Tag Archives: thị giác

Chữa lành tổn thương giác mạc nhờ thiết bị sát tròng

Các nhà khoa học tại Đại học Sheffield đã phát triển một phương pháp cấy ghép một thiết bị sát tròng vào trong mắt đối với các bệnh nhân bị tổn thương giác mạc. Kỹ thuật mới này có thể giúp hàng triệu người trên toàn thế giới giữ lại hoặc thậm chí lấy lại thị giác. Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Acta Biomaterialia.

Bệnh mù lòa do tổn thương giác mạc là bệnh phổ biến trên thế giới. Các triệu chứng của tổn thương giác mạc và khô mắt có thể bao gồm đau, chảy nước mắt, nhạy cảm với ánh sáng, mờ mắt, và một cảm giác vướng trong mắt. Thông thường, các phương pháp điều trị đối với mù giác mạc là ghép giác mạc hoặc ghép tế bào gốc vào mắt bằng cách sử dụng một màng được hiến tặng như một vật trung gian tạm thời để chuyển những tế bào này vào mắt. Nhưng đối với một số bệnh nhân, việc điều trị có thể thất bại sau một vài năm vì mắt không giữ lại được những tế bào để có thể chữa lành giác mạc.

chua-lanh-ton-thuong-giac-mac-nho-thiet-bi-sat-trong

Bằng cách sử dụng một loạt các kỹ thuật phức tạp bắt chước theo các tính năng của mắt, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một đĩa bằng vật liệu phân hủy sinh học được cố định trên giác mạc. Đĩa này – là một tấm màng rất mỏng – được nạp các tế bào gốc và sau đó các tế bào sẽ nhân lên, cho phép cơ thể có thể chữa lành mắt một cách tự nhiên. Đặc điểm chính của đĩa mới này là nó có chứa những túi nhỏ để chứa và bảo vệ các tế bào gốc, để giữ chúng lại trong mắt và cũng có thể được nhóm lại với nhau. Vật liệu ở trung tâm của đĩa mỏng hơn so với vòng, do đó, nó sẽ phân hủy nhanh hơn cho phép các tế bào gốc sinh sôi nảy nở trên bề mặt của mắt để hồi phục giác mạc.

Các nhà nghiên cứu cho biết, một ưu thế của đĩa là nó tự phân hủy và được làm từ vật liệu chế tạo ra chỉ khâu nên nó sẽ không gây ra bất cứ một vấn đề nào đối với cơ thể. Tiến sĩ Frederick Claeyssens, giảng viên về các vật liệu sinh học tại Đại học Sheffield cho biết, điều trị bằng cách sử dụng các đĩa này không những tốt hơn so với phương pháp điều trị hiện tại mà còn rẻ hơn.

Kiểm tra trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng đĩa hỗ trợ giúp các tế bào phát triển rất tốt. Các nhà khoa học Sheffield đang kết hợp với các nhà nghiên cứu tại Viện mắt LV Prasad ở Hyderabad để các thử nghiệm lâm sàng sớm được triển khai ở Ấn Độ.

Tham khảo: Daily Mail

Bệnh đục nhân mắt ở trẻ nhỏ

Nhân mắt hay còn gọi là thể thủy tinh, nó là một thấu kính trong suốt, nằm ở ngay sau đồng tử. Nhân mắt bình thường trong suốt và có khả năng điều tiết và hội tụ các tia sáng lên võng mạc nơi điểm vàng, giúp chúng ta nhìn rõ mọi vật xung quanh. Nhưng khi có biểu hiện khác thường như nhân mắt bị đục, khiến cho những tia sáng không thể đi qua được, tùy theo mức độ đục mà trẻ có thể nhìn mờ hoặc không nhìn thấy gì. Khác với người lớn, đục nhân mắt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (dưới 8 tuổi) gây cản trở lớn cho sự phát triển chức năng thị giác, thường dẫn đến chứng nhược thị.

duc_nhan_mat_o_tre_nho

Nguyên nhân đục nhân mắt trẻ nhỏ

Đục nhân mắt tức là thể thủy tinh bị đục, còn gọi là cườm mắt (Catarac). Có nhiều nguyên nhân phát sinh ra chứng đục nhân mắt ở trẻ. Chẳng hạn như đục nhân mắt bẩm sinh hoặc ở trẻ nhỏ có thể xuất hiện ngay sau khi sinh, hoặc tiến triển trong những năm đầu của cuộc đời. Chủ yếu có 2 nguyên nhân chính, một là do di truyền, gặp 10 – 25%. Hai là do nhiễm khuẩn trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là các bệnh do virút (rubeon, herpes, cúm, quai bị…). Nó có thể xảy ra một cách tự nhiên và không kèm với một bệnh nào khác hoặc trong các hội chứng. Đục nhân mắt này có thể xảy ra ở 1 mắt hoặc cả 2 mắt.

Đục nhân mắt bệnh lý do các bệnh tại mắt như: viêm màng bồ đào, glôcôm, bong võng mạc, u nội nhãn… hoặc do các bệnh toàn thân như: đái tháo đường, bệnh galactoza huyết, têtani, bệnh da…

Đục nhân mắt do chấn thương khi vết thương xuyên, tình trạng này thường gây nên đục nhân mắt ở 1 mắt của trẻ em. Một số dạng đục này có đặc biệt là tiến triển từ từ sau hàng tuần hoặc nhiều tháng, dạng khác xuất hiện ngay trong lúc bị chấn thương.

Xử trí đục nhân mắt trẻ nhỏ

Cách xử trí được tiến hành cụ thể là: cho dù đục nhân mắt do nguyên nhân nào đi nữa thì mọi trường hợp đục nhân mắt đều ngăn cản sự phát triển của thị lực nên cần phải được lấy nhân mắt đục đi bằng phẫu thuật để phục hồi thị lực. Ở trẻ nhỏ, đây là một phẫu thuật khẩn cấp để phòng nhược thị.

Một đường rạch nhỏ ở trong mắt, qua đó nhân đục được lấy ra. Bệnh nhân cần được nằm viện khoảng từ 1 – 2 ngày. Cả phẫu thuật và phục hồi chức năng tiến bộ rất nhiều trong những năm gần đây. Cho dù mắt được mổ lành rất nhanh, nhưng trẻ cần được che mắt lại trong vòng 1 – 2 tuần để giữ cho trẻ không bị những va chạm hoặc những chấn thương vào mắt.

Mặc dù phẫu thuật đạt kết quả cao nhưng vẫn có thể xảy ra biến chứng. Khoảng 95% phẫu thuật nhân mắt ở trẻ em không có vấn đề gì, tuy nhiên có thể gặp xuất huyết, nhiễm khuẩn, bong võng mạc và glô-côm. Biến chứng nặng phải bỏ nhãn cầu rất ít gặp.

Khả năng tiến triển của mắt sau phẫu thuật sẽ có những diễn biến như sau khi lấy nhân mắt đục đi cần thiết phải điều chỉnh quang học cho con mắt này. Đeo kính gọng là dùng kính hội tụ có công suất khoảng +9 đến +12 điốp. Đây là phương pháp đơn giản nhất nhưng hiệu quả không cao do kính phóng đại hình ảnh lớn tới 30%.

Kính tiếp xúc thông thường và có kết quả ở trẻ nhỏ để thay thế cho nhân mắt tự nhiên. Các bà mẹ cần phải biết cách chăm sóc kính tiếp xúc, cách lắp vào, lấy ra và phải biết phát hiện những dấu hiệu không bình thường để báo kịp thời cho bác sĩ.

Đặt thể nhân mắt nhân tạo (thủy tinh nhân tạo) là xu hướng mới nhất, nhân mắt nằm ở vị trí tự nhiên của nhân mắt tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao thị lực và phục hồi chức năng thị giác.

Chú ý: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ phát triển nhược thị ngay cả khi đã được phẫu thuật đạt kết quả cao và điều chỉnh quang học tốt. Do vậy sau mổ, trẻ cần phải tập luyện bằng cách bịt mắt lành nhằm phục hồi thị lực lâu dài.

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
Theo SKĐS

Thuốc điều trị viêm thần kinh thị giác

Viêm thần kinh thị giác là hiện tượng viêm, nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính, xảy ra trên dây thần kinh thị giác, có thể chỉ ở một phần hoặc toàn bộ, tại một điểm nào đó hay toàn bộ chiều dài của dây thần kinh.

Người bệnh thấy thị lực giảm sút nhanh hay rất nhanh (trong hình thái cấp tính), hoặc từ vài ba ngày tới vài tuần (đối với hình thái mạn tính). Có thể mù hẳn. Sự nhận biết màu sắc của người bệnh bị rối loạn, thậm chí có trường hợp không còn phân biệt được màu sắc thị giác. Phản xạ ánh sáng giảm. Đồng tử không đồng đều giữa hai mắt. Bên mắt bị bệnh có đồng tử co kém và chậm hơn khi có kích thích ánh sáng. Có thể xảy ra vào tháng thứ 3 sau lần bị bệnh đầu tiên.

thuoc_dieu_tri_viem_than_kinh_thi_giac

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới viêm thị thần kinh:

Tại mắt: mọi viêm nhiễm trong nhãn cầu đều có thể gây ra viêm gai thị có những nguyên nhân là các bệnh lý như: Viêm màng bồ đào, viêm hắc mạc, viêm võng mạc do virut cự bào trong bệnh AIDS, viêm nội nhãn…

Các ổ nhiễm khuẩn lân cận thị thần kinh như viêm tai, viêm mũi-xoang, viêm họng, viêm amidal, sâu răng

Các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân cấp và mạn tính cũng có khả năng dẫn đến viêm thị thần kinh.

Ngoài ra, các loại virut (đậu mùa, cúm, thấp khớp, bạch hầu, sốt phát ban, quai bị); nhiễm nấm (nấm Candida albicans thường gây viêm hắc võng mạc kết hợp với viêm gai thị, hay gặp ở người nghiện heroin, suy giảm miễn dịch. Một số nấm khác cũng gây viêm thị thần kinh là cryptoccose, aspergillose, histoplasmose); các nhiễm khuẩn của hệ thần kinh (viêm não, viêm màng não là nguyên nhân của một số trường hợp bị bệnh)…

Việc điều trị bệnh chủ yếu là loại trừ nguyên nhân mới khỏi bệnh hoàn toàn.

Người bệnh cần được khám bệnh toàn diện và điều trị theo các chuyên khoa tai mũi họng, thần kinh, truyền nhiễm, dị ứng. Ngừng ngay việc sử dụng các chất gây nhiễm độc thị thần kinh.

Tại mắt, cần giải quyết rối loạn tuần hoàn, dinh dưỡng tại dây thần kinh, chống viêm, chống nhiễm khuẩn. Ngay sau khi có chẩn đoán xác định, người bệnh cần được điều trị ngay bằng corticoid. Thuốc corticoid có thể được chỉ định với liều rất cao, dùng cả đường uống lẫn đường tiêm. Trong trường hợp này, bệnh nhân bắt buộc phải nằm viện để theo dõi toàn trạng.

Các loại kháng sinh có thể được cho dùng tuỳ theo tác nhân gây bệnh là loại nào. Trong một số trường hợp đặc biệt có thể người bệnh phải dùng tới thuốc ức chế miễn dịch (bệnh Behcet). Ngoài ra, có thể dùng các loại thuốc giãn mạch dùng theo đường toàn thân (uống) và tại chỗ (tiêm cạnh nhãn cầu) cùng các vitamin nhóm B (như B1, B6, B12).

Viêm thị thần kinh là một bệnh mắt nặng cần được khám phát hiện bệnh cùng nguyên nhân gây bệnh sớm, điều trị tích cực mới có khả năng phục hồi chức năng thị giác, tránh tái phát cùng các biến chứng và di chứng nặng nề.

ThS. BS. Nguyễn Đức Thành
Theo SKĐS

Tăng nguy cơ mù lòa với người dùng Aspirin thường xuyên

Việc thường xuyên sử dụng thuốc Aspirin có thể làm tăng gấp ba nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng, dẫn đến mù lòa.

Theo bản báo cáo được đăng trên mạng ctv.ca ngày 22/1, các nhà khoa học đã tìm thấy những bằng chứng rõ ràng cho thấy Aspirin, loại thuốc đang được hàng triệu người trên thế giới sử dụng thường xuyên để ngăn ngừa các bệnh tim mạch, đột quỵ và ung thư, có thể làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng.

tang_nguy_co_mu_loa_voi_nguoi_dung_aspirin_thuong_xuyen

Nguyên nhân của bệnh này là do việc sử dụng Aspirin thường xuyên sẽ làm hình thành những mạch máu mới sau võng mạc. Những mạch máu đó rất dễ bị đứt, dẫn đến hiện tượng xuất huyết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị giác và cuối cùng là bị mù. Bệnh này hiện đang ảnh hưởng đến 250.000 người, chủ yếu là người cao tuổi sống tại Anh.

Các nhà nghiên cứu đã rút ra kết luận trên sau khi theo dõi 2.400 người cao tuổi và trung niên trong 15 năm.

Trong số những người tham gia có 257 người sử dụng Aspirin thường xuyên, ít nhất là 1 viên/tuần. Sau 15 năm, chỉ có 3,7% số người không sử dụng Aspirin thường xuyên bị mắc bệnh thoái hóa điểm vàng, so với 9,4% những người thường xuyên uống Aspirin.

Phát hiện trên có ý nghĩa quan trọng do các bác sĩ sẽ phải cân nhắc kỹ hơn trước khi khuyên bệnh nhân uống thuốc Aspirin liều thấp thường xuyên để ngăn chặn các cơ đau tim, đột quỵ, nhất là trong bối cảnh kết quả các nghiên cứu mới đây cho thấy Aspirin có thể chống lại bệnh ung thư, khi làm giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư tới 30% hoặc có thể giảm mức độ phát triển của khối u. Trước đây, Aspirin đã được biết đến với những tác dụng phụ như làm tăng nguy cơ chảy máu đường ruột và có thể gây loét.

Theo SKĐS/ Theo TTXVN

Phát hiện thêm gen gây bệnh mù lòa bẩm sinh

Nhóm nghiên cứu của TS. Robert Koenekoop, Giám đốc Trung tâm Di truyền thị giác thuộc Bệnh viện nhi Montreal của Canada vừa phát hiện một gen liên quan đến bệnh mù lòa bẩm sinh. Đó là gen võng mạc SPATA7. Gen này đột biến sẽ phá vỡ sự vận chuyển protein giữa 2 phần quan trọng của tế bào lưới nội sinh chất và thể Golgi. Điều này ảnh hưởng đến khả năng nhìn của con người.

phat_hien_them_gen_gay_benh_mu_loa_bam_sinh

Theo các chuyên gia, có khoảng 200.000 người trên thế giới mắc bệnh mù bẩm sinh và hiện nay chưa có phương pháp điều trị. Các nhà nghiên cứu cho biết đột biến gen SPATA7 là thủ phạm gây ra 35% các trường hợp mù bẩm sinh.

Như vậy, với việc phát hiện thêm gen SPATA7, các nhà khoa học trên thế giới đến nay đã được xác định được 15 gen gây ra bệnh mù bẩm sinh.

Lê Anh (Theo News – Medical-Net)
Theo SKĐS

Tìm hiểu bệnh lác mắt

Lác mắt là khi ta nhìn vật nào đó, hai mắt không thẳng hàng mà có một mắt lệch đi so với mắt kia. Có thể lệch vào trong gọi là lác trong, lệch ra ngoài gọi là lác ngoài, hoặc lệch lên trên gọi là lác đứng trên, lệch xuống dưới gọi là lác đứng dưới. Lác xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa các cơ ngoại nhãn của mắt, làm cản trở sự phát triển thị giác hai mắt và có thể ảnh hưởng đến thị lực, đồng thời cảm nhận chiều sâu – khả năng định vị một vật nào đó trong không gian 3 chiều – có thể mất thị giác hai mắt.

tim_hieu_benh_lac_mat

Lác mắt làm suy giảm thị giác

Ai có thể bị lác?

Lác mắt có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, lác bẩm sinh hoặc mắc phải, cũng có yếu tố di truyền. Người lớn thường lác thứ phát sau một chấn thương mắt, tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) không được điều trị hoặc một bệnh lý nào đó, có thể tổn thương ở thần kinh hoặc tại cơ vận nhãn. Trẻ bị lác bẩm sinh thì chưa rõ nguyên nhân, có thể do di truyền.

Nguyên nhân bị lác?

Có 6 cơ vận nhãn bám xung quanh mắt để giúp mắt liếc các hướng. Một cơ có vai trò liếc mắt sang phải, một cơ liếc mắt sang trái và 4 cơ còn lại làm cho mắt liếc lên trên hoặc xuống dưới và sang 4 góc. Khi thị giác hai mắt phát triển tốt thì hai mắt sẽ luôn làm việc cùng nhau để nhìn về 1 vật, não sẽ buộc cho các cơ ở một mắt hoạt động cân bằng nhau và hai mắt phối hợp hài hoà nhau. Lác mắt xảy ra là do sự mất cân bằng hài hoà này. Lác có thể do một rối loạn nào đó ở não hoặc tại cơ làm sự điều phối trên bị rối loạn.

Có thể một tổn thương nào như khối u, xuất huyết… làm liệt thần kinh vận động cho cơ nên mắt bị lác.

Lác có tính gia đình. Những tổn thương tuần hoàn trong bệnh tiểu đường, đục thuỷ tinh thể, viễn thị, khối u mắt hoặc bệnh lý khác làm cho mắt có thể dẫn đến lác.

Triệu chứng?

Triệu chứng của lác đơn giản nhất là được thấy hai mắt lệch nhau do người xung quanh phát hiện hoặc khi soi gương. Tuy nhiên, có những trường hợp lác độ nhỏ hoặc lác ẩn thì khó phát hiện hơn.

Triệu chứng có thể là mỏi mắt thường xuyên hoặc khả năng tập trung kém, nhìn mờ do tật khúc xạ kèm theo hoặc do nhược thị.

Nếu lác mắt xảy ra đột ngột, bệnh nhân có thể nhìn đôi do hai mắt nhìn về hai vật đồng thời. Để giảm khó chịu thì bệnh nhân sẽ nghiêng đầu để nhìn, và dần dần não sẽ tự ức chế ảnh ở một mắt để xoá song thị. Hậu quả là gây ra nhược thị ở một mắt.

Lác mắt gây ra tác hại gì

Tác hại cực kỳ quan trọng là nếu lác xảy ra ở trẻ em đang trong giai đoạn phát triển thị giác là làm cho thị giác kém phát triển, có thể gây nhược thị mất khả năng nhìn bằng hai mắt, do đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như không thể làm một số nghề nghiệp đòi hỏi thị giác hai mắt tốt. Ngoài ra với người lớn, lắc mắt làm mất vể thẩm mỹ và là trở ngại rất lớn cho việc giao tiếp trong cuộc sống.

Ở người lớn tuổi, lác mắt đột ngột có thể là báo hiệu một bệnh lý cấp tính ở hệ thần kinh vận động, do đó cần phải khám và tìm nguyên nhân để điều trị.

Theo suckhoe.24h.com.vn/ BV Mắt V-N