Tag Archives: thần kinh

Nguy cơ viêm thanh quản cấp

Viêm thanh quản cấp là một bệnh phổ biến, thường xảy ra vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết chuyển lạnh. Tuy nhiên hiện nay, do kinh tế phát triển cùng với sự nóng lên của trái đất dẫn đến việc sử dụng điều hòa và dùng nước đá giải khát cũng là nguy cơ dẫn đến viêm thanh quản cấp.

Thủ phạm gây viêm thanh quản cấp
Như chúng ta đã biết, họng và thanh quản đem lại tiếng nói cho bạn nhờ sự rung động của hai dây thanh khi luồng không khí đi ra từ phổi. Khi bạn bị mất tiếng hoặc nói khàn tức bộ phận này đã bị tổn thương, y học gọi viêm thanh quản cấp. Qua nghiên cứu, người ta phát hiện nguyên nhân gây viêm thanh quản cấp chủ yếu là do virut: influenza, virut APC, myxovirut, virut cúm, á cúm. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác như stress (căng thẳng thần kinh, mệt mỏi về thể chất, dị ứng hay hít phải chất lạ nào đó).

nguy-co-viem-thanh-quan-cap

Khởi đầu của viêm thanh quản cấp thường do bị viêm mũi hoặc viêm mũi – họng xuất tiết với dấu hiệu chính là khàn tiếng hay mất tiếng đột ngột. Triệu chứng ban đầu, người bệnh thấy nhức đầu, mệt mỏi, sổ mũi, ngấy sốt sau đó đau họng, có cảm giác nóng và khô hoặc rấm rứt như có dị vật trong cổ họng, kích thích ho (lúc đầu ho từng cơn, ho khan, sau đó ho có đờm nhầy). Tiếp đến, giọng nói bị khàn, đôi khi khàn đặc, thậm chí mất tiếng. Những triệu chứng trên của bệnh thường kéo dài trong vài ngày. Sau đó, các triệu chứng giảm dần, khoảng sau 7 ngày thì khỏi. Ban đầu có thể chỉ khỏi cơn ho, sốt, chảy mũi nhưng khàn tiếng có thể kéo dài thêm một vài ngày nữa mới khỏi hẳn.

Làm gì khi bị viêm thanh quản?
Bệnh diễn biến trong vòng 5 – 7 ngày rồi tự khỏi nếu không có biến chứng. Tuy nhiên, viêm thanh quản cấp có thể gây biến chứng, nhất là những trường hợp bội nhiễm dẫn đến những bệnh nhiễm khuẩn do sức đề kháng chung của cơ thể giảm sút như viêm tai, viêm phổi… Chính vì thế, cần phải theo dõi sát, điều trị đúng và kịp thời, nếu thấy xuất hiện các triệu chứng của biến chứng như đau tai, chảy dịch ở tai, khó thở…, phải đưa người bệnh vào viện ngay. Điều trị toàn thân dùng kháng sinh phòng bội nhiễm: nhóm b lac-tam như amoxilin, taxetil dạng viêm hoặc siro với liều theo cân nặng.

Nếu dị ứng với nhóm kháng sinh này thường được thay thế bằng kháng sinh nhóm macrolid như davercine… Có thể dùng thuốc chống viêm, giảm phù nề bằng liệu pháp corticoid (hít): solumedrol hoặc depersolon hoặc corticoid đường uống, chymotrypsin choay dạng viên nén ngậm dưới lưỡi hoặc uống phối hợp với các thuốc giảm ho, kháng histamin uống.

Dân gian thường sử dụng chanh tươi thái lát mỏng, nghệ tươi, đường phèn hấp cách thủy ngậm nhiều lần trong ngày. Dùng một số thảo dược như húng chanh, mật ong, quất, gừng, tía tô, ngải cứu, bạc hà… trong điều trị viêm thanh quản cũng cho kết quả tốt.

Thuốc ngậm tại chỗ cũng rất hữu ích trong viêm thanh quản, tuy nhiên, thuốc sử dụng, liều dùng cũng như thời gian sử dụng phải theo chỉ định của thầy thuốc, tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.
Điều trị hỗ trợ viêm mũi họng bằng cách nhỏ mũi, súc họng bằng dung dịch kiềm nhẹ. Khí dung mũi họng cùng với làm thuốc thanh quản thực hiện bởi các thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

nguy-co-viem-thanh-quan-cap1

Đối với những bệnh nhân viêm thanh quản, điều quan trọng nhất trong điều trị là kiêng nói để dây thanh có thể phục hồi sớm nhất. Nếu thực hiện được kiêng nói trong vài ngày (thường khoảng 3 – 5 ngày), bệnh sẽ khỏi rất nhanh. Ngoài ra, cần bổ sung vitamin, ăn nhiều hoa quả tươi, nằm nghỉ ngơi, không hút thuốc lá, uống rượu và các gia vị kích thích như ớt, hạt tiêu…

Để phòng viêm thanh quản cấp
Khi đi đường, làm việc trong môi trường bụi, nên đeo khẩu trang, đồng thời tăng cường sức đề kháng cho cơ thể để chống lại sự thâm nhập của virut, vi khuẩn. Trước khi đi ngủ, nên nhỏ mũi, súc miệng bằng nước muối sinh lý. Khi có những triệu chứng sớm của viêm mũi, viêm họng cấp, cần điều trị ngay. Hạn chế tối đa việc hút thuốc, không uống nước đá…

Lời khuyên của thầy thuốc
Có nhiều trường hợp khi bị viêm thanh quản cấp do chủ quan nghĩ chỉ bị viêm họng nhẹ nên không đi khám mà tự điều trị ở nhà, khi bệnh không đỡ mới đến cơ sở y tế. Bởi vậy, nhiều bệnh nhân tới khám đã bị viêm khí – phế quản, viêm phổi… gây khó thở nặng, có thể nguy hiểm đến tính mạng và cũng do tự điều trị ở nhà, lạm dụng nhiều thuốc, nhất là kháng sinh nên gây khó khăn trong quá trình điều trị. Chính vì thế, khi có những dấu hiệu của bệnh như mất tiếng hoặc giọng khàn, nói khó khăn kèm theo hiện tượng ho, sốt, nhiều đờm; khó thở, hít vào có tiếng rít; tiếng ho khàn, người mệt nhiều và gần như không nói được; khàn tiếng kéo dài dùng thuốc không thấy đỡ (có thể là biểu hiện của chứng ung thư các dây thanh âm)…, cần đi khám chuyên khoa tai – mũi – họng để tìm nguyên nhân và phương pháp điều trị.

Theo sức khỏe đời sống

Stress có thể giúp tăng trí nhớ

Trong khi căng thẳng kinh niên có thể làm tăng nguy cơ đau tim và làm ảnh hưởng tới hệ miễn dịch, thì các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng, các số nguyên tố căng thẳng trong thời gian ngắn (cấp tính) giúp não cải thiện “sức khỏe” – đặc biệt là nâng cao trí nhớ.

Trong nhiều thử nghiệm trên chuột, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các yếu tố làm căng thẳng trong thời gian ngắn làm các tế bào gốc trong não chuột biến thành tế bào thần kinh mới, và hai tuần sau khi lớn lên nó sẽ có tác dụng cải thiện tinh thần của chúng.

stress-co-the-giup-tang-tri-nhoCăng thẳng trong thời gian ngắn có thể nâng cao trí nhớ nhưng những căng thẳng mãn tính có thể làm suy giảm trí nhớ.

“Bạn luôn luôn suy nghĩ về căng thẳng như là một điều thực sự xấu, nhưng không phải như vậy” – Daniela Kaufer, Giáo sư sinh học tích hợp tại Đại học California, Berkeley cho biết: “Một chút căng thẳng có thể tốt trong hành vi và khả năng nhận thức. Tôi nghĩ những căng thẳng liên tục có thể giúp giữ cho não tỉnh táo hơn, và bạn chỉ thực hiện tốt hơn khi bạn tỉnh táo”.

Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng, stress mãn tính, kéo dài sẽ nâng cao mức độ của kích thích tố căng thẳng, làm ngăn cản quá trình tạo các tế bào thần kinh mới trong vùng hippocampus, làm suy giảm trí nhớ.

“Mọi người đều biết mức độ mãn tính cao của kích thích tố căng thẳng làm tăng nguy cơ béo phì, bệnh tim và trầm cảm. Nhưng ít ai được biết đến về những ảnh hưởng của stress cấp tính”, Giáo sư Kaufer nói.

Nguồn giáo dục

Thời tiết ấm lên có thể gây bệnh đau nửa đầu

hời tiết ấm dần lên và những thay đổi về áp suất không khí có thể là nguyên nhân gây ra các căn bệnh đau đầu và đau nửa đầu, chứ không phải là do ô nhiễm không khí như nhiều người nghĩ lâu nay.

Kết quả nghiên cứu này là của nhà khoa học Kenneth Mukamal và các đồng nghiệp tại Trung tâm y tế ở Boston (Mỹ) và được đăng tải trên tạp chí “Thần kinh học” số tháng 3.

Ông Kenneth và các đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu đối với 7.000 bệnh nhân nam và nữ bị các chứng bệnh đau đầu hoặc đau nửa đầu tại phòng cấp cứu của bệnh viện trong khoảng thời gian từ tháng 5/2000 đến tháng 12/2007.

dau-dau-khi-thoi-tiet-am

Các nhà khoa học đã sử dụng máy đo nồng độ ô nhiễm và khí tượng học để phân tích nhiệt độ không khí, áp suất không khí, độ ẩm, các chất carbon đen và sulfur dioxides ba ngày trước khi các bệnh nhân nhập viện và sau khi đã nhập viện. Kết quả cho thấy yếu tố thời tiết có mối liên hệ chặt chẽ với các triệu chứng đau đầu. Theo đó, nếu như nhiệt độ tăng thêm 5 độ C thì nguy cơ đau đầu sẽ tăng thêm khoảng 8% so với những ngày có khí hậu mát mẻ hơn.

Theo ông Kenneth, nhiệt độ không khí, độ ẩm và áp suất vẫn được coi là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh đau đầu, tuy nhiên, cho đến nay vẫn có rất ít các bằng chứng cụ thể chứng minh cho điều này.

Nghiên cứu này của nhà khoa học Kenneth giúp chúng ta biết được môi trường sống có ảnh hưởng đối với sức khỏe con người, đặc biệt là đối với những người hay bị đau đầu.

Theo TTXVN/Vietnam+

Rối loạn nuốt và hậu quả

Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn nuốt ở người già. Hàng đầu là các thương tổn thần kinh – cơ như nhồi máu não, xuất huyết não, bệnh Parkinson, xơ cứng cột bên teo cơ, đa u tủy xương, nhược cơ, sa sút trí tuệ. Tiếp đến là nhóm nguyên nhân do tổn thương cấu trúc như tuyến giáp to, phì đại đốt sống cổ, túi thừa Zenker, ung thư…; các rối loạn tâm lý, bệnh mô liên kết (viêm đa cơ, loạn dưỡng cơ…), các nguyên nhân do thầy thuốc (phẫu thuật vùng hầu họng, xạ trị, thuốc…) cũng có thể gây những rối loạn nuốt ở người già.

Nuốt là một quá trình sinh lý nhằm đưa thức ăn, các chất dinh dưỡng, nước… vào đường tiêu hóa. Nuốt gồm bốn giai đoạn: sự chuẩn bị của khoang miệng, quá trình đẩy thức ăn xuống của khoang miệng, hầu họng và thực quản. Các giai đoạn này có sự tham gia phối hợp của miệng, hầu họng, thanh quản và thực quản.

Việc suy giảm chức năng các cơ quan, đặc biệt là não bộ ở người già thường gây rối loạn quá trình nuốt như việc suy giảm hoặc mất các phản xạ bảo vệ trong đó có phản xạ đóng nắp thanh môn khi nuốt.

roi-loan-nuot-va-hau-qua

Biểu hiện của các rối loạn về nuốt ở người già rất phong phú và đa dạng. Rối loạn nuốt do miệng và hầu họng thường gây ho, nghẹn, khó nuốt, cảm giác thức ăn vướng ở họng… Rối loạn nuốt do thực quản thường có cảm giác vướng thức ăn trong họng hoặc trong ngực dọc theo xương ức, nghẹn trong ngực. Bên cạnh đó, rối loạn nuốt nói chung thường gây tăng tiết nước bọt, sặc thức ăn lên mũi, ho sặc do thức ăn rơi vào khí quản…

Rối loạn nuốt ở người già có thể gây nhiều hậu quả từ nhẹ đến nặng. Nhẹ nhất cũng là viêm mũi họng, nói khàn, thay đổi thói quen ăn uống. Nếu nặng hơn, bệnh nhân sợ ăn, uống, thậm chí sợ cả nuốt… nước bọt. Điều này sẽ dẫn đến mất nước, điện giải, sụt cân, suy kiệt nặng. Nhưng nguy hiểm nhất là bệnh nhân bị sặc thức ăn, nước, nước bọt…vào phổi gây nên ho, viêm phổi kéo dài và tái đi tái lại. Nhiều trường hợp, lượng dị vật vào phổi quá nhiều gây ho dữ dội, co thắt thanh quản, suy hô hấp cấp và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Trước khi điều trị các rối loạn nuốt, phải đánh giá thật cụ thể mức độ và vị trí tổn thương cũng như nguyên nhân gây ra rối loạn nuốt. Việc đánh giá dựa vào thăm khám kỹ lưỡng vùng họng miệng, thanh quản, khám phát hiện các tổn thương phổi (thường là phổi phải). “Nuốt đồ ký – ghi hình quá trình nuốt” có cản quang là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán các rối loạn về nuốt. Có thể nội soi thực quản, làm điện cơ, chụp CT, MRI sọ não… để xác định nguyên nhân.

Mục tiêu điều trị rối loạn nuốt là tránh viêm phổi hít phải (do sặc), cải thiện khả năng ăn uống để đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân. Các biện pháp bao gồm tìm dạng thức ăn thích hợp, ví dụ bệnh nhân khó nuốt thức ăn cứng thì chuyển chế độ thức ăn mềm hơn, bệnh nhân grain sặc chất lỏng thì chuyển chế độ ăn đặc…

Điều trị phục hồi chức năng nuốt bằng “liệu pháp nuốt” gồm ba phương pháp: hỗ trợ bù khi nuốt, luyện tập tăng cường chức năng các cơ nhai – nuốt và luyện tập khi đang trong quá trình nuốt. Liệu pháp này nhằm làm giảm khả năng sặc thức ăn vào phổi và tránh ứ đọng thức ăn trong miệng. Phẫu thuật cắt cơ nhẫn – hầu để làm thông thoáng đường thức ăn xuống thực quản cũng có thể được áp dụng. Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, mở thông dạ dày – hỗng tràng qua nội soi được chỉ định cho một số trường hợp nặng.

Dự phòng bằng cách nào?

Dự phòng viêm phổi do rối loạn nuốt ở người già bằng cách: nghỉ ngơi trước ăn 30 phút; ngồi khi ăn; ăn miếng nhỏ, thức ăn mềm thích hợp; không nói chuyện, xem ti vi, đọc báo… làm mất tập trung khi đang ăn. Tránh dùng các thuốc an thần, gây ngủ ngoài chỉ định. Làm rỗng dạ dày bằng các thuốc như erythromycin, motilium… Vệ sinh răng miệng thường xuyên để tránh viêm phổi hít phải và hết sức chú ý nếu bệnh nhân đang ăn bị sặc phải biết cách cấp cứu như một hội chứng dị vật thâm nhập đường thở.

Nguồn sức khỏe đời sống

Đọc sách – những lợi ích không nhỏ cho sức khỏe

Đọc sách không chỉ giúp nâng cao kiến thức, mà còn vô cùng có lợi cho sức khỏe của bạn

Có phải từ lâu bạn đã bỏ đi thói quen đọc sách? Lướt web hay “nấu cháo” điện thoại đã trở thành thói quen hàng ngày của bạn? Nếu đúng như vậy thì bạn hãy xem xét lại các thói quen của mình nhé.

Thay vì cả ngày ôm máy tính, điện thoại, bạn hãy dành cho mình một thời gian nhất định để đọc sách. Đọc sách không chỉ giúp nâng cao kiến thức, mà còn vô cùng có lợi cho sức khỏe của bạn.

Dưới đây là những lợi ích cho sức khỏe từ việc đọc sách.

1. Phòng chống lão hóa não: Cũng giống như cơ bắp của cơ thể, não bộ cũng cần phải rèn luyện để trở nên tráng kiện và khỏe mạnh hơn. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng đọc sách cũng có thể kích thích não bộ hoạt động liên tục, từ đó phòng ngừa lão hóa não rất tốt.

doc-sach-nhung-loi-ich-khong-nho-cho-suc-khoe

2. Giảm stress: Theo nghiên cứu của “Phòng thí nghiệm trí tuệ” thuộc trường Đại học Sussex (Anh), trong số các cách giảm stress, hiệu quả của việc đọc sách là cao nhất.

Đọc sách có thể khiến mức độ stress giảm tới 68% chỉ trong 6 phút, hiệu quả cao hơn rất nhiều so với nghe nhạc và đi bộ. Các nhà tâm lý cho rằng, khi đọc sách, suy nghĩ của mọi người sẽ tập trung vào văn bản nên thể chất và tinh thần căng thẳng có thể sẽ được thư giãn.

3. Cải thiện trí nhớ: Mỗi một cuốn sách đều có hàng triệu thông tin, bao gồm bối cảnh, cốt truyện, tên nhân vật, những miêu tả chi tiết, nên khi đọc sách não bộ sẽ dễ dàng ghi nhớ những thứ này.

Một khi não liên tục được làm việc với các thông tin, xử lý thông tin thì khả năng nắm bắt, nhạy bén với thông tin cũng tăng lên. Từ đó, trí nhớ của bạn cũng được cải thiện tốt hơn.

4. Lối sống lành mạnh hơn: Một cuộc nghiên cứu ở Mỹ phát hiện, những người thích đọc sách thì cũng sẽ có thói quen nghỉ ngơi hợp lý và thói quen ăn uống lành mạnh hơn.

Nguyên nhân lý giải cho điều này là do nhờ đọc sách, họ học hỏi được vô vàn kiến thức về sức khỏe từ trong sách vở. Mặt khác đọc sách cũng giúp họ quý trọng cuộc sống cũng như yêu quý bản thân mình hơn.

5. Nâng cao sự tập trung: Trong thời đại internet, chúng ta phải hoàn thành rất nhiều nhiệm vụ trong thời gian ngắn như kiểm tra thư, nói chuyện qua mạng, nghe điện thoại… Các hoạt động này diễn ra liên tục có thể khiến bạn làm việc “như một cái máy” và sự tập trung của bạn cũng bị giảm đi.

Nhưng khi đọc sách, mọi sự chú ý của bạn đều tập trung vào những trang sách. Điều này có thể giúp bạn rèn được tính tập trung, chuyên tâm hơn, nâng cao hiệu quả công việc.

6. Điều trị chứng trầm cảm: Các bác sĩ về thần kinh học tại Anh đang thử nghiệm một phương pháp trị liệu chứng trầm cảm mới, đó là đưa ra một danh sách đầu mục các loại sách cho người bệnh. Kết quả là những người chăm đọc sách thì ít bị căng thẳng và trầm cảm hơn những người ít đọc.

Vậy nên, theo các chuyên gia, đọc sách có thể phát huy hiệu quả tích cực đối với những người mắc bệnh trầm cảm ở thể nhẹ hoặc vừa phải.

Kiến thức sức khỏe

Những hậu quả khó lường khi ngồi bắt chéo chân

Phụ nữ, dân văn phòng thường hay ngổi thẳng bắt chéo chân để tạo dáng đẹp, tuy nhiên tư thế ngồi như thế này lại mang đến 6 nguy hại cho cơ thể.

Chân biến thành “chân dạng 0”

Hai chân chồng lên bắt chéo nhau, chân nghiêng kiễng lên co vào trong, như vậy sẽ làm cho dây chằng của chân dày, to, phát viêm, gây ra sưng phù chân, thậm chí còn có thể làm cho chân trở thành “chân dạng 0” đồng thời hình dáng chân trở nên xấu xí, thô, cong.

ngoivatchan

Xuất hiện viêm khớp thoái hóa sớm

Đầu tiên chân bị chèn ép, phải chịu đựng áp lực của chân còn lại, thời gian dài gánh chịu lực bên ngoài bất thường làm cho phía trên đầu gối thoái hóa, bào mòn, các bệnh về đầu gối sẽ tìm đến làm phiền. Rất nhiều người chưa già đã thoái hóa, bị mắc chứng chứng viêm khớp thoái hóa khi còn trung niên.

Căn cơ cội nguồn của chứng bệnh này chính là “bắt béo chân”. Điều đáng sợ hơn, loại bệnh này không có khả năng “biến mất” mà luôn đeo đám người mắc bệnh đến tàn tật, chỉ có phẫu thuật thay khớp nhân tạo mới giảm bớt được. Vì vậy, chúng ta nên thay đổi ngay thói quen ngồi này.

Hai chân dễ bị co giãn tĩnh mạch

Chân bị chèn ép sẽ khiến khí huyết không được lưu thông, làm tăng nguy cơ bị giãn tĩnh mạch, nghiêm trọng còn gây ra phù thũng chân dưới, làm cho vết thương nhỏ xíu khó lành, tăng thêm nguy cơ lở loét chân.

Xuất hiện hội chứng chèn ép thần kinh

Cảm giác tê, mất cảm giác ở chân là do thần kinh phụ trách cảm giác nằm ở mặt trước đùi bị chèn ép và lâu dài sẽ phải điều trị.

Xương lườn cũng dễ bất thường

Không đơn giản là chân đau sưng, tĩnh mạch giãn, ngồi bắt chéo chân còn làm cho xương lưng và cột sống bất thường, bao gồm vẹo cột sống, đĩa đêm tổn thương, lồi vv. Chữa trị chứng mãn tính loại này rất khó, phức tạp.

Ngồi bắt chéo hai chân thực sự là thói quen rất không tốt, vị trí khớp hông hai bên (khớp giữa chân và phần hông) một cao một thấp, lien đới làm cho vị trí xương chậu tách xa nhau, góc xương lưng và cột sống cũng sẽ thay đổi.

Ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản

Nam giới ngồi liên tục hai chân bắt chéo tại sao lại gieo họa đến đời sau? Bởi vì hai chân bắt chéo sẽ làm cho nhiệt độ bên trong chân và xung quanh bộ phận sinh dục tăng cao, ảnh hưởng tới sự hình thành của tinh binh.

Chuyên gia kiến nghị: Ngồi bắt chéo chân tốt nhất không vượt quá 10 phút, hai chân kỵ bắt chéo nhau quá khít, nếu cảm thấy bên trong đùi có mồ hôi túa ra, tốt nhất nên đi đến chỗ thông khí và thông gió đi lại một lúc để giúp tản hết nhiệt tập trung ở chân.

Theo Dân Trí

Méo miệng vì… thời tiết lạnh

Thay vì quàng khăn ấm, đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm thì nhiều người (đặc biệt là thanh niên) ngại vướng víu không dùng, để gió lạnh quất vào mặt, khiến vùng đầu bị nhiễm lạnh.

Hậu quả là không ít trong số này phải nhập viện vì chứng méo miệng.

Trời lạnh, bệnh tăng 2-3 lần

Ngồi chờ đến lượt khám tại Bệnh viện Châm cứu T.Ư với khuôn mặt lệch hẳn về bên phải, anh Nguyễn Văn C (25 tuổi, ở Hoàng Mai, Hà Nội) cho biết: “Cách đây hơn 2 tuần, đúng vào dịp Hà Nội có nhiệt độ thấp nhất từ đầu mùa đông, tôi đi chơi đêm với bạn mà không đội mũ bảo hiểm. Sáng hôm sau ngủ dậy, một bên mặt bị giật giật, cấu vào không có cảm giác đau, tôi giật mình soi gương thấy khuôn mặt biến dạng với miệng méo xệch, cả mắt cùng phía cũng không thể nào nhắm lại được dù cố mọi cách”.

meo-mieng-vi-thoi-tiet-lanh

PGS Nghiêm Hữu Thành – Giám đốc Bệnh viện Châm cứu T.Ư cho biết, trường hợp bệnh nhân C chỉ là một trong số rất nhiều bệnh nhân tìm đến viện điều trị méo miệng vì lạnh.

Chứng bệnh này do mạch máu (bao gồm cả động mạch và tĩnh mạch) suy yếu, khi gặp gió lạnh, mạch dương minh và tĩnh mạch tiểu dương bị kích thích mạnh, gây cản trở kinh khí, từ đó làm suy nhược chức năng hoạt động của dây thần kinh quanh vùng mặt, huyết quản của thần kinh dinh dưỡng cục bộ bị co giật mạnh làm cho tổ chức thần kinh bị thiếu máu, sưng, ứ nước, chỉ cần một áp lực nhỏ (gió lạnh) có thể dễ dàng mắc chứng liệt mặt.

Qua nhiều năm khám, điều trị, các chuyên gia Bệnh viện Châm cứu T.Ư nhận thấy, chứng bệnh này xảy ra ở mọi thời điểm, nhưng cứ đến trời lạnh, số người mắc lại tăng. Nhóm tuổi nào cũng có thể mắc bệnh, có trẻ 4-5 tháng tuổi cũng bị.

Bệnh thường gặp ở độ tuổi trung và thanh niên, nam giới có tỷ lệ mắc bệnh này nhiều hơn so với nữ do chủ quan, ăn mặc phong phanh. Những người có sức đề kháng yếu, hay bị căng thẳng, mệt mỏi và làm việc ngoài trời nhiều cũng có nguy cơ bị méo miệng cao hơn. Đợt lạnh này, số bệnh nhân bị méo miệng đến khám và điều trị tăng 2 – 3 lần.

Bệnh dễ tái phát
Các chuyên gia cho biết, chứng liệt mặt này không nguy hiểm đến tính mạng nhưng cũng gây nhiều khó khăn cho bệnh nhân trong thể hiện cảm xúc. Vì vậy phải điều trị sớm. Trung bình thời gian điều trị là 3-4 tuần, với 20-30 lần châm cứu. Trường hợp điều trị muộn có khi kéo dài trong nhiều tháng mới hiệu quả.

Nếu để lâu không chữa, bệnh có thể để lại di chứng nặng nề như: Teo cơ một bên mặt, mắt viêm nhiễm do không chớp được, ăn uống rất khó khăn do môi không khép kín. Ngoài ra, bệnh cũng rất dễ tái phát, có nhiều bệnh nhân điều trị đến 3 lần trong cùng một bên mặt do không giữ gìn theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Vì thế, theo PGS Thành, để phòng bệnh, quan trọng nhất là giữ ấm vùng đầu mặt cổ. Đối với trẻ nhỏ, khi chơi ngoài trời lạnh, cha mẹ cần chú ý mặc ấm, quấn khăn, đội mũ cho bé, chơi trong thời gian ngắn.

Đối với người lớn, luôn giữ gìn để không bị lạnh, tránh ngồi trúng luồng gió, không tắm quá khuya, khi ra ngoài cần mặc ấm, đeo khẩu trang, kính bịt mặt để tránh gió lùa. Sau khi uống rượu, bia không đi ngoài trời lạnh, tắm lạnh. Khi đã mắc bệnh, cần tuyệt đối tránh gió, hàng ngày rửa mặt bằng dung dịch muối NaCl 9%o hoặc cloramphenicol 10,4%.

Theo afamily

Hội chứng đường hầm cổ tay

Vùng cổ tay (phía trước) có các gân gấp chung các ngón và gấp riêng ngón cái chui qua một đường hầm mà phía sau là khối xương cổ tay, phía trước là một vòng xơ, bọc quanh hai gân là hai bao hoạt dịch, nằm ở chính giữa đường hầm là dây thần kinh giữa. Khi đường hầm này bị bóp nghẹt thì dây thần kinh giữa bị chèn ép gây đau và tê bàn tay, còn gọi là hội chứng đường hầm cổ tay (hay còn gọi là hội chứng ống cổ tay).

Nguyên nhân gây bệnh

hoi_chung_duong_ham_co_tay01

Thần kinh giữa bị chèn ép gây đau, tê tay

Có nhiều nguyên nhân gây hội chứng đường hầm cổ tay, thường là do một số nguyên nhân sau:

– Chấn thương vùng cổ tay, khiến cấu trúc của cổ tay thay đổi.

– Bệnh thấp khớp (có thể khiến bàn tay, ngón tay biến dạng, cong queo), bệnh lupus, bệnh đái tháo đường.

– Thai nghén, bệnh suy tuyến giáp trạng, suy thận cần lọc thận.

– Các bất thường của những dây gân trong đường hầm cổ tay.

Ngoài ra còn có thể do đặc thù công việc (cử động cổ tay nhiều, chỉ sử dụng một số cơ bắp nhỏ ở bàn tay liên tục kéo dài, chấn động rung do dụng cụ cầm tay gây nên) như công nhân làm việc trong các dây chuyền công nghiệp, nhân viên đánh máy tính văn phòng,..

hoi_chung_duong_ham_co_tay02

Điều trị hội chứng đường hầm cổ tay bằng cách tiêm thuốc vào ống cổ tay

Triệu chứng chính là đau, tê tay

Thần kinh giữa chạy giữa cẳng tay xuống đến cổ tay. Thần kinh giữa phụ trách việc dẫn truyền cảm giác từ các ngón cái, trỏ, giữa, và một nửa ngón đeo nhẫn của bàn tay. Thần kinh giữa cũng điều khiển các cử động của ngón cái. Trong hội chứng đường hầm cổ tay, thần kinh giữa bị chèn ép khiến bàn tay và cổ tay bị đau, tê.

Các triệu chứng điển hình của hội chứng đường hầm cổ tay như sau: đau nóng, giảm cảm giác, hoặc thấy tê như kiến bò ở các ngón cái, trỏ, giữa và một nửa ngón tay đeo nhẫn. Đau có thể lan lên khuỷu tay, thỉnh thoảng lên đến vai. Xoa nắn bàn tay và các ngón tay, hoặc vẩy vẩy bàn tay giúp ta thấy đỡ hơn.

Người bệnh thường bị đau tay vào ban đêm khi đang ngủ, vì ban đêm, đường hầm bàn tay dễ sưng, chật hơn ban ngày, thêm vào đó khi ngủ, ta lại hay gập cổ tay, khiến đường hầm càng bóp nhỏ thu hẹp. Lâu dần, triệu chứng xảy ra cả vào ban ngày, sau khi dùng bàn tay để làm việc.

Tê tay cũng thường xuất hiện khi cầm tay lái xe máy đi xa, tay bị đau và tê khiến người đang đi xe máy phải dừng lại buông tay ra, xoa nắn và vẩy vẩy mấy cái, rồi mới đi tiếp được.

Thường thì phần lớn người bệnh bị đau ở bàn tay thuận, phải làm việc nhiều, nhưng cũng có nhiều người bị đau cả hai bàn tay.

hoi_chung_duong_ham_co_tay03

Phẫu thuật nội soi điều trị hội chứng đường hầm cổ tay

Bệnh tiến triển nặng khiến bàn tay trở nên yếu ớt, vụng về khi làm những công việc tỉ mỉ như cài cúc áo, xỏ kim,… Triệu chứng nặng hơn khi ta sử dụng bàn tay lâu, như lúc lái xe, viết lách, đọc sách, đánh máy tính, khi thực hiện những hoạt động cần đến bàn tay trong tư thế nắm chặt, hay phải chuyển động các ngón tay và cổ tay liên tục, gấp hoặc ưỡn cổ tay sẽ cảm thấy đau tăng dữ dội. Cuối cùng, ngón cái ngày càng kém sức, bắp thịt phía dưới ngón cái teo nhỏ.

Nếu không được điều trị, các triệu chứng sẽ tiến triển thành cơn đau cấp tính hoặc đau kéo dài, đôi khi nghiêm trọng đến mức người bệnh không thể làm được những việc đơn giản trong gia đình vì chức năng bàn tay đã bị tổn thương nghiêm trọng và không thể phục hồi. Khi tiến triển nặng sẽ phải phẫu thuật.

Điều trị sớm hiệu quả cao

Tùy theo nguyên nhân và tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị thích hợp. Ở mức độ nhẹ, người bệnh mới bị đau, tê tay thì chỉ cần dùng các thuốc giảm đau chống viêm uống, hoặc tiêm trực tiếp vào trong ống cổ tay. Bệnh có thể khỏi từ vài tháng đến nhiều năm, tùy thuộc vào việc bệnh được phát hiện và điều trị càng sớm thì thời gian càng khỏi được lâu. Nhưng đối với những trường hợp đã tiến triển nặng, người bệnh thường xuyên bị đau, tê tay, ngón tay bắt đầu yếu sức thì cần phải phẫu thuật để giải phóng dây thần kinh ra khỏi ống cổ tay.

Điều quan trọng là khi thấy có biểu hiện đau, tê tay, người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa xương khớp để khám xác định nguyên nhân gây bệnh và điều trị. Việc điều trị sớm sẽ không khó khăn và có hiệu quả tốt. Trong thời gian điều trị người bệnh cần nghỉ ngơi, hạn chế vận động ở tay có thể làm nặng bệnh. Ngoài ra có thể kết hợp dùng phương pháp vật lý trị liệu để hỗ trợ điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ.

Bác sĩ  Trọng Nghĩa
Theo SKĐS

Lao xương khớp: Cách điều trị

Lao xương khớp được coi là lao thứ phát, do vi khuẩn lao sau khi qua phổi hoặc hệ thống tiêu hóa sẽ theo đường máu hoặc bạch huyết đến khu trú tại một bộ phận nào đó của hệ thống cơ xương khớp gây bệnh. Bệnh lao xương khớp có thể bị đơn độc hoặc kèm theo lao tại phổi hay tại các cơ quan khác.

Nguyên nhân và triệu chứng

Lao xương khớp là tình trạng nhiễm khuẩn của hệ thống xương khớp do trực khuẩn lao có tên là Mycobacterium tuberculosis gây ra. Đây là tình trạng lao ngoài phổi phổ biến, chiếm khoảng 7% tổng số các thể lao. Lao xương khớp có thể gặp ở tất cả các lứa tuổi, tất cả các xương khớp trong cơ thể; trong đó lao cột sống chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 60-70% tổng số lao xương khớp, sau đó đến lao khớp háng (10%), khớp gối (5%)…

Lao cột sống còn gọi là bệnh Pott, là tình trạng viêm đốt sống – đĩa đệm do lao hay gặp nhất. Biểu hiện toàn thân: bệnh nhân sốt nhẹ về chiều, vã mồ hôi, gầy sút, da xanh xao, ăn uống kém. Biểu hiện tại chỗ: thường bệnh nhân đau cột sống âm ỉ liên tục, đau tăng về đêm. Khi bị lâu có thể dẫn đến xẹp đốt sống gây gù nhọn. Lao có thể rò mủ ra ngoài, chất mủ giống như bã đậu. Cũng có khi lao tạo thành ổ áp-xe lạnh cạnh cột sống. Khi để muộn có thể gặp một số biến chứng chèn ép thần kinh xung quanh do xẹp đốt sống, thoát vị đĩa đệm, do áp-xe lạnh, do viêm màng nhện tủy. Nếu chèn ép thần kinh ở vùng cột sống thắt lưng gây yếu liệt hai chân, rối loạn cảm giác vùng hậu môn sinh dục, đại tiểu tiện không tự chủ. Nếu chèn ép ở cột sống cổ có thể gây liệt tứ chi. Chèn ép vùng ngực gây đau thần kinh liên sườn, rối loạn cảm giác, yếu liệt hai chân… Trường hợp lao cột sống có áp-xe lạnh, khối áp-xe có thể vỡ vào trung thất  gây hội chứng trung thất, hoặc vỡ vào màng tim, màng phổi gây chèn ép tim, phổi cấp dẫn đến suy hô hấp, trụy tim mạch. Nếu áp-xe vỡ vào cơ thắt lưng chậu gây viêm cơ thắt lưng chậu.

Lao khớp ngoại biên hay gặp là lao khớp háng, khớp gối và một số khớp khác ít gặp hơn như khuỷu tay, cổ tay, cổ chân… Biểu hiện tại chỗ là tình trạng viêm khớp: sưng, nóng, đỏ đau tại chỗ thường ở một khớp đơn độc; khớp bị tổn thương hạn chế vận động, có thể có lỗ rò ra chất hoại tử bã đậu hay mảnh xương chết. Lâu ngày cơ quanh khớp viêm bị teo, hạn chế vận động. Biểu hiện toàn thân của lao khớp ngoại biên cũng tương tự như lao cột sống. Cần lưu ý hiện nay lao nói chung và lao xương khớp nói riêng thường phối hợp với các bệnh suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, đái tháo đường…

lao_xuong_khop_cach_dieu_tri

Xét nghiệm tìm vi khuẩn lao

Vấn đề điều trị

Điều trị lao xương khớp bao gồm điều trị cơ bản tức điều trị nguyên nhân bệnh và điều trị phối hợp.

Điều trị cơ bản, tức là dùng thuốc chống lao điều trị nguyên nhân theo các nguyên tắc sau: phối hợp các thuốc chống lao với ít nhất 3 loại thuốc trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì. Dùng thuốc đúng liều: liều thấp không hiệu quả, dễ tạo vi khuẩn kháng thuốc, ngược lại liều cao dễ gây tai biến. Dùng thuốc đều đặn đặn để đạt sự hấp thu thuốc tối đa. Dùng thuốc đủ thời gian, theo 2 giai đoạn: tấn công từ 2-3 tháng và duy trì từ 4-6 tháng. Cần theo dõi quản lý bệnh theo nguyên tắc DOST (Directly Observed Treatment, Short course) tức là điều trị phác đồ ngắn ngày có theo dõi, kiểm soát trực tiếp việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Cần thường xuyên kiểm tra tình trạng toàn thân, tại chỗ, tiến triển của bệnh cũng như các tai biến có thể xảy ra khi dùng thuốc.

Các thuốc chống lao thường dùng và liều lượng thuốc khi dùng hàng ngày là: Streptomycin (S), Isoniazid (H), Rifampicin (R), Pyrazynamid (Z), Ethambutol (E). Trong trường hợp dùng phác đồ 3 lần một tuần thì liều lượng có sự thay đổi, thường là cao hơn liều hằng ngày.

Các phác đồ chuẩn: đối với lao xương khớp mới phát hiện: dùng phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE hoặc 2S(E)RHZ/4RH. Phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 4 loại kháng sinh phối hợp: streptomycin hoặc ethambutol, isoniazid, rifampicin, pyrazynamid; 4 tháng sau dùng hai loại thuốc là isoniazid và ethambutol hằng ngày. Phác đồ này chỉ áp dụng khi kiểm soát trực tiếp được bệnh nhân ở cả giai đoạn duy trì.

Với lao xương khớp tái phát, hoặc thất bại sau phác đồ trên, hoặc điều trị lại sau bỏ thuốc hoặc với thể lao nặng thì áp dụng phác đồ: 2SHRZE/1HRZE/5H3R3E3, có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 5 loại thuốc phối hợp, tháng thứ ba dùng 4 loại thuốc, 5 tháng tiếp theo dùng 3 loại thuốc mỗi tuần 3 ngày.

Một số trường hợp lao xương khớp đặc biệt như lao ở trẻ em, người già, phụ nữ có thai hay cho con bú, người suy gan thận cần đặc biệt chú ý và có những hướng dẫn điều trị, theo dõi riêng.

Khi sử dụng thuốc chống lao kéo dài cần đặc biệt chú ý đến các tác dụng phụ của thuốc trên đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau bụng), đau khớp, rối loạn về thần kinh ngoại biên (tê bì, bỏng rát ở chân), mẩn ngứa phát ban… Trường hợp nặng có thể có ù tai, chóng mặt hay điếc do dùng streptomycin; xuất huyết dưới da, thiếu máu huyết tán do dùng rifampicin, giảm thị lực do dùng ethambutol; vàng da viêm gan do R, H, Z…, hay có thể sốc phản vệ do thuốc. Vì vậy cần theo dõi chặt chẽ về lâm sàng, xét nghiệm máu để có thái độ xử trí thích hợp.

Điều trị phối hợp: Ngoài điều trị thuốc cơ bản, đặc hiệu thì trong lao xương khớp, việc điều trị phối hợp rất quan trọng.

Bất động tương đối vùng tổn thương: bất động trong thời gian tiến triển của bệnh bằng máng bột, áo bột, nẹp bột hay áo, nẹp chỉnh hình; sau đó nếu có thể thì vận động trở lại sớm để tránh dính, cứng khớp.

Điều trị tốt bệnh phối hợp: HIV, đái tháo đường…

Phòng, điều trị các tác dụng phụ của thuốc.

Nghỉ ngơi hợp lý, nâng cao thể trạng, chế độ ăn uống nhiều đạm, vitamin.

Kết hợp thuốc giảm đau, chống viêm, giãn cơ nếu đau nhiều.

Điều trị ngoại khoa phối hợp trong các trường hợp cần thiết: phẫu thuật loại bỏ ổ tổn thương, giải phóng chèn ép, điều trị chỉnh hình…

Phòng bệnh

Cách ly người bệnh, tránh lây nhiễm. Những người trong gia đình có tiếp xúc với bệnh nhân lao cần được khám và chụp Xquang phổi để phát hiện sớm tình trạng nhiễm lao, từ đó có biện pháp điều trị và quản lý hợp lý, tránh lây lan.

Người bệnh cần được theo dõi quản lý chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc điều trị bệnh nhằm tránh hiện tượng lao tái phát, lao kháng thuốc.

ThS. Bùi Hải Bình
Theo SKĐS

Thoái hóa cột sống: Cách khống chế cơn đau

Thoái hóa cột sống (THCS) là một bệnh rất phổ biến, gặp cả ở nam và nữ giới. Bệnh xuất hiện ở người có độ tuổi từ 35 trở lên, nhưng đặc biệt hay gặp ở những người cao tuổi. Thoái hóa cột sống là tổn thương mạn tính dạng thoái hóa của các thân đốt sống và đĩa đệm nằm giữa các đốt sống, cùng các dây chằng cột sống. Cột sống có 4 đoạn là cột sống cổ, cột sống ngực, cột sống thắt lưng và đoạn xương cùng cụt. Hai đoạn cột sống hay bị thoái hóa nhất là cột sống cổ và cột sống thắt lưng, là những vùng linh hoạt nhất của cột sống nhưng hay phải chịu tải trọng và phải hoạt động nhiều nhất.

Đặc điểm tổn thương thoái hóa cột sống

Trong THCS gây tổn thương tất cả các cấu trúc cột sống. Tuy nhiên, đĩa đệm nằm giữa hai thân đốt sống bị tổn thương đầu tiên. Đĩa đệm giống như một cái gối, tạo thành từ vỏ xơ bọc nhân nhày bên trong. Đĩa đệm có tác dụng như một bộ giảm sóc, giảm tải lên đốt sống và làm cho cột sống có thể thực hiện nhiều động tác như cúi, ngửa, nghiêng, xoay. Đĩa đệm cũng phải hứng chịu nhiều tác động cơ học có hại như ngã, mang vác nặng, tập thể thao nặng như tạ, thể thao đối kháng, do vậy từ độ tuổi ngoài 30, đĩa đệm bắt đầu bị thoái hóa. Khi đĩa đệm bị thoái hóa, nhân nhày sẽ bị mất nước, vòng sợi bao quanh nhân nhày bị rách, đĩa đệm bị thoát vị, đĩa đệm bị xẹp xuống dưới sức nặng của cơ thể cũng như khi mang vác vật nặng. Đĩa đệm có thể thoát vị ra phía sau thân đốt sống, gây chèn ép thần kinh, gây đau và ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng đi lại cũng như sinh hoạt hàng ngày của người bệnh. Thân đốt sống cũng bị ảnh hưởng, bao gồm mâm đốt sống bị xơ, rìa mâm sống mọc ra các gai xương. Ngoài ra, cả cơ cạnh cột sống cũng bị co cứng, dây chằng cạnh cột sống cũng bị co kéo quá mức, làm cho cột sống bị biến dạng, thường bị vẹo về một phía.

thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_con_dau

Hình ảnh thoái hóa khớp cột sống

Những yếu tố đẩy nhanh quá trình thoái hóa cột sống

Thoái hóa khớp cột sống là một bệnh lý thường gặp ở người cao tuổi, liên quan đến quá trình lão hóa của hệ thống vận động, cơ xương khớp. Tuy nhiên có nhiều yếu tố khiến quá trình thoái hóa khớp xảy ra nhanh hơn. Đó là các yếu tố di truyền, yếu tố phát triển cơ thể và yếu tố môi trường. Các yếu tố này thường kết hợp, đan xen với nhau một cách chặt chẽ, tạo thành một vòng xoáy bệnh lý, làm cho thoái hóa khớp cột sống thường xảy ra sớm hơn, tiến triển nhanh hơn, có thể để lại những hậu quả nặng nề. Nếu một người có bố mẹ bị thoái hóa khớp thì người đó cũng dễ bị thoái hóa khớp hơn. Điều kiện sống khó khăn, ăn uống không đầy đủ khiến cơ thể không có đủ chất dinh dưỡng để xây dựng khung xương, khớp của mình một cách đầy đủ. Lao động nặng từ bé hay làm việc quá sức, mang vác vật nặng; tập các loại thể thao nặng, đối kháng, hay chế độ tập luyện không hợp lý cũng làm tăng tải trọng lên khớp và làm cho khớp bị thoái hóa sớm. Ngược lại tình trạng ít vận động kéo dài như các công việc đòi hỏi phải đứng quá lâu, ngồi quá nhiều hoặc luôn phải làm việc ở một tư thế gò bó, ít thay đổi cũng là yếu tố nguy cơ gây thoái hóa cột sống vì cơ cạnh cột sống không được luyện tập sẽ yếu đi, không hỗ trợ được cho cột sống, khiến cột sống phải hứng chịu toàn bộ tải trọng của cơ thể.

Biểu hiện của thoái hóa cột sống

Triệu chứng của thoái hóa cột sống rất đa dạng. Thường bệnh nhân hay có dấu hiệu đau cột sống cấp tính hay mạn tính, kèm theo hạn chế vận động cột sống. Bệnh nhân cúi xuống hoặc quay nghiêng sang bên khó khăn. Cột sống bị biến dạng như cong, vẹo. Cơ cạnh cột sống hay thậm chí cơ chân có thể bị teo đi. Ngoài ra tùy theo vùng cột sống cổ hay thắt lưng bị thoái hóa mà có những triệu chứng đặc trưng. Đối với thoái hóa cột sống thắt lưng, có ba thể lâm sàng tùy thuộc vào mức độ tổn thương của đĩa đệm.

Thể thứ nhất là đau lưng cấp tính. Thường gặp ở nam giới trong độ tuổi 30 – 40. Đau thắt lưng xuất hiện sau một động tác mạnh, quá mức, đột ngột và trái tư thế. Bệnh nhân có tư thế chống đau như lom khom, vẹo cột sống. Đau thắt lưng có thể khỏi dần sau 1 – 2 tuần.

Thể thứ hai là đau thắt lưng mạn tính, thường xuất hiện ở lứa tuổi trên 40. Đau âm ỉ vùng thắt lưng, hay bị tái phát. Đau thắt lưng mạn tính do đĩa đệm thoái hóa nhiều, sức căng phồng đàn hồi kém, chiều cao giảm, do đó giảm khả năng chịu lực, đĩa đệm có phần lồi ra phía sau kích thích các nhánh thần kinh.

Thể thứ ba là đau thắt lưng, kết hợp với đau thần kinh tọa một bên hay hai bên. Biểu hiện bệnh là đau cột sống thắt lưng, lan xuống mông, mặt sau ngoài đùi, khoeo, cẳng chân, có thể lan xuống tận gót chân hay các ngón chân. Như vậy nếu bạn thấy những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên, dáng đi không bình thường, vẹo lưng hoặc còng lưng, đi lom khom, kèm cảm giác khó chịu, bực bội thì có thể bạn đã bị thoái hoá cột sống. Nếu bị thoái hóa cột sống cổ thì đau chủ yếu ở vùng cổ gáy. Đau có thể lan lên phía sau đầu hay thậm chí đau phía hốc mắt. Bệnh nhân có thể thấy nuốt khó, thường được hay chẩn đoán nhầm là loạn cảm họng. Khi có dấu hiệu chèn ép rễ thần kinh cánh tay thì bệnh nhân có thể thấy đau cột sống cổ lan xuống vai, tay. Cảm giác khó chịu khiến bệnh nhân mất ăn, mất ngủ, gầy sút và có tâm lý buồn chán, trầm cảm, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và công việc. Thoái hóa cột sống cổ thường tiến triển thành từng đợt, tuy nhiên nếu để lâu không được chú ý điều trị có thể để lại các biến chứng đáng tiếc như đau, yếu, tê bì, teo cơ tay, do tổn thương các rễ thần kinh cổ chi phối cánh tay. Một số bệnh nhân có thể bị liệt khi bị chèn ép tủy cổ.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Thoát vị đĩa đệm có phải là bệnh?

Thoát vị đĩa đệm tiếng Pháp gọi là Hernie dícale. Từ thoát vị – Hernie dùng để mô tả rất nhiều biểu hiện đặc trưng bởi sự nhô ra hay lồi ra một cơ quan hay một phần cơ quan ngoài vị trí bình thường của nó, ta vẫn thường nói thoát vị bẹn, thoát vị rốn… Đĩa đệm – Discale nằm giữa liên đốt sống, như vậy thoát vị đĩa đệm là sự nhô ra một phần của đĩa liên đốt sống.

Thoát vị đĩa đệm xảy ra như thế nào?

Đĩa đệm nằm giữa liên đốt sống, xung quanh cấu tạo bởi các cung xơ, ở giữa là nhân cứng gelatine, đĩa đệm có vai trò như chống xóc và tạo tính mềm dẻo cho cột sống. Cung xơ có vai trò giữ cho nhân gelatine nằm trong đĩa đốt sống. Tránh rách, đứt chui ra khỏi vòng cung xơ. Bình thường, nhân gelatine nằm chính giữa đĩa đệm xung quanh có các cung xơ. Nhân gelatine nhô ra và băng qua khỏi cung xơ gọi là thoát vị đĩa đệm, thoát vị di chuyển và thoát vị xuyên qua ngoài dây chằng, ép rễ gây đau thần kinh vùng tổn thương, nhân gelatine chui ra khỏi cung xơ gây ép tuỷ. Một số người có thoát vị đĩa đệm nhưng không nhận thấy triệu chứng vì thoát vị không liên quan đến thần kinh, như vậy tỷ lệ thoát vị đĩa đệm khó đánh giá. Thoát vị đĩa đệm có thể ép tuỷ nhưng hiếm gặp.

Cột sống có ba đoạn: đoạn cổ, đoạn ngực và đoạn thắt lưng. Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra bất kỳ đoạn nào của cột sống. Khoảng 95% thoát vị đĩa đệm ở đoạn cột sống thắt lưng. Trong trường hợp này thoát vị có thể gây đau vùng thắt lưng gọi là đau thắt lưng – Lombalgie. Nếu thoát vị ép vào rễ của thần kinh toạ có thể gây đau dọc mặt sau của chân, ta gọi là đau thần kinh toạ.Thoát vị đĩa đệm hay gặp những người tuổi từ 35 – 55 tuổi, nam hay gặp hơn nữ liên quan thể lực khoẻ, liên quan nghề nghiệp hoặc chơi thể thao.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm: Người ta nhận thấy thoát vị có liên quan đến tuổi, do thoái hoá đĩa đệm, cột sống thiếu mềm dẻo, mất trương lực, mất tính đàn hồi, giảm chiều cao. Các động tác đột ngột ở tư thế xấu hoặc nâng vật nặng ở vị trí xoay cơ thể. Những người quá béo hoặc phụ nữ thời kỳ mang thai ép lên cột sống thường xuất hiện đau vùng lưng. Một số người đau lưng do ảnh hưởng yếu tố di truyền nên có thể thấy thoát vị đĩa đệm từ lúc còn rất trẻ.

thoat_vi_dia_dem_co_phai_la_benh

Các động tác đột ngột như nâng vật nặng ở vị trí xoay cơ thể rất dễ gây thoát vị đĩa đệm

Biểu hiện của thoát vị đĩa đệm

Ngày nay, nhờ các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ cột sống mà hình ảnh thoát vị đĩa đệm sẽ được phát hiện, mặc dù hình ảnh thoát vị đĩa đệm có giống nhau giữa người này và người khác, song biểu hiện triệu chứng khác nhau. Một số người có thể có thoát vị đĩa đệm nhưng không có triệu chứng đau lưng, đối với người khác đau khủng khiếp. Đôi khi thoát vị đĩa đệm ép vào rễ thần kinh. Thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng gây đau thắt lưng, nếu đau dọc chân gọi là đau thần kinh tọa. Thoát vị đĩa đệm ở vùng cổ, gây cứng cổ và đau vùng cổ, đôi khi lan ra hai vai và cánh tay. Thoát vị đĩa đệm cổ có thể thấy cảm giác như dị cảm đầu chi hoặc cảm giác yếu mỏi vùng cẳng tay và cánh tay.

Điều trị thoát vị đĩa đệm

Thái độ trước tiên để giảm sức căng cho cột sống nằm nghỉ trên giường và dùng thuốc làm dịu đau và giảm viêm. Phần lớn, các trường hợp thực hiện như trên là đủ để giảm triệu chứng và chữa khỏi thoát vị đĩa đệm. Ngoại khoa rất ít khi phải can thiệp, tuy nhiên khi có thoát vị phối hợp với yếu tay chân hoặc liệt tay chân hay có biểu hiện rối loạn đại tiểu tiện thì cần can thiệp ngoại khoa sớm. Trường hợp đau cấp và đau nhiều nằm nghỉ trên giường từ một hoặc hai ngày và lấy lại các hoạt động nếu có thể để tránh teo cơ và yếu cơ lưng.

TS. Mai Thị Minh Tâm
(Khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện E)
Theo SKĐS

Tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn

Có nhiều nguyên nhân gây ra gãy xương như: bom đạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động…, có thể là gãy xương hở hoặc gãy xương kín. Xương thường bị gãy vỡ thành nhiều mảnh, có khi bị mất từng đoạn xương hay các đoạn xương bị di lệch. Chúng ta cần biết cố định xương gãy là để tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn.

Vì sao cần cố định xương gãy?

Khi gãy xương, đầu xương gãy sắc nhọn dễ làm tổn thương mạch máu, thần kinh. Nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến những tai biến nặng như: sốc do mất máu và đau đớn, nhất là khi gãy các xương lớn; làm tổn thương phần mềm do các đầu xương gãy đâm rách; nhiễm khuẩn vết thương. Cố định tạm thời gãy xương là một kỹ thuật quan trọng để hạn chế những tai biến đó và giữ cho ổ gãy xương được ổn định để vận chuyển an toàn bệnh nhân đến bệnh viện.

tu_cuu_minh_va_cuu_nguoi_khi_gap_tai_nan

Yêu cầu cố định xương gãy như thế nào?

Khi cố định tạm thời xương gãy phải đảm bảo không làm cho bệnh nhân bị đau thêm. Muốn thế phải giảm đau tốt cho bệnh nhân trước khi tiến hành băng bó cố định chi gãy, không được nâng nhấc, băng bó, cố định chi gãy nếu chưa dùng thuốc giảm đau cho bệnh nhân. Nẹp phải đủ dài để cố định được cả khớp trên và khớp dưới ổ gãy, buộc chắc chắn vào chi. Nếu chi gãy bị di lệch, biến dạng nhiều thì sau khi đã giảm đau thật tốt, có thể nhẹ nhàng kéo chỉnh lại trục chi để giảm bớt biến dạng, giảm bớt nguy cơ thương tổn phần mềm do các đầu xương gãy gây ra. Không đặt nẹp cứng sát vào chi mà phải lót bằng bông, gạc… Khi cố định xương gãy, không cần cởi quần áo người bị thương vì quần áo có tác dụng tăng cường đệm lót cho nẹp.

Các loại nẹp dùng để cố định xương gãy

Nẹp tre (hoặc gỗ), kích thước dài ngắn tùy chi thể của người bị thương. Các nẹp được bọc trước bằng bông hoặc giấy xốp cuốn băng xô, trên toàn bộ chiều dài, bịt kín 2 đầu nẹp. Ngoài ra còn loại nẹp Crame là loại nẹp làm bằng sợi kẽm, bẻ uốn được, hình bậc thang, có nhiều kích thước thích hợp cho từng đoạn chi. Dùng nẹp Crame cũng cần có đủ các kích thước phù hợp với từng đoạn chi và cũng cần bọc lót bông gạc như với nẹp tre. Tuy nhiên khi gặp tình huống khẩn cấp mà không có nẹp đã chuẩn bị sẵn, có thể sử dụng các phương tiện sẵn có như đòn gánh, cành cây, gậy gỗ, dát giường… để cố định xương gãy.

Phương pháp cố định tạm thời ở một số gãy xương lớn

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng tay: Đặt nẹp ngắn ở mặt trước cẳng tay đi từ nếp khuỷu đến khớp ngón – bàn. Đặt nẹp dài ở mặt sau cẳng tay, từ quá mỏm khuỷu, đối xứng với nẹp ở mặt trước. Buộc 2 đoạn cố định 2 nẹp vào bàn tay và cẳng tay. Đoạn thứ nhất ở bàn tay và cổ tay, đoạn thứ 2 ở dưới và trên khớp khuỷu. Dùng băng cuộn để treo cẳng tay ở tư thế gấp 900.

– Cố định tạm thời gãy xương cánh tay: Ở mặt trong cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên lên tới hố nách, đầu dưới sát nếp khuỷu. Mặt ngoài cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên quá khớp vai nách, đầu dưới quá khớp khuỷu. Cố định nẹp ở 2 đoạn: đoạn một ở 1/3 trên cánh tay và khớp vai, đoạn hai ở trên và ở dưới khớp khuỷu. Dùng băng tam giác hoặc băng cuộn treo cẳng tay vuông góc 900 với cánh tay và cuốn 1 vài vòng băng buộc cánh tay vào thân.

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng chân: Đặt 2 nẹp ở mặt trong và mặt ngoài chi gãy đi từ giữa đùi tới quá cổ chân. Nếu có nẹp thứ 3 thì đặt ở mặt sau cẳng chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn cổ chân, dưới và trên khớp gối, giữa đùi.

– Cố định tạm thời gãy xương đùi: Dùng 3 nẹp để cố định, nẹp ở mặt ngoài đi từ hố nách đến quá gót chân. Nẹp ở mặt trong đi từ bẹn đến quá gót chân. Nẹp ở mặt sau đi từ trên mào chậu đến quá gót chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn chân, cổ chân, 1/3 trên cẳng chân, trên gối, bẹn, bụng và dưới nách. Trước khi vận chuyển: buộc chi gãy đã cố định vào chi lành ở ba vị trí cổ chân, đầu gối và đùi.

BS. Trần Văn Phong
Theo SKĐS

Những phiền phức do thoái hóa cột sống cổ

Đau vùng cổ và chèn ép thần kinh hoặc chèn ép mạch máu gây nên những phiền phức như tê tay, đau đầu, choáng váng cho người bệnh là triệu chứng có thể gặp do thoái hoá cột sống cổ.

Thoái hoá cột sống cổ là một vấn đề y học thường ngày. Ngoài tuổi 45, người ta thường thấy dấu hiệu thoái hoá cột sống cổ trên hình ảnh Xquang, tuy nhiên không gây nên các rối loạn chức năng, trên 50% không có biểu hiện triệu chứng. Các triệu chứng của thoái hoá cổ đoạn thấp (C4-C7) có nhiều biểu hiện như: đau cổ hay hội chứng cổ. Ép rễ thần kinh (đau thần kinh cổ – cánh tay). Ép tuỷ gọi bệnh tuỷ cổ do thoái hoá cổ. Ép động mạch đốt sống gây hiện tượng chóng mặt như hội chứng tiền đình.

nhung_phien_phuc_do_thoai_hoa_cot_song_co

Cột sống cổ được cấu tạo xếp chồng lên nhau gồm 7 đốt sống: C1- C7 và phân ra hai phần: phần trên C1-C2 có vai trò trụ cột và phần C4-C7 là đoạn chuyển động. Các đốt sống hợp bởi 3 hệ thống khớp: đĩa – đốt sống ra trước, liên gai sau ra sau và khớp bán động sang bên. Ngoài ra có ống sống chứa tuỷ sống; lỗ liên hợp chứa rễ thần kinh và động mạch đốt sống.

Các yếu tố thuận lợi cho thoái hoá cột sống cổ: dị dạng bẩm sinh đốt sống, chấn thương và vi chấn thương hoặc do một vài nghề nghiệp như thợ trát trần, diễn viên xiếc…

Các biểu hiện mà bệnh nhân đến khám như là đau cột sống cổ, làm hạn chế vận động cột sống cổ, do hiện tượng ép rễ thần kinh trong lỗ liên hợp của các đốt sống. Các dấu hiệu phối hợp như dị cảm cánh tay, cẳng tay và đến tận bàn tay. Đôi khi biểu hiện đau đầu không thể chịu được, ngoài ra có thể chóng mặt. Đau thần kinh cánh tay rất dữ dội, đau ở cột sống cổ và vai, đau lan xuống cánh tay, đau mặt ngoài cánh tay, đau lan đến khuỷu và có thể đến ngón cái, ngón trỏ. Đau dai dẳng và nghỉ không thuyên giảm. Nguyên nhân thường do chèn ép rễ thần kinh do gai xương nhô vào trong lỗ liên hợp hoặc do thoát vị đĩa đệm gây ra, thường do rễ của C5, C6, C7, C8.

Các biểu hiện của tổn thương rễ C5: đau mặt ngoài cánh tay và khuỷu tay. Tổn thương rễ C6: đau mặt trước cánh tay – mặt ngoài cẳng tay, ngón 1 và ngón 2. Tổn thương rễ C7: đau mặt sau cánh tay, cẳng tay và ngón 2, ngón 3, ngón 4. Tổn thương rễ C8: đau mặt sau và mặt trong cánh tay và ngón 5.

Chụp Xquang thường quy là có thể giúp chẩn đoán, chụp với 3 tư thế chụp thẳng, chụp nghiêng và chụp chếch 3/4. Trong trường hợp đau quá mức cần thiết chụp cắt lớp hoặc chụp cộng hưởng từ cột sống cổ. Chụp cộng hưởng từ cột sống cổ cho phép phân tích chính xác mức độ ép rễ và thoát vị đĩa đệm. Kết quả chụp này giúp chẩn đoán còn nghi ngờ và quyết định điều trị ngoại khoa trong trường hợp điều trị nội khoa không đáp ứng. Đau thần kinh cánh tay cần phân biệt: viêm đĩa đốt sống, khối u ác tính hay lành tính đốt sống, khối u của đỉnh phổi gọi hội chứng Pancoast và Tobias.

Người ta phân biệt hai thể của đau thần kinh cổ – cánh tay rất khác biệt:

– Thể viêm mạnh: Đau thường xuyên và đặc biệt đau trong đêm ngủ chống lại thuốc chống viêm giảm đau cổ điển và cortisone uống và cortisone tiêm tại chỗ. Lúc này nên để cho cổ được nghỉ và đeo đai cổ và đai tay giữ cho tay ở tư thế chống đau.

– Thể viêm nhẹ: Đau mức độ vừa phải và không thường xuyên.

Việc điều trị phụ thuộc vào từng trạng thái bệnh và hoàn cảnh của bệnh. Điều trị với mục đích làm giảm đau nhanh chóng, tránh các động tác làm khởi phát cơn đau. Nằm ngủ trên giường phẳng, không gối đầu cao và không sử dụng gối dài. Ban ngày tránh mang vác nặng và ngồi lâu.

Sử dụng các thuốc giảm đau, thuốc chống viêm không có corticoid, thuốc giãn cơ. Thuốc ức chế interleukine-1 với hoạt chất diacereine có tác dụng chống thoái hoá trong trường hợp mạn tính. Việc xoa bóp vùng cơ cổ và kết hợp tia hồng ngoại, chạy sóng ngắn… ở đợt đau của thoái hoá cổ cũng có tác dụng khả quan.

Đối với thể đau quá mức, bệnh nhân nên nằm bệnh viện và có thể sử dụng liệu pháp corticoid tĩnh mạch. Hoặc liều corticoide 0,5 mg/kg đường uống trong 2 – 3 tuần,  đeo đai cổ mềm và bệnh nhân cần được nghỉ ngơi và kéo giãn cột sống nhẹ nhàng tại giường. Điều trị ngoại khoa là được chỉ định trong các thể đau quá mức và chống lại điều trị nội khoa và trường hợp giảm vận động.

Việc điều trị phụ thuộc vào từng trạng thái bệnh và hoàn cảnh của bệnh, có thể chống lại đau bằng thuốc chống viêm không có corticoid hoặc chống viêm có corticoid. Việc xoa bóp vùng cơ cổ kết hợp tia hồng ngoại, chạy sóng ngắn… ở đợt đau của thoái hoá cột sống cổ cũng có tác dụng khả quan. Lưu ý rằng việc điều trị thoái hoá cột sống cổ nhất thiết phải có thầy thuốc chuyên khoa chỉ định thuốc ứng với từng trường hợp, từng người bệnh cụ thể.

TS. Mai Thị Minh Tâm
(Khoa Cơ xương khớp, BV E Trung ương)
Theo SKĐS

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh (neuropathic arthropathy) là bệnh có những thay đổi về xương, khớp thứ phát do giảm hay mất cảm giác chi phối do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Điển hình trên phim chụp Xquang là tổn thương hủy hoại bề mặt sụn khớp, đặc xương dưới sụn, hẹp khe khớp, biến dạng khớp, trật khớp.

Nguyên nhân của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh có nhiều, hay gặp nhất là do bệnh đái tháo đường, giang mai biến chứng thần kinh (còn có tên là bệnh Tabes dorsalis) và bệnh rỗng tủy xương (Syringomyelia). Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, có tới 15% bệnh  nhân đái tháo đường, 10 – 20% bệnh nhân giang mai và 20 – 25% bệnh nhân rỗng tủy xương có biểu hiện bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh. Ngoài ra triệu chứng bệnh còn gặp trong nhiều bệnh khác như sau chấn thương đặc biệt có chèn ép tủy sống hay tổn thương thần kinh ngoại biên, nhiều bệnh thần kinh di truyền khác, bệnh lý nhiễm khuẩn, do dùng corticoid, nghiện rượu, bệnh phong, hội chứng Raynaud, cường vỏ tuyến thượng thận, bệnh hệ thống như xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, trẻ dị tật bẩm sinh do mẹ dùng thuốc Thalidomide trong thời kỳ mang thai, rối loạn cảm giác cận ung thư…

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh

Bệnh khớp do thần kinh ở giai đoạn muộn

Dấu hiệu bệnh rất đa dạng

Triệu chứng bệnh đa dạng, phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn của bệnh.  Nhìn chung biểu hiện khớp bắt đầu xuất hiện muộn nhiều năm sau các biểu hiện thần kinh của bệnh chính, tuy nhiên lại tiến triển nhanh và hủy khớp chỉ trong vài tháng. Tùy nguyên nhân mà có các vị trí khớp hay gặp khác nhau: do bệnh đái tháo đường các triệu chứng chủ yếu ảnh hưởng tới khớp ở bàn chân và cổ chân; trong bệnh giang mai là khớp gối, háng và cổ chân; trong bệnh rỗng tủy xương ảnh hưởng tới cột sống và chi trên, đặc biệt ở khớp vai và khớp khuỷu. Thông thường biểu hiện ở một khớp (trừ khi ở khớp nhỏ bàn chân có thể ảnh hưởng tới vài khớp), không đối xứng. Triệu chứng khớp ban đầu thường nhẹ, tiến triển âm ỉ, tái phát từng đợt đặc biệt sau những chấn thương nhẹ. Đau khớp xuất hiện ở một phần ba số bệnh nhân nhưng thường là đau ít, nhất là khi so sánh với mức độ tổn thương khớp khá nhiều. Khớp sưng nhẹ, phù nề, sung huyết hoặc xuất huyết quanh khớp, sờ ấm hơn bình thường. Có thể tràn dịch khớp. Khớp có biểu hiện mất vững hoặc bán trật nhẹ. Ở giai đoạn muộn, đau có thể nặng hơn nếu hủy khớp tiến triển nhanh gây trật khớp hoặc có khối máu tụ, mảnh sụn hay xương vỡ nằm trong khớp. Khớp sưng, biến dạng nhiều do màng hoạt dịch khớp dày, do trật khớp hoặc gãy xương. Có thể gặp một số biến chứng kèm theo, đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, như nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn và cốt tủy viêm.

Cách phân biệt với các bệnh khớp khác

Chụp Xquang khớp bị tổn thương: Có thể phát hiện giai đoạn sớm hay muộn của bệnh. Trên Xquang cần chẩn đoán phân biệt bệnh với các bệnh thoái hóa khớp, hoại tử xương, bệnh khớp lắng đọng tinh thể canxi pyrophosphat, bệnh khớp do tiêm corticoid nội khớp, nhiễm khuẩn xương khớp…

Siêu âm khớp: Có thể phát hiện dịch trong khớp, dày màng hoạt dịch, hẹp khe khớp, định hướng cho hút dịch làm xét nghiệm để chẩn đoán những trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính có thể giúp đánh giá tốt hơn tổn thương vỏ xương, mảnh xương chết hay khí ở trong xương.

Chụp cộng hưởng từ, đặc biệt có phối hợp thuốc cản quang, có ích trong phân biệt tổn thương tủy trong bệnh rỗng tủy với các viêm tủy nhiễm khuẩn, viêm đĩa đệm đốt sống nhiễm khuẩn cũng như giúp chẩn đoán một số biến chứng nhiễm khuẩn xương, khớp ở vị trí khác ngoài cột sống.

Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào tiền sử bệnh nhân có bệnh lý tổn thương thần kinh (như đái tháo đường, giang mai, phong, bệnh rỗng tủy…) trước đó nhiều năm, xuất hiện đau, sưng khớp với tiến triển từ từ tăng dần, có sự bất cân xứng giữa mức độ đau với tổn thương khớp, xương. Cần kết hợp với chụp Xquang để khẳng định chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt với các bệnh thoái hóa khớp, bệnh gút, bệnh giả gút (khớp viêm do lắng đọng tinh thể pyrophosphat), viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp do bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến…), viêm khớp phản ứng, hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm. Ví dụ trong giai đoạn sớm của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh, hình ảnh trên Xquang gần tương tự như trong thoái hóa khớp với tam chứng hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương ở rìa khớp. Tuy nhiên tiến triển của bệnh nhanh hơn thoái hóa khớp, không cân xứng giữa mức độ đau khớp với tổn thương trên Xquang: mức độ đau ít hơn trong khi tổn thương trên Xquang nặng hơn. Cần đặc biệt chú ý phân biệt bệnh với bệnh nhiễm khuẩn xương khớp hoặc phát hiện nhiễm khuẩn xương khớp với tư cách là biến chứng kèm theo để có hướng điều trị thích hợp.

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh2

Tổn thương bàn chân ở người bệnh khớp do thần kinh trước và sau phẫu thuật

Bệnh khớp do thần kinh được điều trị như thế nào?

Điều trị nguyên nhân, đặc biệt khi phát hiện sớm, điều trị tích cực bệnh chính có thể làm chậm quá trình tổn thương khớp.

Điều trị bảo tồn: những trường hợp phát hiện sớm cần bất động khớp (bằng giày thiết kế chuyên dụng, bó bột hay dụng cụ nẹp ngoài…), hạn chế tối đa trọng lực cơ thể cũng như các lực ngoại cảnh tác dụng lên khớp tổn thương để bảo vệ khớp khỏi các chấn thương tiếp diễn, qua đó làm chậm tiến trình bệnh. Dùng các thuốc giảm đau, giảm sưng nề khớp cũng như tăng mật độ xương tại chỗ. Phối hợp các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng chống loét do tì đè.

Trường hợp khớp tổn thương biến dạng nặng hay gãy xương có thể cần phải phẫu thuật nẹp vít bên trong xương, lấy bỏ các mảnh dị vật – các canxi hóa trong khớp, làm cứng khớp hay phẫu thuật thay khớp toàn bộ.

Phòng và điều trị các biến chứng, đặc biệt biến chứng nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, nhiễm khuẩn khớp, xương.

ThS. Bùi Hải Bình (Khoa cơ xương khớp – Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Cập nhật các biện pháp điều trị đau thần kinh tọa

Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó thoát vị đĩa đệm gây chèn ép rễ thần kinh là nguyên nhân thường gặp nhất (60-90%). Phần lớn các trường hợp đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm có thể điều trị khỏi bằng phương pháp nội khoa bảo tồn. Chỉ có khoảng 20% các trường hợp phải điều trị can thiệp và phẫu thuật. Kết quả điều trị phẫu thuật phụ thuộc vào sự đúng đắn của chỉ định phẫu thuật và độ chính xác của phương pháp phẫu thuật. Trong tương lai, ngày càng có các phương pháp điều trị hiệu quả và ít gây tổn thương hơn cho loại bệnh lý này.

Tác động của tổn thương dây thần kinh tọa do thoát vị

cap_nhat_cac_bien_phap_dieu_tri_dau_than_kinh_toa

Đau thần kinh tọa do tổn thương cột sống.

Bệnh cảnh điển hình là sau một gắng sức xuất hiện đau, khởi đầu là đau lưng, vài giờ hoặc vài ngày sau đau tiếp tục tăng lên và lan xuống mông, khoeo và cẳng bàn chân theo đường đi của dây thần kinh tọa. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Đau giảm khi nằm yên trên giường cứng, gối co lại. Cảm giác kiến bò, tê cóng hoặc như kim châm bờ ngoài bàn chân chéo qua mu chân đến ngón cái (rễ TL5), ở gót chân hoặc ngón út (rễ S1). Một số bệnh nhân bị đau ở hạ bộ và đau khi đại tiểu tiện do tổn thương rộng xâm phạm các rễ thuộc đám rối thần kinh đuôi ngựa. Thăm khám lâm sàng phát hiện tình trạng co cứng cơ cạnh cột sống, cột sống mất đường cong sinh lý, vẹo cột sống, các tư thế chống đau, gãy khúc đường gai sống… Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại, đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ có thể phát hiện những trường hợp có phồng, lồi (protrusion) hoặc thoát vị đĩa đệm (herniation) mà không có triệu chứng lâm sàng.

Khám kỹ lâm sàng có thể định khu được đĩa đệm bị tổn thương như trong trường hợp kích thích rễ L5: Phản xạ gân gót bình thường, giảm hoặc mất cảm giác phía ngón cái (có thể tăng ở giai đoạn kích thích), không đi được bằng gót, teo nhóm cơ cẳng chân trước ngoài, các cơ mu chân. Hay trong trường hợp kích thích rễ S1: Phản xạ gót giảm hoặc mất, cảm giác giảm hoặc mất phía ngón út, không đi được bằng mũi chân, teo cơ bắp cẳng chân, cơ gan bàn chân.

Cập nhật các biện pháp điều trị

Điều trị nội khoa:

Bệnh nhân cần có chế độ bất động trong giai đoạn đau cấp tính. Những khuyến cáo gần đây là nên cho vận động sớm ngay khi đau giảm tuỳ theo cảm nhận của bệnh nhân nhằm tăng khả năng của cơ cột sống. Cũng có thể kết hợp vật lý liệu pháp: dùng nhiệt, xoa nắn chỉnh hình, điện xung, sóng ngắn, châm cứu, kéo giãn cột sống.

Thuốc chống viêm giảm đau không steroid có thể dùng dạng tiêm giai đoạn cấp, sau đó thay bằng đường uống trong vòng 2-3 tuần. Thuốc giãn cơ dùng khi có co cứng cơ cạnh cột sống. Tiêm corticoid ngoài màng cứng được áp dụng từ hơn 50 năm nay, tuy nhiên, khi theo dõi lâu dài một số nghiên cứu nhận thấy phương pháp này không hơn gì phương pháp giả dược khi đánh giá về tác dụng giảm đau và tỷ lệ bệnh nhân phải phẫu thuật.

Điều trị can thiệp: Kỹ thuật tiêm trực tiếp vào đĩa đệm làm tiêu nhân nhày bằng chymopapaine, gần đây kỹ thuật này rất ít sử dụng do tai biến nhiều (dị ứng, vôi hóa đĩa đệm). Phương pháp làm giảm áp đĩa đệm bằng laser và lấy nhân nhày qua da bằng tay. Gần đây điều trị thoát vị đĩa đệm bằng sóng có tần số radio cũng bắt đầu được thực hiện ở nước ta.

Phẫu thuật: Chỉ định phẫu thuật trong các trường hợp điều trị nội khoa đúng phương pháp trên 3 tháng mà không có kết quả, người bệnh đau rất nhiều, liên tục, không giảm khi nghỉ ngơi hay dùng thuốc giảm đau, có biểu hiện liệt hay yếu một phần hay toàn bộ cơ lực của các nhóm cơ mà do các rễ thần kinh chi phối. Mất phản xạ gân gót luôn luôn tồn tại trong thể liệt nặng, nhưng nếu chỉ mất phản xạ gân gót đơn độc mà không kèm với liệt vận động thì không phải là một dấu hiệu của sự nặng bệnh và triệu chứng đó thường tồn tại sau cả khi đã hết đau. Có hội chứng đuôi ngựa: thường gặp trong đau rễ L5 (khối thoát vị lớn, thể trung tâm) biểu hiện bằng rối loạn cơ tròn (bí hay tiểu, đại tiện không tự chủ); đau thần kinh tọa kiểu nhiều rễ và hai bên; giảm hay mất cảm giác vùng yên ngựa (vùng tầng sinh môn); mất phản xạ gân gót.

Kỹ thuật mổ nội soi ít xâm lấn được áp dụng trong những năm gần đây và ngày càng phát triển vì tính chất ưu việt của phương pháp: ít xâm lấn, ít gây tổn thương tổ chức, đặc biệt là giảm nguy cơ xơ hóa sau phẫu thuật. Phương pháp điều trị phẫu thuật cho một tỷ lệ thành công khá cao: từ 70 – 90% các trường hợp tùy theo các phương pháp phẫu thuật. Triệu chứng đau kiểu rễ thần kinh thường biến mất sau mổ nhưng triệu chứng đau thắt lưng có thể tồn tại kéo dài.

BS. Phan Ngọc Minh
Theo SKĐS

Thuốc chống trầm cảm: Cẩn trọng với tác dụng phụ

Trầm cảm có thể do các yếu tố nội sinh, sang chấn tâm lý, căng thẳng tâm lý kéo dài, do tâm lý – xã hội, do các bệnh ở não,  suy nhược…, trừ một số trầm trọng phải nằm viện, số còn lại thường chữa tại nhà. Người bệnh, người nhà cần biết  về thuốc và tác dụng phụ để dùng đúng chỉ dẫn mới có hiệu quả và tránh tai biến.

Trong quá trình dẫn truyền thần kinh, các chất serotonin, dopamin, adrenalin, noradrenalin có giai đoạn bị “khử hoạt tính” do “sự nắm bắt” và “tái nắm bắt neuron”. Khi các chất này bị giảm sút quá mức sẽ tạo ra trạng thái ức chế (giảm khí sắc, giảm năng lượng, giảm hoạt động) gọi là trầm cảm. Các thuốc chống trầm cảm ức chế “sự nắm bắt” và “tái nắm bắt” neuron (có hay không chọn lọc) nên chống lại được trạng thái này.

Tuy  cơ chế tác dụng gần như nhau nhưng trong lâm sàng mỗi thuốc chỉ đáp ứng  trên một số trạng thái trầm cảm nhất định. Ví dụ, các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (amitriptylin) dùng trong trầm cảm nội sinh (loạn tâm thần hưng trầm cảm); exffexor dùng trong rối loạn ưu tư lan rộng; fluoxetin dùng trong trầm cảm rối loạn ám ảnh-bức bách. Người bệnh, người nhà không thể tự nhận biết, phân biệt được nên phải khám chuyên khoa từ đầu cũng như tái khám (khi có diễn biến) để được chỉ định đúng thuốc.

thuoc_chong_tram_cam_can_trong_voi_tac_dung_phu

Não của người mắc chứng trầm cảm                      Não người bình thường

Một số tác dụng phụ và  tương tác thường gặp ở thuốc chống trầm cảm

– Làm xuất hiện ý nghĩ tự sát: hiện tượng này hay xảy ra lúc mới điều trị. Người bệnh có thể  bỏ thuốc hoặc có hành vi nguy hiểm. Bệnh nhân nên được quản lý ở bệnh viện hoặc có người nhà theo dõi.

– Gây căng thẳng, mất ngủ: thường xuất hiện lúc mới dùng thuốc, giống như quá liều. Cần chỉnh liều hoặc cho kết hợp thêm thuốc làm dịu.

– Làm hạ ngưỡng động kinh: Làm cho người động kinh dễ lên cơn co giật. Phải ngừng ngay thuốc khi xuất hiện cơn co giật.

Thuốc trầm cảm được chuyển hoá hầu hết tại gan, thải trừ qua thận dưới dạng chuyển hoá. Người có chức năng gan thận bị suy giảm khi dùng thuốc sẽ xuất hiện các triệu chứng như quá liều. Người già thường bị một số nhạy cảm quá mức như: hạ huyết áp tư thế đứng gây sốc, táo bón lâu ngày gây liệt ruột. Với những người này phải giảm liều đến mức thấp nhất mà vẫn  duy trì được hiệu quả chữa bệnh (có khi chỉ còn bằng nửa liều người bình thường).

Một số thuốc (đặc biệt thuốc chống trầm cảm 3 vòng, 4 vòng) thường gây nên một số triệu chứng (kháng cholinergic) khá phức tạp như: khô miệng, buồn nôn, táo bón; nhịp nhanh, hạ hay tăng huyết áp, tăng tiết mồ hôi, phát ban; nhức đầu, chóng mặt, lú lẫn; nhìn mờ, tăng áp lực nội nhãn, nhạy cảm với ánh sáng, thay đổi glucose huyết, gây chứng vú to, phồng tinh hoàn ( ở nam), tăng tiết sữa (nữ). Để khắc phục: chỉ cho uống một liều duy nhất vào buổi tối thì các triệu chứng này hầu như không xảy ra. Ở người trung niên, người già, triệu chứng này hay xảy ra hơn, cần phải giảm liều. Tránh dùng cùng lúc các thuốc này với các thuốc thường gây ra các triệu chứng trên (như atropin, ephedrin…).

Thuốc  hấp thụ vào thai, tiết vào sữa ở mức  gây nguy hiểm cho thai và trẻ bú mẹ. Tốt nhất không nên dùng khi có thai hoặc cho con bú.

Khi dùng các thuốc chống trầm cảm khác cùng lúc với IMAO hoặc khi mới ngừng dùng IMAO chưa đủ 14 ngày sẽ làm tăng tiềm năng thuốc gây ra hội chứng  bất thường về tâm thần (vật vã, hưng cảm, lú lẫn, hôn mê), về vận động (giật rung cơ, run rẩy, tăng phản xạ, cứng đờ), về thần kinh thực vật (hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, rùng mình, sốt cao, đổ mồ hôi…). Nếu vì lý do phải thay thuốc IMAO bằng thuốc trầm cảm khác hoặc thay thuốc trầm cảm khác bằng IMAO thì phải có khoảng ngừng thuốc giữa các đợt thay ít nhất là 14 ngày (riêng fluoxetin chỉ dùng khi đã ngừng IMAO 35 ngày). Rượu làm tăng hiệu lực thuốc và gây độc. Không uống rượu khi dùng thuốc.

Các thuốc làm cường giao cảm, thuốc làm dịu benzodiazepam và các thuốc làm trầm suy thần kinh trung ương khác… làm tăng cường tiềm năng thuốc chống trầm cảm.  Các thuốc chống trầm cảm lại đối kháng với các thuốc chống động kinh như barbituric, carbamazepin, phenytoin. Không dùng chung thuốc trầm cảm với các thuốc này trừ trường hợp đặc biệt có chỉ định của thầy thuốc (ví dụ trong thời kỳ đầu trị liệu, người  bệnh bị căng thẳng, mất ngủ có thể cho dùng kết hợp với thuốc làm dịu).

Một số các thuốc chống trầm cảm khi dùng chung với nhau cũng không có lợi, thường làm tăng tiềm năng thuốc, gây độc  (ví dụ: fluoxetin làm tăng cường tiềm năng của thuốc chống trầm cảm 3 vòng).

Dùng thế nào cho đúng?

Thường dùng bắt đầu với liều thấp, tăng dần đến đạt yêu cầu, rồi duy trì liều đó, nhưng cũng có khi thấy xuất hiện các hiện tượng như quá liều (do người bệnh tăng tính nhạy cảm hay do gan thận giảm chức năng) lại phải giảm liều, hoặc lúc trạng thái bệnh có thay đổi phải điều chỉnh liều hoặc thay thuốc. Không tăng hay giảm liều một cách đột ngột để tránh các phản ứng bất lợi. Môi trường sống, môi trường gia đình – xã hội rất quan trọng với người bệnh trầm cảm, cần chú ý phối hợp. Tuy nhiên cần biết rõ khi bị bệnh thì nhất thiết phải chấp nhận việc dùng thuốc và không bỏ dở khi chưa đủ liệu trình. Người bệnh trầm cảm thường phải dùng nhiều thuốc trong thời gian dài, khó chủ động làm tốt các việc này. Người nhà cần làm cho người bệnh thông suốt, giúp nhận quản lý và cho họ uống thuốc đúng chỉ dẫn. Mặt khác phải theo sát và cùng người bệnh phát hiện với thầy thuốc những bất thường (diễn biến bệnh, tác dụng phụ) để xử lý  kịp thời.

Thuốc chống trầm cảm khó dùng nhưng do đặc thù chữa bệnh thường được cho dùng tại nhà, vì vậy, sự kết hợp chặt chẽ giữa người bệnh – người nhà- thầy thuốc giúp cho việc dùng thuốc hiệu quả an toàn hơn.

DS. Hà Thủy Phước
Theo SKĐS

Chấn thương sọ não ở trẻ em

Trong ba ngày qua, khoa ngoại thần kinh Bệnh viện Nhi Đồng 2 đã phẫu thuật hai trường hợp chấn thương sọ não (CTSN) ở trẻ em. Một là bé trai 3 tuổi được cha mẹ chở trên xe gắn máy bị xe gắn máy khác tông phải. Bé không đội mũ bảo hiểm, bị té đập đầu, gây vết thương sọ não và lõm sọ. Trường hợp thứ hai là bé gái 7 tuổi té từ trên cao gây máu tụ ngoài màng cứng.

Bác sĩ chuyên khoa 1 Nguyễn Thành Đô, tổ trưởng tổ ngoại thần kinh Bệnh viện Nhi Đồng 2, cho biết CTSN ở trẻ em thường do bất cẩn trong sinh hoạt (chiếm 60% trường hợp), thường gặp nhất là té cầu thang, té giường, té võng hay do người lớn bồng ẵm tuột tay. Các lý do tiếp theo là té xe đạp, tai nạn giao thông, vật nặng va đập trúng đầu. CTSN thường gặp ở bé trai nhiều hơn bé gái do hiếu động hơn, đa số ở lứa tuổi 1-6. Trẻ càng nhỏ càng dễ bị CTSN do phần đầu còn to và nặng, thường rơi xuống trước, các bé lại chưa có khả năng điều chỉnh tư thế cân bằng khi ngã.

chan_thuong_so_nao_o_tre_em

CTSN nhẹ nhất là tụ máu dưới da đầu, thường gọi là u đầu hay sưng da đầu. Khi sờ sẽ thấy một cục nhỏ mềm dưới da đầu. Khối u sẽ tự tan sau vài ngày đến vài tuần. Nặng hơn là các tổn thương ở xương sọ như nứt xương, lõm sọ hay vết thương sọ não. Trầm trọng hơn là các thương tổn trong hộp sọ như máu tụ ngoài hay dưới màng cứng, dập não.

Nếu chấn thương nhẹ, bé hoàn toàn tỉnh táo, không có dấu hiệu gì lạ thì cha mẹ có thể chăm sóc bé tại nhà, nhưng cần theo dõi chặt chẽ mỗi hai giờ một lần trong suốt 24 giờ đầu tiên. Những dấu hiệu cần phải theo dõi là:

– Tình trạng lúc tỉnh lúc mê.

– Ngủ mê kêu không thức dậy.

– Nhức đầu dữ dội.

– Lỗ tai hoặc lỗ mũi chảy nước trong.

– Ói mửa nhiều lần.

– Co giật tay chân.

– Sưng lớn nơi da đầu.

Nếu bé có những dấu hiệu trên hoặc sau té mà bé bất tỉnh ngay thì cần đưa nhanh tới bệnh viện để được bác sĩ thăm khám, tư vấn, nếu cần có thể phải nhập viện theo dõi. CT scan sọ là phương pháp tối ưu để phát hiện CTSN. Tuy nhiên việc chụp CT scan chỉ nên thực hiện khi có chỉ định của bác sĩ vì tia X dù cường độ nhỏ cũng nên tránh cho trẻ nhỏ. Tránh tâm lý yêu cầu bác sĩ phải chụp phim X-quang hay CT scan bằng mọi giá để yên tâm.

Theo bác sĩ Đô, chẩn đoán và theo dõi một trường hợp CTSN còn bao gồm nhiều yếu tố quan trọng khác như theo dõi sự thay đổi tri giác, thăm khám trẻ nhiều lần để tìm các dấu hiệu thần kinh, chứ không đơn thuần là chụp một phim X-quang hay CT scan.

Để tránh những hậu quả nghiêm trọng do CTSN gây ra, các bậc phụ huynh có con nhỏ chú ý những lời khuyên sau đây:

– Trông nom cẩn thận khi trẻ mới biết bò, biết đi.

– Giường nằm của trẻ cần có tấm chắn, dưới chân giường trải nệm để nếu ngã trẻ đỡ bị chấn động.

– Không để trẻ tự ý leo lên gác cao, cửa sổ đang mở hoặc lần bước xuống thang gác.

– Khi chở các trẻ lớn đi xe hai bánh nên đội mũ bảo hiểm cho trẻ.

– Khi xảy ra chấn thương ở đầu cần cho trẻ đi khám ngay. Nếu bác sĩ cho về nhà, trẻ vẫn phải được theo dõi sát theo hướng dẫn trong vòng một tuần.

Hiện nay, tại TP.HCM có hai bệnh viện có chuyên khoa ngoại thần kinh nhi để điều trị CTSN ở trẻ em là Bệnh viện Nhi Đồng 2 và Bệnh viện Chợ Rẫy.

Đăng bởi: BS TRƯƠNG ANH MẬU (Bệnh viện Nhi Đồng 2)
Theo benhviennhi.org.vn

Tâm lý của trẻ khiếm thính

Đặc trưng của cộng đồng trẻ điếc thần kinh giác quan là mối cá nhân đều có sự khác biệt và nhu cầu của mỗi cá nhân cũng khác nhau. Dạng và mức độ khiếm thính của đứa trẻ này có thể khác so với đứa trẻ khác. Và sự khác nhau như vậy tự nó đã tạo ra các sự khác biệt của từng cá nhân về tỷ lệ cần thiết điều chỉnh nội dung của chương trình giáo dục.

Khiếm thính tự nó có thể gây ra các vấn đề về trí tuệ, học tập. Tiếp nữa, khiếm thính và cộng thêm các vấn đề khác về thể chất, giác quan, và/hoặc các vấn đề về trí tuệ có thể cùng có chung một nguyên nhân. Đối với lý do sau cùng, đứa trẻ bị điếc thần kinh giác quan cần được gửi đi khám thần kinh. Các tổn thương thần kinh có thể có những biểu hiện bên ngoài như: mập bất thường, các kỹ năng vận động tinh tế bị ảnh hưởng, như ảnh hưởng khả năng nói, ra dấu hiệu, khả năng đọc ra dấu ngón tay. Các dấu hiệu này có thể đi kèm hoặc tự gia tăng những thiếu hụt tâm lý khác ảnh hưởng đến việc học tập.

tam_ly_cua_tre_em_khiem_thinh

Một buổi học cho trẻ khiếm thính

Một danh sách rất dài về các tàn tật tâm – thần kinh và tâm lý đã được Pollack liệt kê. Dưới đây là những bàn luận ngắn về những tàn tật này để cố gắng báo động cho các giáo viên cũng như nhân viên y tế biết về nó.

Các tàn tật về tâm – thần kinh

Những khó khăn về tâm – thần kinh thường liên quan đến nghe kém bao gồm: không có khả năng học, chứng mất hay khó phối hợp động tác, chứng loạn vận ngôn (phát âm không rõ, dù ý nghĩa và nội dung ngôn ngữ vẫn bình thường), hoặc dáng người không vững do vấn đề về trương lực cơ hay đồng vận. Đối với dáng đi không vững, cần kiểm tra tổn thương tiền đình. Sự kém phối hợp các cơ ở trẻ nhỏ có thể gây ra sự vụng về, sự té ngã, khó khăn ngồi và các vấn đề về kiểm soát đầu. Đây là những dấu hiệu điển hình của rối loạn chức năng tiền đình. Các dấu hiệu của thiếu hụt thần kinh do tổn thương não bao gồm các dấu hiệu điển hình liên quan tới các chuyển động nhỏ trong sử dụng “cầm”, “nắm”; có rối loạn chức năng cơ toàn thân, ví dụ: sự liệt co cứng, hoặc liệt nhão, cũng như các sự co cứng cơ hoặc co cứng giống múa giật hoặc run có thể xuất hiện ở các cơ “nói”.

Các ảnh hưởng trong cư xử

Trẻ điếc thần kinh giác quan có thể có tính hiếu động thái quá, khó tập trung, căng thẳng, sợ hãi… Những triệu chứng này có thể là “hội chứng hiếu động thái quá”, hoặc “rối loạn sự tập trung”. Các triệu chứng khác mà người ta hay thấy xuất hiện với tần suất cao là sự vụng về, phân biệt trái, phải khó khăn, chứng mất khả năng viết và các khó khăn trong sự phối hợp toàn thân.

Có rất nhiều cố gắng nhằm xác định các nguyên nhân của tính hiếu động thái quá ở trẻ nghe bình thường. Vài nguyên nhân được cho là do di truyền, một trong bố hoặc mẹ hoặc cả hai nghiện rượu, cha mẹ bị rối loạn tâm lý, sử dụng thuốc trong thời gian mang thai, các chấn thương khi sinh, thức ăn. Tuy nhiên bản chất cơ bản đặc biệt của tính hiếu động ở trẻ nghe bình thường và ở trẻ khiếm thính thường không được biết. Đối với trẻ khiếm thính, khi thính giác bị mất làm tăng sự thúc đẩy phải nhìn. Điều này có nghĩa là trẻ khiếm thính có thể học để khám phá môi trường xung quanh mình bằng cách nhìn hiệu quả hơn.

Kiểm tra tâm lý

Nhiều kỹ thuật kiểm tra không dùng văn bản hay lời nói được thiết kế để sử dụng cho trẻ khiếm thính. Nhà tâm lý học nhìn chung có khả năng đánh giá chức năng trí tuệ và sự phát triển hiểu biết, cũng như những khó khăn về tâm – thần kinh và khó khăn về ứng xử liên quan đến điếc thần kinh giác quan của những trẻ này. Cần có một đánh giá tâm lý hoàn chỉnh đối với trẻ khiếm thính bao gồm: đo lường về trí tuệ, đánh giá về tính cách, xác định tổn thương não, đo kết quả giáo dục và một đánh giá về kỹ năng giao tiếp.

Kiểm tra tâm lý có thể cung cấp không chỉ dữ liệu về trí tuệ mà còn đo đạc chức năng học thuật và xác định các vùng có vấn đề đặc biệt. Các kết quả của việc kiểm tra tâm lý có thể cung cấp các thông tin quan trọng để mang lại nhiều hiệu quả cho trẻ trong điều trị.

Trí tuệ

Trí thông minh của trẻ khiếm thính không bị kèm theo các tổn thương về thần kinh khác nhau từ kém đến có những năng khiếu tự nhiên như những trẻ nghe bình thường. Điều quan trọng là phải đánh giá đúng trí thông minh của một đứa trẻ khiếm thính và tiềm năng phát triển các kỹ năng giao tiếp và đặt ra các mục tiêu giáo dục. Các khả năng tâm lý ngôn ngữ của trẻ nghe bình thường nhưng chậm phát triển tâm thần bị ảnh hưởng bất lợi. Rohr và Burr đã so sánh khả năng tâm lý ngôn ngữ của 131 trẻ chậm phát triển tâm thần (IQs từ 30 đến 60) trên nhiều nhóm nguyên nhân khác nhau bao gồm hội chứng Down, tổn thương não sinh học (sinh thiếu cân và các điều kiện bẩm sinh như: não nhỏ), chậm phát triển do nguyên nhân môi trường (chấn thương sản khoa, chấn thương đầu sau sinh), và các trường hợp không rõ nguyên nhân. Trẻ em bị Down có khả năng nghe nói kém hơn nhiều so với trẻ của các nhóm nguyên nhân chậm phát triển tâm thần khác.

Điều trị

Có nhiều vấn đề và sự cần thiết đối với trẻ điếc thần kinh giác quan kèm kém các khả năng về tâm thần kinh và kém trong ứng xử. Vì vậy, cần sắp xếp một chương trình bao gồm thuốc chống tăng động, chỉ dẫn giáo dục cho từng đối tượng, áp dụng trị liệu giao việc và trị liệu tâm lý. Trong trường hợp hiếu động thái quá, việc sử dụng các chất kích thích đơn độc không có hiệu quả. Điều trị hiếu động thái quá với chế độ dinh dưỡng khác nhau ngày càng trở nên phổ biến.

Rõ ràng, các vấn đề một số cơ không hoạt động phối hợp do kém chức năng tiền đình hoặc tổn thương não sẽ làm trở ngại các hoạt động học tập dù sử dụng bất kỳ chương trình giáo dục nào. Vai trò của nhà điều trị y khoa và giáo dục là đánh giá và điều trị những khiếm khuyết này qua việc thay đổi kém chức năng thần kinh bằng việc gia tăng các hoạt động trung ương của hệ thống giác quan và vận động và phát triển chức năng của các hệ thống xúc giác, tiếp nhận, tiền đình và hệ thống nhìn.

Trẻ và gia đình cần được tư vấn hoặc phục hồi tâm lý. Việc ưu tiên là đưa kiểm tra tâm lý trở thành thường quy. Không may, việc điều trị thường có nhiều bất lợi và chậm trễ vì: cha mẹ không tin con mình bị chậm phát triển tâm thần, không tin tưởng chương trình điều trị và giáo dục sẽ đem lại tiến bộ cho trẻ.

BS.CKII. NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
(Theo Strategies for Habilitation)
Theo SKDS

Những dấu hiệu cảnh báo bệnh tâm thần ở trẻ em

Các bậc cha mẹ thường không để ý tới những dấu hiệu mắc bệnh tâm thần ở trẻ và hậu quả là nhiều trẻ em đã không được điều trị đúng cách khi mắc bệnh.

nhung-dau-hieu-benh-tam-than-o-tre-nho

• Các rối loạn lo âu. Trẻ em bị rối loạn lo âu do bị ám ảnh ức chế, rối loạn căng thẳng do ảnh hưởng bởi chấn thương tâm lý gây ra những lo lắng dai dẳng, ảnh hưởng tới cuộc sống hàng ngày của trẻ.

• Thiếu chú ý và quá hiếu động (Bệnh ADHD). Biểu hiện là trẻ gặp khó khăn trong việc duy trì sự chú ý, hiếu động thái quá và hành vi bốc đồng, bộc phát, không kiềm chế được.

• Tự kỷ là một trong nhóm các vấn đề nghiêm trọng được gọi là rối loạn phổ tự kỷ xuất hiện trong thời thơ ấu – thường xuất hiện ở trẻ dưới 3 tuổi. Mặc dù các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng khác nhau nhưng tất cả rối loạn tự kỷ đều ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của một đứa trẻ.

• Rối loạn ăn uống. Rối loạn ăn uống như chán ăn hay ăn quá nhiều đều là những dấu hiệu đáng lo ngại.

• Rối loạn tâm trạng. Rối loạn tâm trạng như trầm cảm gây ra sự biến đổi cảm xúc, không ổn định, cảm xúc liên tục thay đổi.
Các dấu hiệu cảnh báo nghiêm trọng:

– Tâm trạng thay đổi. Luôn có cảm giác buồn bã hoặc cảm giác sợ hãi tràn ngập không có lý do ảnh hưởng tới những mối quan hệ của trẻ trong gia đình và trường học.

– Hành vi thay đổi. Bao gồm những thay đổi mạnh mẽ trong hành vi, nhân cách, cũng như hành vi nguy hiểm không kiểm soát.

– Khó tập trung ảnh hưởng tới kết quả học tập ở trường.

– Lạm dụng chất kích thích. Một số trẻ em sử dụng ma túy hoặc rượu để cố gắng đối phó với cảm xúc của mình.

(Theo Antd/MSN)