Tag Archives: thận

Dấu hiệu bệnh thấp tim và lời khuyên của bác sĩ

Chẩn đoán xác định thấp tim khi nào?

Khi có bằng chứng của nhiễm liên cầu A đường hô hấp (biểu hiện lâm sàng của viêm đường hô hấp trên và/hoặc làm phản ứng ASLO dương tính và/hoặc cấy dịch họng tìm thấy liên cầu), kèm theo có ít nhất 2 tiêu chuẩn chính hoặc có 1 tiêu chuẩn chính kèm 2 tiêu chuẩn phụ. Sở dĩ là vậy vì trong màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A có một thành phần protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim và một số tổ chức liên kết khác của cơ thể. Ngoài ra, cấu trúc cacbon hydrat màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A cũng giống mucoprotein ở van tim người. Khi bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A, cơ thể sẽ sản xuất các kháng thể chống liên cầu khuẩn, vô tình các kháng thể này cũng tấn công luôn cả cơ tim và các tổ chức liên kết có thành phần protein tương tự. Ngoài có cấu tạo protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim dẫn tới sự “nhầm lẫn” kể trên, màng tế bào liên cầu khuẩn còn mang nhiều chất có độc tính với tế bào cơ tim, thận, phá hủy hồng cầu, tiểu cầu…

Dấu hiệu nhận biết

benh-thap-tim

Sau khi bị viêm họng từ 1 – 5 tuần, những trẻ bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A sẽ thấy xuất hiện tình trạng đau ở khớp với đặc điểm là đau từ khớp này sang khớp khác. Các khớp lớn như khớp gối, khớp khuỷu, khớp cổ chân, cổ tay sẽ bị sưng, đau, nóng đỏ khiến bệnh nhân đi lại và cử động rất khó khăn (riêng khớp cột sống hoặc khớp ngón tay, ngón chân rất ít khi đau nhức). Điểm đặc biệt của bệnh này là khi khớp sau bị sưng đau thì các khớp bị sưng đau trước đó lại khỏi và trở lại hoạt động bình thường, không có biến dạng khớp và bị hạn chế cử động như các loại viêm khớp khác. Chính vì biểu hiện như vậy mà căn bệnh này còn được gọi là bệnh thấp khớp cấp.

Cùng với những cơn đau ở khớp thì ở tim cũng có tổn thương (cơ tim, các màng tim và các van tim) làm cho người bệnh mệt mỏi, đau tức ngực, khó thở, nhịp tim chậm hoặc nhanh, có thể không đều. Nếu viêm cơ tim nặng gây khó thở, tím tái, phù, gan to.

Tổn thương thường gặp khi bị thấp tim

Viêm tim: Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41 – 83% số bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim. Các biểu hiện của viêm tim có thể là viêm màng trong tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim. Viêm tim có thể biểu hiện từ thể không có triệu chứng gì đến các dấu hiệu suy tim cấp nặng hoặc tử vong. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tăng nhịp tim, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi tâm trương, tiếng rung tâm trương, rối loạn nhịp, tiếng cọ màng tim, suy tim…

Một trong những biểu hiện phải chú ý và là biến chứng nặng của thấp tim là viêm van tim. Hở van hai lá là một trong những biểu hiện thường gặp nhất, trong khi hở van động mạch chủ ít gặp hơn và thường kèm theo hở van hai lá.

Viêm khớp: Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim (80%) nhưng lại ít đặc hiệu. Biểu hiện của viêm khớp là sưng, nóng, đỏ, đau khớp, xuất hiện ở các khớp lớn (gối, cổ chân, cổ tay, khuỷu, vai…) và có tính chất di chuyển. Viêm khớp do thấp tim thường không bao giờ để lại di chứng ở khớp.

Múa giật Sydenham: Đây là biểu hiện của tổn thương ngoại tháp và khá đặc hiệu cho thấp tim. Các biểu hiện là những động tác vận động không mục đích và không tự chủ ở các cơ mặt, chi; giảm trương lực cơ, rối loạn cảm động. Các biểu hiện ban đầu có thể là khó viết, khó nói hoặc đi lại. Các biểu hiện này thường rõ khi bệnh nhân bị xúc động hoặc thức tỉnh và mất đi khi bệnh nhân ngủ.

Múa giật Sydenham là một trong những biểu hiện muộn của thấp tim, nó thường xuất hiện sau khi viêm đường hô hấp trên khoảng 3 tháng. Múa giật Sydenham thường biểu hiện đơn độc trong thấp tim và gặp ở khoảng 30%. Triệu chứng này thường mất đi sau 2 – 3 tháng.

Nốt dưới da: Đó là những nốt có đường kính khoảng 0,5 – 2cm, cứng, không đau, di động và thường xuất hiện ngay trên các khớp lớn hoặc quanh các khớp. Nốt dưới da có thể gặp ở khoảng 20% số bệnh nhân bị thấp tim và thường biến mất sau vài ngày. Da ở trên nốt này thường vẫn di động bình thường và không có biểu hiện viêm ở trên.

Đây là một loại ban trên da, có màu hồng và khoảng nhạt màu ở giữa tạo thành ban vòng. Thường không hoại tử và có xu hướng mất đi sau vài ngày. Hồng ban vòng là một dấu hiệu khá đặc hiệu trong thấp tim và ít gặp (5%), thường chỉ gặp ở những bệnh nhân có da mịn và sáng màu. Hồng ban vòng thường xuất hiện ở thân mình, bụng, mặt trong cánh tay, đùi và không bao giờ ở mặt. Khi có hồng ban vòng thì thường có kèm theo viêm cơ tim.

Do các triệu chứng nói trên, bệnh thấp tim hay bị nhầm với một số bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Điều này rất nguy hiểm, bởi nếu không được điều trị, bệnh cũng sẽ khỏi, nhưng sau đó một thời gian lại tái phát. Mỗi lần tái phát như vậy các tổn thương ở tim càng nặng hơn dẫn đến các chứng hẹp hay hở van tim, hoặc hở hay hẹp các van động mạch tại tim.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi thấy đau khớp sau một đợt viêm họng, nên nghĩ tới thấp tim và cần sớm đi khám bệnh, làm các xét nghiệm cần thiết để và có liệu trình điều trị đúng đắn. Nếu đúng mắc bệnh thấp tim, trẻ nên tuân thủ chế độ điều trị dự phòng nghiêm ngặt cụ thể: tiêm kháng sinh dự phòng một tháng một lần theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Thời gian dự phòng là 5 năm, tốt nhất đến 18 tuổi, với thể tổn thương nặng ở tim, phòng tái phát cho đến 25 tuổi.

Để phòng bệnh thấp tim, trẻ cần tránh không để bị cảm, bị viêm họng, viêm khí – phế quản, đồng thời gìn giữ vệ sinh răng miệng thật tốt. Cần chú trọng cải thiện các điều kiện ăn, ở, chú ý vấn đề vệ sinh môi trường, điều kiện dinh dưỡng đối với trẻ em.

BS. Lê Hưng
Theo sức khỏe đời sống

Phân biệt viêm khớp, thoái hóa khớp và bệnh gút

Viêm khớp dạng thấp: cứng khớp buổi sáng, đau đối xứng

Đây là bệnh tự miễn, nghĩa là tế bào miễn dịch giúp chống vi khuẩn và dọn dẹp tế bào chết tấn công các mô lành ở khớp. BS Hồ Phạm Thục Lan – Trưởng khoa Cơ xương khớp, BV Nhân dân 115 cho biết, ngoài virus, vi khuẩn, yếu tố di truyền cũng được ghi nhận làm tăng nguy cơ mắc bệnh này. Theo thống kê, cứ 100 người thì có ba người mắc bệnh và có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi; cứ bốn người bệnh thì có ba người là nữ, thường gặp ở phụ nữ trung niên.

Biểu hiện chính của bệnh là đau, cứng khớp, làm hạn chế sự vận động của khớp, thường xảy ra vào sáng sớm sau khi ngủ dậy, kéo dài từ một-hai giờ, đôi khi cả ngày. Ngoài ra còn có hiện tượng sưng khớp có tính đối xứng, nghĩa là khớp tay này sưng, khớp tay kia cũng sưng tương tự.

phan-biet-viem-khop-thoai-hoa-khop-va-benh-gut

Nhìn chung, bệnh thường gây viêm nhiều khớp một lúc, triệu chứng đau tiến triển dần, thường gặp ở các khớp nhỏ bàn tay (cổ tay, khớp liên đốt gần bàn tay, khớp bàn – ngón tay), phối hợp với các khớp khuỷu, gối, cổ chân. Các khớp ít gặp như: khớp háng, cột sống, khớp vai, khớp ức đòn, nếu có viêm các khớp này cũng thường xảy ra ở giai đoạn muộn. Ngoài ra còn có các biểu hiện toàn thân như mệt mỏi, xanh xao, sốt, gầy sút, ăn không ngon, khô mắt và miệng, nốt cứng mọc bên dưới da bàn tay hoặc khuỷu tay, nhịp thở ngắn lại hoặc đau ngực.

Viêm khớp do thoái hóa: đau khi vận động, giảm đau khi nghỉ ngơi

Nguyên nhân do tổn thương phần sụn, đệm giữa hai đầu xương, kèm theo phản ứng viêm tại chỗ và giảm thiểu lượng dịch nhầy giúp bôi trơn ở điểm nối giữa hai đầu xương. Triệu chứng cứng khớp do thoái hóa chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, không quá 15 phút. Vị trí thường gặp là ở cột sống thắt lưng, cột sống cổ, gối, bàn tay và khớp háng. Khớp có thể sưng và đau, nhưng khác với khớp viêm có biểu hiện đau liên tục, đau trong thoái hóa khớp gắn liền với vận động và giảm khi nghỉ ngơi, có cảm giác lạo xạo khi cử động khớp. Bệnh gắn liền với tình trạng béo phì, thừa cân và người lớn tuổi.

Gút: đau giữa đêm, đau một bên

BS Hồ Phạm Thục Lan cho biết, nguyên nhân gây bệnh gút là do rối loạn chuyển hóa axit uric, làm tăng nồng độ axit uric trong máu, dẫn đến lắng đọng tinh thể urat trong khớp và một số mô ngoài khớp như tổ chức dưới da, thận, gây viêm khớp, sỏi niệu. Đây là bệnh phổ biến ở nam giới, đặc biệt ở tuổi từ 30 – 50, có thói quen uống nhiều bia rượu, béo phì. Phụ nữ ít mắc bệnh gút, nếu có thường là những người sau mãn kinh.

Biểu hiện bệnh là cơn đau cấp thường xuất hiện đột ngột về đêm. Vị trí bắt đầu thường ở các khớp chi dưới, đặc biệt ngón trỏ bàn chân, cơn đau ngày càng dữ dội, va chạm nhẹ cũng đau, đêm đau hơn ngày. Nơi đau sưng to, phù nề, căng bóng, nóng đỏ, thường đau một bên khớp (không có sự đối xứng). Đợt viêm kéo dài khoảng vài ngày, sau đó tự khỏi. Nhưng nếu không điều trị phòng ngừa, bệnh sẽ tái diễn, khoảng cách thời gian giữa các đợt sưng đau khớp thay đổi nhưng sẽ rút ngắn dần, trong khi thời gian đau lại kéo dài ra, không còn tự khỏi như những đợt đau đầu tiên. Giai đoạn muộn, hiện tượng viêm có thể biểu hiện ở nhiều khớp, có thể đối xứng, xuất hiện những u cục ở nhiều nơi, đặc biệt quanh các khớp, được gọi là nốt tophi. Trong đợt cấp, có thể kèm theo dấu hiệu sốt cao, lạnh run, buồn nôn và nôn.

Khác với viêm khớp dạng thấp, bệnh gút liên quan đến chế độ ăn. Dấu hiệu dễ nhận biết nhất là bệnh thường xuất hiện sau một bữa ăn với nhiều chất đạm, protein như thịt chó, tiết canh, phủ tạng động vật, hải sản kèm uống nhiều bia, rượu. Thay đổi trong ăn uống sẽ làm giảm mức độ nặng và khởi phát của các đợt gút cấp.

Nguồn báo phụ nữ

Sẩy thai liên tiếp – biết nhưng không thể tránh

Mang thai, sinh con là thiên chức của người phụ nữ, thế nhưng không ít người bị sẩy thai liên tiếp nhiều lần. Giới chuyên môn gọi đó là sẩy thai quen dạ.

Nhiều lần mang thai vẫn chưa có con

Chị Thanh Thủy, giáo viên một trường Mầm non ở Thanh Hóa lấy chồng ở tuổi 27 – độ tuổi sinh đẻ đẹp nhất. Thế nhưng gần 4 năm sau khi kết hôn chị vẫn chưa có con. Dù đã nhiều lần mang thai nhưng chị đều bị sẩy một cách vô cớ.

say-thai-lien-tiep-biet-nhung-khong-the-tranh

Lần thứ nhất chị bị sẩy thai khi thai mới được 9 tuần. Tự dằn vặt mình bất cẩn nên mới như vậy, đến lần mang thai sau, chị cẩn thận hơn rất nhiều, không tự đi xe máy đi làm như mọi khi. Nhưng cũng chỉ đến tuần thứ 9 thì chị bị ra huyết và sẩy thai khi đang làm việc nhà. Sau đó chị mang thai thêm 2 lần nữa nhưng cũng chỉ giữ được hơn 2 tháng thì bị sẩy.

Chị Thu Hòa cũng là một trong số chị em không may mắn đường con cái. Vốn là nhân viên kinh doanh, công việc của chị phải đi lại nhiều. Ngày mang thai đứa đầu tiên, do chưa có kinh nghiệm, lại chủ quan đến chị không chú ý, vẫn đi lại nhiều, kể cả đi công tác các tỉnh. Kết quả là đến tuần thứ 12, chị bị ra nhiều máu trong lúc đang làm việc với khách hàng. Mặc dù được đưa ngay đến bệnh viện nhưng các bác sĩ cũng không kịp giữ thai cho chị.

Đến lần mang thai thứ hai, chị rút kinh nghiệm không đi các tỉnh nữa, chỉ chạy việc quanh Hà Nội. Nhưng chị cũng chỉ giữ được thai đến 15 tuần. Lần thứ ba mang thai, chị xin làm việc tại văn phòng. Mặc dù không phải đi lại nhiều nhưng thỉnh thoảng chị Hòa lại thấy ra máu hoặc đau bụng. Những lần như vậy, chị phải ở lại viện vài ngày vì có dấu hiệu dọa sẩy thai. Nghe lời bác sĩ và người thân, đến tuần thứ 20, chị xin nhập viện để yên tâm giữ thai vì theo các bác sĩ, chị có nhiều nguy cơ sẩy thai quen dạ.

say-thai-lien-tiep-biet-nhung-khong-the-tranh1

Không riêng chị Thủy, chị Hòa, rất nhiều chị em phụ nữ rơi vào tình trạng mang thai nhiều lần và liên tiếp bị sẩy thai như vậy. Theo các bác sĩ sản khoa thì hiện tượng này được gọi là sẩy thai quen dạ. Điều đặc biệt là hiện tượng này không phải chỉ gặp ở những phụ nữ lớn tuổi mà ngay cả những chị em đang ở thời kỳ sinh sản lý tưởng nhất cũng có thể gặp.

Cẩn trọng chứng sẩy thai quen dạ

Bác sĩ Lê Thị Kim Dung, sẩy thai tự nhiên, liên tiếp xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Nhưng nếu các lần sẩy thai cùng rơi vào một thời gian (cùng tuổi thai) thì khả năng lớn là do khiếm khuyết về gen di truyền, tức là có thể cha và mẹ mang hai bộ gen có những đột biến hoặc gen “xấu” nào đó mà khi kết hợp lại với nhau sẽ gây ra những dị tật hoặc khiếm khuyết nặng khiến cho thai không thể phát triển qua một độ tuổi nhất định.

Nhiều trường hợp nguyên nhân gây sẩy thai liên tục do tử cung kém phát triển, tử cung gấp và đổ ra sau hay u xơ tử cung, dị dạng tử cung, hở eo tử cung, bệnh lạc nội mạc tử cung… hoặc do giảm nội tiết estrogen, progesteron, cường hoặc thiểu năng tuyến giáp… Người mẹ bị bệnh giang mai, tiểu đường, bệnh tim mạch, thận… nếu thường xuyên xoa bụng khi mang thai, quan hệ tình dục quá đà cũng có thể dẫn tới chấn thương vùng bụng, gây ra sẩy thai.

Bác sĩ Dung khuyến cáo, phụ nữ nếu bị sẩy liên tiếp, nhiều lần thì nên tránh có thai ít nhất một năm. Bởi tiếp tục mang thai ngay sau đó, sẽ tạo thành tiền lệ để khí huyết bị hư tổn sẽ dẫn đến vô sinh. Trong thời gian chờ đợi này nên bồi dưỡng sức khỏe để nhanh phục hồi can thận, làm cho tử cung bị thương tổn do sẩy thai được phục hồi bình thường.

Thai phụ có tiền sử sẩy thai càng nên lưu ý khi dùng kem chống rạn da trong thời gian mang thai, động tác xoa lên bụng của các bà bầu làm cho tử cung bị co bóp gây động thai và có thể đẩy thai nhi ra ngoài. Vấn đề quan hệ tình dục trong thời kỳ mang thai cũng cần hết sức thận trọng, nhất là đối với phụ nữ đã từng bị sẩy thai. Tuyệt đối không nên giao hợp trong ba tháng đầu của thời kỳ, ba tháng sau có thể quan hệ nhẹ nhàng, ba tháng cuối thai kỳ cần giảm bớt. Việc kích thích đầu vú cũng là nguyên nhân của sự gia tăng các cơn co tử cung gây động thai. Vì vậy, khi quan hệ tình dục trong thời gian có mang nên tránh động tác này.

Theo bác sĩ Dung, nếu sẩy thai 1 lần thì nguy cơ sẩy thai lần mang thai thứ 2 là khoảng 30%, và đến lần mang thai thứ 3 nguy cơ này tăng lên đến 50%. Vì vậy, khi mang thai chị em nên hạn chế những nguy cơ dẫn đến rủi ro để tránh trường hợp sẩy thai tái phát, dẫn đến sẩy thai quen dạ.

Theo Trí thức trẻ

Giữ gìn chức năng của thận

Thận được coi là bộ máy lọc chất độc trong máu ra khỏi cơ thể, bởi vậy, khi chức năng thận suy giảm thì chất độc bị tích lũy lại sẽ gây bệnh. Đồng thời, khi thận không sản xuất đầy đủ hormon sẽ gây ra rối loạn chức năng các cơ quan khác trong cơ thể.

Bên cạnh nhiều chức năng như điều tiết lượng nước trong cơ thể, tham gia kiểm soát huyết áp, tạo hồng cầu, cân bằng điện giải thì thận còn làm việc như một hệ thống lọc máu, loại bỏ các chất cặn bã, giữ lại các chất cần thiết. Máu “sạch” sẽ ở lại trong cơ thể và các chất độc hại sẽ bị loại bỏ ra ngoài qua nước tiểu.

than-suc-kkhoe-than
Khi chức năng thận suy giảm, một số triệu chứng có thể xuất hiện như sưng phù (chân, quanh mắt), mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần, tăng creatinin huyết hoặc protein niệu,… Lúc này, người bệnh cần có biện pháp để giảm gánh nặng cho thận bằng cách kiểm soát lượng muối, hạn chế thức ăn giàu đạm, thức ăn chứa nhiều kali.

Tùy theo giai đoạn suy thận mà bác sĩ sẽ chỉ định điều trị bảo tồn bằng thuốc và chế độ dinh dưỡng hoặc điều trị thay thế (chạy thận nhân tạo, ghép thận).

Hiện nay, xu hướng phổ biến đang được nhiều bệnh nhân tin tưởng lựa chọn là sử dụng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên để bảo vệ và tăng cường chức năng thận. Đi đầu trong số đó là thực phẩm chức năng Ích Thận Vương. Sản phẩm có thành phần chính là cây dành dành chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học cao, kết hợp với những dược liệu quý khác như: hoàng kỳ, mã đề, đan sâm, linh chi đỏ… giúp bảo vệ, tăng cường chức năng thận, làm chậm tiến trình suy thận và ngăn chặn bệnh chuyển sang giai đoạn nặng hơn, kiểm soát các nguy cơ dẫn đến suy thận.
Để giữ gìn chức năng thận, bên cạnh dùng Ích Thận Vương 4-6 viên/ngày, bệnh nhân cần có chế độ ăn uống theo hướng dẫn của bác sĩ.

Theo gia đình

Bé đi tiểu lắt nhắt

 Đối với những trẻ nhỏ, đi tiểu lắt nhắt rất thường xảy ra, và thường bị chẩn đoán nhầm với nhiễm trùng đường tiểu. Vậy thực chất đâu là nguyên nhân gây ra hiện tượng này?
Trẻ tiểu lắt nhắt do nhiều nguyên nhân, do nóng trong người hoặc do bệnh lý. Nếu cho bé ăn uống nhiều chất xơ trong một tuần mà tình hình không cải thiện, nên đưa trẻ đến bác sĩ, bởi đây có thể là nguy cơ bệnh lý .

Tiểu lắt nhắt ở trẻ dưới 5 tuổi

Theo thạc sĩ, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (khoa Thận niệu – bệnh viện Nhi đồng 2), thật ra, ở trẻ nhỏ, đây chỉ là hiện tượng xảy ra do các hoạt động bàng quang của trẻ chưa thật sự hoàn chỉnh, dẫn đến tình trạng rối loạn nhu động bàng quang và gây tiểu lắt nhắt ở trẻ nhỏ. Chính vì hay bị nhầm với nhiễm trùng đường tiểu nên các bậc phụ huynh thường dùng thuốc kháng sinh hoặc kháng viêm cho trẻ uống, điều này thường không có tác dụng điều trị dứt điểm hiện tượng này.
di-tieu
Ở trẻ lớn hơn

Ở trẻ lớn hơn, việc đi tiểu lắt nhắt thường xuyên sẽ nguy hiểm hơn trẻ nhỏ vì đó có thể là dấu hiệu của bệnh lý nhiễm trùng đường tiểu hoặc viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang (bàng quang bị kích thích co bóp nhiều dẫn đến tiểu lắt nhắt). Khi phát hiện trẻ đi tiểu lắt nhắt, các bậc phụ huynh nên đưa trẻ đến bác sĩ để kiểm tra chính xác. Nếu phát hiện nước tiểu có màu đục, thậm chí ra máu, kèm theo các triệu chứng như sốt, đau bụng, đau hông, đau lưng, trẻ cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời theo đúng hướng dẫn của bác sĩ.

Nhiễm trùng đường tiểu là một bệnh rất nguy hiểm, có thể gây ra các căn bệnh khác khi trẻ lớn lên như sạn thận, suy thận nếu không được điều trị kịp thời.

Không tự ý mua thuốc cho bé

Khi bé bị đi tiểu lắt nhắt thường xuyên phải nghĩ ngay đến bệnh lý nhiễm trùng đường tiểu, viêm bàng quang hoặc viêm đường tiết niệu. Phụ huynh cần đưa trẻ đến bệnh viện để khám và xác định chắc chắn căn bệnh mà bé mắc phải. Để biết chính xác bé bị viêm nhiễm ở mức độ nào, bé sẽ được làm các xét nghiệm nước tiểu. Qua thăm khám và làm xét nghiệm chức năng thận, nước tiểu, các bác sĩ sẽ đưa ra biện pháp điều trị, chủ yếu là dùng kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn đường niệu. Tránh việc đưa trẻ ra hiệu thuốc, tự ý dùng kháng sinh bừa bãi. Vì như vậy, có thể triệu chứng sẽ biến mất sau vài ngày, nhưng không dứt hết và bé có thể bị lại, lần sau nặng hơn lần trước.

Phòng ngừa

Bất cứ một căn bệnh nào việc phòng ngừa cũng dễ dàng hơn điều trị. Chính vì vậy để phòng tránh việc đi tiểu lắt nhắt ở trẻ nhỏ (có thể do bệnh lý hoặc không do bệnh lý), điều đầu tiên các bậc phụ huynh cần phải làm sau mỗi lần bé đi tiêu đi tiểu là nên vệ sinh và lau chùi đúng cách, không lau từ sau ra trước. Do lỗ tiểu ở phía trước và hậu môn nằm phía sau, nên động tác làm vệ sinh phải lau từ trước ra sau để không đưa vi khuẩn từ đường tiêu hóa vào đường niệu. Ngoài ra, nên thường xuyên kiểm tra tã lót và nên thay tã ngay sau khi bé tiêu, đi tiểu. Điều này sẽ giúp cơ quan sinh dục của bé luôn được sạch sẽ, tránh các vi khuẩn có hại xâm lấn, dễ dẫn đến nhiễm trùng đường tiểu. Cần cho trẻ uống nhiều nước (khoảng 1 lít rưỡi một ngày) để làm loãng nước tiểu, giúp thận loại bỏ tốt các chất cặn bã.

Quan trọng là không để cho trẻ nín tiểu vì bất cứ lý do gì. Việc nhịn tiểu rất nguy hiểm, bởi nước tiểu gồm các chất cơ thể cần thải ra ngoài, khi bị ứ trong bàng quang sẽ tạo môi trường cho vi khuẩn xâm nhập dễ dàng, gây nhiễm trùng đường tiểu. Đảm bảo cho bé một chế độ ăn uống cân bằng, nhiều rau quả, bổ sung chất xơ để giúp cho hệ tiêu hóa và bàng quang của bé phát triển tốt.

Theo Thanh niên

Các vấn đề về thận – tiết niệu ở nam giới

Nhiễm khuẩn tiết niệu:

Nguyên nhân chính là các loại vi khuẩn gram âm chiếm tới 90%. Biểu hiện chính của nhiễm khuẩn tiết niệu là đái buốt, đái rắt, đái đục, nặng hơn là đái mủ, đái máu. Người bệnh thường có cảm giác đau nóng rát và tăng lên cuối bãi. Khi bệnh nhân thấy sốt, đau vùng hông lưng, hay đái ra mủ, đái ra máu cần phải nghĩ nhiễm khuẩn đã ngược lên đến thận và phải tới ngay bệnh viện.
cac-van-de-than-tiet-nieu-nam-gioi
Để chẩn đoán bệnh, bệnh nhân phải được làm xét nghiệm nước tiểu nhằm loại bỏ các nguyên nhân gây viêm nhiễm như phì đại tuyến tiền liệt, khối u, sỏi đường tiết niệu… Người bệnh nên uống nhiều nước 1-2 lít mỗi ngày, giữ vệ sinh, tăng cường dinh dưỡng để nhanh lành bệnh và tránh tái phát.

Bệnh cầu thận

Viêm cầu thận là tình trạng tổn thương đơn vị chức năng của thận. Biểu hiện chính của viêm cầu thận là phù, tiểu máu, tiểu đạm, đái ít và tăng huyết áp. Sau khi làm các xét nghiệm mà các biểu hiện của bệnh vẫn tiến triển và vẫn tồn tại sau 3 tháng được coi là viêm cầu thận mạn tính. Có nhiều bệnh cầu thận cấp tính hoặc mạn tính do tổn thương nguyên phát hoặc thứ phát. Trong đó các bệnh cầu thận thường hay gặp là:

– Bệnh cầu thận cấp sau nhiễm khuẩn: Bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 5-10 tuổi, chủ yếu hay mắc là sau khi bị viêm họng, mắc các bệnh ngoài da ghẻ lở (do liên cầu), trẻ trai mắc nhiều hơn trẻ gái.

– Bệnh cầu thận IgA: Chiếm 15 – 40% các bệnh cầu thận, đây là bệnh hay gặp ở châu Á. Với các biểu hiện đặc trưng có những đợt tiểu tiện ra máu tái phát thành nhiều đợt, tăng huyết áp nhẹ, bệnh tiến triển chậm, có 50% bệnh nhân sau thời gian khá dài (có thể 20 năm) diễn biến thành suy thận.

– Hội chứng thận hư: Nước tiểu có nhiều protein phù có thể tăng huyết áp, gây nhiều rối loạn chuyển hoá như: rối loạn chuyển hoá lipid, rối loạn quá trình đông máu. Cần đề phòng biến chứng nhiễm trùng và tắc mạch.

– Bệnh cầu thận tiến triển nhanh: Còn gọi là viêm cầu thận bán cấp, biểu hiện chính của bệnh là tiểu ra máu, huyết áp tăng cao bệnh nhân sẽ sớm phải thay thận.

– Bệnh cầu thận mạn tính: Bệnh diễn biến từ từ làm cho thận bị xơ hoá và teo nhỏ dần. Đây là một trong những triệu chứng bệnh lý hay gặp huyết áp tăng liên tục, thoát protein…

– Bệnh cầu thận thứ phát: Nguyên nhân gây tổn thương bao gồm.

+ Luput ban đỏ, hệ thống ban dạng khớp

+ Đái tháo đường. Thận là cơ quan bị ảnh hưởng sớm nhất và nặng nề nhất, dấu hiệu đầu tiên là đạm niệu, vì vậy bệnh nhân đái tháo đường bắt buộc phải làm xét nghiệm tìm đạm niệu để phát hiện sớm và kịp thời tránh bị nguy cơ suy thận giai đoạn cuối.

+ Xơ cứng bì.

+ Viêm mút quanh động mạch

+ Sau dùng thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch (một trong những biến chứng do dùng thuốc cản quang là suy thận và chiếm 30% trường hợp suy thận). Biểu hiện sau khi dùng thuốc bệnh nhân bị dị ứng mẩn ngứa, đỏ da…. sau từ 1-3 ngày có biểu hiện suy thận, tiểu ít, nước tiểu màu sẫm, nặng là vô liệu, đau mỏi sống lưng, đau đầu mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn,…

– Bệnh cầu thận bẩm sinh do di truyền. Do hội chứng Alport bệnh cầu thận kèm theo điếc tai có tính di truyền.

 U tuyến tiền liệt

Tuyến tiền liệt là một tuyến thuộc hệ thống  sinh dục nam. Sau 50 tuổi nam giới hay bị u tuyến này. Tỉ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Phì đại lành tính tuyến tiền liệt hay gặp hơn ung thư. Khi khối u tăng lên chèn ép vào hệ thống tiết niệu gây bí đái, rối loạn tiểu tiện và tạo điều kiện để vi khuẩn gây bệnh phát triển. Biểu hiện chính là đái ngắt quãng, đái vội, đái không hết. Có nhiều loại thuốc điều trị bệnh này nhưng cần theo dõi sát và thận trọng vì thường là ở người có tuổi, hoạt động của các cơ quan như gan, thận đã giảm dễ tăng nguy cơ ngộ độc. Khi điều trị thuốc không kết quả hoặc khối u quá to hoặc khối u ác tính cần phẫu thuật điều trị triệt để, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Viêm tinh hoàn

Người bệnh đột ngột thấy đau tinh hoàn, đau lan lên bẹn, có thể kèm theo sốt cao và nôn mửa. Nguyên nhân là do vi khuẩn tới tinh hoàn qua đường máu, qua hệ thống bạch huyết hoặc từ vùng lân cận. Thông thường hay gặp là vi khuẩn gram âm, ngoài ra còn do trực khuẩn lao, xoắn khuẩn giang mai. Trong trường hợp bệnh lây qua quan hệ tình dục, tác nhân tìm thấy thường là lậu cầu Chlamydia. Tùy vào loại vi khuẩn gây bệnh sẽ có kháng sinh phù hợp để điều trị, cần tránh tình trạng kháng kháng sinh. Phải  điều trị đúng cách và kịp thời nếu không tinh hoàn sẽ bị hóa mủ thành áp xe và có thể gây nhiễm khuẩn huyết. Một loại viêm tinh hoàn khác gặp ở lứa tuổi trẻ hơn là viêm tinh hoàn do virut quai bị. Virut này tấn công vào mang tai gây viêm  tuyến mang tai, sau ba đến bốn ngày virut theo đường máu tới tinh hoàn. Lúc này bệnh nhân thấy tinh hoàn bắt dầu sưng to và đau, bên ngoài có thể thấy tràn dịch. Người bệnh cũng hay sốt cao 39-40oC. Hậu quả của tổn thương này là phá hủy tổ chức tạo tinh trùng và gây vô sinh. Vì vậy khi viêm tuyến mang tai mà có đau tinh hoàn phải khám ngay tại các cơ sở y tế để điều trị kịp thời. Cách đề phòng tốt nhất là tiêm vaccin ngay khi còn nhỏ.

Nguồn sức khỏe đời sống