Tag Archives: táo bón

Táo bón ở dân văn phòng

Trong nhịp sống hối hả và bận rộn, sự phổ biến của thực phẩm ăn nhanh chứa nhiều phụ gia, đường, muối, mỡ bão hòa, ít chất xơ, cộng thêm cơ thể ít vận động,… khiến số người bị táo bón ngày càng nhiều. Theo các cuộc khảo sát gần đây nhất, nhóm đối tượng chiếm tỉ lệ bệnh cao là dân văn phòng/công sở, do tính chất, áp lực công việc,…

Táo bón không chừa một ai

tao-bon-o-dan-van-phong
Theo số liệu thống kê của Đại học Y Dược TP.HCM, tại Việt Nam, cứ 3 người thì có 1 người mắc bệnh táo bón, 59% số bệnh nhân bị táo bón là do những nguyên nhân chủ quan. Riêng những năm gần đây, tình trạng bệnh ở độ tuổi từ 25-35, đặc biệt là đối tượng dân văn phòng, đang ngày càng tăng mạnh.

Bệnh táo bón là một chứng bệnh thường gặp, không chỉ gây cho người bệnh những cảm giác khó chịu mà còn có thể dẫn đến một số vấn đề nguy hiểm hơn cho sức khỏe.

Nguyên nhân gây nên táo bón
– Do dinh dưỡng: những người bị táo bón thường có chế độ ăn không hợp lý, đặc biệt với những người ăn ít chất xơ. Người có chế độ ăn kiêng khắt khe cũng dễ bị táo bón.

– Uống ít nước: nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa trong cơ thể và giúp thức ăn dễ tiêu hóa. Khi lượng nước không đủ đáp ứng nhu cầu của cơ thể, rất dễ gây táo bón.

– Do tâm lý: thói quen nhịn đi cầu, đặc biệt là vừa đi vừa đọc sách, báo làm kéo dài thời gian đại tiện cũng là một trong những nguyên nhân gây ra táo bón.

– Một số nguyên nhân khác: bệnh lý ở đại tràng, các bệnh nội tiết như suy giáp trạng, cường giáp trạng… Sử dụng thuốc làm giảm chức năng vận chuyển đại tràng như: thuốc giảm đau, thuốc điều trị tăng huyết áp. Nghề nghiệp phải ngồi lâu, ít vận động cũng là một nguyên nhân của táo bón.

Hậu quả khó lường

tao-bon-o-dan-van-phong1
Táo bón, một chứng bệnh nghe có vẻ đơn giản, nhưng đừng chủ quan coi thường, không ít người đã phải chịu những tác hại khôn lường từ chứng bệnh này, thậm chí dẫn đến tử vong vì “ủ bệnh” quá lâu mà không có biện pháp điều trị kịp thời.

Điển hình là chị Nguyễn Thị Lan, 32 tuổi, một nhân viên công sở bị táo bón mãn tính đã hơn 05 năm, mỗi lần đại tiện rất khổ sở, không chỉ ra máu mà còn lòi thịt ra cả hậu môn. Chị đã cắt trĩ đau đớn vô cùng, nhưng vẫn không hết. Chấp nhận sống chung với bệnh, mỗi lần lòi ra, chị lại ấn vào, nhưng gần đây chỗ đó xuất hiện cả một khối phồng như quả cà chua, thường kèm theo rớm máu, đau, chảy nhầy hoặc són phân liên tục, không ấn vào được. Đoạn trực tràng sa bị nghẽn vì cơ hậu môn co thắt, phù nề, niêm mạc tím tái dần có các mảng hoại tử.

Nguy hiểm hơn, trường hợp của anh Đinh Văn An là trưởng phòng 1 công ty xây dựng tại Q.2. Do phải làm việc liên tục, cộng thêm việc ăn uống thiếu chất dẫn tới táo bón có khi cả tuần lễ không đi tiêu được. Hậu quả bệnh nhân bị thủng ruột do quá trình táo bón lâu ngày gây biến chứng ruột cấp dẫn đến thủng đại tràng xích-ma, thêm việc để lâu không có phương pháp điều trị đúng cách nên khi đưa tới bệnh viện thì đã quá muộn, gây biến chứng nặng nề.

Theo Bác sĩ Hồ Lê Ái Xuân – Trung tâm Tầm Soát Sức Khỏe: “Hầu hết với các trường hợp trên, nguyên nhân do quá trình chậm lưu thông của phân trong ruột già dẫn đến rối loạn tái hấp thu chất độc ngược lại cơ thể gây nhiễm độc và nhiễm khuẩn. Quá trình bán tắc có thể dẫn tới phân bị cô đặc tạo thành sỏi phân gây tắc ruột nếu phẫu thuật không kịp thời có thể vỡ ruột gây viêm phúc mạc như trường hợp trên là rất nặng nề vì bệnh nhân phải chấp nhận đến hai lần mổ, không chỉ gây tổn hại sức khoẻ mà đôi khi người bệnh phải đối diện với nguy cơ tử vong. Chẳng những vậy mà còn có thể bị tắc ruột sau mổ trở lại”

Chữa táo bón: trăm phương nghìn kế
Nhiều người muốn giải quyết nhanh bệnh táo bón thường sử dụng tân dược. Tuy nhiên, nhiều loại thuốc thường đi kèm với tác dụng phụ. Việc sử dụng tân dược quá nhiều trong thời gian dài cũng khiến người bệnh phụ thuộc vào thuốc mà không chắc đã khỏi bệnh.

Một trong những cách phổ biến để chống táo bón là thay đổi khẩu phần ăn. Người bệnh có thể ăn nhiều thức ăn tốt cho nhuận trường như: rau đay, mồng tơi, rau sam, càng cua, giá đỗ, khoai lang.
Người mắc táo bón cần uống nước nhiều, ăn thêm nhiều rau củ để bổ sung chất xơ giúp kích thích nhu động ruột, có thể giúp giảm táo bón. Các loại thức ăn nên kiêng là rượu, trà, cafe, đồ chiên rán, nhiều đạm. Tuy nhiên, cách trị táo bón này thường phải thực hiện lâu dài, tác dụng đến rất chậm, đặc biệt với những người đã bị táo bón nhiều lần và nặng.

Cần lưu ý khi dùng thuốc dạng sủi

Không phải bệnh nào cũng uống

Đối với những người già, trẻ nhỏ hay những đối tượng khó uống thuốc, thì những loại thuốc dạng viên sủi như dạng cứu cánh dễ uống dễ sử dụng và rất tiện lợi.

Ưu điểm của thuốc dạng viên sủi là dễ uống, tác dụng nhanh, tiện dụng vì trước khi uống viên sủi được chuyển thành dạng lỏng mang lại hiệu quả tức thì. Trong các thuốc dạng viên sủi thường có mùi hương dễ chịu nên người bệnh mọi lứa tuổi đều thích uống.

thuoc-sui

Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc dạng viên sủi, nhiều người không biết cách hoặc sử dụng viên sủi tùy tiện như uống quá nhiều trong ngày, uống không đúng thời điểm, hoặc pha viên sủi với một số thứ khác linh tinh… Những người đang có những bệnh mà không thể dùng viên sủi này, nhưng vẫn uống dẫn đến việc không những không khỏe mà còn nguy cơ sinh bệnh như anh Hòa và chị Nga đã không tìm hiểu kỹ hoặc tư vấn của những người có chuyên môn để đến khi “tiền mất tật mang” mới ngã ngửa người ra.

Nguyên tắc sử dụng thuốc dạng sủi

Thuốc có tác dụng nhanh, nhưng thuốc có thể gây hại cho sức khỏe nếu lạm dụng hoặc sử dụng không đúng cách.

Ngoài ra, thuốc dạng sủi phải giữ nguyên vẹn viên, phải bảo quản thật tốt để tránh hút ẩm. Bạn không nên dùng thuốc dạng sủi khi đã bị ẩm, vỏ thiếc đã bị thủng. Nên để thuốc ở xa tầm tay của trẻ em.

Bạn chỉ nên uống thuốc sau khi thuốc đã hòa tan hoàn toàn vào một lượng nước sôi để nguội theo hướng dẫn. Đặc biệt, bạn không được bẻ thuốc sủi hoặc để nguyên cho vào miệng và uống. Liều thuốc được chia đều cách nhau ít nhất 4 giờ, người suy thận mỗi lần uống cách nhau ít nhất 8 giờ.
Thuốc dạng sủi có thể gây đầy hơi, táo bón hoặc tiêu chảy, vì thế không nên dùng viên thuốc sủi sau khi đã uống các loại nước giải khát có gas.

Đối với các loại thuốc sủi giảm đau hạ sốt không dùng chung với các loại thuốc khác có chứa paracetamol vì sẽ gây quá liều điều trị.

Những thuốc sủi Efferalgan dành cho người lớn và trẻ em cân nặng trên 15kg, được chỉ định dùng trong các trường hợp đau vừa và đau nặng khi dùng các thuốc khác không kết quả. Những người có tiền đau dạ dày khi dùng loại thuốc giảm đau này cần phải có hướng dẫn cụ thể của bác sĩ, nếu chúng ta lạm dụng quá nhiều vào thuốc dạng sủi giảm đau này càng khiến bệnh dạ day của bạn trở nên tồi tệ.

Đặc biệt, đối những người bị cao huyết áp, người suy thận và những người kiêng ăn muối tuyệt đối không dùng thuốc dạng sủi bọt nói chung. Bởi vì, bất cứ viên sủi bọt nào cũng chứa natri (muối). Vì thế nếu ta dùng nhiều thuốc dạng viêm sủi sàng làm cho bệnh trở nên trầm trọng hợn.

Ngoài ra, có một số thuốc dạng sủi bổ sung vitamin C và canxi, có chứa thành phần muối khoáng canxi thì những người bị bệnh canxi cao trong máu và người sỏi thận cần hết sức lưu ý.

Tốt nhất khi sử dụng các dạng thuốc viên sủi bất kể là thuốc bổ, thuốc điều trị hay các loại thuốc dạng vitamin cũng cần có sự hướng dẫn của bác sĩ để tránh những tác dụng phụ có thể xảy ra khi sử dụng.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh nghề nghiệp của doanh nhân

Mỗi nghề nghiệp trong xã hội đều đáng tôn trọng. Khi gặp ai đó là doanh nhân, chúng ta thường nghĩ họ là những người có năng lực, dám nghĩ, dám làm. Nhưng họ cũng là những người chịu áp lực nặng nề của công việc, thậm chí nếu không giải quyết được, họ có thể mắc những chứng bệnh liên quan đến stress như rối loạn lo âu, trầm cảm và mất ngủ.

Bệnh lo âu là một căn bệnh thường gặp với các biểu hiện bồn chồn, lo lắng, đứng ngồi không yên; tim đập nhanh, cảm giác khó thở, đau vùng ngực; rối loạn tiêu hóa – đau dạ dày, đi ngoài phân lỏng có khi là táo bón; ngủ kém; tăng huyết áp; căng cứng cơ; dễ mệt mỏi; buồn nôn, run chân tay; cảm giác không muốn gần gũi, tiếp xúc với mọi người.

Bệnh trầm cảm cũng thường gặp với biểu hiện buồn chán, bi quan về tương lai; mệt mỏi, không muốn làm việc; ăn không ngon miệng; gầy sút cân; ngủ kém, có trường hợp ngủ nhiều; không muốn tiếp xúc với mọi người; mất hết mọi đam mê, hứng thú trong công việc; giảm khả năng tình dục; cảm thấy mình có nhiều tội lỗi, có ý tưởng thậm chí hành vi tự sát; đau đầu và đau nhiều nơi trong cơ thể; hay quên, kém tập trung chú ý.

benh-nghe-nghiep-cua-doanh-nhan

Vậy chúng ta cần làm gì để khắc phục những chứng bệnh do stress gây ra?

Đã bao giờ các bạn tự hỏi ai gây ra stress cho bạn chưa? Với tôi, mỗi ngày khám khoảng 40 bệnh nhân thì hầu hết những câu trả lời là do các yếu tố bên ngoài, nào là mâu thuẫn với thủ trưởng, đồng nghiệp, mâu thuẫn với bạn bè, gia đình, con cái không ngoan… Tất cả nguyên nhân đều từ bên ngoài! Như vậy rõ ràng chúng ta đã để cho tất cả yếu tố bên ngoài tác động đến cơ thể của mình, đến mức không thể kiểm soát được. Tình trạng này sẽ không có lối thoát nếu chúng ta không biết cách tự điều chỉnh bản thân.

Vậy ứng phó với stress như thế nào? Bạn cần phải cố gắng tuân theo những nguyên tắc sau đây mới có thể cảm thấy thoải mái về thể chất và đặc biệt là tinh thần:

– Hãy làm việc hết mình cho ngày hôm nay, vì ngày hôm nay sẽ không bao giờ quay trở lại, hãy tận dụng hết 24 giờ quý giá của một ngày.

– Tìm ra giải pháp cho vấn đề mà bạn đang gặp phải: Xác định vấn đề khó khăn của bạn là gì, hình dung điều tồi tệ nhất có thể xảy ra và tìm cách đối phó với nó.

– Bạn nên có phương pháp thư giãn hợp lý: Chơi môn thể thao mình yêu thích; giao lưu, tâm sự với bạn bè; đi du lịch… Một số phương pháp để xả stress tốt như bạn không nên quá căng thẳng trước lời phê bình của người khác, hãy học cách tha thứ, luôn luôn cười vì cười giúp con người thư giãn và tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Nguồn sức khỏe đời sống

Tập thở nghịch bụng để khỏe mỗi ngày

Thở bụng nghịch co thắt các cơ vùng đáy chậu phối hợp với vận khí thông nhâm đốc là một kỹ thuật cổ xưa của người phương Đông, có tác dụng phòng chống và đảo ngược tình trạng lão hóa của các cơ liên quan đến chức năng sinh dục.

Thực hành đều đặn phép thở bụng nghịch, phối hợp với căng cơ có thể tăng cường sự săn chắc và trương lực các cơ vùng đáy chậu, giúp điều trị một số chứng rối loạn chức năng tình dục như rối loạn cương dương, giảm ham muốn, xuất tinh sớm, nên được gọi là phép thở hồi xuân. Tương truyền, những “ma nữ” trong lịch sử cổ đại của Trung Quốc như Hạ Cơ, Triệu Phi Yến từng làm điêu đứng nam nhân bằng thuật phòng the đều đã thực hành phương pháp thở này.

tho-nghich-bung

Người tập ngồi trên một bề mặt phẳng, hít thở điều hòa một vài hơi. Tập trung sự chú ý vào vùng đáy chậu, tầng sinh môn. Hít vào trong khi thót bụng lại, đặc biệt chú ý nhíu chặt cơ quan sinh dục và hậu môn, thở ra từ từ buông lỏng toàn thân. Khi tập quen có thể giữ nguyên tư thế khi hít vào và liên tục nhíu chặt cơ quan sinh dục và hậu môn nhiều lần, từ vài lần cho đến 20 lần trước khi thở và buông lỏng toàn thân. Mỗi ngày có thể tập 1 hoặc 2 lần. Người có bệnh tim không nên giữ hơi thở lâu và chỉ nên nhíu chặt cơ quan sinh dục và hậu môn một vài lần.

Bài tập này không chỉ có tác dụng làm săn chắc các cơ vùng đáy chậu mà còn được vận dụng để phân tán nhanh năng lượng đang tập trung ở cơ quan sinh dục lúc gần đến đỉnh điểm trong khi yêu, giúp làm chậm lại sự xuất tinh. Ngoài ra, những người làm việc bàn giấy, những người lái xe suốt ngày ngồi trước tay lái… có thể thực hành bài tập này để phòng chống bệnh trĩ, táo bón. Phụ nữ tập thở bụng nghịch thường có thể kích thích âm đạo, dẫn đến thay đổi về kết cấu và sinh lý làm cho âm đạo thu lại, trương lực cơ thắt âm đạo được tăng cường, khí huyết lưu thông, tăng cường nội tiết giúp giữ mãi vẻ đẹp thanh xuân.

Tác dụng phụ của những thói quen hàng ngày

Bạn đang dùng vitamin, tập thể dục và cung cấp rất nhiều chất xơ cho cơ thể. Vậy tại sao bạn lại thấy tình hình xấu đi?

Hóa ra một số thói quen lành mạnh có thể gây tác dụng phụ không mong muốn. Tập thể dục quá nhiều, nước ép rau củ và thậm chí gel kháng khuẩn có thể khiến bạn phải chịu một số tác dụng ngoài ý muốn. Hãy tìm hiểu và tìm cách tránh những tác dụng phụ này.

Da của bạn chuyển màu cam sau khi ăn cà rốt

Ăn quá nhiều rau quả màu cam có thể dẫn đến carotenemia, chuyên gia dinh dưỡng Amy Goodson cho biết. Carotenemia là một khái niệm xuất phát từ carotene, một chất làm cho rau quả có màu vàng cam. Mặc dù không gây hại, nhưng carotenenmia có thể khiến da có màu vàng. Việc khắc phục khá đơn giản, hãy ăn cà rốt cùng với những loại rau củ có màu xanh lá, màu vàng hoặc những màu sắc khác. Thời gian để tình trạng này mất đi trong da bạn phụ thuộc vào từng người, nhưng bạn nên ăn 1 – 2 loại rau quả màu cam cùng với rau xanh hàng ngày. Bạn vẫn sẽ có đủ dinh dưỡng mà bạn cần.

tap-the-duc

Đầy hơi do ăn quá nhiều chất xơ

Nếu bạn thay thế gạo trắng bằng gạo lứt, bánh mỳ trắng bằng ngũ cốc nguyên hạt, bạn sẽ thấy có cảm giác đầy hơi và khó chịu. “Sự đầy hơi gây ra do sự tương tác giữa vi khuẩn đường ruột và chất xơ đi qua ruột” Patrich Takahashi, giám đốc khoa Tiêu hóa tại Trung tâm Y tế ST Vicent ở Los Angeles nói. Vi khuẩn trong carbonhydrate lên men ở ruột mà không được hấp thu ở ruột non, dẫn đến đầy hơi. Tiến sỹ Takahashi cũng khuyên chỉ nên hấp thụ 14 gam chất xơ cho mỗi 1.000 calo tiêu thụ để làm giảm chứng đầy hơi.

Rượu vang đỏ làm hỏng nụ cười của bạn

Martin Hogan, giám đốc bộ phận y học nha khoa Trung tâm y tế Đại học Loyola ở Maywood đã đưa ra những lời khuyên để loại bỏ vết ố trên răng sau khi uống rượu.

Ăn phô mai hoặc trái cây

Chú ý vệ sinh răng cửa của bạn

Uống nước để làm sạch răng

Nếu có thể, hãy đánh răng.

Nước tiểu sẫm màu sau khi tập luyện quá mức

Đừng lờ đi tình trạng này. Tập luyện với cường độ cao có thể dẫn đến “tiêu cơ vân” một vấn đề xảy ra khi các chất trong mô cơ bị rò rỉ vào máu. David Kruse, một chuyên gia y học thể thao ở viện chỉnh hình Hoag, Irvine, California cho biết. Các triệu chứng có thể có hoặc không bao gồm đau nhức cơ bắp, nhưng nước tiểu sẫm màu và đau cơ nói chung và tăng nhịp tim, bạn cần phải đến trung tâm y tế để được chăm sóc. Để giảm thiểu những nguy cơ nói trên, bạn hãy uống đủ nước và tập luyện trong khả năng của bản thân. Hãy tập luyện chậm và điều độ, đừng cố gắng theo kịp một ai đó tiến bộ hơn bạn, tiến sĩ Kruse đưa ra lời khuyên.

Móng chân của bạn có màu xanh và đen khi chạy

Áp lực lặp đi lặp lại vào ngón chân có thể dẫn đến chảy máu và tụ máu ở bên dưới móng chân, Kibrom Asrat, chuyên gia về chân và mắt cá chân từ Trung tâm y tế khu vực Tri – City cho biết.“Sự tụ máu ở bên dưới có thể dẫn đến mất màu ở móng chân và gây đau dữ dội.” Hãy đến gặp bác sĩ để tìm hiểu về dấu hiệu bị nhiễm trùng, bao gồm viêm, sốt và cảm thấy ớn lạnh. Hãy cắt và vệ sinh móng chân thường xuyên và đi giày sẽ giúp làm giảm nguy cơ tụ máu ở móng chân.

Uống quá nhiều nước có thể khiến cơ thể mệt mỏi

Bạn biết rằng, cơ thể cần rất nhiều nước để hoạt động. Tuy nhiên, nếu lạm dụng nước có thể dẫn đến hạ natri trong máu. Lượng nước thừa sẽ làm loãng natri trong máu, tiến sĩ Takahashi nói. Hạ natri máu có thể gây buồn nôn, chuột rút cơ bắp, mất thăng bằng thậm chí tử vong. Trung bình, một phụ nữ cần khoảng 2 lít chất lỏng mỗi ngày, số lượng nước tiêu thụ phụ thuộc vào mức độ hoạt động, điều kiện sức khỏe và khí hậu.

Ăn quá nhiều protein gây táo bón

Thường xuyên ăn những đồ ăn nhẹ tiện dụng thay cho các bữa ăn chính có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn. Đồ ăn nhanh không chỉ ít chất xơ mà còn thiếu chất dinh dưỡng thường có trong một bữa ăn đầy đủ, ngày cả khi người ta đã tăng cường vitamin và khoáng chất trong những đồ ăn nhanh đó. Bạn nên ăn nhiều các loại thức ăn đa dạng hơn. Hãy chọn trái cây bơ đậu phộng tự nhiên hoặc sữa chua, đó là thực phẩm ít chất béo.

Lạm dụng nước rửa tay có thể làm hại đến hệ thống miễn dịch

Thật là tiện khi sử dụng gel kháng khuẩn trong 5 phút, đặc biệt là trong mùa cúm. Nhưng dùng nước rửa tay quá nhiều sẽ gây hại. Ông Michael Schmidt, tiến sĩ vi trùng học tại Đại học Y Khoa Nam Carolina ở Charleston cho biết: “Thường xuyên rửa tay sẽ giết chết các vi khuẩn có lợi và làm hệ miễn dịch của chúng ta yếu đi. Trong thực tế, một nghiên cứu về y tế công cộng của Đại học Michigan đã cho thấy, những người trẻ tuổi tiếp xúc với nhiều với xà phòng kháng khuẩn có khả năng bị dị ứng hoặc sốt. Tránh sử dụng gel rửa tay nhiều hơn 6 lần mỗi ngày. Bác sĩ Schmidt cho biết “xà phòng và nước là tốt hơn cả”.

Bàn tay bạn bị tê khi đạp xe

Những chuyến đi dài hoặc đạp xe đạp trong nhà sẽ khiến những ngón tay của bạn bị co quắp, ngứa ran hoặc không có cảm giác gì nữa. Tê cứng xảy ra khi một dây thần kinh bị kích thích hoặc bị thương. Khi đạp xe cơ thể bị giữ ở một tư thế trong một thời gian dài, đôi khi gây áp lực đến dây thần kinh. Những cơn tê cứng sẽ xuất hiện và mất đi, nhưng nếu tình trạng này vẫn tiếp tục, hãy nói chuyện với huấn luyện viên để chọn cho mình loại xe đạp phù hợp. Nếu tình trạng này không chấm dứt, bạn đã gặp vấn đề (chẳng hạn như hội chứng ống cổ tay), bạn cần kiểm tra y tế.

Theo Vnexpress

Viêm đường tiết niệu dễ bị nhờn thuốc

Lâu nay, kháng sinh vẫn được sử dụng chủ yếu cho các trường hợp viêm đường tiết niệu, khi có triệu chứng tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu đục. Tuy nhiên, tỉ lệ tái phát do nhờn thuốc và cảm giác mệt mỏi khi sử dụng kháng sinh đang là điểm yếu không thể khắc phục của phương pháp này.

Triệu chứng viêm đường tiết niệu

Theo thống kê, khoảng 95% người bị viêm đường tiết niệu đều bị rối loạn tiểu tiện mà triệu chứng điển hình là tiểu buốt và tiểu rắt, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt cũng như đời sống thường ngày của người bệnh. Những triệu chứng này làm cho người bệnh cảm thấy đau rát mỗi lần khi đi tiểu, thậm chí có cảm giác buốt như kim châm lan dần theo niệu đạo.

khang-sinh-viem-duong-tiet-nieu

Viêm đường tiết niệu có rất nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó 70-75% trường hợp là do nhiễm khuẩn, vi khuẩn hay gặp nhất là E.coli. Khi vệ sinh không tốt, vi khuẩn từ hậu môn sẽ xâm nhập vào đường tiết niệu. Biểu hiện dễ nhận thấy nhất trong trường hợp này là đi tiểu rắt, tiểu buốt, nước tiểu đục, có mùi khai nồng và các triệu chứng tăng nặng theo ngày.

Một nguyên nhân khác hay gặp đối với những người bị viêm đường tiết niệu là thấp nhiệt (nóng trong). Bệnh hay gặp ở những người cơ địa nhiệt có biểu hiện là hay táo bón, nhiệt lở miệng, ngứa ngáy, mề đay, mụn nhọt ở mặt, lưng… Khác với viêm đường tiết niệu do nhiễm khuẩn, trong trường hợp này triệu chứng thường chỉ dừng lại tiểu buốt, rắt, nước tiểu có màu vàng sậm, mức độ bệnh không tăng nặng nhưng hay bị tái phát khi có điều kiện thuận lợi.

Kháng sinh liệu có đủ?

Hiện nay, khi bị mắc viêm đường tiết niệu, người bệnh thường có thói quen sử dụng kháng sinh để điều trị, sau khoảng 2-3 ngày sẽ giảm các triệu chứng khó chịu trên. Tuy nhiên, kháng sinh chưa chắc đã là sự lựa chọn tối ưu bởi ai cũng biết nó là con dao hai lưỡi, tuy diệt khuẩn nhanh nhưng theo đó sẽ có tác dụng phụ như men gan tăng, mụn nhọt, mẩn ngứa, rối loạn tiêu hóa, gây ra cho người bệnh cảm giác mệt mỏi. Đó là còn chưa kể đến kháng sinh không thể giúp điều trị được bệnh viêm đường tiết niệu với những trường hợp bị thấp nhiệt (nóng trong) và người bệnh dùng kháng sinh thường có nguy cơ tái phát bệnh cao hơn do thói quen không uống đủ liều hoặc sử dụng kháng sinh không đặc trị.

Để an toàn hơn, người bệnh có thể áp dụng cách chữa từ thảo dược tự nhiên như Kim Tiền Thảo và Kim Ngân Hoa. Sở dĩ có được công dụng đó là do Kim Tiền Thảo giúp giãn mạch, lợi niệu, giảm nhanh các triệu chứng tiểu buốt, tiểu rắt đồng thời rửa trôi các vi khuẩn gây bệnh bám trên bề mặt đường niệu. Hơn nữa, với cơ chế thanh nhiệt, giải độc, làm mát nhanh thì đây chính là chìa khóa giúp giải quyết viêm đường tiết niệu do thấp nhiệt mà kháng sinh không giải quyết được.

Ngoài ra, Kim Ngân Hoa được biết đến như kháng sinh tự nhiên giúp diệt khuẩn cực mạnh, đặc biệt là vi khuẩn E.Coli. Vì vậy, chỉ cần uống nhiều nước kết hợp hai loại thảo dựa trên dựa vào cơ chế vật lý “thông, xả” sẽ giúp thông đường niệu nhanh chóng và xả sạch vi khuẩn theo chiều ra của nước tiểu một cách an toàn, hiệu quả mà không cần dùng đến kháng sinh thông thường.

Hiện nay, dựa trên sự phát triển của Y học hiện đại, hai thảo dược trên đã được kết hợp với ImmuneGamma® để đưa vào sản phẩm Niệu Bảo, giúp giảm nhanh các triệu chứng: tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu đục, bí tiểu, hỗ trợ điều trị viêm đường tiết niệu do nhiễm khuẩn và thấp nhiệt (nóng trong), đặc biệt với cơ chế tăng cường miễn dịch từ ImmuneGamma® chính là chìa khóa giúp giảm nguy cơ tái bệnh đường tiết niệu mạn tính hiệu quả.

Theo viet nam net

Rối loạn tiêu hóa ở trẻ sơ sinh

Rối loạn tiêu hóa là một tình trạng phổ biến mà hầu như trẻ nào cũng mắc phải ít nhất vài lần ở những năm đầu đời. Cho dù mắc phải ở mức độ nào rối loạn tiêu hóa đều làm cho trẻ mệt mỏi, biếng ăn, thậm chí gầy còm, suy dinh dưỡng. Nhưng xử trí ra sao? Vấn đề tưởng chừng rất đơn giản lại khiến hầu hết các mẹ đau đầu lo lắng.

Kiểm soát chế độ dinh dưỡng

Dấu hiệu trẻ rối loạn tiêu hóa: đi ngoài phân lỏng trong 2 – 3 tuần, có thể đi phân sống, có mùi chua, hoặc táo bón, trướng bụng, đầy hơi…. Và hiện tượng này lặp lại nhiều lần trong năm. Khi phát hiện bé rối loạn tiêu hóa mẹ đừng vội hoảng sợ, hãy bình tĩnh xem lại chế độ dinh dưỡng hàng ngày của trẻ xem có cho trẻ ăn quá nhiều mỡ hoặc đạm hay có vấn đề gì bất thường không?

roi-loan-tieu-hoa

Khi nào có thể điều trị tại nhà?

Khi bị rối loạn tiêu hóa nhẹ mẹ có thể tự mua thuốc điều trị tại nhà với điều kiện phân không có máu và không bị sốt. Trường hợp tiêu chảy có thể dùng thuốc thông thường được bán tại các cửa hàng dược. Ngoài ra, bạn có thể nhờ dược sỹ tư vấn, họ sẽ cho bạn những lời khuyên hiệu quả. Nhiều mẹ muốn trẻ khỏi thật nhanh đã dùng thuốc với liều cao. Điều này thường không tốt vì có trong trường hợp trẻ bị đi ngoài do nhiễm khuẩn, việc uống thuốc quá nhiều như vậy có thể giúp trẻ giảm rối loạn nhưng lại cản trở sự đào thải các mầm mống gây bệnh ra bên ngoài.

Những trường hợp như đi ngoài ra máu, đi ngoài kèm sốt cao, uống thuốc điều trị tiêu chảy trong vòng 24 tiếng không có dấu hiệu thuyên giảm bệnh… cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện.

Cách hỗ trợ điều trị đơn giản hiệu quả

Trong hệ đường ruột của trẻ luôn có môt hệ vi sinh, chúng rất quan trọng và không thể thiếu đối với hệ thống tiêu hóa của mỗi người: nó là môi trường sống trong ruột. Khi môi trường sống này bị tổn thương, nó sẽ gây ra rối loạn tiêu hóa cho trẻ và ngược lại. Do vậy ngoài những loại thuốc điều trị mẹ cần kết hợp tái tạo lại môi trường đường ruột khỏe mạnh thích hợp nhất với trẻ là bổ sung men vi sinh.

Năm 2011 qua điều tra khảo sát của phòng VCCI và Bộ Công Thương một sản phẩm cốm vi sinh là Bio-acimin New được người tiêu dùng tin tưởng và bầu chọn trong Top 100 sản phẩm tin dùng của năm. Trong mỗi gói nhỏ Bio-acimin New chứa một lượng men vi sinh chất lượng tốt kết hợp các vitamin, khoáng chất cần thiết cho sự hoàn thiện khỏe mạnh của hệ tiêu hóa trẻ. Bio – acimin New giúp cân bằng rối loạn hệ vi khuẩn đường tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn tốt phát triển và kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, kích thích ăn ngon và tăng cường khả năng hấp thu chất dưỡng chất. Sử dụng Bio-acimin New hàng triệu bà mẹ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nuôi con mau lớn, khỏe mạnh, thông minh.

Các nguyên nhân gây táo bón ở người cao tuổi

Táo bón là một bệnh thường gặp ở người cao tuổi với tỷ lệ ước tính vào khoảng 28 – 50% số người từ 60 tuổi trở lên bị mắc. Tại sao người cao tuổi lại hay gặp hiện tượng này?

9 nguyên nhân gây táo bón ở người cao tuổi

Chế độ ăn: Nguyên nhân đầu tiên gây ra chứng táo bón ở người cao tuổi phải kể đến là việc thay đổi chế độ ăn. Người cao tuổi thường có xu hướng ăn ít chất xơ hơn do khả năng nhai nuốt và tiêu hóa kém. Vì lượng chất xơ trong khẩu phần ăn giảm nên dễ dàng bị táo bón.

nguyen-nhan-gay-tao-bon-o-nguoi-cao-tuoi

Suy giảm các hoạt động thể chất:

ở người cao tuổi, do rất nhiều lý do như tình trạng sức khỏe không đảm bảo, bị mắc các bệnh mạn tính như thoái hóa, viêm khớp, loãng xương; các bệnh tim mạch, huyết áp, tiểu đường; các bệnh hô hấp mạn tính như tâm phế mạn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, do thói quen ít hoạt động hoặc thói quen nhịn đại tiện lâu. Việc giảm hoạt động thể chất dẫn tới giảm nhu động ruột, giảm bài tiết dịch ruột gây táo bón.

Do thuốc đang được sử dụng để điều trị các bệnh mạn tính như thuốc kích thích beta-2 giao cảm. Nhóm thuốc này gây giảm nhu động ruột dẫn đến táo bón.

Bệnh trĩ: Khi bị trĩ, bệnh nhân thường có xu hướng nhịn đi đại tiện vì sợ đau và chảy máu. Khi nhịn đại tiện lâu và nhiều lần sẽ giảm phản xạ đại tiện, gây tích trữ phân dẫn đến táo bón. Bệnh nhân càng bị táo bón, đi ngoài càng đau và càng dễ chảy máu, kết quả là bệnh nhân càng nhịn đi đại tiện và táo bón ngày càng tiến triển thành vòng luẩn quẩn.

Sau các phẫu thuật ổ bụng: Sự giảm nhu động ruột và cảm giác đau khi rặn dẫn đến bệnh nhân khó đại tiện kèm theo tình trạng phải ăn thức ăn tinh, ít chất xơ, lượng dịch bù không đủ làm phân khô lại, có trường hợp sờ thấy thành chuỗi cứng dọc theo khung đại tràng.

Do uống không đủ lượng nước hàng ngày: Việc này có thể do người cao tuổi bị các bệnh mạn tính như suy tim phải hạn chế nước nhưng cũng có thể do bệnh nhân bị mắc chứng tiểu đêm, bị u xơ tiền liệt tuyến nên hạn chế uống nước để đỡ đi tiểu tiện.

Do nhu động đại tràng giảm, các cơ trực tràng và cơ thành bụng yếu nên khả năng tống phân ra bị suy giảm.

Các khối u, polyp của đại trực tràng.

Do suy tuyến giáp: Các triệu chứng kèm theo thường là mạch chậm và phù niêm, ăn uống khó tiêu tuy không rõ rệt như ở người trẻ.

nguyen-nhan-gay-tao-bon-o-nguoi-cao-tuoi-1

Nguy cơ của bệnh táo bón ở người cao tuổi

Bên cạnh những khó chịu do bệnh táo bón gây ra, ở người cao tuổi còn có nhiều nguy cơ khác có thể nguy hại đến tính mạng nếu bị táo bón. Đây là các trường hợp bệnh nhân bị các bệnh tim mạch như suy tim, bệnh mạch vành nên phải hạn chế gắng sức. Nhiều trường hợp rặn nhiều do bị táo bón dẫn đến đột tử do nhồi máu cơ tim. Gắng sức nhiều khi đại tiện cũng có thể làm vỡ các phế nang (đã giãn to) ở các bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gây tràn khí màng phổi. Táo bón cũng có thể là yếu tố nguy cơ ở người cao tuổi có tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, loạn nhịp tim…

 

Tiêu chảy phân mỡ

Bệnh tiêu chảy phân mỡ là gì?

Bệnh tiêu chảy phân mỡ hay bệnh ruột nhạy cảm gluten là tình trạng phản ứng miễn dịch quá mức với gluten trong thức ăn. Gluten là một loại protein có trong lúa mì, đại mạch, lúa mạch đen, một số người bị mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ còn phản ứng với cả yến mạch. Điều trị bằng cách loại khỏi gluten ra khỏi chế độ ăn. Bệnh có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng hơn như loãng xương, vô sinh và ung thư ruột nếu không điều trị. Các triệu chứng thay đổi tùy người nhưng có thể bao gồm mệt mỏi, thiếu máu, tiêu chảy, bụng ấm ách khó chịu, sụt cân, nôn và loét miệng. Bệnh ở trẻ em có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và tăng trưởng của trẻ.

Không dung nạp gluten gây phản ứng viêm làm tổn thương ruột. Các vi nhung mao trong lòng ruột trở nên bị viêm và dẹt lại (teo nhung mao) làm giảm bề mặt hấp thu các chất dinh dưỡng từ thức ăn. Khi đó cơ thể không thể hấp thu tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết từ thức ăn. Vì thiếu các chất dinh dưỡng nên những bệnh nhân mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ không được chẩn đoán có thể có rất nhiều các biểu hiện dạ dày ruột và có thể bị thiều các chất dinh dưỡng.

tieu-chay-phan-mo1

Các biểu hiện của tiêu chảy phân mỡ

Các triệu chứng thay đổi từ nhẹ đến nặng, bao gồm: đầy bụng, tiêu chảy, buồn nôn, mệt mỏi, táo bón, loét miệng, đau đầu, sụt cân, rụng tóc, các vấn đề về da, tầm vóc thấp, trầm cảm, vô sinh, sẩy thai nhiều lần và đau xương khớp. Một số triệu chứng có thể lẫn với các biểu hiện của hôi chứng ruột kích thích hoặc không dung nạp lúa mì trong khi các triệu chứng khác lại được cho là do stress hoặc quá trình lão hóa.

Nên làm gì khi nghi ngờ mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ

Nếu bạn có các biểu hiện trên có thể bạn bị tiêu chảy phân mỡ và nên tiến hành các bước chẩn đoán sau đây:

Bước 1: đầu tiên là nói với bác sĩ những triệu chứng và lo lắng của mình. Không nên làm trong bước này là loại gluten ra khỏi chế độ ăn vì các xét nghiệm sẽ cho kết quả không chính xác. Tiếp tục ăn uống như bình thường và nếu bạn đã loại gluten ra khỏi chế độ ăn thì phải ăn lại ít nhất trong vòng 6 tuần trước khi làm xét nghiệm.
Bước 2: bác sĩ có thể cho làm xét nghiệm máu để kiềm tra kháng mô bọc sợi cơ và/ hoặc kháng thể transglutaminase mô.
Bước 3: sinh thiết ruột qua nội soi ống mềm để lấy một mẫu mô quan sát dưới kính hiển vi tìm những bất thường.

Các nguy cơ đối với sức khỏe là gì?

Rất may là các nguy cơ đối với sức khỏe liên quan đến bệnh tiêu chảy phân mỡ là rất ít khi bạn có thể loại khỏi gluten ra khỏi chế độ ăn. Tuy nhiên có thể có các ảnh hưởng nghiêm trọng kéo dài nếu không được chẩn đoán cho tới giai đoạn muộn của cuộc đời vì có nguy cơ cao bị ung thư ruột, loãng xương và các vấn đề vô sinh.

Nguy cơ loãng xương tăng lên ở những người được chẩn đoán muộn do giảm hấp thụ calci vì vậy điều trị hiệu quả là rất cần thiết để tránh các biến chứng của loãng xương như gãy xương.

Tăng nguy cơ mắc bệnh ác tính như u lympho ruột là biến chứng nghiêm trọng nhất, tuy nhiên nguy cơ sẽ giảm về bình thường nếu loại gluten ra khỏi chế độ ăn trong vòng 3-5 năm.

Nguy cơ vô sinh và các biến chứng thai nghén tăng lên nhưng cũng sẽ giảm đi khi được chẩn đoán và loại ra khỏi chế độ ăn.

tieu-chay-phan-mo

Các tình trạng liên quan với bệnh tiêu chảy phân mỡ?

Có mối liên quan giữa bệnh tiêu chảy phân mỡ và các bệnh tự miễn dịch khác, thường là đái tháo đường typ 1 (đái tháo đường phụ thuốc insulin) và giảm năng tuyến giáp.

Hầu như bệnh nhân viêm da dạng herpes đều có những mức độ khác nhau của bệnh tiêu chảy phân mỡ vì vậy điều trị thường bắt đầu bằng cách loại gluten ra khỏi chế độ ăn mặc dù nhiều bệnh nhân cần phải bắt đầu điều trị bằng thuốc.

Không dung nạp lactose là hiện tượng phổ biến hơn ở những người mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ không được chẩn đoán hoặc mới được chẩn đoán. Nguyên nhân là do ruột không thể phân hủy lactose trong khi đang bị tổn thương dẫn đến các triệu chứng như đầy bụng, khó chịu. Nếu bạn cảm thấy không dung nạp lactose ra khỏi chế độ ăn sẽ ảnh hưởng đến lượng calci. Một khi ruột lành lại thì vấn đề thường được giải quyết.

Sự khác nhau giữa dị ứng và không dung nạp

Không dung nạp thức ăn thường được mô tả chung chung là phản ứng với thức ăn bao gồm dị ứng thức ăn thật sự và bệnh tiêu chảy phân mỡ mà cả hai loại này đều ảnh hưởng đến hệ miễn dịch. Tiêu chảy phân mỡ là bệnh tự miễn dịch do không dung nạp gluten, bệnh kéo dài và có các phương pháp chẩn đoán đặc hiệu liên quan đến nội soi và sinh thiết. Chẩn đoán dị ứng thức ăn dựa vào tiền sử ăn uống, phát hiện kháng thể và các xét nghiệm khác. Các triệu chứng bao gồm sưng miệng và họng, nôn, đau bụng, ban da, ho, giảm huyết áp và có thể dẫn đến sốc phản vệ.

Không dung nạp thức ăn không ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và vấn đề thường chỉ là tạm thời. Các triệu chứng có thể bao gồm tiêu chảy, táo bón, các vấn đề da và hen phế quản và cách duy nhất để chẩn đoán là loại chất đó ra khỏi chế độ ăn.

Nguồn sức khỏe

Những khó chịu ở đường tiêu hóa

Trào ngược axit, viêm dạ dày hay ăn không tiêu đều khiến bạn mệt mỏi. Dưới đây là những biện pháp khắc phục nhanh các triệu chứng khó chịu ở đường tiêu hóa mà bạn thường gặp.

Táo bón

Chế độ ăn nhiều thịt và tinh bột nhưng thiếu các loại chất xơ từ rau củ quả sẽ gây ra hiện tượng táo bón. Tuy không gây đau bụng quá nhiều như các loại bệnh về dạ dày và ruột khác nhưng về lâu dài, người bệnh có thể gặp nhiều hậu quả nghiêm trọng như bệnh trĩ, nhiễm trùng,… Trong trường hợp này, sinh tố hoa quả hoặc ăn các thực phẩm có tính mát, nhuận tràng như khoai lang, chuối tiêu… có thể giúp bạn đẩy lùi chứng táo bón.

nhung-kho-chiu-o-duong-tieu-hoa

Đầy hơi

Khi bạn bị đầy hơi, bụng sẽ chứa đầy khí gas, gây đau, tức bụng và ợ nóng. Để phòng bệnh bạn nên tránh thức ăn nhiều dầu mỡ, các món ngọt. Cách chữa nhanh trong trường hợp khẩn cấp là uống thật nhiều nước để nhanh chóng giải phóng gas tích tụ trong dạ dày và ruột, đồng thời kết hợp động tác yoga ngồi ép bụng vào gối. Đây là động tác rất hữu hiệu, giúp bạn nhanh chóng loại bỏ khí gas dư thừa.

Đau bụng tiêu chảy

Cơ thể mệt mỏi kết hợp với việc ăn phải thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn là nguyên nhân chính của chứng tiêu chảy. Người bệnh thường đau bụng dưới dữ dội, đi ngoài nhiều, dễ bị kiệt sức.

Trong trường hợp không may bị đau bụng đi ngoài, bạn nên bổ sung chất lỏng để bù nước và dùng trà gừng để hạn chế tiêu chảy nếu không có sẵn thuốc.

Khó tiêu

Những nguyên nhân gây khó tiêu bao gồm việc dị ứng men lactose của sữa, ăn thức ăn quá cay hoặc quá nóng, nếu từng có tiền sử bị chứng khó tiêu bạn nên hạn chế các thực phẩm cay nóng.

Bạn nên dùng các thực phẩm mềm, ăn nhiều rau, nhai kỹ và tham khảo bác sĩ về việc dùng thuốc phù hợp để cải thiện chứng bệnh này.

Trào ngược dạ dày

Bạn  bị trào ngược dạ dày khi lượng axit trong dạ dày tăng cao, triệu chứng thường thấy là ợ chua, nóng rát vùng cổ, ngực, thỉnh thoảng sẽ đi kèm cảm giác khó thở và đau vùng thượng vị. Nguyên nhân chính là do bạn bỏ bữa nên khi bạn ăn lượng axit thừa sẽ phản ứng và trào ngược gây khó chịu.

Cách khắc phục là thay đổi tư thế nằm (gối đầu cao khoảng 15cm hoặc kê vai cao 25cm); tránh tư thế cúi lâu, tránh nằm ngửa ngay sau bữa ăn và trong khoảng 3 giờ.

Theo afamily.vn

Phân loại và điều trị sa trực tràng

Sa trực tràng là gì?

Trực tràng là đoạn cuối ruột già, nơi chứa phân trước khi đi cầu. Sa trực tràng là hiện tượng trực tràng chui qua lỗ hậu môn ra nằm bên ngoài.tại vùng hậu môn trực tràng sa xuống ra ngoài hậu môn, tùy theo bệnh nặng hay nhẹ mà mức độ sa ra ngoài dài hay ngắn.

Sa trực tràng Đông y gọi chứng thoát giang là một chứng bệnh thường gặp ở nhiều lứa tuổi. Bệnh thường xảy ra ở trẻ em dưới ba tuổi và người lớn trên 50 tuổi. Đa số xảy ra ở phụ nữ, 35% ở phụ nữ sanh đẻ nhiều, 25 – 50% ở bệnh nhân táo bón kéo dài, 50 – 70% bệnh nhân có triệu chứng mất tự chủ đi cầu, 15% có kèm sa sinh dục và 35% kèm theo sa bàng quang.

Phân loại sa trực tràng: Có hai mức độ sa trực tràng:

– Sa không hoàn toàn (chỉ có niêm mạc trực tràng sa ra ngoài) và

– Sa hoàn toàn (toàn bộ thành của trực tràng chui ra khỏi ống hậu môn).

phan-loai-va-dieu-tri-sa-truc-trang

Nguyên nhân bệnh sa trực tràng

– Sau các bệnh lỵ mạn tính hoặc táo bón khó đại tiện phải rặn nhiều lâu ngày hoặc trung khí hư hạ hãm…

– Nguyên nhân bệnh sa trực tràng chủ yếu do sau khi bị bệnh lỵ mạn tính hoặc táo bón khó đại tiện phải rặn nhiều lâu ngày hoặc sau đẻ trung khí hư gây ra hạ hãm làm cho trực tràng sa xuống khỏi vị trí và giãn to dần ra sau mỗi lần đại tiện, lâu ngày sa giãn càng nhiều khó có khả năng tự co vào được, phải dùng tay ấn mới vào được và lại tụt xuống ngay trước hoặc trong khi đại tiện.

– Bệnh nặng không thể ấn vào bên trong được mà ở ngoài hậu môn gây khó chịu.

– Sa trực tràng thường phối hợp với một bệnh khác, gây kích thích rặn liên tục (như: polyp hậu môn, trực tràng, trĩ nội, sỏi bàng quang) hoặc nguyên nhân làm suy yếu cơ nâng hậu môn.

Triệu chứng sa trực tràng

– Thấy trực tràng sa

– Đại tiện ra máu

– Đau dữ dội

– Rát bỏng hậu môn

– Có khi bị choáng

Phương pháp điều trị sa trực tràng

– Phóng bế Novocain quanh hậu môn, dùng các thuốc chống co thắt ấn từ từ đoạn trực tràng sa vào, nếu không được thì phải được xử lý bằng ngoại khoa, chống hoại tử đoạn ruột bị thắt nghẽn.

Những thức ăn nên tránh khi bị bệnh đường ruột

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là căn bệnh đường ruột phổ biến nhất hiện nay. Các triệu chứng của bệnh này bao gồm đau bụng, sình bụng, tiêu chảy, táo bón, đau lưng, đau khớp, nhức đầu… Có một số loại thực phẩm cần tránh khi bị chứng bệnh đường ruột này.

Thực phẩm cay

Cà ri và các loại thực phẩm cay khác làm gia tăng hoạt động trong ruột lên mức cao hơn bình thường. Điều này làm tăng rủi ro bị các triệu chứng như tiêu chảy và đau quặn bụng.

Chất béo

duong-ruot

Những loại thực phẩm nhiều chất béo có thể khiến ruột co thắt nhiều hơn bình thường, vốn có thể gây đau quặn bụng. Người bị IBS nên tránh dùng hoặc ăn chất béo bão hòa có nguồn gốc động vật, thay vào đó nên sử dụng các sản phẩm chứa chất béo không bão hòa dạng đơn thể (chẳng hạn như dầu ô liu) hoặc chất béo không bão hòa dạng đa thể (như dầu hạt hướng dương) trong chế độ ăn. Các loại thực phẩm cần tránh đối với bệnh nhân IBS là thịt chế biến (chẳng hạn như xúc xích, pa tê), các loại quà vặt nhiều chất béo (bánh quy, thực phẩm dạng hạt) và mayonnaise.

Đường và đường thay thế

Fructose, thành phần tạo ra đường, khó tiêu hóa hơn ở bệnh nhân IBS. Táo bón, tiêu chảy và đầy hơi đều do sự hiện diện của đường trong chế độ ăn gây ra. Các loại đường thay thế như sorbitol và splenda có cùng tác động như vậy. Những loại thực phẩm cần tránh ở người bị IBS bao gồm mứt, si rô, bánh kẹo và nước trái cây có đường.

Sản phẩm sữa

Những người bị IBS và không dung nạp lactose khó tiêu hóa một số sản phẩm sữa. Sữa, kem bánh và kem ăn chứa các loại đường tự nhiên, trong quá trình tiêu hóa có thể gây tiêu chảy đau quặn bụng và táo bón. Phó mát và sữa chua không gây các triệu chứng này. Nếu bạn không thể dung nạp lactose, tốt nhất nên giảm bớt lượng sản phẩm sữa trong chế độ ăn và tham khảo ý kiến bác sĩ.

Rau cải

duong-ruot1

Trong khi một chế độ ăn lành mạnh và cân bằng được khuyến khích, một số loại rau có thể gây ra chứng đầy hơi, một triệu chứng bình thường trong các cơn phát bệnh IBS. Bạn có thể bị đau quặn bụng vì chứng đầy hơi do bông cải xanh, cải bắp và củ hành gây ra.

Lúa mì

Bánh mì, ngũ cốc và các sản phẩm lúa mì có thể gây ra IBS. Chúng có thể làm trầm trọng thêm bất kỳ triệu chứng nào đã từng trải qua.

Trái cây nhiều a xít

Chanh, cam, quýt, và các loại trái cây khác chứa nhiều a xít có thể gây ra hoặc làm gia tăng các triệu chứng của IBS.

Rượu

Đối với một số bệnh nhân IBS, rượu là thứ không nên dùng. Rượu kích thích lớp niêm mạc ruột, gây ra các triệu chứng chẳng hạn như đau bụng.

Cà phê

Thường gây ra nhiều vấn đề cho người bị IBS, nó kích thích ruột gây tiêu chảy và đau quặn bụng.

Bữa ăn “hoành tráng”

Những bữa ăn lớn thường gây khó tiêu và ở người bị IBS chúng có thể khiến hệ tiêu hóa trở nên quá tải, dẫn đến những cơn đau quặn bụng và bệnh tiêu chảy. Bệnh nhân IBS được khuyên chia nhỏ bữa ăn và có thể ăn 5-6 bữa mỗi ngày.

Quyên Quân
Thanh niên

Phương pháp mới điều trị táo bón hiệu quả

Bệnh viện (BV) đa khoa quốc tế Vinmec đã ứng dụng phương pháp mới trong điều trị táo bón với hiệu quả rõ rệt. Thông tin này được đưa ra tại hội thảo “Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị bệnh lý táo bón và sàn chậu” tổ chức tại BV chiều 7/11/2013 do GS.BS. Mario Pescatori – chuyên gia tiêu hóa hàng đầu đến từ Ý thuyết trình.

benh-nhan-cao-tuoi-tao-bon

Bệnh nhân cao tuổi đang được chữa bằng phương pháp phục hồi chức năng.

GS.BS. Mario Pescatori mang tới hội thảo 3 chủ đề lớn: Táo bón – Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị; Những tiến bộ trong phẫu thuật sàn chậu; Điều trị sa trực tràng. Đây không phải là những chủ đề mới tại Việt Nam nhưng các khía cạnh tiếp cận tiến bộ mà GS. BS. Mario Pescatori đưa ra đã thu hút được sự quan tâm của giới chuyên môn và các đồng nghiệp Việt Nam. Cụ thể, trong chủ đề Táo bón – Nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị, GS.BS. Mario Pescatori đã đề cập tới 5 nguyên nhân cơ năng là tâm lý, cơ mu trực tràng co cứng, đại tràng co thắt quá mức, giảm cảm nhận của trực tràng và tổn thương thần kinh thẹn. Các nguyên nhân này gây táo bón ở 80% số bệnh nhân.

GS.BS. Mario Pescatori cũng đã đề cập đến các phương pháp điều trị nội khoa, đặc biệt là phương pháp biofeedback (tập phản hồi sinh học) kết hợp với kích điện điều trị. Đây là phương pháp hoàn toàn mới, một tiến bộ trong điều trị táo bón và đã được áp dụng thành công tại các nước phát triển. Tại Việt Nam, hiện mới có BV Vinmec tiếp cận và áp dụng phương pháp này. Trong 2 tháng trở lại đây, bệnh viện đã áp dụng điều trị cho gần 20 bệnh nhân với kết quả bước đầu rất khả quan. Ngoài ra, ông cũng đưa ra các kỹ thuật mới trong điều trị sa sàn chậu như phẫu thuật, kích thích điện thần kinh xương cùng…

Theo sức khỏe đời sống

Chữa huyết áp cao bằng rau cần tây

Huyết áp cao

Cần tây chứa canxi, sắt, phốtpho, giàu protid (gấp đôi so với các loại rau khác), nhiều axít amin tự do, tinh dầu, mannitol, inositol, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu, tăng cường khả năng miễn dịch và bổ não. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rau cần có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt, thời gian duy trì tuỳ theo liều lượng nhiều hay ít và trên từng đối tượng.

Bệnh gout

Kiềm trong cần tây có tác dụng trung hoà các chất axít, nhờ đó rau cần có thể hỗ trợ chữa được các bệnh do axít tăng cao trong máu như urê huyết cao, nhiễm trùng máu, bệnh phong thấp và bệnh gout.

chua-huyet-ap-cao-bang-rau-can-tay

Các rối loạn về máu

Cần tây có hàm lượng magnesium và sắt cao, nên uống dịch ép rau cần và càrốt mỗi ngày, rất hiệu quả trong điều trị các chứng bệnh thiếu máu, bệnh Hodgkin, các chứng xuất huyết…

Bệnh đường hô hấp

Hạt cần tây có tác dụng làm giảm co thắt nên được dùng chữa hen suyễn, viêm phế quản, viêm màng phổi và bệnh lao phổi.

Ngừa sỏi thận

Ăn rau cần tây có thể giúp ngăn ngừa hình thành sỏi thận.

Mất ngủ

Lượng chất kiềm trong cần tây có công dụng giúp những người đang mắc chứng mất ngủ có thể ngủ ngon hơn. Khoáng chất này làm cho hệ thần kinh êm dịu lại, giảm bớt sự căng thẳng và lo âu.

Giúp xương khỏe mạnh

Loại rau gia vị này là nguồn cung cấp vitamin K dồi dào, cùng với rất nhiều can-xi và ma-giê – rất có ích cho quá trình tạo xương và giúp các khớp luôn khỏe mạnh. Cần tây còn chứa polyacetylene, một chất kháng viêm, vốn có khả năng làm giảm sưng và đau xung quanh các khớp xương.

Lợi tiểu

Hàm lượng kali và natri trong cần tây sẽ chịu trách nhiệm về khả năng giúp lợi tiểu. Chúng kích thích cơ thể sản xuất nước tiểu và điều chỉnh lượng chất lỏng trong cơ thể bằng cách loại bỏ lượng nước thừa.

Táo bón

Từ xa xưa, người ta đã biết đến công dụng chữa bệnh của cần tây, đã được dùng làm thuốc nhuận tràng. Chúng làm dịu các dây thần kinh vốn đã hoạt động quá mức do các loại thuốc nhuận tràng nhân tạo. Nhờ đó, làm nhẹ chứng táo bón một cách tự nhiên.

Chống ung thư

Những hợp chất như phthalide và polyacetylene giúp loại khử các chất sinh ung thư. Coumarin giúp ngăn chặn những tổn hại ở các tế bào do các gốc tự do gây ra. Acetylenics ngăn ngừa sự phát triển của các khối u. A-xít phenolic có khả năng khóa chặt sự hoạt động của các prostaglandin (vốn là tác nhân kích thích sự phát triển của các tế bào ở khối u). Nhờ đó, sẽ ngăn không cho các khối u phát triển.

Lưu ý: Những người bị huyết áp thấp không nên dùng cần tây. Không cất giữ rau cần tây trong tủ lạnh quá 2 tuần vì chất furanocoumarin trong cần tây sẽ tăng gấp 25 lần, có thể gây ung thư. Đặc biệt, đàn ông không nên lạm dụng qúa vì rau cần tuy giúp giữ vững phong độ của các đấng mày râu nhưng nếu lạm dụng sẽ gây hiệu quả ngược với mong muốn.

Theo VnMedia

Lợi ích sức khỏe của hành lá và hành khô

Nghiên cứu cho thấy hành lá, hành khô giúp giảm cholesterol, chống vi khuẩn, virus và nấm trong cơ thể. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng giảm nguy cơ đột quỵ tim, tiểu đường.

Hành lá và hành khô là loại rau củ ngon từ các gia đình nhà tỏi tây (Allium), và có mặt tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Cả hành lá và hành khô đều có những lợi ích sức khỏe đáng ngạc nhiên vì bản thân chúng chứa chất chống oxy hóa, vitamin, khoáng chất và chất xơ. Nếu có một nhược điểm, hành lá có mùi tương tự như hành tây và hành khô và tỏi.

hanh-kho
Nghiên cứu cho thấy hành lá, hành khô giúp giảm cholesterol, chống vi khuẩn, virus và nấm trong cơ thể. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng giảm nguy cơ đột quỵ tim, tiểu đường.

Chất chống oxy hóa

Hành lá và hẹ tây có chứa chất chống oxy hoá mạnh nhằm bảo vệ các tế bào trong cơ thể tránh các bệnh ung thư. Hành khô đặc biệt giàu chất chống oxy hóa, chẳng hạn như quercetin và kaempferol. Hành lá và hẹ tây là những thứ gia vị được cho thêm vào các món ăn phổ biến như thịt chế biến các món, nước sốt, xà lách, trứng và súp… hoặc ăn sống.

Vitamin, khoáng chất

Hành lá và hành khô chứa rất nhiều các vitamin và khoáng chất. Hành lá có chứa vitamin A, B, và C. Chúng cũng cung cấp một lượng lớn vitamin K, giúp xương khỏe mạnh và chiến đấu chống lại bệnh loãng xương. Hành khô là một nguồn tuyệt vời của vitamin A và C. Sắt, canxi, và kali… là những khoáng chất được tìm thấy trong hành lá và hẹ tây.

Chất xơ

Hành lá cũng là cây có lá màu xanh lá cây, và chúng chứa một lượng chất xơ lành mạnh, hỗ trợ tốt cho hệ thống tiêu hóa. Hành khô cũng có tác dụng tốt cho hệ thống tiêu hóa tương tự như hành lá. Nếu bạn thường xuyên tăng cường các loại rau này kết hợp với các thực phẩm lành mạnh ít chất béo khác thì nguy cơ bị ung thư ruột kết cũng giảm. Các chất xơ trong hành lá và hẹ tây cũng làm giảm nguy cơ táo bón, trĩ, viêm ruột thừa.

Các lợi ích khác

Ngoài nhiều chất xơ, hành lá còn chứa rất ít calo. Nghiên cứu cho thấy hành lá giúp giảm cholesterol, chống vi khuẩn, virus và nấm trong cơ thể. Tương tự như vậy, hành khô cũng có ít cholesterol. Tiêu thụ hai loại thực phẩm này còn làm giảm nguy cơ đột quỵ tim, nguy cơ bị bệnh tiểu đường. Hành khô cũng rất giàu phenoplasts giữ cho gan khỏe mạnh.

(theo TTonline)

Trị nhiệt miệng theo Đông Y

Nhiệt miệng là chứng bệnh thường phát về mùa hè với biểu hiện viêm loét ở đầu lưỡi hoặc ở niêm mạc trong khoang miệng, kèm theo viêm lợi, ngứa lợi, sưng nề, dễ chảy máu, gây đau đớn, khó chịu, sốt, mất ngủ, tâm phiền,… Phương pháp chữa trị nhiệt miệng theo Đông y là thanh nhiệt giải độc, dưỡng âm, chống viêm, lương huyết.

Bài 1: Lá cỏ mực 1 nắm, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt, hòa với ít mật ong. Dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ viêm loét. Ngày bôi 2 – 3 lần.

Hoặc: Hoàng liên 10g, hoàng bá 10g, cỏ mực 20g, rau má 20g, tang diệp 16g, sài hồ 12g, cam thảo đất 16g, thục địa 12g, trúc diệp 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Công dụng: Thanh nhiệt, chống viêm, thích hợp khi bị nhiệt miệng, có những nốt loét ở đầu hoặc thân lưỡi, gây đau rát, xót, sốt, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ lượng ít,…
tri-nhiet-mieng-theo-dong-y
Bài 2: Bí ngô 150g, đậu đen 30g, hạt sen 25g, gạo tẻ 50g, gạo nếp 20g, đường kính vừa đủ. Bí ngô gọt bỏ vỏ thái miếng. Đậu đen và hạt sen rửa sạch. Gạo nếp, gạo tẻ đãi sạch. Cho tất cả vào nồi, đổ nước hầm cho chín kỹ, đậu đen và hạt sen chín mềm, cho đường vào, thêm 2 – 3 lát gừng đập giập vào quấy đều là được. Múc ra bát ăn nguội. Công dụng: Thanh nhiệt chống viêm, dưỡng âm, phù hợp với người bị nhiệt miệng, tâm phiền, ngủ không yên, nước tiểu đỏ, người nóng,…

Bài 3: Ngân hoa 10g, liên kiều 12g, tri mẫu 10g, hoàng bá 12g, bạch thược 12g, hồng hoa 10g, cỏ mực 20g, cát căn 20g, sinh địa 12g, trần bì 10g, đại táo 10g, trúc diệp 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
Đông y trị nhiệt miệng1
Hoặc: Cát căn 20g, chi tử 12g, liên kiều 12g, đinh lăng 20g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, sâm đại hành 16g, đào nhân 10g, hồng hoa 10g, sài hồ 12g, mạch môn 16g, thiên môn 16g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Công dụng: Thanh nhiệt, lương huyết, chống viêm, thích hợp cho người bệnh có biểu hiện lợi sưng đau, dễ chảy máu, lưỡi đỏ, có những nốt loét trong khoang miệng, đau đớn, đại tiện táo, bụng đầy trướng,…

Bài 4: Gạo tẻ 100g nấu thành cháo, sau cho bột cát căn 50g vào nấu chín thành cháo ăn trong ngày. Dùng 3-5 ngày. Công dụng: Thanh nhiệt, nhuận táo, thích hợp cho trường hợp nhiệt miệng, nướu răng bị sưng chảy máu, táo bón,…

Bác sĩ Thu Vân
Nguồn suckhoedoisong

Biểu hiện và cách nhận biết bệnh trĩ:

Người bị bệnh trĩ, khi đại tiện, lúc đầu, máu chảy rất kín đáo nhưng về sau, mỗi khi đi cầu, bệnh nhân phải rặn nhiều do táo bón, máu chảy thành giọt hay thành tia.

Trĩ là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh hậu môn trực tràng, với tỷ lệ bệnh nhân chiếm khoảng 20-45% dân số (chủ yếu là nam giới). Nếu không biết phòng ngừa, chữa trị sớm và đúng cách, “bệnh khó nói” này có thể gây biến chứng nguy hiểm.

Bệnh nhân mắc trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm do tâm lý e ngại: vì bệnh ở vùng kín đáo nên người bệnh thường ngại nhất là phụ nữ; tâm lý chủ quan: ban đầu, bệnh thường có những biểu hiện không thường xuyên như dính ít máu tươi ở giấy vệ sinh, đau rát ngứa sau khi đi cầu, đại tiện khó. Các hiện tượng này thường thoảng qua và ít gây khó chịu nên rất hay bị phớt lờ.
tri
Bệnh trĩ khi đã nặng khiến chất lượng cuộc sống của bạn bị ảnh hưởng. Nhiều người âm thầm chịu đựng. Nhưng khi đến bệnh viện, tổn thương thường quá lớn nên các phương pháp điều trị nhỏ ít xâm lấn không còn tác dụng mà phải áp dụng những phương pháp điều trị lớn, xâm lấn nhiều hơn và dĩ nhiên sẽ đau.

Một số nguyên nhân gây bệnh trĩ như: tư thế làm việc đứng quá lâu, rối loạn nhu động ruột (táo bón, ỉa chảy, mót rặn), bệnh có tính chất gia đình, có những bệnh phối hợp như tăng áp lực tĩnh mạch trĩ, bệnh đường sinh dục, tiết niệu, hoặc những thay đổi nội tiết theo chu kỳ sinh dục của phụ nữ như mang thai, sinh đẻ hoặc trước chu kỳ kinh nguyệt.

Biểu hiện của bệnh trĩ:

Chảy máu: Lúc đầu, máu chảy rất kín đáo, tình cờ, bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy vệ sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào. Về sau, mỗi khi đi cầu, bạn phải rặn nhiều do táo bón, máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa, cứ mỗi lần đi cầu, đi đứng nhiều hoặc ngồi xổm, máu lại chảy. Thậm chí, máu chảy rất nhiều khiến bệnh nhân phải vào cấp cứu. Đôi khi, máu từ búi trĩ chảy ra đông lại trong lòng trực tràng gây đi cầu ra máu cục.

Sa trĩ: Đây cũng là triệu chứng thường gặp. Tùy theo mức độ trĩ sa, mà bệnh nhân có các biểu hiện lâm sàng khác nhau. Nếu trĩ sa đô 1, 2 thì không gây phiền hà nhiều. Nếu trĩ sa độ 3, người bệnh rất khó chịu khi đi cầu, đi đứng nhiều, làm việc nặng. Nếu trĩ sa đến độ 4, bệnh nhân thường xuyên khó chịu.

Các triệu chứng khác: búi trĩ có thể không đau nhưng cộm, vướng. Búi trĩ đau khi khi: tắc mạch, sa trĩ nghẹt, nứt kẽ hậu môn. Bệnh nhân có cổ áp xe đi kèm, nằm ngay dưới lớp niệm mạc hay trong hố ngồi – trực tràng… gây đau. Người bệnh có chảy dịch nhầy ở hậu môn và thường kèm theo sa trĩ nặng, có khi là triệu chứng của bệnh lý khác như viêm trực tràng, u trực tràng… Ngoài ra, bạn cũng có thể bị ngứa hậu môn và quanh hậu môn do viêm da bởi các chất dịch nhầy.

Ngoài ra, những người có nguy cơ cao (thường xuyên tiếp xúc với các nguyên nhân gây bệnh) phải chú ý đến các triệu chứng mới xuất hiện của bệnh để có biện pháp phòng và điều trị kịp thời. Bệnh trĩ càng nặng, thời gian điều trị lâu, càng có nhiều biến chứng, phương pháp điều trị phức tạp và dễ tái phát.

Để tránh mắc chứng bệnh “khó nói” này, bạn nên uống một ly nước vào buổi sáng, tập thói quen hàng ngày đều đặn đi đại tiện vào một giờ nhất định, tập thể dục vừa phải, đầy đủ, thư giãn cơ bụng (yoga) hoặc tập cho cơ bụng mạnh hơn: tập thể dục bụng cho thon người, đi bộ, bơi lội. Về dinh dương, nên ăn đủ chất xơ như trái cây, rau củ, uống nhiều nước; giảm dùng đồ cay nóng như rượu bia, cà phê, các thức ăn gây táo bón.

Đồng thời, bạn có thể sử dụng sản phẩm An Trĩ Vương như một biện pháp hữu hiệu trong việc phòng và chữa bệnh trĩ. Sản phẩm được kết hợp từ các dược liệu quí như diếp cá, đương quy, rutin, tinh chất nghệ, giúp lưu thông khí huyết, thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, trị táo bón, tăng sức bền thành mạch, co búi trĩ…Với An Trĩ Vương, bệnh nhân sẽ thoát khỏi tâm lý e ngại, lo sợ và lấy lại được tự tin trong cuộc sống.

Nguồn VNExpress.

Tác dụng chữa bệnh kỳ diệu của rau mồng tơi

Mồng tơi là loại rau phổ biến, được sử dụng để chế biến trong bữa ăn hàng ngày. Không chỉ là món rau thông thường, trong dân gian rau mồng tơi còn các tác dụng chữa bệnh.

Rau mồng tơi là loại rau phổ biến, được chế biến trong bữa ăn hàng ngày. Canh mồng tơi là món ăn lý tưởng để giải nhiệt. Nói đến mồng tơi là người ta nghĩ ngay tới nhuận tràng, chống táo bón.

Theo đông y, rau mồng tơi có tính hàn, vị chua, tán nhiệt, mất máu, lợi tiểu, giải độc, đẹp da, trị rôm sảy mụn nhọt hiệu quả… rất thích hợp trong mùa nóng. Theo các nghiên cứu cho thấy, trong mồng tơi chứa chất nhầy pectin rất quý để phòng chữa nhiều bệnh, làm cho rau mồng tơi có tác dụng nhuận tràng, thải chất béo chống béo phì, thích hợp cho người có mỡ và đường cao trong máu. Tác dụng trừ thấp nhiệt, làm cho người lao động ngoài trời nắng nóng duy trì được sức khỏe, phòng chống bệnh tật như mỏi mệt háo khát, bứt rứt.

mong-toi

Dưới đây là tác dụng chữa bệnh của rau mồng tơi:

Giảm cholesterol: Chất nhầy của rau mồng tơi có tác dụng hấp thu cholesterol, cholesterol nội sinh và ngoại sinh đều bị giữ lại trong ruột. Vì cholesterol bị khóa hoạt tính nên chất béo trong thực phẩm không ngấm được qua màng ruột, cholesterol sẽ bị thải ra ngoài qua phân. Người mập phì muốn giảm cân nên ăn rau mồng tơi vì nó có khả năng sinh nhiệt thấp, lại thông tiểu và nhuận tràng.

Làm vết thương, tốt cho xương khớp: Nước cốt từ rau mùng tơi có thể làm mau lành vết bỏng, hầm mùng tơi với chân giò thêm chút rượu để ăn hàng ngày sẽ giúp trị đau nhức xương khớp.

Chữa yếu sinh lý: Rau mồng tơi, rau ngót, rau má, bộ lòng gà hay vịt, nấu canh ăn nóng sẽ giúp trị chứng yếu sinh lý ở nam giới hiệu quả.

Trị mụn nhọt: Lá mồng tơi đem giã hoặc say nhuyễn (không cho thêm nước), trộn với ít muối đắp lên mụn.

Say nắng: Giã nát lá mồng tơi đắp vào thái dương và trán. Sau đó dùng vải bó lại để giữ nguyên vị, để bệnh nhân nằm ngủ một giấc dậy sẽ khỏi.

Đẹp da: Lấy lá mồng tơi non ở đầu nhánh, giã nát lấy nước cốt thêm ít muối thoa nhiều lần rồi rửa sạch. Thực hiện vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ.

Trị tiểu khó: Giã hoặc xay nhuyễn lá mồng tơi, vắt lấy nước cốt hòa với nước đun sôi để nguội, thêm một ít muối. Uống hỗn hợp này vào buổi sáng trước khi ăn điểm tâm, còn bã mồng tơi dùng để đắp lên bụng dưới chỗ bọng đái.

Chữa bỏng: Dùng mồng tơi tươi, giã nát, lấy nước bôi lên chỗ da bị bỏng.

Lợi sữa: Phụ nữ sau khi sinh ít sữa, ăn rau mồng tơi sẽ nhiều sữa hơn. Trong rau mồng tơi có các vitamin A3, B3, chất saponin, chất nhầy và chất sắt nên tốt cho thai phụ…

Trĩ: Giã nhuyễn lá mồng tơi đắp vào chỗ bị trĩ.

Thanh nhiệt, giải độc, chữa táo bón: Rau mồng tơi, mắm, muối, tương, giấm nấu thành canh ăn cơm hằng ngày. Sử dụng vài ngày là đại tiện sẽ thông, không còn táo bón.

Lưu ý: Rau mồng tơi có tính hàn, lạnh những người có hay bị lạnh bụng, đi ngoài phải cẩn thận khi dùng. Để giảm tính hàn nên nấu mồng tơi thật kỹ hoặc nấu mồng tơi với các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật.

Theo VnMedia.vn

Dùng thuốc chữa táo bón như thế nào cho chuẩn

Khi bị táo bón có thể xuất hiện các triệu chứng như đầy bụng, trướng bụng, mệt mỏi, buồn nôn, nhức đầu… táo bón lâu ngày có thể gây nổi mụn trên da, trĩ, nhiễm độc cơ thể, nặng hơn là ung thư đại – trực tràng.

Nguyên nhân dẫn đến táo bón do ăn uống không hợp lý như trong khẩu phần ăn thường ngày bị thiếu chất xơ, uống ít nước làm cho phân cứng khó đào thải ra ngoài, ít vận động, stress, do uống thuốc tây có tác dụng phụ gây táo bón như các loại thuốc chữa dạ dày, tăng huyết áp…

Tuy nhiên còn tùy theo cơ chế tác dụng, nên các thuốc điều trị bệnh táo bón được chia ra các loại sau:

Thuốc trị táo bón tạo khối (igol, metamucil): nhóm thuốc này chứa chất xơ, chất sợi (từ vỏ, hạt, củ), chất nhầy (thạch rau câu), cám lúa mì, được cấu tạo gồm những hạt rất nhỏ có thể giữ một thể tích nước gấp nhiều lần thể tích của chúng. Khi uống vào thuốc sẽ hút nước làm tăng thể tích phân ở trực tràng tạo phản xạ đi tiêu tự nhiên. Nhóm thuốc này có tác dụng tương đối chậm nhưng ít can thiệp vào hoạt động bình thường của đại tràng hơn những thuốc nhuận tràng khác.
cach-chua-tao-bon-luu-y-66b79
Thuốc trị táo bón thẩm thấu (sorbitol, forlax, lactitol): chứa các muối vô cơ, đường. Khi uống vào, thuốc giữ nước trong lòng ruột giúp thải phân ra ngoài dễ dàng hơn.

Các thuốc làm mềm phân (docusat) giúp nước thấm vào khối phân, làm phân mềm và dễ di chuyển hơn.

Các thuốc bôi trơn (norgalax, microlax): dùng bơm hậu môn. Thuốc chứa dầu khoáng chất (parafin) và các chất giúp thấm nước tốt (glycerin). Không dùng thuốc quá lâu ngày vì có thể làm kích ứng niêm mạc trực tràng, làm tổn thương niêm mạc trực tràng.

Thuốc trị táo bón kích thích (bisacodyl, cascara): thuốc tác động trực tiếp lên thần kinh chức năng vận động bài tiết của ruột, gây co bóp các cơ thành ruột tạo nhu động ruột đẩy phân ra ngoài. Không nên dùng thuốc này quá một tuần vì chúng có thể gây đau quặn bụng và tiêu chảy. Không dùng nhóm thuốc này cho phụ nữ có thai và chỉ dùng khi những điều trị khác bị thất bại.

Mặt khác, có thể dùng phương pháp điều trị kết hợp hỗ trợ như dùng sữa chua hoặc sữa bột có bổ sung chất xơ, trà thảo dược…

Chú ý không được sử dụng bất kỳ một loại thuốc điều trị bệnh táo bón nào kéo dài quá 8 – 10 ngày. Sử dụng thuốc phải có chỉ định của bác sĩ. Sau khi điều trị bằng thuốc giúp cơ thể vượt qua giai đoạn bất bình thường trong bài tiết, cần điều chỉnh lại lối sống, chế độ ăn uống, luyện tập cho phù hợp.

Để phòng tránh táo bón: cần tạo ra thói quen đi tiêu hàng ngày vào một thời gian nhất định (tốt nhất vào buổi sáng khi thức dậy); không được nhịn đi tiêu; nên ăn nhiều rau, hoa quả chứa nhiều chất xơ; tập thể dục đều đặn (điều này không chỉ giúp chúng ta có được sức khỏe tốt, thân hình cân đối mà còn rất tốt cho hệ tiêu hóa); uống nhiều nước hàng ngày sẽ giúp làm sạch hệ tiêu hóa và làm mềm phân để đẩy ra ngoài được dễ dàng.

BS. Hoàng Thanh Sơn

Nguồn sức khỏe đời sống

Bài thuốc trị táo bón

1. Các loại quả mọng

Các loại quả mọng như dâu tây, mâm xôi, việt quất đều rất hữu ích trong trị chứng táo bón. Các loại quả này rất giàu chất xơ, chất chống oxy hóa và ít calo, bạn có thể dùng làm món tráng miệng, sa lát hoặc ăn nhẹ vào ban đêm.

2. Hoa quả khô

Các loại quả khô như sung, nho, mơ, chà là, mận không chỉ là những đồ ăn nhẹ tốt cho sức khỏe mà còn chứa rất nhiều chất xơ và có tác dụng như một loại thuốc nhuận tràng tự nhiên.
tao-bon
3. Bánh mì ngũ cốc nguyên cám

Bạn nên sử dụng các loại bánh mì ngũ cốc nguyên cám thay vì bánh mì thông thường vì bánh mì ngũ cốc nguyên cám có rất ít chất béo nhưng giàu chất xơ và carbohydrate phức hợp giúp làm giảm chứng táo bón.

4. Các loại hạt

Các loại quả hạt như quả óc chó, hạnh nhân, đậu phộng đều rất giàu chất xơ. Nếu bạn duy trì việc ăn các loại hạt này hàng ngày sẽ giúp giảm chứng táo bón trong thời gian dài.

5. Hoa quả tươi

Các loại hoa quả tươi như táo, lê, mận, đào có thể đem lại cho bạn vô số lợi ích. Bạn nên rửa sạch và để cả vỏ khi ăn vì như vậy sẽ giữ nguyên được hàm lượng chất xơ có sẵn.

6. Chanh

Mỗi sáng khi thức dậy bạn nên uống một cốc nước chanh ấm pha chút muối, nước chanh hỗ trợ làm sạch ruột, đồng thời muối sẽ giúp cho việc đại tiện dễ dàng hơn. Bạn chỉ cần cho một thìa cà phê nước cốt chanh vào ly nước ấm và bỏ thêm vài hạt muối, sau đó uống ngay khi vừa ngủ dậy để giúp ngăn ngừa chứng táo bón.

7. Nước

Nước là thành phần không thể thiếu để trị chứng táo bón. Nước hỗ trợ nhu động ruột giúp bạn đi ngoài dễ dàng hơn. Do vậy, việc bạn uống không đủ nước có thể là nguyên nhân chính dẫn tới chứng táo bón. Hãy uống từ 10 đến 12 cốc nước mỗi ngày để giúp đẩy lùi chứng bệnh khó chịu này.

Theo Dân trí

Chứng rối loạn tiêu hóa bạn thường gặp

Nguyên nhân chính gây ra các bệnh táo bón, trào ngược dạ dày, đầy hơi, đau dạ dày và loét dạ dày là do sự thiếu hụt enzym tiêu hóa.

Theo Tiến sĩ Dinesh Kumar Singal, chuyên gia về tiêu hóa tại Viện Nghiên cứu Pushpawati Singhania (Bệnh viện PSRI) thì hầu hết các bệnh về tiêu hóa có thể phòng ngừa và chữa khỏi một cách tự nhiên bằng cách tăng cường và duy trì sự ổn định của các enzyme tiêu hóa trong cơ thể.

Enzyme tiêu hóa là gì?

Enzyme tiêu hóa là các enzym phân hủy các đại phân tử polyme thành dạng nhũ tương để nhung mao ruột có thể dễ dàng hấp thu vào máu, nuôi dưỡng cơ thể. Các enzym tiêu hóa này rất đa dạng và được tìm thấy nhiều trong nước bọt, trong dạ dày (do các tế bào trong dạ dày tiết ra), trong dịch tụy (do các tế bào tuyến tụy tiết ra) và trong đường ruột ( ruột già và ruột non)…
chung-roi-loan-tieu-hoa-ban-thuong-gap
Tuyến nước bọt tiết enzyme maltase, amylase… giúp tiêu hóa tinh bột. Dạ dày tiết dịch vị và men pepsin giúp tiêu hóa chất đạm. Dịch gan, mật giúp tiêu hóa chất béo. Tuyến tụy tiết dịch tụy để hoàn chỉnh việc tiêu hóa thức ăn ở ruột non.

Nói một cách đơn giản, sự hấp thụ các chất dinh dưỡng qua đường tiêu hóa không được tốt thì sẽ gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa. Các enzyme tiêu hóa có nhiệm vụ giúp phân huỷ thức ăn để thực hiện quá trình tiêu hóa tốt nhất.

Nguyên nhân của sự thiếu hụt các enzym tiêu hóa

Theo tiến sĩ Dinesh Kumar Singal thì một vài yếu tố gây ra sự sụt giảm các enzym trong đường tiêu hóa. Những yếu tố nguy cơ này bao gồm:

– Hút thuốc lá và rượu: Cồn và nicotin trong rượu, thuốc lá sẽ cản trở quá trình sản suất enzyme để tiêu hoá thực phẩm, dẫn đến tình trạng thực phẩm không được tiêu hoá đúng cách, cơ thể không hấp thụ tốt dưỡng chất và cuối cùng gây suy dinh dưỡng.

– Căng thẳng và lão hóa sớm: Khi có tuổi hoặc tâm trạng căng thẳng, sự cân bằng axít – kiềm trong cơ thể cũng trở nên khó khăn, vì vậy mà lượng enzyme được sản xuất cũng suy giảm đáng kể.

– Một số loại thuốc như thuốc ức chế axit và NSAID (thuốc chống viêm không steroid): Các loại thuốc này cũng làm mất cân bằng axít – kiềm trong cơ thể nên làm suy giảm lượng enzyme tiêu hóa.

– Các bệnh như thiếu máu ác tính, bệnh loét dạ dày, viêm tụy, xơ gan…
Hậu quả của việc thiếu hụt enzyme tiêu hóa

Sự thiếu hụt các loại enzyme tiêu hóa sẽ làm giảm hoặc vô hiệu hóa sự phân giải thực phẩm thành những loại đường đơn, các axit amino và các axít béo – những dưỡng chất vốn có nhiệm vụ tạo năng lượng cho cơ thể. Chính vì vậy, khi thiếu các dưỡng chất này, nguồn năng lượng cung cấp cho cơ thể giảm khiến bạn luôn cảm thấy mệt mỏi, thiếu sức sống.

Ngoài ra, sự thiếu hụt enzyme còn dẫn đến những hệ lụy khác cho sức khỏe, chẳng hạn như trào ngược dạ dày thực quản, khó tiêu, đầy hơi, táo bón, nhức đầu, các rối loạn về ruột, xơ vữa động mạch, cholesterol cao, yếu cơ và nguy hiểm nhất là sự suy giảm chức năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể.
Một vài cách tự nhiên để tăng các enzym tiêu hóa

Theo bác sĩ Dinesh thì có nhiều loại thực phẩm tự nhiên có thể làm tăng các enzyme tiêu hóa trong cơ thể, việc quan trọng là bạn cần ăn uống lành mạnh ngăn ngừa các vấn đề sức khỏe và cải thiện hệ thống tiêu hóa.

– Đối với những người không dung nạp lactose thì nên chọn sữa chua để giúp tiêu hóa lactose tốt hơn, tránh các triệu chứng như đầy bụng, khó tiêu, đầy hơi…

– Chế độ ăn giàu chất xơ như ngũ cốc nguyên hạt và chuối rất “thân thiện” với đường ruột vì nó tăng cường các loại vi khuẩn có lợi trong đường ruột. Những vi khuẩn này lần lượt giúp tiêu hóa tốt hơn .

– Các loại thực phẩm như gừng, bạc hà, hạt cây thì là… cũng có tác dụng giúp cải thiện tiêu hóa rất tốt. Nên tránh các loại thực phẩm chiên rán ở nhiệt độ cao hoặc thực phẩm chế biến qua lò vi sóng vì cách chế biến này làm hao hụt đáng kể lượng enzyme tiêu hóa có sẵn trong thực phẩm.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những bài thuốc hay từ ngân nhĩ

Ngân nhĩ được dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, lao phổi, viêm khí phế quản, khái huyết, đàm huyết, miệng khô, họng khô rát, nóng rát cồn cào vùng bụng, chữa kiết lỵ, trĩ, đau răng, kinh nguyệt không đều; tăng huyết áp, táo bón…

Ngân nhĩ còn gọi là nấm tai mèo, bạch mộc nhĩ… Ngân nhĩ hầm hải sâm, ngân nhĩ tiềm gà, ngân nhĩ hầm thịt dê cải bẹ, cháo ngân nhĩ… là món ngon, bổ trên bàn tiệc; nước hộp ngân nhĩ đang là một đồ uống bổ dưỡng được nhiều người ưa chuộng. Cùng với nhân sâm, lộc nhung, ngân nhĩ được mệnh danh “sơn hào hải vị” và được xem là “ngọc sáng trong các loài nấm”.

Trong ngân nhĩ có protein, lipid, glucid, cenlulose, Na, K, Ca, Fe, P, bêta-caroten, vitamin B1, B2, PP… Theo y học cổ truyền, ngân nhĩ vị ngọt nhạt, tính bình; vào phế, vị, thận. Với công năng tư âm nhuận phế, ích khí bổ thận, hòa huyết hoạt huyết, ngân nhĩ được dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, lao phổi, viêm khí phế quản, khái huyết, đàm huyết, miệng khô, họng khô rát, nóng rát cồn cào vùng bụng, chữa kiết lỵ, trĩ, đau răng, kinh nguyệt không đều; tăng huyết áp, táo bón… Liều dùng 3 – 15g; dạng nấu, xào, rán, hầm nhừ, nước ép.

ngan-nhi-chua-rong-huyet

Một số cách dùng ngân nhĩ làm thuốc

Chữa kiết lỵ: ngân nhĩ 20g, lá dạ cẩm 10g, núm quả chuối tiêu 10g, mã đề thảo 10g. Tất cả sao vàng hạ thổ; sắc lấy 100ml nước, chia uống 2 lần trong ngày.

Trị rong huyết, băng kinh: ngân nhĩ mọc trên cây dâu phơi khô, tán bột. Mỗi lần uống 16g.

Ngân nhĩ 100g, lá ngải cứu 30g, cây cứt lợn 50g. Ngân nhĩ hấp chín, phơi khô; các vị sấy khô, tán bột luyện với mật ong làm viên (1,5g). Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 viên, uống với nước chè nóng
Chữa đau răng: ngân nhĩ, kinh giới; liều lượng bằng nhau. Sắc lấy nước đặc ngậm và súc miệng.

Chữa chứng nước mắt chảy nhiều: ngân nhĩ 30g, mộc tặc 30g. Ngân nhĩ sao tồn tính; các vị nghiền thành bột. Mỗi lần dùng 6g, sắc với nước vo gạo.

Món ăn – bài thuốc có ngân nhĩ

Cháo ngân nhĩ: ngân nhĩ 25g, gạo tẻ 100g. Cho ngân nhĩ nấu với nước sạch đến khi gần nhừ, cho gạo vào nấu tiếp cho đến khi thành cháo, cho đường phèn vừa ăn, khuấy đều. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản, ho khan ít đờm, đờm có lẫn tia máu.

Canh hầm ngân nhĩ trứng chim câu: ngân nhĩ 50g, trứng chim câu 20 quả, đường phèn 250g. Nấu ngân nhĩ cho chín nhuyễn, cho đường phèn vào, đảo đều và loại bỏ váng bã, cho trứng chim câu đã được bỏ vỏ, khuấy đều và đun cho sôi đều là được. Dùng cho các trường hợp ho khan táo bón.

Ích thọ ngân nhĩ thang: ngân nhĩ 25g, câu kỷ tử 20g, long nhãn 15g, đường phèn 100g. Ngân nhĩ nấu chín nhừ, tiếp tục cho kỷ tử, long nhãn vào nấu tiếp đến khi tất cả chín nhuyễn (dùng lửa nhỏ và khuấy đều). Tiếp tục cho đường phèn vào đun tiếp cho tan. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản ho khan ít đờm, lao phổi, thời kỳ bình phục sau các bệnh truyền nhiễm, sốt cao mất nước, táo bón, mất ngủ; người cao tuổi và sản phụ suy nhược cơ thể, tăng huyết áp, suy nhược thần kinh.

Sirô ngó sen ngân nhĩ: ngân nhĩ 10g, ngó sen 20g, đường phèn vừa ăn. Nấu nhỏ lửa cho nhừ nhuyễn, cho ăn thường ngày. Tác dụng kiện tỳ chỉ huyết. Dùng cho các trường hợp xuất huyết dạ dày, tá tràng, trĩ xuất huyết.

Kiêng kỵ: người bị ho do khí phế quản nhiễm lạnh (phong hàn khái tấu) không dùng.
Theo TS. Nguyễn Đức Quang
SK&ĐS

Ăn uống và tập luyện chữa trị chứng táo bón

Sự rối loạn chức năng của bất kỳ một đoạn nào của đại tràng (6 đoạn) đều có thể gây chứng táo bón. Chức năng co bóp của ruột bị ảnh hưởng bởi thành phần của thức ăn, trạng thái của các chủng vi khuẩn trong ruột.

Táo bón có thể do yếu tố thần kinh ở những người luôn trong trạng thái căng thẳng thần kinh tâm lý, điều kiện đi đại tiện không thuận tiện (chỗ, thời gian…). Ngoài ra, một số bệnh như trĩ, nứt hậu môn, thoát vị thành bụng, thoát bị bẹn, một số thuốc (antacid, kháng sinh, an thần, chống trầm cảm, chống nôn, lợi tiểu, chữa trị viêm loét dạ dày, hạ huyết áp) cũng có thể gây táo bón.

Ai hay bị táo bón?

Chứng táo bón là một trong các triệu chứng của bệnh đường ruột, bệnh trĩ, bệnh dạ dày, nhưng thường là do rối loạn chức năng ruột, với biểu hiện tăng khoảng thời gian giữa các lần đi đại tiện so với mức sinh lý bình thường hay thường xuyên không đi hết phân. Mức sinh lý bình thường được coi là đi đại tiện không quá 2 – 3 lần/ngày, không ít hơn 3 lần/tuần. Nếu thường xuyên trên 48 giờ mới đi đại tiện, khi đi cần phải làm động tác rặn, số lượng phân ít (dưới 100g) là bị bệnh táo bón.
an-uong-va-tap-luyen-chua-tri-chung-tao-bon
Điều trị chứng táo bón là một công việc khó khăn, thành công phụ thuộc nhiều vào sự xác định đúng nguyên nhân gây bệnh, nhưng trước hết – nguyên tắc cơ bản là sự điều chỉnh chế độ ăn.

Chứng táo bón thường gặp ở phụ nữ hơn là ở nam giới, thường gặp ở những người lao động trí óc hơn là ở những người lao động chân tay. Chứng táo bón ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng cuộc sống của con người với các biểu hiện như cảm giác đầy bụng, đầy hơi, đau ở vùng bụng, hay đánh rắm, buồn nôn, tâm trạng kém, cảm giác mệt mỏi, giảm khả năng lao động. Đôi khi, chứng táo bón gây hội chứng rối loạn thần kinh- luôn lo sợ và luôn nghĩ về tình trạng bệnh của mình, nghĩ rằng bệnh ngày càng nặng, không thể chữa khỏi. Thực ra đa số trong số họ khi thăm khám lâm sàng chẳng phát hiện ra bệnh gì, thường chỉ là do hội chứng rối loạn chức năng ruột (giảm trương lực cơ trơn của thành ruột, giảm nhu động ruột) với các nguyên nhân dễ điều chỉnh.

Chế độ ăn phòng và chữa táo bón

Tăng cường ăn các thức ăn có tính kích thích nhu động ruột, như: Các thức ăn có nhiều chất xơ: rau xanh, hoa quả, trái cây khô, hạt ngũ cốc, bánh mỳ đen, gạo lứt. Các thức ăn này chứa nhiều chất xơ và chất pectin tạo điều kiện thuận lợi cho các chủng vi khuẩn có lợi trong đường ruột phát triển, ức chế các quá trình gây thối, ngoài ra các chất độc hại sẽ bám vào các chất xơ và được thải ra ngoài cơ thể. Ngoài ra, ăn các chất này làm tăng khối lượng phân – kích thích lên thành ruột, gây tăng nhu động ruột và gây cảm giác mót đi ngoài.

Các thức ăn có chứa nhiều magiê như sữa, kê, đậu đũa, khoai lang và một số loại rau như rau đay, rau dền, mùng tơi, rau khoai lang, củ quả (khoai sọ, đu đủ xanh, chuối tiêu). Như chúng ta đã biết, magiê có vai trò quan trọng trong việc tăng cường nhu động ruột.

Tránh ăn các thức ăn ức chế nhu động ruột, như:

Các chất kích thích như hạt tiêu, ớt cay, nước chè đặc, ca cao, rượu nho đỏ. Hạn chế uống rượu, cà phê, hút thuốc lá; các thức ăn nóng, các thức ăn tinh chế như cháo, súp đặc (khoai tây, cà rốt nghiền…); các thức ăn nhanh (fast food); thức ăn có chứa tinh dầu (tỏi, hành, củ cải), nấm, các đồ rán.

Ngoài ra, muốn phòng ngừa táo bón phải ăn phải đúng giờ, tốt nhất là ăn rải bữa (4- 5 bữa/ngày), trước khi đi ngủ nên ăn một cốc sữa chua có tác dụng cải thiện chủng vi khuẩn có lợi trong ruột. Duy trì đi đại tiện 1 lần/ngày, đi đúng giờ, tốt nhất là rèn thói quen đi vào buổi sáng hoặc chiều tối khi không vội vã. Khi đã có cảm giác mót đi thì dù bất cứ bởi nguyên nhân nào (muộn đi làm, muộn giờ tàu xe chạy, có điện thoại…) cũng không được nhịn, bởi vậy cần phải chủ động sắp xếp thời gian. Không rặn khi đi đại tiện, đi xong nên rửa hậu môn bằng nước lạnh.

Uống đủ nước: đa phần những người bị táo bón là do không uống đủ nước trong ngày. Uống không đủ nước dẫn đến giảm tỉ lệ nước trong thành phần của phân và gây táo bón. Bình thường trong thành phần của phân chứa khoảng 75 – 78% nước. Nếu tỉ lệ nước trong phân giảm xuống còn 50% đã làm khối phân khó khăn di chuyển theo ruột già, còn nếu tỉ lệ nước trong phân xuống còn 20% thì khối phân hoàn toàn bị tắc. Khuyến cáo, mỗi ngày uống khoảng 1,5 – 2 lít gồm nước có canh và nước uống ở các dạng khác nhau (nước đun sôi để nguội, nước chè, nước hoa quả…). Nếu có thói quen đi đại tiện buổi sáng thì ngay sau khi ngủ dậy uống một cốc nước lạnh (nước sôi nguội, nước khoáng, nước quả) sẽ có tác dụng kích thích nhu động ruột. Nếu phải dùng thường xuyên một trong các loại thuốc có thể gây táo bón (nói ở trên) thì có thể phải dùng thêm thuốc nhuận tràng.

Chế độ tập luyện

Cuộc sống tĩnh tại ít vận động cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra chứng táo bón. Tăng cường vận động, tích cực tập luyện thể dục thể thao, đặc biệt là các bài tập rèn sức bền như đi bộ nhanh, chạy cự ly dài, bơi, cầu lông) sẽ cải thiện đáng kể tình trạng của các bệnh đường tiêu hóa trong đó có chứng táo bón. Trong khi tập luyện, sự chuyển động của các cơ quan nội tạng cải thiện đáng kể chức năng của ruột (ruột được xoa bóp), tăng cường trương lực thành ruột, tăng tiết vào thành ruột muối magiê làm tăng nhu động ruột và phục hồi chức năng tiêu tháo của ruột. Và như vậy có thể nói, đi bộ và chạy sức khoẻ thường xuyên là phương pháp hữu hiệu để chữa chứng bệnh táo bón. Ngoài ra, thường xuyên làm động tác xoa nhẹ ở vùng bụng, xoa với khăn lạnh sẽ có tác dụng tăng cường nhu động ruột, tăng cường chức năng tiêu tháo của ruột.

Theo sức khỏe đời sống

Thừa canxi có thể hạn chế chiều cao

Bổ sung quá nhiều canxi có thể khiến cơ thể trẻ dư thừa và ảnh hưởng tới sự phát triển chiều cao.

Vì cả hai vợ chồng chị Loan (Hà Nội) đều có chiều cao khá khiêm tốn nên khi mới sinh cháu đầu lòng, cả hai vợ chồng đều rất chú ý tới việc bổ sung các chất cho con, đặc biệt là canxi để cải thiện chiều cao cho bé. Bé Bin, con của chị càng lớn, chị lại càng tìm cách để con được hấp thụ nhiều canxi hơn. Thậm chí, chị còn mua thêm các loại thuốc bổ sung canxi trên thị trường để cho bé uống mỗi ngày.

Tuy nhiên, mặc dù được ăn uống đủ chất, vậy nhưng cu Bin vẫn còi và còn hay bị chứng táo bón. Lo lắng, chị Loan đưa con đi khám thì được bác sĩ cho biết rằng, con chị bị táo bón là do… thừa canxi. Không chỉ vậy, bác sĩ còn đưa ra lời cảnh báo rằng “Việc dư thừa canxi ở trẻ không những không tốt mà nó còn gây ra nhiều hậu quả khác như việc trẻ có thể bị sỏi thận và hạn chế phát triển chiều cao”…
chieu-cao-o-tre
Có rất nhiều yếu tố quyết định đến chiều cao của trẻ như gene, hàm lượng vi chất (sắt, kẽm, vitamin A, canxi…). Do đó, để trẻ đạt chiều cao tốt, cần tăng cường chế độ ăn với thực phẩm nhiều vi chất, khuyến khích trẻ tập luyện thể dục thể thao thường xuyên.

Cha mẹ tuyệt đối không nên tự mua thuốc tăng cường canxi cho trẻ mà nên đi khám để dùng theo tư vấn của bác sĩ. Dư thừa canxi sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển chiều cao ở trẻ nhỏ. Việc hấp thụ canxi còn phụ thuộc vào thể trạng của từng trẻ, bởi vậy việc người lớn tìm cách bổ sung canxi cho con sẽ không mấy tác dụng nếu thể trạng của trẻ bị yếu và khó khăn trong việc hấp thị canxi.

Cách bổ sung canxi an toàn, hiệu quả là qua đường thực phẩm, như sữa, ăn tôm, tép, ốc, cua, trứng và các loại rau, đậu… Khi trẻ có biểu hiện táo bón, đau bụng, đi tiểu ra sỏi, máu…, cần đưa đi khám để xác định có bị thừa canxi không và điều trị theo chỉ định của bác sĩ.

Hàng ngày, cơ thể trẻ có thể hấp thụ canxi thông qua các thực phẩm. Tỷ lệ hấp thụ canxi của cơ thể không phải là vô hạn mà nó có mức độ.  Chính vì vậy mà việc cung cấp canxi quá nhiều sẽ chỉ dẫn đến dư thừa và lãng phí chứ không hề làm cho xương phát triển tốt.

Những trẻ em nào cần được bổ sung canxi

Thiếu hụt canxi ở trẻ sẽ dẫn đến chứng còi xương, tóc mọc chậm và lâu biết đi. Thông thường, các bậc cha mẹ thường khó nhận biết rằng con đang bị thiếu hụt canxi. Khi thấy con có những triệu chứng đó thì dễ nhầm với các bệnh khác.

Để biết con đang bị thiếu hụt canx hay không, các mẹ hãy quan sát tới giấc ngủ của con qua những biểu hiện, con khó ngủ, thường hay giật mình tỉnh giấc. Ngoài ra, còn có những biểu hiện khác như trẻ mọc răng muộn. Tuy nhiên, ngay cả khi biết con đang bị thiếu canxi, các bậc cha mẹ cũng nên đưa con tới các bác sĩ để xin tư vấn chứ không nên tự ý bổ sung canxi cho con.

Vitamin D chính là cách bổ sung canxi tốt nhất cho con

Vitamin D có hiệu quả thúc đẩy sự hấp thụ canxi của cơ thể, vì thế nó được coi là chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cửa dẫn đến chuyển hóa canxi. Trẻ em cần bổ sung 400 đơn vị vitamin D mỗi ngày để trợ giúp sự hấp thụ canxi của cơ thể. Vitamin D trong cơ thể có thể tổng hợp dựa vào các chế phẩm canxi có chứa vitamin D hay qua việc phơi nắng hàng ngày.

Theo afamily

Trẻ bị táo bón – đề phòng và chữa trị

Táo bón là hiện tượng ruột co bóp kém hoặc không đủ mạnh để bài tiết phân ra ngoài. Các cơ bụng và thành ruột cũng có một vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón. Có nhiều nguyên nhân gây táo bón như: rối loạn chuyển hóa, rối loạn tuyến nội tiết, có sự bất thường ở đường tiêu hoá…

Khi trẻ bị táo bón, phân thường cứng và khô. Táo bón là một triệu chứng hay gặp ở trẻ em khi thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm và ít chất khoáng, cũng có khi do uống nhiều sữa bò, sữa bột vì ít sữa mẹ hoặc do ăn quá nhiều thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết.

Bạn hãy cho cháu uống nhiều nước và nước ép trái cây. Các loại nước mận ép hoặc nước luộc củ cải cũng có tác dụng chống táo bón.

Hãy cố đưa nhiều chất xơ hơn và chế độ ăn của con bạn. Chất xơ đem lại khối lượng độn giúp cho ruột bám chặt và chuyển được những gì có trong ruột. Việc cho trẻ ăn nhiều rau quả sẽ giúp cho cơ bụng và thành ruột co bóp tốt hơn.

Đối với những trẻ còn bú thì pha sữa loãng hơn bình thường một chút, có thể pha thêm một thìa cà phê nước quả (cam, quýt) vào cốc sữa cho trẻ, hoặc dùng nước cháo pha sữa. Có một điều cũng khá quan trọng là mẹ bị táo bón mà cho con bú thì trẻ cũng sẽ bị táo bón. Vì vậy cần phải điều trị táo bón cho mẹ trước.

Khi trẻ bị táo bón, ngoài việc điều chỉnh chế độ ăn uống bạn nên tập cho trẻ thói quen đi ngoài vào một giờ cố định trong ngày. Nên chọn thời gian lúc trẻ không vội vã, thời gian sau bữa ăn là lúc thích hợp nhất, vì lúc này nhu động ruột hoạt động tăng.
taobonotre
Bạn đừng có hối thúc con bạn khi cháu đang ngồi bô nhưng cũng đừng bỏ mặc cháu ở đó quá lâu. Nếu cháu có vẻ bị táo bón, bạn hãy thoa vaseline quanh hậu môn cho cháu trước khi cho cháu ngồi bô, để làm cho cháu đi cầu dễ hơn.

Bạn đừng quá lo lắng khi con bạn bị táo bón nhất thời, chứng đó sẽ không gây hại gì cho cháu. Nhưng nếu bé bị táo bón kéo dài trên 3 ngày, khóc kêu đau khi đi cầu hoặc có những vệt máu trong phân, trong tã hay đũng quần thì bạn nên đưa trẻ đi khám bệnh để được điều trị ngay, tránh trường hợp bé bị táo bón nặng đến độ phân quá to và khô cứng, gây tổn thương nặng ở hậu môn.

Nguồn st

Nguyên nhân làm trẻ táo bón

Chào bác sĩ. Bé nhà em là bé trai. Lúc sinh bé được 2,8kg. Hiện tại đã 10 tháng 19 ngày, cân nặng 7,6kg và cao 70cm. Hiện bé đang ăn cháo hạt, ngày 3 bữa, mỗi lần ăn được 2 bát ăn cơm với đủ 4 nhóm thực phẩm. Sữa uống được 600ml/ngày.

Lịch ăn của bé như sau:

7h30, 13h,18h là uống 160ml sữa công thức. Đêm cũng uống khoảng 80-120ml sữa công thức.

10h,15h, 20h30 ăn cháo.

Bé không thích ăn sữa chua, thỉnh thoảng ăn một ít hoa quả.

Cách nấu cháo cho bé như sau:

Em ninh một nồi cháo to, đến mỗi bữa ăn sẽ xay/ băm thịt/ cá/ tôm cua cho vào nấu (mỗi một loại thức ăn em cho 30g) và khi thức ăn chín sẽ cho rau vào (lượng rau vừa phải), rau chín là bắc ra luôn. Khi bé gần ăn sẽ cho khoảng 2 thìa dầu ăn của bé vào (thìa ăn bột khoảng 5ml). Thực phẩm thay đổi theo bữa.

Ngày bé chơi ngoan, hơi nghịch ngợm một chút. Đêm bé ngủ ngoan, không quấy khóc, không bị ra mồ hôi trộm.

Bé đi đại tiện thì phân khô và cứ 2 ngày mới đi một lần. Em nghĩ là bé bị táo và đã cho ăn các loại rau như mồng tơi, rau lang mà tình trạng không hề biến chuyển.

Đã 2 tháng nay bé không lên cân. Em không biết vì lý do gì? Em cũng đã đổi rất nhiều sữa cho bé nhưng vẫn lên cân chậm. Rất mong bác sĩ tư vấn giúp cho em để bé tăng cân được tốt hơn.

Em xin cảm ơn. (Nguyen Thi Hien Trang – trangnth…@bidv.com.vn)
nguyen-nhan-hang-dau-khien-be-bi-tao-bon
Trả lời:

Bạn thân mến!

Mặc dù được chăm sóc rất chu đáo nhưng hiện tại cân nặng và chiều cao của bé thấp rất nhiều so với chuẩn (trung bình bé trai 10 tháng 19 ngày tuổi nặng 9,34kg, cao 74,1cm). Bé gần như có tình trạng suy dinh dưỡng còi cọc độ I.

Như vậy có thể nói tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng (năng lượng và các đa vi chất dinh dưỡng như vitaminD, canxi, sắt, kẽm…) của bé đã diễn ra từ lâu và vẫn đang tiếp diễn (2 tháng nay bé không tăng cân và chỉ số cân nặng/chiều cao đã ở kém so với chuẩn 1 độ). Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới tình trạng này. Vì vậy bạn nên sớm bé tới gặp bác sĩ để được thăm khám và điều trị kịp thời.

Việc cho trẻ ăn bổ sung không đầy đủ, cân đối và phù hợp với lứa tuổi cũng là một trong những nguyên nhân khiến trẻ chậm tăng cân. Chế độ ăn hiện tại của bé (600ml sữa công thức + gần 1200ml cháo – trong đó có 90g thịt (tôm, cá…) và 30ml dầu ăn) là nhiều và chưa cân đối, phù hợp với lứa tuổi .

Bạn nên thay đổi thời gian ăn như sau: 3 bữa cháo xay hoặc đánh nhuyễn (9h, 14h và 18 giờ) tổng 600ml  + 3 bữa sữa công thức (6h, 11h, 20h) tổng 500ml, nên giảm dần bữa sữa đêm.

Bạn nên xem xét cho bé ăn đầy đủ, cân đối và phù hợp với khuyến cáo sau:

Cho đến tròn 12 tháng tuổi trong ngày (24 giờ) bé cần khoảng 500ml sữa (sữa mẹ là tốt nhất, không có sữa mẹ có thể bổ sung sữa công thức phù hợp với lứa tuổi) và 3 bữa bột/ cháo xay (tổng 600ml/ngày) đặc dần, tổng tăng dần từ khoảng 70-90g gạo tẻ trắng, 70-90g thịt (tôm, cá…), 15g dầu (mỡ), rau xanh, quả chín…

Hiện tượng bé bị táo bón cũng có thể thuyên giảm khi bạn điều chỉnh chế độ ăn. Vì chế độ ăn nhiều thịt, cá…, nhiều tinh bột, ít rau xanh, hoa quả… và thiếu nước là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng táo bón.

Trong thời gian này bạn nên tăng cường cho bé ăn các loại rau xanh, quả chín nhuận tràng (chuối, đủ đủ, cam…) và đảm bảo đủ nước khoảng 100ml/kg/24 giờ (kể cả sữa và nước quả). Tập thói quen đi ngoài hàng ngày vào một giờ nhất định, xoa bụng theo khung đại tràng để giúp bé tiêu hóa tốt hơn và không bị táo bón…

Chúc bạn và bé luôn được mạnh khỏe, hạnh phúc!

Nguồn afamily

Các loại bệnh dễ mắc nếu bé ít ăn rau quả

Táo bón, giảm khả năng miễn dịch và mắc rất nhiều bệnh do thiếu vitamin nếu trẻ lười ăn rau xanh, hoa quả.

1. Táo bón là vấn đề phổ biến nhất

Xenlulozơ hay thường gọi là chất xơ có vai trò rất quan trọng cho tiêu hóa. Trẻ cần chất xơ để ruột có thể hoạt động tốt.

Xenlulozơ có trong rau xanh và hoa quả thúc đẩy sự tăng trưởng của vi khuẩn có lợi trong ruột và ức chế sự tăng sinh của các vi khuẩn có hại. Không đủ lượng xenlulozơ cung cấp cho tiêu hóa sẽ làm giảm kích thích nhu động ruột.

Nhu động ruột chậm lại là một trong những nguyên nhân dẫn đến táo bón, đi tiêu khó khăn khiến cho bé cảm thấy đau khi đi vệ sinh, thậm chí chảy máu. Phân tích tụ trong ruột quá lâu sẽ sản sinh chất độc hại, phá hủy môi trường có lợi cho sự phát triển của vi khuẩn trong đường ruột.

2. Thiếu vitamin
4-loai-benh-de-mac-neu-be-it-an-rau-qua
Các loại trái cây và rau quả là nguồn cung cấp vitamin C chính cho cơ thể. Vitamin C và collagen giúp hình thành mô liên kết, nhờ đó các tế bào có thể tích hợp chặt chẽ. Thiếu vitamin C có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của răng, lợi, dẫn đến hiện tượng chảy máu và cơ thể bị nhiễm trùng dưới da.

Trái cây và rau màu vàng và màu da cam là một nguồn thực phẩm rất giàu beta-carotene. Beta-carotene trong cơ thể được chuyển hóa thành vitamin A hỗ trợ cho sự phát triển của xương, răng, và tốt cho thị giác.

Thiếu vitamin A có thể phát sinh bệnh quáng gà, viêm da nang tóc, cơ thể bị nhiễm trùng, và thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển tâm thần.

3. Giảm khả năng miễn dịch

Trái cây và rau quả giàu các thành phần chống oxy hóa (chẳng hạn như vitamin C, beta-carotene). Nếu cơ thể không được cung cấp đủ lượng chất này, các gốc tự do trong cơ thể sẽ có cơ hội phát triển. Lượng dinh dưỡng không cân bằng sẽ làm giảm miễn dịch, khiến bé dễ bị bệnh.

4. Dẫn đến ăn quá nhiều đồ ăn nhẹ

Nhiều trẻ không thích trái cây và rau quả, thay vào đó lại thích thực phẩm có nhiều chất béo và lượng đường cao. Đồ ăn nhẹ với hàm lượng đường cao sẽ ảnh hưởng đến sự ngon miệng của bữa ăn, khiến trẻ dễ bị các triệu chứng thiếu cân và dinh dưỡng.

Mặt khác, bánh kẹo, đồ ăn nhẹ chiên và mặn có thể gây sâu răng, béo phì và các tác dụng phụ khác.

Cách bổ sung thêm chất xơ vào thực đơn hàng ngày cho trẻ

Bữa sáng

Bắt đầu một ngày mới bằng việc cho trẻ ăn các sản phẩm ngũ cốc giàu chất xơ. Cho bé ăn thêm một trong nhóm quả giàu chất xơ là táo, cam hoặc chuối…

– Thêm rau xanh vào các món mỳ, cháo, soup… cho bữa sáng của bé.

– Bên cạnh đó, để bổ sung thêm các chất dinh dưỡng cho bé, mẹ có thể cho trẻ uống các loại sữa tươi, sữa nguyên kem hoặc sữa công thức.

Bữa phụ

– Các bữa ăn phụ, ăn vặt, hãy chọn các trái cây theo mùa, hoa quả khô như nho, quả chà là, quả mơ, táo và lê. Nếu là bữa phụ, trẻ có thể ăn bánh mỳ (bánh sandwich) kẹp với nước sốt thịt, rau; uống kèm nước ép táo, lê, xoài…

– Các loại đỗ như đỗ xanh, đỗ đen, đỗ đỏ cũng giàu chất xơ, dù được nấu (hầm) chín.

– Nếu có thể, bạn thử nướng khoai lang cả vỏ rồi cho bé thưởng thức vì khoai lang và vỏ khoai lang là nguồn dồi dào chất xơ.

Bữa tối

– Ngoài những món như gà, cá, thịt lợn, thịt bò… cần cho trẻ ăn thêm rau xanh với các hình thức luộc, nấu canh, xào, hầm…

Tuy nhiên, bạn cần tránh tăng đột ngột lượng chất xơ vào trong chế độ dinh dưỡng, mà cần tăng từ từ và không quên cho trẻ uống đủ nước.

Lưu ý không nên cho trẻ ăn quá nhiều chất xơ

– Quá nhiều chất xơ có thể gây hại đến việc hấp thụ một số thức ăn đồng hóa trực tiếp như sắt, đồng và kẽm.

– Chất xơ chiếm nhiều diện tích trong dạ dày có thể làm mất cảm giác ngon miệng ở trẻ và lấy đi lượng calo cần thiết cho tăng trưởng.

– Cho trẻ ăn vừa đủ các loại trái cây và rau, ăn trái cây có vỏ sau khi đã được rửa sạch kỹ, các món ăn thuộc họ đậu.

Lượng chất xơ cần thiết

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trung tâm Y khoa khu vực Genesys, bang Michigan (Mỹ), cách dễ dàng để xác định là cứ cộng thêm 5 vào số tuổi của trẻ.

Đối với trẻ 7 tuổi thì nên ăn 12 gam chất xơ 1 ngày. Trẻ trên 10 tuổi nên bổ sung từ 15-20 gam chất xơ/ngày.

Nguồn st

Sữa chua làm từ sữa công thức cực tốt cho bé

Vì ngoài cung cấp các giá trị dinh dưỡng như sữa công thức pha uống, sữa chua còn cung cấp các vi khuẩn có lợi, giúp bé tiêu hóa hấp thu thức ăn tốt hơn.

Chào bác sĩ. Con trai em được 10 tháng rưỡi rồi nhung bé không chịu uống sữa, bé nặng 8,4kg cao 75cm vậy bé có bị suy dinh dưỡng không ạ? Em cho bé ăn sữa chua làm từ sữa bột của bé, vậy sữa chua này có giá trị dinh dưỡng giống như sữa pha với nước không ạ? Em mong được hồi âm. (Hong Tuoi – hongtuoi.thai@…gmail.com)
sua-chua-lam-tu-sua-cong-thuc-cuc-tot-cho-be
Trả lời:

Cháu chỉ hơi nhẹ cân 1 chút so với chuẩn, nhưng chưa bị suy dinh dưỡng. Chiều cao thì hoàn toàn bình thường vì vậy bạn có thể yên tâm nhé.

Sữa chua làm từ sữa bột của bé còn có giá trị dinh dưỡng tốt hơn uống sữa bột công thức, vì ngoài cung cấp các giá trị dinh dưỡng như sữa bột pha uống, sữa chua còn cung cấp các vi khuẩn có lợi, giúp cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, phòng chống táo bón, giúp bé tiêu hóa hấp thu thức ăn tốt hơn.

ề chế độ ăn cho bé ở tầm tuổi này, bạn có thể tham khảo khuyến cáo sau:

Ở lứa tuổi này cho đến tròn 12 tháng tuổi trong ngày (24 giờ) bé cần khoảng 500ml sữa (sữa mẹ là tốt nhất, sữa mẹ đủ bé không cần ăn thêm sữa công thức và các sản phẩm từ sữa…) và 3 bữa bột/cháo xay (600ml/ngày) đầy đủ 4 nhóm thực phẩm tổng gồm khoảng 90g gạo tẻ trắng, 90 thịt (tôm, cá…), 15g dầu (mỡ), 50g rau xanh, 100g quả chín.

Từ tròn 12 tháng tuổi đến tròn 24 tháng tuổi tăng 3 – 4 bữa cháo/ngày, đầy đủ 4 nhóm thực phẩm tổng tăng dần từ khoảng 100 – 150g gạo tẻ trắng,  100 – 120g thịt (tôm, cá… cách ngày 1 quả trứng gà cả lòng trắng), 20 – 30g dầu (mỡ), 50 – 100g rau xanh, 200g quả chín…

Bạn nên xem xét cho bé ăn đầy đủ, cân đối phù hợp với hướng dẫn trên. Trong giai đoạn này bạn nên dành nhiều thời gian bên bé, giải thích động viên bé, nên thay đổi cho bé ăn đa dạng các loại thực phẩm, nên chia nhỏ bữa ăn và thời gian ăn không kéo dài quá 30 phút/1 bữa…

Bạn cần tăng cường cho bé bú (việc này giúp lượng sữa mẹ tăng lên), bạn nên ăn đầy đủ, đa dạng các loại thực phẩm, uống nhiều nước, ăn thêm bữa hoặc 200ml sữa công thức trước khi ngủ (sữa mẹ được tiết nhiều vào đêm).

Chúc bạn và bé luôn mạnh khỏe, hạnh phúc!

Nguồn afamily

Đừng chủ quan việc bé bị táo bón

Táo bón là một triệu chứng hay gặp ở trẻ em với biểu hiện dễ nhận thấy thông qua việc giảm số lần đại tiện bình thường, khó và đau khi đại tiện do phân rắn hoặc quá to. Táo bón làm trẻ có cảm giác khó chịu, quấy khóc, mệt mỏi và sút cân…

Trẻ được coi là bị táo bón nếu dưới 2 lần đại tiện/ngày đối với trẻ sơ sinh, dưới 3 lần đại tiện/tuần (trên 2 ngày/lần) với trẻ đang bú mẹ, dưới 2 lần đại tiện/tuần (trên 3 ngày/lần)với trẻ lớn. Táo bón nếu không được điều trị sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như trẻ biếng ăn, chậm lớn, còi cọc, suy dinh dưỡng, chướng bụng, đầy hơi, ăn khó tiêu, nôn trớ. Những chất độc trong phân cần được thải ra ngoài hằng ngày bị tích lại trong ruột có thể bị hấp thu trở lại trong máu gây hại cho sức khỏe của trẻ. Trẻ sẽ bị sa trực tràng do rặn và ngồi lâu, chảy máu trực tràng nứt hậu môn do phân quá rắn.

khi-be-bi-tao-bon-sau-khi-sinh

Tại sao trẻ bị táo bón?

Dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa: hiếm gặp, thường chỉ chiếm 5% trong các nguyên nhân gây táo bón: phình to đại tràng (bệnh Hipschsprung), bệnh suy giáp trạng (bệnh Myxoedeme), khi mắc các bệnh này, trẻ thường bị táo bón ngay sau khi sinh.
Các nguyên nhân mắc phải như: trẻ bị nứt hậu môn, bị trĩ nên trẻ đi ngoài bị đau gây co thắt hậu môn. Có thể do sai lầm trong chế độ ăn uống: ăn quá ít, uống ít nước dẫn đến thiếu nước; ăn quá nhiều chất đạm, ít chất xơ do ăn ít rau xanh, quả chín; pha sữa quá đặc, ăn chưa đúng về số lượng hàng ngày, trẻ ăn sữa bò dễ bị táo bón hơn sữa mẹ, mẹ bị táo bón cho con bú khiến trẻ cũng bị táo bón.

Có thể trẻ bị giảm trương lực ruột do mắc một số bệnh như: còi xương, suy dinh dưỡng, thiếu máu, mất ngủ… hoặc do dùng thuốc kháng sinh, giảm ho có codein. Ở trẻ lớn còn chịu ảnh hưởng của yếu tố tinh thần như nhịn đại tiện do sợ bẩn, mải chơi hoặc ngại đi đại tiện, ở tuổi mẫu giáo, trẻ sợ cô giáo nên không dám xin phép đi đại tiện, không luyện thói quen đi vệ sinh đúng giờ.

Cần phải làm gì?

Khi trẻ bị táo bón, tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có những cách xử trí thích hợp. Nếu táo bón mới xảy ra, cần điều chỉnh lại chế độ ăn:

Cho trẻ ăn đủ số lượng thức ăn và uống nhiều nước trong ngày.

Bổ sung vào bữa ăn của trẻ nhiều rau xanh và hoa quả có tính chất nhuận tràng như rau khoai lang, mồng tơi, rau dền, khoai lang. Khi nấu bột và cháo, phải băm nhỏ cho trẻ ăn cả cái. Cho trẻ ăn các loại quả có tác dụng nhuận tràng như: chuối tiêu, đu đủ, bưởi, cam, quít, thanh long… Khi trẻ đã bị táo bón, không nên cho ăn hồng xiêm, táo.

Với những trẻ nhỏ: pha sữa loãng hơn bình thường. Khi trẻ 3-4 tháng tuổi, có thể pha thêm 1 thìa cà phê nước quả (cam, quít…) vào nước cho trẻ uống hoặc dùng nước cháo pha sữa cho trẻ từ 4 tháng trở lên. Với trẻ bú mẹ, mẹ bị táo bón thì phải điều trị táo bón cho mẹ: ăn nhiều rau quả, uống nhiều nước, tăng các cữ bú trong ngày.

Xoa bụng cho trẻ theo khung đại tràng từ phải qua trái ngày 3 – 4 lần vào khoảng cách giữa 2 bữa ăn để kích thích làm tăng nhu động ruột. Mát-xa không chỉ tốt cho bé đang bị táo bón mà còn là biện pháp giúp ngăn ngừa táo bón. Bé 2-3 tuần tuổi là bạn có thể sử dụng cách mát-xa. Chọn lúc bé thoải mái nhất, không no hay đói quá để tiến hành mát-xa. Trước tiên, bạn nên làm ấm bàn tay rồi nhẹ nhàng xoa lên – xoa xuống hai bên sườn cho bé. Tiếp đến, xoa thành vòng tròn theo chiều kim đồng hồ trên bụng bé và ngược lại. Nắn nhẹ chân bé, giúp bé co đầu gối, ép nhẹ đầu gối lên bụng bé rồi lại duỗi chân ra. Có thể thực hiện 2 lần/ngày, mỗi lần khoảng 5 phút.
Bé bị táo bón, đừng chủ quan 2

Đối với trẻ lớn hơn:

Ăn đủ và tập thói quen ăn nhiều rau trong bữa ăn. Tập cho trẻ đi đại tiện đúng giờ quy định, chọn thời gian lúc nào thuận tiện mà trẻ không vội vã, nên chọn sau bữa ăn vì lúc này nhu động ruột hoạt động tăng, tránh bắt trẻ ngồi bô quá lâu. Trong trường hợp trẻ bị táo bón do nứt hậu mô, nên rửa sạch hậu môn bằng nước ấm, bôi dung dịch nitrat bạc 2%.

Nếu điều trị bằng cách thay đổi lối sống, chế độ ăn không khỏi thì mới sử dụng tới dược phẩm như dùng thuốc và thụt tháo theo chỉ dẫn của bác sĩ như cho trẻ uống dầu parafin vào buổi sáng, các loại thuốc có chứa magie sulfate có tác dụng nhuận tràng hay các loại thuốc có chứa vi khuẩn sống dưới dạng đông khô như: cốm vi sinh (biobaby); biosyptin, lactomin, lactylac, biofidin… làm cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột. Thụt tháo là biện pháp cuối cùng: dùng nước ấm có pha glyxerin hoặc mật ong: 30-40ml đối với trẻ dưới 1 tuổi và 100-250ml đối với trẻ trên 1 tuổi. Tuy nhiên, không nên dùng kéo dài có thể gây giãn trực tràng và đại tràng tạo thành thói quen làm mất phản xạ rặn của trẻ.

Các bà mẹ cần lưu ý, khi thấy con táo bón kéo dài trên 1 tuần, khi thay đổi chế độ ăn và áp dụng những cách trên mà không có tác dụng; trẻ đẻ ra đã táo bón, bụng trướng; táo bón làm suy dinh dưỡng, nôn…, cần lập tức đưa trẻ đến khám bác sĩ chuyên khoa nhi để được tư vấn và thăm khám kịp thời.

BS. Nguyễn Văn Độ

Theo SKDS

Rau ngót: Vị thuốc chữa đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em

Theo Đông y, lá rau ngót có vị bùi ngọt, tính mát, rễ vị hơi ngăm đắng, cả lá và rễ đều có tác dụng mát huyết, hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc. Lá rau ngót chữa ban sởi, ho, viêm phổi, sốt cao, đái rắt, tiêu độc. Rễ còn có tác dụng lợi tiểu, thông huyết, kích thích tử cung co bóp. Khi dùng làm thuốc thường chọn những cây sống 2 năm trở lên. Theo nghiên cứu, trong 100g rau ngót có chứa tới 0,08g chất béo, 9g đường, 503mg kali, 15,7mg sắt, 13,5mg mangan, 0,45mg đồng, 85mg vitamin C, 0,033mg B1, 0,88mg B2… Ngoài ra, rau ngót rất giàu đạm nên được khuyên dùng thay thế đạm động vật nhằm hạn chế những rối loạn chuyển hóa can xi gây loãng xương và sỏi thận. Với những thành phần trên, rau ngót được khuyên dùng cho người muốn giảm cân và người bị tăng huyết áp.

Rau ngót là loại rau lành và bổ dưỡng. Không chỉ là một món ăn thông thường, rau ngót còn có tác dụng chữa dị ứng, tưa lưỡi ở trẻ sơ sinh, chữa đổ mồ hôi trộm, chứng đái dầm ở trẻ em… Xin giới thiệu một số bài thuốc có sử dụng rau ngót:

rau_ngot_vi_thuoc_chua_do_mo_hoi_trom_tao_bon_o_tre_em

– Với chứng đái dầm ở trẻ em: 40g rau ngót tươi rửa sạch, giã nát, sau đó cho một ít nước đun sôi để nguội vào rau ngót đã giã, rồi khuấy đều, để lắng và gạn lấy nước uống. Phần nước gạn được chia làm hai lần để uống, mỗi lần uống cách nhau khoảng 10 phút.

– Đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em: lấy 30g rau ngót, 30g bầu đất, 1 quả bầu dục lợn rồi nấu canh cho trẻ ăn. Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng lại có tác dụng chữa bệnh, mà nó còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn. Đặc biệt, canh rau ngót nấu với thịt lợn nạc hoặc giò sống… không chỉ tốt cho trẻ em mà còn rất tốt cho cả người lớn bởi nó là một vị thuốc bổ, giúp tăng cường sức khoẻ với người mới ốm dậy, người già yếu hoặc phụ nữ sau khi sinh. Nhất là với phụ nữ sắp sinh, hàng ngày nếu được ăn canh rau ngót sẽ giúp tăng sức cho các bắp thịt, giúp việc sinh nở dễ dàng hơn.

– Chữa tưa lưỡi: lấy 10g lá tươi, rửa sạch, giã nhỏ vắt lấy nước, thấm vào gạc mềm, sạch, đánh trên lưỡi (tưa trắng), lợi, vòm miệng trẻ em. Đánh nhẹ cho tới khi hết tưa trắng.

– Đau mắt đỏ, nhức nhối khó chịu: lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

– Bàn chân sưng nhức: lá rau ngót giã, cho thêm nước muối pha nhạt, sau đó đắp vào chỗ chân sưng nhức.

Theo SKĐS/ Theo sách “Thức ăn vị thuốc”