Tag Archives: thanh nhiệt

Bài thuốc chữa đau bụng do lạnh

Rau muối thường mọc ở các bãi sông, ven đường, ruộng và nương rẫy bỏ hoang thường được bà con miền núi, ven biển sử dụng làm rau nấu canh ăn có tác dụng thanh nhiệt. Cây rau muối đã có vị mặn nên khi chế biến nên không cần bỏ muối.

Loài cây thảo mà mặt lá có những điểm trắng rất nhỏ như giọt sương muối nên được gọi là cây rau muối. Thân cây nhẵn, phân nhánh nhiều. Lá mọc so le, có cuống ngắn, các lá phía dưới lớn hơn, có hình thoi, có răng lượn sóng ở mép, lá có màu lục trắng và có phấn (do có lông mọng nước, làm cho mặt lá như rắc bột, rắc muối). Hoa tập hợp thành chùm, bao hoa trắng không cuống, nhuỵ có 2 đầu nhuỵ. Quả bế; hạt óng ánh, màu đen. Mùa ra hoa khoảng tháng 2 – 6, có quả vào mùa thu.

Toàn cây được sử dụng làm thuốc, thân cây có lá chứa 87,7% nước, 5,3% protein, 1,2% glucid và khoáng toàn phần 2,2%. Ngoài ra cây có các muối khoáng như: calcium, phospho, vitamin C…
Theo Đông y, rau muối có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, sát khuẩn, chữa tả lỵ, chống ngứa. Ngoài ra rau có tác dụng nhuận tràng và trừ giun, lá có tác dụng chống viêm, an thần, nhuận tràng nhẹ, trị kiết lỵ, tiêu chảy…

bai-thuoc-chua-dau-bung-do-lanh

Một số bài thuốc thường dùng

Bài 1: Chữa đau bụng do lạnh: Rễ cây rau muối 20g, rửa sạch. Cho 500ml nước sắc còn 150ml nước, chia 2 lần uống trong ngày. Uống lúc còn ấm, dùng liền 5 ngày.

Bài 2: Chữa cước khí đầu gối, bàn chân đau nhức: Lá rau muối 20g, cho 500ml nước sắc còn 150ml nước, chia 3 lần uống nóng trong ngày, cách nhau mỗi lần 3 giờ. Dùng 5 – 10 ngày. Kết hợp với ngâm chân. Lấy cả cây rau muối (1 nắm to), rửa sạch cho vào nồi đổ ngập nước, đun sôi khoảng 15 phút. Để nước ấm (tránh bị nóng gây bỏng) ngâm chân 15 phút, ngâm cho nước đến nguội (rồi chế thêm nước cho nóng). Sau đó, lau khô chân và xoa bóp 2 bàn chân, đặc biệt gan bàn chân (xoa bóp 5 phút). Làm như vậy nhiều lần sẽ rất tốt.

Bài 3: Giảm đau răng, viêm chân răng: Lấy 20g lá rau muối, rửa sạch, cho 400ml nước, sắc đặc còn 100ml nước, ngậm và súc miệng thường xuyên sẽ hiệu nghiệm (sau mỗi lần ngậm hay súc miệng không được nuốt).

Lưu ý: Để bài thuốc có hiệu quả và phù hợp với cơ địa cần được các nhà chuyên môn bắt mạch tư vấn

Theo sức khỏe đời sống

Rau dền thanh nhiệt, mát gan

Rau dền là loại rau rất được ưa chuộng trong mùa hè vì có tác dụng mát gan, thanh nhiệt. Một số nghiên cứu mới đây cho thấy, chúng có khả năng tăng thải trừ chất phóng xạ, thanh thải chất độc vì chúng có nhiều sterol, các acid béo không no.

Theo Đông y, dền cơm vị ngọt, tính hàn. Dền tía vị ngọt, mát, vào đại tràng. Có tác dụng thanh nhiệt, mát gan, ích khí và khai khiếu. Dùng cho các trường hợp kiết lỵ, táo bón, rối loạn tiết niệu, đau mắt đỏ, sưng đau họng, côn trùng cắn đốt. Hằng ngày dùng 100 – 250g bằng cách nấu, xào, ép nước.

rau-den-thanh-nhiet-va-mat-gan

Cháo rau dền tía: rau dền tía 200g, rửa sạch, nấu lấy nước, nấu cháo với gạo lứt. Ăn khi đói. Dùng cho phụ nữ trước sau khi sinh con có hội chứng kiết lỵ; dùng cho người cao tuổi viêm ruột, kiết lỵ.

Canh rau dền: rau dền tía 200g, rửa sạch, nấu canh, thích hợp với người bệnh ung thư cổ tử cung, hội chứng lỵ, u tuyến giáp trạng lành tính.

Chữa đau mắt: hạt dền cơm, hạt thảo quyết minh, liều lượng bằng nhau 10g. Sắc nước uống. Chữa mắt đau có màng mộng.

Chữa phát ban: rau dền 10g, rễ hoặc lá lức 10g, ké hoa vàng 8g, rễ sắn dây 8g, cỏ mần trầu 8g, dây chiều 8g, rau má 8g, dây giác tía 8g, kinh giới 6g, cam thảo đất 6g, bạc hà 4g, gừng tươi 2 lát. Sắc uống. Chữa sốt nóng thời kỳ đầu.

Theo kinh nghiệm dân gian, lấy lá rau dền giã nát, uống nước và lấy bã đắp chữa rắn cắn. Rễ dền tía và rễ bí ngô với liều lượng bằng nhau, sắc uống chữa chảy máu do sẩy thai. Hạt dền cơm 20g sắc uống chữa tiểu tiện không thông…

Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai và người hư hàn tiêu chảy dùng hạn chế.

BS. Tiểu Lan

Phòng bệnh với hoa nhài

Hoa nhài (Jasmine) còn gọi là hoa lài hay mạt ly, nhài đơn, mạt lợi, tên khoa học là Jasminum Sambac Ait, họ nhài (Oleaceae). Là loài hoa đẹp và có hương thơm thật quyến rũ lại bền lâu.

Nhài có hoa trắng, mọc thành cụm ở nách lá hay ngọn cây, thường nở vào ban đêm hoặc vào giữa trưa. Hoa nhài có tính bình, hơi hàn, vị đắng có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, tiêu thũng, hoạt huyết… Bộ phận sử dụng làm thuốc là hoa và rễ. Trong hoa nhài chứa chất béo thơm khoảng chừng 0,08%. Rễ tuy độc nhưng được dùng làm thuốc giảm đau.

1. Chữa sốt hoặc ho

Bạn có thể dùng hoa hoặc lá cây nhài để làm thuốc. Lấy lượng vừa đủ dùng, sắc uống theo cách thông thường ba phần nước sắc còn một phần. Ngừng thuốc khi thấy bệnh đã thuyên giảm dần.

2. Chữa loét nhỏ

hoa-nhai

Nghiền nát hoa hoặc lá đắp lên vùng bị loét. Đắp liên tục cho tới khi khỏi hẳn.
Chữa sốt, trướng bụng và tiêu chảy: dùng 3-6g hoa khô hoặc lá khô sắc uống. Uống cho đến khi khỏi hẳn.

3. Bong gân, nứt xương

Gốc cây hoa nhài giã dập, đắp bên ngoài, có thể đắp cho tới khi khỏi.

4. Ong chích

Nghiền nát hoa tươi và đắp vào nơi bị ong chích. Hoa nhài sẽ làm dịu cơn đau và giảm sung. Có thể đắp cho tới khi khỏi hẳn.

5. Chữa hơi thở ngắn

Dùng 3 hoa nhài tươi, 10 ly nước lọc, muối lượng vừa đủ, đun sôi cho đến khi còn khoảng 2 ly. Người bệnh uống nước này cho tới khi thấy bệnh thuyên giảm.

6. Chữa lỵ

Dùng 2-4g hoa nhài khô, sắc 3 phần nước còn 1 phần.

7. Kháng khuẩn

Nghiên cứu cho thấy tất cả các chiết xuất từ hoa nhài đều có tính kháng khuẩn, chống lại các tác nhân gây bệnh nhiễm trùng.

8. Ngăn ngừa vô sinh

Hoa nhài được xem như một phương thuốc giúp ngăn ngừa vô sinh và được xếp hạng trong danh mục các thảo mộc kích thích tình dục. Loại hoa này còn làm dịu thần kinh. Hoa nhài cũng sẽ hữu ích trong trường hợp người bị lạnh, bơ phờ, co giật.

Nguồn giáo dục

Chữa viêm họng do lạnh hiệu quả với rau bô binh

Rau bô binh còn có tên gọi là tử tô hoang, tiểu quỷ châm, cương hoa thảo, đơn kim, đơn buốt, cúc áo,… là cây thảo mọc hoang, thường thấy ở ven đường, bờ ruộng, bãi hoang quanh nhà. Thân và cành đều có những rãnh chạy dọc, có lông. Lá mọc đối,cuống dài, lá chét hình mác, phía đáy hơi tròn, cuống ngắn, mép lá chét có răngcưa to thô. Cụm hoa hình đầu, màu vàng, mọc đơn độc hay từng đôi một ở nách lá hay đầu cành. Quả bế hình thoi, 3 cạnh, không đều, dài 1cm, trên có rãnh chạy dọc. Theo y học cổ truyền, rau bô binh có vị ngọt nhạt, tính bình. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán ứ, tiêu thũng. Dùng chữa cảm, cúm, họng sưng đau, viêm ruột, trẻ nhỏ cam tích, chấn thương, mẩn ngứa, lở loét…

chua-viem-hong-do-lanh-hieu-qua-voi-rau-bo-binh

Rau bôbinh.

Một số bài thuốc thường dùng:

Chữa đau lưng do làm gắng sức: Rau bô binh 150-180g, rửa sạch sắc lấy nước, thêm 250g đại táo, đường đỏ và chút rượu trắng, nấu nhỏ lửa cho đến khi táo chín nhừ; Chia4-5 lần uống trong 2 ngày, uống liền 7-10 ngày.

Chữa mẩn ngứa do dị ứng thời tiết: Rau bô binh 100-200g, nấu với 4-5 lít nước tắm, đồng thời lấy bã xát kỹ lên vết mẩn. Thường chỉ dùng 1-2 lần là có kết quả.

Chữa chấn thương phần mềm nhẹ, tụ máu đau nhức: Rau bô binh cả lá và hoa, lá cây đại, mỗi vị 10-15g, giã nát, băng đắp vào chỗ đau, ngày 1-3 lần.

Chữa đau răng, sâu răng: Rau bô binh cả hoa và lá, rửa sạch cho vào ít muối, giã nhỏ đặt vào chỗ đau. Hoặc lấy rau bô binh 50g, rửa sạch, ngâm với 250ml rượu trắng(theo tỷ lệ 1/5). Trường hợp bị đau răng, ngậm trong miệng một lúc rồi nhổ đi.

Chữa viêm họng do lạnh: Rau bô binh cả hoa và lá, kim ngân hoa, sài đất, lá húng chanh, cam thảo đất, mỗi thứ 10-15g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần. Dùng trong 5-7 ngày.

Chữa đau nhức do phong thấp: Rau bô binh 30-60g, rửa sạch sắc nước uống, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10-15 ngày.

Chữa trẻn hỏ cam tích: Rau bô binh 15g, gan lợn 30-60g. Rửa sạch lá rau bô binh rồi cho lá xuống đáy nồi, đổ ngập nước, đặt gan lên phía trên hấp chín, ngày chia 2 lần, ăn liền 5-7 ngày.

Cần phân biệt rau bô binh với một cây khác có tên là đơn buốt hay đơn kim hay quỷ trâm thảo (Bidens bipinnata L., cùng họ cúc) cũng mọc hoang khắp nơi. Cây đơn buốt chỉ khác cây rau bô binh ở chỗ số lá kép nhiều hơn 3, cụm hoa hình đầu, màu vàng.

Theo BS. NguyễnThị Hương
SKĐS

Tráng dương nhờ trâu cổ

Trâu cổ còn có tên khác là xộp, vẩy ốc, được trồng làm cảnh hoặc che mát. Bộ phận dùng làm thuốc là quả (còn gọi bị lệ thực, lương phấn quả, vương bất lưu hành); cành mang lá, quả non phơi khô (bị lệ lạc thạch đằng).

Theo Đông y, quả có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tráng dương, cố tinh, lợi thấp, thông sữa. Thân và rễ vị hơi đắng, tính bình, có tác dụng khu phong, hoạt huyết, giải độc. Lá có vị hơi chua chát, tính mát, có tác dụng tiêu thũng giải độc.

trang-duong-nho-trau-co

Quả trâu cổ được dùng làm thuốc bổ, chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày, kinh nguyệt không đều, viêm tinh hoàn, phong thấp, ung thũng, thoát giang (lòi dom), tắc tia sữa và đái ra dưỡng chấp. Thân và rễ dùng chữa phong thấp tê mỏi, sang độc ung nhọt. Lá chữa viêm khớp xương, nhức mỏi chân tay, đòn ngã tổn thương, mụn nhọt, đinh sang ngứa lở. Trâu cổ có tác dụng bổ khí huyết nên nhiều người dùng thay vị hoàng kỳ trong một số đơn thuốc.

Rượu bổ chữa di tinh liệt dương: cành và lá, quả non phơi khô 100g, đậu đen 50g. Xay thô 2 thứ và ngâm trong 250ml rượu trắng, ngâm 10 ngày, ngày uống 10 – 30ml.

Thuốc sắc: vương bất lưu hành (quả trâu cổ) 12g, dây sàn sạt 12g. Sắc uống. Chữa di tinh liệt dương.

Cao quả trâu cổ: quả chín thái nhỏ, nấu với nước, lọc bỏ bã, cô thành cao. Ngày uống 5 – 10g. Dùng chữa đau xương, đau người ở người già, làm thuốc bổ, điều kinh, giúp tiêu hóa.

Chữa thấp khớp mạn tính: cành lá trâu cổ 20g, rễ cỏ xước 20g, phục linh 20g, rễ tầm xuân 20g, dây rung rúc 12g, thiên niên kiện 10g, rễ gấc 10g, lá lốt 10g, dây đau xương 10g, tang chi 10g. Sắc 2 lần, lấy khoảng 400ml, sau cô lại cho thật đặc. Hòa với rượu chia uống 3 lần trong ngày.

Thanh nhiệt, giải khát: lấy quả chín, rửa sạch, giã nát hay xay nghiền bằng máy, cho vào túi vải, ép lấy nước. Nước để yên sẽ đông lại như thạch; thái dạng sợi, cho thêm đường, nước đá và hương liệu.

Thuốc đắp: quả trâu cổ 40g, bồ công anh 15g, lá mua 15g. Sắc uống. Chữa tắc tia sữa, sưng vú, ít sữa. Kết hợp dùng: lấy lá bồ công anh giã nhỏ, cho ít dấm, chưng nóng chườm hay đắp ngoài.

Theo BS. Tiểu Lan (Sức khỏe & Đời sống)

Bài thuốc trị nẻ hiệu quả trong mùa đông

Mùa đông lạnh giá thường phát sinh chứng tay chân bị nứt nẻ. Trung y cho rằng tay chân nứt nẻ có liên quan đến bệnh nấm ngoài da, đồng thời kết hợp huyết mạch trở trệ không thông làm da dẻ mất nhuận dưỡng mà sinh bệnh.

Dưới đây, xin giới thiệu cổ phương của Trung Hoa có tên là “Thâm sư trị tay chân nứt nẻ” trích trong “Thâm sư phương”. Đây là phương có công hiệu chữa chứng da tay chân bị nứt nẻ.

Lấy xuyên tiêu lượng vừa đủ (khoảng 20 – 30g) sắc lấy nước để dùng.

bai-thuoc-tri-ne-hieu-qua-trong-mua-dong

Nước sắc của xuyên tiêu để ngâm chỗ bị nẻ ngày 2 lần, sau đó để khô tự nhiên rồi lấy tủy não heo hoặc tủy não dê làm nhuyễn để bôi lên nơi đau một lớp mỏng hoặc có thể thay thế bằng mỡ heo để bôi, hiệu quả đều như nhau).

Theo nghiên cứu dược lý thì xuyên tiêu có tác dụng ức chế đối với nhiều loại vi khuẩn và tác dụng gây tê cục bộ, làm cho giảm đau, giảm ngứa tốt.

Nếu tay chân bị nứt nẻ lại còn nóng, đau thì dùng phương “Tam vật hoàng cẩm thang”.

Trong phương gồm hoàng cầm 6g, khổ sâm 12g, cao đại hoàng 24g. Cho cả 3 vị thuốc trên sắc nhỏ lửa, kỹ, rồi chắt lấy nước để dùng. Ngày dùng 1 thang chia ra làm 3 và uống nước thuốc trước bữa ăn.

Trong phương cao đại hoàng có công năng thanh nhiệt lương huyết, sinh tân, bổ ích âm dương. Hoàng cầm có tác dụng tả hỏa, giải độc, lợi tiểu. Khổ sâm khu phong sát khuẩn. Cả 3 vị hợp lại càng tăng công hiệu thanh nhiệt, lương huyết, dưỡng huyết, khu phong, trừ thấp khiến đẩy lùi khỏi chứng thấp nhiệt uất kết ở da thịt, tay chân bị nứt nẻ nóng đau.

Theo Bs. Hoàng Xuân Đại
SKĐS

Vỏ trái cây có tác dụng chữa bệnh kỳ diệu

Hầu hết mọi người đều gọt vỏ trái cây trước khi ăn mà không biết rằng, vỏ trái cây có tác dụng làm đẹp kỳ diệu và có tác dụng ngăn ngừa bệnh tật.

Dưới đây là tác dụng kỳ diệu của vỏ trái cây:

Vỏ chuối

Trong vỏ chuối có chứa các thành phần hoạt chất để ức chế nấm và vi khuẩn . Vỏ chuối có thể điều trị nhiễm nấm do ngứa da. Ngoài ra còn có tác dụng thông mạch, nhuận tràng. Vỏ chuối giã nát cho thêm nước gừng vào có thể chống viêm giảm đau, dùng vỏ chuối xoa lên chân tay có thể phòng bệnh nứt nẻ da mùa lạnh.

Ngoài ra, vỏ chuối phơi khô nghiền bột có thể làm mỹ phẩm làm đẹp rất tốt.
vo-cay
Dùng những miếng vỏ chuối massage nhẹ nhàng lên mặt, sau đó đắp lên những chỗ mụn chừng 30 phút rồi rửa lại bằng nước lạnh. Có thể mụn chưa đỡ ngay được. Đối với những bạn sở hữu làn da khô, có thể lấy vỏ chuối chà đều lên mặt, để trong 10 phút, rồi rửa sạch lại với nước, bạn sẽ có làn da sáng bóng mịn màng.

Đồng thời vỏ chuối có tác dụng tẩy trằng răng, bạn có thể đánh răng bình thường bằng các loại kem đánh răng thông thường, sau đó dùng mặt trong của vỏ chuối (phải là vỏ của chuối chín thì mới chứa hàm lượng cao chất potassium) chà nhẹ nhàng vào răng độ 2 phút, các khoáng chất có trong vỏ chuối chín sẽ thấm vào bề mặt răng và làm sáng răng.

Vỏ dưa hấu

Có thể làm tiêu tan cái nóng và giải khát, thanh nhiệt giải độc, vỏ dưa hấu tốt hơn ruột. Đông y dùng vỏ dưa hấu và nước ép dưa có tác dụng thanh nhiệt, tiêu tan muộn phiền, hạ huyết áp. Ngoài ra vỏ dưa còn có tác dụng rất tốt đối với các bệnh thiếu máu, họng khô, viêm bàng quang, sơ gan cổ trướng, viêm thận.

Có thể ăn trực tiếp phần cùi của vỏ dưa hấu, hoặc xắt nhỏ vỏ rồi rang khô, sau đó sắc nước uống để trị bệnh viêm, nhiệt, sưng miệng khá hiệu quả. Ngoài ra, vỏ dưa hấu cũng góp vai trò tích cực trong trị mụn trứng cá.

Vỏ táo

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy vỏ táo có tác dụng ngăn ngừa ung thư hiệu quả. Bởi trong vỏ táo chứa rất nhiều chất dinh dưỡng có thành phần tương đương thành phần các loại chất có thể chống ung thư vú, ung thư phổi, ung thư ruột kết. Hơn nữa, những chất dinh dưỡng này có tác dụng hỗ trợ các tế bào kháng ung thư sản sinh thuận lợi.

Táo giúp làm sạch mảng bám ở gốc răng một cách tự nhiên. Chúng cũng giúp tẩy những đốm vàng trên răng. Tuy nhiên, các nhà khoa học khuyến cáo không nên ăn táo và vỏ táo không rõ nguồn gốc xuất xứ để tránh tình trạng ngộ độc do các loại thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng… gây ra.

Vỏ lê

Vỏ lê có tính hàn vị chua, có tác dụng mát tim phổi, trừ hoả tiêu đờm. Vỏ lê nghiền nát có thể điều trị vết loét sưng và vết thương bên ngoài da. Vỏ lê tươi sắc nước uống nhiều lần có thể thanh độc tiêu viêm.

Những người hút thuốc nhiều, phổi bị tổn thương nên ăn nhiều loại quả này, và nên nhớ rằng ăn cả vỏ. Bởi vỏ lê chứa nhiều chất kháng khuẩn ở phổi, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, hỗ trợ hệ tim mạch khỏe mạnh. Ngoài ra, dân gian ta thường nấu vỏ lê với đường đỏ để trị ho, cảm cúm và giải rượu hiệu quả.

Vỏ dưa chuột

Vỏ dưa chuột có vị hơi chát, tính bình, giàu dinh dưỡng, có khả năng giải nhiệt cho cơ thể… Ăn dưa chuột cả vỏ sẽ giúp bạn hấp thụ Vitamin C có trong dưa tốt hơn, chất nhựa trong vỏ dưa giúp tăng cường chức năng giải độc cho cơ thể. Tuy nhiên, trước khi ăn dưa chuột cả vỏ, bạn cần chú ý rửa sạch dưa sau đó ngâm nước muối loãng khoảng 30 phút để đảm bảo vệ sinh.

Vỏ cà chua

Chất lycopene trong cà chua được coi là dưỡng chất thiên nhiên giúp chống oxy hóa hiệu quả, có thể phòng ngừa các chứng bệnh về tim mạch, ung thư. Mà dưỡng chất này có hàm lượng rất lớn trong vỏ cà chua. Do đó, khi ăn sống hoặc nấu cà chua, không nên bỏ vỏ.

Vỏ bưởi

Vỏ quả bưởi y học cổ truyền gọi là cam phao, có vị đắng, cay, có tác dụng lợi tiểu, tiêu đờm, hòa huyết giảm đau, trị phù thũng. Nếu bỏ phần trắng chỉ lấy lớp vỏ xanh thì lại có tác dụng trừ phong, tiêu đờm, đau dạ dày, đầy bụng, ăn uống không tiêu, ho. Các hoạt chất (tinh dầu) có trong vỏ bưởi có tác dụng làm giảm mỡ trong máu, làm giảm gan nhiễm mỡ. Cơm của quả bưởi có vị chua, tính lạnh, chữa chán ăn, mệt mỏi, khó tiêu, ngộ độc. Người ta còn dùng dịch quả bưởi làm thuốc khai vị và bổ giúp tiêu hóa, chống xuất huyết và làm mát cơ thể, giúp tinh thần thư thái.

Vỏ cam, quýt

Vỏ cam, quýt chứa nhiều vitimin C, carotene, protein. Ăn cháo vỏ cam, quýt vừa thơm miệng lại có tác dụng tiêu đờm, trị chứng chướng bụng, khó tiêu. Uống trà vỏ cam, quýt giúp ăn ngon miệng, thông khí, nâng cao tinh thần. Uống rượu ngâm với vỏ cam, quýt có tác dụng tiêu đờm, thanh lọc phổi.

Vỏ bí đao

Đại bộ phận quả bí đao là nước và không có chất béo. Theo đông y, toàn bộ cây bí đao, gồm: thân, lá, quả, vỏ quả và hạt đều là những vị thuốc tốt, không độc. Đặc biệt, vỏ quả bí đao có tác dụng tiêu sưng, viêm, rất tốt cho những người mắc bệnh tiểu đường.

Có công dụng thanh nhiệt và có thể điều trị bệnh thận, bệnh phổi, bệnh tim gây ra bởi phù, đầy bụng, khó tiểu,… Ngoài ra, dùng vỏ bí đao sắc với nước để rửa chân để trị chân có mùi hôi.

Theo VnMedia.vn

Kim tiền thảo trị sỏi thận

Kim tiền thảo còn gọi là mắt trâu, mắt rồng, vẩy rồng, có tên khoa học là Desmodium styracifolium (Osb) thuộc họ cánh bướm.

Kim tiền thảo là cây thảo, sống lâu năm, bò sát đất, dài khoảng 1m. Lá mọc so le, gồm 3 lá chét hình tròn, có lông. Hoa tự hình chùm, tràng hoa hình bướm, màu tía. Quả loại đậu, dài 14 – 16mm, chứa 4 – 5 hạt. Mọc hoang trên vùng đồi trung du, vùng núi.

Kim tiền thảo có tác dụng thanh nhiệt, lợi thuỷ, tiêu sạn, giải độc, tiêu viêm; Lợi thuỷ, thông lâm, tiêu tích tụ. Chủ trị các chứng nhiệt lâm, thạch lâm, sỏi mật, hoàng đản, ung nhọt do nhiệt độ; Trị gan mật kết sỏi, sỏi thận, tiểu buốt, hoàng đản.

kimtienthao

– Liều dùng: 20 – 40g mỗi ngày, có thể uống liên tục, không có độc hại.

– Chú ý: Người tỳ hư, tiêu chảy không nên dùng.

Nghiên cứu tác dụng dược lý của kim tiền thảo cho thấy: Nước sắc kim tiền thảo có tác dụng làm tăng tuần hoàn mạch vành, hạ áp lực động mạch, làm chậm nhịp tim, giảm lượng oxy ở tim. Tuần hoàn của thận và não cũng tăng, cơ tim co lại. Do đó, có thể nghĩ đến việc kim tiền thảo có tác dụng chữa được cao huyết áp. Tuy nhiên, trong thực tế người ta không dùng kim tiền thảo để chữa bệnh cao huyết áp, mà sử dụng kim tiền thảo như một vị thuốc đặc hiệu để điều trị sỏi tiết niệu, sỏi mật và sỏi gan.

Để điều trị cao huyết áp có thể dùng các vị thuốc đặc hiệu như hoè hoa, ba gạc, bạch đồng nữ, câu đằng, cúc hoa…

Nguồn báo sức khỏe

Những món cháo vừa ngon vừa đánh bay bệnh tật

Cháo là món ăn đáp ứng nhu cầu nước, khoáng chất, muối của cơ thể và giúp thanh nhiệt, nhuận trường ninh phế, nâng cao thể trạng.

Sau đây là một số món ăn từ những nguồn thực phẩm đa dạng sẵn có, cách chế biến lại đơn giản để bạn đọc tham khảo và áp dụng.

Cháo chân giò – đậu xanh:chân giò lợn 1 cái, đậu xanh xay 50g, gạo tẻ 60g, rau thơm và các loại gia vị vừa đủ. Chân giò lợn làm sạch, chặt miếng cho vào nồi cùng gạo và đậu xanh, đổ nước vừa đủ ninh chín nhừ, cho gia vị, rau thơm là được.

chao-dau-xanh

Công dụng: chân giò bổ âm, nhiều dinh dưỡng, tính mát nhuận. Đậu xanh thanh nhiệt giải thử, tiêu độc, trừ phiền. Gạo tẻ bổ tỳ sinh cơ nhục…

Món ăn có tác dụng thanh nhiệt trừ phiền, mát da, nhuận phế, phù hợp với người bị tích nhiệt ở tỳ vị, người gầy, da nóng, tiểu đỏ, lở loét môi miệng, đau đầu ít ngủ, miệng khô họng ráo, táo bón, ngứa lở da…

Cháo thịt vịt – mướp đắng:thịt vịt 400 – 500g, gạo tẻ 100g, mướp đắng 50g, gia vị vừa đủ. Thịt vịt để cả xương, chặt miếng to. Gạo tẻ vo sạch. Mướp đắng bỏ ruột rửa sạch thái mỏng. Cho thịt vịt cùng gạo vào nồi, thêm nước vừa đủ nấu thành cháo.

Khi cháo vừa chín cho mướp đắng vào nấu tiếp đến chín nhừ, nêm gia vị, mắm muối vừa ăn là được.

Món này phù hợp cho người âm hư sinh nội nhiệt với biểu hiện: mồ hôi trộm, đau đầu mất ngủ, da khô, táo bón, ngứa lở ngoài da, phiền khát; nam giới di hoạt tinh, đau lưng, tảo tiết; phụ nữ đau ngực, bốc hỏa, mồ hôi toát ra bất kỳ…

Cháo đậu tương – tràng lợn: đậu tương 30g, gạo tẻ 30g, tràng lợn chọn loại vừa và mềm 200g, gia vị, hành rau thơm, mắm muối vừa đủ. Đậu tương ngâm nước sôi 2 giờ cho nở mềm. Gạo vo sạch. Tràng lợn rửa sạch luộc chín, vớt ra cho nguội rồi thái từng khúc 2,5cm.

Cho gạo và đậu vào nồi, đổ vừa nước, hầm thành cháo. Cháo chín cho tràng lợn cùng các gia vị, mắm muối vào vừa ăn.

Món này bổ sung năng lượng, thanh nhiệt, dùng cho người trẻ hay người cao tuổi đều thích hợp.

Cháo cua – rau cần: cua đồng 500g, gạo tẻ 80g, gia vị (hành hoa, rau thơm, mắm, muối, mỳ chính, chanh, ớt…) vừa đủ. Gạo tẻ vo sạch, cho vào nồi đổ nước vừa đủ nấu thành cháo. Rau cần rửa sạch cắt ngắn để riêng.

Cua rửa sạch giã lọc nước để riêng. Cháo chín cho nước cua vào đun sôi rồi cho rau cần vào trộn đều là được.

Công dụng: bổ sung canxi và chất đạm cho cơ thể, phòng say nắng say nóng, mát da thanh nhiệt, bổ gân xương, lợi tiêu hóa, chống khát, hoạt huyết tiêu ứ, chống xơ vữa mạch, chữa tăng huyết áp, đau đầu chóng mặt, đại tràng bí kết, đau bụng âm ỉ.

Theo Sức khoẻ & Đời sống