Tag Archives: thị lực

Tìm hiểu thoái hóa điểm vàng ướt

Thoái hóa điểm vàng ướt là một trong hai loại thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác. Loại hình khác thoái hóa điểm vàng khô là phổ biến hơn và ít nghiêm trọng hơn.

Định nghĩa

Thoái hóa điểm vàng ướt là bệnh về mắt mãn tính là nguyên nhân gây mất thị lực ở trung tâm của lĩnh vực tầm nhìn. Thoái hóa điểm vàng ướt được đánh dấu bởi sưng do bị rò rỉ mạch máu ảnh hưởng đến điểm vàng, ở trung tâm của võng mạc – lớp mô bên trong bức thành phía sau của nhãn cầu.

Thoái hóa điểm vàng ướt là một trong hai loại thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác. Loại hình khác thoái hóa điểm vàng khô là phổ biến hơn và ít nghiêm trọng hơn. Thoái hóa điểm vàng ướt hầu như luôn luôn bắt đầu như thoái hóa điểm vàng khô. Không phải rõ ràng những gì gây ra thoái hóa ướt điểm vàng phát triển.

Phát hiện sớm và điều trị thoái hóa điểm vàng ướt có thể giúp giảm mức độ mất thị lực, và trong một số trường hợp, cải thiện tầm nhìn.

tim-hieu-thoai-hoa-diem-vang-uot

Thoái hóa hoàng điểm do tuổi tác

Các triệu chứng

Dấu hiệu thoái hóa điểm vàng ướt và triệu chứng thường xuất hiện và tiến triển nhanh. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm:

Hình ảnh biến dạng, chẳng hạn như đường thẳng xuất hiện lượn sóng hoặc quanh co, dấu hiệu ô cửa hoặc đường tìm kiếm lệch, hoặc các đối tượng xuất hiện nhỏ hơn hoặc xa hơn so với thực.

Giảm thị lực trung tâm.

Giảm cường độ hay độ sáng của màu sắc.

Cũng được xác định tại chỗ hoặc điểm mù trong lĩnh vực tầm nhìn.

Đột ngột khởi phát.

Nhanh chóng xấu đi.

Ảo giác của các hình dạng hình học, động vật hoặc người, trong các trường hợp thoái hóa điểm vàng tiến triển.

Khám bác sĩ mắt nếu

Nhận thấy những thay đổi trong trung tâm tầm nhìn.

Khả năng xem màu sắc và chi tiết bị suy yếu.

Những thay đổi này có thể là dấu hiệu đầu tiên của thoái hóa điểm vàng, đặc biệt nếu lớn tuổi hơn 50.

thoai-hoa

Nguyên nhân

Không phải rõ ràng những gì gây ra thoái hóa điểm vàng ướt. Tình trạng này hầu như luôn luôn phát triển trong những người đã có hình thức thoái hóa điểm vàng khô. Nhưng bác sĩ không thể dự đoán người sẽ phát triển thoái hóa điểm vàng ướt mà nghiêm trọng hơn và tiến triển nhanh hơn so với thoái hóa điểm vàng khô.

Các loại thoái hóa điểm vàng ướt

Thoái hóa điểm vàng ướt có thể phát triển theo những cách khác nhau:

Mất thị lực gây ra bởi sự tăng trưởng bất thường mạch máu loại neovascularization choroidal, thoái hóa điểm vàng nước phát triển khi các mạch máu mới bất thường phát triển từ màng mạch – lớp của mạch máu võng mạc, lớp khoác bên ngoài của mắt được gọi là màng cứng – dưới và thành phần điểm vàng của võng mạc. Những mạch máu bất thường bị rò rỉ chất lỏng hoặc máu giữa các màng mạch và điểm vàng. Chất lỏng cản trở chức năng của võng mạc và gây mờ thị lực trung tâm. Ngoài ra, những gì nhìn thấy khi nhìn thẳng về phía trước trở thành lượn sóng hoặc cong, và điểm trống ngăn một phần của lĩnh vực tầm nhìn.

Tầm nhìn tổn thất gây ra bởi chất lỏng tích tụ ở phía sau của mắt. Một loại thoái hóa điểm vàng ướt, được gọi là bong biểu mô sắc tố võng mạc, xảy ra khi chất lỏng thoát ra từ màng mạch và thu được giữa các màng mạch và một lớp mỏng tế bào được gọi là biểu mô sắc tố võng mạc (RPE ). Choroidal máu bất thường tăng trưởng thường không nhìn thấy khi RPE được tách ra. Thay vào đó, chất lỏng bên dưới RPE gây ra trông giống như vỉ hoặc một vết sưng dưới hoàng điểm.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị thoái hóa điểm vàng nước tập trung vào ngăn chặn sự tiến triển của bệnh.

Các loại thuốc để ngăn chặn sự tăng trưởng bất thường của mạch máu

Thuốc có thể giúp ngừng sự tăng trưởng của các mạch máu mới bằng cách ngăn chặn những tác động của tăng trưởng, tín hiệu cơ thể sẽ gửi để tạo ra các mạch máu mới. Những loại thuốc này được coi là điều trị đầu tiên cho tất cả các giai đoạn của thoái hóa điểm vàng ướt.

Các thuốc được sử dụng để điều trị thoái hóa điểm vàng nước bao gồm:

Bevacizumab (Avastin).

Ranibizumab (Lucentis).

Pegaptanib (Macugen).

Các loại thuốc này được tiêm trực tiếp vào mắt. Có thể tiêm lặp lại mỗi bốn tuần để duy trì tác dụng có lợi của thuốc. Trong một số trường hợp, có thể hồi phục thị lực một phần như các mạch máu co lại và dịch dưới võng mạc hấp thụ, cho phép các tế bào võng mạc lấy lại một số chức năng.

Sử dụng tia laser để phá hủy các mạch máu bất thường (quang đông)

Trong thời gian điều trị bằng laser, bác sĩ sử dụng một chùm tia laser năng lượng cao để tiêu diệt bất thường, các mạch máu bị rò rỉ dưới hoàng điểm. Thủ tục được sử dụng để ngăn chặn thiệt hại thêm cho điểm vàng và tiếp tục ngăn chặn mất tầm nhìn càng lâu càng tốt.

Laser điều trị được sử dụng để điều trị thoái hóa điểm vàng ướt trong các tình huống cụ thể. Nó thường không phải là một lựa chọn nếu có mạch máu bất thường thuộc trung tâm của điểm vàng. Ngoài ra, điểm vàng bị hư hỏng nhiều, khả năng thành công thấp hơn. Do những hạn chế, chỉ có một tỷ lệ phần trăm nhỏ những người có thoái hóa điểm vàng ướt là chỉ định tốt để điều trị laser.

Sử dụng ánh sáng để kích hoạt một loại thuốc tiêm (liệu pháp quang động)

Liệu pháp quang động được sử dụng để điều trị trực tiếp mạch máu bất thường dưới hố mắt. Hố mắt là một phần của mắt nằm ở trung tâm của điểm vàng và mắt khỏe mạnh cung cấp tầm nhìn sắc nét nhất. Quang trị liệu sử dụng tia laser không phải nóng như loại được sử dụng trong điều trị bằng laser.

Ánh sáng từ tia laser được sử dụng trong liệu pháp quang động kích hoạt một loại thuốc gọi là verteporfin (Visudyne), bác sĩ tiêm vào tĩnh mạch ở cánh tay. Thuốc tập trung trong các mạch máu bất thường trong mắt. Khi ánh sáng trực tiếp vào mắt, thuốc sẽ trở nên kích hoạt vào tổn thương bất thường mạch máu.

Quang trị liệu có thể ngăn chặn sự mất mát của tầm nhìn hoặc ít nhất là làm chậm tốc độ mất thị lực. Sau khi thủ tục, sẽ cần phải tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp và đèn sáng mạnh trong một vài ngày, cho đến khi thuốc hết tác dụng.

Lối sống và các biện pháp khắc phục

Điểm vàng bị thoái hóa không ảnh hưởng đến tầm nhìn bên (ngoại vi) và thường không gây mù hoàn toàn. Nhưng nó có thể giảm bớt hoặc loại bỏ tầm nhìn trung tâm – quan trọng đối với lái xe, đọc và nhận ra khuôn mặt của người. Có thể được giúp khi làm việc với một chuyên gia phục hồi chức năng tầm nhìn hoặc nhà trị liệu nghề nghiệp có thể hỗ trợ trong việc thích nghi để thay đổi tầm nhìn.

Cách để đối phó với thay đổi tầm nhìn có thể bao gồm:

Hỏi bác sĩ mắt để kiểm tra kính mắt. Tối ưu hóa tầm nhìn khi nhận được các ống kính theo toa thích hợp nhất. Ống kính hai tròng có thể hữu ích.

Sử dụng kính lúp. Một loạt các thiết bị phóng đại có thể giúp đọc và công việc khác, chẳng hạn như may. Ống kính lúp truyền thống cầm tay là một trong những lựa chọn. Những loại khác, chẳng hạn như ống kính lúp đặc biệt giống như kính, có thể có sẵn từ bác sĩ nhãn khoa, tại các cửa hàng hoặc từ một chuyên gia phục hồi chức năng tầm nhìn. Một tùy chọn khác có thể là hệ thống truyền hình mạch kín sử dụng một máy quay phim để phóng to tài liệu đọc và phát lên một màn hình video.

Thay đổi màn hình hiển thị trên máy tính. Điều chỉnh kích thước phông chữ trong thiết lập máy tính. Điều chỉnh màn hình để hiển thị độ tương phản.

Chọn thiết bị đặc biệt làm cho tầm nhìn thấp. Một số đồng hồ, radio, điện thoại và các thiết bị khác. Các tiện ích khác có thể nói cho biết thời gian hay thông tin quan trọng khác. có thể tìm thấy dễ dàng hơn để xem truyền hình trên TV với một màn hình lớn hơn.

Sử dụng đèn sáng trong nhà. Điều này sẽ giúp đọc sách và các hoạt động khác.

Sử dụng thận trọng khi lái xe. Đầu tiên, hãy kiểm tra với bác sĩ để xem nếu lái xe vẫn an toàn dựa vào thị lực hiện tại. Một số tình huống đòi hỏi phải thận trọng hơn, chẳng hạn như lái xe ban đêm, trong giao thông phức tạp hay trong thời tiết xấu.

Hãy xem xét các lựa chọn đi lại khác. Sử dụng phương tiện giao thông công cộng hoặc yêu cầu các thành viên trong gia đình giúp đỡ, đặc biệt là lái xe đêm.

Phòng chống

Các biện pháp sau đây có thể giúp tránh thoái hóa điểm vàng:

Khám mắt thường xuyên. Hãy hỏi bác sĩ mắt, thường xuyên trải qua khám mắt thường xuyên. Một cuộc khám mắt có thể xác định thoái hóa điểm vàng.

Quản lý bệnh khác. Ví dụ, nếu có bệnh tim mạch hoặc huyết áp cao, uống thuốc và làm theo hướng dẫn của bác sĩ để kiểm soát.

Ngưng hút thuốc lá. Hút thuốc có nhiều khả năng phát triển thoái hóa điểm vàng hơn là không hút thuốc. Hãy hỏi bác sĩ để được giúp đỡ để bỏ hút thuốc.

Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Nếu cần giảm cân, giảm số lượng calo ăn và tăng số lượng tập thể dục nhận được mỗi ngày. Nếu có một trọng lượng khỏe mạnh, làm việc để duy trì nó bằng cách thực hiện hầu hết các ngày trong tuần.

Chọn một chế độ ăn uống giàu trái cây và rau quả. Chọn một chế độ ăn uống lành mạnh, đầy đủ một loạt các loại trái cây và rau quả. Những loại thực phẩm chứa các vitamin chống oxy hóa làm giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng khô.

Bao gồm cá trong chế độ ăn uống. Axit béo Omega-3, được tìm thấy trong cá, có thể làm giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng khô. Các loại hạt, như quả óc chó, cũng có chứa axit béo omega-3.

Cần sớm điều trị chứng mắt lác ở trẻ

 Lác là tình trạng lệch trục của nhãn cầu do sự mất cân bằng của các cơ vận nhãn. Lác vừa ảnh hưởng đến thẩm mỹ vừa ảnh hưởng lớn đến chức năng của mắt bị lác và chức năng phối hợp giữa hai mắt. Lác có thể có tính di truyền vì vậy trong gia đình bố hoặc mẹ cũng có thể bị lác. Lác thường kèm theo nhược thị, tật khúc xạ và bệnh toàn thân.

Trường hợp độ lác rất ít, còn gọi là vi lác rất khó phát hiện cả khi bác sĩ mắt có kinh nghiệm khám, mà chỉ phát hiện được khi kiểm tra thị lực.

mat-lac-o-tre

Điều trị lác rất phức tạp, gồm một phức hợp chỉnh quang, chỉnh thị và chỉnh lệch trục nhãn cầu. Chỉnh thị là các phương pháp tập luyện như bịt mắt lành để thị lực của mắt bị bệnh được cải thiện. Chỉnh quang là quá trình điều chỉnh tật khúc xạ, thường là đeo kính để điều chỉnh. Điều trị chỉnh thị chỉnh quang có thể trước và cả sau khi phẫu thuật và mất rất nhiều thời gian và công sức. Một số người lác không cần đến phẫu thuật mà chỉ cần điều chỉnh bằng kính và tập luyện. Còn hầu hết các trường hợp lác cần đến phẫu thuật để điều chỉnh lệch trục nhãn cầu.

Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả tối ưu trong điều trị lác cần tuân thủ quy trình khám, điều trị và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa. Bạn nên cho con khám và điều trị ở bệnh viện chuyên khoa mắt.

Theo giáo dục

Viêm xoang có thể gây mù mắt

Rất nhiều người giảm thị lực, thậm chí mù đột ngột mà không biết rằng đó là biến chứng của viêm mũi xoang. Do nằm gần nhau nên tình trạng viêm nhiễm ở mũi xoang ảnh hưởng rất lớn tới mắt.

Hốc mắt được bao bọc bởi hệ thống các xoang mặt. Đáy của xoang trán là trần ổ mắt; thành trên của xoang hàm cấu tạo nên bờ dưới ổ mắt; mũi ngăn cách với ổ mắt bởi một vách xương rất mỏng; còn khối bên xoang sàng ở ngay liền cạnh mắt. Do có những liên quan chặt chẽ về mặt cấu trúc nên những viêm nhiễm từ mũi xoang có thể gây hại đến mắt như viêm nề ổ mắt, viêm mí. Bệnh thường xuất hiện đột ngột và rút lui nhanh chóng. Sau khi có triệu chứng sổ mũi, nhức đầu, bệnh nhân bị sưng mí mắt, nề màng tiếp hợp, lồi nhãn cầu, đau nhức mắt… Nếu dùng kháng sinh, các hiện tượng này sẽ hết nhưng bệnh tích của xoang vẫn tiến triển.

viem_xoang_co_the_gay_mu_mat

Các biến chứng khác ở mắt do viêm xoang:

Áp xe mí mắt: Là biến chứng của những viêm xoang mạn tính đợt cấp. Áp xe có thể khu trú ở mí trên (viêm xoang trán, xoang sàng) hay mí dưới (xoang hàm). Mí mắt sưng to, nóng, đỏ và đau. Rãnh giữa mí và gờ ổ mắt bị đầy. Màng tiếp hợp đỏ và nề, nhãn cầu di động bình thường. Độ 4-5 hôm, túi mủ sẽ vỡ ra ở 1/3 trong của mí mắt.

Viêm túi lệ: Xương lệ vừa mỏng lại vừa có những lỗ thông với xoang và mũi nên rất dễ bị viêm. Da vùng góc trong ổ mắt sưng và đỏ, hiện tượng này lan ra mí mắt và màng tiếp hợp. Bệnh nhân sốt và đau nhức nhiều, khoảng 3-4 hôm túi mủ tự vỡ, chỗ vỡ có thể tự liền hoặc thành lỗ rò chảy nước và túi lệ bị viêm mạn tính.

Viêm tấy ổ mắt: Viêm mủ tổ chức mỡ trong ổ mắt. Bệnh nhân thấy đau nhói trong ổ mắt, đau xuyên lên đầu. Mắt sưng húp, lồi và không di động được, sưng lan cả lên vùng thái dương.

Viêm dây thần kinh thị giác (dây thần kinh chi phối mắt): Thường là do viêm xoang sàng sau và xoang bướm. Thị lực của bệnh nhân tự nhiên giảm sút đột ngột, có thể tự phục hồi hoặc để lại những di chứng về sức nhìn. Trong những trường hợp này, biểu hiện bệnh xoang lại rất mờ nhạt: không ngạt mũi, không sổ mũi, ít khi nhức đầu. Khám xoang chỉ thấy ít mủ hoặc chất xuất tiết nhầy từ khe trên chảy xuống họng.

Ở trẻ em, viêm xoang cấp gây những biến chứng nặng nề như viêm xoang sàng xuất ngoại (mủ chảy ra ngoài làm thành túi mủ ở góc trong ổ mắt) hoặc cốt tủy viêm xương hàm trên (sưng phồng ở phần má, dưới ổ mắt), đôi khi dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Để tránh được những biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra, người bệnh cần đi khám ngay khi bắt đầu có những triệu chứng của viêm mũi xoang; tuyệt đối điều trị theo đúng hướng dẫn của các thầy thuốc tai mũi họng.

ThS Phạm Bích Đào, Sức Khỏe & Đời Sống
Theo ykhoa.net

Bệnh viêm bờ mi ở trẻ: Nên cẩn thận

Rụng lông mi, sưng mí, nóng rát, ngứa ngáy… là những gì con bạn gặp phải khi viêm bờ mi

Viêm bờ mi hay chứng kết hạt quanh mí mắt là tình trạng viêm mí mắt, đặc biệt là ở ngay chân lông mi của bé. Khi bé bị viêm bờ mi, mí mắt sẽ sưng, đỏ, rát, nổi hạt li ti. Nếu bị nặng, bé có thể bị rụng lông mi, mí mắt sưng, nóng rát, ngứa ngáy và chảy nhiều nước mắt.

Viêm bờ mi tuy không ảnh hưởng đến thị lực nhưng gây khó chịu cho bé. Ngoài ra, nếu để lâu, bệnh này có thể dẫn đến các bệnh khác về mắt như lẹo, chắp và viêm kết mạc – khó khăn hơn cho việc điều trị.

benh_viem_bo_mi_o_tre_nen_can_than_01

 Mí mắt sưng, đỏ và chảy nhiều nước mắt là triệu chứng của bệnh viêm mí mắt. Ảnh internet

Nguyên nhân

Bệnh viêm bờ mi có thể gây ra do bé bị viêm da tiết bã nhờn (da đầu nhiều gàu và quanh vùng mắt có nhiều mảng da khô bong tróc), mắt nhiễm khuẩn, tuyến dầu của mí mắt hoạt động quá đà hay thậm chí tất cả các nguyên nhân trên cộng lại.

Điều trị

Khi con bạn nhiễm bệnh viêm bờ mi, bạn nên đưa bé đến gặp bác sĩ nhi chuyên ngành nhãn khoa ngay. Bác sĩ là người có chuyên môn để xử lý bệnh triệt để và ngăn ngừa bệnh không trở nên nặng hơn.

Bác sĩ sẽ hướng dẫn bạn cách điều trị, trong đó bao gồm 1 vài lưu ý khi chăm sóc mắt cho con như:

– Nhỏ nước muối hay thuốc kháng sinh, thuốc bôi theo chỉ dẫn.

– Vệ sinh mắt hàng ngày cho bé theo các bước: Dùng gạc sạch, ẩm và ấm đắp lên mắt bé vài phút. Có thể lau mắt cho bé bằng nước muối Natri Clorid 0,9% hoặc lấy vài giọt dầu gội dành cho bé sơ sinh pha với nước rồi lau mắt cho bé. Lau khô bằng một chiếc gạc sạch. Nhớ lau thật nhẹ, tránh chà xát ảnh hưởng đến mắt bé.

– Hạn chế đề bé dụi tay vào mắt.

benh_viem_bo_mi_o_tre_nen_can_than_02

 Vệ sinh mắt cho bé thường xuyên sẽ đẩy lùi bệnh viêm bờ mi mau chóng. Ảnh minh họa

Phòng bệnh

– Vệ sinh nơi ăn chốn ở sạch sẽ, vệ sinh ăn uống để tránh các bệnh tiêu hóa như táo bón, viêm ruột…

– Vệ sinh mắt sạch sẽ: Dùng nước sạch, khăn sạch để rửa mặt, đeo kính bảo vệ mắt tránh các yếu tố kích thích như gió, bụi, ánh sáng, dị vật. Nên chọn kính tốt cho bé, đừng tiếc tiền mà mua cho con bạn kính kém chất lượng. Như vậy sẽ càng hại mắt bé hơn

Bệnh viêm bờ mi sau khi chữa khỏi vẫn có thể tái phát ở trẻ. Chính vì vậy, bạn hãy tăng cường các biện pháp phòng bệnh cho bé và hơn cả là giúp bé có một sức đề kháng thật tốt để đương đầu với mọi loại bệnh.

Theo Afamily/ Theo TTVN

Cấy tế bào gốc để chữa bệnh mù

Những người mù do tổn thương giác mạc sắp tới có thể thấy lại ánh sáng nhờ kỹ thuật nuôi cấy tế bào gốc, vừa được Đại học Y Hà Nội thực hiện thành công.

Đại học Y Hà Nội vừa nuôi cấy thành công tấm biểu mô giác mạc từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc. Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình, Chủ nhiệm bộ môn Mô học và Phôi thai học, Đại học Y Hà Nội, người chủ trì đề tài này, cho biết, khi bề mặt giác mạc bị tổn thương nặng như bị bỏng, sẹo…, giác mạc sẽ bị đục. Các tổ chức mô, xơ bò ra kín bề mặt giác mạc, làm người bệnh không còn khả năng nhìn.

cay_te_bao_goc_de_chua_benh_mu

Trong trường hợp này, cách điều trị tốt nhất là ghép giác mạc. Nhưng hiện ở Việt Nam, rất nhiều người mù cần làm phẫu thuật này nhưng không thực hiện được vì thiếu giác mạc để ghép. Giải pháp dùng tấm biểu mô được nuôi cấy từ tế bào gốc là tối ưu để khắc phục hiện trạng này. Tấm biểu mô sẽ làm trong giác mạc bị tổn thương, không cho các tổ chức mô, xơ, mạch máu tấn công bề mặt giác mạc.

Theo tiến sĩ Bình, với kỹ thuật trên, trong trường hợp giác mạc tổn thương nhẹ, tấm biểu mô có thể phục hồi hoàn toàn tình trạng giác mạc như ban đầu, những trường hợp nặng được cải thiện thị lực. Hiện đã có bốn bệnh nhân được áp dụng kỹ thuật này, với kết quả phục hồi thị lực rất khả quan.

Theo Afamily/ Theo Khánh Linh – BaoDatViet

Tìm hiểu bệnh loét giác mạc

Nếu ví con mắt như một cái máy ảnh, thì giác mạc là một thấu kính quan trọng trong hệ thống quang học của máy ảnh đó. Giác mạc chiếm đến 2/3 lực khúc xạ của mắt, vì vậy những tổn thương trên giác mạc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị lực của người bệnh. Một trong những tổn thương rất nặng của giác mạc gây ảnh hưởng trầm trọng đến thị lực là bệnh loét giác mạc.

tim_hieu_benh_loet_giac_mac

Nguyên nhân gây loét giác mạc

Đây là một bệnh khá thường gặp và là một trong những nguyên nhân dẫn đến mù lòa. Loét giác mạc là hiện tượng mất tổ chức giác mạc do hoại tử, gây ra bởi một quá trình viêm trên giác mạc. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra loét giác mạc: do vi khuẩn (tụ cầu, liên cầu, phế cầu, lậu cầu, trực khuẩn mủ xanh, moraxella…); do nấm (aspergillus fumigatus, fusarium solant, candida albicans, histoblasma,…); do virut (her pes simple, herpes zoster) hoặc do ký sinh trùng (acanthamoeba). Khi giác mạc còn nguyên vẹn thì hầu hết các yếu tố gây bệnh không xâm nhập được vào giác mạc. Loét giác mạc thường xuất hiện sau một chấn thương gây tổn hại lớp tế bào biểu mô (lớp tế bào bề mặt của giác mạc). Chấn thương giác mạc có thể từ bên ngoài: chấn thương trong sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là chấn thương trong nông nghiệp (do hạt thóc bắn vào mắt hoặc lá  quệt vào mắt). Do vậy, trong các mùa gặt số lượng bệnh nhân bị loét giác mạc thường tăng lên. Tổn thương giác mạc cũng có thể do bệnh tại mắt (do lông quặm, lông xiêu cọ vào mắt) hoặc do những phương pháp điều trị phản khoa học: đánh mộng mắt bằng búp tre, đắp nhái vào mắt để điều trị…

Biểu hiện của bệnh

Khi bị loét giác mạc bệnh nhân sẽ thấy  mắt bị đỏ, đôi khi sưng nề, mắt cộm chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, rất khó mở mắt. Thị lực bệnh nhân giảm nhiều, trường hợp nặng mắt chỉ còn cảm nhận được ánh sáng. Khám mắt sẽ thấy mi và kết mạc phù nề, trường hợp nặng có thể gây sụp mi mắt. Trên giác mạc có một ổ loét. Tùy nguyên nhân mà ổ loét có đặc điểm khác nhau. Nếu loét giác mạc do vi khuẩn: ổ loét có ranh giới không rõ, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử bẩn, khi nhuộm giác mạc bằng fluorescein 2% ổ loét sẽ bắt màu xanh, nếu ổ loét hoại tử nhiều sẽ có màu vàng xanh. Nếu loét giác mạc do nấm: ổ loét ranh giới rõ, bờ gọn thường có hình tròn hoặc bầu dục, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử dày, đóng thành vảy gồ cao, bề mặt vảy khô ráp và khó bóc. Nếu loét giác mạc do virut herpes: ổ loét có thể có hình cành cây hoặc hình địa đồ. Nếu loét giác mạc do acanthamoeba (amíp): ổ loét giác mạc thường kèm theo áp xe giác mạc hình vòng. Giác mạc xung quanh ổ loét bị mờ đi (do thâm nhiễm các tế bào viêm và dịch). Tiền phòng có thể có ngấn mủ.

Điều trị bệnh

Loét giác mạc là môt bệnh nặng, khó điều trị và gây ra nhiều biến chứng. Khi điều trị khỏi bệnh sẽ để lại sẹo trên giác mạc gây giảm thị lực. Trường hợp bệnh nặng, điều trị không hiệu quả có thể phải bỏ nhãn cầu.

Khi bị loét giác mạc, bệnh nhân cần phải đến khám tại các cơ sở nhãn khoa. Tại đây, nhân viên y tế nạo ổ loét giác mạc lấy bệnh phẩm, làm xét nghiệm tìm nguyên nhân gây bệnh và điều trị bằng các thuốc đặc hiệu. Nếu điều trị nội khoa không hiệu quả hoặc trong những trường hợp nặng có thể phải phẫu thuật ghép giác mạc, với mục đích thay thế giác mạc bệnh lý bằng mô giác mạc lành. Bệnh nhân tuyệt đối không được mua thuốc tại các hiệu thuốc để tự điều trị. Hiện nay, tại các hiệu thuốc có rất nhiều loại thuốc nhỏ mắt có chứa corticosteroid được bán tràn lan. Nếu bệnh nhân bị loét giác mạc mà dùng những thuốc này sẽ làm bệnh trở nên trầm trọng và gây ra những biến chứng rất nguy hiểm. Khi bị các chấn thương mắt dù nhẹ bệnh nhân cũng nên đến các cơ sở nhãn khoa để khám và điều trị, tránh để muộn có thể gây ra biến chứng loét giác mạc. Đặc biệt, khi bị bụi bay vào mắt, bệnh nhân nên đến cơ sở y tế để lấy, không nên tự ý lấy hoặc nhờ người khác lấy ra có thể gây biến chứng nguy hiểm, bệnh nhân cũng không nên dụi mắt vì sẽ làm tổn thương nặng thêm.

Theo SKĐS

Tìm hiểu bệnh lác mắt

Lác mắt là khi ta nhìn vật nào đó, hai mắt không thẳng hàng mà có một mắt lệch đi so với mắt kia. Có thể lệch vào trong gọi là lác trong, lệch ra ngoài gọi là lác ngoài, hoặc lệch lên trên gọi là lác đứng trên, lệch xuống dưới gọi là lác đứng dưới. Lác xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa các cơ ngoại nhãn của mắt, làm cản trở sự phát triển thị giác hai mắt và có thể ảnh hưởng đến thị lực, đồng thời cảm nhận chiều sâu – khả năng định vị một vật nào đó trong không gian 3 chiều – có thể mất thị giác hai mắt.

tim_hieu_benh_lac_mat

Lác mắt làm suy giảm thị giác

Ai có thể bị lác?

Lác mắt có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, lác bẩm sinh hoặc mắc phải, cũng có yếu tố di truyền. Người lớn thường lác thứ phát sau một chấn thương mắt, tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) không được điều trị hoặc một bệnh lý nào đó, có thể tổn thương ở thần kinh hoặc tại cơ vận nhãn. Trẻ bị lác bẩm sinh thì chưa rõ nguyên nhân, có thể do di truyền.

Nguyên nhân bị lác?

Có 6 cơ vận nhãn bám xung quanh mắt để giúp mắt liếc các hướng. Một cơ có vai trò liếc mắt sang phải, một cơ liếc mắt sang trái và 4 cơ còn lại làm cho mắt liếc lên trên hoặc xuống dưới và sang 4 góc. Khi thị giác hai mắt phát triển tốt thì hai mắt sẽ luôn làm việc cùng nhau để nhìn về 1 vật, não sẽ buộc cho các cơ ở một mắt hoạt động cân bằng nhau và hai mắt phối hợp hài hoà nhau. Lác mắt xảy ra là do sự mất cân bằng hài hoà này. Lác có thể do một rối loạn nào đó ở não hoặc tại cơ làm sự điều phối trên bị rối loạn.

Có thể một tổn thương nào như khối u, xuất huyết… làm liệt thần kinh vận động cho cơ nên mắt bị lác.

Lác có tính gia đình. Những tổn thương tuần hoàn trong bệnh tiểu đường, đục thuỷ tinh thể, viễn thị, khối u mắt hoặc bệnh lý khác làm cho mắt có thể dẫn đến lác.

Triệu chứng?

Triệu chứng của lác đơn giản nhất là được thấy hai mắt lệch nhau do người xung quanh phát hiện hoặc khi soi gương. Tuy nhiên, có những trường hợp lác độ nhỏ hoặc lác ẩn thì khó phát hiện hơn.

Triệu chứng có thể là mỏi mắt thường xuyên hoặc khả năng tập trung kém, nhìn mờ do tật khúc xạ kèm theo hoặc do nhược thị.

Nếu lác mắt xảy ra đột ngột, bệnh nhân có thể nhìn đôi do hai mắt nhìn về hai vật đồng thời. Để giảm khó chịu thì bệnh nhân sẽ nghiêng đầu để nhìn, và dần dần não sẽ tự ức chế ảnh ở một mắt để xoá song thị. Hậu quả là gây ra nhược thị ở một mắt.

Lác mắt gây ra tác hại gì

Tác hại cực kỳ quan trọng là nếu lác xảy ra ở trẻ em đang trong giai đoạn phát triển thị giác là làm cho thị giác kém phát triển, có thể gây nhược thị mất khả năng nhìn bằng hai mắt, do đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như không thể làm một số nghề nghiệp đòi hỏi thị giác hai mắt tốt. Ngoài ra với người lớn, lắc mắt làm mất vể thẩm mỹ và là trở ngại rất lớn cho việc giao tiếp trong cuộc sống.

Ở người lớn tuổi, lác mắt đột ngột có thể là báo hiệu một bệnh lý cấp tính ở hệ thần kinh vận động, do đó cần phải khám và tìm nguyên nhân để điều trị.

Theo suckhoe.24h.com.vn/ BV Mắt V-N

Phát hiện đột biến gen gây bệnh lác mắt

phat_hien_dot_bien_gen_gay_benh_lac_mat

Nhóm chuyên gia của Anh và Mỹ vừa phát hiện ra một gen khi đột biến có thể phát sinh hội chứng Duane, một căn bệnh rối loạn thường gặp gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển động của mắt, làm cho các cơ của mắt không ảnh hưởng đến quá trình chuyển động của mắt, làm cho các cơ của mắt không làm đúng theo ý định chủ quan của con người. Đây là căn bệnh phát triển rất sớm, thường từ 10 tuổi trở ra, trong đó phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn nam giới, nhất là mắt trái. Nguyên nhân là do các dây thần kinh của mắt bị ảnh hưởng khi con người còn nằm trong bụng mẹ, hạn chế tầm nhìn của mắt về cả hai phía. Qua nghiên cứu ở 7 gia đình có tiền sử mắc bệnh, các nhà khoa học đã tìm ra đột biến trong gen CHN1, đặc biệt là phát hiện thấy một phân tử mang tín hiệu làm nhiệm vụ điều phối một axon thần kinh, sau đó các nhà khoa học đã đưa đột biến này vào cho một phôi bào của một vật thể sống, nơi có hệ thống thị lực giống như của người và kết quả nó đã tạo ra các khuyết tật ảnh hưởng đến quá trình phát triển thần kinh. Kết quả nghiên cứu trên cho thấy hội chứng Duane rất có thể bắt nguồn từ việc phát triển không hợp của các dây thần kinh chịu trách nhiệm các hoạt động của mắt làm cho mắt lác chứ không phải là do khuyết tật cơ mắt như giả thiết đưa ra trước đây.

Duy Hùng (Theo Net/THX, 29/7/2008)
Theo SKĐS

Lác mắt: Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ

Nhiều bậc cha mẹ vì nghĩ rằng mắt lác chỉ là vấn đề xấu – đẹp nên khi mắt con bị lác lại không đi khám và điều trị sớm. Khi trẻ lớn lên, bắt đầu quan tâm đến hình thức mới tới gặp bác sĩ thì thị lực đã giảm nghiêm trọng. Theo các bác sĩ, lác mắt không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà nếu không điều trị sớm, mắt lác sẽ yếu dần và dẫn đến nhược thị.

lac_mat_khong_chi_la_van_de_tham_my

Dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Bé H. (5 tuổi) ở Thanh Hóa bắt đầu có biểu hiện lác từ khi gần 3 tuổi. Tuy nhiên, gia đình cho rằng triệu chứng không gây hại gì đến sức khoẻ và khả năng nhìn, chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên định để cháu lớn lên mới điều trị. Gần đây, thấy con có dấu hiệu nhìn kém, bố mẹ H. mới đưa cháu đi khám. Bác sĩ chẩn đoán H. mắc chứng đục thuỷ tinh thể bẩm sinh giai đoạn nặng và lác mắt chính là một hệ quả của bệnh này.

Cha mẹ không nên chủ quan khi thấy con bị lác mắt vì đó có thể là biểu hiện của một số bệnh lý nguy hiểm, mà đục thuỷ tinh thể bẩm sinh là một ví dụ. Bệnh này cần được chữa sớm bởi nếu để lâu, tế bào thị giác của trẻ sẽ thoái hoá và rất khó phục hồi.

Ngoài lác, đục thủy tinh thể bẩm sinh còn có một số biểu hiện dễ thấy là lỗ con ngươi của trẻ có màu trắng phấn, thường bị cả hai bên. Mắt có những cử động bất thường như rung lắc. Trẻ nhìn kém, hay dụi mắt, nheo mắt khi nhìn.

Bệnh lý khối u võng mạc (thường là ung thư) cũng có thể gây lác. Bệnh chủ yếu gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Nếu phát hiện muộn, trẻ sẽ phải múc bỏ mắt để bảo toàn tính mạng.

Lác do khối u thường có dấu hiệu đi kèm là ánh đồng tử bệnh nhân có thay đổi. Khi trẻ ở trong bóng tối, ánh mắt có màu xanh lơ hoặc trắng xám. Mắt bên tổn thương trông rất dại, vô hồn. Nếu để muộn, mắt có thể đỏ, lồi, gây đau nhức và buồn nôn.

Ngoài ra, các bệnh như viêm màng bồ đào, tổn thương ở não bộ… cũng có thể gây lác. Do đó, khi có biểu hiện này, trẻ cần được đưa đi khám ngay.

Cần được điều trị sớm

Các tật khúc xạ như viễn thị, loạn thị hoặc viễn – loạn thị phối hợp cũng gây lác mắt ở trẻ em, nhất là khi khúc xạ hai mắt lệch nhau. Trường hợp này thường gây lác vào trong. Nếu trẻ bị cận thị số cao nhưng không đều hai bên thì mắt nặng hơn thường bị lác ra ngoài.

Các bác sĩ khuyến cáo, ngay cả với các trường hợp kể trên, lác mắt cũng không phải chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Nếu không điều trị, mắt lác sẽ yếu dần và dẫn đến nhược thị.

Do đó, chứng lác cần được điều trị càng sớm càng tốt, và phải chữa dứt điểm trước tuổi đi học. Sẽ là quá muộn khi bệnh nhân đã 5-7 tuổi bởi lúc này não bộ và thị giác đã phát triển hoàn hảo, việc điều trị thường không mang lại hiệu quả cao.

Bác sĩ  Quốc Minh
Theo SKĐS

Cách chữa trị lác mắt?

Con tôi bị lác mắt trái. Mong bác sĩ cho biết về bệnh này và nên chữa bệnh ở đâu?

Nguyễn Kim Dung (Quảng Ngãi)

cach_chua_tri_lac_mat

Lác là tình trạng lệch trục của nhãn cầu do sự mất cân bằng của các cơ vận nhãn. Lác vừa ảnh hưởng đến thẩm mỹ vừa ảnh hưởng lớn đến chức năng của mắt bị lác và chức năng phối hợp giữa hai mắt. Lác có thể có tính di truyền vì vậy trong gia đình bố hoặc mẹ cũng có thể bị lác. Lác thường kèm theo nhược thị, tật khúc xạ và bệnh toàn thân. Trường hợp độ lác rất ít, còn gọi là vi lác rất khó phát hiện cả khi bác sĩ mắt có kinh nghiệm khám, mà chỉ phát hiện được khi kiểm tra thị lực. Điều trị lác rất phức tạp, gồm một phức hợp chỉnh quang, chỉnh thị và chỉnh lệch trục nhãn cầu. Chỉnh thị là các phương pháp tập luyện như bịt mắt lành để thị lực của mắt bị bệnh được cải thiện. Chỉnh quang là quá trình điều chỉnh tật khúc xạ, thường là đeo kính để điều chỉnh. Điều trị chỉnh thị chỉnh quang có thể trước và cả sau khi phẫu thuật và mất rất nhiều thời gian và công sức. Một số người lác không cần đến phẫu thuật mà chỉ cần điều chỉnh bằng kính và tập luyện. Còn hầu hết các trường hợp lác cần đến phẫu thuật để điều chỉnh lệch trục nhãn cầu. Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả tối ưu trong điều trị lác cần tuân thủ quy trình khám, điều trị và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa. Bạn nên cho con khám và điều trị ở bệnh viện chuyên khoa mắt.

BS. Đặng Thị Ngọc Ba
Theo SKĐS

Nguyên nhân và cách đề phòng cận thị

Dưới đây là nguyên nhân và cách đề phòng bệnh cận thị.

Bệnh cận thị ở trẻ em đang ngày càng tăng và trở thành mỗi lo ngại của nhiều bậc cha mẹ. Theo các chuyên gia nhãn khoa bệnh cận thị học đường đang có xu hướng tăng nhanh tại Việt Nam.

Nguyên nhân chính chưa được xác định rõ ràng. Nhưng qua nghiên cứu, người ta nhận thấy những công việc cần sự điều tiết của mắt trong thời gian dài (nhìn những con số nhỏ, đọc sách, tiếp xúc màn hình màn hình máy tính…) trong điều kiện không đủ ánh sáng có liên quan tới cận thị. Ngoài ra, những yếu tố di truyền, dinh dưỡng, trẻ sinh thiếu tháng cũng có liên quan tới bệnh này.

Cận thị là gì?

Tật cận thị là một dạng lỗi khúc xạ ảnh hưởng đến cơ chế hội tụ của mắt. Do nhãn cầu bị dài ra, tia sáng sẽ hội tụ trước võng mạc thay vì thay võng mạc. Và kết quả của điều này là những vật thể ở gần thì ta sẽ nhìn thấy rõ còn những vật ở xa thì lại mờ.

Nguyên nhân trẻ bị cận thị

Trẻ thiếu ngủ hoặc ít ngủ: đặc biệt là từ 7-9 tuổi và 12-14 tuổi, trong khoảng thời gian này nếu trẻ ngủ quá ít hoặc do không đủ thời gian để ngủ vì cha mẹ bắt học quá nhiều rất dễ gây ra cận thị.

Trẻ sinh ra mà trọng lượng cơ thể quá nhẹ: hầu hết trẻ sinh ra với trọng lượng cơ thể dưới 2,5kg, đến tuổi thiếu niên đều bị cận thị.

Trẻ sơ sinh thiếu tháng: trẻ sinh thiếu tháng từ 2 tuần trở lên thường bị cận thị từ khi học vỡ lòng. Bố mẹ bị cận thị rất dễ di truyền sang con cái, mức độ di truyền này liên quan mật thiết với mức độ cận thị của bố mẹ. Thông thường bố mẹ bị cận thị dưới 3 đi-ốp thì khả năng di truyền sang con cái rất nhỏ. Nếu bố mẹ bị cận thị từ 6 đi-ốp trở lên thì khả năng di truyền sang con cái là 100%.

Trẻ em xem ti-vi quá gần: nếu như ngày nào trẻ em cũng xem ti-vi nhiều hơn 2 giờ, với khoảng cách từ mắt tới ti-vi nhỏ hơn 3m sẽ làm cho thị lực suy giảm rất nhiều.

nguyen_nhan_va_cach_de_phong_can_thi_01

Một trong những điều cốt yếu nhất về thị lực là ánh sáng thích hợp. (ảnh minh họa)

Phòng ngừa

Một trong những điều cốt yếu nhất về thị lực là ánh sáng thích hợp. Hãy luôn luôn đảm bảo cho con bạn có ánh sáng tốt khi đọc sách hoặc học tập. Cả ánh sáng quá mạnh lẫn ánh sáng quá mờ đều làm cho mắt trẻ mệt mỏi, cần phải tránh. Không để trẻ đọc sách, viết chữ liền trong thời gian dài. Cũng không nên xem ti vi 2 – 3 giờ liền. Kiểm soát khoảng cách đọc sách và viết chữ của trẻ.

Khoảng cách từ mắt đến mặt trang sách, trang giấy cần khoảng 30 – 50cm. Tư thế ngồi học của trẻ phải ngay ngắn. Khi viết không để đầu trẻ nghiêng ngả hoặc không nằm xem sách, vừa ăn vừa xem sách báo. Chú ý đến chế độ dinh dưỡng của trẻ. Cho  trẻ ăn nhiều các thực phẩm gồm các chất protein và vitamin. Khi học tập căng thẳng, càng  phải chú ý bổ sung dinh dưỡng, tăng cường tập thể thao, thể dục.

Trẻ em nên được kiểm tra thị lực ít nhất mỗi năm một lần để đảm bảo sự phát triển thích hợp củathị giác. Nếu bạn nghi ngờ con mình mắc tật cận thị, hãy kiểm tra thị lực cho con ngay lập tức, để tình trạng không nặng thêm. Thời điểm tốt nhất đi kiểm tra thị lực cho trẻ là trước khi bé bắt đầu đến trường. Thị giác và tình trạng mắt mập mờ không được phát hiện có khả năng gây mù trong tương lai, đặc biệt trong những giai đoạn quyết định của sự phát triển mắt, tức là từ 6-9 tuổi.

Ai nên phẫu thuật lasik chữa cận thị

Lasik là phương pháp điều trị các tật về khúc xạ tia laser. Phẫu thuật lasik tuyệt đối không gây đau cả trong và sau khi phẫu thuật. Về mặt lý thuyết, sau phẫu thuật lasik, bệnh nhân sẽ có sức nhìn tốt hơn. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là bệnh nhân sau phẫu thuật lasik thành công có thể thường xuyên đọc sách báo trong điều kiện thiếu ánh sáng, ngồi nhiều giờ liên tục trước máy tính… mà không lo lắng về nguy cơ mắc các tật khúc xạ và không phải ai cũng có thể mổ lasik chữa cận thị.

Phẫu thuật lasik là một cuộc cách mạng trong phẫu thuật khúc xạ vì tính chính xác và thị lực hồi phục nhanh chóng sau phẫu thuật. Tuy nhiên, phẫu thuật lasik không phải dành cho tất cả bệnh nhân cận thị. Vì vậy, nếu bạn không muốn mang kính gọng thì có thể mang kính tiếp xúc khi tham gia một số hoạt động. Nếu vì ngành nghề đặc biệt không được mang kính gọng và kính tiếp xúc mới mổ lasik.

nguyen_nhan_va_cach_de_phong_can_thi_02

Phẫu thuật lasik không phải dành cho tất cả bệnh nhân cận thị. (ảnh minh họa)

Độ tuổi

Với người trên 40 tuổi, khả năng điều tiết của mắt sẽ giảm theo thời gian, độ kính lão bạn đeo sẽ ngày càng tăng. Sự tăng này tùy theo sức khỏe và tình trạng mắt của mỗi người. Do vậy nếu một người cận nặng trên 40 tuổi mà đi mổ lasik sẽ bị tốn tiền hai lần (một lần cho phẫu thuật lasik và một lần cho phẫu thuật phaco sau này) mà độ chính xác của mắt sau mổ lại không cao. Vì vậy nếu cận trên 6 độ và trên 40 tuổi thì bệnh nhân nên chờ một thời gian nữa, khi có đục thủy tinh thể sẽ giải quyết cả cận và đục thủy tinh thể trong một phẫu thuật sẽ đạt độ chính xác cao hơn.

Độ cận

Nếu bạn chỉ cận nhẹ 1-2 độ, không bị lệ thuộc kính thì không cần phải mổ, vì sau này khi 40 tuổi bị lão thị sẽ không cần đeo kính. Nếu cận trên 6 độ thì nên thận trọng theo dõi độ cận và luôn nhớ là chỉ mổ khi độ cận thật ổn định. Tỉ lệ bị cận tái phát sẽ cao hơn nhóm cận thị dưới 6 độ. Điều kiện để được phẫu thuật lasik là phải từ 18 tuổi trở lên, tốt nhất là chỉ mổ khi độ cận dưới 10 độ, tuổi dưới 40, độ loạn dưới 5 độ.

Bên cạnh đó, người được phẫu thuật phải ổn định tật khúc xạ ít nhất trong 6 – 12 tháng (trong 1 năm không tăng quá 0,75 độ) không có các bệnh cấp hoạc mãn tính tại mắt như: viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào, Glocom, giác mạc hình nón…, không có bệnh lý toàn thân ảnh hưởng đến phẫu thuật. Phẫu thuật lasik không áp dụng cho phụ nữ có thai hoặc cho con bú. Khi bị cận thị, nên đến khám tại các bác sĩ chuyên khoa mắt, khi được bác sĩ tư vấn không nên mổ thì đó là những lời khuyên tốt, nên tuân thủ. Bạn đừng quá kỳ vọng vào phương pháp mổ lasik và tìm nơi khác để “được mổ” thì hậu quả vô cùng tai hại vì đã có những trường hợp bị mù cả hai mắt sau phẫu thuật lasik chữa cận thị.

Theo BS Nguyễn Thị Mai (Thế giới Mốt)
Theo SKĐS

Cận giả, nguy thật

Một vài bạn trẻ thấy mắt nhìn kém hẳn sau đợt thi. Có người thấy mỏi mắt, nhức mắt khi làm việc nhiều, đeo thử kính cận của người khác thấy sáng hơn… Rất nhiều người sẽ nghĩ là họ bị cận thị, thực sự không phải vậy. Song hành với khái niệm cận thị là khái niệm giả cận thị.

Giả cận thị là gì?

Giống như các thuật ngữ y khoa khác như giả u, giả mang thai, giả nghén… giả cận thị hàm ý không phải là bệnh lý cố hữu mà là những rối loạn thoáng qua rất giống một bệnh hay một hội chứng nào đó.

Trên những người tham gia thực nghiệm tình nguyện, khi bắt họ nhìn gần liên tục trong 7 tiếng sẽ có khoảng 60% bị cận thị ít nhất là -0,5D.

Phân biệt cận thị thực sự hay giả cận thị đối với bác sĩ chuyên khoa mắt không quá khó. Triệu chứng chủ yếu của giả cận thị là khó khăn khi ghi chép sau một thời gian dài làm việc trong cự ly gần hay còn gọi là hiện tượng mệt mỏi thị giác. Thị lực có thể cải thiện nhất thời nếu đeo kính cận (kính trừ). Chẩn đoán phân biệt rất đơn giản chỉ bằng nhỏ thuốc liệt điều tiết như atropin hay cyclopegic, làm liệt cơ thể mi, giảm năng lực điều tiết, mắt sẽ trở lại bình thường.

can_gia_nguy_that

Khi có dấu hiệu khác thường về mắt nên đi khám bác sĩ chuyên khoa.

Thuốc dùng khi bị giả cận thị

Việc điều trị giả cận thị cũng tương đối đơn giản. Trong thể giả cận thị thực thể do những nguyên nhân dùng atropine quá lâu, chấn thương mắt, chấn thương sọ não, viêm thể mi ta cần dừng thuốc liệt thể mi và điều trị căn nguyên. Với thể chức năng thì khắc phục chỉ đơn giản là làm việc điều độ, làm việc trong điều kiện tối ưu cho mắt, giữ khoảng cách nhìn cho đúng, tập mắt dưới sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa mắt.

Có thể dùng một số thuốc thuộc dòng vitamin, thực phẩm chức năng để giúp đôi mắt đỡ mệt mỏi khi làm việc với cường độ cao, chống thoái hoá và lão hoá cơ quan thị giác. Có rất nhiều sản phẩm có tác dụng như vậy, ta có thể chia ra làm những nhóm sau đây:

– Nhóm vitamine có bổ sung chorondine sufate: tobicom, vidocom…

– Nhóm vitamine A-C-E có bổ sung sắc tố azeaxanthine, zeaxanthine: ocuvite, bentalex…

– Vitamine có bổ sung khoáng vi lượng: đồng , kẽm, selene: selazn

– Vitamine và cao bạch quả: sirrom, gilovite..

Xin mách nhỏ các bạn phương châm để dùng các loại sản phẩm trên đúng cách:

– Người trên 50 tuổi có thể dùng thực phẩm chức năng bổ mắt lâu dài, liên tục.

– Người trẻ thì dùng đến khi thấy đạt hiệu quả thì thôi: trong đợt thi, khi làm việc quá nhiều bằng mắt, khi đang bị bệnh mắt…

– Chỉ dùng 1 – 2 loại thuốc bổ là cùng vì rất nhiều thuốc có thành phần gần giống nhau.

– Đừng quên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng.

Các thuốc nhỏ mắt có thành phần làm êm dịu mắt, chống khô mắt, chống ngứa và sát trùng nhẹ dùng để hỗ trợ cho con mắt mệt mỏi cũng có rất nhiều. Bạn chỉ nên chọn một loại: vimax, computer eyes, blue eye, eye rich…

Mắt cũng như bất kỳ cơ quan nào có quyền mệt mỏi, lãn công khi bị làm việc quá nhiều. Ai trong chúng ta cũng có thể bị mệt mỏi thị giác, giả cận thị. Vì thế hãy làm việc bằng mắt điều độ và hợp vệ sinh.

BS.  Hoàng Cương (Bệnh viện Mắt Trung ương)
Theo SKĐS

10 thắc mắc thường gặp về cận thị học đường

Theo số liệu thống kê cả nước có 15% trẻ em trong độ tuổi đi học bị cận thị, được thống nhất với tên gọi “cận thị tuổi học đường” vì mắc ở lứa tuổi đang đi học. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về cận thị, yếu tố nào ảnh hưởng đến thị lực của trẻ, làm thế nào để phát hiện sớm bệnh cũng như vấn đề sử dụng kính cho trẻ…

1. Cận thị là một bệnh lý như thế nào? Cận thị trẻ em khác gì cận thị ở người lớn?

Cận thị là sự suy giảm khả năng nhìn xa, trong đó ảnh của sự vật không rơi đúng vào võng mạc mà rơi ra phía trước võng mạc, phải dùng một thấu kính phân kỳ để nhìn được nét. Cận thị học đường hay cận thị trên người trẻ (từ 8 – 22 tuổi) tăng số dần theo năm tháng đi học, mỗi năm 0,5 – 1đi-ốp (D), dừng lại khoảng 6D. Cá biệt cũng có những trường hợp cận bệnh lý (cận thị thoái hóa): có yếu tố di truyền, số kính tiếp tục gia tăng sau tuổi trưởng thành, cận đến 10D hoặc hơn, không thể đeo đúng số, nhiều biến chứng, thị lực khó đạt mức tối đa mặc dù đã cố gắng chỉnh kính.

Một thực tế ở nước ta là nhiều người không hề cận thị khi còn đi học, là sinh viên nhưng khi ra trường, đi làm lại bị cận thị. Họ đều ở môi trường làm việc bằng mắt nhiều ở cự ly gần, với máy tính chẳng hạn.

10_thac_mac_thuong_gap_ve_can_thi_hoc_duong

Tư thế ngồi học không đúng, trẻ dễ bị cận thị.

2. Khi bị cận thị, trẻ thường có những biểu hiện như thế nào?

Đa phần sẽ bắt đầu biểu hiện vào cấp II, nhưng hiện nay nhiều trẻ cận từ lớp 3, trẻ thường có biểu hiện nheo mắt, nghiêng đầu, có xu hướng thích tiến gần đến nguồn tài liệu. Học tập kém tập trung, kết quả giảm sút do chép đầu bài không kịp, hỏi han bạn bè… Thời lượng học tập cũng như trẻ bình thường thì trẻ cận thấy nhanh mỏi mắt, có thể dẫn tới đau nhức mắt và đau đầu.

3. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thị lực của trẻ?

Muốn có thị lực hoàn hảo về yếu tố tiên thiên cần có: đôi mắt (nhãn cầu) hoàn chỉnh, các cơ điều khiển mắt hoạt động tốt, đường dẫn truyền ảnh lên não hoàn hảo, não bộ không có bệnh lý.

Về điều kiện ngoại cảnh: chiếu sáng tốt là điều tối quan trọng, bên cạnh đó là độ tương phản, màu sắc… cũng ảnh hưởng đến kết quả thị lực.

4. Các phương pháp thăm khám bệnh cận thị hiện nay?

Phát hiện cận thị không khó, trừ một số trường hợp giả cận thị hoặc cận thị gắn liền với các hội chứng bẩm sinh hoặc rối loạn chuyển hóa. Thông thường chỉ bằng việc thử thị lực, đo khúc xạ, thử kính thấy thị lực đạt tối đa là có thể kết luận trẻ có bị cận thị hay không. Các trường hợp khác cận thị kèm với loạn thị, cận thị giả, cận thị là một biểu hiện của hội chứng nào đó… sẽ phức tạp hơn, cần có bác sĩ chuyên khoa khám xét cẩn thận.

5. Cha mẹ có thể nhận biết trẻ bị cận qua các dấu hiệu như thế nào?

Cha mẹ chủ yếu bằng quan sát có thể phát hiện ra trẻ bị cận thị: nheo mắt, nghiêng đầu, ngồi gần, ở lớp: ghi chép trên bảng khó khăn, hay phải nhờ bạn bè giúp đỡ…

6. Nhiều người cho rằng, khi mới phát hiện trẻ bị cận không nên cho đeo kính vì như vậy độ cận của trẻ sẽ bị tăng nhanh. Như vậy có đúng không?

Để trả lời câu hỏi trên người ta đã làm nghiên cứu hai nhóm đối chứng, nhóm có đeo và không đeo. Hằng năm có đánh giá lại tình trạng khúc xạ thì thấy đeo hay không đeo không ảnh hưởng đến độ gia tăng cận thị. Có một điều chắc chắn là: không đeo nhất định sẽ gặp khó khăn trong học tập và sinh hoạt, nhìn gần cường độ cao trong thời gian dài sẽ làm tăng số cận.

7. Trẻ em đôi khi hiếu động không tập trung nên việc đo thị lực có thể không chính xác. Vậy làm thế nào để có thể chọn đúng số kính cho trẻ?

Trẻ không tập trung, nói dối, không hợp tác có thể gây khó khăn cho việc thử thị lực, thử kính nhưng với các chuyên gia, môi trường chuyên khoa sâu thì những khó khăn trên không thành vấn đề gì. Do vậy thầy thuốc nhãn khoa luôn có cách để cấp được kính chính xác cho trẻ.

8. Trẻ đã bị cận thị thì cần kiểm tra lại mắt và số kính sau thời gian bao lâu?

Tùy số cận của trẻ, độ thỏa mãn khi dùng kính, tình trạng bệnh lý kèm theo mà bác sĩ sẽ đặt lịch khám lại cho trẻ. Cận thị nhỏ hơn 6D khoảng 1 năm khám 1 lần. Trên 6D khoảng 6 tháng khám mắt 1 lần.

9. Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng thế nào đối với mắt trẻ?

Cho trẻ học tập điều độ, kết hợp với vui  chơi, hoạt động thể lực tích cực sẽ làm hạn chế gia tăng cận thị. Tuy nhiên dinh dưỡng cũng có vai trò quan trọng, dùng đủ vitamin A, C, E kèm theo các khoáng chất kẽm, selen, đồng được cho là hạn chế tăng số cận cùng với những thoái hóa do cận thị. Các yếu tố dinh dưỡng trên có nhiều rau xanh đậm, hoa quả màu đỏ, cá biển và một số loài nhuyễn thể.

10. Lời khuyên của bác sĩ đối với các bậc phụ huynh để kiểm soát tốt độ cận cho trẻ?

Đây là một vấn đề lớn của sức khỏe cộng đồng. Vẫn  chưa thể có những khuyến cáo mạnh mẽ và chính xác với công chúng. Tuy nhiên giới chuyên môn đều thống nhất rằng chúng ta nên:

– Đảm bảo cho trẻ vệ sinh mắt tốt: chiếu sáng, cự ly, khoảng cách học tập, học kết hợp với vui chơi và hoạt động ngoại khóa…

– Cung cấp dinh dưỡng đúng và đủ: vitamin A, C, E, khoáng chất.

– Chăm sóc đặc biệt cho trẻ cận thị số cao: tránh chấn thương, khám mắt đều đặn, phát hiện và điều trị sớm biến chứng.

BS.Hoàng Cương
Theo SKĐS

Tư vấn phòng – Chữa tật cận thị

Con gái của tôi 14 tuổi, bị cận thị, đi khám đo thị lực, bác sĩ cho đeo kính 1, 75  độ.  Xin hỏi bác sĩ có thuốc gì phòng và chữa được tật cận thị?

Nguyễn Đỗ Quyên (Hà Nam)

tu_van_phong_chua_tat_can_thi

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tật cận thị như di truyền từ bố mẹ và hầu hết là mắc phải do trẻ nhìn mọi vật quá gần. Nếu để ý bạn sẽ thấy nhiều trẻ mẫu giáo vẽ tranh mà mắt ghé sát vào tờ giấy; trẻ lớp 1 tập viết mà cúi sát mặt vào trang vở… Mặt khác, nếu phòng học hoặc góc học tập của trẻ thiếu ánh sáng thì sau một thời gian là các cháu mắc tật cận thị. Từ thực tế đó, lời khuyên cho các bậc cha mẹ phòng tránh tật cận thị cho con là phải thường xuyên nhắc nhở, giám sát, sửa tư thế cho trẻ để tránh thói quen nhìn mọi vật quá gần. Tập cho trẻ thói quen luôn luôn nhìn trang sách cách mắt từ 25 – 35cm. Bố trí nơi học tập của trẻ luôn luôn đủ ánh sáng. Đối với các cháu đã bị cận thị cần phát hiện sớm để đưa trẻ đi khám thị lực và đeo kính đúng số.

Hiện nay tại các cơ sở chuyên khoa mắt như Bệnh viện Mắt Trung ương và Thành phố Hồ Chí Minh… đã phẫu thuật điều trị các tật khúc xạ như cận thị từ -1 đến -20diôp; viễn thị từ +1 đến +10 diôp; loạn thị từ 1 – 7 diôp cho lứa tuổi 18-45. Vậy khi cháu đến tuổi trưởng thành, bạn có thể cho cháu đi khám và phẫu thuật nếu cận nặng.

BS. Đặng Thị Ngọc Ba
Theo SKĐS

Lệch thể thủy tinh

Lệch thể thủy tinh có thể xảy ra ở bệnh mắt. Người bị hội chứng rối loạn tổ chức tạo keo như hội chứng Marphan, hội chứng Marchésanie dễ bị lệch thể thủy tinh. Còn nói chung, thể thủy tinh hay bị lệch do chấn thương va đập vào vùng mắt. Thực ra, đụng đập mắt còn có thể gây ra các tổn thương khác (chảy máu tiền phòng, đứt chân mống mắt, chảy máu dịch kính, chảy máu đáy mắt, bong võng mạc, rách hắc mạc… ). Ở đây, chúng tôi chỉ nói khu trú vào tổn thương lệch thể thủy tinh.

lech_thuy_tinh_the

Thể thủy tinh là chiếc thấu kính sinh học, hội tụ, dẻo như nhựa dẻo, cỡ bằng hạt ngô, treo rất cân sau đồng tử. Nếu nó bị lệch đi rõ rệt thường làm tăng nhãn áp, giảm thị lực hoặc gây cảm giác nhìn khác thường. Nếu bịt mắt lành lại, nhìn riêng bằng mắt bị tai nạn, có thể nhìn một vật thành hai. Qua thể thủy tinh là một hình, qua chỗ thể thủy tinh đã lệch là một hình khác, do khúc xạ khác nhau. Và khi nó đã bị lệch rõ rệt thì ít bị bỏ sót khi soi khám. Thế nhưng với loại lệch nhẹ, lệch kín đáo gọi vui là “lệch khéo” thì có thể bị bỏ qua. Soi khám thấy đồng tử tròn đều, diện mộng mắt phẳng đều, thị lực như mắt bên lành. Thế nhưng bệnh nhân có cảm giác nhìn bị khác thường, nhìn phía nào đó thấy loáng loáng như những giọt nước hoặc làn nước mỏng.

Gần đây, một kỹ thuật viên sửa máy cửa hàng kính tôi làm bị đầu chiếc gậy đâm chéo vào gốc sống mũi, cạnh vùng mắt. Tổn hại vùng bị gậy chọc không rách da, không bầm tím. Bệnh nhân đã đến chuyên khoa mắt khám, không phải vì thị lực giảm hoặc mắt rách thủng gì mà chỉ vì cảm giác nhìn như có các giọt nước sau khi bị gậy chọc gốc mũi. Kết quả chuyên khoa mắt ghi: “Mắt bình thường”. Bệnh nhân nhờ tôi xem lại, tôi cũng không hơn gì, bảo bình thường. Mấy hôm sau hỏi bệnh nhân còn cảm giác nước loang loáng không, bệnh nhân bảo nó vẫn thế. Tôi cho thuốc giãn đồng tử, loại giãn mạnh để khám lại thì thấy thể thủy tinh lệch phía thái dương, các dây treo đã đứt một số, giơ cuống ra như vết áo khâu đứt chỉ. Đo nhãn áp thấy không cao, thị lực tốt nhưng ảo giác làn nước loang loáng thì bệnh nhân phải sống chung với nó. Có điều là mắt bị tổn thương về lâu dài rất dễ chuyển sang đục thể thủy tinh. Nếu sau này lệch chuyển thành đục thì người bệnh nhớ nói với thầy thuốc khám chuyên khoa là trước đây bị lệch thể thủy tinh (để chuyên khoa trù liệu khả năng thoát dịch kính ra ngăn trước khi lấy thể thủy tinh đục). Một điều nữa chúng ta cũng nên biết là các va đập cạnh vùng mắt (trán, gò má, gốc mũi, thái dương) khi bị va đập thẳng hoặc chéo cũng có khi gây lệch thể thủy tinh mắt do lực phản hồi.

BS. Hoàng Sinh
Theo SKĐS

Võng mạc nhân tạo

Những bệnh lý tại võng mạc do các căn nguyên khác nhau như biến chứng đái tháo đường, tăng huyết áp, trẻ đẻ nhẹ cân hay những lý do gây rách hoặc bong võng mạc gây hiện tượng mù lòa khá phổ biến.

vong_mac_nhan_tao

Tuy nhiên, trong tương lai không xa, người bệnh hoàn toàn có thể cải thiện được thị lực nhờ vào võng mạc nhân tạo. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã có kế hoạch ghép võng mạc nhân tạo cho một số bệnh nhân bị mất thị lực do bệnh tật để khẳng định tính hiệu quả của loại võng mạc nhân tạo này..

GS. Takashi Fujikado thuộc Đại học Osaka cho biết, đây là các ca thử nghiệm lâm sàng đầu tiên được thực hiện tại Nhật Bản. Võng mạc nhân tạo sử dụng một mạng điện cực để kích thích thần kinh thị giác. Các hình ảnh từ một chiếc camera rất nhỏ được chuyển bằng tần số radio đến các điện cực của võng mạc do đó, người bệnh có khả năng nhìn thấy các điểm sáng được sắp xếp theo hình dáng của vật thể nhờ chiếc camera này. GS. Takashi Fujikado nói: Công nghệ này được kỳ vọng ít nhất là cho phép người bệnh nhận ra được từ hình dáng đến kích thước của các ngón tay. Khả năng này sẽ giúp ích rất nhiều cho người bệnh trong cuộc sống hàng ngày”.

Theo SKĐS/ Theo NHK, 12/2009

Vì sao gọi là viêm kết mạc mùa xuân?

Em 19 tuổi, đang là sinh viên. Em ở ký túc xá, trong phòng em có 2 bạn bị đau mắt, em là người thứ 3 mắc bệnh. Đi khám bác sĩ nói chúng em bị viêm kết mạc mùa xuân. Em không hiểu tại sao lại gọi như vậy? Có nguy hiểm không?

Ngô Thị Thúy Hà (Hà Nội)

vi_sao_goi_la_viem_ket_mac_mua_xuan

Đây là bệnh thường gặp trong mùa xuân nên có tên gọi như vậy, mặc dù vậy bệnh cũng có thể xuất hiện vào các thời điểm khác trong năm. Khi mắc bệnh, cả hai mắt thường đỏ, ngứa, cảm giác nóng rát, chảy nước mắt, nhìn ánh sáng rất chói mắt, có nhiều dử mắt. Bệnh hay tái phát theo mùa. Trong mi mắt có những nốt (nhú gai) màu đỏ lớn, đường kính trên 1mm nằm sát nhau, có hình dáng như được lát một lớp sỏi, nhú gai có mạch máu ở đỉnh, hoặc thấy những nốt có màu trắng như sữa ở gần lòng đen. Đây là một bệnh do dị ứng. Khi một vật lạ (hạt phấn hoa, bụi…) rơi vào mắt, kết hợp với một kháng thể làm vỡ một loại tế bào ở mắt được gọi là dưỡng bào, dưỡng bào này vỡ sẽ làm thoát ra các hoạt chất gây ngứa, đỏ, phù… Vào mùa xuân hoa nở nhiều, các loại phấn hoa bay tỏa vào không khí, nếu vào mắt người có tạng dị ứng sẽ dễ gây nên những triệu chứng trên. Khi có những dấu hiệu của bệnh cần đi khám và dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ, tránh tự ý dùng thuốc sẽ dẫn đến những tác động xấu. Nếu không điều trị sớm và đúng có nguy cơ biến chứng viêm giác mạc, có thể ảnh hưởng đến thị lực. Để phòng bệnh, cần dùng kính khi đi ra ngoài để chống bụi, nên vệ sinh sạch sẽ bằng nước muối sinh lý 0,9% sau mỗi lần đi ngoài đường về, dùng riêng khăn và nước sạch để rửa mặt.

BS. Lê Sơn
Theo SKDS

Thuốc trị viêm kết mạc dị ứng

Viêm kết mạc dị ứng gây khó chịu với các biểu hiện như: nhìn mờ nhất thời, cảm giác khô rát, khó mở mắt buổi sáng, chảy nước mắt, ra gỉ nhiều, mắt bị ngứa, kích thích, cảm giác có sạn trong mắt… người bệnh thường hay có phản ứng dụi hoặc gãi… Biến chứng gây giảm thị lực chỉ do sẹo hay loét giác mạc.

thuoc_tri_viem_ket_mac_di_ung

Tháng 4, 5, 6 và 7 là những tháng đỉnh điểm hoành hành của căn bệnh này bởi lẽ các dị nguyên như phấn hoa, bụi cỏ, nấm mốc sẽ đạt đậm độ cao nhất trong môi trường. Bên cạnh đó là nhiệt độ và độ ẩm dao động mạnh. 80% bệnh nhân là những người trẻ, đang độ tuổi lao động.

Sử dụng thuốc trong trường hợp này sẽ giúp bạn sống thoải mái hơn với dị ứng chứ không giải quyết tận gốc vấn đề. Đa phần các bệnh nhân hài lòng với các thuốc kháng histamin và bền màng mastocyte loại nhỏ mắt như opconA, allergysal…

Cyclosporine loại nhỏ mắt tỏ ra an toàn và khá hiệu quả đã được dùng khoảng 7 năm nay, dành cho nhóm bệnh nhân khó tính hơn. Kết hợp với nước mắt nhân tạo các loại, các sản phẩm bôi trơn bề mặt nhãn cầu luôn là sự lựa chọn đúng cho căn bệnh này, vừa điều trị dị ứng, vừa chống khô mắt. Các sản phẩm có corticoid không nên dùng liên tục hay kéo dài, thêm nữa phải luôn thận trọng với các biến chứng của chúng như: glocom, đục thủy tinh thể. Rất ít bệnh nhân phải dùng thuốc đường toàn thân trừ khi bị kèm theo viêm mũi xoang hay hen suyễn.

BS. Hoàng Cương
Theo SKDS

Phương pháp điều trị đục nhân mắt hiệu quả

Bố tôi năm nay 65 tuổi, thời gian qua mắt có biểu hiện nhìn mờ, nhìn ánh sáng bị lóa. Bố tôi đã đi khám bác sĩ và được biết bị đục nhân mắt. Xin hỏi, các biện pháp chữa đục nhân mắt là gì?

Nguyễn Quảng Vịnh(Sơn La)

phuong_phap_dieu_tri_duc_nhan_mat_hieu_qua

Đục nhân mắt còn gọi là đục thủy tinh thể hay cườm khô. Nguyên nhân gây bệnh liên quan đến tuổi già, tiếp xúc với tia tử ngoại hoặc cũng có thể gặp sau chấn thương mắt, sau một số bệnh ở mắt, sau dùng một số thuốc hoặc những người bị đái tháo đường. Khi bị đục nhân mắt, người bệnh có biểu hiện giảm thị lực, nhìn mờ, thấy mây bay trước mặt, nhìn lóa khi nhìn vào đèn, song thị, đầu đau nhức, buồn nôn, nôn. Khám mắt thấy mắt sung huyết, giác mạc mờ đục, đồng tử nở lớn, tăng nhãn áp. Biện pháp điều trị thường là phẫu thuật, tuy nhiên, người bệnh chỉ nên phẫu thuật khi đục nhân mắt ảnh hưởng nhiều đến công việc và sinh hoạt hàng ngày. Có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị đục nhân mắt, trước đây thường áp dụng biện pháp lấy toàn bộ thủy tinh thể, lấy thủy tinh thể ngoài bao và đặt thủy tinh thể nhân tạo. Phương pháp phẫu thuật mới hiện nay là phương pháp Phaco. Khi áp dụng phương pháp này, các bác sĩ sẽ đưa đầu siêu âm vào mắt qua một đường rạch nhỏ, đầu siêu âm có tác dụng tán vụn, mịn thủy tinh thể bị mờ đục rồi hút ra ngoài, sau đó đưa thủy tinh thể nhân tạo vào mắt để thay thế. Bố của bạn đã được bác sĩ nhãn khoa khám, xác định bệnh đục nhân mắt thì chắc cũng đã được tư vấn lựa chọn biện pháp điều trị. Nếu phải thay thủy tinh thể thì nên chọn phương pháp Phaco vì rất tiện lợi thời gian phẫu thuật và nằm viện ngắn.

BS. Nguyễn Thu Hà
Theo SKDS

Đục nhân mắt ở trẻ nhỏ

Nhân mắt hay còn gọi là thể thủy tinh, nó là một thấu kính trong suốt, nằm ở ngay sau đồng tử. Nhân mắt bình thường trong suốt và có khả năng điều tiết và hội tụ các tia sáng lên võng mạc nơi điểm vàng, giúp chúng ta nhìn rõ mọi vật xung quanh. Nhưng khi có biểu hiện khác thường như nhân mắt bị đục, khiến cho những tia sáng không thể đi qua được, tùy theo mức độ đục mà trẻ có thể nhìn mờ hoặc không nhìn thấy gì. Khác với người lớn, đục nhân mắt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (dưới 8 tuổi) gây cản trở lớn cho sự phát triển chức năng thị giác, thường dẫn đến chứng nhược thị.

duc_nhan_mat_o_tre_nho

Nguyên nhân đục nhân mắt trẻ nhỏ

Đục nhân mắt tức là thể thủy tinh bị đục, còn gọi là cườm mắt (Catarac). Có nhiều nguyên nhân phát sinh ra chứng đục nhân mắt ở trẻ. Chẳng hạn như đục nhân mắt bẩm sinh hoặc ở trẻ nhỏ có thể xuất hiện ngay sau khi sinh, hoặc tiến triển trong những năm đầu của cuộc đời. Chủ yếu có 2 nguyên nhân chính, một là do di truyền, gặp 10 – 25%. Hai là do nhiễm khuẩn trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là các bệnh do virút (rubeon, herpes, cúm, quai bị…). Nó có thể xảy ra một cách tự nhiên và không kèm với một bệnh nào khác hoặc trong các hội chứng. Đục nhân mắt này có thể xảy ra ở 1 mắt hoặc cả 2 mắt.

Đục nhân mắt bệnh lý do các bệnh tại mắt như: viêm màng bồ đào, glôcôm, bong võng mạc, u nội nhãn… hoặc do các bệnh toàn thân như: đái tháo đường, bệnh galactoza huyết, têtani, bệnh da…

Đục nhân mắt do chấn thương khi vết thương xuyên, tình trạng này thường gây nên đục nhân mắt ở 1 mắt của trẻ em. Một số dạng đục này có đặc biệt là tiến triển từ từ sau hàng tuần hoặc nhiều tháng, dạng khác xuất hiện ngay trong lúc bị chấn thương.

Xử trí đục nhân mắt trẻ nhỏ

Cách xử trí được tiến hành cụ thể là: cho dù đục nhân mắt do nguyên nhân nào đi nữa thì mọi trường hợp đục nhân mắt đều ngăn cản sự phát triển của thị lực nên cần phải được lấy nhân mắt đục đi bằng phẫu thuật để phục hồi thị lực. Ở trẻ nhỏ, đây là một phẫu thuật khẩn cấp để phòng nhược thị.

Một đường rạch nhỏ ở trong mắt, qua đó nhân đục được lấy ra. Bệnh nhân cần được nằm viện khoảng từ 1 – 2 ngày. Cả phẫu thuật và phục hồi chức năng tiến bộ rất nhiều trong những năm gần đây. Cho dù mắt được mổ lành rất nhanh, nhưng trẻ cần được che mắt lại trong vòng 1 – 2 tuần để giữ cho trẻ không bị những va chạm hoặc những chấn thương vào mắt.

Mặc dù phẫu thuật đạt kết quả cao nhưng vẫn có thể xảy ra biến chứng. Khoảng 95% phẫu thuật nhân mắt ở trẻ em không có vấn đề gì, tuy nhiên có thể gặp xuất huyết, nhiễm khuẩn, bong võng mạc và glô-côm. Biến chứng nặng phải bỏ nhãn cầu rất ít gặp.

Khả năng tiến triển của mắt sau phẫu thuật sẽ có những diễn biến như sau khi lấy nhân mắt đục đi cần thiết phải điều chỉnh quang học cho con mắt này. Đeo kính gọng là dùng kính hội tụ có công suất khoảng +9 đến +12 điốp. Đây là phương pháp đơn giản nhất nhưng hiệu quả không cao do kính phóng đại hình ảnh lớn tới 30%.

Kính tiếp xúc thông thường và có kết quả ở trẻ nhỏ để thay thế cho nhân mắt tự nhiên. Các bà mẹ cần phải biết cách chăm sóc kính tiếp xúc, cách lắp vào, lấy ra và phải biết phát hiện những dấu hiệu không bình thường để báo kịp thời cho bác sĩ.

Đặt thể nhân mắt nhân tạo (thủy tinh nhân tạo) là xu hướng mới nhất, nhân mắt nằm ở vị trí tự nhiên của nhân mắt tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao thị lực và phục hồi chức năng thị giác.

Chú ý: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ phát triển nhược thị ngay cả khi đã được phẫu thuật đạt kết quả cao và điều chỉnh quang học tốt. Do vậy sau mổ, trẻ cần phải tập luyện bằng cách bịt mắt lành nhằm phục hồi thị lực lâu dài.

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
Theo SKDS

5 bệnh chị em văn phòng thường gặp

Những phụ nữ công sở quá bận rộn, tham công tiếc việc hay quá say mê công việc, thường xuyên làm thêm giờ rất dễ mắc năm loại bệnh dưới đây.

1. Rối loạn kinh nguyệt

Làm việc thêm giờ, thời gian ngủ quá ít và không có lúc để nghỉ ngơi dễ dẫn đến rối loạn nội tiết, làm choc ho chu kỳ của bạn kéo dài hơn. Ban đầu chỉ vài ngày, sau tăng dần lên, kèm theo đó là chứng đau bụng kinh.

03

2. Các bệnh về tuyến vú

Nội tiết, khí huyết trong cơ thể đảo lộn làm cho quá trình lưu thông ở các tuyến vú bị chặn, dần dần xuất hiện chứng đau nhức ngực rồi kéo theo các bệnh khác.

3. Trí nhớ kém

Ăn uống thất thường, rối loạn quá trình tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng kém, bộ nhớ sẽ giảm đi nhiều.

4. Các bệnh về mắt

Nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính, vừa giảm thị lực vừa luôn cảm thấy hoa mắt, chóng mặt, dễ làm mắt xuất hiện quầng thâm, mụn thịt, đỏ mắt… Tốt nhất, sau một giờ làm việc, hãy nhắm mắt thư giãn năm phút.

5. Chán ăn

Ăn uống không đúng bữa, dinh dưỡng mất cân bằng và sự thèm ăn cũng bị ảnh hưởng, thậm chí là chứng chán ăn.

Theo afamily