Tag Archives: thầy thuốc

Tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm

Khảo sát của nhóm nghiên cứu người Anh tại ĐH Liverpool ghi nhận những tác dụng phụ về mặt tâm lý của thuốc chống trầm cảm mà trên thực tế cho thấy nghiêm trọng hơn người ta vẫn tưởng.

Trang tin Science Daily dẫn lời trưởng nhóm nghiên cứu, GS John Leed: “Tác dụng phụ về sinh học của thuốc chống trầm cảm như tăng cân, buồn nôn đã được ghi nhận nhưng ảnh hưởng về tâm lý và giao tiếp chưa được nhận biết rõ. Chúng tôi thấy những ảnh hưởng đó phổ biến một cách đáng báo động”. Các nhà khoa học đã khảo sát trên 1.829 người uống thuốc chống trầm cảm theo toa của bác sĩ. Bệnh nhân được yêu cầu điền vào để trả lời bảng câu hỏi về 20 tác dụng không mong muốn có thể xảy ra.

thuoc-chong-tram-cam

Kết quả cho thấy hơn một nửa cho biết họ có ý định tự sát. Tỉ lệ người cảm thấy trở ngại trong sinh hoạt tình dục là 62%, tê liệt về cảm xúc là 60%, cảm giác không giống như chính mình là 52%, giảm cảm giác tích cực là 42% và ít quan tâm chăm sóc người khác là 39%. Khảo sát cũng cho thấy bệnh nhân ít khai báo những điều nêu trên với thầy thuốc.

Nhóm nghiên cứu khuyến cáo các bác sĩ nên cân nhắc khi ra toa thuốc chống trầm cảm, đồng thời khuyến khích nghiên cứu thêm về lợi ích và khả năng tác hại do có đến 82% người trong số này cho rằng chứng trầm cảm của họ thuyên giảm nhờ dùng thuốc.

Nguồn báo lao động

Những nguyên tắc bổ sung vitamin cho cơ thể

Những trường hợp đặc biệt, cơ thể không hấp thụ đủ vitamin thì cần bổ sung theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc chuyên khoa.

Khi bổ sung vitamin cho cơ thể, chúng ta không bỏ qua những nguyên tắc sau:

1. Lý do sử dụng rõ ràng

Một số người cho rằng, vitamin là thuốc bổ nên an toàn. Vì vậy, để tăng sức đề kháng, làm cho cơ thể khỏe hơn, da bóng mịn hơn, tóc mượt hơn… họ đã sử dụng vitamin tuỳ tiện và điều này rất nguy hiểm cho sức khỏe. Nên nhớ, chỉ khi thầy thuốc chẩn đoán chính xác cơ thể thiếu loại vitamin nào thì mới bổ sung, tuyệt đối không được sử dụng tuỳ tiện.

5-nguyen-tac-su-dung-vitamin

2. Liều lượng

Thuốc dù tốt và bổ dưỡng đến mấy cũng phải dùng với liều lượng thích hợp. Nếu sử dụng vitamin D quá liều lượng và thời gian sẽ bị ngộ độc. Cơ thể thừa vitamin A có thể bị nhiễm độc với triệu chứng da bị tổn thương, viêm khớp, bong da toàn thân, có nguy cơ bị viêm gan. Phụ nữ có thai uống quá nhiều vitamin A có nguy cơ gây dị dạng thai nhi. Với vitamin E, nếu dùng quá liều sẽ gây tiêu chảy, đau bụng, rối loạn tiêu hoá, mệt mỏi và suy nhược cơ thể.

3. Tìm nguyên nhân bổ sung chính xác

Nhiều trường hợp thiếu vitamin là do một số bệnh gây ra. Do đó, phải được thầy thuốc khám xác định bệnh chính xác, sau đó mới bổ sung vitamin sao cho hiệu quả.

4. Thời gian bổ sung

Vitamin C, B1, B2… là các vitamin tan được trong nước, vì thế uống sau bữa ăn là thích hợp bởi các vitamin này sẽ nhanh chóng thấm qua dạ dày và thành ruột. Nếu uống khi đói, phần lớn vitamin sẽ bị cơ thể bài tiết ra ngoài khi các mô trong cơ thể hấp thụ chưa hết.

Ngoài ra, những vitamin tan trong mỡ như vitamin A, D, E… nên uống sau bữa ăn, vì khi đó, đường ruột và dạ dày tích trữ một lượng mỡ từ thức ăn nên có lợi cho sự hoà tan vitamin, làm cho cơ thể hấp thu dễ dàng.

5. Nắm được sự tương tác của vitamin với các loại thuốc khác

Vitamin có thể tương tác với một số thuốc, gây giảm hiệu lực của thuốc hoặc giảm hiệu lực của vitamin. Chẳng hạn, thuốc paraphin dạng lỏng có thể làm giảm sự hấp thu và tăng sự đào thải các vitamin tan trong mỡ; thuốc kháng sinh sẽ ức chế vi khuẩn đường ruột, làm giảm sự tổng hợp vitamin K trong cơ thể.

Những loại thuốc có tác dụng làm chất xúc tác như phenol barbital và aspirin… có thể làm tăng sự bài tiết vitamin B 1, vitamin C và tiêu huỷ vitamin B12 . Vitamin C và B1 không thích hợp uống cùng thời điểm với thuốc tránh thai vì làm giảm hiệu quả của thuốc tránh thai. Nếu uống vitamin D cùng một lúc với thuốc kháng khuẩn tổng hợp có khả năng dẫn đến nước tiểu bị kết tủa, làm hại thận. Trong khi đó, nếu uống viên sắt cùng thời điểm với vitamin C sẽ làm tăng sự hấp thụ sắt của cơ thể.

Theo afamily

Mất việc và nguy cơ bị bệnh tim mạch

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, mất việc là một trong bốn biến cố trọng đại của cuộc đời một con người, Đó là: ly dị, người thân mất, mất việc và bị bệnh nan y. Những biến cố này ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cả về tinh thần lẫn về thể chất, trong đó có việc dẫn đến mắc bệnh tim mạch.

Những thay đổi về cuộc sống, những âu lo về cuộc sống, sự mất tự tin trong khi giao tiếp với mọi người, mất ngủ, chế độ ăn uống thất thường, sử dụng nhiều rượu bia và chất kích thích… là những hiện tượng gặp ở phần lớn những người bị mất việc và một số người về hưu mà không có chuẩn bị từ trước. Những hiện tượng trên tác động rất lớn đến hệ thống tim mạch là một trong những cơ quan của cơ thể con người nhạy cảm với stress.

Mắc bệnh tim mạch do mất việc làm

Sự bài tiết quá đáng adrenalin và các hoóc-môn của chuyển hóa loại steroides của tuyến thượng thận sẽ làm tăng nhịp tim và gây cao huyết áp. Hiện tượng tăng rối loạn chuyển hóa trong đó có rối loạn chuyển hóa chất đường và chất béo là hai loại rối loạn chuyển hóa quan trọng nhất là nguồn gốc gây ra bệnh đái tháo đường và xơ vữa động mạch. Cao huyết áp và biến chứng tim mạch do stress hay xảy ra ở những người năng động, khỏe mạnh và ngay thẳng. Còn những người hướng nội hay thu mình vào và giỏi chịu đựng thì đứng trước những stress tương tự họ sẽ bị các rối loạn về tiêu hóa như viêm loét dạ dày, rối loạn tiêu hóa, hội chứng ruột kích thích nhiều hơn.

mat-viec-de-gay-ra-mac-benh-tim-mach

Ngoài ra, khi bị mất việc, tất nhiên là kinh tế của bản thân và gia đình sẽ có nhiều ảnh hưởng. Do đó, những lo toan về cuộc sống ngày càng đè nặng lên người mất việc kèm theo kinh tế kém nên không đi khám bệnh kiểm tra sức khỏe thường quy. Ngay cả khi bị bệnh về tim mạch bệnh nhân cũng ngại đi khám và điều trị vì không có tiền. Những điều này làm cho bệnh tim mạch của những người mất việc thường nặng hơn so với người bình thường.

Làm thế nào để phòng tránh bệnh?

Một thống kê đáng tin cậy ở các nước phát triển trên thế giới cho thấy: trong thời kỳ kinh tế bị suy thoái số bệnh nhân tim mạch và tiêu hóa gia tăng đột biến gấp từ 2 – 3 lần so với những thời kỳ kinh tế phát triển. Nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập với nền kinh tế của thế giới thì mô hình bệnh tật và những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế với việc hàng trăm ngàn người mất việc nên bệnh tim mạch gia tăng cũng là một điều tất nhiên.

Để tránh được các biến chứng về tim mạch gây ra mất việc; điều quan trọng nhất là phải học cách sống chung với stress. Những chuẩn bị trước cho cuộc sống khi còn đang ở giai đoạn thịnh vượng của cuộc đời là rất cần thiết: chuẩn bị về tinh thần, chuẩn bị về tài chính, tích cốc phòng cơ. Khi bị mất việc cũng nên tránh giải sầu bằng các thú vui ăn uống, nhậu nhẹt quá đà, đó chính là tiền thân cho các bệnh tim mạch sau này.

Một vấn đề nữa thuộc về trách nhiệm của xã hội, cần có những chuyên viên tư vấn về tâm lý để giải quyết những stress cho người thất nghiệp. Điều hành tốt quỹ bảo trợ thất nghiệp để những người chẳng may sa cơ lỡ vận còn có chỗ bấu víu và để ngành y tế tránh phải thêm gánh nặng về bệnh tật, nhất là sự gia tăng của bệnh nhân tim mạch.

Lời khuyên của thầy thuốc

Để tránh được các biến chứng về tim mạch gây ra do mất việc, điều quan trọng nhất là phải học cách sống chung với stress. Những chuẩn bị trước cho cuộc sống khi còn đang ở giai đoạn thịnh vượng của cuộc đời là rất cần thiết: chuẩn bị về tinh thần, chuẩn bị về tài chính, tích cốc phòng cơ. Khi bị mất việc cũng nên tránh giải sầu bằng các thú vui ăn uống, nhậu nhẹt quá đà đó chính là tiền thân cho các bệnh tim mạch sau này.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

THeo SKDS

Thuốc chữa động kinh củng là nguyên nhân gây tự kỷ

Cho đến nay nguyên nhân nào gây ra bệnh tự kỷ vẫn còn là bí mật với các nhà khoa học và thầy thuốc. Như mới đây một nhóm nghiên cứu chung của các nhà khoa học Liverpool và Manchester, Anh đã phát hiện, có thể thuốc điều trị động kinh là một trong các nguyên nhân có thể gây ra tự kỷ ở trẻ em.

thuoc_dong_kinh

Trong số 632 trẻ nghiên cứu, có một nửa số trẻ có mẹ dùng thuốc điều trị động kinh trong thời kỳ mang thai, trong đó 64 bà mẹ dùng valproate, 44 dùng lamotrigine, 76 bà mẹ dùng carbamazepin và 65 bà mẹ dùng thuốc điều trị động kinh khác. Trong số này họ đã phát hiện 9 trẻ mắc bệnh tự kỷ.

Nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra rằng: mẹ dùng thuốc chống động kinh như valproate khi mang thai có thể làm tăng nguy cơ tự kỷ cho trẻ lên gấp 7 so với không dùng. Bản thân valproate cũng có nguy cơ gây bệnh tự kỷ cao hơn các loại thuốc chống động kinh khác.

Theo suckhoevadoisong