Tag Archives: thắt lưng

Nỗi ám ảnh cho xương khớp mỗi khi thay đổi thời tiết

Nguyên nhân

Theo một nghiên cứu ở Việt Nam, có đến 66% người từ 40 tuổi trở lên mắc nguy cơ thoái hóa khớp, những vị trí thường gặp nhất là cột sống thắt lưng (43%) và khớp gối (35%). Các bệnh về xương khớp có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng thường gặp hơn ở người lớn tuổi, và việc thời tiết thay đổi cũng có liên quan mật thiết đến diễn biến của các bệnh về khớp do sự thay đổi áp suất khí quyển, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Khi trời trở lạnh, áp suất khí quyển giảm xuống, các mô nở ra tạo áp lực cho khớp, độ ẩm tăng góp phần gây nên sưng mỏi khớp. Đồng thời mạch máu bị co lại khi nhiệt độ giảm xuống, khiến máu trong cơ thể lưu thông kém làm chân tay càng đau buốt, tê cứng hơn.

noi-am-anh-cho-xuong-khop-moi-khi-thay-doi-thoi-tiet

Với những người lớn tuổi, khi các tế bào xương dần dần bị lão hóa, các hóc-mon sinh dục giảm thấp, việc hấp thụ canxi và vitamin sút giảm dẫn đến bệnh loãng xương và các nguy cơ của thoái hóa khớp, thì thời tiết xấu lại là điều kiện thuận lợi cho các bệnh về khớp hoành hành. Ngoài ra, những nguyên nhân dẫn đến chứng thoái hóa khớp ở người lớn tuổi như: tình trạng béo phì, yếu tố di truyền, các chấn thương nhẹ nhưng thường hay xảy ra ở khớp… gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động bình thường của cuộc sống hàng ngày. Nếu không được điều trị sớm có thể dẫn đến biến dạng khớp, tràn dịch khớp và phế khớp.

Những khớp nào dễ bị thoái hóa?

Các khớp xương đều có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa cột sống cổ, cột sống thắt lưng, khớp háng, khớp gối. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, sau đó sẽ kéo dài cả ngày, tăng cao khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, gây ảnh hưởng đến thần kinh tọa, làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

Cột sống cổ: Biểu hiện chủ yếu bằng đau cổ, hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động, nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối.

Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn, đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi, cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi.

Chăm sóc sức khỏe các khớp thế nào?

Để hạn chế các nguy cơ về loãng xương và thoái hóa khớp nên có một chế độ sinh họat hợp lý. Thường xuyên tập luyện các khớp xương như: xoay, xoa bóp, đi lại và tập thể dục tùy theo điều kiện mỗi người.

Chế độ ăn uống hàng ngày đóng vai trò quan trọng không kém trong việc cung cấp dưỡng chất cho cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là can-xi và vitamin D giúp xương chắc khỏe. Nhưng thực sự cơ thể chúng ta có được bổ sung đầy đủ chưa?

Theo nghiên cứu, glucosamine được sản xuất tự nhiên trong cơ thể, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng sụn, mô liên kết đệm khớp. Glucosamine tăng cường chất dịch không những làm giảm đau viêm khớp, mà còn ngăn ngừa biến chứng. Trong thức ăn hàng ngày không có nguồn cung cấp chính thành phần quan trọng này, chính vì thế sản phẩm duy trì xương khớp khỏe mạnh của Herbalife – Joint Support Advanced- với các thành phần Glucosamine chiết xuất từ rễ Scutellaria cùng với các khoáng chất như mangan, selen và đồng giúp tăng khả năng tổng hợp sụn khớp, giảm quá trình viêm khớp và hỗ trợ quá trình lão hóa lành mạnh.

Nguồn sức khỏe đời sống

Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Bên cạnh các phương pháp điều trị thông thường, hiện nay, những sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên cũng đem lại hiệu quả tốt trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng và được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học. Điển hình cho dòng sản phẩm này là thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương.

Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Theo thông tin đăng trên tạp chí Y dược lâm sàng tập 5 – số 6/2010 (bệnh viện TƯ Quân đội 108) về nghiên cứu “Tác dụng hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của Cốt Thoái Vương” do GS.TS Nguyễn Văn Thông – Chủ nhiệm khoa Thần kinh, bệnh viện TƯ Quân đội 108 cùng các cộng sự thực hiện trên 141 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng được chia thành 2 nhóm: nhóm I gồm 85 bệnh nhân điều trị theo phác đồ thông thường (vật lý trị liệu, dùng thuốc giảm đau chống viêm; tiêm hydrocortisone ngoài màng cứng) kết hợp với Cốt Thoái Vương 4 viên/ ngày; nhóm II có 56 bệnh nhân chỉ điều trị phác đồ thông thường. Kết quả cho thấy: Nhóm không dùng Cốt Thoái Vương: kết quả rất tốt và tốt 23,2%, khá 21,4%. Nhóm có sử dụng Cốt Thoái Vương đạt kết quả giảm đau, cải thiện vận động cột sống thắt lưng rất tốt và tốt chiếm 23,53%, khá 40,0% cao hơn nhóm đối chứng. Sản phẩm Cốt Thoái Vương không gây tác dụng phụ trong quá trình điều trị.

Tác dụng của Cốt Thoái Vương có được là nhờ sự phối hợp từ các thành phần thiên nhiên, đặc biệt là thành phần chính dầu vẹm xanh giúp tăng cường độ chắc khỏe của xương và nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… Do đó, sản phẩm giúp giảm đau, cải thiện khả năng vận động, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nói riêng và các bệnh lý về cột sống nói chung.

Kết quả nghiên cứu trên đã phản ánh tín hiệu tích cực khi dùng Cốt Thoái Vương để hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, đồng thời có thêm lựa chọn khả quan cho các bác sĩ cũng như người bệnh.

Minh Trí

Theo sức khỏe đời sống

Cách hạn chế nguy cơ gây đau thần kinh tọa

Đau thần kinh tọa là căn bệnh thường gặp ở lứa tuổi 30-60. Ngoài các nguyên nhân bệnh lý như: tổn thương ở cột sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh, thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng, các tổn thương thực thể khác ở vùng thắt lưng (dị dạng bẩm sinh, chấn thương, thoái hóa cột sống thắt lưng, u, viêm cột sống dính khớp, viêm đốt sống do nhiễm khuẩn) thì nguy cơ gây đau thần kinh tọa tăng cao ở những trường hợp thường xuyên phải lao động chân tay nặng nhọc, làm việc sai tư thế; các nghề nghiệp có tư thế làm việc gò bó như công nhân bốc vác, nghệ sĩ xiếc, vận động viên cử tạ…

Dấu hiệu nhận biết bệnh

Dây thần kinh tọa là một dây thần kinh dài nhất cơ thể, trải dài từ phần dưới thắt lưng đến tận ngón chân. Chức năng chính của dây là chi phối cảm giác, dinh dưỡng và vận động cho hai chân, đặc biệt là cẳng chân.

Đau dây thần kinh tọa có biểu hiện đặc trưng bằng cảm giác đau lan dọc xuống phía đùi theo rễ thần kinh lưng 5 (L5) và rễ thần kinh sống 1 (S1). Nếu rễ thần kinh L5 bị tổn thương thì có hiện tượng đau dọc từ lưng eo phía ngoài xuống ngoài động mạch cẳng chân tới tận ngón chân út. Nếu rễ thần kinh S1 bị tổn thương thì đau dọc ra phía sau mông, thẳng xuống sau đùi, sau bắp cẳng chân tới phía ngoài bàn chân. Nếu bị bệnh thần kinh tọa trên (thần kinh hông) thì đau thường tới phía trên đầu gối; nếu bị thần kinh tọa dưới thì đau tới mắt cá ngoài bàn chân.

cach_han_che_nguy_co_gay_dau_than_kinh_toa

Thoát vị đĩa đệm gây đau thần kinh tọa

– Đau giữa cột sống hay lệch một bên, đau tăng lên khi bị rung người (đi xe qua ổ gà, vấp vào đá).

– Cảm giác đau lan từ lưng xuống, lệch sang một bên mông, xuống đùi, khoeo, gót chân. Hoặc thấy đau ngược lại, từ gót chân lên.

– Nhói lưng khi ho, khi hắt xì hơi, khi cười.

–  Cột sống cứng, bị đau khi chuyển dịch hoặc nghiêng người .

– Khó cúi người xuống vì đau.

– Nếu đi lại nhiều, đứng nhiều, ngồi nhiều trong một ngày, đau có thể tái phát. Đau tăng thì khi chân giẫm mạnh xuống đất, ho mạnh, hắt hơi,…

– Có thể thấy teo cơ bên chân đau nếu tình trạng đau kéo dài.

Trong trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh vẫn đi lại, làm việc bình thường, nhưng cơn đau có thể gây khó chịu, ảnh hưởng đến sinh hoạt và lao động của người bệnh. Nếu bị đau nặng sẽ ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và khả năng lao động. Nếu không điều trị kip thời, bệnh có thể để lại những biến chứng như yếu liệt cơ, chân tê bì mất cảm giác, đi lại khó khăn, tiểu tiện khó…

Điều trị như thế nào?

Khi người bệnh thấy những biểu hiện của đau thần kinh tọa cần phải đến cơ sở y tế chuyên khoa để các bác sĩ kiểm tra, chẩn đoán và có chỉ định điều trị phù hợp. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có  phương pháp chữa trị phù hợp. Trong giai đoạn đau cấp tính người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh vận động mạnh và có thể dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu bệnh nặng không thuyên giảm hoặc có biến chứng như yếu cơ, teo cơ, người bệnh đau nhiều, đau tái phát nhiều lần thì bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật.

Hạn chế nguy cơ gây bệnh

cach_han_che_nguy_co_gay_dau_than_kinh_toa2

Để hạn chế mắc bệnh đau dây thần kinh tọa, chúng ta cần thực hiện các biện pháp phòng tránh như: Không nên lao động quá sức, làm việc sai tư thế. Tránh đứng hoặc ngồi một chỗ quá lâu. Nếu phải ngồi làm việc lâu, nên thường xuyên đứng lên và làm các động tác thể dục giữa giờ. Cần đứng trên tư thế thẳng, không rũ vai, gù lưng. Bảo đảm tư thế đúng khi đứng, ngồi, mang, vác, hay nhấc vật nặng. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, có thể đeo đai lưng khi mang vác vật nặng, hãy để cho trọng lượng của vật chia đều cả hai bên cơ thể, không mang vật nặng ở một bên người hay trong thời gian dài. Tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất, không nên nhảy từ trên cao xuống, không nên thay đổi tư thế một cách đột ngột,…

Ngoài ra để phòng bệnh đau thần kinh tọa, cần tập thể dục vừa sức thường xuyên để nâng cao thể lực, áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai, khỏe mạnh của các khối cơ lưng cạnh cột sống, cơ bụng và tăng sự mềm mại của cột sống. Điều trị kịp thời các bệnh thoái hóa cột sống.

Khi có dấu hiệu của bệnh cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ chuyên khoa khám xác định nguyên nhân và mức độ của bệnh để có chỉ định điều trị phù hợp, hạn chế được những biến chứng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và khả năng lao động.

BS. Trọng Nghĩa
Theo SKĐS

Lao xương có chữa khỏi?

Để phát hiện sớm bệnh lao xương khớp, khi có dấu hiệu nghi ngờ, cần nhanh chóng khám làm xét nghiệm soi vi khuẩn (chọc hút từ vị trí tổn thương) và chụp Xquang (phổi, cột sống hoặc vị trí xương khớp tổn thương). Tùy từng nguyên nhân mà bác sĩ sẽ đưa ra những phương pháp điều trị tối ưu nhất.

lao_xuong_co_chua_khoi

Lao là một bệnh nhiễm khuẩn do một loại trực khuẩn có tên là Mycobacterium tuberculosis gây ra. Một trong những loại bệnh lao hay mắc nhưng dễ bị bỏ qua là lao xương – đó là tình trạng viêm các khớp, xương do lao. Trong hệ xương khớp, cột sống thắt lưng là vị trí tổn thương thường gặp nhất trong bệnh lao xương. Bệnh lao xương khớp thường xảy ra ở độ tuổi 20 – 40. Yếu tố nhiễm bệnh từ mối quan hệ với người bệnh, nhất là lao phổi, lao hạch, lao thận, bàng quang… Vi khuẩn từ vị trí tổn thương, theo máu di chuyển đến các khớp xương còn là hậu quả của bệnh lao hạch cổ, còn gọi là bệnh tràng hạt. Triệu chứng điển hình của bệnh là đau lưng âm ỉ, đau tăng dần và liên tục kèm theo sốt nhẹ về chiều. Có trường hơp ở bên ngoài thắt lưng phát triển khối u, ấn vào thấy mềm, không đau nhức. Một thời gian khối u vỡ, giải phóng nước vàng và chất bã đậu, tạo vết loét gọi là “áp-xe lạnh ngoài cột sống”. Trong đa số trường hợp, cột sống thắt lưng xuất hiện khối u nổi cộm dưới da, hạn chế cử động. Tình trạng này do vi khuẩn tấn công phần trước đốt sống, khiến phần còn lại của đốt sống bị lệch ra ngoài. Do lao xương khớp tiến triển chậm, âm ỉ, người bệnh chủ quan dễ bỏ qua, không được điều trị và phát hiện kịp thời nên gây những biến chứng nghiêm trọng. Đó là: liệt tứ chi do vi khuẩn làm cột sống biến dạng, chèn ép tủy sống và rễ thần kinh, ảnh hưởng đến các cơ quan, phổi, màng não… gây nguy kịch dẫn đến tử vong. Lao xương để lâu không chữa còn có thể dẫn tới xẹp đốt sống gây gù nhọn. Nếu khối áp-xe vỡ vào trung thất thì còn gây chèn ép tim, suy hô hấp, trụy mạch dẫn tới tử vong.

Với tiến bộ của những phương pháp điều trị, bệnh lao xương có thể chữa khỏi hoàn toàn trong 9 – 12 tháng với điều kiện bệnh nhân phải tuân thủ theo chế độ điều trị và dùng thuốc nghiêm ngặt, không để vi khuẩn bị kháng thuốc. Bệnh nhân chủ yếu vẫn là dùng các thuốc chống lao theo đường toàn thân. Cần để khớp nghỉ tương đối ở giai đoạn đầu chừng 4 – 5 tuần bằng cách nằm trên giường cứng, không nên nằm trên đệm mềm, cũng không cần bó bột bất động tuyệt đối như cách điều trị trước đây. Sau đó, phải tập vận động khớp để tránh cứng khớp. Một số trường hợp phải can thiệp ngoại khoa như có ổ áp-xe lớn (cần dẫn lưu mủ, nạo lấy hết xương chết), chèn ép tủy do cột sống gấp khúc, đốt sống xẹp hoặc áp-xe lạnh (cần cắt lá cột sống, dẫn lưu áp-xe).

BS. Hoàng Thanh Hiền
Theo SKĐS