẻ. Chúng sẽ hòa vào hệ tuần hoàn máu để “báo cáo” với não, hoặc chúng sẽ kích hoạt những sợi thần kinh gần đó để báo hiệu cho não nên “tùy cơ ứng biến”. Não sẽ điều khiển hành vi của chúng ta, não sẽ thay đổi mọi thứ, từ sự chuyển động của cơ thể, sự thèm ăn, khả năng “muốn”…

Những tế bào miễn dịch cũng sẽ kích hoạt vùng dưới đồi (hypothalamus). Đây là một khu vực vô cùng quan trọng của não bộ, vốn điều khiển những áp lực stress về thể chất lẫn tinh thần. Nếu cơ thể chúng ta hứng chịu stress một cách triền miên. Tuyến yên và tuyến thượng thận sẽ giải phóng thật nhiều cortisol. Những hoóc-môn cortisol này sẽ làm yếu cơ, tằng nhịp tim, gây mất ngủ, ngăn chận sự tăng trưởng mô…

Ăn để “phòng thủ”

Bữa ăn vô cùng quan trọng cho sức khỏe. Chế độ dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng trong việc cân bằng những sự thay đổi “tiêu cực” xảy ra trong cơ thể do hậu quả của việc tiếp xúc với độc chất. Nếu không đáp ứng chế độ dinh dưỡng một cách thích hợp thì việc bị “thủng lưới” là một điều khó tránh khỏi. Ăn quá nhiều, hoặc ăn quá ít điều dẫn đến sự suy yếu cho hàng phòng thủ.

Những bữa ăn nhỏ thường xuyên chứa các loại protein, carbohydrates, những loại chất béo thiên nhiên sẽ giúp kích thích quá trình chuyển hóa, giúp hằng định nồng độ đường huyết, giúp duy trì năng lượng. Carbohydrates làm giảm những hoóc-môn được tiết ra những khi có stress như cortisol, adrenaline, nhờ đó làm giảm bớt những sự viêm nhiễm. Các loại chất béo như omega-3 là bạn chí cốt của hệ miễn dịch.

Các loại vitamin như: A, C, E… cũng rất quan trọng trong việc củng cố chức năng của hệ miễn dịch do chúng tác động vào chức năng của hệ miễn dịch. Ngoài ra cũng phải kể đến vai trò của kẽm. Kẽm được tìm thấy trong mọi tế bào của cơ thể và đóng vai trò quan trọng trong những phản ứng enzyme. Một lượng kẽm thích hợp trong khẩu phần ăn sẽ vô cùng ích lợi cho “hàng phòng thủ”. Kẽm đồng thời cũng ức chế sự tăng trưởng của một số virút vốn luôn sẵn sàng “ăn cắp trứng gà” trước hàng rào phòng thủ.

DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG

Nguồn sức khỏe đời sống

Đề phòng dị ứng vào mùa xuân

Mùa xuân là mùa vạn vật sinh sôi, cũng là mùa dễ mắc các bệnh dị ứng như nổi mề đay, mẩn, mụn ngoài da, viêm mũi dị ứng, viêm kết màng dị ứng…

Bởi vậy cần chú ý các vấn đề sau:

1. Nổi mề đay: Tại các vùng da khô trên tứ chi bỗng xuất hiện các vùng đỏ, cảm giác ngứa ngáy, nóng, lúc có lúc không. Đó chủ yếu do cơ thể tiếp xúc với loại vật chất gây dị ứng nào đó. Thời tiết nóng lạnh thất thường cũng là nguyên nhân gây ra chứng bệnh này.

b06110322afamilyskDiungmuaxuan

2. Mẩn, mụn ngoài da: Vào mùa xuân, cơ thể dễ dị ứng với tia tử ngoại hơn khiến các tế bào da dễ bị tổn thương, làm xuất hiện các nốt mẩn, mụn.

3. Viêm mũi dị ứng: Có người cứ tới mùa xuân, lại thấy trong mũi ngứa ngáy, hắt xì liên tục. Điều này chính là do dị ứng với phấn hoa trong không khí.

4. Viêm kết màng dị ứng: Chảy nước mắt, cảm giác nóng, triệu chứng xuất hiện ngay khi tiếp xúc và giảm khi cách ly nguồn gây dị ứng. Cần chú ý vệ sinh giường đệm, tránh tiếp xúc với phấn hoa, và giữ nơi sinh hoạt thoáng khí.

Cách phòng tránh

Để đề phòng chứng dị ứng cần chú ý chế độ ăn ngủ, tập luyện thích hợp. Về mặt ăn uống, cần tăng cường bổ sung các nguồn protein như trứng gà, tôm, các loại cá, thịt bò…, các vitamin và khoáng chất từ rau quả, vận động ngoài trời hợp lý… sẽ giúp tăng sức đề kháng, phòng dị ứng.

Ngoài ra, mỗi ngày uống 1 thìa mật ong có thể tránh dị ứng phấn hoa hiệu quả. Bởi trong mật ong vốn có một lượng phấn hoa nhất định. Thường xuyên ăn mật ong sẽ giúp tăng sức đề kháng với dị ứng phấn hoa và phòng ngừa các chứng bệnh dị ứng đường hô hấp.

Những lưu ý mẹ cần biết khi bé chậm lớn

Những đứa bé chậm lớn thường có khả năng tăng cân và phát triển kém hơn những em bé khác.

Từ ngày đón bé Bông ở bệnh viện về, chị Hòa (Hà Đông, Hà Nội) mừng rỡ lắm. Gia đình chị chuẩn bị cho bé đầy đủ đồ đạc, đồ chơi, chị cũng rất tự tin với số kinh nghiệm mà chị có được từ lần sinh nở đầu tiên. Thế nhưng sau vài ngày, chị lo lắng vô cùng khi thấy con biếng ăn, trong suốt 2 tuần đầu bé không lên cân mà thậm chí tụt cân. Đi khám, chị được biết bé thuộc diện chậm lớn.

Trong những năm tháng đầu tiên, trẻ em thường tăng cân và phát triển trí thông minh nhanh chóng. Đôi khi, có vài trường hợp trẻ không đạt tiêu chuẩn dự kiến như đã đề ra.

Một ngày bạn giật mình nhận ra con mình không cao lớn như chuẩn mà các chuyên gia dinh dưỡng đề ra. Bạn lo lắng và kết luận con bị chậm phát triển, bạn không nên quá lo lắng và có một kết luận sớm như vậy. Để đưa ra được kết quả chính xác thì bạn cần phải đưa bé tới bệnh viện để các bác sĩ thăm khám.

Để chẩn đoán và điều trị một đứa trẻ không phát triển hay còn gọi là bé chậm lớn, các bác sĩ sẽ phải tập trung vào việc xác định vấn đề tiềm ẩn liên quan tới cơ địa của bé.

Chậm phát triển, chậm lớn là một từ để mô tả tình trạng chứ không phải là một căn bệnh cụ thể. Những đứa trẻ không phát triển mạnh thường có khả năng tăng cân và phát triển kém hơn những em bé khác.

nhung-luu-y-me-can-biet-khi-be-cham-lon-

Hầu hết các chẩn đoán về tình trạng này thường xuất hiện ở trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi. Bởi trong những năm đầu tiên của cuộc sống đó là giai đoạn quan trọng của sự phát triển thể chất và tinh thần. Sau khi sinh ra, não của một đứa trẻ phát triển nhiều trong năm đầu tiên, nếu  trẻ hấp thụ dinh dưỡng kém thì điều này vô tình sẽ tác động tiêu cực về tâm sinh lý trong tương lai.

Hầu hết các bé tăng gấp đôi trọng lượng chỉ sau 4 tháng khi ra đời và tăng gấp ba lần trọng lượng đó khi bé được 1 tuổi. Những bé phát triển chậm sẽ không thể đáp ứng được những con số này.

Dấu hiệu bé chậm lớn

Ngoài cân nặng, dấu hiệu để nhận biết con không chịu lớn như sau:

Con thờ ơ với môi trường xung quanh, gọi không chú ý.

Con tránh nhìn trực diện vào người khác.

Bé luôn cáu kỉnh, khó chịu, khóc lóc.

Bé không đạt được các mốc phát triển như những trẻ bình thường khác về ngồi, bò, và nói chuyện.

Nguyên nhân

Yếu tố xã hội: Trong một số trường hợp, các bác sĩ không thể xác định được rõ nguyên nhân nhưng đa số là do các bà mẹ thiếu hiểu biết, bổ sung dinh dưỡng trong thai kỳ kém.

Ví dụ, trong quá trình mang thai và cho con bú, nhiều bà mẹ đã thực hiện chế độ ăn kiêng, dung nạp ít lượng calorie, con không thể nhận được chất béo đủ. Hoặc cha mẹ không quan tâm đến con, bỏ bê con, cuộc sống nghèo đói khiến dinh dưỡng trong con bị ảnh hưởng, còi xương, chậm lớn.
Liên quan tới bệnh tiêu hóa: Chúng bao gồm bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD), tiêu chảy mãn tính, xơ nang, bệnh gan mãn tính và bệnh loét bao tử…

Bị GERD, thực quản của bé có thể bị kích thích, bé bị đau và không thể ăn được. Tiêu chảy kéo dài sẽ khiến các chất dinh dưỡng và năng lượng cơ thể bị hao tổn.

Nếu bị xơ nang, bệnh gan mãn tính, trẻ không thể hấp thụ tối đa chất dinh dưỡng dù ăn rất nhiều.

Khi bé bị bệnh mãn tính: Một đứa trẻ có vấn đề như sinh non, sứt môi hoặc viêm vòm miệng, bé khó có thể ăn và hấp thụ dinh dưỡng như một bé hoàn toàn khỏe mạnh khác. Trong trường hợp này bé ăn ít sẽ càng yếu đi và ảnh hưởng tới sự phát triển của tim mạch, nội tiết tố và dễ bị rối loạn hô hấp.

Bé không thể dung nạp đạm sữa: Điều này có thể gây khó khăn với việc bé hấp thụ các chất dinh dưỡng. Việc không dung nạp được đạm sữa sẽ khiến bé phải ăn kiêng, thực đơn ăn kiêng bao giờ cũng khiến sức khỏe của trẻ không được phát triển toàn diện được.

Nhiễm trùng: nhiễm trùng đường tiết niệu, bệnh lao,…, sẽ khiến lượng dinh dưỡng trong cơ thể trẻ giảm đi nhanh chóng, mất đi cảm giác thèm ăn, ngon miệng.

Rối loạn tiêu hóa: quá trình này sẽ khiến bé kém ăn, lười ăn vì đau bụng, nôn mửa. Hiện tượng này khiến cơ thể bị hạn chế khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng.

Điều trị

Trẻ em chậm lớn cần sự giúp đỡ của cha mẹ và bác sĩ. Nếu trong 2 tháng liên tiếp con có dấu hiệu biếng ăn, chậm tăng cân, bạn cần đưa con tới bệnh viện. Các chuyên gia dinh dưỡng sẽ đánh giá nhu cầu ăn uống của trẻ.

Trong trường hợp thiếu dinh dưỡng, trẻ sẽ được điều trị thường xuyên tại nhà với sự theo dõi thăm khám của bác sĩ. Bác sĩ sẽ khuyên bạn nên sử dụng thực phẩm gì, ăn lượng bao nhiêu cho bé là hợp lý.

Trường hợp nghiêm trọng hơn, các bác sĩ sẽ cho bé được truyền thức ăn qua ống chuyên dụng, đó là một cái ống được chạy từ mũi vào thẳng dạ dày. Thực phẩm dinh dưỡng dạng lỏng được cung cấp một cách đều đặn qua ống, và khi được nuôi dưỡng đầy đủ hơn, đứa trẻ sẽ cảm thấy cơ thể khỏe hơn và có thể sẽ bắt đầu ăn nhiều hơn trong thời gian sau.

Điều trị kéo dài bao lâu tùy vào cơ thể của từng bé. Dù rất muốn con tăng cân nhưng bạn cần hiểu rằng tăng cân cần phải có thời gian. Nếu bị chậm phát triển do một căn bệnh mãn tính hoặc rối loạn, có thể đứa trẻ đó phải được theo dõi định kỳ và điều trị lâu hơn.

Di truyền cũng đóng một vai trò lớn trong việc tăng cân, vì vậy nếu bạn và chồng của bạn thấp bé nhẹ cân, bé nhà bạn có thể sẽ nằm trong diện thấp bé.

Nếu bạn nhận thấy sự bất bình thường trong cân nặng của con, thấy con có dấu hiệu như ở trên, nếu con biếng ăn thì bạn nên gọi điện cho bác sĩ. Trẻ mới biết đi và trẻ lớn hơn có thể trong vài ngày biếng ăn song trẻ sơ sinh thì không, bé sẽ không tự dưng biếng ăn nếu không gặp vấn đề.

Theo afamily

Trẻ bị tiêu chảy, mẹ cật lực kiêng khem là sai lầm

Đặc biệt trong mùa hè, trẻ bị tiêu chảy càng nhiều, để chăm con đúng cách trong trường hợp này không phải bậc phụ huynh nào cũng biết.

Trẻ bị tiêu chảy, mẹ cật lực kiêng khem

Mới đi học mẫu giáo được vài ngày, bé Cún đã được mẹ là chị Thu (Yên Ninh, Hà Nội) cho nghỉ học gấp vì bé bị sụt sịt liên miên, mấy hôm nay còn kèm theo tiêu chảy. Nghe bà hàng xóm mách, chị ngừng toàn bộ sữa, các chế phẩm từ sữa, thịt, cá, tôm, cua… chị chỉ cho bé Cún ăn cháo trắng với nước mắm.

dieu-tri-tre-bi-tieu-chay-sai-lam-khi-me-qua-kieng-khem

Chị cho rằng: “Con bị tiêu chảy chứng tỏ hệ thống tiêu hóa của con đang bị ốm yếu, nếu ăn thức ăn khó tiêu như thịt cá, sữa thì càng mệt hơn. Tốt nhất ăn càng ít càng tốt”. Lý do tưởng chừng như hợp lý trên lại là một sai lầm phổ biến của nhiều bà mẹ.

Chị Hằng (Hà Đông, Hà Nội) là một ví dụ. Thực đơn ăn của bé Mai nhà chị dạo này chỉ là cháo trắng loãng với cà rốt. Nguyên nhân cũng chỉ do bé bị tiêu chảy, chị nghĩ nát óc mà không hiểu tại sao con lại bị đi ngoài. Thấy con héo mòn, ăn cháo trắng suốt nên chán, lười ăn, chị càng lo lắng hơn. Nhìn con đòi ăn sữa mà chị xót hết cả ruột. Nhưng cái sự kiêng khem của chị chưa đi đến đâu bởi bé ngày một ốm yếu, xanh rớt, phải đến khi bé ngất xỉu chị mới đưa bé vào viện.

Tại bệnh viện, bác sĩ nói rằng: “May chị vào sớm để bé được truyền nước kịp thời, chậm chút nữa thì tính mạng bé còn khó giữ”. Nghe những lời nói này mà gia đình chị lo lắng vô cùng, chị không tin được rằng kinh nghiệm “vàng” truyền miệng như vậy hóa ra là sai lầm.

Chăm trẻ bị tiêu chảy: Sai lầm khi kiêng khem

Thạc sĩ, Bác sĩ Vũ Văn Lực – Viện Bảo hộ lao động cho rằng, không chỉ hai trường hợp trên mà có rất rất nhiều bậc phụ huynh mắc phải sai lầm này. Họ cứ thấy con bị tiêu chảy là họ cho dừng toàn bộ đồ ăn dinh dưỡng, chỉ cho con ăn cháo loãng với muối hoặc nước mắm.

Tiêu chảy là một bệnh lý mà trẻ gặp khá nhiều. Khi bị mắc phải bệnh này, trẻ sẽ thường xuyên trong tình trạng chán ăn, cơ thể mệt mỏi vì bị mất nước và một điều vô cùng nguy hiểm là nếu cha mẹ không bù nước kịp thời cho con, cơ thể con sẽ gặp tình trạng mất nước, mất nước là một nguy cơ khiến trẻ bị tử vong rất cao.

Bác sĩ khẳng định việc cha mẹ cho bé kiêng ăn tôm, cua, thịt, cá sữa là một hành động sai lầm, nếu kéo dài, chính cha mẹ sẽ khiến bé phải đối diện với nguy cơ bị suy dinh dưỡng cơ thể trong tương lai.

Vậy khi bé bị tiêu chảy thì cha mẹ phải làm gì?

Bé bị tiêu chảy nên thường bị mất nước, cơ thể thiếu nước sẽ dẫn đến những biến chứng nặng nề, có thể ảnh hưởng đến tính mạng. Việc cần làm đầu tiên đó là cha mẹ nên cho bé uống bù nước ngay và liên tục. Ngoài nước lọc, cha mẹ có thể cho bé uống các dung dịch bù nước thông dụng như oresol, dừa xiêm non, mỗi 15 phút cho bé uống một lần. Cha mẹ nên theo dõi nếu bé đi tiểu nhiều, linh động, da tươi tắn, hồng hào thì đó là một dấu hiệu tốt.

Bậc phụ huynh nên chủ động cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho bé (bữa ăn hàng ngày luôn đủ 4 nhóm thực phẩm chính: bột đường, chất đạm, chất béo, rau củ quả). Bác sĩ Lực khuyên chị em nên cho bé ăn đầy đủ chất đặc biệt là thịt gà, lợn, cá nạc, sữa và các chế phẩm từ sữa. Trong thời điểm này, có thể bé rất mệt mỏi lười ăn nhưng cha mẹ không nên quá lo lắng, không nên ép bé mà nên động viên khuyến khích bé ăn. Cho bé ăn giãn bữa, ăn ít một, ăn theo nhu cầu với đồ ăn mềm, loãng. Với trẻ nhỏ, mẹ nên tăng cường cho bé bú.

Ngoài ra, bậc phụ huynh nên chú ý tới vệ sinh an toàn thực phẩm, tránh nguy cơ bị bội nhiễm. Cha mẹ cần cho bé ăn chín uống sôi, hạn chế sử dụng lò vi sóng bởi chưa chắc đồ ăn đã được đun kỹ. Cha mẹ cần chế biến đồ ăn ăn tới đâu nấu tới đó, tránh thức ăn cũ, lưu cữu ngày này qua ngày khác.

Phòng ngừa bệnh tiêu chảy cũng là một điều mà cha mẹ nên nằm lòng, bạn cần lưu ý những điều sau: Cha mẹ nên mua, chế biến những thực phẩm sạch và được nấu chín, hạn chế cho bé ăn thức ăn nhanh, thức ăn không đảm bảo được bày bán ngoài đường. Giúp bé có thói quen rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn, dạy bé nói không với mút tay. Tuyệt đối cho bé tránh xa ổ bệnh, người đang bị tiêu chảy.

Nếu bé có dấu hiệu của tiêu chảy, sau khi làm theo những lời khuyên trên mà chưa thấy bé đỡ, cha mẹ không nên chần chừ, hãy đưa bé ngay tới bệnh viện để thăm khám kịp thời.

Những sai lầm thường gặp khi đổ mồ hôi

Chưa kể nếu tập luyện quá sức để đổ mồ hôi cho bằng chị bằng em còn khiến bạn gặp nhiều nguy cơ về sức khỏe.

Từ trước đến nay, chúng ta đều cho rằng khi tập thể dục, nếu ra mồ hôi càng nhiều thì khả năng giảm cân thành công càng cao, từ đó xuất hiện những kiểu tập “quái dị” như tập thể dục giữa trưa nắng nóng, mặc nhiều áo mưa giữa trời nắng để mồ hôi ra nhiều hơn. Thế nhưng, khoa học hiện đại đã chứng minh quan niệm này không đúng bởi có nhiều lý do dẫn đến ra mồ hôi nhiều chứ không phải chỉ do tập luyện:

– Nhiệt độ cao: Thời tiết: thời tiết nóng bức khiến chúng ta ra mồ hôi nhiều hơn, nhưng không có nghĩa là vào mùa hè bạn sẽ giảm cân nhanh hơn nếu bạn không có chế độ ăn kiêng và tập luyện phù hợp.

mo-hoi-ra-nhieu-chua-chac-giam-can-nhanh

– Do dùng thuốc: Những loại thuốc có chứa chất kích thích như caffeine cũng có khả năng gây ra mồ hôi nhiều hơn bình thường.

– Do gene di truyền: Rất nhiều người có cơ địa bẩm sinh đã dễ ra mồ hôi hơn người khác, nhưng không có ngĩa họ dễ giảm cân hơn.

– Do bệnh: Các nhà khoa học cho biết, người mắc bệnh tiểu đường, bệnh tim và một số bệnh lý khác cũng có khả năng tiết nhiều mồ hôi hơn người bình thường.

– Giới tính: Nam giới có thân nhiệt cao hơn và có xu hướng ra mồ hôi nhiều hơn phụ nữ.

Tất nhiên, bạn có thể nhận thấy cân nặng sụt giảm sau khi tập luyện nặng và ra nhiều mồ hôi, nhưng phần lớn là nước trong cơ thể bị mất đi và phần trọng lượng này sẽ nhanh chóng phục hồi lại sau đó. Để có thể đạt được hiệu quả giảm cân như ý muốn, bạn cần phải tập luyện lâu dài và kết hợp với ăn kiêng.

Một điều quan trọng mà bạn cần lưu ý khi tập luyện chính là càng nhiều mồ hôi đổ ra, bạn càng có nhiều nguy cơ bị ngất, bị choáng do cơ thể mất nước nhiều trong thời gian ngắn. Việc ra mồ hôi quá mức còn có thể khiến tim đập nhanh, buồn nôn, những dấu hiệu mà nhiều người lầm tưởng cho là hiệu quả của việc tập luyện. Về lâu dài, sự mất nước này có thể dẫn đến tình trạng sỏi thận và ảnh hưởng đến làn da cùng hệ tim mạch của bạn.

Vì vậy, việc kiên trì tập luyện ở một mức độ vừa phải là rất quan trọng, bạn không cần đổ quá nhiều mô hôi cho mỗi lần tập, chỉ cần nghiêm túc duy trì lịch tập 5 ngày/tuần cũng đủ để đạt được kết quả giảm cân sau vài tuần.

Theo afamily

Dinh dưỡng tốt với rau củ ngâm

Rau củ ngâm chua đã được thực hiện cách đây hơn 4.000 năm và từ đó, người dân trên thế giới đã chào đón nó như một món ăn có giá trị dinh dưỡng và khả năng chữa bệnh cao.Rau củ ngâm rất phổ biến trên thế giới, tùy thuộc vào mỗi quốc gia mà bạn sẽ tìm thấy một loạt các loại thực phẩm ngâm khác nhau, từ quả dưa chuột ngâm đơn giản cho đến chanh ngâm. Ở Anh, bạn có thể tìm thấy củ hành muối, củ cải đường, và dưa chuột ri, thường được ăn kèm với thịt nguội. Ở Ý, người ta thường phục vụ một món rau củ ngâm trong đó bao gồm hành tây, cà rốt, cần tây, và súp lơ.Tại Ấn Độ, bạn sẽ tìm thấy nhiều loại trái cây và rau trộn lẫn với các thành phần khác, như các loại gia vị và các loại dầu thực vật, để sản xuất một loại tương ớt ngâm dấm. Người Trung Quốc cũng ngâm chua rất nhiều các loại rau khác nhau, bao gồm củ cải, cải bắp và ớt. Ở Hàn Quốc, một trong các loại thực phẩm chính của họ là kim chi, một loại một bắp cải muối cay.

Giá trị dinh dưỡng của các loại rau ngâm

rau-cu-ngam-chua-la-cuu-canh-cho-suc-khoe
Một mặt, chất xơ trong rau cải chua gần như tương tự như với các loại rau đã nấu chín, các vitamin tan trong chất béo, chẳng hạn như A, D, E và K cũng được giữ lại trong quá trình ngâm. Mặt khác, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc nhấn mạnh rằng các loại rau củ ngâm như kim chi là một nguồn cung cấp vitamin B12 dồi dào.
Rau quả được lên men tự nhiên, cũng có thêm lợi ích của việc thúc đẩy các vi khuẩn có lợi của đường ruột. Các nghiên cứu tại Mỹ và Hàn Quốc đã thống kê được hàng loạt chất dinh dưỡng trong món rau ngâm quen thuộc như protein, chất béo, carbohydrate, chất xơ và đường.
Các khoáng chất được tìm thấy trong rau củ ngâm bao gồm sắt, magiê, phốt pho, kali và natri. Các loại rau ngâm cũng chứa nhiều vitamin bao gồm vitamin C, thiamin, riboflavin, niacin, vitamin B-6, folate, vitamin B-12, vitamin A, vitamin E, vitamin D và vitamin K.

Lợi ích của rau củ ngâm
– Chống oxy hóa: Rau củ ngâm chua chứa nguồn chất chống oxy hóa dồi dào. Chất chống oxy hóa là những vi chất dinh dưỡng giúp bảo vệ cơ thể chúng ta chống lại sự tấn công của các gốc tự do. Các gốc tự do là các hoá chất không ổn định được sản xuất trong quá trình trao đổi chất và gây tổn hại DNA.
– Cung cấp các vi khuẩn Probiotic: Vi khuẩn Probiotic là những vi khuẩn thân thiện hiện diện trong hệ thống tiêu hóa. Những vi khuẩn này giúp cho quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra thuận lợi. Trong những ngày Tết việc ăn uống bất thường có thể gây khó khăn cho hệ tiêu hóa nên việc bổ sung thực phẩm như dưa chua là rất cần thiết.
– Cung cấp khoáng chất và vitamin thiết yếu: Ăn rau củ ngâm không chỉ gia tăng cảm giác ngon miệng mà còn cung cấp các vitamin thiết yếu như vitamin C, A, K, folate và các khoáng chất như canxi, sắt và kali.
– Bảo vệ gan: Ngoài lợi ích như cải thiện tiêu hóa, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi dùng rau cải ngâm chua thì gan của chúng ta sẽ được bảo vệ khỏi các tác động xấu hoặc giảm tổn hại do bia rượu gây ra.
Theo afamily

Những lợi ích tuyệt vời chỉ với ly chanh nóng

Nếu bạn muốn cải thiện toàn bộ sức khỏe của cơ thể, thì hãy tạo cho mình thói quen bắt đầu ngày mới bằng một cốc nước chanh ấm.

Bình thường bạn vốn dĩ quen với việc dùng một cốc nước chanh mát lạnh để giải khát. Tuy nhiên uống một ly nước chanh ấm vào buổi sáng có lẽ là thói quen tốt nhất mà bạn có thể làm để đảm bảo sức khỏe cho mình. Dưới đây là danh sách những lợi ích tuyệt vời mà bạn có được chỉ với một ly nước chanh ấm vào buổi sáng sớm:

1. Cải thiện hệ tiêu hóa của bạn

Uống một ly nước ấm vào buổi sáng sẽ có tác dụng kích thích đường ruột và nhu động ruột, làm sạch hệ thống tiêu hóa của bạn sau một đêm. Nếu bạn cho thêm chanh vào cốc nước ấm thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Chanh vốn là loại trái cây có hàm lượng khoáng chất và vitamin cao, giúp đào thải các độc tố trong đường tiêu hóa.

Vì thế, một cốc nước chanh ấm vào buổi sáng sẽ kích thích và kích hoạt toàn bộ quá trình tiêu hóa, giúp bạn khỏe mạnh hơn.

nuoc-chanh-am-uong-thong-minh-de-khoe-dep

2. Tăng cường khả năng miễn dịch

Quả chanh có hàm lượng vitamin C và kali rất cao. Trong đó, vitamin C sẽ bảo vệ bạn chống lại các bệnh cảm lạnh thông thường và một vài bệnh liên quan đến viêm nhiễm. Kali có tác dụng kích thích chức năng não và hệ thống thần kinh, giúp bạn kiểm soát được huyết áp. Như vậy, nếu bạn thường xuyên uống một cốc nước chanh ấm thì hệ thống miễn dịch của cơ thể bạn sẽ rất khỏe mạnh để bảo vệ bạn thoát khỏi bệnh tật.

3. Giúp cải thiện chứng táo bón

Hãy duy trì và phát triển thói quen uống nước chanh ấm vào buổi sáng vì điều này sẽ đảm bảo giúp bạn thoát khỏi táo bón và các vấn đề khác liên quan đến dạ dày. Nước chanh ấm sẽ kích thích và điều hòa nhu động ruột của bạn, bên cạnh đó nó còn chữa lành những chấn thương xuất hiện trong quá trình bạn bị táo bón.

4. Có tác dung như một chất “tẩy rửa”, thanh lọc cơ thể tự nhiên
Một cốc nước chanh ấm sẽ giúp giải độc và thanh lọc cơ thể của bạn bằng cách loại bỏ tất cả các chất độc hại được tích lũy trong cơ thể. Nó giúp cơ thể bạn loại bỏ các chất không mong muốn vì chanh làm tăng tốc độ bài tiết nước tiểu trong cơ thể. Do đó, các độc tố được đào thải với tốc độ nhanh, giúp cho đường tiết niệu khỏe mạnh.

5. Rất tốt cho làn da của bạn

Một khi có tác dụng như là chất có khả năng thanh lọc, loại bỏ các độc tố ra khỏi cơ thể, thì uống một cốc nước chanh ấm vào mỗi buổi sáng sẽ rất tốt cho làn da của bạn. Hơn nữa, vitamin C từ chanh sẽ giúp bạn trông thật trẻ trung, năng động bởi nó giúp làm giảm nếp nhăn và vết nám.

6. Giúp bạn trong cuộc chiến chống lại quá trình lão hóa

Chanh cung cấp một nguồn vitamin C dồi dào, có tác dụng như một chất chống oxy hóa tự nhiên. Nó giúp loại bỏ các gốc tự do có hại trong cơ thể, chặn đứng rất nhiều ảnh hưởng xấu cho làn da của bạn. Như vậy, uống nước chanh ấm đều đặn sẽ đảm bảo bạn được trang bị tốt để chống lại nếp nhăn và quá trình lão lão hóa sớm.

7. Giúp cơ thể bạn ngậm nước và cân bằng độ ẩm

Nước giống như là phương thuốc trường sinh, giúp cơ thể bạn duy trì sự sống. Chanh là một loại trái cây có tính a-xít, khi vào trong cơ thể tính a-xít của chanh sẽ được chuyển hóa sang tính kiềm. Cơ thể có tính kiềm thực sự rất quan trọng để có sức khỏe tốt. Do vậy, hãy uống một cốc nước chanh ấm để đảm bảo cơ thể bạn được ngậm nước và cân bằng độ ẩm.

8. Trợ thủ đắc lực trong việc giảm cân

Bên cạnh việc mang lại cho bạn cảm giác no từ nước thì chanh cung cấp một nguồn chất xơ và vitamin C, rất tốt cho kế hoạch giảm cân của bạn. Do đó, nếu bạn đang được khuyến cáo theo dõi trọng lượng cơ thể mình thì bạn nên bắt đầu một ngày mới với một ly nước chanh ấm.

Những biện pháp hỗ trợ tập luyện vòng eo săn chắc

Nếu bạn đã thử rất nhiều cách mà chưa thấy vòng 2 của mình giảm đi thì hãy thử những biện pháp hỗ trợ đồng thời trong khi luyện tập thể dục nhé.

Rõ ràng bạn nhận ra là vòng eo của mình đã tăng lên từ lúc nào không rõ. Và bạn đang tìm mọi cách để giảm eo càng nhanh càng tốt nhưng kết quả lại không như bạn mong muốn.

Càng gần đến ngày Tết, bạn càng lo lắng và muốn vòng 2 của mình giảm đi nhanh chóng. Nếu bạn đã thử rất nhiều cách mà chưa thấy hiệu quả thì hãy thử tận dụng những biện pháp hỗ trợ sau đây nhé:

1. Làm ấm cơ thể trước khi thể dục

Một số người không nhận ra tầm quan trọng của việc giữ ấm cơ thể trước khi tập thể dục và cho rằng việc làm ấm cơ thể này sẽ chỉ mất thời gian mà thôi. Thực tế thì khởi động cơ thể, làm ấm cơ bắp của bạn trước khi thể dục có thể giúp ngăn ngừa chấn thương và tiêu hao nhiều chất béo hơn, nhất là vào mùa đông. Bạn có thể khởi động làm ấm cơ thể bằng cách chạy tại chỗ, xoay eo, cúi người về phía trước sao cho ngón tay chạm ngón chân…

5-cach-ho-tro-de-co-vong-eo-phang-truoc-tet

2. Hít thở

Oxy rất quan trọng cho cơ bắp của bạn. Nếu bạn muốn các cơ bắp được săn chắc, giảm lượng mỡ và thực hiện tốt chức năng của chúng thì bạn nên biết cách hít thở đúng cách. Hãy hít thở đều đặn, thỉnh thoảng nên hít thở sâu để việc trao đổi chất trong cơ thể diễn ra đều đặn. Việc hít thở đúng trong những lúc đi bộ, thể dục, vận động càng quan trọng hơn cả vì những lúc đó cơ thể cần nhiều oxy.

3. Đừng để bị phân tâm

Nếu bạn nghĩ rằng khi chống đẩy chỉ có cơ bắp của bạn tham gia hoạt động để giảm mỡ thừa thì bạn đã nhầm. Những lúc vận động như vậy, tâm trí cũng đóng một phần hết sức quan trọng, nó giúp cơ thể bạn tập trung và tăng tốc độ đốt cháy mỡ thừa nhanh hơn.

Vì vậy, hãy tránh các hoạt động làm phân tán tư tưởng như xem tivi, nói chuyện… trong khi tập thể dục.

4. Chú ý đến chuyện ăn uống

Nếu bạn muốn giảm mỡ vòng eo, hãy chú ý đến chuyện ăn uống của mình để vòng eo không tăng thêm nữa. Hãy chọn cho mình chế độ ăn uống bao gồm nhiều protein, ít chất béo, sữa và các sản phẩm từ sữa, tăng cường trái cây và rau tươi…

5. Nghỉ ngơi

Tập luyện thể dục rõ ràng sẽ có tác dụng tiêu tan mỡ nếu bạn cũng biết tạo cho mình thời gian nghỉ ngơi hợp lý. Nếu chỉ tập thể dục mà không nghỉ ngơi thì bạn sẽ dễ bị kiệt sức, các cơ bắp phải hoạt động liên tục mà không có thời gian phục hồi nên sẽ không đủ sức cho những lần tập luyện sau đó. Điều này ảnh hưởng đến quá trình thể dục và làm giảm khả năng đốt cháy chất béo. Vậy nên, hãy dành thời gian nghỉ ngơi để giúp cơ bắp phục hồi và mạnh mẽ hơn nhé.
Theo afamily

Những dấu hiệu chứng tỏ bạn đang thiếu ngủ trầm trọng

Nếu thấy những dấu hiệu dưới đây, bạn cần lên chú ý và “chỉnh đốn” lại giờ ngủ của mình để tránh tình trạng thiếu ngủ nhé.
Cuối năm ai cũng tất bật với công việc nhưng đừng để sức khỏe sa sút chỉ vì thiếu ngủ. Dưới đây là những dấu hiệu chứng tỏ bạn đang thiếu ngủ trầm trọng.
1. Không kiểm soát được stress
Nếu bạn thường làm việc căng thẳng, bạn sẽ thấy những dấu hiệu này ngay lập tức. Nếu bạn thấy mình hay cằn nhằn, khó chịu với người thân và bạn bè thì có thể bạn đang bị thiếu ngủ.
Thiếu ngủ gây cản trở khả năng đối phó với những tình huống xảy ra hàng ngày, ví dụ như trong các cuộc họp, bị kẹt trong đám ùn tắc giao thông, giải quyết các mối quan hệ cá nhân… Bởi vì tình trạng thiếu ngủ sẽ làm giảm sự tỉnh táo, nhận thức của bạn, do đó, ngay cả những hoạt động thường ngày cũng có thể làm bạn căng thẳng và bạn không thể xử lý được những căng thẳng này.
2. Trở nên đãng trí

5-dau-hieu-chung-to-ban-dang-thieu-ngu-tram-trong
Nếu bộ nhớ của bạn không tốt như mọi khi thì đã đến lúc cần nghĩ rằng liệu bạn có đang bị thiếu ngủ hay không, bạn ngủ đã đủ hay chưa và chất lượng giấc ngủ có tốt không…
Nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học tại Viện Franklin (Anh) đã tiết lộ rằng giấc ngủ đóng một vai trò quan trọng với bộ nhớ của bạn. Khi bạn ngủ ít, các tế bào thần kinh của bạn kết nối với nhau ít hơn dẫn đến tình trạng có suy nghĩ lộn xộn không rõ ràng, không nhớ những gì đã diễn ra trước đó…
3. Khó tập trung
Như đã nói ở trên, thiếu ngủ khiến cho các tế bào thần kinh của bạn kết nối với nhau ít hơn dẫn đến tình trạng có suy nghĩ lộn xộn không rõ ràng. Đó chính là lý do tại sao khi đang họp hoặc nghe báo cáo, bạn không thể hiểu được toàn bộ vấn đề và hiểu được trọng tâm. Đó là bởi bạn không thể tập trung vào một việc gì đó và tâm trí bạn có thể đang “lang thang” ở nơi khác.
Vì vậy, nếu nhận ra mình có dấu hiệu này, hãy tìm cách thay đổi thói quen ngủ của mình theo hướng tích cực hơn nhé.
4. Nhanh đói, ăn nhiều và tăng cân nhanh
Nếu bạn thấy thèm ăn thường xuyên và cân nặng của bạn cũng bắt đầu tăng dần thì đã tới lúc cần sắp xếp thời gian hợp lý để đảm bảo bạn được ngủ đủ giấc. Theo một nghiên cứu thực hiện tại trung tâm Dược học thuộc Đại học Chicago (Mỹ), việc thiếu ngủ làm tăng hormone báo hiệu cảm giác đói, khiến cơ thể bạn muốn ăn nhiều hơn, trong khi đó nó lại làm giảm đáng kể kích thích tố báo hiệu tình trạng no.
Vì vậy, tình trạng thiếu ngủ kéo dài không chỉ gây mệt mỏi mà còn là một điểm trừ nặng cho cân nặng của bạn.
5. Gặp vấn đề về thị lực
Bạn đột nhiên dễ bị tai nạn do tầm nhìn kém, thường xuyên va chạm vào các vật dụng trong phòng… thì có thể không phải do bạn kém may mắn mà vì bạn đang bị thiếu ngủ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy khi chúng ta thức đêm nhiều ngày liền thì tình trạng mờ mắt, hoa mắt dễ xảy ra vào những ngày sau đó. Điều này làm tăng nguy cơ tai nạn và rủi ro cho bạn.
Vì vậy, tốt hơn hết là bạn nên sắp xếp cân đối giữa công việc và thời gian ngủ cho bản thân để tránh những tai nạn đáng tiếc.
Theo afamily

Cẩm nang chăm sóc sức khỏe ở mọi lứa tuổi

Chị em hãy cùng khám phá các bước cần thiết để giữ gìn sức khỏe ở mọi độ tuổi.

Ở độ tuổi 20
cam-nang-cham-soc-suc-khoe-o-moi-lua-tuoi
1. Lên lịch khám sức khỏe hàng năm

Đây chính là thời gian lý tưởng để tìm ra một vị bác sỹ mà bạn thích và tin tưởng, tạo dựng mối quan hệ, và tiến hành kiểm tra sức khỏe định kỳ (lý tưởng là 1 năm 1 lần), bác sỹ Shantanu Nundy, chuyên khoa nội tại Bệnh viện Đại học Chicao (Mỹ) chia sẻ. Khám sức khỏe hàng năm là cách tốt nhất để biết tình trạng sức khỏe của bản thân và phát hiện những vấn đề đang dần xuất hiện trước khi chúng vượt khỏi tầm kiểm soát. Bác sỹ sẽ kiểm tra chỉ số khối cơ thể (BMI) và huyết áp đồng thời lấy máu để kiểm tra sức khỏe tuyến giáp và nồng độ cholesterol.

2. Từ bỏ những thói quen không lành mạnh

Khi còn đang ở tuổi học sinh sinh viên, có thể bạn thích hút thuốc, uống rượu hoặc ăn vặt. Đây chính là thời điểm bạn cần phải loại bỏ những thói quen không lành mạnh đó ra khỏi cuộc sống của mình. “Rất nhiều thói quen được hình thành ở độ tuổi 20 sẽ theo chúng ta đến hết cuộc đời”, bác sỹ Nundy chia sẻ. Nếu bạn đã trót có một vài thói quen xấu thì đây chính là thời điểm lý tưởng để loại bỏ chúng và bắt đầu một chặng đường mới lành mạnh hơn. Học cách ăn uống lành mạnh là điều đặc biệt quan trọng; kể cả khi trông bạn khá thon thả ở tuổi 20 thì điều đó có thể thay đổi trong một hoặc hai thập kỷ tiếp theo; và duy trì cân nặng lành mạnh dễ dàng hơn là tìm cách giảm cân sau này.

3. Tiêu thụ đủ lượng canxi và vitamin D

Nhiều phụ nữ không nghĩ gì đến tình trạng loãng xương cho tới khi họ già hơn. Tuy nhiên, đây là một sai lầm lớn. Hãy đặt ra mục tiêu tiêu thụ ít nhất 1.200mg canxi và 1.000 IU vitamin D mỗi ngày vì nó sẽ trợ giúp đắc lực cho hệ xương và nhiều hệ thống khác của cơ thể.

Ở độ tuổi 30

1. Lưu ý tới vóc dáng

Cân nặng cơ thể có thể bắt đầu leo thang ở mọi lứa tuổi, nhưng 30 là lứa tuổi mà rất nhiều chị em lần đầu tiên phải lao vào cuộc chiến với trọng lượng. Quá trình trao đổi chất bắt đầu chậm đi ở độ tuổi 35; và nếu bạn đã sinh con thì bạn có thể thấy việc giảm cân sau khi mang thai là điều hết sức khó khăn. Và do đây là giai đoạn chị em còn đang phải vật lộn giữa một bên là công việc, một bên là gia đình nên quỹ thời gian vô cùng eo hẹp. Đó là lý do vì sao bà Dehn khuyến khích chị em nên chèn một chút thời gian cho thể dục thể thao vào lịch hoạt động trong ngày của mình. “Phụ nữ ở độ tuổi 30 có một danh sách dài vô tận những việc phải làm và họ hầu như không có thời gian cho bản thân”, bà Dehn chia sẻ.

2. Ưu tiên cho giấc ngủ

Các bà mẹ bận rộn khó có thể đi ngủ sớm; nhưng thực tế thì điều đó thực sự cần thiết cho sức khỏe. Nếu bạn đang mang thai thì bạn cũng có thể gặp một số vấn đề với giấc ngủ: Theo Hiệp hội Y học giấc ngủ Mỹ, những thay đổi về thể chất, tình cảm, và nội tiết diễn ra trong thai kỳ, đặc biệt là trong 3 tháng cuối có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ. Vì thế, hãy đảm bảo rằng phòng ngủ của bạn thoải mái nhất có thể và cho phép bản thân nghỉ ngơi thư giãn vào buổi tối. Hãy nói chuyện với bác sỹ nếu bạn vẫn gặp vấn đề về giấc ngủ.
cam-nang-cham-soc-suc-khoe-o-moi-lua-tuoi1

3. Chú ý đến những vấn đề liên quan đến kinh nguyệt

Dù bạn có con hay không thì vẫn cần đi khám nếu chu kỳ của bạn đột nhiên khó chịu hơn hoặc đau đớn hơn. Đây có thể là dấu hiệu của hội chứng buồng trứng đa nang, bệnh liên quan đến tuyến giáp hoặc u xơ tử cung.

4. Kiểm tra huyết áp

Nếu bạn vẫn khám sức khỏe định kỳ hàng năm thì bác sỹ sẽ kiểm tra huyết áp trong những lần khám đó. Còn nếu không, hãy chắc chắn rằng ít nhất mỗi năm bạn kiểm tra huyết áp một lần. Rất nhiều phụ nữ bắt đầu gặp phải triệu chứng cao huyết áp ở tuổi 30 – thường là gắn liền với tăng cân – nhưng họ lại không nhận ra điều đó, bác sỹ Nundy chia sẻ.

Ở độ tuổi 40

1. Cân nhắc việc chụp nhũ ảnh

Mặc dù còn nhiều tranh cãi song phần lớn các chuyên gia đều khuyến khích chị em phụ nữ nên bắt đầu chụp nhũ ảnh ở tuổi 40 thay vì đợi đến tận 50. Các bác sỹ có thể giúp đánh giá tiền sử bệnh của gia đình và đặc điểm cá nhân của từng người để tìm ra thời điểm nên bắt đầu tiến hành kiểm tra và tần suất kiểm tra (mỗi năm một lần hay hai năm một lần).

2. Tìm hiểu về bệnh tiểu đường

Nếu bạn chưa từng làm bất kỳ xét nghiệm nào liên quan đến bệnh tiểu đường thì đây chính là thời điểm cần thiết. Nguyên nhân là do bệnh tiểu đường týp 2 ngày càng trở nên phổ biến sau tuổi 40. Theo Hiệp hội tiểu đường Mỹ thì chị em nên tiến hành các xét nghiệm liên quan đến bệnh tiểu đường khi bắt đầu bước vào tuổi 45 với tần suất là 3 năm 1 lần.

3. Đánh giá lại lượng calo tiêu thụ

Theo bà Dehn thì quá trình trao đổi chất thực sự suy giảm sau tuổi 40; và điều này có nghĩa là bạn có thể tăng cân dù bạn không hề ăn nhiều hơn so với trước kia. Để duy trì trọng lượng ổn định hoặc giảm bớt nếu cần thì chị em cần phải điều chỉnh chế độ ăn một chút. Cố gắng ăn nhiều bữa nhỏ với khẩu phần ăn mỗi bữa ít hơn và ăn nhiều thực phẩm khác nhau.

4. Năng vận động

“Các nghiên cứu đã cho thấy chỉ cần 20 đến 30 phút thể dục thể thao mỗi ngày sẽ giúp chúng ta duy trì trọng lượng cơ thể của mình”, bà Dehn chia sẻ. “Ở độ tuổi này, nếu bạn muốn giảm cân, bạn cần phải tập thể dục đủ 1 giờ”. Ngoài ra, đừng quên các bài tập thể lực (như nâng tạ nhẹ) để  giúp duy trì khối lượng cơ bắp và mật độ xương khi chúng ta ngày càng có tuổi.

Ở tuổi 50

1. Thận trọng với sức khỏe tim mạch

Sau tuổi 50, nguy cơ mắc bệnh tim mạch của phụ nữ gia tăng mạnh. Điều đó có nghĩa là việc biết những thông số về sức khỏe tim mạch và trao đổi với bác sỹ về những thông số đó là điều vô cùng quan trọng. “Bệnh tim có thể xuất hiện rất đột ngột; nhưng thường là nó có yếu tố nguy cơ. 95% người bị đau tim có một hoặc vài yếu tố nguy cơ báo trước”, bác sỹ Nundy chia sẻ. Những yếu tố đó bao gồm hút thuốc, huyết áp cao, cholesterol cao, béo phì, và tiểu đường. Nếu bạn có bất kỳ yếu tố nào trong những yếu tố trên hoặc có tiền sử gia đình bị bệnh tim thì ngoài các xét nghiệm và kiểm tra tiêu chuẩn hãy đề nghị bác sỹ làm thêm điện tâm đồ.

2. Kiểm tra nguy cơ ung thư đại tràng

Rất may là bệnh ung thư đại tràng có thể phòng ngừa được nếu bạn phát hiện ra các polyp khi chúng vẫn ở giai đoạn tiền ung thư. Và mặc dù vẫn có các cách khác nhưng cách tốt nhất là tiến hành soi đại tràng. Nếu kết quả nội soi của bạn bình thường và gia đình bạn không có tiền sử mắc bệnh này thì có thể làm 10 năm 1 lần.

3. Thảo luận về các triệu chứng mãn kinh với bác sỹ

Liệu pháp hoóc môn (HT) hiện nay không được chỉ định rộng rãi như trước kia do những lo ngại về nguy cơ gây ra ung thư vú và những tác dụng phụ khác. Tuy nhiên, nhiều bác sỹ vẫn khuyến nghị bệnh nhân sử dụng phương pháp đó trong thời gian ngắn nếu các triệu chứng mãn kinh như “bốc hỏa” hay thay đổi tâm trạng phát triển theo chiều hướng trầm trọng hơn.

4. Tiêm phòng cúm hàng năm

Tiêm phòng cúm có thể giúp bảo vệ bạn khỏi căn bệnh này ở bất kỳ độ tuổi nào, nhưng nó đặc biệt quan trọng khi bạn ngoài 50. Khi chúng ta già hơn, nguy cơ bị các biến chứng nguy hiểm, thậm chí là đe dọa đến tính mạng, từ cúm tăng cao; và tiêm phòng chính là biện pháp tốt nhất để bảo vệ bạn, bác sỹ Nundy cho biết.

Ở độ tuổi 60

1. Kiểm tra mật độ xương

Bác sỹ có thể khuyến khích bạn làm xét nghiệm này ở độ tuổi 50, hay thậm chí là 40 và điều đó thực sự rất có ích. Có rất nhiều nguyên nhân khiến chúng ta có nguy cơ bị loãng xương, từ dùng một số loại thuốc, hút thuốc lá, đến tiền sử gia đình. Tuy nhiên, theo Quỹ về loãng xương, ở tuổi 65, tất cả phụ nữ – kể cả những người không có các yếu tố nguy cơ – vẫn cần phải đo mật độ xương. Ngoài ra, bạn vẫn cần bảo vệ hệ xương của mình bằng cách tiếp tục bổ sung canxi cho cơ thể. Hãy hỏi ý kiến bác sỹ xem liệu bạn đã hấp thụ đủ lượng canxi cần thiết từ chế độ ăn hàng ngày của mình hay chưa hay bạn nên sử dụng thêm các chế phẩm bổ sung.

2. Tăng cường hấp thụ vitamin B12

Theo số liệu từ các khảo sát về sức khỏe và dinh dưỡng, rất nhiều người trên 60 tuổi thiếu B12. Bạn cần dưỡng chất này – có nhiều trong hải sản, thịt bò, và ngũ cốc tăng cường – để sản sinh ra hồng cầu khỏe mạnh và giúp bảo vệ hệ thần kinh. Nghiên cứu đã cho thấy vitamin B12 còn có thể giúp ngăn ngừa tình trạng mất trí nhớ.

3. Giảm nguy cơ viêm phổi

Viêm phổi là một căn bệnh nguy hiểm. Theo CDC Hoa Kỳ thì đây là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc xin tại Mỹ. Chính vì thế, nếu bạn chưa từng tiêm phòng bệnh này trước tuổi 65 thì hãy tiến hành ngay.
Theo dân trí

Dậy sớm có những lợi ích không ngờ

Đạt điểm số cao hơn
Trong một nghiên cứu của đại học Texas năm 2008, những sinh viên được biết đến là “con  người của buổi sáng” có điểm số cao hơn hẳn những con “cú đêm”. Một kết quả học tập tốt sẽ đem đến những cơ hội nghề nghiệp hấp dẫn hơn.
Chủ động hơn
Nhà sinh học Christoph Randler, từ Havard, đã khám phá ra những người thức dậy sớm thường chủ động hơn. Họ có xu hướng dành thời gian để xác định những mục tiêu lâu dài của bản thân cũng như có trách nhiệm, tự tin vào công việc mình làm.
Lường trước vấn đề

day-som
Nghiên cứ của Randler cũng tiết lộ những con người của buổi sáng có khả năng lường trước vấn đề, từ đó giảm thiểu nguy cơ và dẫn đến nhiều thành công hơn.
Lập kế hoạch
Dậy sớm giúp chúng ta có một buổi sáng yên tĩnh để sắp xếp, thiết lập mục tiêu và lên kế hoạch tốt hơn cho những ngày hoặc tuần tiếp theo.
Thời gian cho tập thể dục
Rất nhiều doanh nhân thành đạt dậy sớm để tập thể dục (trước khi các thành viên trong gia đình thức giấc và ngày làm việc của họ bắt đầu). Lợi ích của việc tập thể dục đã được mọi người công nhận từ lâu, nhất là thể dục buổi sáng. Nó không chỉ giúp tăng cường sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần, cung cấp năng lượng cho cả ngày làm việc mà còn tạo ra giấc ngủ sâu hơn.
Ngủ sâu hơn
Các chuyên gia về giấc ngủ nói rằng nếu bạn ngủ sớm, dậy sớm, cơ thể sẽ hòa hợp với nhịp điệu sinh học của trái đất, từ đó giấc ngủ sâu hơn.
Lạc quan
Nhiều nghiên cứu khác nhau đều đi đến một kết luận những người dậy sớm có tính cách lạc quan, dễ chịu, hài lòng và tận tâm. Còn những con cú đêm, một mặt biểu hiện trí thông minh và khả năng sáng tạo, mặt khác có xu hướng trầm cảm, bi quan, và rối loạn thần kinh.
Di chuyển dễ dàng
Lẽ dĩ nhiên, dậy sớm, đi làm sớm giúp chúng ta tránh gặp phải các vấn đề đi lại như tắc đường,khói bụi.
Một giờ yên tĩnh
Những người đến cơ quan sớm sẽ có khoảng 1 đến 2 giờ thực sự yên tĩnh để tập trung làm việc. Đó là một trải nghiệm thực sự thú vị.
Thời gian dành cho gia đình
Nếu hoàn thành tất cả công việc trong ngày, bạn sẽ có được khoảng thời gian thực sự thư thái dành cho gia đình. Thay vì mang việc về nhà, bạn có thể hoàn toàn thư giãn và giải phóng tâm trí.
Những lợi ích của việc thức dậy sớm là không thể chối cãi, nhưng để thực hiện lại là một chuyện không hề dễ dàng, nhất là với những người có thói quen làm việc ban đêm. Bạn cần kiên quyết với bản thân mình hơn nữa nếu muốn đạt thành công thực sự mà không tổn hại đến sức khỏe quý giá.

Theo dân việt

Vỏ trái cây chữa bệnh mãn tính

Vỏ của các loại quả thường chứa nhiều chất dinh dưỡng và các chất chống oxy hóa, có tác dụng hiệu quả trong việc chữa một số bệnh mãn tính.

Vỏ táo

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, vỏ táo rất có lợi cho sức khỏe. Vỏ táo chứa nhiều chất xơ, tốt cho hệ tiêu hóa. Ngoài ra, hơn một nửa lượng vitamine C nằm ở phần sát vỏ. Các nghiên cứu cho thấy, vỏ táo có tác dụng chống oxy hóa còn mạnh hơn cả thịt táo, thậm chí còn mạnh hơn những loại rau quả khác.

Vỏ lê
vo-le

Vỏ lê là một loại thuốc tốt cho tim mạch và nhuận phổi. Vỏ lê sau khi rửa sạch và cắt nhỏ, thêm đường phèn sau đó sắc lên có thể trị bệnh ho. Khi bạn muối dưa chua, nếu bỏ thêm một chút vỏ lê có thể giúp cho dưa giòn hơn.

Vỏ nho

Vỏ nho có chứa nhiều chất resveratrol hơn thịt quả hay hạt nho, giảm lipid, phòng tránh bệnh xơ cứng động mạch, có tác dụng tăng sức đề kháng. Vỏ nho tím còn có chứa chất giúp giảm huyết áp. Vỏ nho cũng có chứa lượng chất xơ phong phú và sắt. Hiện tại, đã có người sử dụng vỏ nho để chế biến loại thực phẩm có tác dụng trị các chứng bệnh như cholesterol quá cao hay bệnh tiểu đường.

Vỏ dưa hấu

Vỏ dưa hấu trông cứng vậy nhưng có chứa rất nhiều đường, các kháng chất, chất xơ, có tác dụng thanh nhiệt, giảm huyết áp. Vỏ dưa hấu còn có thể làm nộm, xào hoặc nấu canh.

Vỏ bí đao
vo-bi=dao

Vỏ bí đao có chứa chất xơ và nhiều khoáng chất. Nó có tác dụng giảm phù và tốt cho những người bị tiểu đường. Bởi vậy, các chuyên gia khuyên rằng khi nấu canh bí, bạn nên giữ nguyên cả vỏ chứ không gọt bỏ đi.

Theo dân việt

Nhận biết về bệnh hạt cơm

Hạt cơm là một dầy sừng khu trú gồm các tổn thương da và niêm mạc gây nên bởi virus gây sùi ở người (human papilloma virus – HPV).

benh_hat_com

Biểu hiện lâm sàng

Có nhiều dạng khác nhau do các type HPV khác nhau gây nên.

 Hạt cơm bàn chân: thường gặp là dạng myrmecie (do HPV typ 1 gây nên).

Tổn thương cơ bản: là một điểm dầy sừng hình tròn sùi vào sâu, đau nhất là khi vận động hoặc đụng chạm vào nó, thường đơn độc hoặc có một vài tổn thương đơn lẻ. Tổn thương dạng đĩa xung quanh vòng bởi một hình nhẫn dầy sừng, phần trung tâm dầy sừng mà bề mặt tạo thành những điểm đen (có thể do mao mạch bị tắc hoặc bị bít bởi bụi). Đây là loại tổn thương thường gặp.

Hạt cơm thường: do HPV type 2 gây nên.

Thương tổn là tổn thương sùi ra ngoài bề mặt hình bán cầu hoặc dẹt đường kính vài mm đến 1- 2cm, ở trung tâm có thể lõm xuống. Bề mặt hạt cơm tăng gai, thậm chí tạo thành rãnh, thành khía. Quanh các đám dầy sừng lại có những đám dầy sừng kế cận tạo thành như miệng giếng. Số lượng thay đổi từ một vài cái đến vài chục cái, đôi khi tập hợp lại.

Vị trí hay gặp ở mu tay và các ngón, ít gặp ở lòng bàn tay.

Hạt cơm filiformes vị trí ưu thế của các hốc tự nhiên (bán niêm mạc) hoặc vùng cổ, vùng mọc râu (tự lây nhiễm bởi cạo râu) thường kết hợp với các tổn thương hình bán cầu, bề mặt bóng. Hạt cơm ở tay được gây ra bởi HPV2 và HPV1 (13%). Hiếm gặp hơn là những tổn thương sùi ở trong hoặc ra ngoài, kết hợp với HPV4 hoặc HPV7.

Hạt cơm phẳng: Do HPV type 3,10 gây nên.

Tổn thương là những sẩn nhỏ hiếm khi nổi cao, màu vàng hoặc màu vàng nhạt, bề mặt bóng, mảnh, thường tập trung thành dải (do khi bệnh nhân gãi hạt cơm có thể mọc theo vết xước gọi là hiện tượng Kobner) hoặc tạo thành mảng, cảm giác thường hơi ngứa. Vị trí ưu thế ở mặt mu tay, ngón tay, cánh tay, đầu gối và mặt trước cẳng chân. Thường gặp ở người suy giảm miễn dịch, thương tổn nổi cao hoặc kích thước lớn. Nó tồn tại dai dẳng nhiều tháng hoặc nhiều năm, có thể có dấu hiệu viêm ở xung quanh hoặc có vòng giảm sắc tố.

Điều trị:

Tại chỗ:

– Loại bỏ tổn thương bằng các biện pháp sau:

+ Dùng thuốc phá huỷ tổ chức bệnh: Axit salicylique 10-20%, podophylline 15-20% bôi 2 lần mỗi tuần, rửa sạch sau 6 giờ; dung dịch glutiradehyde 20%, axit trichloracetique bão hoà, thận trọng khi dùng phương pháp này ở mặt. Có thể dùng axit retinoique dạng crem hoặc nhũ tương  trong 3- 6 tuần. Dùng dung dịch bléomycine 0,1% tiêm trong tổn thương điều trị các hạt cơm ở da. Hoặc có thể dùng retinoide tiêm trong tổn thương.

+ Dùng phương pháp vật lí:

Làm lạnh phá huỷ tổ chức bệnh bằng Nitơ lỏng. Phương pháp điều trị tốt nhất hiện nay là phá huỷ thương tổn bằng lazer CO2, đốt điện siêu cao tần hoặc plasma.

Toàn thân:

Liệu pháp miễn dịch tại chỗ hoặc toàn thân(lévamyzole) dùng trong trường hợp kháng những điều trị trên, kết quả thay đổi, hoặc tiêm bắp interferon- anpha2.

Liệu pháp  tâm lý cũng có thể điều trị được bệnh này.

Theo suckhoevadoisong

Thông tin về bệnh chai chân

Chai chân

Là một bệnh dầy sừng khu trú ở bàn chân, thường xảy ra ở những vùng bị tì đè nhiều do chịu một áp lực mạnh liên tiếp. Bệnh thường gặp ở những người có dị tật ở bàn chân: bàn chân khum, hoặc người có di chứng bại liệt ảnh hưởng tới tư thế của lòng bàn chân, một số có thể do tính chất di truyền.

chai_chan_01

Biểu hiện lâm sàng: Tổn thương là những  đám dầy sừng màu ngà, màu vàng, khum lên, hình tròn hay bầu dục, sờ vào rất cứng, vùng ranh giới với da lành có thể bị nứt, từ đó gây bội nhiễm, đau đớn, đôi khi ở trung tâm bong sừng tạo nên một lõm ở giữa. Vị trí chai chân thường gặp: Lòng bàn chân (gan bàn chân trước và gót), mu chân, mặt trong của ngón cái, ô mô út bàn tay, vai, mông (Vùng bị ma sát, tì đè nhiều trong sinh hoạt và lao động). Ngoài ra, còn có thể thấy ở những vùng xương bị lồi ra như mắt cá ngoài, khuỷu tay.

Tổ chức bệnh lý: quá sản các lớp thượng bì, đặc biệt là ở lớp sừng. ở tổ chức đệm là một khối xơ do tổ chức xơ quá phát triển.

 Điều trị:Nguyên tắc điều trị chung là loại bỏ nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây tì đè.

Điều trị tại chỗ: còn khó khăn, thường chỉ bạt mỏng khi lớp sừng quá dầy, đi giầy chỉnh hình bằng mút để phân bố lại lực tì đè của bàn chân cho hợp lý, hoặc phẫu thuật chỉnh hình nếu có chỉ định.

Có thể tiêm filatov trực tiếp vào tổn thương.

Có thể ngâm nước muối ấm cho mềm da và dùng dao gọt bỏ lớp sừng dầy tạo điều kiện cho bệnh nhân lao động và sinh hoạt thuận lợi.

Bạt mỏng lớp sừng bằng đốt điện hoặc laser CO2, có khi phải phẫu thuật cắt bỏ cả khối.

– Điều trị toàn thân chống dầy sừng, xơ hoá bằng vitamin A liều cao.

 Mắt cá chân

Bệnh mắt cá chân là một bệnh dầy sừng khu trú ở bàn chân có thể do bệnh nhân có dị vật ở bàn chân làm cho các tổ chức xung quanh dị vật bị xơ hoá hình thành mắt cá.

Lâm sàng: Thương tổn là khối sừng nhỏ bẳng phằng với mặt da, có khi nổi cao hơn  mặt da, bề mặt trơn  hoặc bong vẩy. Khối sừng này nằm ở trong trung bì được bao bọc bởi một lớp tế bào gai và tế bào cơ bản. Mắt cá gây  đau khi đi lại hoặc va chạm và đặc biệt khi ấn vào có một điểm đau chói rõ.

Vị trí: thường gặp ở vùng tì đè dễ bị sang chấn như 10 đầu ngón chân, gót, mu khớp bàn đốt, đốt 1 các ngón chân, ô mô cái của 2 bàn tay.

Số lượng thường là một nhưng đôi khi gặp nhiều hơn. Mắt cá thường không mang tính chất đối xứng vì phần lớn là do sang chấn.

Mắt cá chân có thể gây nhiễm trùng, vỡ mủ và gây viêm đường bạch mạch. Bệnh rất hay tái phát.

Điều trị: Cần phải lấy được nhân mắt cá thì điều trị mới được hiệu quả. Có thể phẫu thuật lấy bỏ toàn bộ nhân mắt cá hoặc phá huỷ nhân bằng đốt điện, plasma, laser CO2 . Thường dùng một số thuốc mỡ bong vẩy: Mỡ salisylic 10% bôi làm tổn thương bong vẩy và mềm da, sau đó phải phẫu thuật loại bỏ nhân của mắt cá.

Nếu nhiễm khuẩn, dùng sát khuẩn tại chỗ và kháng sinh toàn thân.

Theo suckhoevadoisong

Bệnh mụn rộp hay còn gọi là bệnh Herpes simplex

Virus gây bệnh herpes simplex còn gọi là virus gây bệnh mụn rộp. Nhưng thuật ngữ herpes simplex (herpes đơn dạng) đã được Việt hóa. Đây là loại virus mà acid nhân là ADN. Kích thước từ 150 – 200 nm.

Herpes_simplex_01
Có 2 loại HSV (có tài liệu viết là HHV: Human Herpes Virus):

+       HSV 1: Gây bệnh ở da, niêm mạc phần trên của cơ thể như mắt, mũi, miệng. Lây truyền bằng tiếp xúc trực tiếp với virus qua thương tổn của chúng hoặc qua nước bọt.

+       HSV2: Gây bệnh ở da niêm mạc bộ phận sinh dục. Bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Sự phân loại này không hoàn toàn tuyệt đối vì người ta có thể phân lập thấy HSV 1 ở những thương tổn tại bộ phận sinh dục và HSV2 cũng được phân lập từ những thương tổn ở môi, miệng.

Biểu hiện lâm sàng:

Nhiễm herpes sơ phát:

·   Viêm niêm mạc/niêm mạc miệng lợi, nguyên nhân do HSV1 gây ra. Bệnh thường gặp ở trẻ em, ở tuổi từ 6 tháng đến 3 tuổi. Thời gian ủ bệnh: 6 ngày.Thời kỳ toàn phát: Viêm niêm mạc miệng, lợi; khó nuốt; tăng tiết nước bọt; thể trạng mệt mỏi; sốt 390C, kèm theo hạch dưới hàm sưng đau. Khám: Có thể thấy mụn nước mọc thành chùm hoặc trợt nông hình đa cung, màu đỏ, có thể có giả mạc. Vị trí: niêm mạc má, môi, lợi, lưỡi. Tiến triển trong vòng 10 – 15 ngày sẽ lành.

·      Herpes bộ phận sinh dục: Nguyên nhân do HSV2. Bệnh gặp ở cả nam lẫn nữ. Triệu chứng: Đau, ngứa, nóng rát kèm theo sốt, mệt mỏi. Thương tổn là những mụn nước bằng hạt kê, hạt tấm mọc thành chùm hoặc những vết trợt nông (do mụn nước dập vỡ) hình đa cung, kèm theo nổi hạch bẹn. Thường xuất hiện ở dương vật, môi lớn, môi nhỏ, âm đạo, cổ tử cung, cũng có khi ở hậu môn. Sau 10 – 15 ngày sẽ khỏi, có thể để lại sẹo nông.

·      Các thể lâm sàng khác của herpes sơ phát:

–   Herpes da đơn thuần: chỉ gây bệnh ở da. Thương tổn là những mụn nước mọc thành chùm. Kích thước đám thương tổn có thể bằng hoặc hạt đậu, trôn chén hoặc to hơn. Có thể có 1, 2 hoặc nhiều đám thương tổn herpes.

– Herpes ở mặt: Gây viêm kết mạc, giác mạc hoặc vừa viêm kết mạc giác mạc. Mi mắt có những mụn nước như hạt tấm mọc thành chùm. Mi mắt có thể sưng phù. Vị trí thường ở một mắt, hiếm khi hai mắt cùng bị herpes cùng lúc.

– Herpes ở người suy giảm miễn dịch (HIV/AIDS) ở những người nhiễm HIV/AIDS rất hay bị nhiễm herpes lan toả. HSV1 vừa gây thương tổn ở niêm mạc miệng, mũi, mắt, thương tổn da, thương tổn nội tạng như viêm não, màng não, viêm gan do herpes. Các thương tổn do herpes gây ra có xu hướng hoại tử, lan tràn, trên lưng rất nặng.

– Herpes ở người viêm da cơ địa. Những người bị viêm da cơ địa nếu bị nhiễm virus HSV sẽ gây ra chàm dạng herpes. Tại nơi có thương tổn chàm có thể có các thương tổn mụn nước, kèm theo bọng nước lõm giữa, mụn mủ lõm giữa, hoặc mụn nước, bọng nước chứa máu. Triệu chứng toàn thân nặng, có thể tử vong, nhất là ở trẻ nhỏ.

–   Herpes trẻ sơ sinh (Herpes néonatal): Herpes ở trẻ sơ sinh hiếm gặp so với herpes ở trẻ em và người lớn. Tỷ lệ herpes trẻ sơ sinh  1/1.500 – > 1/10.000 trẻ sơ sinh.

Nguyên nhân do HSV2 lây từ herpes sinh dục của người mẹ trong thời kỳ thai nghén, nhất là tuần thứ 20 của thai kỳ trở đi hoặc lây truyền từ mẹ sang con lúc chuyển dạ.

Trẻ bị herpes sơ sinh có thể tử vong sau khi đẻ, dị dạng, não úng thuỷ, viêm màng đệm (chorioremites). Biểu hiện lâm sàng của herpes trẻ sơ sinh thường xuất hiện trong khoảng ngày thứ 5 đến ngày thứ 17, sau khi sinh. Chẩn đoán khó vì các biểu hiện da chỉ xuất hiện khoảng 20% các trường hợp. Tỷ lệ tử vong cao (15-20%).

– Viêm não do Herpes: Bệnh có thể gặp ở trẻ em và người lớn; nguyên nhân phần lớn do HSV1; có thể gặp ngay thời kỳ nhiễm herpes sơ phát hoặc tái phát.

Herpes tái phát:

100% các trường hợp herpes đều tái phát. Điều kiện thuận lợi cho herpes tái phát xuất hiện: Nhiễm trùng toàn thân; trên trẻ sơ sinh; dùng thuốc chống viêm có corticoid; bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, nhất là HIV/AIDS; tiến triển trong vòng 1 – 2 tuần sẽ khỏi.

–  Triệu chứng herpes tái phát:

Có thể có sốt hoặc không; có thể có sưng hạch phụ cận hoặc không. Thương tổn da niêm mạc giống như herpes sơ phát. Vị trí thương tổn: Môi, mũi và tiền đình mũi, niêm mạc miệng, mắt, cơ quan sinh dục. Nhịp độ tái phát: 2 – 3 – 4 lần trong năm. Nếu bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, nhất là HIV/AIDS, herpes sẽ rất nặng tái phát liên tục 1 tháng 1 lần, mỗi đợt tái phát thường kéo dài tới 15 ngày, thương tổn có khi là những vết loét, có những mụn nước, bọng nước mụn mủ hoại tử.

Điều trị:

–    Toàn thân: acyclovir; valaciclovir; famciclovir; mangoherpin; mediplex; isopresinosine. Mangoherpin là một sản phẩm có nguồn gốc thảo mộc, thuốc có hiệu quả điều trị, ít tai biến, lại rẻ tiền.

–  Tại chỗ: acyclovir; poscarrnet; mangoherpin.

Theo suckhoevadoisong

Phương pháp thở tốt cho những người bị bệnh hô hấp

tap_tho

Hô hấp là yêu cầu cấp thiết hàng đầu để đảm bảo sự sống cho con người. Tiếng khóc chào đời vang khỏe của trẻ sơ sinh báo hiệu công năng hô hấp bình thường và bảo đảm đủ ôxy của chúng. Ở tuổi thanh thiếu niên, sự vận động hợp lý giúp các cơ, đặc biệt cơ quanh ngực phát triển mạnh, nâng cao dung tích sống (DTS), hấp thu được nhiều ôxy và bài khí thải ra ngoài. Còn khi đã luống tuổi, sức yếu dần, DTS cũng sẽ giảm theo. Ai hay bị cảm nhiễm đường hô hấp cùng với viêm khí quản mạn tính, giãn phổi với các mức độ khác nhau, lại thêm nghiện hút thuốc lá, hoặc làm việc lâu dài tại những nơi nhiễm khói bụi, hóa chất sẽ bị giảm diện tích hô hấp hữu hiệu của phổi cũng như tỷ lệ ôxy cần thiết trong tế bào. Như thế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể, sức bền kém sút, tăng mỡ máu, xơ cứng động mạch, dễ bị những chướng ngại vi tuần hoàn.

Muốn hô hấp được thêm nhiều ôxy, dự phòng các bệnh tật trên, làm chậm quá trình lão hóa thì không thể chỉ dựa vào thuốc. Một trong những cách dự phòng tốt nhất là rèn luyện có hệ thống từ nhỏ bằng thể dục, chạy bộ, bơi, võ dưỡng sinh… cùng với chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng hợp lý, giữ cho tâm hồn luôn vui khỏe. Đương nhiên còn phải gắn với sự chủ động cải thiện môi trường sống tự nhiên và xả hơi của từng người và cộng đồng. Còn khi đã bị tình trạng trên, nhất là với người luống tuổi, cần lựa chọn những cách sau:

– Mỗi ngày đi bộ, chạy chậm hoặc bơi (về mùa hè là chính) từ 30 phút trở lên.

– Tranh thủ hàng ngày đi dạo ít phút tại công viên, vườn hoa, ven rừng, hồ, sông, biển… để hít thở không khí trong lành. Chú ý đứng tư thế hai tay chống ngang eo, thở sâu đều, mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần 10 – 30 phút.

Đặc biệt với người lao động trí óc đã luống tuổi, cần vận động thích hợp (qua tập luyện và lao động thể lực) để tăng cường hô hấp và tuần hoàn.

– Ở những nơi cần thiết và có điều kiện, nhất là vùng thành thị không khí bị ô nhiễm nhiều, có thể lập các trạm thu hít ôxy định kỳ hoặc không định kỳ cho nhiều người. Ở những nơi nghiêm trọng, còn nên có các túi đựng có ống hít ôxy cho từng người.

– Người cao tuổi bị viêm khí quản mạn tính kéo dài, hen suyễn, thiếu máu cơ tim và não, độ bão hòa ôxy huyết ở động mạch quá thấp, có thể định kỳ hít thở 50-60% ôxy. Nếu không có đủ điều kiện thì hít thêm cách quãng từ các túi đựng ôxy.

– Những người bị viêm phổi, bị các bệnh khác về hô hấp hoặc có những chướng ngại về công năng thông khí và trao đổi khí… cần đi khám để kịp thời trị liệu.

Hô hấp của không ít người bị giãn phổi (thường do viêm khí quản mạn tính, thông khí trắc trở… kéo dài gây nên) khác nhiều so với người thường. Người thường lúc hít vào, lồng ngực mở rộng, cơ hoành võng xuống, cơ bụng thả lỏng, bụng phồng lên. Còn khi thở ra, khoang ngực óp lại, cơ hoành nhô lên, cơ bụng co bóp lại, bụng lõm xuống. Như vậy, cơ bụng hỗ trợ cho cơ hoành nhô lên, võng xuống tốt hơn. Theo tính toán, cứ cơ hoành hạ xuống thêm 1cm thì có thể hít thêm 300ml không khí vào phổi. Với những người bị giãn phổi, những cử động trên ngược lại nên không có sự hỗ trợ đó.

Dưới đây là 4 cách tập góp phần khắc phục tình trạng trên:

Tập nằm thở: nằm ngửa, co gối, bụng thả lỏng, hai khuỷu tay hơi co, hai tay đặt trên bụng. Mũi hít mạnh vào làm bụng phồng lên, đồng thời hai tay vươn dang ra hai bên ngang với vai, rồi lại thở ra từ từ, bụng đồng thời hóp lại, hai bàn tay thu về đặt trên bụng như cũ.

Tập ngồi thở: ngồi ngay ngắn, hai tay hơi co, hai tay đặt sát bụng, mũi hít vào, đồng thời bụng phồng lên, hai tay vươn dang sang hai bên, rồi mồm lại thở ra từ từ, bụng xẹp xuống, hai tay đặt trở về trên bụng.

Tập đứng thở: đứng hai chân rộng ngang vai, hai khuỷu tay hơi co, hai tay đặt trên bụng, mũi hít vào, bụng phồng lên, đồng thời hai tay mở ra thành góc 45 độ chếch với thân người, rồi thở ra từ từ, hóp bụng lại, hai cánh tay cũng đồng thời thu lại, hai tay đặt trên bụng, thân hơi khom về trước.

Tập đi thở: đi từ từ, hai tay xếp chéo trước thân, hít vào, phồng bụng lên đồng thời hai tay mở dang ra hai bên gần ngang vai, rồi lại thở ra từ từ, hai tay đặt chéo về trước thân.

Từng người nên căn cứ vào đặc điểm của mình mà chọn tập theo 1-2 cách trên. Mỗi ngày tập 2 lần, mỗi lần khoảng nửa giờ. Tập nơi thoáng khí. Chỉ cần kiên trì tập đúng khoảng nửa năm, bệnh tình về hô hấp trên sẽ đỡ rõ.

Để theo dõi kết quả, tăng thêm lòng tin trong tập luyện, xin giới thiệu một số cách tự đo đơn giản:

Thử nghiệm bước bục: chọn độ cao đều, vừa phải, cố định hoặc bậc thang của nhà cao 2-3 tầng. Thỉnh thoảng hoặc định kỳ leo thử, sau đó tự đánh giá cảm giác tức thở (so với lần trước). Nếu tự thấy nhẹ nhàng hơn là có tiến bộ

Thử nghiệm thổi nến: đặt trước mặt một ngọn nến đang cháy, hít thật mạnh rồi thổi cho tắt, ghi lại cự ly từ miệng đến ngọn nến. Qua một thời gian tập luyện, lại thử thổi nến đặt xa hơn một chút. Khoảng cách càng dài chứng tỏ DTS càng tiến triển.

Trắc định hiệu số hô hấp ở ngực: dùng thước dây vòng một vòng qua ngang vú, hít vào hết sức rồi đo vòng ngực. Sau lại thở ra hết sức rồi đo vòng ngực. Nếu hiệu số giữa vòng ngực hít vào và vòng ngực thở ra càng lớn thì chứng tỏ công năng của phổi tốt.

Trắc định vòng bụng: đo vòng qua rốn, cách tính và đánh giá cũng tương tự như trên.

Theo suckhoevadoisong