Tag Archives: thoái hóa khớp

Nỗi ám ảnh cho xương khớp mỗi khi thay đổi thời tiết

Nguyên nhân

Theo một nghiên cứu ở Việt Nam, có đến 66% người từ 40 tuổi trở lên mắc nguy cơ thoái hóa khớp, những vị trí thường gặp nhất là cột sống thắt lưng (43%) và khớp gối (35%). Các bệnh về xương khớp có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng thường gặp hơn ở người lớn tuổi, và việc thời tiết thay đổi cũng có liên quan mật thiết đến diễn biến của các bệnh về khớp do sự thay đổi áp suất khí quyển, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Khi trời trở lạnh, áp suất khí quyển giảm xuống, các mô nở ra tạo áp lực cho khớp, độ ẩm tăng góp phần gây nên sưng mỏi khớp. Đồng thời mạch máu bị co lại khi nhiệt độ giảm xuống, khiến máu trong cơ thể lưu thông kém làm chân tay càng đau buốt, tê cứng hơn.

noi-am-anh-cho-xuong-khop-moi-khi-thay-doi-thoi-tiet

Với những người lớn tuổi, khi các tế bào xương dần dần bị lão hóa, các hóc-mon sinh dục giảm thấp, việc hấp thụ canxi và vitamin sút giảm dẫn đến bệnh loãng xương và các nguy cơ của thoái hóa khớp, thì thời tiết xấu lại là điều kiện thuận lợi cho các bệnh về khớp hoành hành. Ngoài ra, những nguyên nhân dẫn đến chứng thoái hóa khớp ở người lớn tuổi như: tình trạng béo phì, yếu tố di truyền, các chấn thương nhẹ nhưng thường hay xảy ra ở khớp… gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động bình thường của cuộc sống hàng ngày. Nếu không được điều trị sớm có thể dẫn đến biến dạng khớp, tràn dịch khớp và phế khớp.

Những khớp nào dễ bị thoái hóa?

Các khớp xương đều có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa cột sống cổ, cột sống thắt lưng, khớp háng, khớp gối. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, sau đó sẽ kéo dài cả ngày, tăng cao khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, gây ảnh hưởng đến thần kinh tọa, làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

Cột sống cổ: Biểu hiện chủ yếu bằng đau cổ, hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động, nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối.

Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn, đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi, cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi.

Chăm sóc sức khỏe các khớp thế nào?

Để hạn chế các nguy cơ về loãng xương và thoái hóa khớp nên có một chế độ sinh họat hợp lý. Thường xuyên tập luyện các khớp xương như: xoay, xoa bóp, đi lại và tập thể dục tùy theo điều kiện mỗi người.

Chế độ ăn uống hàng ngày đóng vai trò quan trọng không kém trong việc cung cấp dưỡng chất cho cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là can-xi và vitamin D giúp xương chắc khỏe. Nhưng thực sự cơ thể chúng ta có được bổ sung đầy đủ chưa?

Theo nghiên cứu, glucosamine được sản xuất tự nhiên trong cơ thể, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng sụn, mô liên kết đệm khớp. Glucosamine tăng cường chất dịch không những làm giảm đau viêm khớp, mà còn ngăn ngừa biến chứng. Trong thức ăn hàng ngày không có nguồn cung cấp chính thành phần quan trọng này, chính vì thế sản phẩm duy trì xương khớp khỏe mạnh của Herbalife – Joint Support Advanced- với các thành phần Glucosamine chiết xuất từ rễ Scutellaria cùng với các khoáng chất như mangan, selen và đồng giúp tăng khả năng tổng hợp sụn khớp, giảm quá trình viêm khớp và hỗ trợ quá trình lão hóa lành mạnh.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh thoái hóa khớp không còn là ám ảnh

Thoái hóa khớp (THK) là một trong những bệnh khớp mạn tính rất thường gặp ở người cao tuổi (NCT) với hiện tượng hư hỏng phần sụn đệm giữa hai đầu xương, kèm theo là phản ứng viêm và giảm thiểu lượng dịch nhày giúp bôi trơn trong khớp. Sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… Bệnh làm giảm chức năng vận động, gây đau đớn, khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Những ai hay bị THK?

THK xảy ra do sự mất cân bằng giữa hai quá trình tái tạo sụn và thoái hóa sụn. Tuổi càng cao thì quá trình tái tạo sụn càng giảm, đồng thời tốc độ thoái hóa sụn tăng lên. Sự mất cân bằng giữa hai quá trình này dẫn tới hiện tượng các tế bào sụn già không được thay thế, khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi collagen và mucopolysaccharid giảm rối loạn. Từ đó, chất lượng sụn giảm dần, tính chất đàn hồi và khả năng chịu lực giảm. THK cũng thường gặp ở người bị các dị dạng bẩm sinh, biến dạng thứ phát sau chấn thương, viêm, u…; người thừa cân béo phì; những người nghề nghiệp phải khuân vác, xách vật nặng thường xuyên. Ngoài ra, những người có cơ địa già sớm, mãn kinh, đái tháo đường, loãng xương, bệnh gut cũng là nguyên nhân gây THK.

benh-thoai-hoa-khop-khong-con-la-am-anh

Khi bị THK, người bệnh có những biểu hiện gì?


Đau là biểu hiện đầu tiên và thường gặp nhất. Người bệnh đau ở vị trí khớp bị thoái hóa, đau âm ỉ, ít khi đau lan (trừ trường hợp thoái hóa cột sống gây chèn ép rễ và dây thần kinh); đau tăng khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Một số ít trường hợp có sưng, nóng, đỏ tại vị trí khớp bị thoái hóa. Người bệnh bị hạn chế vận động chủ động và thụ động tại các khớp bị thoái hóa, mức độ hạn chế không nhiều và có thể chỉ hạn chế ở một số động tác. Các khớp bị biến dạng nhưng không nhiều, nguyên nhân do mọc các gai xương, lệch trục khớp hoặc thoát vị màng hoạt dịch. Ngoài ra, người bệnh có thể bị teo cơ, có tiếng lạo xạo khi vận động, tràn dịch khớp (thường là khớp gối). Chụp Xquang không phải là yếu tố quyết định để chẩn đoán thoái hóa khớp vì có thể có những trường hợp biểu hiện trên phim Xquang nhưng không có triệu chứng lâm sàng hoặc phải một thời gian rất lâu sau đó mới biểu hiện các triệu chứng lâm sàng. Biểu hiện thường là hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, chồi xương, gai xương. Ngoài ra, một số phương pháp chụp đặc biệt có thể phát hiện sớm các tổn thương của sụn khớp, đĩa đệm như: chụp cắt lớp, chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner), chụp Xquang có bơm thuốc cản quang.

Cần phân biệt thoái hóa khớp với viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lao cột sống.

Điều trị và dự phòng THK như thế nào?

Nguyên tắc cơ bản trong phòng và điều trị thoái hóa khớp là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, đặc biệt là ngăn sự thoái hóa của sụn khớp; giảm đau và duy trì khả năng vận động, hạn chế đến mức thấp nhất sự tàn phế cho người bệnh, trong đó, điều trị nội khoa là chủ yếu bằng các thuốc giảm đau chống viêm, thuốc kích thích tế bào sụn, tăng chất nhầy của khớp. Ngoài dùng thuốc, vật lý trị liệu (siêu âm, chiếu tia hồng ngoại, chườm nóng, liệu pháp suối khoáng, đắp bùn, luyện tập chỉnh sửa tư thế…) và châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt đem lại hiệu quả tốt với người bệnh. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc giảm đau chống viêm kéo dài hoặc không đúng cách sẽ gây ra nhiều tác dụng không mong muốn đối với người bệnh, đặc biệt hay gặp là gây viêm loét dạ dày – tá tràng thứ phát nên người bệnh không được tự ý dùng thuốc mà phải có sự thăm khám và chỉ định dùng thuốc của bác sĩ.

Điều trị ngoại khoa: chỉ tiến hành khi điều trị nội khoa không có kết quả, tổn thương khớp quá nặng, có các biến chứng như liệt, teo cơ, rối loạn đại tiểu tiện, người bệnh trên 60 tuổi.
Lời khuyên của thầy thuốc: Để phòng và điều trị bệnh thoái hóa khớp có hiệu quả, cần hướng dẫn người cao tuổi thực hiện các chế độ sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Tránh cho khớp bị quá tải bởi trọng lượng và vận động: duy trì cân nặng hợp lý, tránh các tư thế: đứng lâu; ngồi vẹo lệch, không cân đối. Tập luyện thường xuyên và vừa sức giúp cơ bắp khỏe mạnh, không nên tập vận động quá mạnh hoặc quá lâu. Với người cao tuổi, tốt nhất nên tập thể dục nhẹ nhàng, dưỡng sinh, bơi lội, đạp xe, đi bộ nhẹ nhàng trong khoảng thời gian 20 – 30 phút/ngày. Thực phẩm ăn uống nên đa dạng, giàu protein, vitamin, khoáng chất, đặc biệt là canxi (trứng, sữa, tôm, cua, lươn và các loại nhuyễn thể, các loại quả chín và rau có màu xanh đậm hoặc màu vàng…). Ngoài ra, có thể dùng các loại thuốc có chứa thành phần glucosamin bởi vì glucosamin tham gia quá trình chuyển hóa tổng hợp nên thành phần của sụn khớp.

ThS.BS. Nguyễn Hải Yến
Nguồn sức khỏe đời sống

Hội chứng De Quervain

Đau vùng cổ tay là một dấu hiệu thường gặp, do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó có tình trạng viêm của bao gân cơ dạng dài và duỗi ngắn ngón cái gọi là hội chứng De Quervain. Tình trạng này tương đối thường gặp và gây nên những biểu hiện đau của vùng cổ tay và phần dưới cẳng tay ngay phía trên ngón cái.

Thế nào là hội chứng De Quervain?

Hội chứng De Quervain ảnh hưởng đến hai gân chi phối vận động ngón cái, đó là gân cơ duỗi ngắn ngón cái và gân cơ dạng dài ngón cái. Hai gân này chi phối hai động tác rất quan trọng của ngón cái là duỗi và dạng ngón cái. Khi thực hiện động tác, hai gân này trượt đi trượt lại dọc theo bờ bên của khớp cổ tay. Ở vùng cổ tay, cả hai gân trượt trong một đường hầm nằm sát đầu dưới của xương quay. Chính vì vậy, một số trường hợp chẩn đoán nhầm với viêm mỏm trâm quay. Đường hầm này có tác dụng giữ cho gân và chuyển hướng lực thực hiện động tác.

Hai gân trượt trong đường hầm được bao bọc bởi bao hoạt dịch gân, có tác dụng làm trơn để hai gân trượt được dễ dàng. Tình trạng viêm của bao hoạt dịch gân và gân dẫn đến hạn chế vận động của gân trong đường hầm gọi là hội chứng De Quervain.

hoi-chung-de-quervain

Gân tay bình thường (trên) – Gân tay bị viêm (dưới)

Những dấu hiệu nào cần nghĩ đến bệnh?

Khởi đầu, có thể chỉ là các biểu hiện khó chịu của ngón cái, ngay vị trí cổ tay, có thể là đau. Nếu không được điều trị, triệu chứng đau có thể lan lên cẳng tay và lan xuống ngón cái. Khi tình trạng ma sát tăng lên, hai gân này có thể cọ xát vào nhau khi di chuyển trong đường hầm dẫn đến các tiếng “lục cục”. Nếu tình trạng này tiếp tục, có thể sẽ có biểu hiện sưng nề nhẹ vùng cổ tay dọc theo đường hầm, các động tác của ngón cái sẽ bị hạn chế do đau.

Tại sao lại bị tổn thương này?

Những động tác lặp lại nhiều lần như cầm, nắm, xoay, vặn của cổ tay và ngón cái sẽ là điều kiện thuận lợi để tiến triển tổn thương này. Tình trạng viêm của bao hoạt dịch gân trong đường hầm sẽ dẫn đến sưng nề, cản trở vận động của gân. Các tình trạng tổn thương viêm khớp như thấp khớp, thoái hoá sẽ ảnh hưởng đến tình trạng viêm của bao gân và gân ngón cái. Một số yếu tố thuận lợi khác như chấn thương dẫn đến hình thành các sẹo cũng ảnh hưởng đến sự trượt của gân này.

Làm thế nào có thể cải thiện triệu chứng đau?

Điều trị nội khoa: Nếu có thể, bạn nên ngừng lại tất cả các động tác gây đau. Nên có thời gian nghỉ giữa chừng nếu bạn phải thực hiện các động tác lặp đi lặp lại của cổ tay. Tránh những động tác phải sử dụng cổ tay lặp đi lặp lại như nắm, duỗi, cầm, xoắn… Nên để cổ tay ở tư thế trung gian. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn mang nẹp để bất động cổ và bàn tay. Nẹp này cho phép bàn tay bạn nghỉ ngơi, tạo thuận lợi để cải thiện các triệu chứng viêm. Các thuốc điều trị có thể giúp kiểm soát triệu chứng viêm và các triệu chứng đau. Những thuốc này có thể là các thuốc chống viêm giảm đau thông thường như ibuprofen và aspirin.

Nếu các biện pháp này không cải thiện, bác sĩ có thể sẽ đề nghị với bạn kế hoạch điều trị tiêm corticoid tại chỗ vào đường hầm. Thuốc này có tác dụng giảm viêm tại chỗ và có thể cải thiện triệu chứng ngay lập tức.

Việc tập phục hồi chức năng là cần thiết, mục đích chính là giảm hoặc loại trừ nguyên nhân gây viêm gân. Bác sĩ phục hồi chức năng có thể kiểm tra lại công việc của bạn, cách thức bạn sử dụng cổ và bàn tay khi làm việc và gợi ý cho bạn về việc sử dụng cổ tay và bàn tay đúng và hợp lý, tránh tư thế xấu, các động tác để tập luyện và các cách để ngăn ngừa triệu chứng tái phát.

Phẫu thuật: Nếu tất cả các biện pháp trên không hiệu quả, bạn có thể cần đến can thiệp phẫu thuật. Mục tiêu của phẫu thuật là tạo ra nhiều không gian hơn cho gân hoạt động để gân không bị cọ xát vào đường hầm nữa. Phẫu thuật này có thể thực hiện dưới gây mê toàn thân hoặc tại chỗ. Bác sĩ sẽ thực hiện đường rạch mở đường hầm để loại bỏ tất cả tổ chức xơ bên trong đường hầm và tạo ra nhiều khoảng trống để gân di chuyển.

Các biện pháp phục hồi chức năng

Nếu không cần can thiệp phẫu thuật, triệu chứng của bạn sẽ cải thiện trong vòng 4 -6 tuần. Bạn có thể phải đeo nẹp tiếp tục và hạn chế các vận động có hại đến cổ và bàn tay.

Phục hồi chức năng sau phẫu thuật đóng vai trò quan trọng. Quá trình này có thể kéo dài vài tháng. Đau và các triệu chứng toàn thân sẽ cải thiện sau phẫu thuật nhưng việc sưng nề sẽ còn kéo dài vài tháng sau mổ. Cắt chỉ sau 14 ngày, luôn giữ tay cao trong thời gian sau mổ. Cử động cổ và bàn tay thường xuyên. Sau mổ, bạn có thể tham gia phục hồi chức năng. Các bài tập chủ động thường bắt đầu sau khi cắt chỉ và là các bài tập tăng dần biên độ và sức mạnh của các cơ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Món ăn bài thuốc chữa đau khớp

Viêm khớp có thể do chấn thương, do sử dụng quá mức ổ khớp, do bệnh lý hoặc do tuổi già (lão hóa)… Thường người bệnh có các triệu chứng như: sưng, đỏ, nóng, đau, cứng khớp và giới hạn biên độ hoạt động của khớp.

Có nhiều bệnh lý viêm khớp nhưng thường thấy là thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp… Với người viêm khớp cần giảm cân (nếu đang dư cân) vì dư cân khiến tăng lực chịu đựng lên các khớp, nhất là với những bệnh nhân thoái hóa khớp. Bỏ thuốc lá cũng là một yêu cầu đối với bệnh nhân viêm khớp. Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ tăng bệnh viêm khớp dạng thấp gấp hai lần người không hút.

Dưới đây là một số món ăn, bài thuốc dùng cho người viêm khớp, viêm đa khớp. Cần tham khảo ý kiến nhà chuyên môn trước khi dùng.

dau-khop

Món ăn

– Lươn tẩm rượu, sấy: Chọn lươn con lớn, cùng một ít rượu. Lươn làm sạch, bỏ ruột, cho rượu vào lươn đảo đều, sau đó sấy khô, tán nhỏ thành bột cất đi sử dụng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 15g trộn với 2 thìa canh rượu để dùng.

– Dùng xương bò 60g, sừng linh dương 60g, thược dược phiến 60g, rượu trắng 100g. Xương bò tán nhỏ, rồi cùng các vị thuốc trên cho vào trong túi vải để ngâm trong rượu trắng sau 10 ngày lấy ra uống. Ngày uống 1 lần, mỗi lần một cốc 30 ml.

– Lộc nhung, câu kỷ tử: Dùng 5g lộc nhung (nhung hươu), câu kỷ tử 20g, rượu trắng 1 lít. Cho nhung hươu và câu kỷ tử vào rượu trắng ngâm trong bình đậy kín nắp, sau một tuần là sử dụng được. Mỗi ngày uống 1 lần, mỗi lần độ 30 – 40 ml, cứ 15 ngày là một liệu trình.

– Dùng một ít đu đủ, mễ nhân sống 30g, hai thứ rửa sạch cho vào nồi nhỏ, đổ vào một chén nước, để nhỏ lửa nấu khi thấy mễ nhân chín mềm thì cho vào một ít đường trắng. Dùng một thời gian dài.

– Dùng nửa kg thịt dê, 200g cà rốt, các gia vị vừa đủ. Cà rốt và thịt dê rửa sạch thái miếng, thịt dê đem ướp gừng tươi, rồi xào trong chảo dầu nóng độ 5 phút, sau đó cho vào chút rượu, nước tương, gia vị và nước vừa đủ, nấu đến chín mềm. Sau đó lại cho vào nồi đất cùng vỏ quýt và 3 chén nước, nấu với lửa lớn đến sôi thì hạ nhỏ lửa, nấu đến khi thật nhừ, lấy ra dùng kèm trong bữa cơm.

Bài thuốc

Bài thuốc gồm các vị: hi thiêm thảo 30g, hải đồng bi 30g, nhẫn đông đằng 30g, tang chi (cành dâu tằm) 30g, kê huyết đằng 15g, tần giao 10g, tri mẫu 10g, cát căn 10g, sinh ý mễ 30g, phòng kỷ 10g. Cho tất cả vào nồi cùng nước vừa đủ, nấu sôi 20 phút, rồi sắc lại còn 300 ml, chia làm hai lần dùng trong ngày, uống lúc còn nóng ấm.

Hoặc dùng bài thuốc gồm: sinh toàn yết 60g, tam thất 30g, địa long 90g, sinh hắc đậu 60g hạt, xuyên ô 15g, xạ hương 3g (nghiền nhỏ, bỏ vào sau). Tất cả nghiền thành bột mịn dùng hồ gạo làm thành viên hoàn to bằng hạt đậu xanh, mỗi ngày uống 2 lần (sáng, chiều) mỗi lần 7 đến 10 viên hoàn, dùng với nước ấm.

( Theo Thanhnien.com.vn)

Thoái hóa khớp bàn tay và cách phòng ngừa

Người xưa có câu “giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.  Bàn tay rất khéo léo, linh hoạt và là một công cụ lao động vô cùng hiệu quả. Tuy nhiên, thoái hóa khớp bàn tay (THKBT) là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người có tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. Ở Việt Nam, THKBT chiếm tỷ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí thoái hóa khớp thường gặp.

Thoái hóa khớp thường đi kèm với tuổi tác

thoai-hoa-khop

Tuổi trung bình của bệnh nhân THKBT là 60 – 65 tuổi. Tuy nhiên, từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THKBT. Tỷ lệ THK tăng dần theo tuổi, cao hơn ở nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 – 79 tuổi. Tuổi cao là yếu tố nguy cơ cao nhất của THK, có thể nói rằng tuổi càng cao, lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hóa sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp. Ngoài ra, người già vẫn phải làm việc thêm để kiếm sống, chăm lo các công việc trong gia đình như giặt giũ, bế cháu, các công việc nội trợ khác, họ lao động chân tay là chủ yếu, tạo điều kiện cho THK phát triển. Thứ hai, bệnh cũng thường gặp ở nữ giới (75%). Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi hormon như estrogen, dẫn đến thay đổi tế bào sụn khớp. Thứ ba, những người béo phì cũng dễ bị THKBT. Có tới 1/3 bệnh nhân THKBT bị béo phì. Thứ tư là THKBT thường xuất hiện sau một số bệnh lý bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường…

Dấu hiệu của THKBT thế nào?

Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn, vì đa số trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất, do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất như khi cầm,  nắm, mang, vác, hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay thì khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan đến việc sử dụng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm nắm đồ vật của bàn tay, do đó dễ bị tổn thương hơn. Hiện nay, người ta đã chứng minh vai trò chắc chắn của yếu tố nghề nghiệp trong THK gốc ngón tay cái ở phụ nữ. Người bệnh than phiền đau khớp bàn tay 1 bên hoặc cả 2 bên, đau kiểu cơ học, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng lên khi mặc quần áo, khi cài Tkhuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào ly và đỡ đau khi nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 – 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở nên khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo khi cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ. Ở các giai đoạn muộn, 1/3 số người bệnh có các ngón tay bị biến dạng. Đó là do sự có mặt của các chồi xương, mọc ở khớp ngón xa (hạt Heberden) hay ở khớp ngón gần (hạt Bouchad), gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Khoảng 50% số bệnh nhân THKBT gặp khó khăn khi thực hiện các công việc tự chăm sóc bản thân, nội trợ và các công việc trong sinh hoạt hàng ngày khác như chải đầu, giặt giũ, mặc quần áo, ăn, uống, chăm sóc con cháu, bế cháu. Có 4 dấu hiệu cơ bản của THKBT là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương. Có thể chụp thêm Xquang bàn tay để chẩn đoán xác định.

Làm gì để phòng THKBT?

Cần tránh lao động, mang vác nặng. Không nên sử dụng đôi tay trong thời gian liên tục, quá dài.  Các thành viên trong gia đình và cộng đồng xã hội nên quan tâm, chia sẻ bớt gánh nặng của người cao tuổi. Tăng cường việc sử dụng máy móc hỗ trợ cho lao động và sinh hoạt nếu có thể. Việc phát hiện sớm THK bàn tay là cần thiết, vì sẽ giúp điều trị sớm, giảm thiểu các hậu quả của bệnh. Khi có các dấu hiệu như đau khớp bàn tay, biến dạng khớp hay cứng khớp buổi sáng, hạn chế vận động bàn tay thì nên đến khám chuyên khoa xương khớp để được tư vấn và điều trị kịp thời.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc

Theo sức khỏe đời sống

Thoái hóa khớp bàn tay và cách phòng ngừa

Người xưa có câu “giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.  Bàn tay rất khéo léo, linh hoạt và là một công cụ lao động vô cùng hiệu quả. Tuy nhiên, thoái hóa khớp bàn tay (THKBT) là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người có tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. Ở Việt Nam, THKBT chiếm tỷ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí thoái hóa khớp thường gặp.

Thoái hóa khớp thường đi kèm với tuổi tác
tay-binh-thuong-va-tay-bi-viem-khop-97f4d
Tuổi trung bình của bệnh nhân THKBT là 60 – 65 tuổi. Tuy nhiên, từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THKBT. Tỷ lệ THK tăng dần theo tuổi, cao hơn ở nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 – 79 tuổi. Tuổi cao là yếu tố nguy cơ cao nhất của THK, có thể nói rằng tuổi càng cao, lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hóa sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp. Ngoài ra, người già vẫn phải làm việc thêm để kiếm sống, chăm lo các công việc trong gia đình như giặt giũ, bế cháu, các công việc nội trợ khác, họ lao động chân tay là chủ yếu, tạo điều kiện cho THK phát triển. Thứ hai, bệnh cũng thường gặp ở nữ giới (75%). Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi hormon như estrogen, dẫn đến thay đổi tế bào sụn khớp. Thứ ba, những người béo phì cũng dễ bị THKBT. Có tới 1/3 bệnh nhân THKBT bị béo phì. Thứ tư là THKBT thường xuất hiện sau một số bệnh lý bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường…

Dấu hiệu của THKBT thế nào?

Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn, vì đa số trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất, do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất như khi cầm,  nắm, mang, vác, hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay thì khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan đến việc sử dụng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm nắm đồ vật của bàn tay, do đó dễ bị tổn thương hơn. Hiện nay, người ta đã chứng minh vai trò chắc chắn của yếu tố nghề nghiệp trong THK gốc ngón tay cái ở phụ nữ. Người bệnh than phiền đau khớp bàn tay 1 bên hoặc cả 2 bên, đau kiểu cơ học, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng lên khi mặc quần áo, khi cài Tkhuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào ly và đỡ đau khi nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 – 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở nên khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo khi cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ. Ở các giai đoạn muộn, 1/3 số người bệnh có các ngón tay bị biến dạng. Đó là do sự có mặt của các chồi xương, mọc ở khớp ngón xa (hạt Heberden) hay ở khớp ngón gần (hạt Bouchad), gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Khoảng 50% số bệnh nhân THKBT gặp khó khăn khi thực hiện các công việc tự chăm sóc bản thân, nội trợ và các công việc trong sinh hoạt hàng ngày khác như chải đầu, giặt giũ, mặc quần áo, ăn, uống, chăm sóc con cháu, bế cháu. Có 4 dấu hiệu cơ bản của THKBT là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương. Có thể chụp thêm Xquang bàn tay để chẩn đoán xác định.

Thoái hóa khớp bàn tay và cách phòng ngừa 2Người cao tuổi tránh bê vật nặng để phòng thoái hóa khớp bàn tay.

Làm gì để phòng THKBT?

Cần tránh lao động, mang vác nặng. Không nên sử dụng đôi tay trong thời gian liên tục, quá dài.  Các thành viên trong gia đình và cộng đồng xã hội nên quan tâm, chia sẻ bớt gánh nặng của người cao tuổi. Tăng cường việc sử dụng máy móc hỗ trợ cho lao động và sinh hoạt nếu có thể. Việc phát hiện sớm THK bàn tay là cần thiết, vì sẽ giúp điều trị sớm, giảm thiểu các hậu quả của bệnh. Khi có các dấu hiệu như đau khớp bàn tay, biến dạng khớp hay cứng khớp buổi sáng, hạn chế vận động bàn tay thì nên đến khám chuyên khoa xương khớp để được tư vấn và điều trị kịp thời.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc

(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)

Điều trị thoái hóa khớp an toàn bằng thảo dược

Thoái hóa khớp là bệnh viêm khớp mạn tính. Trước đây, người ta xem nó là căn bệnh của người cao tuổi. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy, có rất nhiều người dưới 40 tuổi cũng bị thoái hóa khớp. Theo thống kê, hiện có khoảng 30% người trên 35 tuổi, 60% người trên 65 và 85% người trên tuổi 80 có nguy cơ mắc thoái hóa khớp. Trong đó, khoảng 2/3 số bệnh nhân là phụ nữ. Sau tuổi 45, tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao hơn nam giới (gấp khoảng 1,5- 2 lần).

thoai-hoa-khop

Thoái hóa khớp thường xảy ra ở các khớp lớn, chịu lực như: cột sống thắt lưng, cột sống cổ, khớp gối, khớp háng… Nguyên nhân gây bệnh là do quá trình lão hóa của cơ thể, chấn thương, béo phì hoặc khớp phải chịu trọng tải lớn trong thời gian dài (lao động quá sức, mang vác nặng, làm việc sai tư thế). Hiếm gặp hơn là các nguyên nhân như di truyền hay khiếm khuyết bẩm sinh về xương khớp.
Thoái hóa khớp thường tiến triển chậm. Vào giai đoạn khởi phát, người bệnh chỉ cảm thấy đau nhức sau một vài động tác nhỏ. Một số trường hợp còn không cảm thấy đau đớn ở giai đoạn này. Thông thường, bệnh nhân có các biểu hiện đau âm ỉ ở phần tiếp nối giữa hai đầu xương và cứng khớp, sưng tấy tại một hoặc nhiều khớp, xuất hiện tiếng lạo xạo khi co duỗi khớp gối, càng vận động càng đau nhiều. Trường hợp nặng, khớp có thể biến dạng, sưng hoặc lệch trục kiểu vòng kiềng hoặc kiểu chân chữ X, thậm chí bị liệt.

Hiện nay đã có những phương pháp điều trị cũng như ngăn ngừa biến chứng do thoái hóa khớp (dùng thuốc, vật lý trị liệu, phẫu thuật…) Tuy nhiên mỗi một phương pháp điều trị đều có những ưu nhược điểm riêng.

Vì vậy, vấn đề cấp bách là cần nâng cao sự hiểu biết cho cộng đồng về căn bệnh này. Các chuyên gia khuyến cáo, việc chẩn đoán và điều trị sớm, đúng cách thoái hóa khớp sẽ giúp giảm thiểu đáng kể cơn đau và nguy cơ tàn phế, cải thiện vận động khớp. Với trường hợp nhẹ, nên áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như chườm nóng, chiếu đèn hồng ngoại, dùng máy phát sóng ngắn hay siêu âm, xung điện giảm đau. Lúc đau nhiều, bệnh nhân cần nghỉ ngơi, tránh cho khớp phải hoạt động, kết hợp với dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ. Bên cạnh đó, bệnh nhân có thể sử dụng các thuốc thảo dược đắp ngoài da đã được nghiên cứu chứng minh tác dụng điều trị hiệu quả thoái hóa khớp và an toàn khi dùng lâu dài.

Theo gia đình

Những kỳ vọng vào kỹ thuật thay khớp

Thời gian và tuổi tác lấy dần đi tuổi trẻ và sức khỏe của con người, thoái hóa khớp cũng không nằm ngoài quy luật. Sự phát triển của nhiều lĩnh vực y học đang giúp cho con người trẻ lâu hơn, sống thọ hơn, trong đó những tiến bộ phẫu thuật thay khớp đang làm thay đổi rõ rệt chất lượng sống của người bệnh.

Vận động là nhu cầu không thể thiếu của con người

Đồng thời với sự tăng cao của tuổi thọ, sự gia tăng các bệnh lý liên quan đến yếu tố tuổi già ngày càng tăng như tim mạch, hô hấp, các bệnh lý thần kinh… và bệnh lý khớp. Sự lão hóa của khớp ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống con người: gây nên đau đớn, ảnh hưởng đến việc đi lại từ mức độ đi lại khó khăn cho đến không đi lại được, gây biến dạng chi ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Phục hồi lại khả năng vận động của khớp và cải thiện các triệu chứng là mong mỏi của không chỉ bệnh nhân mà của cả các bác sĩ. Việc phòng ngừa, phát hiện sớm nhằm kéo dài tuổi thọ của các khớp bằng các biện pháp nội khoa, vật lý trị liệu, thay đổi lối sống… là cần thiết nhưng khi tổn thương thoái hóa của khớp quá nặng gây biến dạng và ảnh hưởng đến việc đi lại, sinh hoạt và làm việc của bệnh nhân thì phẫu thuật thay thế các khớp là giải pháp được cân nhắc lựa chọn. Kể từ khi những ca phẫu thuật thay khớp đầu tiên được thực hiện cho đến nay, phẫu thuật thay khớp không ngừng có những cải tiến, giúp cho người bệnh có cuộc sống khỏe mạnh và có chất lượng.

nhung_ky_vong_vao_ky_thuat_thay_khop

Khớp nhân tạo thế hệ mới

Những hy vọng đầu tiên về thế hệ khớp nhân tạo

Những thế hệ khớp nhân tạo đầu tiên có thể kể đến là chỏm Moore. Chỏm làm bằng kim loại đầu tiên do bác sĩ Austin Moore thực hiện năm 1940. Chỏm Moore có thể coi là thế hệ khớp đầu tiên, có cấu trúc đơn giản, tương tự như chỏm xương đùi, gọi là thế hệ chỏm đơn cực. Tuổi thọ của chỏm Moore rất ngắn, khoảng 3 – 5 năm, tuy nhiên, ở vào thời điểm đó, sự ra đời của chỏm Moore đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống một cách đáng kể cho các bệnh nhân. Về sau này, các khớp nhân tạo có cấu trúc đa cực, giúp cho việc cải thiện biên độ vận động của bệnh nhân tốt hơn. Những hiểu biết về động học, giải phẫu của khớp đã giúp tạo ra các thế hệ khớp tốt hơn, dễ thao tác phẫu thuật hơn, phù hợp hơn với cơ thể người bệnh và giúp cho khả năng vận động của bệnh nhân sau phẫu thuật tăng cao hơn.

nhung_ky_vong_vao_ky_thuat_thay_khop2

Khớp nhân tạo mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh

Làm thay đổi chất lượng sống của nhiều người bệnh

Để thực hiện phẫu thuật thay khớp, phải can thiệp vào phần mềm quanh khớp và đây chính là yếu tố làm kéo dài sự khó chịu sau phẫu thuật. Trong quá khứ, để thực hiện phẫu thuật thay khớp háng, phải sử dụng đường rạch có thể dài 12 cho đến 20cm nhưng xu thế hiện nay, với sự hỗ trợ của trang thiết bị kỹ thuật, việc phẫu thuật được thực hiện với các đường mổ tối thiểu < 6cm, đảm bảo can thiệp ít nhất có thể vào phần mềm xung quanh, giúp cho sự hồi phục sau phẫu thuật của bệnh nhân nhanh hơn. Bên cạnh đó, để đảm bảo độ chính xác của vị trí khớp nhân tạo so với khớp bình thường của bệnh nhân, các công cụ hỗ trợ khác ra đời như hệ thống định vị (navigation) giúp phẫu thuật có thể đạt đến độ chính xác gần như tuyệt đối.

Cùng với sự hỗ trợ của chuyên ngành gây mê hồi sức và chống đau, phẫu thuật thay khớp đã có những tiến bộ không ngừng nhằm đạt đến mong muốn của cả bệnh nhân và bác sĩ là có được khả năng vận động gần như khớp tự nhiên của bệnh nhân. Nhiều bệnh nhân cao tuổi vẫn có thể vượt qua cuộc phẫu thuật thay khớp háng, khớp gối một cách dễ dàng, sống thọ hơn và có ý nghĩa hơn.

Cuộc cách mạng về vật liệu khớp nhân tạo

Việc kết nối giữa khớp nhân tạo và xương bệnh nhân có thể bằng xi măng sinh học hoặc bằng công nghệ không xi măng. Công nghệ không xi măng đòi hỏi cấu trúc bề mặt của khớp nhân tạo phải được bao phủ bằng một chất liệu đặc biệt hoặc có cấu trúc đặc biệt giúp cho tổ chức xương có thể phát triển vào và do đó tạo nên sự liên kết chặt chẽ và lâu bền giữa khớp nhân tạo và xương của bệnh nhân. Vật liệu khớp chuyển từ vật liệu thép ở giai đoạn đầu sang vật liệu titan, giúp cho khả năng tương thích cơ thể người bệnh tốt hơn đồng thời kéo dài tuổi thọ của khớp. Bề mặt tiếp xúc của khớp nhân tạo chuyển từ “nhựa với kim loại” sang “gốm với gốm” hoặc “kim loại với kim loại” để gia tăng khả năng chống mài mòn cho khớp. Với những cải tiến này, tuổi thọ của khớp có thể kéo dài đến 30 năm hoặc lâu hơn nữa.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Thoái hóa cột sống: Cách khống chế cơn đau

Thoái hóa cột sống (THCS) là một bệnh rất phổ biến, gặp cả ở nam và nữ giới. Bệnh xuất hiện ở người có độ tuổi từ 35 trở lên, nhưng đặc biệt hay gặp ở những người cao tuổi. Thoái hóa cột sống là tổn thương mạn tính dạng thoái hóa của các thân đốt sống và đĩa đệm nằm giữa các đốt sống, cùng các dây chằng cột sống. Cột sống có 4 đoạn là cột sống cổ, cột sống ngực, cột sống thắt lưng và đoạn xương cùng cụt. Hai đoạn cột sống hay bị thoái hóa nhất là cột sống cổ và cột sống thắt lưng, là những vùng linh hoạt nhất của cột sống nhưng hay phải chịu tải trọng và phải hoạt động nhiều nhất.

Đặc điểm tổn thương thoái hóa cột sống

Trong THCS gây tổn thương tất cả các cấu trúc cột sống. Tuy nhiên, đĩa đệm nằm giữa hai thân đốt sống bị tổn thương đầu tiên. Đĩa đệm giống như một cái gối, tạo thành từ vỏ xơ bọc nhân nhày bên trong. Đĩa đệm có tác dụng như một bộ giảm sóc, giảm tải lên đốt sống và làm cho cột sống có thể thực hiện nhiều động tác như cúi, ngửa, nghiêng, xoay. Đĩa đệm cũng phải hứng chịu nhiều tác động cơ học có hại như ngã, mang vác nặng, tập thể thao nặng như tạ, thể thao đối kháng, do vậy từ độ tuổi ngoài 30, đĩa đệm bắt đầu bị thoái hóa. Khi đĩa đệm bị thoái hóa, nhân nhày sẽ bị mất nước, vòng sợi bao quanh nhân nhày bị rách, đĩa đệm bị thoát vị, đĩa đệm bị xẹp xuống dưới sức nặng của cơ thể cũng như khi mang vác vật nặng. Đĩa đệm có thể thoát vị ra phía sau thân đốt sống, gây chèn ép thần kinh, gây đau và ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng đi lại cũng như sinh hoạt hàng ngày của người bệnh. Thân đốt sống cũng bị ảnh hưởng, bao gồm mâm đốt sống bị xơ, rìa mâm sống mọc ra các gai xương. Ngoài ra, cả cơ cạnh cột sống cũng bị co cứng, dây chằng cạnh cột sống cũng bị co kéo quá mức, làm cho cột sống bị biến dạng, thường bị vẹo về một phía.

thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_con_dau

Hình ảnh thoái hóa khớp cột sống

Những yếu tố đẩy nhanh quá trình thoái hóa cột sống

Thoái hóa khớp cột sống là một bệnh lý thường gặp ở người cao tuổi, liên quan đến quá trình lão hóa của hệ thống vận động, cơ xương khớp. Tuy nhiên có nhiều yếu tố khiến quá trình thoái hóa khớp xảy ra nhanh hơn. Đó là các yếu tố di truyền, yếu tố phát triển cơ thể và yếu tố môi trường. Các yếu tố này thường kết hợp, đan xen với nhau một cách chặt chẽ, tạo thành một vòng xoáy bệnh lý, làm cho thoái hóa khớp cột sống thường xảy ra sớm hơn, tiến triển nhanh hơn, có thể để lại những hậu quả nặng nề. Nếu một người có bố mẹ bị thoái hóa khớp thì người đó cũng dễ bị thoái hóa khớp hơn. Điều kiện sống khó khăn, ăn uống không đầy đủ khiến cơ thể không có đủ chất dinh dưỡng để xây dựng khung xương, khớp của mình một cách đầy đủ. Lao động nặng từ bé hay làm việc quá sức, mang vác vật nặng; tập các loại thể thao nặng, đối kháng, hay chế độ tập luyện không hợp lý cũng làm tăng tải trọng lên khớp và làm cho khớp bị thoái hóa sớm. Ngược lại tình trạng ít vận động kéo dài như các công việc đòi hỏi phải đứng quá lâu, ngồi quá nhiều hoặc luôn phải làm việc ở một tư thế gò bó, ít thay đổi cũng là yếu tố nguy cơ gây thoái hóa cột sống vì cơ cạnh cột sống không được luyện tập sẽ yếu đi, không hỗ trợ được cho cột sống, khiến cột sống phải hứng chịu toàn bộ tải trọng của cơ thể.

Biểu hiện của thoái hóa cột sống

Triệu chứng của thoái hóa cột sống rất đa dạng. Thường bệnh nhân hay có dấu hiệu đau cột sống cấp tính hay mạn tính, kèm theo hạn chế vận động cột sống. Bệnh nhân cúi xuống hoặc quay nghiêng sang bên khó khăn. Cột sống bị biến dạng như cong, vẹo. Cơ cạnh cột sống hay thậm chí cơ chân có thể bị teo đi. Ngoài ra tùy theo vùng cột sống cổ hay thắt lưng bị thoái hóa mà có những triệu chứng đặc trưng. Đối với thoái hóa cột sống thắt lưng, có ba thể lâm sàng tùy thuộc vào mức độ tổn thương của đĩa đệm.

Thể thứ nhất là đau lưng cấp tính. Thường gặp ở nam giới trong độ tuổi 30 – 40. Đau thắt lưng xuất hiện sau một động tác mạnh, quá mức, đột ngột và trái tư thế. Bệnh nhân có tư thế chống đau như lom khom, vẹo cột sống. Đau thắt lưng có thể khỏi dần sau 1 – 2 tuần.

Thể thứ hai là đau thắt lưng mạn tính, thường xuất hiện ở lứa tuổi trên 40. Đau âm ỉ vùng thắt lưng, hay bị tái phát. Đau thắt lưng mạn tính do đĩa đệm thoái hóa nhiều, sức căng phồng đàn hồi kém, chiều cao giảm, do đó giảm khả năng chịu lực, đĩa đệm có phần lồi ra phía sau kích thích các nhánh thần kinh.

Thể thứ ba là đau thắt lưng, kết hợp với đau thần kinh tọa một bên hay hai bên. Biểu hiện bệnh là đau cột sống thắt lưng, lan xuống mông, mặt sau ngoài đùi, khoeo, cẳng chân, có thể lan xuống tận gót chân hay các ngón chân. Như vậy nếu bạn thấy những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên, dáng đi không bình thường, vẹo lưng hoặc còng lưng, đi lom khom, kèm cảm giác khó chịu, bực bội thì có thể bạn đã bị thoái hoá cột sống. Nếu bị thoái hóa cột sống cổ thì đau chủ yếu ở vùng cổ gáy. Đau có thể lan lên phía sau đầu hay thậm chí đau phía hốc mắt. Bệnh nhân có thể thấy nuốt khó, thường được hay chẩn đoán nhầm là loạn cảm họng. Khi có dấu hiệu chèn ép rễ thần kinh cánh tay thì bệnh nhân có thể thấy đau cột sống cổ lan xuống vai, tay. Cảm giác khó chịu khiến bệnh nhân mất ăn, mất ngủ, gầy sút và có tâm lý buồn chán, trầm cảm, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và công việc. Thoái hóa cột sống cổ thường tiến triển thành từng đợt, tuy nhiên nếu để lâu không được chú ý điều trị có thể để lại các biến chứng đáng tiếc như đau, yếu, tê bì, teo cơ tay, do tổn thương các rễ thần kinh cổ chi phối cánh tay. Một số bệnh nhân có thể bị liệt khi bị chèn ép tủy cổ.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Nên vận động hợp lý để bảo vệ khớp

Ở khớp khỏe mạnh, sụn hoạt động như một tấm đệm giảm xóc, cung cấp chất nhầy có độ trơn hơn 20 lần so với mặt băng trượt để các đầu xương không ma sát vào nhau. Tuy nhiên, trong sinh hoạt hàng ngày chúng ta có những thói quen như: bẻ các khớp tay, vặn đốt sống lưng, tư thế ngồi làm việc không đúng cách… gây tổn thương ở khớp.

Để tránh vi chấn thương dẫn đến phiền phức từ các gai xương gây ra, chúng ta cần có một chế độ vận động thích hợp và tránh những động tác sau đây:

nen_van_dong_hop_ly_de_bao_ve_khop

Không tạo thói quen bẻ khớp:

Nhiều người có thói quen bẻ khớp ngón tay chân, vặn cột sống cổ, lưng tạo ra những tiếng lốp rốp.Tiếng kêu khi vặn các khớp được sinh ra khi có sự va chạm mạnh của hai đầu sụn khớp tiếp giáp nhau, lúc đó sẽ xuất hiện một lực tác động lên bề mặt sụn hoặc đĩa đệm. Những va chạm này đang âm thầm gây ra các vi chấn thương lên tế bào sụn. Khi có sự tích lũy nhiều vi chấn thương trên cùng một ổ khớp thì sẽ làm mất dần chất sụn ở khớp. Mỗi lần vặn, bẻ như thế đem lại cho ta cảm giác dễ chịu hơn, nhưng ngược lại chính điều này cũng tạo ra những lực phá hủy  khớp.

Muốn tạo cho khớp cảm giác thoải mái mà vẫn tránh được vi chấn thương thì chỉ cần cử động khớp qua lại nhẹ nhàng đến góc độ tối đa mà không gây đau, không tạo ra tiếng lạo xạo là được, vì động tác đơn giản này đã góp phần tăng lưu lượng máu đến mô, tạo ra sự dễ chịu mà vẫn tránh được hiện tượng dính khớp và vi chấn thương.

Đi, đứng phải đúng cách:

Với những người có tiền sử và mắc bệnh khớp không nên đứng quá lâu hay đi giày cao gót thường xuyên; không lên cầu thang bộ nhiều lần hoặc đi bộ liên tục hơn 45 phút. Với những người luyện tập cũng không nên luyện tập quá sức sẽ làm khớp tổn thương. Nếu hàng ngày trong cách đi đứng, luyện tập luôn tạo một áp lực mạnh tác động lên khớp gối và gót chân, lâu ngày sẽ gây thoái hóa  khớp gối và gai gót dẫn đến đau và làm viêm cân gan bàn chân.

Không nên tắm quá lâu, nằm ngủ trực tiếp trên nền gạch vì nền gạch lạnh, môi trường có độ ẩm cao, nhiệt độ thấp sẽ gây co cơ, hẹp khe khớp tăng nguy cơ tạo vi chấn thương.

Chọn tư thế ngồi hợp lý:

Ngồi xổm được gọi là tư thế xấu vì khớp gối sẽ bị tăng lực nén. Bởi vậy phải hạn chế hoạt động ở tư thế này. Khi ngồi làm việc trên ghế văn phòng phải giữ lưng cho thẳng và nên chọn ghế có phần tựa cho cột sống thắt lưng để giảm tối đa lực ép lên đĩa đệm.

Khi lái ô tô, xe máy đường dài thường xuất hiện cảm giác mỏi lưng, đau lưng là do lực chấn động tác dụng liên tục và nhiều nhất lên cột sống. Để giảm lực chấn động này, cần mang đai thắt lưng và ngồi thẳng trục lưng cổ và đầu.

Chọn tư thế lao động:

Khi vắt quần áo cần làm với lực vừa phải, không cố hết sức vì khi đó khớp cổ tay hai bên chịu lực lớn  gây căng cơ dễ gây đau, gây thoái hóa khớp và hội chứng ống cổ tay.

Khi cần lấy đồ vật ở xa không nên với vì gây ra căng cơ, dễ trật khớp và cũng dễ tạo ra vi chấn thương lên ổ khớp. Trong lúc khiêng vác vật nặng cần chú ý ôm sát vật vào người và toàn bộ trọng tâm của cơ  thể phải ở chính giữa hai lòng bàn chân, để lực tác dụng được chia đều trên các đĩa đệm đốt sống, có như vậy mới tránh được những tổn thương khớp.

Lưu ý: Cần tập thể dục điều độ, hạn chế ăn nhiều chất béo, ngọt, giàu năng lượng nhằm tránh béo phì vì đây là nguyên nhân thường gặp nhất gây tăng lực nén lên tổ chức khớp. Ngoài ra, cần khám sức khoẻ định kỳ, phát hiện sớm các bệnh như đái tháo đường, loãng xương, bệnh gout (thống phong),…để điều trị kịp thời, tránh các biến chứng về khớp.

Bác sĩ  Tấn Hưng
Theo SKĐS

Chất nhờn giúp điều trị thoái hóa khớp gối

Thoái hóa khớp gối là một vị trí thường gặp nhất của bệnh thoái hóa khớp. Trong những đợt cấp của bệnh, có thể dùng các thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau đơn thuần, nhưng các thuốc này có nhiều tác dụng phụ trên đường tiêu hóa như loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa. Một số thuốc chống viêm không steroid như indometacin về lâu dài lại có tác dụng có hại lên sụn khớp, làm trầm trọng thêm quá trình thoái hoá khớp (THK). Biện pháp cuối cùng là phải phẫu thuật thay khớp giả, rất tốn kém. Để khắc phục những nhược điểm này, hiện nay, biện pháp sử dụng chất nhờn (như acid hyaluronic hay dẫn xuất của nó) đã được ứng dụng rộng rãi vì tính an toàn và hiệu quả kéo dài.

Acid hyaluronic và THK

Bình thường khớp gối chứa khoảng 2ml dịch khớp. Acid hyaluronic (AH) là một polysacharid có trong thành phần dịch khớp, với hàm lượng từ 2,5 – 4,0mg/ml. Nó bôi trơn mô mềm và phủ trên bề mặt sụn khớp và được tổng hợp bởi tế bào sụn. AH có nhiệm vụ đệm giảm xóc, bôi trơn và bảo vệ khớp. Nó có các tính chất nhớt và đàn hồi tùy thuộc vào lực tác động. Nếu lực tác động lên mạnh, nó có tính chất đàn hồi, còn nếu lực tác động nhẹ thì nó như là dầu bôi trơn. Khi khớp bị thoái hóa, số lượng acid hyaluronic và chất lượng chất này trong dịch khớp bị giảm. Ở bệnh nhân THK gối, lượng acid  hyaluronic chỉ còn một nửa đến hai phần ba so với bình thường, do đó có hiện tượng dịch khớp giảm độ nhớt, mất khả năng bảo vệ sụn khớp, dẫn đến tiến triển huỷ hoại khớp.

chat_nhon_giup_dieu_tri_thoai_hoa_khop_goi

Tiêm AH vào khớp

Tác dụng điều trị của AH trong thoái hóa khớp

Sự bổ sung AH trong thoái hoá khớp dẫn đến tăng kéo dài nồng độ và trọng lượng phân tử của AH nội sinh, làm cải thiện đáng kể chức năng khớp, giảm đau và tác dụng này có thể kéo dài hàng tháng. Thuốc có tác dụng giảm đau do khi tiêm vào trong khớp, nó làm giảm sản sinh các hóa chất gây viêm trong dịch khớp (PE G2, bradykinin), ức chế cảm thụ đau ở bệnh nhân THK. AH có tác dụng kháng viêm do ngăn chặn tác dụng của cytokyne và ngăn chặn sinh tổng hợp PGE2. Tuy chỉ lưu trong dịch khớp 7 ngày nhưng duy trì tác dụng trong 6 tháng do kích thích sản xuất AH nội sinh. Các thử nghiệm trên lâm sàng đã chứng tỏ, ở người THK, việc bổ sung acid hyaluronic nội khớp có tác dụng giảm đau tốt hơn giả dược. Thuốc đạt hiệu quả tương tự khi tiêm corticoid nội khớp song tác dụng bền vững hơn. Trong thí nghiệm trên động vật, tiêm AH còn có tác dụng bảo vệ và sửa chữa lại các tế bào sụn. AH ức chế thoái hoá sụn khớp do gia tăng hoạt tính của men TIMP (tisue inhibitor metalloprotease), kết khối các proteoglycan và tăng sinh tổng hợp của tế bào sụn khớp. Thuốc có hiệu quả tác dụng rõ rệt đối với bệnh nhân THK trên nhiều mặt, đặc biệt là cải thiện chức năng khớp.

Những trường hợp THK nào được sử dụng AH?

Liệu pháp tiêm sodium hyaluronate vào khớp gối có tác dụng trong điều trị THK gối từ mức độ từ trung bình đến nặng vừa. Nó có ích lợi đặc biệt đối với những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị thông thường, không dung nạp được thuốc đặc biệt là thuốc chống viêm không steroid, cũng như  giúp trì hoãn thời gian thực hiện phẫu thuật thay khớp vốn khó khăn và tốn kém. Có nhiều loại thuốc chứa AH. Thường là hộp 5 ống chứa 2- 2,5ml AH, AH tiêm nội khớp gối 1 ống/tuần trong 5 tuần liên tục. Khi tiêm nội khớp AH cần đảm bảo vô khuẩn khi tiến hành thủ thuật. Khi đã bóc hộp bơm tiêm ra rồi phải tiêm ngay. Nếu khớp có dịch phải hút ra rồi mới tiêm. Thuốc chỉ có hiệu quả khi tiêm hết 3 lần (synvic) hoặc 5 tuần (hyalgan). Thuốc có độ dung nạp khá tốt. Trong một số ít trường hợp chỉ gặp đau nơi tiêm, phản ứng viêm tại chỗ, đau cơ, đau khớp, cảm giác mệt mỏi. Các triệu chứng này chỉ thoáng qua, sau 2-3 ngày là biến mất và thường chỉ gặp trong lần tiêm đầu tiên.

PGS.TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Không thể xem thường: lụt khớp gối

Những bước đi của bạn đột nhiên trở nên đau đớn, khó khăn khiến bạn phải nghĩ tới “có vấn đề gì ở chân mình thế này?” Hình ảnh đầu gối sưng phồng lên sẽ làm cho bạn cảm thấy hoảng hốt và lo lắng. Rất có thể khớp gối của bạn đang bị ngập lụt trong dịch, điều quan trọng nhất lúc này là bạn cần đi khám ngay tại các chuyên khoa xương khớp để được điều trị kịp thời.

khong_the_xem_thuong_lut_khop_goi01

Pseudogout gây tràn dịch khớp gối

Nhận dạng tràn dịch khớp gối

Tràn dịch khớp gối (lụt khớp gối) là tình trạng lượng dịch trong khớp gối nhiều lên, có thể phát hiện dễ dàng trên lâm sàng. Các dấu hiệu của tràn dịch khớp gối điển hình bao gồm:

Sưng nề: Một bên gối có thể sẽ to hơn bên kia.

Hạn chế vận động khớp: Khớp gối của bạn sẽ bị hạn chế vận động do lượng dịch trong khớp cản trở vận động khớp.

Đau: Tuỳ theo nguyên nhân gây tràn dịch khớp mà có thể sẽ có triệu chứng đau khớp, đôi khi do đau mà bệnh nhân không thể đi lại được.

Nếu không được điều trị, dịch trong khớp gối sẽ làm hạn chế vận động khớp, việc chọc hút dịch khớp nhiều lần làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và nếu có nhiễm khuẩn thì sẽ phá huỷ khớp và có thể ảnh hưởng đến toàn thân bệnh nhân.

Thủ phạm gây tràn dịch khớp gối hay gặp

Chấn thương: Chấn thương các cấu trúc giải phẫu có thể gây đau và gây tràn dịch khớp gối. Một số nguyên nhân chấn thương thường gặp là: gãy xương, rách sụn chêm khớp gối, đứt các dây chằng khớp gối (dây chằng chéo trước hoặc dây chằng chéo sau), tình trạng chấn thương do quá tải khớp gối, thường do tổn thương sụn khớp.

Một số bệnh lý và nguyên nhân gây tràn dịch khớp gối có thể gặp là: Thoái hoá khớp, viêm khớp dạng thấp, nhiễm khuẩn khớp, gout, pseudogout, viêm bao hoạt dịch khớp do nhiều nguyên nhân như: viêm màng hoạt dịch khớp gối mạn tính hay sau chấn thương… Các dạng nang bao hoạt dịch khớp, bệnh lý rối loạn về tình trạng đông máu, u khớp…

Béo phì là yếu tố thuận lợi gây bệnh: Bệnh thường gặp nhiều hơn ở lứa tuổi trên 55, rất có thể sự thoái hóa theo quá trình tự nhiên của khớp là yếu tố tác động đến bệnh lý này. Bên cạnh đó, người ta cũng nhận thấy những người tham gia nhiều vào các hoạt động thể thao có nguy cơ chấn thương nhiều hơn, đặc biệt là những môn thể thao liên quan đến các chuyển động đột ngột của khớp như bóng đá, bóng rổ… Đặc biệt, thừa cân – béo phì làm trọng lượng cơ thể quá lớn sẽ làm quá tải khớp gối, đặc biệt làm tăng nguy cơ vi chấn thương cho các thành phần của khớp, trong đó có sụn khớp, vì vậy làm tăng nguy cơ thoái hoá khớp, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tràn dịch khớp gối.

Chữa trị tràn dịch khớp gối có gì đặc biệt?

Tự chăm sóc khi bị tràn dịch khớp gốiNghỉ ngơi.Tránh việc đi lại tỳ chân vì có thể làm tăng tình trạng tràn dịch và đau.

Chườm đá và kê cao chân: đặc biệt có tác dụng tốt đối với những trường hợp tràn dịch do chấn thương. Kê chân cao giúp cho việc tuần hoàn chân được tốt, tránh được tình trạng sưng nề.

Điều trị giảm đau. Sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường theo sự tư vấn của bác sĩ để cải thiện triệu chứng.

Trong trường hợp bệnh đang ở giai đoạn đầu tiên, biện pháp nội khoa được ưu tiên hàng đầu, đó là sử dụng các thuốc giảm đau, trong một số trường hợp, triệu chứng đau hơn mức chịu đựng của bệnh nhân. Bác sĩ có chỉ định dùng kháng sinh khi có nguy cơ hoặc đang bị nhiễm khuẩn. Các thuốc kháng viêm corticosteroids có thể sử dụng đường miệng hoặc tiêm trực tiếp vào khớp gối. Tuy nhiên, corticoids có một số tác dụng phụ, vì vậy phải được kê đơn và theo dõi điều trị bởi bác sĩ chuyên khoa.

Nếu tình trạng bệnh nặng nề, cần phải điều trị phẫu thuật và các can thiệp xâm lấn như:

Chọc hút dịch khớp: Chọc hút dịch khớp nhằm giảm áp lực, đồng thời có thể kết hợp điều trị tiêm corticoid.

Nội soi khớp: Nội soi khớp có giá trị chẩn đoán nguyên nhân của tràn dịch khớp và có thể kết hợp điều trị như sửa chữa các thương tổn sụn, dây chằng hay tổn thương thoái hóa khớp.

Thay khớp: Trong trường hợp tổn thương thoái hóa khớp gối.

Bí quyết phòng bệnh

Dịch trong khớp gối thường gặp do tình trạng bệnh lý mạn tính hoặc chấn thương. Để phòng ngừa và phát hiện sớm tình trạng tràn dịch khớp gối, bạn cần thực hiện một số công việc sau:

Kiểm soát tốt các bệnh lý mạn tính như thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp hay gout.

Dùng thuốc theo đơn để điều trị các bệnh lý nguyên nhân, đeo nẹp gối khi cần thiết theo yêu cầu điều trị.

Tập khỏe khối cơ đùi. Cơ đùi khỏe là yếu tố quan trọng hỗ trợ cho vận động khớp gối. Nếu cơ đùi yếu thì gối nhanh bị mỏi, dễ chấn thương. Cơ đùi khỏe giúp cho hoạt động gối được tốt hơn.

Tập các bài tập mềm dẻo cho gối. Nếu bạn hơi quá cân nặng, cần tập luyện để giảm cân, bạn cần lựa chọn một bài tập mà khớp gối của bạn không phải chịu quá nhiều tải trọng khi bạn tập, ví dụ như tập thể dục nhịp điệu dưới nước hay bơi…

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Tự chăm sóc khi bị tràn dịch khớp gối

– Nghỉ ngơi. Tránh việc đi lại tỳ chân vì có thể làm tăng tình trạng tràn dịch và đau.

– Chườm đá và kê cao chân: đặc biệt có tác dụng tốt đối với những trường hợp tràn dịch do chấn thương. Kê chân cao giúp cho việc tuần hoàn chân được tốt, tránh được tình trạng sưng nề.

– Điều trị giảm đau. Sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường theo sự tư vấn của bác sĩ để cải thiện triệu chứng.

Chế độ dinh dưỡng phòng, chữa đau khớp

Trong những ngày mùa đông giá rét hay khi mưa phùn gió bấc, nhiều người, nhất là người lớn tuổi thường hay than phiền về những cơn đau chân, tay, đau nhức mình mẩy hay sưng các khớp gối, lên xuống cầu thang khó khăn. Đó có thể là những biểu hiện tái phát của căn bệnh thoái hóa khớp. Ngoài thuốc, chế độ ăn uống có thể góp phần phòng, chống chứng bệnh này.

Thoái hóa khớp (THK) là một bệnh khớp của người cao tuổi. Khi cơ thể già đi, bị lão hóa thì các khớp cũng bị lão hóa theo. Đó chính là bệnh THK. Tuy bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc bệnh này. Ngay cả những cụ trên 70 tuổi thì chỉ có 80% mắc bệnh THK. Người ta chỉ nói về THK khi người cao tuổi có các triệu chứng đau khớp, hạn chế vận động hay sưng khớp, biến dạng khớp. Những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này. Vậy làm thế nào để có được chế độ ăn uống phù hợp để dự phòng và giảm nhẹ căn bệnh THK?.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_01

Canh xương hầm tốt cho người bệnh khớp

Chế độ dinh dưỡng trong bệnh THK

Về thịt thì có thể ăn thịt lợn, thịt gia cầm (gà, vịt), tôm, cua. Đặc biệt là nên ăn cá nước lạnh như cá hồi, cá ngừ vì chúng chứa nhiều acid béo omega-3. Nhiều người quan niệm “ăn gì bổ nấy”, do vậy để phòng ngừa THK, họ thường ăn những món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn. Về mặt khoa học, nước hầm từ xương ống hay sụn sườn bò và bê có chứa nhiều glucosamin và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn, có tác dụng giúp sụn chắc khỏe. Ngoài ra, các món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn còn có thể bổ sung nguồn canxi quí báu cho cơ thể. Việc ăn các món ăn từ tôm, cá hầm cả xương cũng giúp bổ sung canxi. Những người cao tuổi nếu có điều kiện thì nên sử dụng những “dược liệu” tự nhiên này.

Về thực vật thì cần ăn đầy đủ các loại ngũ cốc. Ngoài ra, một số thực vật như đậu nành, rau xanh, hạt mầm có đặc tính chống bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch, kháng oxy hóa.

Về hoa quả thì nên ăn đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, hai hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Đặc biệt hiện nay người ta đã phát hiện được tác dụng chữa THK của quả bơ kết hợp với đậu nành. Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng các chất trong trái bơ hay đậu nành có thể kích thích tế bào sụn sinh trưởng collagen, một thành phần protein chủ yếu của gân, sụn và xương. Trong một cuộc nghiên cứu, những người bị THK gối hay khớp háng được cho uống trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng thấy giảm các triệu chứng của THK và không phát hiện thấy tác dụng phụ gì cả. Một số gia vị như ớt, hạt tiêu, gừng, lá lốt đều có tác dụng chống viêm, giảm đau đối với bệnh THK. Thậm chí người ta còn phân tách được từ ớt hoạt chất capsain có thể bôi chữa sưng đau khớp thoái hóa.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_02

Người bệnh khớp ăn cà chua không nên bỏ hạt

Nấm và mộc nhĩ: có nhiều loại nấm rất có ích cho sức khỏe người cao tuổi. Các món ăn chế từ nấm như canh nấm đông cô, lẩu nấm, nấm hương xào thập cẩm rất được ưa chuộng. Không chỉ là món ăn ngon, các loại nấm còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống lão hóa, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như ung thư, tim mạch… là các bệnh thường hay gặp ở người cao tuổi. Mộc nhĩ và nấm hương là những thực phẩm gia vị được dùng phổ biến để nấu cỗ, trong các dịp Tết lễ. Tuy nhiên, mộc nhĩ còn có tác dụng hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch. Mộc nhĩ còn chứa một loại polysaccharid có khả năng tăng cường miễn dịch trong cơ thể người để chống chất phóng xạ và ức chế khối u. Nấm hương được mệnh danh là “vua của các loại nấm” còn có tác dụng chống viêm, chữa cơ thể suy nhược, chứng chân tay tê bại. Y học hiện đại coi nấm hương như một nguồn bổ sung đáng kể lượng vitamin D2 để phòng và chống bệnh còi xương, trị chứng thiếu máu. Đó là do chất ergosterol có trong nấm hương, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D2.

Nấm hương, mộc nhĩ có thể kết hợp với súp lơ xanh, cà rốt, ớt đỏ để tạo thành món nấm hương xào thập cẩm, không chỉ ngon mà còn có khả năng phòng bệnh THK. Cà rốt và ớt rất giàu vitamin A và E, hai nhân tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương. Súp lơ xanh là thực phẩm giàu vitamin K và C, giúp cho xương khớp chắc khỏe. Ngoài ra ăn cà chua cũng rất có lợi cho khớp.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng. Hiện nay, các thực phẩm chức năng đang rất phổ biến, nhưng giá cả còn tương đối cao, không phải ai cũng có thể sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên nếu chỉ chú ý một chút, chúng ta có thể lựa chọn thực phẩm hàng ngày là các thức ăn tự nhiên nhưng cũng có các công dụng phòng chống THK có hiệu quả. Trong dân gian có rất nhiều thực phẩm có thể trở thành bài thuốc phòng ngừa hoặc làm giảm những cơn đau do viêm xương khớp, trong khi đó thì nhiều người thường “ngại” dùng thuốc. Có một số thực phẩm giúp cho phòng bệnh THK nói riêng và tốt cho sức khỏe xương khớp nói chung.

 

Có quan điểm cho rằng khi chế biến cà chua phải bỏ hạt vì ăn phải thì dễ bị viêm xương khớp. Trên thực tế không đúng như vậy. Ăn cà chua rất có lợi vì có thể làm bớt đau khớp. Hạt cà chua không những không có hại mà còn có thể thay thế aspirin, có tác dụng giảm đau, chống viêm khớp.

Tuy nhiên có một số thực phẩm không có lợi cho những người cao tuổi như các chất béo (dầu, mỡ các loại), chất ngọt như kẹo, bánh, đồ uống ngọt thì nên hạn chế.

Về đồ uống, các nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển đã chứng tỏ uống rượu vang có điều độ có thể làm giảm một nửa nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp mạn tính.

Tóm lại, nếu chúng ta biết cách lựa chọn các thực phẩm bổ dưỡng và phối hợp sử dụng chúng thường xuyên thì có thể nấu được những món ăn rất ngon miệng mà lại có tác dụng phòng chống bệnh THK.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)
Theo SKĐS

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh (neuropathic arthropathy) là bệnh có những thay đổi về xương, khớp thứ phát do giảm hay mất cảm giác chi phối do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Điển hình trên phim chụp Xquang là tổn thương hủy hoại bề mặt sụn khớp, đặc xương dưới sụn, hẹp khe khớp, biến dạng khớp, trật khớp.

Nguyên nhân của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh có nhiều, hay gặp nhất là do bệnh đái tháo đường, giang mai biến chứng thần kinh (còn có tên là bệnh Tabes dorsalis) và bệnh rỗng tủy xương (Syringomyelia). Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, có tới 15% bệnh  nhân đái tháo đường, 10 – 20% bệnh nhân giang mai và 20 – 25% bệnh nhân rỗng tủy xương có biểu hiện bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh. Ngoài ra triệu chứng bệnh còn gặp trong nhiều bệnh khác như sau chấn thương đặc biệt có chèn ép tủy sống hay tổn thương thần kinh ngoại biên, nhiều bệnh thần kinh di truyền khác, bệnh lý nhiễm khuẩn, do dùng corticoid, nghiện rượu, bệnh phong, hội chứng Raynaud, cường vỏ tuyến thượng thận, bệnh hệ thống như xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, trẻ dị tật bẩm sinh do mẹ dùng thuốc Thalidomide trong thời kỳ mang thai, rối loạn cảm giác cận ung thư…

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh

Bệnh khớp do thần kinh ở giai đoạn muộn

Dấu hiệu bệnh rất đa dạng

Triệu chứng bệnh đa dạng, phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn của bệnh.  Nhìn chung biểu hiện khớp bắt đầu xuất hiện muộn nhiều năm sau các biểu hiện thần kinh của bệnh chính, tuy nhiên lại tiến triển nhanh và hủy khớp chỉ trong vài tháng. Tùy nguyên nhân mà có các vị trí khớp hay gặp khác nhau: do bệnh đái tháo đường các triệu chứng chủ yếu ảnh hưởng tới khớp ở bàn chân và cổ chân; trong bệnh giang mai là khớp gối, háng và cổ chân; trong bệnh rỗng tủy xương ảnh hưởng tới cột sống và chi trên, đặc biệt ở khớp vai và khớp khuỷu. Thông thường biểu hiện ở một khớp (trừ khi ở khớp nhỏ bàn chân có thể ảnh hưởng tới vài khớp), không đối xứng. Triệu chứng khớp ban đầu thường nhẹ, tiến triển âm ỉ, tái phát từng đợt đặc biệt sau những chấn thương nhẹ. Đau khớp xuất hiện ở một phần ba số bệnh nhân nhưng thường là đau ít, nhất là khi so sánh với mức độ tổn thương khớp khá nhiều. Khớp sưng nhẹ, phù nề, sung huyết hoặc xuất huyết quanh khớp, sờ ấm hơn bình thường. Có thể tràn dịch khớp. Khớp có biểu hiện mất vững hoặc bán trật nhẹ. Ở giai đoạn muộn, đau có thể nặng hơn nếu hủy khớp tiến triển nhanh gây trật khớp hoặc có khối máu tụ, mảnh sụn hay xương vỡ nằm trong khớp. Khớp sưng, biến dạng nhiều do màng hoạt dịch khớp dày, do trật khớp hoặc gãy xương. Có thể gặp một số biến chứng kèm theo, đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, như nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn và cốt tủy viêm.

Cách phân biệt với các bệnh khớp khác

Chụp Xquang khớp bị tổn thương: Có thể phát hiện giai đoạn sớm hay muộn của bệnh. Trên Xquang cần chẩn đoán phân biệt bệnh với các bệnh thoái hóa khớp, hoại tử xương, bệnh khớp lắng đọng tinh thể canxi pyrophosphat, bệnh khớp do tiêm corticoid nội khớp, nhiễm khuẩn xương khớp…

Siêu âm khớp: Có thể phát hiện dịch trong khớp, dày màng hoạt dịch, hẹp khe khớp, định hướng cho hút dịch làm xét nghiệm để chẩn đoán những trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính có thể giúp đánh giá tốt hơn tổn thương vỏ xương, mảnh xương chết hay khí ở trong xương.

Chụp cộng hưởng từ, đặc biệt có phối hợp thuốc cản quang, có ích trong phân biệt tổn thương tủy trong bệnh rỗng tủy với các viêm tủy nhiễm khuẩn, viêm đĩa đệm đốt sống nhiễm khuẩn cũng như giúp chẩn đoán một số biến chứng nhiễm khuẩn xương, khớp ở vị trí khác ngoài cột sống.

Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào tiền sử bệnh nhân có bệnh lý tổn thương thần kinh (như đái tháo đường, giang mai, phong, bệnh rỗng tủy…) trước đó nhiều năm, xuất hiện đau, sưng khớp với tiến triển từ từ tăng dần, có sự bất cân xứng giữa mức độ đau với tổn thương khớp, xương. Cần kết hợp với chụp Xquang để khẳng định chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt với các bệnh thoái hóa khớp, bệnh gút, bệnh giả gút (khớp viêm do lắng đọng tinh thể pyrophosphat), viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp do bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến…), viêm khớp phản ứng, hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm. Ví dụ trong giai đoạn sớm của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh, hình ảnh trên Xquang gần tương tự như trong thoái hóa khớp với tam chứng hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương ở rìa khớp. Tuy nhiên tiến triển của bệnh nhanh hơn thoái hóa khớp, không cân xứng giữa mức độ đau khớp với tổn thương trên Xquang: mức độ đau ít hơn trong khi tổn thương trên Xquang nặng hơn. Cần đặc biệt chú ý phân biệt bệnh với bệnh nhiễm khuẩn xương khớp hoặc phát hiện nhiễm khuẩn xương khớp với tư cách là biến chứng kèm theo để có hướng điều trị thích hợp.

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh2

Tổn thương bàn chân ở người bệnh khớp do thần kinh trước và sau phẫu thuật

Bệnh khớp do thần kinh được điều trị như thế nào?

Điều trị nguyên nhân, đặc biệt khi phát hiện sớm, điều trị tích cực bệnh chính có thể làm chậm quá trình tổn thương khớp.

Điều trị bảo tồn: những trường hợp phát hiện sớm cần bất động khớp (bằng giày thiết kế chuyên dụng, bó bột hay dụng cụ nẹp ngoài…), hạn chế tối đa trọng lực cơ thể cũng như các lực ngoại cảnh tác dụng lên khớp tổn thương để bảo vệ khớp khỏi các chấn thương tiếp diễn, qua đó làm chậm tiến trình bệnh. Dùng các thuốc giảm đau, giảm sưng nề khớp cũng như tăng mật độ xương tại chỗ. Phối hợp các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng chống loét do tì đè.

Trường hợp khớp tổn thương biến dạng nặng hay gãy xương có thể cần phải phẫu thuật nẹp vít bên trong xương, lấy bỏ các mảnh dị vật – các canxi hóa trong khớp, làm cứng khớp hay phẫu thuật thay khớp toàn bộ.

Phòng và điều trị các biến chứng, đặc biệt biến chứng nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, nhiễm khuẩn khớp, xương.

ThS. Bùi Hải Bình (Khoa cơ xương khớp – Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Cách tự giúp mình giảm nguy cơ thoái hóa khớp

Nhiều người lầm tưởng rằng những bước chân nặng nề khó nhọc, sự mỏi nhức của các khớp chỉ diễn ra ở tuổi già nhưng thực tế quá trình thoái hóa khớp diễn ra ngay cả khi chúng ta đang còn trẻ. Mặc dù các yếu tố di truyền và lão hoá không thể điều chỉnh được nhưng chúng ta vẫn có thể giảm nguy cơ thoái hóa khớp nếu có tác động tích cực vào các yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống…

Chất lượng cuộc sống bị giảm sút khi khớp bị đau

Thoái hoá khớp là hậu quả của mất cân bằng giữa quá trình tổng hợp và thoái giáng tổ chức sụn khớp: quá trình thoái giáng sụn tăng lên trong khi quá trình tổng hợp sụn giảm sút; làm thay đổi hình thái, sinh hoá, phân tử và cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến hiện tượng sụn khớp bị nhuyễn hoá, nứt, loét và mỏng dần, xơ hoá xương dưới sụn, tạo gai xương và hốc xương dưới sụn. Bệnh tiến triển thầm lặng, không có biểu hiện gì cho đến một mức độ tổn thương nhất định của sụn khớp mới gây nên các triệu chứng trên lâm sàng như đau khớp, cứng khớp, tràn dịch ổ khớp, biến dạng khớp, dính khớp, teo cơ quanh khớp, gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, giảm chất lượng cuộc sống, thậm chí là tàn tật. Các khớp hay bị thoái hoá là những khớp phải chịu sức nặng của cơ thể (các khớp tải trọng) như khớp gối, khớp háng, khớp cột sống…

cach_tu_giup_minh_giam_nguy_co_thoai_hoa_khop_01

Diễn viên múa balê dễ bị chấn thương khớp

Truy tìm nguyên nhân

Nguyên nhân thực sự của bệnh thoái hóa khớp vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Tuy nguyên nhân của bệnh chưa biết rõ nhưng người ta đã biết được một số yếu tố nguy cơ cơ bản gây nên bệnh thoái hóa khớp, đó là:

– Yếu tố di truyền: thoái hoá khớp cũng như nhiều bệnh khác chịu chi phối rất lớn của di truyền, có những chủng tộc người có tỷ lệ thoái hoá khớp cao hơn các chủng tộc khác.

– Lão hoá: Các tế bào sụn với thời gian lâu dần sẽ giảm khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi colagen và chất cơ bản của sụn làm cho chất lượng của sụn, tính đàn hồi, tính chịu lực bị giảm sút. Nói cách khác thoái hóa khớp là hậu quả của quá trình lão hoá của sụn khớp, do đó tần số mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Với tuổi thọ trung bình ngày càng cao đồng nghĩa với số bệnh nhân bị bệnh thoái khớp ngày càng nhiều.

– Yếu tố cơ học: các vi chấn thương tích tụ lại nhiều lần (hiện tượng quá tải) là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình thoái hoá tăng nhanh. Hiện tượng quá tải hay gặp trong trường hợp tư thế làm việc không hợp lý; tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp đặc biệt là các chấn thương thể thao như khớp bàn tay, khớp vai của các võ sĩ quyền anh; khớp khuỷu tay của công nhân vận hành búa máy, khoan cắt bê tông;  khớp gối của vận động viên bóng rổ hoặc cử tạ, khớp cổ chân của diễn viên balê, vận động viên bóng đá; đĩa đệm cột sống của vận động viên cử tạ; thợ mỏ than, người đội đá, cát, đất…

– Yếu tố dinh dưỡng: thừa cân, béo phì gây quá tải nên sụn khớp, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, thiếu chất khoáng (mangan, zinc), một số vitamin làm ảnh hưởng đến chất lượng của sụn khớp.

– Các dị dạng bẩm sinh và rối loạn phát triển như loạn sản sụn; trật khớp háng bẩm sinh, biến dạng kiểu chân chữ X, chữ O; gù vẹo cột sống gây ra do những rối loạn làm thay đổi đặc tính của sụn và làm hư hại bề mặt khớp.

cach_tu_giup_minh_giam_nguy_co_thoai_hoa_khop_02

Thoái hóa khớp

Có thể trì hoãn quá trình thoái hóa khớp?

Vì chưa biết rõ nguyên nhân của bệnh và bệnh diễn tiến âm thầm không triệu chứng một thời gian dài trước khi bộc lộ đầy đủ trên lâm sàng nên phòng bệnh là tác động vào các yếu tố nguy cơ đã phân tích ở trên càng sớm càng tốt. Mục đích là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, nhất là ngăn sự thoái hóa sụn khớp, duy trì khả năng vận động, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Trong các yếu tố cần điều chỉnh thì yếu tố di truyền và yếu tố lão hoá là những yếu tố mà chúng ta không thể điều chỉnh được. Ngược lại các yếu tố còn lại (yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống) chúng ta có thể điều chỉnh được bằng các biện pháp sau:

Tránh cho khớp bị quá tải: tư thế làm việc hợp lý, không nên làm việc ở một tư thế kéo dài mà nên thay đổi tư thế thường xuyên, nên kết hợp những khoảng nghỉ ngắn 5-10 phút trong khi làm việc, giữ cân nặng ở mức hợp lý, giảm cân nếu béo phì. Tập thể dục thường xuyên và vừa sức, như bơi lội, đạp xe đạp, đi bộ khoảng 30- 60 phút/ngày, tập dưỡng sinh, tập các động tác tập tăng cường sức mạnh của các cơ quanh khớp, làm giảm lực tác động trên bề mặt sụn.

Phát hiện và điều trị kịp thời các chấn thương do thể thao, do nghề nghiệp, sau đó là sử dụng các biện pháp lý liệu pháp, phục hồi chức năng để đưa khớp trở về trạng thái sinh lý bình thường, tránh diễn biến xấu dẫn đến thoái hoá khớp. Với những người làm những nghề có nguy cơ thoái hoá khớp cao thì tìm kiếm các biện pháp thích nghi với điều kiện làm việc, với nguyên tắc là tránh cho khớp ít bị quá tải nhất có thể.

Dinh dưỡng hợp lý: ăn uống đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhất là các chất khoáng, các vitamin như rau quả tươi, giàu các chất chống ôxy hoá.

Phát hiện và sửa chữa các dị dạng bẩm sinh, tư thế xấu, lệch trục khớp như chỉnh lại trục khớp, gọt giũa xương chày trong lệch trục khớp gối, sửa chữa lại các thiểu sản khớp háng bẩm sinh.

Dự phòng bằng sử dụng thuốc có tác dụng trên cấu trúc sụn khớp. Hiện các thuốc này mới được khuyến cáo dùng để điều trị bệnh thoái hoá khớp, chưa có các nguyên cứu về chỉ định dự phòng thoái hoá khớp (ở giai đoạn tiền lâm sàng: khi mà các triệu chứng thoái hoá khớp chưa biểu hiện trên lâm sàng).

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Hàng trăm viên sỏi trong khớp vai người bệnh được phát hiện

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Hà Nội vừa phát hiện và xử trí thành công ca bệnh hiếm gặp. Đó là một trường hợp có hàng trăm viên sỏi trong khớp vai. Điều đáng nói là quan điểm điều trị mới đã mang lại kết quả khả quan cho người bệnh.

Người bệnh bất ngờ

Đang ở tuổi thanh niên nhưng đã 5 năm nay bệnh nhân Nguyễn Văn Cường, 24 tuổi (Hà Tĩnh) luôn phải rón rén trong mọi sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt là khi cần phải sử dụng đến vận động của cánh tay trái, khiến cuộc sống của anh gặp nhiều trở ngại. Ban đầu chỉ là mỏi, nhức, sau đó các cơn đau tăng dần và người bệnh cảm giác như khớp vai bị cứng lại. Khi mới có những dấu hiệu bệnh, anh Cường cho rằng có lẽ do mình vận động quá sức. Sau một thời gian, những cơn đau đến nhiều hơn và khó cử động hơn thì anh tìm đến những biện pháp điều trị dân gian và đông y như xoa bóp, bấm huyệt, chườm nóng… nhưng vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm. Anh Cường đi khám bệnh nhưng được chẩn đoán là đau khớp và dùng thuốc nhưng cũng không có kết quả tốt. Thời gian gần đây, các biểu hiện bệnh càng nặng nề, thậm chí anh còn cảm thấy khớp vai lạo xạo như xương bị vỡ ra.

hang_tram_vien_soi_trong_khop_vai_nguoi_benh_duoc_phat_hien

Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ca bệnh sỏi trong khớp vai

Kết quả chẩn đoán tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội khiến người bệnh rất bất ngờ, trong khớp vai của bệnh nhân có rất nhiều sỏi, ước tính đến hàng trăm viên. Bệnh nhân Cường cho hay, trước đây anh chỉ nghe nói đến sỏi trong gan, mật, thận, bàng quang… chứ chưa từng biết có sỏi trong vai bao giờ. Theo các bác sĩ, trong trường hợp này, dùng thuốc hầu như không có tác dụng, mà cần phải được xử trí bằng phẫu thuật để lấy hết hết sỏi ra mới trả lại sự vận động bình thường cho khớp vai.

Truy tìm nguồn gốc của các viên sỏi trong vai

ThS. Trần Trung Dũng, người phẫu thuật cho bệnh nhân Cường cho biết, những viên sỏi trong khớp vai người bệnh có đường kính từ 0,5 – 1,5cm, các bác sĩ cũng khá bất ngờ vì số sỏi nhiều quá, phải mất 1 giờ 30 phút mới lấy hết số sỏi ra, ước tính đến gần 200 viên. Những viên sỏi này là do u xương sụn màng hoạt dịch sinh ra. Màng hoạt dịch là màng trong cùng của bao khớp, có vai trò tiết dịch làm trơn bề mặt hoạt động của khớp. U xương sụn màng hoạt dịch xuất hiện là do sự phát triển bất thường của cấu trúc sụn trong màng hoạt dịch và lắng đọng canxi. Một số cấu trúc này phát triển lên chỉ dính vào màng hoạt dịch bằng một cái cuống giống như chùm nho, các quả nho là những hạt canxi lắng đọng. Trong quá trình phát triển, các hạt canxi này một phần vẫn nằm trong bao hoạt dịch, một phần khác rơi vào trong khớp. Bệnh lý này chỉ biểu hiện ở một khớp, như khớp háng, gối, vai. Khi các hạt canxi lắng đọng này rơi vào khớp sẽ cọ sát, chèn ép vào sụn, gây tổn thương bề mặt sụn khớp, thoái hóa khớp làm người bệnh đau, hạn chế vận động.

Phương pháp xử trí mới làm thay đổi chất lượng điều trị

Các bác sĩ cho biết, khi các hạt canxi trông như những viên sỏi từ màng hoạt dịch rơi vào trong khớp thì biện pháp điều trị tốt nhất là phẫu thuật lấy chúng ra. Trước đây, để xử trí cho những trường hợp bệnh này phải phẫu thuật mở để gắp hết sỏi trong khớp ra và cắt toàn bộ màng hoạt dịch để tránh u xương sụn tái phát. Tuy nhiên kết quả không được như mong đợi. Bởi khi cắt toàn bộ màng hoạt dịch sẽ làm cho vận động càng khó hơn do khớp không còn bộ phận làm trơn láng bề mặt, hơn nữa khi phẫu thuật mở phải mở đường rạch lớn ở quanh khớp gây đau nhiều cho người bệnh. Chính vì hạn chế của phẫu thuật mở mà trước đây nếu có gặp những ca bệnh như vậy thì các bác sĩ rất cân nhắc khi quyết định mổ.

Giờ đây, quan điểm điều trị cho bệnh lý này đã thay đổi. Các bác sĩ thực hiện phẫu thuật nội soi để lấy hết sỏi trong khớp ra nhưng vẫn giữ nguyên màng hoạt dịch để đảm bảo sự vận hành dễ dàng của sụn khớp. Phẫu thuật nội soi sẽ không phải mở đường mổ lớn, người bệnh sẽ nhanh chóng xuất viện. Người ta cũng tính đến khả năng tái phát của bệnh nhưng sự lắng đọng các hạt canxi sẽ phải trải qua thời gian dài, nếu đến một lúc nào đó các hạt sỏi rơi vào khớp thì quá trình tái thực hiện lấy sỏi ra cũng dễ dàng vì chỉ cần nội soi, tránh được nguy cơ dính như thực hiện phẫu thuật mở trước đây.

Theo ThS. Dũng, đây là bệnh hiếm gặp, người bệnh đi khám thường đã có dấu hiệu khá điển hình. Các dấu hiệu đau, vận động khó dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác của khớp, nếu để quá lâu có thể làm tổn thương khớp nặng nề. Trên phim Xquang thấy được các viên sỏi nhưng không định lượng được mức độ các viên sỏi này trong khớp nhiều hay ít. Nhưng hình ảnh trên cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ thì đánh giá được cả mức độ u xương sụn trong màng hoạt dịch và những hạt đã rơi vào khớp.

Lê Hảo
Theo SKĐS

Thoái hóa sụn – khớp và hướng điều trị

Thoái hóa sụn – khớp là bệnh hay gặp nhất của người cao tuổi (NCT), không phân biệt nam và nữ. Đây là bệnh thoái hóa mang tính quy luật của sụn khớp và đĩa đệm, lệ thuộc vào tuổi tác và có thể do đặc thù nghề nghiệp.

Đặc điểm sụn – khớp và một số nguyên nhân gây làm thoái hóa
Khớp bao gồm dây chằng, cơ bắp, gân, sụn, bao khớp (có màng hoạt dịch lót ở phía trong). Dây chằng có tác dụng gắn các khớp với nhau và co giãn nhịp nhàng; cơ bắp co duỗi làm cho các khớp chuyển động; gân gắn xương với cơ thể để chuyển sức co của cơ vào xương; bao khớp có dịch khớp: tác dụng bôi trơn khớp, giúp cho khớp hoạt động nhịp nhàng và dịch khớp còn có tác dụng dinh dưỡng cho khớp. Với tổ chức sụn là một thành phần lớp đệm bảo vệ, đóng vai trò vô cùng quan trọng tránh sự cọ xát của hai đầu xương khi vận động, làm trơn bề mặt khớp và ngăn cản hay phân tán lực tác động lên bề mặt của sụn, bảo vệ đầu xương.

thoai-hoa-sun-khop-va-cach-dieu-tri

Đặc điểm của lớp sụn khớp là lớp mô trong suốt vừa cứng vừa dai và đàn hồi tốt. Sụn khớp được cấu tạo hai thành phần chính là tế bào sụn và chất căn bản. Tế bào sụn không có khả năng sinh sản và không có khả năng tái tạo sau tuổi trưởng thành và do đó không có tế bào mới thay thế tế bào chết. Chất căn bản có nhiều thành phần khác nhau như: nước, proteoglycan và sợi collagen. Proteoglycan chứa lõi protein và các chuỗi glycosaminoglycan ở bên cạnh và chủ yếu là chondroitin sulfate và keratan sulfate. Các thể proteoglycan kết nối với acid hyaluronic. Các glycosaminoglycan khác và các protein liên kết với cấu trúc này đảm bảo tính ổn định và bền vững của sụn. Trong các chất căn bản thì vai trò quan trọng nhất là collagen týp 2 (UC-II), chiếm 85 – 90%.

Sụn khớp không có mạch máu hoặc dây thần kinh đi qua, do đó chúng được nuôi dưỡng nhờ sự thẩm thấu nhờ tổ chức xương dưới sụn, màng hoạt dịch và dịch khớp. Do vậy, sụn rất dễ bị thoái hóa âm thầm theo năm tháng mà gần như không có dấu hiệu báo trước. Thống kê cho thấy có khoảng trên 50% số người trên 65 tuổi có hình ảnh X-quang thoái hóa sụn – khớp và lứa tuổi trên 75 thì hầu hết có ít nhất một khớp bị thoái hóa.

Lời khuyên thầy thuốc

Cần lưu ý là chỉ nên lựa chọn 1 trong số các thuốc chống viêm giảm đau không steroid, không nên phối hợp 2 hay nhiều thuốc cùng nhóm vì nếu kết hợp nhiều loại sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng nhưng tác dụng điều trị thì không tăng.

Một số nguyên nhân chính làm thoái hóa sụn khớp được nhắc đến nhiều nhất là do sự lão hóa. Bởi vì, ở người trưởng thành các tế bào sụn không có khả năng sinh sản và tái tạo, mặt khác khi tuổi càng cao, cùng với sự lão hóa của cơ thể, các tế bào sụn cũng dần dần giảm chức năng tổng hợp các chất căn bản. Ngoài ra, có nhiều yếu tố thuận lợi làm cho tổ chức sụn khớp bị tổn thương như: chấn thương hoặc vi chấn thương có vai trò quan trọng làm thay đổi bề mặt sụn. Những chấn thương lớn gây gãy xương, trật khớp kèm theo tổn thương sụn hoặc phân bố lại áp lực trên bề mặt sụn khớp. Một số bệnh về nội tiết, rối loạn chuyển hóa, bệnh về khớp hoặc bệnh về máu làm ảnh hưởng đến thoái hóa sụn khớp thường gặp là bệnh to đầu chi, bướu cổ đơn thuần, phụ nữ sau mãn kinh, các dị tật bẩm sinh về khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn (thấp khớp cấp), viêm khớp mãn tính, bệnh gout, bệnh loạn dưỡng xương, bệnh rối loạn đông, chảy máu (Hemophylia). Ngoài ra còn có thể di yếu tố gia đình (di truyền) hoặc hay gặp hơn là do nghề nghiệp đặc thù.

Những người đang hoặc có tiền sử lao động nặng nhọc, công nhân khuân vác, những thợ mỏ có tỉ lệ mắc bệnh thoái hóa sụn – khớp cao hơn những người làm công việc nhẹ.

Một số triệu chứng điển hình

Đau tăng khi vận động, giảm khi nghỉ. Đau âm ỉ, tăng từng đợt khi mang vác nặng, sai tư thế, khi mệt mỏi, căng thẳng thần kinh, thay đổi thời tiết và nổi bật nhất là bệnh hay tái phát. Đau thường xuất hiện sớm ở những khớp chịu lực ( khớp gối, khớp cổ chân, cổ tay, cột sống thắt lưng, cột sống cổ). Không hoặc ít kèm các biểu hiện viêm.

Có thể có tràn dịch khớp mà thường gặp ở khớp gối. Hạn chế vận động, nhất là sáng sớm lúc mới ngủ dậy, điển hình là khớp gối. Dấu hiệu lạo xạo khi vận động (đặc biệt ở khớp gối). Nếu bệnh xảy ra với thời gian dài có thể gây biến dạng khớp mà hay gặp nhất ở NCT là cột sống gây gù, vẹo, co cứng cơ lưng. Trong trường hợp bị thoái hóa cột sống thắt lưng thì có thể gây đau thần kinh tọa, teo cơ đùi hoặc cẳng chân. Nếu thoái hóa cột sống cổ thì gây nên đau vai gáy, tê tay. Một số trường hợp có thể gây teo cơ do ít vận động.

Điều trị thoái hóa sụn khớp như thế nào?

Có một số nguyên tắc chung trong điều trị thoái hóa sụn – khớp là điều trị triệu chứng đau và điều trị duy trì. Cần dùng thuốc giảm đau nhưng phải hạn chế đến mức tối đa thuốc có tác dụng phụ đến hệ thống tiêu hóa (dạ dày) và hệ thống tim mạch. Thuốc giảm đau có thể là các thuốc chống viêm giảm đau, các thuốc giảm đau đơn thuần, các thuốc điều trị chống co cứng cơ. Điều trị duy trì gồm các loại thuốc giảm đau và thuốc làm thay đổi các cấu trúc sụn. Loại thường được dùng là loại thuốc chống viêm giảm đau không steroid. Đây là nhóm gồm nhiều thuốc, có tác dụng chống viêm, giảm đau và hạ sốt. Khi dùng liều nhỏ các thuốc chống viêm giảm đau này sẽ giảm nguy cơ tác dụng phụ trên ống tiêu hóa.

Các thuốc chống viêm kinh điển hoặc các thuốc chống viêm giảm đau ức chế COX1, COX2 đều có thể chỉ định điều trị thoai hóa khớp. Tuy nhiên thuốc ức chế chọn lọc COX2 ít nguy cơ gây biến chứng viêm, loét, chảy máu hoặc thủng dạ dày tá tràng hơn COX1. Cần lưu ý là chỉ nên lựa chọn 1 trong số các thuốc chống viêm giảm đau không steroid, không nên phối hợp 2 hay nhiều thuốc cùng nhóm vì nếu kết hợp nhiều loại sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng nhưng tác dụng điều trị thì không tăng. Bên cạnh đó, khi dùng các loại thuốc này cần phải có phối hợp thêm các thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày, thuốc ức chế bơm proton (omeprazole 20mg/ngày) hoặc misoprostol (200mg/2lần/ngày).

Việc dùng thuốc để tái tạo sụn khớp rất cần thiết. Vì vậy, người ta áp dụng Glucosamin sulfat trong điều trị thoái hóa sụn – khớp. Thuốc này có tác dụng tăng tổng hợp các tinh chất sụn proglycan và glucosaminoglycan làm tăng tính đàn hồi của tinh chất sụn, thay đổi cấu trúc sụn khớp. Thêm vào đó còn được sử dụng loại Glucosamin sulfat kết hợp chondroitin sulfat được coi là chất dinh dưỡng bổ sung, có thể dùng riêng rẽ hoặc phối hợp thuốc để làm tăng hiệu quả điều trị…

Những bệnh nhân điều trị nội khoa không kết quả hoặc có ảnh hưởng lớn đến chức năng cử động khớp có thể dùng biện pháp can thiệp phẫu thuật, nhưng phải tùy theo loại khớp nào có thể tiến hành được.

PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU

Theo SKDS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Bệnh khớp trong mùa rét

Thời tiết lạnh là lý do khiến nhiều bệnh lý cơ xương khớp như viêm khớp, thoái hoá khớp tiến triển. Trời rét kèm theo độ ẩm tăng cao do mưa phùn, gây co các mạch máu ngoại vi làm giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp gây các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng. Xin giới thiệu một số bệnh khớp thường gặp và chịu ảnh hưởng nhiều khi thời tiết giá lạnh.

Bệnh thấp khớp cấp hay còn gọi là bệnh thấp tim, hay gặp ở lứa tuổi học đường, xuất hiện sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn bêta nhóm A. Trẻ có biểu hiện ban đầu như viêm họng, sốt cao. Sau vài tuần kể từ khi bị viêm họng, trẻ có thể xuất hiện các viêm khớp cấp do thấp. Viêm khớp có tính chất xảy ra đột ngột, hay gặp ở các khớp to vừa như khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân, hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng thường khỏi nhanh hơn khi dùng thuốc chống viêm. Trong khi biểu hiện ở khớp thường khỏi nhanh, khỏi hoàn toàn không để lại di chứng thì biểu hiện ở tim thường nặng nề và là biểu hiện nguy hiểm nhất của bệnh. Ngoài các triệu chứng ở khớp, ở tim… trẻ còn có thể có các triệu chứng thần kinh như múa giật, liệt, hôn mê; đau bụng, tiểu ra máu…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_benh_khop_trong_mua_ret

Tắc mạch đầu chi hay gặp trong mùa lạnh

Viêm khớp dạng thấp là bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên, viêm khớp kéo dài với các đợt sưng đau khớp cấp tính, bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, sốt, có thể có các biểu hiện ở các cơ quan khác. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Các khớp thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả hai bên. Ở giai đoạn muộn, thường biểu hiện ở các khớp vai, háng, cột sống cổ. Buổi sáng, khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động. Dấu hiệu này rõ nhất ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như gấp, xoay cổ tay… một hoặc vài tiếng, mới giảm bớt cảm giác cứng khớp. Sau nhiều đợt cấp tính hoặc sưng đau khớp kéo dài (vài tháng hoặc vài năm), các khớp có thể biến dạng: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo, khiến cho chức năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Đau vai gáy, đau thắt lưng, viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương trong chứng bệnh đau cân cơ (fibromyalgia). Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính… Do trời lạnh, các cơ thưòng co lại để sinh nhiệt (rét run), tư thế “so vai, rụt cổ” do các cơ vùng gáy co lại để hạn chế tối đa trao đổi nhiệt với môi trường lạnh xung quanh. Các tư thế này phải duy trì trong thời gian dài làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây mệt và mỏi cơ. Có thể đau một hay hai bên bả vai, hạn chế các động tác của cột sống như cúi, ưỡn, nghiêng… Các triệu chứng hay đi kèm là trạng thái mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ…

Co thắt các mạch máu đầu chi trong hội chứng Raynaud, đây là một biểu hiện hay gặp trong bệnh xơ cứng bì toàn thể. Khi tiếp xúc với lạnh, đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức.  Xơ cứng bì là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể, trong đó thường thấy như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hoá, xơ hoá phổi, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi…

Thoái hoá khớp là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hoá của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi và nhuyễn hoá, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động.  Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm.

Phòng bệnh: Ngoài các biện pháp bảo vệ sức khoẻ chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình, các bệnh nhân mắc các bệnh khớp cần lưu ý là khi trời lạnh, nhất là kèm theo mưa phùn thì phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, đội mũ, đeo găng tay, đi tất, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm nước muối ấm bàn tay, bàn chân, sử dụng túi chườm nóng, lò sưởi, điều hoà nhiệt độ (nếu có điều kiện). Một đặc điểm quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng nhiều loại thuốc kết hợp, duy trì lâu dài, hàng năm, có khi suốt đời.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Bệnh thoái hóa đốt sống cổ

Một trong những vị trí hay gặp của thoái hóa khớp là thoái hóa cột sống trong đó thoái hóa cột sống lưng là hay gặp nhất, tiếp đến là cột sống cổ còn cột sống ngực ít gặp hơn. Tùy vị trí thoái hóa mà có các biểu hiện lâm sàng cũng như phương pháp điều trị khác nhau.

Tại sao cột sống hay bị thoái hóa?

Cấu trúc cột sống gồm: 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống thắt lưng và các đốt sống cùng cụt. Mỗi đốt sống gồm thân đốt sống cứng, chắc, đĩa đệm, dây chằng và bao khớp đàn hồi cho phép cột sống đảm bảo được chức năng giữ cơ thể ở tư thế thẳng, phối hợp vận động và bảo vệ tủy sống. Các đốt sống, đĩa đệm có liên quan trực tiếp tới tủy sống và các rễ thần kinh, mạch máu… Ở vùng cổ là đám rối thần kinh cánh tay và động mạch đốt sống; ở cột sống ngực là các dây chằng thần kinh liên sườn; ở cột sống thắt lưng có liên quan tới rễ thần kinh cùng cụt và thần kinh tọa. Chính vì có cấu tạo và liên quan khác nhau ở từng đoạn cột sống nên triệu chứng thoái hóa cũng rất đa dạng. Khi bị thoái hóa xương khớp nói chung cũng như thoái hóa cột sống đều bao gồm đau tại chỗ, hạn chế vận động và các triệu chứng chèn ép thần kinh, mạch máu lân cận.

benh_thoai_hoa_dot_song_co

Thoái hóa đốt sống cổ gây chèn ép tủy sống trên phim chụp MRI.

Những biểu hiện của thoái hóa đốt sống cổ

Khi mắc bệnh có thể một thời gian dài người bệnh không thấy có cảm giác khác thường sau đó có các biểu hiện như các cử động ở cổ bị hạn chế, có cảm giác khó quay đầu, cứng gáy và đau. Đau do thoái hóa được chia làm 2 loại.

Đau cấp tính: thường khởi phát đột ngột, diễn biến trong khoảng 1 tuần. Đau có thể sau gắng sức như cúi xuống đột ngột, tư thế xoắn vặn đột ngột, ngã đột ngột và mạnh trên nền cứng hay có thể do các động tác sinh hoạt hàng ngày. Đau cột sống cổ có thể xuất hiện sau trời lạnh, nằm gối đầu cao. Đau kiểu cơ học có thể tăng bởi một gắng sức dù nhỏ, khi vận động, khi ho, giảm hoặc mất hẳn đau khi nghỉ ngơi ở tư thế giảm đau. Đôi khi người bệnh ở tư thế ngoẹo cổ, sái cổ. Đau kéo dài từ gáy lan qua tai đau chằng lên đầu có thể nhức đầu vùng chẩm, vùng trán. Hoặc đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay một bên hoặc hai bên. Khám bệnh nhân thấy người bệnh hạn chế mọi động tác, trừ động tác về phía tư thế giảm đau. Co cứng cơ cạnh sống. Không có rối loạn cảm giác các chi hoặc cơ tròn. Trong trường hợp thoái hóa đốt sống cổ kèm thoát vị đĩa đệm chèn ép thần kinh có thể thấy hội chứng vai tay – đau cổ lan xuống vai tay. Đa số các trường hợp cấp có thể trở lại bình thường trong thời gian khoảng một tuần. Một số trường hợp dễ tái phát, một số trở thành mạn tính với chèn ép thần kinh nổi trội.

Đốt sống cổ thoái hóa do nguyên nhân gì?Thoái hóa đốt sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ, mới đầu là sự hư khớp ở các diện thân đốt, đĩa liên đốt tới các màng và dây chằng. Bệnh thường gặp ở người trung niên, những người làm nghề phải sử dụng nhiều đến động tác ở vùng cổ như diễn viên xiếc, người đi cấy, thợ nề trát trần, thợ cắt tóc, người làm việc văn phòng… Ngoài ra thoái hóa đốt sống cổ do tuổi tác, do quá trình lão hóa nên tưới máu kém, do loãng xương…

Đau mạn tính: thường tiến triển từ từ, lành tính. Có thể khởi đầu không có tiền sử ngã hoặc chấn thương rõ rệt mà xuất hiện dần dần ở người có tiền sử đau đốt sống cổ cấp tính. Đau kiểu cơ học, đau tăng khi gắng sức, khi đứng lâu, ngồi lâu. Ngược lại, giảm đau khi không gắng sức, nằm gối đầu ở tư thế hợp lý. Đau ban ngày nhiều hơn ban đêm, một số sau ngủ dậy hết đau. Một số bệnh nhân có đau ít và nhanh chóng hết đau sau một vài động tác vận động đơn giản. Có tiếng lạo xạo hay lắc rắc, cục cục khi vận động, quay cổ. Tiến triển đau với cường độ thay đổi từ tuần này sang tuần khác với các đợt thuyên giảm xen kẽ đợt nặng bệnh sau gắng sức, sau thay đổi thời tiết. Khám lâm sàng nói chung, vận động cột sống cổ tương đối bình thường hoặc có thể hơi đau khi làm động tác ấn dọc vào các gai xương, mỏm gai của các đốt sống cổ. Trong thoái hóa các đốt sống cổ, các gai xương tân tạo có thể chèn ép các động mạch đốt sống gây đau đầu, chóng mặt, thoát vị đĩa đệm đoạn cổ 4 đến cổ 6 có thể chèn ép tủy gây yếu, đau tứ chi. Nếu thoái hóa đốt sống cổ ở đoạn cổ 1 – cổ 2 có liên quan trực tiếp đến quay đầu cổ, tới sự nâng giữ đầu. Nếu thoái hóa ở đoạn cổ 4 sẽ liên quan đến sự vận động cơ hoành gây nấc, ngáp, chóng mặt…

Các biện pháp chẩn đoán cận lâm sàng

Bao gồm chụp Xquang cột sống cổ ở các tư thế thẳng, nghiêng, tư thế chếch 3/4 hai bên, thấy mất đường cong sinh lý, hẹp đĩa liên đốt, biến dạng thân đốt và các gai xương tân tạo. Ngày nay, với kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ cho phép dễ dàng phát hiện tổn thương đĩa đệm, thoát vị chèn ép thần kinh. Các xét nghiệm máu trong thoái hóa cột sống cổ nhìn chung bình thường.

Đau thoái hóa đốt sống cổ cần phân biệt với các biểu hiện của đau hố sau, u trong ống sống cổ, hội chứng đau gáy chẩm, đau gáy bải vai cánh tay.

BS. Nguyễn Thị Lan Anh
Theo SKĐS

Điều trị và dự phòng bệnh thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp (hư khớp) là bệnh thường gặp ở người cao tuổi, người trẻ tuổi cũng bị do chấn thương. Đặc điểm của thoái hóa khớp là đau và hạn chế cử động, hậu quả là biến dạng khớp, có khi tàn phế. Việc điều trị đã có nhiều tiến bộ nhưng cũng còn không ít khó khăn do các thuốc dùng trong điều trị thoái hoá khớp có nhiều tác dụng phụ. Hơn nữa, nếu thay khớp nhân tạo nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

dieu_tri_va_du_phong_benh_thoai_hoa_khop_01

Khoảng 12% người thay khớp gối phải thay lại lần 2, lần 3.

Việc điều trị tập trung vào những mục tiêu

– Giảm đau tại khớp bị thoái hoá.

– Duy trì và cải thiện chức năng của khớp, dự phòng biến chứng hạn chế cử động.

– Làm chậm tổn thương cũ và ngăn ngừa tổn thương mới.

Những nguyên tắc cơ bản trong điều trị

Xu hướng điều trị hiện nay gồm:

– Điều trị không dùng thuốc: Thường chỉ định cho bệnh nhẹ, sử dụng những phương pháp vật lý trị liệu như chườm nóng hoặc chiếu đèn hồng ngoại, hoặc máy phát sóng ngắn, máy siêu âm. Xung điện giảm đau cũng có tác dụng rất tốt. Để bảo đảm hiệu quả và tránh tai biến khi thực hiện, cần có ý kiến bác sĩ chuyên môn. Ngoài ra, trong  giai đoạn thuyên giảm đau, liệu pháp vận động cũng có tác dụng rất tốt. Còn lúc đau nhiều thì nên nghỉ ngơi để khớp không phải hoạt động nhiều.

– Điều trị dùng thuốc: Khi những biện pháp trên không đạt kết quả như ý, bác sĩ cho dùng thêm thuốc kháng viêm giảm đau và thuốc giãn cơ. Những thuốc này thường có tác dụng phụ trên dạ dày, có nguy cơ gây viêm loét, xuất huyết hoặc thủng dạ dày nhất là đối với người cao tuổi, vì vậy phải hết sức chú ý.

Những chú ý trong điều trị thoái hóa khớp

Trong đợt cấp: Đối với thoái hoá khớp chủ yếu là vận động liệu pháp, nhưng trong các đợt cấp phải nằm bất động trong suốt thời gian bệnh cấp tính. Sử dụng các thuốc chống viêm, giảm đau, tuy nhiên cần chú ý tác dụng phụ của thuốc với nguy cơ gây loét dạ dày hoặc đau đầu, chóng mặt. Tiêm vào  vùng đau khi cần thiết có thể làm giảm cơn đau, nhưng cần được vô khuẩn tốt để tránh viêm khớp mủ và không nên tiêm nhiều lần vào trong khớp.

Lý liệu pháp: Trong các đợt cấp nếu chườm nóng sẽ làm đau tăng lên. Vì vậy hãy chườm lạnh, có khi đắp nước đá làm giảm đau khớp nhất là khi có viêm nặng. Chú ý: trong đợt cấp, khi có suy tim hoặc có bệnh mạch vành, không nên điều trị bằng tắm ngâm. Các suối nước nóng không thích hợp với người già thể trạng kém.

Đau kinh diễn: Nếu đau kinh diễn do thoái hoá khớp, chỉ nên dùng thuốc khi đau kéo dài, các thuốc phải tránh tác dụng phụ. Nếu bệnh nhân không có loét, viêm dạ dày có thể dùng phối hợp aspirin với indometacin. Có thể dùng các thuốc tác động tâm thần nhất là các thuốc chống trầm cảm. Trong thoái hoá khớp cổ có thể dùng quang tuyến liệu pháp cũng làm bệnh nhân bớt đau.

Lý liệu pháp: có tác dụng tốt đối với thoái hoá khớp chung, nhất là với thoái hoá cột sống. Có thể dùng sóng ngắn, điều trị điện châm, tắm đắp bùn hoặc paraphin. Nếu điều kiện cho phép thì phối hợp với vận động liệu pháp.

Phẫu thuật điều trị thoái hóa khớp: Những năm gần đây, phẫu thuật chỉnh hình đã có những tiến bộ rất lớn, có thể thay hẳn khớp bằng khớp nhân tạo. Khớp nhân tạo phổ biến hiện nay là khớp háng, khớp gối, tiếp theo sau là khớp vai, khớp cổ chân, ngón tay, khuỷu. Đa phần các loại khớp làm bằng chất liệu hợp kim, một số thành phần làm bằng sứ, polyethylen. Ở nước ta, thay khớp gối và khớp háng đã trở nên phổ biến ở nhiều trung tâm, bệnh viện trong cả nước. Chỉ định mổ thay khớp chỉ đặt ra khi bệnh nhân quá đau đớn mỗi khi cử động khớp bị hư do một nguyên nhân nào đó như ở khớp háng: có thể hay gặp là tình trạng hoại tử chỏm xương đùi ở người trẻ, hoặc gãy cổ xương đùi ở người cao tuổi do khả năng lành xương kém; thoái hóa khớp háng do nguyên nhân chấn thương hay tuổi tác với mặt sụn khớp bị hư hoàn toàn. Đối với khớp gối là di chứng của chấn thương làm hư mặt sụn, tình trạng thoái hoá khớp gối ở người cao tuổi. Một số bệnh lý như viêm đa khớp dạng thấp làm huỷ hoại mau chóng mặt sụn khớp. Phẫu thuật thay khớp sẽ giúp bệnh nhân đỡ đau, tự đi lại được, cải thiện chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, thay khớp nhân tạo cũng có những nguy cơ tiềm ẩn như: nhiễm khuẩn trong và sau mổ, tuổi thọ của khớp nhân tạo chỉ được 10 – 15 năm. Có khoảng 12% những người được thay khớp lần đầu sẽ phải thay lại lần hai hay ba do lỏng khớp, hư khớp, nhiễm khuẩn hay bị gãy xương quanh khớp. Các nguy cơ phẫu thuật cũng tăng lên 2-3 lần ở cuộc mổ lần sau. Do vậy thay khớp nhân tạo là biện pháp cuối cùng sau khi mọi phương pháp điều trị khác không còn có tác dụng. Nếu bệnh nhân còn chấp nhận được đau thì sẽ không có chỉ định thay, hay nói đúng hơn chỉ định thay khớp chủ yếu dựa trên triệu chứng đau của bệnh nhân chứ không dựa trên mức độ hư của khớp nên người quyết định thay khớp hay không chính là bệnh nhân.

dieu_tri_va_du_phong_benh_thoai_hoa_khop_02

Khớp háng nhân tạo.

Phòng ngừa thoái hóa khớp

– Người thừa cân, béo phì cần có chế độ ăn uống, tập luyện hợp lý để giảm cân, đỡ sự quá tải  cho hệ xương khớp nhất là khớp gối và cột sống. Các nghiên cứu cho thấy khi cơ thể tăng thêm 1kg thì cột sống phải gánh thêm 4kg.

– Hạn chế uống bia, rượu vì uống nhiều bia, rượu có thể gây hoại tử chỏm xương đùi. Không lạm dụng corticoide.

– Tránh các chấn thương gãy cổ xương đùi, trật khớp háng.

– Cần hạn chế các động tác, tư thế làm việc có hại cho khớp như xách nặng, khuân vác nặng, ngồi, đứng, làm việc không đúng tư thế quá lâu.

– Tập đều đặn vào buổi sáng các bài khởi động khớp hay chơi thể dục thể thao ở mức độ vừa phải sẽ có tác dụng tốt cho khớp và cho cả nhiều cơ quan khác như tim mạch, hô hấp.

BS. Nguyễn Thị Lan Anh
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Nhận biết thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp là tình trạng hư hỏng phần sụn, đệm giữa hai đầu xương, kèm theo phản ứng viêm ở đó và giảm sút lượng dịch nhày giúp bôi trơn, vì vậy gây đau và cứng khớp. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở người trên 40 tuổi, nhất là sau 60 tuổi.

Yếu tố thuận lợi gây thoái hóa khớp

Một số yếu tố quan trọng liên quan đến thoái hóa khớp là tuổi tác, tình trạng béo phì, những chấn thương nhẹ và mạn tính ở khớp. Phạm vi thoái hóa khớp bao gồm cả khớp, sụn và cả những tổn thương thoái hóa tại các đĩa liên đốt. Bệnh được đặc trưng bởi sự thoái hóa của sụn và phì đại xương tại các diện khớp. Biểu hiện viêm thường rất nhẹ.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_nhan_biet_thoai_hoa_khop

Bệnh thoái hóa khớp được chia làm 2 loại:

– Thoái hóa khớp tiên phát, chủ yếu xuất hiện ở khớp ngón xa (hạt Heberden) và sau đó là các khớp ngón gần (hạt Bouchard), khớp bàn ngón và khớp ngón gần của ngón tay cái, khớp háng, khớp đầu gối, khớp bàn ngón chân cái, cột sống cổ, cột sống thắt lưng…

– Thoái hóa thứ phát: xuất hiện ở bất kỳ khớp nào, hậu quả của tổn thương khớp do những nguyên nhân tại khớp (như viêm khớp dạng thấp), hay ngoài khớp. Những tổn thương này có thể là cấp tính, chẳng hạn gãy xương, hoặc mạn tính do khớp phải làm việc quá sức, do một số bệnh rối loạn chuyển hóa (ví dụ cường cận giáp trạng, bệnh nhiễm sắc tố sắt, bệnh nhiễm sắc tố ochronose) hay những bệnh lý thần kinh (bệnh tabet).

Về mặt giải phẫu, ban đầu sụn khớp trở nên thô ráp, cuối cùng là mỏng đi và tạo nên các gai xương ở rìa của diện khớp. Màng hoạt dịch dày lên, các hình lông phì đại. Mặc dù vậy khớp không bao giờ bị dính hoàn toàn và màng hoạt dịch không bị kết dính. Biểu hiện viêm rõ đôi khi có một số bệnh nhân bị tổn thương cấp các khớp liên đốt ngón tay (hạt Heberden).

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_nhan_biet_thoai_hoa_khop_02

Các khớp thường bị thoái hóa trên cơ thể.

Chẩn đoán phân biệt

Vì biểu hiện viêm khớp thường rất nhẹ và không có những triệu chứng toàn thân cho nên bệnh thoái hóa khớp rất ít khi nhầm lẫn với bệnh viêm khớp khác. Vị trí tổn thương các khớp ở bàn tay giúp phân biệt thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp. Thoái hóa khớp chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp ngón xa và dạng thấp lại chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp cổ tay và khớp bàn ngón tay, ít gặp ở các khớp ngón xa. Hơn nữa, trong thoái hóa khớp, khớp to ra do phì đại của xương nên thường cứng và mát (không nóng) trái lại khớp sưng trong viêm khớp dạng thấp thường mềm và nóng. Cũng cần phải thận trọng không nên cho rằng mọi triệu chứng ở xương khớp đều do khớp bị thoái hóa, đặc biệt đối với cột sống, bởi vì đi kèm với thoái hóa khớp có thể có di căn ung thư, loãng xương do u tủy xương hoặc những bệnh khác.

Những khớp nào hay bị thoái hóa?

Biểu hiện của thoái hóa khớp

Bệnh khởi phát từ từ, ban đầu có dấu hiệu cứng khớp song hiếm khi kéo dài quá 15 phút. Sau đó xuất hiện đau khớp, tăng lên khi vận động kéo dài và giảm khi nghỉ ngơi. Biến dạng khớp thường không có hoặc rất nhẹ, tuy nhiên đôi khi thấy phì đại xương rõ. Tình trạng co gấp hoặc biến dạng khớp gối, ít gặp. Bệnh không gây dính khớp song thường gây hạn chế vận động khớp, đôi khi người bệnh cảm thấy tiếng lạo xạo trong khớp. Tràn dịch khớp và những biểu hiện viêm khớp khác thường nhẹ. Không có triệu chứng toàn thân.

Xét nghiệm: tốc độ lắng máu không tăng, các xét nghiệm viêm thường bình thường. Trên Xquang có biểu hiện hẹp khe khớp, các rìa của diện khớp thường nhọn, mọc gai ở đầu xương, đặc xương dưới sụn. Ngoài ra có thể thấy các hốc nhỏ ở đầu xương.

Khớp nào cũng có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa khớp háng, khớp gối và khớp cột sống. Hai triệu chứng biểu hiện của thoái hóa khớp là đau tại khớp bị thoái hóa và cứng khớp vào buổi sáng. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

– Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, khi mới ngủ dậy, kéo dài không quá 30 phút. Một thời gian sau, đau lưng sẽ kéo dài cả ngày, tăng khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, thường ảnh hưởng đến thần kinh tọa làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

– Cột sống cổ: Rất hay gặp ở người trên 40 tuổi. Biểu hiện chủ yếu bằng đau cơ hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh khi khám thấy các cử động tại cổ đều bị hạn chế nhất là động tác nghiêng bên. Chụp Xquang tổn thương thường ở đốt cổ 5 và cổ 6, giữa cổ 6 và cổ 7, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

– Khớp gót chân: Bệnh nhân có cảm giác thốn ở gót vào buổi sáng mới ngủ dậy, khi đi những bước đầu tiên, sau vài chục mét thì giảm đau và đi đứng bình thường.

– Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo, lụp cụp khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động; nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối. Trong một số trường hợp màng hoạt dịch có thể bị viêm dày lên, khi ấn vào xương bánh chè đồng thời gấp chân lại, có thể gây đau nhói và một tiếng rắc. Đây cũng chính là biểu hiện chứng tỏ có tổn thường khớp đùi – bánh chè. Thoái hóa khớp gối thường có khuynh hướng nặng lên dần. Do đau nên ảnh hưởng nhiều đến mọi hoạt động.

– Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn do đau ngay từ đầu, vì khớp này gánh trọng lượng cơ thể nhiều nhất. Đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi. Cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi, dễ nhầm với đau dây thần kinh hông to. Đau xuất hiện khi đi, do đó hạn chế việc đi lại biểu hiện bằng việc đi khập khiễng. Nằm nghỉ thì hết đau, những trường hợp thoái hóa khớp nặng, đau cả ban đêm, lúc nghỉ và có thể gặp teo cơ đầu đùi. Bệnh không tự khỏi mà tiến triển từ từ có thể dẫn đến cứng khớp không hoàn toàn.

BS. Nguyễn Thị Lan Anh
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Gút – vua của các bệnh

Có hàng trăm bệnh liên quan đến xương khớp, trong đó 35 bệnh khớp, 7 bệnh quanh khớp, 21 bệnh nội khoa có biểu hiện khớp, 40 bệnh xương cũng thuộc chuyên khoa khớp học. Các bệnh hay gặp như thoái hóa khớp, viêm khớp, loãng xương, gút… ngày càng có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng lớn tới chất lượng sống của người bệnh, đôi khi gây tàn phế, thậm chí có thể gây tử vong do biến chứng. Tuy nhiên, bệnh có thể phòng tránh và hạn chế biến chứng nếu được điều trị đúng và kịp thời.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_gut_vua_cua_cac_benh

Biểu hiện gút cấp tính ở ngón chân

Gút là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hoá nhân purin của tế bào, có thể hiểu nôm na là rối loạn chuyển hoá đạm, được đặc trưng bởi sự tăng cao quá mức acid uric trong máu và trong các mô của cơ thể. Các tinh thể urat lắng đọng vào màng hoạt dịch của khớp gây nên viêm khớp vi tinh thể với những triệu chứng rất đặc trưng.

Các khó khăn chính gặp phải khi chẩn đoán bệnh gút

Khi bệnh ở thể điển hình thì có thể phát hiện được không mấy khó khăn. Chẩn đoán bệnh hiện nay vẫn dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ 1968. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay chẩn đoán gút còn gặp nhiều khó khăn. Có 3 nguyên nhân chính gây khó khăn cho công tác chẩn đoán. Thứ nhất, đây là bệnh khá mới nên khó khăn trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Nhiều cơ sở y tế lại chưa có khả năng làm các xét nghiệm cần thiết như chọc dịch khớp, xét nghiệm acid uric máu… nên bỏ qua, không chẩn đoán được bệnh. Nguyên nhân thứ hai là bệnh có rất nhiều biểu hiện và nhiều thể bệnh khác nhau, nên dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh khác. Nguyên nhân thứ ba là tình trạng lạm dụng thuốc bừa bãi hiện nay. Bệnh nhân được dùng quá nhiều loại thuốc nên mất hết triệu chứng, khiến chẩn đoán trở nên rất khó khăn. Có nhiều bệnh nhân gút vào viện với các biến chứng nặng nề do lạm dùng thuốc như đái tháo đường, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.

Các hiểu biết giúp chẩn đoán bệnh chính xác

Đối tượng  và lứa tuổi hay mắc bệnh

Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành. Đa số các bệnh nhân gút là nam giới. Nam dễ bị bệnh, có thể do lối sống, chế độ ăn (rượu, bia ) và vấn đề di truyền. Về tuổi: bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi 40-60. Ở nữ giới, bệnh thường xảy ra sau thời kỳ mãn kinh.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_gut_vua_cua_cac_benh02

Biểu hiện gút ở ngón chân

Các biểu hiện chính của bệnh gút

Để phát hiện sớm được bệnh gút cần chú ý đến 3 biểu hiện lâm sàng chính của bệnh. Đó là các tổn thương khớp, xuất hiện hạt tophi và tổn thương thận.  Biểu hiện đặc trưng đầu tiên của bệnh gút là các viêm khớp cấp tính do gút. Cơn xuất hiện đột ngột, thường vào ban đêm. Khớp hay bị tổn thương là các khớp ở chi dưới: gối, cổ chân và đặc biệt là ngón chân cái… Khớp bị tổn thương đau ghê gớm, bỏng rát, đau làm mất ngủ, da trên vùng khớp hay cạnh khớp sưng nề, có màu hồng hoặc đỏ. Thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt 38-38,5oC, có thể kèm rét run. Một đặc điểm nữa là khi uống thuốc colchicine thì bệnh nhân thấy giảm đau khớp nhanh trong vòng 48-72 giờ. Các đợt viêm khớp này có thể tự khỏi sau khoảng 1-2 tuần. Sau đó lại xuất hiện các đợt viêm khớp mới. Khi tiến triển lâu dài thì bệnh chuyển sang giai đoạn mới. Đó là gút mạn tính. Các khớp bị sưng đau thường xuyên, dần dần bị biến dạng, cứng khớp, dẫn đến tàn phế. Biểu hiện thứ hai  của bệnh gút là xuất hiện các hạt tophi ở trên các khớp bị tổn thương như   khớp cổ chân, bàn ngón chân… Đó là các u cục nổi lên dưới da, không đau, da phủ trên đó bình thường, mỏng, dưới da có thể nhìn chất bột trắng. Hạt tophi cũng có thể ở tình trạng viêm cấp, hoặc rò ra chất nhão và trắng như phấn. Biểu hiện thứ ba của bệnh gút là tổn thương thận. Trong gút mạn tính có thể có lắng đọng muối urat trong thận tạo thành sỏi thận. Khi đó bệnh nhân có các cơn đau quặn thận, đái ra máu, đái ra sỏi, hay thậm chí  không có nước tiểu do sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu. Để chẩn đoán chính xác bệnh gút cần làm thêm xét nghiệm định lượng acid uric trong máu. Thường phát hiện được nồng độ acid uric máu tăng cao. Các xét nghiệm khác và Xquang khớp tổn thương cho phép xác định mức độ tổn thương và phát hiện các bệnh khác kèm theo.

Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh

Có hai nhóm nguyên nhân lớn của bệnh gút là gút nguyên phát và gút thứ phát. Gút nguyên phát là thể bệnh gặp nhiều nhất, có tính chất di truyền và mang tính gia đình. Gút thứ phát có nguyên nhân do tăng acid uric máu thứ phát, gây nên bởi một số bệnh như bệnh thận, bệnh máu, do sử dụng một số thuốc, hay do nhiễm độc chì. Có 5 yếu tố  thuận lợi gây bệnh chính. Thứ nhất là yếu tố gia đình. Có tới 30% bệnh nhân gút có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh này. Thứ hai là yếu tố nghề nghiệp. Đa số bệnh nhân là trí thức, thương gia, chủ doanh nghiệp. Vì vậy có câu nói: gút là vua của các bệnh và là bệnh của các vua. Nói là vua của các bệnh vì gút cấp gây đau khớp ghê gớm. Nói bệnh của các vua là vì gút trước hết thường hay gặp ở vua chúa, hay những người giàu có. Thứ ba là tật nghiện bia, rượu. Ở Việt Nam có tới 75% bệnh nhân gút uống rượu bia thường xuyên trung bình từ 7-10 năm. Thứ tư là các rối loạn chuyển hoá khác như tăng acid uric máu, tăng đường máu, tăng mỡ máu. Các nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ người béo phì có nguy cơ mắc bệnh gút gấp 5 lần so với những người có cân nặng bình thường. Tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút lên 3 lần. Thứ năm là tiền sử dùng một số thuốc làm tăng acid uric máu như  thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin, thuốc chống lao.

Tóm lại, khi bệnh nhân đau sưng các khớp ở chi dưới, có các tính chất như cơn gút cấp, hay có các hạt tophi hay bị sỏi thận, đặc biệt ở bệnh nhân nam giới, cần phải nghĩ đến bệnh gút trước tiên và người bệnh cần đến khám bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để  chẩn đoán bệnh và điều trị kịp thời.

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Nổi lo bệnh khớp với người béo

Không chỉ có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, hô hấp, rối loạn chuyển hóa và suy giảm chức năng tình dục mà thừa cân và béo phì còn tác động nghiêm trọng đến hệ vận động. Quá trình thoái hóa khớp, biến dạng khớp ở những đối tượng này thường diễn ra sớm và nghiêm trọng nếu không có các biện pháp giảm cân tích cực.

Tình trạng thừa cân và béo phì xảy ra do sự tác động qua lại của nhiều yếu tố: các yếu tố môi trường, chế độ ăn uống giàu calo và thói quen sinh hoạt ít hoạt động thể lực trên những gen di truyền nhất định. Béo phì còn do cán cân năng lượng bị mất cân bằng: năng lượng đưa vào lớn hơn nhiều so với năng lượng tiêu hao, hậu quả là năng lượng bị dư thừa và được tích trữ dưới dạng triglycerides trong các tổ chức mỡ.

noi_lo_benh_khop_voi_nguoi_beo

Bệnh gút là nỗi lo của người béo phì

Nỗi lo bệnh tật ở người béo phì

Béo phì là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tật của nhiều cơ quan, bộ phận trong cơ thể như:

Hệ tim mạch: tăng huyết áp, xơ vữa mạch máu, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, hẹp tắc động mạch chi.

Hệ hô hấp: giảm thông khí, ngừng thở khi ngủ là một biến chứng rất nguy hiểm.

Hệ nội tiết, chuyển hóa: tình trạng kém dung nạp glucose, kháng insulin, nặng hơn là bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng acid uric gây bệnh gút.

Tác động về tâm sinh lý: tự ti, trầm cảm, khó hòa nhập cộng đồng.

Một số bệnh ung thư như ung thư thực quản, trực tràng, vú…

Tác động trầm trọng đến hệ xương khớp

Ngay từ khi còn bé, những trẻ béo phì thường khó vận động nhanh nhẹn như các bạn cùng lứa, mặt khác chúng thường bị bạn bè chế giễu, làm cho chúng ngại tiếp xúc hơn và hay chơi một mình. Mặt khác, với trọng lượng quá cao so với sức chịu đựng còn non yếu của hệ cơ xương khớp nên trẻ thường kêu đau mỏi xương khớp, nhất là khớp gối, vùng thắt lưng. Một số trường hợp khớp bị biến dạng như chân hình chữ X hay chữ O, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và gây khó khăn trong hoạt động.

Một bệnh lý khác cũng gặp nhiều ở trẻ em thừa cân và béo phì đó là hiện tượng trượt điểm cốt hóa ở đầu trên xương đùi (slipped capital femoral epiphysis) gây nên tình trạng đau khớp và biến dạng khớp kiểu khớp háng xoay vào trong (coxa vara). Về lâu dài, đây là yếu tố nguy cơ gây thoái hóa khớp háng sớm và nặng.

Khi trọng lượng cơ thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối, cổ chân làm cho các khớp này sớm bị tổn thương và lão hóa nhanh. Hậu quả là gây đau đớn và khó khăn trong vận động, sinh hoạt hằng ngày của người bệnh.

Nghiên cứu cho thấy mật độ xương ở những người béo cao hơn so với người bình thường. Tuy nhiên người béo phì thường ít phơi nắng, ít hoạt động ngoài trời, ít vận động, tình trạng này kéo dài sẽ làm giảm chất lượng xương. Nếu tăng acid uric kéo dài có thể gây bệnh gút biểu hiện bằng viêm khớp cấp tính các khớp chủ yếu ở chi dưới, tái phát nhiều lần. Nếu có bệnh đái tháo đường đi kèm thì các triệu chứng đau mỏi cơ xương khớp càng rầm rộ hơn do thoái khớp và do tổn thương thần kinh ngoại biên.

Thay đổi lối sống là biện pháp điều trị quan trọng

Mục đích của điều trị thừa cân và béo phì là giảm trọng lượng ở giai đoạn đầu rồi duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ hợp lý ở giai đoạn sau bằng các biện pháp:

– Chế độ ăn giảm calo: Lượng calo cung cấp giảm từ 20-25% so với tuổi và giới, loại trừ các loại đường hấp thu nhanh và mỡ bão hòa hoặc tương tương với 1600-1800 kcal/ngày. Mục đích là giảm cân từ từ, không quá nhanh, khoảng 2-3 kg/ tháng.

– Tăng cường hoạt động thể lực: Luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, thuận lợi cho lưu thông mạch máu, giúp cho dinh dưỡng khớp và sụn khớp tốt hơn. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên các khớp xương trong khi vận động. Nên tập luyện tối thiểu 30 phút/ngày. Những hoạt động thể thao như bơi lội, đi bộ, thể dục nhịp điệu…, và các môn thể thao tập thể như bóng đá, bóng chuyền… nên được khuyến khích và động viên.

Thuốc giảm béo như xenical với tác dụng ức chế hấp thu mỡ được bác sĩ chỉ định trong những trường hợp nặng mà sử dụng các phương pháp trên không kết quả. Một số trường hợp nặng, không đáp ứng với các biện pháp kể trên, phẫu thuật làm hẹp dạ dày sẽ được đặt ra.

Phối hợp với điều trị các bệnh lý đi kèm với béo phì như thuốc chống thoái hóa khớp, thuốc giảm đau, thuốc hạ huyết áp, thuốc hạ mỡ máu…

BS. Phan Ngọc Minh
Theo SKĐS

Tạo hình dây chằng chéo trước khớp gối

Tổn thương dây chằng chéo trước khớp gối là một chấn thương thường gặp trong sinh hoạt, lao động. Khó khăn nhất cho người tổn thương dây chằng chéo trước khớp gối là vận động bị hạn chế, sưng nề, đau đớn, nếu không điều trị kịp thời sẽ có nhiều biến chứng phức tạp. Vì vậy phẫu thuật tạo hình lại là biện pháp điều trị cần thiết.

Hậu quả của tổn thương dây chằng chéo trước khớp gối

Sự vững chắc của khớp gối là sự vững chắc của mối quan hệ giữa xương đùi và xương chày, theo chiều trước sau rất quan trọng và được bảo đảm bởi hai dây chằng trong của khớp gối, đó là dây chằng chéo trước (DCCT) khớp gối và dây chằng chéo sau khớp gối. Nhờ có sự vững chắc này mà chúng ta có thể thực hiện được các động tác vận động nhanh, mạnh và dứt khoát. Trong hai dây chằng này thì DCCT khớp gối dễ bị tổn thương nhất và phẫu thuật phục hồi dây chằng này cũng là phẫu thuật phổ biến nhất trong các phẫu thuật vùng khớp gối.

tao_hinh_day_chang_cheo_truoc_khop_goi

Khi DCCT bị tổn thương, khớp gối của bệnh nhân sẽ mất đi sự vững chắc theo chiều trước sau, quan hệ giữa xương đùi và xương chày bị lỏng lẻo, do đó vận động của bệnh nhân sẽ gặp khó khăn, nhất là các động tác nhanh và liên tục. Ở một số bệnh nhân mà nhu cầu vận động không cao (phụ nữ, người ít chơi thể thao…) khả năng đi lại của bệnh nhân gần như bình thường do đó một số bệnh nhân chỉ cảm thấy là khớp gối của mình có vấn đề gì đó “không bình thường” nhưng chưa thật sự cảm thấy phiền toái. Tuy nhiên, những hậu quả lâu dài do đứt DCCT gây nên thì thật sự cần được quan tâm một cách thích đáng. Đó là những hậu quả gì?

Khi DCCT bị đứt, quan hệ động học giữa xương đùi và xương chày thay đổi, sự phân phối và truyền lực từ đùi xuống cẳng chân không bình thường, từ đó dẫn đến hai tổn thương thứ phát là rách sụn chêm và thoái hóa khớp.

Tổn thương sụn chêm thứ phát: Sụn chêm trong lúc đầu có thể còn nguyên vẹn và gắn chặt vào mâm chày. Do tổn thương DCCT, mâm chày bị di động ra trước và sụn chêm bị kẹt dưới lồi cầu trong xương đùi và khi gối gấp, nó bị nghiền và do đó sẽ bị rách ở sừng sau. Sự lặp đi lặp lại của hiện tượng này có thể làm cho đường rách lan rộng thêm ra sừng trước và sừng giữa. Hiện tượng này cũng có thể gặp ở sụn chêm ngoài nhưng ít hơn vì sụn chêm ngoài di động hơn so với sụn chêm trong.

Tổn thương thoái hóa khớp: Do sự thay đổi về động học của khớp gối nên dẫn đến những tổn thương thoái hóa do tổn thương xương sụn ở khoang trong, khoang ngoài hoặc khớp bánh chè lồi cầu đùi.

Xử trí đối với chấn thương gối và tổn thương đứt DCCT

Chấn thương gối rất thường gặp, đặc biệt là trong hoạt động thể thao thường ngày. Khi chấn thương gối mà không bị gãy xương, người bệnh và các bác sĩ thăm khám ban đầu rất dễ bỏ qua và để sót các tổn thương dây chằng của khớp gối. Việc thăm khám để phát hiện các triệu chứng của đứt DCCT khớp gối ở giai đoạn này tương đối khó khăn vì phần mềm xung quanh bị chấn thương. Ở giai đoạn này, sau khi đã loại trừ các tổn thương xương khác, có thể bất động cho bệnh nhân bằng nẹp đồng thời sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng như giảm đau, chống viêm, giảm phù nề. Việc thăm khám lại sau 2 tuần là cần thiết để có thể phát hiện các triệu chứng lâm sàng và chỉ định chụp cộng hưởng từ khớp gối để đánh giá các tổn thương dây chằng trong khớp.

Khi đã có chẩn đoán xác định đứt DCCT khớp gối, chỉ định phẫu thuật là cần thiết để phục hồi lại cơ năng khớp gối cho bệnh nhân và ngăn ngừa các tổn thương thứ phát như rách sụn chêm, thoái hóa khớp. Với sự phát triển của phẫu thuật nội soi, điều trị đứt DCCT đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, trả lại chức năng khớp gối của bệnh nhân gần như bình thường.

Hiện nay, tạo hình DCCT khớp gối được thực hiện hoàn toàn qua nội soi và thu được những kết quả tốt đẹp. Đối với tạo hình DCCT khớp gối, vật liệu để tạo hình có 2 nguồn chính: Vật liệu tự thân: gân bánh chè, gân bán gân và gân cơ thon; Vật liệu đồng loại: gân Achille, gân bánh chè…

Khi DCCT trước đứt, không có khả năng khâu nối lại vì hai đầu đứt rời xa nhau, các bác sĩ sẽ sử dụng một đoạn gân khác để thay thế cho dây chằng đã bị đứt. Đoạn gân dùng để thay thế sẽ được cố định hai đầu vào xương đùi và xương chày tương ứng ở vị trí bám của dây chằng trước đây và sẽ đóng vai trò của dây chằng chéo trước khớp gối.

Để bảo đảm quá trình hồi phục sau phẫu thuật tốt, bệnh nhân nên tuân thủ đầy đủ các bài tập phục hồi chức năng mà bác sĩ phẫu thuật hướng dẫn, vì dây chằng sẽ bị lỏng nếu quá trình tập phục hồi chức năng không bảo đảm đúng như chương trình. Bệnh nhân cũng đặc biệt chú ý không nên vận động nhanh, mạnh quá sớm (trong 2 tháng đầu) vì có thể bị đứt lại dây chằng. Nên sử dụng một băng gối chức năng để bảo vệ trong thời gian 1-2 năm sau phẫu thuật.

ThS. Trần Trung Dũng (Bệnh viện đại học Y Hà Nội)
Theo SKĐS

Mẹo nhỏ ăn uống cho người bệnh khớp

Sức khỏe là vàng nên trong những ngày Tết ai ai cũng chúc nhau nhiều sức khỏe. Nhưng để giữ cho thật sự khỏe mạnh trong những ngày này cũng không phải là dễ. Ngày Tết, thường là giao thời giữa mùa đông giá lạnh với mùa xuân ẩm ướt, nhất là ở các tỉnh phía Bắc, là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại bệnh khớp phát sinh hoặc tiến triển nặng hơn. Hơn nữa ngày Tết khó tránh khỏi hiện tượng “dư thừa” dinh dưỡng, điều này thật không có lợi với người bệnh gút…

meo_nho_an_uong_cho_nguoi_benh_khop

Nấm kim châm không thích hợp cho người bệnh gút.

Bệnh nhân gút: Chế độ ăn trong những ngày Tết cần phải tuân thủ chặt chẽ hơn ngày thường. Gút là một bệnh do rối loạn chuyển hóa các nhân purin, trong đó, tăng acid uric máu là đặc điểm chính. Hậu quả là các mô có lắng đọng các tinh thể monosodium urat do chúng bị bão hòa ở dịch ngoài tế bào, do vậy mà gây nên một hoặc nhiều triệu chứng lâm sàng sau: viêm khớp và cạnh khớp cấp và mạn tính, thường được gọi là viêm khớp do gút; tích lũy vi tinh thể ở khớp, xương, mô phần mềm, sụn khớp, được gọi là tophi; lắng đọng vi tinh thể ở thận, gây bệnh thận do gút; gây bệnh sỏi tiết niệu do acid uric. Bệnh thường gặp ở nam giới, tuổi trung niên, bệnh liên quan đến chế độ ăn uống quá nhiều chất đạm, uống quá nhiều bia, rượu… Do vậy cần hạn chế tối đa uống rượu, bia vì rượu, bia làm tăng acid lactic trong máu dẫn đến tăng lắng đọng urat ở khớp. Duy trì chế độ ăn giảm đạm (protein). Đảm bảo uống đủ nước để thận có thể lọc tốt (2-2,5l/ngày), nhất là sau khi uống rượu, bia, ăn nhậu nhiều. Kiềm hóa nước tiểu để tăng đào thải acid uric qua thận bằng các loại nước khoáng có kiềm cao hoặc nước kiềm 14%. Những thực phẩm không nên ăn là thức ăn giàu purin như phủ tạng động vật (gan, óc, tim, lòng, bầu dục) một số loại nấm, măng tây, tôm, cua, cá béo, cá hộp, thịt bê, đậu hạt các loại…. Có thể ăn trứng, sữa, hoa quả.

Với người bệnh viêm khớp dạng thấp, tránh lạnh, ẩm, ăn uống hợp lý đề phòng các đợt tiến triển là quan trọng nhất. Nguyên nhân gây bệnh còn chưa rõ, bệnh được xếp vào nhóm bệnh “tự miễn dịch” với sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong máu. Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên, viêm khớp kéo dài với các đợt sưng đau khớp cấp tính. Trong đợt cấp tính, bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, sốt, có thể có các biểu hiện ở các cơ quan khác. Mỗi đợt cấp tính thường kéo dài khoảng 1- 2 tuần. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Các khớp thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả 2 bên. Ở giai đoạn muộn, thường biểu hiện ở các khớp vai, háng, cột sống cổ. Buổi sáng, khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động. Sau nhiều đợt cấp tính hoặc sưng đau khớp kéo dài (vài tháng hoặc vài năm), các khớp có thể biến dạng: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo, khiến cho chức năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút, thậm chí, ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế, phải có người phục vụ.

Bệnh nhân bị co thắt các mạch máu đầu chi trong hội chứng Raynaud, đây là một biểu hiện hay gặp trong bệnh xơ cứng bì toàn thể, cần phải giữ ấm bàn chân, bàn tay. Khi tiếp xúc với lạnh, đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức. Xơ cứng bì là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể, trong đó thường thấy như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hóa, xơ hóa phổi, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi…

Đề phòng đợt tiến triển của bệnh thoái hóa khớp ở người cao tuổi – là bệnh lý do quá trình lão hóa của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi và nhuyễn hóa, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động. Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm.

Để có một cái Tết thật vui, bệnh nhân mắc các bệnh khớp cần đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, tránh uống nhiều bia, rượu, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên tránh lạnh, giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, đội mũ, đeo găng tay, đi tất, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường, ngâm nước muối ấm bàn tay, bàn chân, sử dụng túi chườm nóng, lò sưởi, điều hòa nhiệt độ (nếu có điều kiện).

TS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Bước ngoặc lớn trong điều trị thoái hóa khớp

Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trở thành chất xúc tác mạnh mẽ cho y học hiện đại phát triển, nhiều kỹ thuật điều trị mới ra đời, giúp con người có nhiều hơn các biện pháp chống đỡ với bệnh tật. Trong đó điều trị thoái hóa khớp bằng phương pháp tế bào gốc đang hứa hẹn những thay đổi quan trọng cho bệnh lý này.

Điều khó tránh khỏi của thời gian

buoc_ngoac_lon_trong_dieu_tri_thoai_hoa_khop

Cấy ghép tế bào gốc từ thận cho bệnh nhân khớp.

Thoái khớp là tình trạng lão hóa của sụn khớp và tổ chức xương dưới sụn, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như di truyền, nội tiết, chuyển hóa và chấn thương, biểu hiện bằng những thay đổi về hình thái và tính chất của sụn khớp như sụn bị nhuyễn hoá, kém tính đàn hồi, nứt ra và mỏng đi, tổ chức xương dưới sụn bị xơ hóa, tạo ra các gai xương và hốc xương dưới sụn. Biểu hiện trên lâm sàng bằng các triệu chứng đau nhức khớp, có thể tràn dịch khớp, biến dạng khớp, hạn chế vận động khớp, làm ảnh hưởng đến lao động, sinh hoạt hàng ngày.

Các phương pháp điều trị hiện nay nhằm vào 2 mục tiêu chính là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, nhất là ngăn sự thoái hóa sụn khớp và giảm đau, duy trì khả năng vận động, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Việc phòng bệnh tập trung vào phát hiện và sửa chữa các dị dạng bẩm sinh, tư thế xấu, lệch trục khớp và tránh cho khớp bị quá tải (tư thế làm việc hợp lý), giữ cân nặng hợp lý, tránh béo bệu. Có nhiều các biện pháp điều trị khác nhau từ không dùng thuốc (vật lý trị liệu, xoa bóp, kéo giãn, tắm bùn, tập luyện thể dục hợp lý…) đến sử dụng các thuốc có tác dụng làm chậm quá trình thoái khớp; các phương pháp can thiệp (nội soi khớp, phẫu thuật chỉnh sửa khớp) và phẫu thuật thay khớp nhân tạo khi các biện pháp điều trị trên thất bại.

Tế bào gốc trở thành hy vọng lớn

buoc_ngoac_lon_trong_dieu_tri_thoai_hoa_khop02

Lấy tế bào khớp ra nuôi cấy rồi cấy lại vào nơi tế bào khớp bị suy thoái.

Với sự phát triển của di truyền học, sinh học phân tử trong những năm gần đây, nhất là sau khi giới khoa học đã giải mã được bộ gen người năm 2001, thì nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng tế bào gốc trong điều trị nhiều bệnh nan y như bệnh tự miễn, ung thư, đái tháo đường, Parkinson…

Tế bào gốc (stem cells) là những tế bào có khả năng tự tái tạo bằng cách phân chia tế bào và có khả năng biệt hoá thành nhiều loại tế bào khác nhau. Với khả năng này, chúng có thể hoạt động như một hệ thống sửa chữa, thay thế các tế bào chết.

Có 3 loại tế bào gốc chính là: tế bào gốc từ phôi thai (embryonic stem cells) hình thành sau khi thụ tinh. Nhóm thứ hai là tế bào gốc từ tế bào gốc trưởng thành (adult stem cells) ở tuỷ xương, sụn khớp, da, giác mạc… Nhiệm vụ của tế bào gốc trưởng thành là thay thế, sửa chữa, bù đắp cho các tế bào đã chết. Việc sử dụng các tế bào gốc trưởng thành an toàn hơn nhưng số lượng tế bào ít hơn. Hơn nữa, chúng lệ thuộc vào tuổi của người có tế bào gốc, tế bào gốc của người trẻ phát triển nhanh hơn người già. Nhóm thứ ba là tế bào gốc sơ sinh (infant stem cells) ở dây rốn và nhau thai. Đây là nhóm tế bào gốc có ưu điểm hơn hai loại tế bào trên về nhiều phương diện và đang được nghiên cứu nhiều.

Phương pháp cấy ghép bằng tế bào sụn khớp đã được nghiên cứu thực nghiệm trên động vật từ những thập niên 70-80 của thế kỷ XX, nghiên cứu trên người vào những thập niên 90. Trong số các nghiên cứu đó, đáng chú ý nhất là nghiên cứu của TS. Lar Peterson và nhóm các nhà khoa học thuộc trường Đại học Goterbeg (Thụy Điển) sử dụng phương pháp cấy ghép sụn khớp tự thân. Các tác giả đã sử dụng phương pháp ghép sụn tự thân (autograft) cho một số bệnh nhân trẻ tuổi bị thoái khớp gối thứ phát sau chấn thương. Các tế bào sụn được lấy ra từ sụn khớp, sau đó được nuôi cấy trong một môi trường đặc biệt để được nhân lên, rồi chúng được ghép vào nơi thiếu hụt sụn khớp.

Do đó kỹ thuật này bao gồm nhiều công đoạn. Trước tiên, tiến hành nội soi khớp để xác định vị trí sụn bị tổn thương chuẩn bị cho ghép sụn, lấy một ít tổ chức sụn ở vùng khớp không bị tổn thương. Các tế bào sụn được nuôi cấy trong một môi trường giàu dinh dưỡng, có nhiều yếu tố tăng trưởng trong vài tuần và các tế bào này được nhân lên nhiều lần về số lượng, tồn tại ở dạng dịch đặc. Sau đó các tế bào sụn được cấy ghép vào vị trí sụn bị thiếu hụt. Các tế bào sụn này phải mất vài tháng mới chuyển thành tổ chức sụn bình thường.

Các nhà khoa học Úc, đứng đầu là GS. Silviu Itescu vừa công bố những kết quả về sử dụng tế bào gốc trưởng thành của cá thể khác (allograft) trong điều trị thoái hoá khớp gối. Nghiên cứu tiến hành ở một số con cừu cái sau mãn kinh bị thoái hoá khớp gối. Sau khi cắt sụn chêm, chúng được chia làm 3 nhóm: nhóm chứng, nhóm được điều trị bằng tiêm nội khớp acid hyaluronic (chất nhày dịch khớp nhân tạo) đơn thuần và nhóm được tiêm nội khớp đồng thời acid hyaluronic và tế bào gốc trưởng thành; chúng được theo dõi trong 6 tháng. Kết quả là sau 6 tháng, sụn khớp gối của nhóm được điều trị bằng tế bào gốc tái tạo lại dầy hơn và rộng hơn 20 % so với nhóm chỉ được tiêm acid hyaluronic đơn thuần. Sụn khớp mới này giàu chất cơ bản proteoglycan, chứng tỏ chất lượng cao của sụn mới tái tạo. Nhóm tiêm acid hyaluronic đơn thuần không có cải thiện rõ rệt về bề dầy sụn khớp.

Tuy nghiên cứu mới chỉ ở pha 2 trong quá trình thử nghiệm lâm sàng, nhưng cho phép chúng ta có thể hy vọng vào hiệu quả của phương pháp điều trị này trong tương lai. Tại Việt Nam, từ vài năm nay đã có các trung tâm nghiên cứu tế bào gốc và đã có những nghiên cứu ứng dụng cho một số bệnh lý như bỏng, lột da lâu lành…

TS.BS. Đào Hùng Anh
Theo SKĐS

Phòng ngừa bệnh thoái hóa khớp ở người cao tuổi

Thoái hóa khớp là bệnh chủ yếu ở người trưởng thành. Theo thống kê, có khoảng 30% số người trên 35 tuổi, 60% số người trên 65 và 85% số người trên tuổi 80 có nguy cơ mắc bệnh thoái hóa khớp. Phụ nữ bị thoái hóa khớp nhiều hơn nam giới (khoảng 2/3 số bệnh nhân là phụ nữ).

Nguyên nhân và vị trí thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp là tình trạng hư hỏng do quá trình lão hóa phần sụn đệm giữa hai đầu xương, quanh khớp, xung quanh khớp kèm theo phản ứng viêm và giảm thiểu lượng dịch nhầy (loại giúp bôi trơn ma sát ở điểm nối giữa hai đầu). Thoái hóa khớp còn có thể do viêm khớp dạng thấp hoặc do chấn thương (trật khớp tái đi tái lại nhiều lần). Thoái hóa khớp còn do sự kết hợp với tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của sụn khớp. Vì vậy, trong đa số các trường hợp thoái hóa khớp phụ thuộc vào tuổi tác, tình trạng thừa cân (béo phì), những chấn thương nhẹ hoặc chấn thương gây viêm mạn tính ở khớp.

phong-thoai-hoa-khop-khi-co-duoi-co

Phạm vi thoái hóa khớp bao gồm: khớp, sụn và cả những tổn thương thoái hóa tại các đĩa liên đốt. Bệnh đặc trưng bởi sự thoái hóa của sụn và phì đại xương tại các diện khớp. Thoái hóa khớp thường xảy ra ở những vị trí  như các khớp ngón tay, khớp gối, cột sống, cổ chân. Tỉ lệ thoái hóa khớp ngón tay ở phụ nữ cao hơn nam giới (đặc biệt là phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh). Trong bệnh thoái hóa khớp ngón tay thường xuất hiện các cục bướu nhỏ, cứng ở điểm cuối của các đốt ngón tay, làm cho ngón tay bị to ra và biến dạng, thỉnh thoảng có đau.

Với cột sống thắt lưng do chịu lực kéo dài bởi ngồi, đứng sai tư thế hoặc mang vác nặng đến khi tuổi càng cao rất dễ bị thoái hóa, thường hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống. Thoái hóa cột sống thắt lưng sẽ gây chèn ép dây thần kinh tọa làm cho người bệnh có cảm giác đau buốt từ thắt lưng xuống đùi, cẳng chân và mu bàn chân như có luồng diện chạy từ trên xuống có cảm giác rát bỏng.

Khi bị thoái hóa khớp xương thì giai đoạn đầu, người bệnh  thấy đau nhiều vào buổi sáng, khi mới ngủ dậy. Cơn đau diễn ra tối đa 30 phút, sau đó sẽ giảm. Sau một thời gian, hiện tượng đau lưng sẽ kéo dài cả ngày, tăng lên khi làm việc nhiều, nặng và giảm dần lúc nghỉ ngơi. Với những người phải ngồi lâu, cúi nhiều như làm việc văn phòng, lái xe đường dài, tuổi trên 40 rất dễ bị thoái hóa đốt sống cổ. Biểu hiện của thoái hóa đốt sống cổ chủ yếu bằng mỏi vai gáy, hạn chế cử động cổ, lan đến cánh tay, cẳng tay, ngón tay về phía dây thần kinh bị ảnh hưởng. Với người lớn tuổi thì khớp gối là loại dễ bị thoái hóa do quá trình chịu lực kéo dài, nhất là với những người lao động nặng, mang vác nặng, phải đứng lâu. Đối với khớp háng nếu bị thoái hóa thì ảnh hưởng đến quá trình vận động do đau khi đi lại. Ngoài ra, các khớp cổ chân, gót chân cũng có thể thoái hóa do lão hóa hoặc do đặc thù của công việc kéo dài trong một quá trình lâu dài. Tuy vậy, với người cao tuổi (trên 60) thì thoái hóa khớp phần lớn không có nguyên nhân rõ rệt mà thường kết hợp nhiều nguyên nhân. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong quá trình lão hóa, chức năng chống đỡ của sụn bị suy giảm và dễ hư hỏng khi khớp cử động. Thêm vào đó, các chấn thương nhẹ nhưng kéo dài nhiều năm do khuân vác đồ nặng cũng làm tăng gánh nặng cho các khớp, khiến sự thoái hóa dễ trầm trọng thêm. Bên cạnh đó, yếu tố di truyền hoặc di chứng của các bệnh lý khác cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh thoái hóa khớp.

Triệu chứng của thoái hóa khớp và biến chứng

Tùy theo vị trí khớp bị thoái hóa mà có các triệu chứng đặc thù, nhưng hầu hết thoái hóa khớp luôn có triệu chứng đau ở vị trí khớp bị thoái hóa (đau mỏi thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng; đau mỏi khớp gối do thoái hóa khớp gối…).

Triệu chứng đau thường xuất hiện vào sáng sớm, nhất là lúc vừa ngủ dậy. Thường  đau ở phần tiếp nối giữa hai đầu xương. Càng vận động càng đau nhiều. Đau có tính chất đối xứng, có tính chất cơ giới, tăng khi vận động, giảm khi nghỉ. Đau thường là âm ỉ, tăng từng đợt khi mang vác nặng, sai tư thế, khi mệt mỏi, căng thẳng thần kinh, thay đổi thời tiết. Đau thường xuất hiện sớm ở những khớp chịu lực (khớp gối, khớp cổ chân, cột sống thắt lưng, cột sống cổ). Có thể có phản ứng tiết dịch gây tràn dịch khớp, thường gặp ở khớp gối.

Triệu chứng cứng khớp cũng rất dễ xuất hiện. Cứng khớp đôi khi chỉ một vài khớp bị thoái hóa nhưng nếu có nhiều khớp bị thoái hóa  thì hiện tượng cứng khớp càng rõ rệt hơn. Khi bị thoái hóa khớp thì xuất hiện tiếng lạo xạo khi co duỗi khớp (khớp gối, cổ chân, cổ tay, bàn tay…). Khi xuất hiện cảm giác nóng hoặc hiện tượng đỏ, sưng tại các khớp nghĩa là thoái hóa khớp đi kèm một căn bệnh khác. Hậu quả của thoái hóa khớp còn là biến dạng khớp, tuy rằng biến dạng xảy ra chậm, chủ yếu do hiện tượng mọc thêm xương, phù nề tổ chức quanh khớp, lệch trục khớp, thoát vị bao hoạt dịch khớp (khớp gối). Với cột sống cũng có thể bị biến dạng như bị gù, vẹo. Khi đã biến dạng khớp thì sẽ gây hạn chế vận động, co cứng cơ cạnh cột sống, cơ thang. Đối với cột sống thắt lưng khi bị thoái hóa (nếu có kèm theo lồi đĩa đệm) sẽ có nguy cơ gây chèn ép gây đau thần kinh tọa và đau dọc theo dây thần kinh làm tê chân, xấu hơn nữa là bị tàn phế.

Khi nghi ngờ bị thoái hóa khớp nên làm gì?

Nếu thấy đau nhức ở các khớp và khó di chuyển trong một thời gian vài ba tuần thì nên đi khám bệnh để xác định có bị thoái hóa khớp hay không. Việc phát hiện và điều trị sớm sẽ giúp giảm thiểu đáng kể cơn đau và nguy cơ tàn phế. Tuy vậy, thoái hóa khớp thường tiến triển chậm, vì vậy, chúng ta có thể phòng ngừa và hạn chế các cơn đau do thoái hóa sụn khớp bằng cách tập thể dục nhẹ nhàng hàng ngày. Cần có chế độ ăn uống hợp lý, đủ chất, đặc biệt là ăn, uống các loại thực phẩm nhiều can xi như sữa, tôm, cua ốc, dầu cá. Ngoài ra, chúng ta có thể dùng các loại thuốc có chứa thành phần glucosamine, bởi vì glucosamine tham gia quá trình chuyển hóa tổng hợp nên thành phần của sụn khớp.

BS. BÙI MAI HƯƠNG

Thoái hóa khớp: Có thuốc chữa khỏi không?

Thoái hóa khớp (hư khớp) không phải là một bệnh mà là tình trạng lão hóa (già) của khớp. Ở đầu xương bao giờ cũng có một lớp sụn, lớp sụn này giúp cho khớp trơn tru, dễ dàng trong vận động, chịu được sức nén, hoạt động. Lớp sụn này luôn luôn được đổi mới, mòn đến đâu đắp lên đến đấy, hỏng đến đâu phục hồi đến đấy. Quá trình cứ xây xây, phá phá như thế kéo dài cho đến tuổi già và từ 50 tuổi trở đi thì quá trình phá nhiều hơn xây, do đó sụn khớp ngày càng mỏng đi, ngày càng nứt nẻ ra… để trơ lại lớp xương ở bên dưới.

Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… đây chính là tình trạng mà ta gọi là thoái hóa.

thoai_hoa_khop_co_thuoc_chua_khoi_khong

Có nhiều nguyên nhân gây thoái hóa nhưng chủ yếu là sự lão hóa của cơ thể (sau tuổi 50 con người đã có những biểu hiện của sự lão hóa). Mức độ lão hóa khác nhau tùy thuộc vào từng cá thể và điều kiện sống của cá thể đó. Thực tế thoái hóa khớp thường biểu hiện ở 3 vị trí: cột sống, khớp gối và khớp háng.

Để điều trị thoái hóa khớp người ta sử dụng phối hợp phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc. Các phương pháp không dùng thuốc: châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, chườm ngải cứu, đắp bùn nóng…

Các thuốc thường dùng trong điều trị thoái hoá khớp:

– Thuốc giảm đau, chống viêm (paracetamol, aspirin, meloxicam, diclofenac): Dùng các thuốc giảm đau, chống viêm từ nhẹ đến nặng (các thuốc này chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng tạm thời).  Nói chung nên hạn chế dùng kéo dài vì những tác dụng không mong muốn của thuốc như loét dạ dày – tá tràng…

– Thuốc bổ sung chất nhày cho khớp: sử dụng những chế phẩm có cấu trúc phân tử gần giống như dịch khớp tiêm vào ổ khớp. Chỉ tiêm khi có hiện tượng  đau, khô khớp, khó vận động và thường tiêm vào khớp gối.

– Thuốc dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin sulfat. Gần đây chất này được nhiều tác giả nghiên cứu để điều trị thoái hóa khớp do có tác dụng tăng cường tái tạo sụn, ức chế các men phá hủy sụn, giảm dần quá trình viêm đau khớp, làm chậm quá trình thoái hóa khớp.

– Các thuốc bôi, xoa ngoài: tùy theo thành phần hoạt chất trong đó có tác dụng giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, giãn cơ.

– Các thuốc bổ: các thuốc bổ gân, bổ xương… (có giá trị về mặt tâm lý hơn là giá trị thực tế).

Hiệu quả điều trị của thuốc sẽ tốt hơn nếu được kết hợp với vật lý trị liệu và các liệu pháp vận động khác. Khi khớp bị tổn thương quá nặng, mất khả năng vận động phải thay khớp.

Thoái hóa khớp là một tất yếu của tuổi già vì thế không có thuốc chữa khỏi hẳn. Chỉ có thể làm chậm lại quá trình này bằng tập luyện, vận động đúng mức, phù hợp với tình trạng sức khỏe. Tuyệt đối không cho tăng cân (vì nếu tăng lên 1 kg thì khớp phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần), tránh các động tác có hại cho khớp và chỉnh các dị dạng bất thường của khớp (người có bàn chân vẹo, chân chữ O, X )…

Theo SKĐS

Thuốc nào trị – Viêm khớp thái dương hàm?

Viêm khớp thái dương hàm là một bệnh, đúng hơn là một hội chứng khá phổ biến. Có nhiều nguyên nhân gây viêm khớp thái dương hàm như viêm khớp sau nhiễm khuẩn, viêm khớp sau chấn thương cấp, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, hoặc viêm – thoái hóa thứ phát khớp thái dương hàm. Điều trị viêm khớp thái dương hàm phải tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh.

Trường hợp viêm khớp thái dương hàm nhiễm khuẩn thì dùng kháng sinh thích hợp như penicillin G, oxacillin hoặc các cephalosporin thế hệ 1, 2, 3 khác. Tốt nhất là nuôi cấy bệnh phẩm tìm vi khuẩn, làm kháng sinh đồ và chọn thuốc theo kháng sinh đồ. Kết hợp thuốc chống viêm không steroid như aspirin, diclofenac, meloxicam… uống kèm thuốc giảm đau đơn thuần như  paracetamol hoặc paracetamol + codein khi đau nhiều; hút hoặc chích dẫn lưu rửa sạch mủ nếu có; hạn chế cử động khớp. Một khi kiểm soát được tình trạng nhiễm khuẩn thì cần có bài tập thích hợp để tránh hạn chế vận động khớp sau này.

thuoc_nao_tri_viem_khop_thai_duong_ham

Viêm khớp sau chấn thương cấp như sau nhổ răng khó, đặc biệt các răng hàm số 7, 8; sau đặt nội khí quản (hiếm gặp) cần điều trị bằng chống viêm không steroid như trên với đường toàn thân uống hay tiêm bắp hoặc chế phẩm dạng gel bôi tại chỗ. Có thể kết hợp giảm đau bằng chườm nóng hoặc chườm lạnh tại chỗ và uống thuốc giảm đau paracetamol hoặc paracetamol + codein. Ngoài ra lưu ý hạn chế vận động hàm trong thời gian đau.

Thoái hóa khớp thái dương hàm có thể nằm trong bệnh cảnh thoái hóa khớp nói chung và thường gặp ở những người trên 50 tuổi. Hay gặp thoái hóa cả hai bên. Điều trị triệu chứng như điều trị viêm khớp sau chấn thương cấp. Ngoài ra có thể kết hợp các thuốc điều trị thoái hóa khớp tác dụng chậm như glucosamin, chondroitin sulfat hoặc tiêm corticoid (hydrocortison acetat, methyl prednisolon acetat) tại chỗ. Lưu ý chỉ định tiêm rất thận trọng bởi bác sĩ chuyên khoa khớp, thực hiện trong điều kiện tuyệt đối vô khuẩn, tránh tiêm nhắc lại nhiều lần. Biến chứng có thể gặp khi tiêm khớp thái dương hàm là liệt mặt nếu tiêm vào dây thần kinh mặt (dây V).

Viêm khớp thái dương hàm do bệnh viêm khớp dạng thấp có thể gặp ở trên 50% bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Mức độ tổn thương có thể từ nhẹ, ít đau nên bệnh nhân thường bỏ qua đến đau nặng là triệu chứng làm bệnh nhân chú ý nhiều. Khớp thái dương hàm thường là khớp sau cùng bị tổn thương, sau các viêm ở khớp nhỏ – nhỡ bàn cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối… Điều trị bệnh nằm trong điều trị bệnh cảnh viêm khớp dạng thấp nói chung. Thuốc bao gồm thuốc điều trị triệu chứng như chống viêm không steroid (aspirin, diclofenac…) hoặc chống viêm corticoid (prednisolon, hydrocortison…) đường toàn thân; thuốc giảm đau paracetamol; thuốc điều trị cơ bản (nhóm thuốc chống thấp khớp có thể thay đổi cơ địa) như chloroquin, methotrexat, salazopirin, entanercept… thường dùng phối hợp hai, ba thuốc hoặc hơn. Có thể điều trị tại chỗ trong trường hợp viêm nặng bằng cách  tiêm corticoid vào khớp thái dương hàm. Lưu ý các bài tập chức năng vận động khớp thích hợp. Phẫu thuật chỉ định khi có viêm dính khớp làm bệnh nhân không há miệng được.

Viêm – thoái hóa thứ phát khớp thái dương hàm thường gặp sau chấn thương mạn tính hoặc sau hội chứng rối loạn chức năng khớp thái dương hàm. Hội chứng này thường gặp ở nữ giới từ 20 đến 40 tuổi. Nguyên nhân rất phức tạp, bao gồm các bệnh lý liên quan đến hệ thống nhai như hệ cơ, dây chằng, xương (xương hàm trên, dưới và xương thái dương), răng và khớp thái dương hàm. Trạng thái stress thường xuyên, tật nghiến răng cũng là những nguyên nhân phối hợp. Nếu hội chứng trên tồn tại dai dẳng thì hậu quả sẽ dẫn đến tình trạng viêm, thoái hóa thứ phát khớp thái dương hàm. Thường khớp thái dương hàm bị tổn thương một bên, đây là triệu chứng quan trọng để phân biệt với thoái hóa nguyên phát khớp thái dương hàm thường gặp ở cả hai bên. Điều trị tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có thể lựa chọn dùng liệu pháp tâm lý, phục hồi chức năng hỗ trợ (đeo máng cắn), dùng thuốc hay phẫu thuật; có khi cần phối hợp tất cả các biện pháp trên. Thuốc điều trị bao gồm thuốc an thần giải lo âu như diazepam, dogmatil; giãn cơ như mydocalm, myonal; thuốc chống viêm không corticoid như aspirin, diclofenac… đường toàn thân. Corticoid tiêm tại chỗ khớp thái dương hàm làm giảm đau khá tốt. Việc phối hợp điều trị với các chuyên khoa răng hàm mặt, tâm thần là cần thiết. Lưu ý là phòng và điều trị tích cực hội chứng rối loạn chức năng khớp thái dương hàm là biện pháp phòng hiệu quả bệnh viêm – thoái hóa thứ phát khớp thái dương hàm.

Theo SKĐS

Một số bệnh khớp hay gặp

Thời tiết lạnh là lý do khiến nhiều bệnh lý cơ xương khớp như viêm khớp, thoái hóa khớp tiến triển. Trời rét kèm theo độ ẩm tăng cao do mưa phùn, gây co các mạch máu ngoại vi làm giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp gây các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng. Xin giới thiệu một số bệnh khớp thường gặp và chịu ảnh hưởng nhiều khi thời tiết giá lạnh.

Bệnh thấp khớp cấp hay còn gọi là bệnh thấp tim, hay gặp ở lứa tuổi học đường, xuất hiện sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn beta nhóm A. Trẻ có biểu hiện ban đầu như viêm họng, sốt cao. Sau vài tuần kể từ khi bị viêm họng, trẻ có thể xuất hiện các viêm khớp cấp do thấp. Viêm khớp có tính chất xảy ra đột ngột, hay gặp ở các khớp to vừa như khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân, hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng thường khỏi nhanh hơn khi dùng thuốc chống viêm. Trong khi biểu hiện ở khớp thường khỏi nhanh, khỏi hoàn toàn không để lại di chứng thì biểu hiện ở tim thường nặng nề và là biểu hiện nguy hiểm nhất của bệnh. Ngoài các triệu chứng ở khớp, ở tim…, trẻ còn có thể có các triệu chứng thần kinh như múa giật, liệt, hôn mê; đau bụng, tiểu ra máu…

Knee pain

Viêm khớp dạng thấp là bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên, viêm khớp kéo dài với các đợt sưng đau khớp cấp tính, bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, sốt, có thể có các biểu hiện ở các cơ quan khác. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Các khớp thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả 2 bên. Ở giai đoạn muộn, thường biểu hiện ở các khớp vai, háng, cột sống cổ. Buổi sáng, khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động. Dấu hiệu này rõ nhất ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như gấp, xoay cổ tay… một hoặc vài tiếng mới giảm bớt cảm giác cứng khớp. Sau nhiều đợt cấp tính hoặc sưng đau khớp kéo dài (vài tháng hoặc vài năm), các khớp có thể biến dạng: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo, khiến cho chức năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Bệnh gút là một bệnh do rối loạn chuyển hóa các nhân purin, trong đó tăng acid uric máu là đặc điểm chính. Bệnh thường gặp ở nam giới, tuổi trung niên, bênh liên quan nhiều đến chế độ ăn uống quá nhiều chất đạm, uống quá nhiều bia, rượu… Cơn gút cấp điển hình có một số đặc điểm như cơn khởi phát đột ngột vào nửa đêm với tính chất: sưng khớp bàn ngón chân cái, đau ghê gớm, bỏng rát, kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt cao. Khám thấy khớp bị tổn thương sưng, da trên đó hồng hoặc đỏ.

Đau vai gáy, đau thắt lưng, viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương trong chứng bệnh đau cân cơ. Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính… Do trời lạnh, các cơ thường co lại để sinh nhiệt (rét run), tư thế “so vai, rụt cổ” do các cơ vùng gáy co lại để hạn chế tối đa trao đổi nhiệt với môi trưòng lạnh xung quanh. Các tư thế này phải duy trì trong thời gian dài làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây mệt và mỏi cơ. Có thể đau một hay hai bên bả vai, hạn chế các động tác của cột sống như cúi, ưỡn, nghiêng… Các triệu chứng hay đi kèm là trạng thái mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ…

Co thắt các mạch máu đầu chi trong hội chứng Raynaud, đây là một biểu hiện hay gặp trong bệnh xơ cứng bì toàn thể. Khi tiếp xúc với lạnh,  đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức.  Xơ cứng bì là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể, trong đó thường thấy như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hóa, xơ hóa phổi, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi…

Thoái hóa khớp là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hóa của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi và nhuyễn hóa, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động.  Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hằng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm.

Chú ý: Ngoài các biện pháp bảo vệ sức khỏe chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình, bệnh nhân mắc các bệnh khớp cần lưu ý là khi trời lạnh, nhất là kèm theo mưa phùn thì phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, đội mũ, đeo găng tay, đi tất, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm nước muối ấm bàn tay, bàn chân, sử dụng túi chườm nóng, lò sưởi, điều hòa nhiệt độ (nếu có điều kiện). Một đặc điểm quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng nhiều loại thuốc kết hợp, duy trì lâu dài, hàng năm, có khi suốt đời.

Theo SKĐS