Tag Archives: tâm lý

Đối mặt với sự cô đơn

Khi cô đơn, bạn sẽ cảm thấy vô cùng tuyệt vọng và cùng quẫn, muốn tìm một việc gì đó để làm, một nơi nào đó để đi, bởi nỗi cô đơn sẽ đè nén sâu trong tâm hồn bạn.

1. Hãy đi ra ngoài

Một trong những cách đầu tiên để xua tan đi cảm giác cô đơn đó là hãy bước ra ngoài, hòa mình vào với thế giới xung quanh, làm điều gì đó với mọi người. Những người bạn mới sẽ không tự xuất hiện nếu bạn cứ mãi thu mình trong vỏ bọc.

doi-mat-voi-su-co-don

2. Cải thiện bản thân

Hãy suy nghĩ về một khóa học mới như yoga, vẽ tranh, nhảy hoặc nấu ăn. Đăng ký một hoặc hai lớp để có thể gặp gỡ những người bạn mới đồng thời hoàn thiện bản thân hơn, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy rất vui!

3. Tìm kiếm tình yêu

Bạn đang cô đơn, và bạn đã sẵn sàng để bước vào một mối quan hệ mới? Hãy tìm cách để kiếm ra tình yêu đích thực của mình, ví dụ như tới những nơi bạn thích cùng các nhóm bạn, tham gia các câu lạc bộ và tìm một người có chung sở thích với bạn. Đơn giản thôi, ếu bạn thích đọc sách, hãy tới thư viện, nếu bạn thích nhảy múa, hãy tới câu lạc bộ học nhảy… chắc chắn nhiều mối quan hệ sẽ không còn làm bạn cô đơn và biết đâu, bạn lại tìm được một ai đó dành cho mình.

4. Ngừng nghĩ rằng mình cô đơn

Cố gắng lấp đầy khoảng khoắc tiêu cực đó bằng những kỉ niệm tươi đẹp khi bên cạnh bạn bè, gia đình, hay những người bạn yêu thương. Nếu có thể, hãy nghĩ đến những khoảng thời gian dễ chịu khi bạn không cô đơn. Biến cảm giác dễ chịu và yêu thương lúc đó thành động lực để tạo ra một cách nhìn khác về cuộc sống.

5. Đi chơi với gia đình

Khi chúng ta già, nhiều người sẽ hối tiếc vì đã ít trở về thăm bố mẹ, thăm gia đình, đã không dành nhiều thời gian cho họ, không tổ chức những buổi đi chơi, đi du lịch cùng nhau. Hãy cố gắng, sắp xếp thời gian để cùng họ đi chơi, lưu lại những kỷ niệm đẹp khi còn trẻ nhé.

Xác định hai hình thức bệnh tử kỷ mới

Các nhà khoa học vừa đưa ra tuyên bố họ đã xác định được hai hình thức sinh học khác nhau của bệnh tự kỷ.

Trong đó, một loại liên quan đến sự bất thường của bộ não. Theo đó, trẻ em mắc tự kỷ loại này có bộ não to và thường phát triển bệnh vào khoảng 18 tháng tuổi. Trẻ em mắc loại thứ hai có hệ thống miễn dịch hoạt động không đúng cách.

tu-ky-moi

Các nhà khoa học đã xác định được hai hình thức khác nhau của bệnh tự kỷ

Nhóm nghiên cứu đã so sánh kết quả này với phát hiện tương tự vào những năm 1960 về hình thức khác nhau của bệnh ung thư. Họ hy vọng từ đây sẽ giúp tìm ra cách phát triển phương pháp điều trị hiệu quả cho chứng tự kỷ.

“Sẽ là vô vọng nếu chúng ta cố gắng chữa trị tất cả bệnh ung thư cùng một lúc. Và điều này cũng đúng với chứng tự kỷ”, David Amaral, Giáo sư tâm thần học tại Đại học California Davis phát biểu trên tờ Australian.

“Khi một đứa trẻ đi vào phòng khám, thay vì nói chung chung rằng cháu mắc chứng tự kỷ thì bạn có thể đưa ra chẩn đoán rõ ràng đứa trẻ đó mắc bệnh tự kỷ loại A, loại B, hay loại C”, Amaral nói. Từ đó, các nhà nghiên cứu sẽ biết và áp dụng phương pháp điều trị tốt nhất cho tình trạng này, ông chia sẻ.

“Ví dụ, nếu một đứa trẻ có hình thức miễn dịch của bệnh tự kỷ, những gì chúng ta nên làm là kiểm soát hệ thống miễn dịch đó hơn là cố gắng tạo ra một cái gì đấy liên quan đến các chức năng liên kết kỳ tiếp hợp trong não”, Amaral cho biết thêm.

Nhóm nghiên cứu sẽ trình bày phát hiện của họ tại Hội nghị về bệnh tự kỷ khu vực Châu Á Thái Bình Dương ở Perth.

Amaral và đồng nghiệp bắt đầu nghiên cứu bệnh tự kỷ vào năm 2006. Họ tiến hành phân tích các yếu tố khác nhau dẫn tới tự kỷ, bao gồm sự tăng trưởng của não, di truyền học và ảnh hưởng từ môi trường ở trẻ 2-3 tuổi.

Ngoài 2 loại đã được xác định, các nhà khoa học hy vọng sẽ tìm thấy thêm nhiều hình thức khác của căn bệnh này.

Theo Đất Việt

Tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm

Khảo sát của nhóm nghiên cứu người Anh tại ĐH Liverpool ghi nhận những tác dụng phụ về mặt tâm lý của thuốc chống trầm cảm mà trên thực tế cho thấy nghiêm trọng hơn người ta vẫn tưởng.

Trang tin Science Daily dẫn lời trưởng nhóm nghiên cứu, GS John Leed: “Tác dụng phụ về sinh học của thuốc chống trầm cảm như tăng cân, buồn nôn đã được ghi nhận nhưng ảnh hưởng về tâm lý và giao tiếp chưa được nhận biết rõ. Chúng tôi thấy những ảnh hưởng đó phổ biến một cách đáng báo động”. Các nhà khoa học đã khảo sát trên 1.829 người uống thuốc chống trầm cảm theo toa của bác sĩ. Bệnh nhân được yêu cầu điền vào để trả lời bảng câu hỏi về 20 tác dụng không mong muốn có thể xảy ra.

thuoc-chong-tram-cam

Kết quả cho thấy hơn một nửa cho biết họ có ý định tự sát. Tỉ lệ người cảm thấy trở ngại trong sinh hoạt tình dục là 62%, tê liệt về cảm xúc là 60%, cảm giác không giống như chính mình là 52%, giảm cảm giác tích cực là 42% và ít quan tâm chăm sóc người khác là 39%. Khảo sát cũng cho thấy bệnh nhân ít khai báo những điều nêu trên với thầy thuốc.

Nhóm nghiên cứu khuyến cáo các bác sĩ nên cân nhắc khi ra toa thuốc chống trầm cảm, đồng thời khuyến khích nghiên cứu thêm về lợi ích và khả năng tác hại do có đến 82% người trong số này cho rằng chứng trầm cảm của họ thuyên giảm nhờ dùng thuốc.

Nguồn báo lao động

Stress gia đình

Căng thẳng trong gia đình có thể dẫn tới hệ miễn dịch của trẻ em bị ảnh hưởng, một nhóm nghiên cứu đã chứng minh được điều này. Hệ miễn dịch của chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ chúng ta khỏi các vi khuẩn và virus. Cơ thể của chúng ta cũng được trang bị để xử lý những căng thẳng hàng ngày – đó là các căng thẳng chỉ kéo dài trong thời gian ngắn.

Mặt khác, một tình huống khó khăn đầy áp lực và căng thẳng hoặc sự gia tăng căng thẳng kéo dài có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lên hệ thống miễn dịch. Loại stress kéo dài này có thể tăng lên khi một thành viên gần gũi trong gia đình qua đời hoặc khi những người lớn bị mắc kẹt trong các tình huống khó xử, không thể kiểm soát.

Một nhóm nghiên cứu thuộc trường Khoa học sức khỏe tại trường Đại học Jönköping và Khoa Khoa học sức khỏe tại trường Đại học Linköping tại Thụy Điển cho thấy, tình trạng căng thẳng trong gia đình cao có thể dẫn tới hệ miễn dịch của trẻ em bị ảnh hưởng. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Journal of Immunology của Mỹ.

tress-gia-dinh

Nghiên cứu này đã cho thấy con em của các gia đình có mức căng thẳng cao có nồng độ cortisol cao hơn. Cortisol là một loại horrmone corticosteroid (corticosteroid là một loại hormone loại steroid – tức là loại hợp chất hữu cơ tự nhiên được tổng hợp bởi các tuyến nội tiết trong cơ thể) được sản sinh bởi bộ phận tên là Zona fasciculata trên vỏ thượng thận (thuộc tuyến thượng thận). Đây là hormone vô cùng quan trọng và thường được xem là “hormone stress”. Điều này cho thấy, những trẻ em này cũng đã bị stress.

Nghiên cứu cũng chỉ ra một sự thật đó là, mức độ stress cao gây ảnh hưởng tiêu cực tới hệ miễn dịch, điều đó không giống như khả năng chịu đựng khi cơ thể tiếp xúc với mức độ căng thẳng cao. Thay vào đó, hệ thống miễn dịch đã phản ứng với các chất trong cơ thể mà đáng ra các chất này phải được ở một mình, mà có thể liên quan đến một phản ứng tự miễn dịch.

Nghiên cứu thực hiện đánh giá các gia đình có trẻ 5 tuổi (lấy từ nghiên cứu có tên ABIS (All Children in Southeast Sweden). Các bậc phụ huynh đã trả lời các câu hỏi liên quan đến tình trạng căng thẳng và các khó khăn tiềm năng có thể gây các tác động tới gia đình, ví dụ như việc ly hôn hoặc thất nghiệp. Các câu trả lời dẫn dắt các nhà nghiên cứu xác định một nhóm trẻ em có thể trải qua mức stress cao hơn trong gia đình của chúng, và một nhóm trẻ em lớn lên với mức độ stress bình thường.

Nhóm nghiên cứu tại trường khoa học sức khỏe tại Jönköping sẽ tiếp tục nghiên cứu xa hơn nữa về nội dung này để tìm hiểu xem mức độ stress cao tới mức nào thì có thể gây ảnh hưởng tới cơ thể. Trong thời gian này, các nhà nghiên cứu sẽ quay lại nghiên cứu nhóm thanh niên trong độ tuổi 18 đến 22.

“Chính những thanh niên này sẽ cho biết về những trải nghiệm tiêu cực trong đời sống hàng ngày của chúng và những trải nghiệm tiêu cực trong thời thơ ấu”, Maria Faresjö, giáo sư tại trường Khoa học sức khỏe, đồng thời là người sẽ dẫn đầu nghiên cứu tiếp theo cho biết.

Phạm Thị Bích Thu (sciencedaily)

Giải tỏa tốt khi giận dữ

Ở công sở, chúng ta nên kiềm chế cảm xúc, đừng để nó tự do thể hiện, nó sẽ làm xấu hình ảnh và ảnh hưởng không tốt đến sự nghiệp của bạn. Có 10 cách để “trị” cơn giận, bạn đã biết chưa?

1. Xem lại mình
Người đồng nghiệp cùng phòng chỉ trích cách làm việc thiếu chuyên nghiệp và dềnh dang của bạn, trước khi định cáu giận với anh ta, hãy xem lại mình, có phải bạn như thế thật không? Nếu anh ta nói đúng thì bạn nên cảm ơn anh ấy đã chỉ cho bạn những điểm yếu của mình.

2. Chia sẻ
Bí mật của các cơn giận là phải được trút ra mới hả. Vậy, thay vì trút ra những lời nóng giận với “đối thủ”, bạn hãy tâm sự, kể lể với người đồng nghiệp thân. Như vậy, bạn vừa tránh được một cuộc cãi vã không đáng có, vừa nhận được những lời khuyên tốt từ đồng nghiệp.

bi-quyet-giai-toa-con-gian-du

3. Thư giãn để lấy lại bình tĩnh
Trong cuộc họp nội bộ, khi có ai đó đánh giá thấp phong cách quản lý của bạn hay chỉ trích cách làm việc của bạn, đừng vội phản ứng một cách giận dữ. Hãy lấy lại sự bình tĩnh bằng vài phút thư giãn ngoài ban công và một tách trà nóng giúp đầu óc tỉnh táo. Khi đã bình tĩnh, con người ta ăn nói khôn ngoan hơn.

4. Áp dụng nguyên tắc “10 giây”
Bạn đang “bí bách”, bức bối trong lòng và chỉ muốn “xả” hết ra cho hả, hãy áp dụng cách hạ nhiệt bằng cách hít thở sâu và nhẩm đếm từ 1 đến 10. Đếm xong số 10 thì sự minh mẫn cũng quay trở lại.

5. Tìm niềm vui trong công việc
Đừng làm xấu hình ảnh của mình bằng cách đấm bàn, đá ghế, hò hét loạn xạ hoặc hầm hập như một quả bom. Nên nhớ bạn đang ở trong một môi trường tập thể với những mối quan hệ phức tạp. Hãy quay trở lại với công việc, biết đâu, những cuốn hút chuyên môn sẽ giúp bạn quên đi cơn nóng.

6. Hỏi rõ trước khi phản ứng
Khi gặp điều không ưng ý, đừng vội “đốp” lại ngay. Hãy hỏi lại người nói xem ý họ định nói gì, nhỡ đâu bạn hiểu nhầm ý họ thì sao. Khi bạn đã bình tĩnh hỏi lại, người kia có thể cũng thấy mình hơi quá lời, và nói lại với ý nhẹ nhàng hơn, vậy là mâu thuẫn đã được hóa giải một cách đơn giản.

7. Nhận dạng vấn đề
Hãy cảnh giác, có thể người ta biết rằng bạn nóng tính, nên tìm cách chọc tức để làm hỏng hình ảnh của bạn. Đừng mắc bẫy nhé. Nếu họ thích vặn vẹo bạn trong cuộc họp, hãy lường trước mọi câu trả lời và cho họ thấy rằng bạn chẳng “ngán” ai cả. Xác định được vấn đề và tìm hướng giải quyết chính là chìa khóa để hóa giải cơn giận.

8. Uốn lưỡi 7 lần trước khi nói
Bạn vẫn định cho nổ tung cơn giận ra vì nếu cứ yên lặng mãi, bạn sẽ điên mất. Vậy trước khi mở lời, thử nghĩ xem nếu mình nói câu này ra, người nghe sẽ cảm thấy thế nào. Nếu mình phải nghe những câu đó, mình sẽ phản ứng ra sao. Cân nhắc thật kỹ trước khi nói, bởi cái gì đã nói ra không rút lại được đâu.

9. Đừng tự gây họa
Bạn biết cô đồng nghiệp ngồi cạnh không thích bị làm phiền, sao còn cứ mượn đồ của cô ấy, khiến cô ấy nổi cáu và nói những câu không hay, làm bạn bực mình? Bạn biết anh chàng kia không biết đùa, ai động trêu tí là la ó, vậy sao bạn còn thích chọc ngoáy anh ta? Bạn đã biết cô nàng kế toán của công ty hay soi mói, chỉ trích, vậy thì hãy tránh xa cô ta ra. Đừng tự gây cho mình những mâu thuẫn.

10. Xin lỗi
Sau khi đã nguôi giận, nếu thấy mình đã làm gì thất thố, bạn nên xin lỗi mọi người xung quanh, những nạn nhân vô tình cũng phải chịu cơn giận của bạn, thậm chí xin lỗi cả người đã làm bạn tức nữa. Phương pháp dĩ hòa vi quý này rất có lợi: thứ nhất, nó khiến “đối thủ” của bạn thấy ngượng ngùng; thứ hai, mọi người sẽ thông cảm với bạn hơn, vì lúc đó bạn đang nóng mà; thứ ba, bạn sẽ suy nghĩ lại và thấy, hành động giận dữ là sai lầm.

Bạn thấy đó, ở công sở, chữ NHẪN vô cùng quan trọng. Biết nín nhịn không phải là nhu nhược, đó chính là cách để bạn thể hiện bản lĩnh và sự mạnh mẽ của mình trước mọi người. Bạn nên nhớ, người ta đã từng đúc kết: “Phải mất nhiều năm để tạo dựng được danh tiếng, nhưng chỉ cần vài giây để hủy hoại tất cả”.

Nguồn sức khỏe

Nhận diện bệnh tâm thần

Công tác nhiều năm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, ông La Đức Cương, giám đốc Bệnh viện Tâm thần T.Ư 1, không ít lần chứng kiến những vụ việc đau lòng mà bệnh nhân tâm thần vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm.

Nghiện chất kích thích, gặp nhiều áp lực…

Theo ông Cương, những người nghiện thường có hành vi rất nguy hiểm, họ thường xuyên rơi vào trạng thái ảo giác, hoang tưởng hoặc thay đổi tính cách, hành vi hoàn toàn. Có những người chồng, người cha vốn hiền lành, thương vợ yêu con nhưng chỉ cần một chút rượu, bia là có thể chửi mắng, đánh đập, ra tay tàn ác với vợ con. Điều đáng nói, những người này sau khi tỉnh rượu lại tỏ ra sợ hãi chính hành động của mình, hối lỗi, cầu xin vợ con tha thứ. Nhưng sau khi có rượu, bia thì lặp lại hành vi côn đồ. Với những người nghiện ma túy, đặc biệt ma túy đá và game, thường bị ảo giác chi phối mạnh mẽ hơn so với các chất gây nghiện khác.

nhan-dien-benh-tam-than

Đại tá – bác sĩ Nguyễn Văn Hường, Bệnh viện 175 TP.HCM, tham vấn cho bệnh nhân – Ảnh: T.T.D.

Thực tế, không ít câu chuyện cướp của, giết người dã man do những người nghiện game, ma túy gây ra. Họ có thể không biết mình mắc chứng rối loạn tâm thần, đặc biệt bệnh nhân rối loạn tâm thần nặng lại thường phủ định mình bệnh, không thăm khám điều trị, dẫn đến bệnh ngày một nặng thêm.

Ông Cương cũng chia sẻ những áp lực từ xã hội khiến tâm lý con người biến đổi theo. Dường như con người ngày nay không những nóng nảy, hung dữ hơn xưa mà còn có những hành vi cực đoan đáng sợ. Chỉ cần một cái liếc mắt, một câu nói là đã có thể sử dụng đến nắm đấm, thậm chí có thể đâm, chém người!

Trong khi đó, TS Đinh Đăng Hòe (Bệnh viện Hồng Ngọc) lại nhận định một trong những nguyên nhân đáng quan tâm dẫn đến bệnh lý tâm thần ở giới trẻ, đặc biệt giới trẻ thành thị hiện nay, chính là sự “bao cấp”. Theo TS Hòe, phụ huynh (nhất là người có chức vụ hoặc làm kinh doanh) thường tham công tiếc việc, không có thời gian cho con. Nhưng ở một mặt khác, sự nuông chiều trẻ quá mức của phụ huynh có thể dẫn đến việc trẻ bị lệ thuộc, không có khả năng tự lập, đặc biệt cái tôi của trẻ quá lớn, coi mình là trung tâm vũ trụ… dễ dẫn đến hành vi lệch lạc sau này.

Điều trị sớm sẽ rất tốt

Đại tá – bác sĩ Nguyễn Văn Hường, chủ nhiệm khoa nội tâm thần Bệnh viện 175 (TP.HCM), cho biết có hàng trăm loại bệnh tâm thần khác nhau với rất nhiều triệu chứng, biểu hiện khác nhau. Tuy nhiên, loại bệnh tâm thần thường gặp nhất là tâm thần phân liệt và rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, trầm cảm.

Theo bác sĩ Hường, bệnh rối loạn cảm xúc có nhiều thể là rối loạn trầm cảm, rối loạn hưng cảm, rối loạn phân liệt cảm xúc – tức vừa có triệu chứng của tâm thần phân liệt, vừa có rối loạn cảm xúc. Ngoài ra, rối loạn lo âu cũng rất dễ gặp và có liên quan đến các vấn đề xã hội như áp lực, căng thẳng trong công việc, cuộc sống. Thế nhưng, những người bị bệnh rối loạn cảm xúc thường đến bác sĩ tâm thần rất muộn, do bệnh thường biểu hiện bằng các triệu chứng rối loạn cơ thể và người bệnh thường không chịu nhìn nhận mình có bệnh tâm thần.

Cụ thể, có người biểu hiện đau dạ dày, đến bác sĩ tiêu hóa chữa hoài không hết nhưng tới bác sĩ tâm thần điều trị lại hết. Có người biểu hiện như bệnh tim mạch, hay hồi hộp, bồn chồn, đánh trống ngực, bứt rứt. Bệnh nhân đến bác sĩ tim mạch chữa hoài cũng không hết, khi đó mới đến bác sĩ tâm thần thì đã muộn. Vì vậy khi bác sĩ lâm sàng kết luận ai đó không có bệnh nhưng nếu họ vẫn biểu hiện như mắc bệnh thì nên chuyển qua bác sĩ tâm thần khám. Một người bình thường, có sức khỏe tâm thần bình thường có một điểm gen bình thường thì khi gặp phải chấn thương về tâm lý, hoặc gặp bệnh tật, đau ốm, chiến tranh sẽ có một giai đoạn bị chông chênh. Qua giai đoạn chông chênh đó họ trở lại bình thường. Đối với người hơi nhạy cảm với stress một chút, khi gặp phải chấn thương tâm lý hoặc gặp bệnh tật, đau ốm, chiến tranh sẽ xuất hiện giai đoạn im lặng của bệnh. Nếu không giải tỏa, thích nghi được, người đó sẽ có giai đoạn tiền triệu chứng như mất ngủ, hành vi bất thường, bứt rứt khó chịu, rất khó phát hiện.

Muốn phát hiện được giai đoạn tiền triệu chứng, những người trong gia đình phải quan tâm lẫn nhau. Nếu bệnh nhân được điều trị sớm ở giai đoạn này sẽ rất tốt, giúp bệnh lý được chặn lại hoặc đỡ nghiêm trọng hơn.

Làm sao để người bệnh tâm thần chịu đi khám bệnh?

Không ít trường hợp người bệnh không chịu đi khám bệnh. Theo bác sĩ Nguyễn Văn Hường, với những trường hợp này, người thân có thể tranh thủ lúc bệnh nhân đang có một bệnh nào đó như đau đầu, đau chân hay đau bụng… thì đưa đến bệnh viện khám bệnh. Nếu không làm được cách trên có thể mời bác sĩ chuyên khoa tâm thần đến nhà nói chuyện với bệnh nhân như một người quen đến chơi. Bác sĩ sẽ có cách tư vấn, giải thích, động viên và bệnh nhân sẽ nghe theo bác sĩ, đồng ý đến bệnh viện khám bệnh. Nếu cách này cũng không hiệu quả thì người nhà có thể đến gặp bác sĩ chuyên khoa tâm thần, kể cho bác sĩ nghe những triệu chứng, biểu hiện bệnh của bệnh nhân để có hướng chẩn đoán bệnh và kê toa thuốc điều trị. Sau đó tìm cách cho bệnh nhân uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ.

Theo bác sĩ Hường, ở nước ngoài người ta tổ chức được những đội bác sĩ chuyên khoa đến từng nhà bệnh nhân tâm thần để động viên, thuyết phục người bệnh đến bệnh viện khám, điều trị. Tuy nhiên ở VN chưa tổ chức được như vậy mà chủ yếu vẫn là do người nhà tự tìm cách đưa bệnh nhân đi khám.

Theo tuổi trẻ

Phương pháp mới trong việc điều trị trầm cảm

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại, các nhà sinh lý học thuộc Đại học Oxford cho biết.

Kết quả của một thí nghiệm trên quy mô nhỏ của phương pháp này, gọi là phương pháp trị liệu nhân thức dựa trên sự lưu tâm (MBCT), ở những bệnh nhân bị trầm cẩm, được công bố trên tạp chí Behaviour Research and Therapy.

dieu-tri-tram-cam

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

28 người hiện mắc chứng trầm cảm, đồng thời có những giai đoạn trầm cảm trước đó cùng ý định tự tử, được ngẫu nhiên chia thành 2 nhóm. Một nhóm được trị liệu thêm bằng MBCT ngoài những phương pháp trị liệu thông thường, trong khi nhóm còn lại chỉ nhận điều trị thông thường. Việc chữa trị bằng MBCT giảm số lượng bệnh nhân trầm cảm nặng, trong khi nhóm còn lại tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm nặng không thay đổi.

Giáo sư Mark Williams và các đồng nghiệp thuộc Khoa tâm thần học Đại học Oxford sẽ tiếp tục công việc nghiên cứu từ những bằng chứng đáng khích lệ này. Họ hy vọng sẽ thực hiện nghiên cứu với những bệnh nhân để chứng tỏ rằng MBCT có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát bệnh. Nhóm nghiên cứu của Oxford hiện đang thực hiện một nghiên cứu quy mô lớn hơn so sánh MBCT với một nhóm sử dụng trị liệu thần kinh để xác định yếu tố nào hoặc phương pháp trị liệu nào phù hợp với dạng bệnh nhân khác nhau.

Giáo sư Williams, người phát triển phương pháp trị liệu này đồng thời chỉ đạo nghiên cứu, cho biết: “Chúng ta đang đứng trước việc phát hiện những điều thực sự quan trọng về việc làm thế nào các bệnh nhân có thể duy trì sức khỏe sau trầm cảm. Mục đích của phương pháp trị liệu này là giúp các bệnh nhân có được sự giải thoát về lâu dài khỏi cuộc chiến hàng ngày với trạng thái tâm lý của bản thân”.

Nguồn khoa học

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

Dấu hiệu trầm cảm ở nam giới

Theo TS Ian A. Cook, giáo sư tâm lý tại Đại học California (Hoa Kỳ), ở nam giới, có một số biểu hiện trầm cảm đặc trưng như mệt mỏi, dễ bị kích động, rối loạn tình dục…

1. Mệt mỏi

Theo một nghiên cứu của Mỹ trên 6.421 người, mệt mỏi là một trong những triệu chứng phổ biến nhất của bệnh trầm cảm ở nam giới.

Người mắc bệnh trầm cảm thường phải trải qua một loạt những biến đổi về cả thể chất và tinh thần. Bởi vậy, họ dễ cảm thấy mệt mỏi và xuất hiện triệu chứng suy giảm tâm thần – vận động (rối loạn tâm lý dẫn tới suy giảm trong tốc độ suy nghĩ, chậm chạp trong cử động và lời nói).

dau-hieu-tram-cam-o-nam-gioi

2. Đau bụng hoặc đau lưng

Theo khảo sát của Viện Sức khoẻ tâm thần Mỹ, nam giới hiếm khi nhận ra mối liên hệ giữa trầm cảm với các triệu chứng rối loạn tiêu hóa (táo bón, tiêu chảy) và đau mãn tính (đau đầu, đau lưng).

Trong nghiên cứu của Đại học Oxford (Anh), các nhà khoa học sử dụng phương pháp chụp ảnh não bộ để kiểm tra phản ứng của các đối tượng tham gia với sự đau đớn khi trong trạng thái tinh thần thấp. Kết quả cho thấy, khi con người cảm thấy chán nản, hoạt động của vùng tiết chế cảm xúc trong mạch thần kinh bị cản trở, từ đó làm tăng cảm giác đau đớn hơn so với mức bình thường.

3. Rối loạn lo âu

Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa chứng trầm cảm và rối loạn lo âu.

Theo TS Ian A. Cook, trong trường hợp này, có vẻ như nam giới là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều hơn dù theo ước tính, nguy cơ mắc chứng rối loạn lo âu do trầm cảm ở nam giới và nữ giới là như nhau. Khác với thói quen che giấu nỗi buồn, nam giới lại có xu hướng bộc bạch những lo lắng của bản thân. Trầm cảm dễ khiến họ lo lắng hơn về công việc, sợ rằng một khi bị mất việc, họ sẽ không còn đủ khả năng lo cho bản thân và gia đình.

4. Dễ bị kích động

Nam giới mắc bệnh trầm cảm rất dễ nổi cáu và dễ bị kích động vì những chuyện nhỏ nhặt.

Theo Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ Mayo Clinic (Mỹ), nam giới thường không chấp nhận rằng mình bị trầm cảm và tìm cách né tránh các biện pháp điều trị. Chính vì vậy, họ đổ dồn sự tức giận vào người thân, bạn bè và thậm chí cả người lạ. Đàn ông trầm cảm hay có những lời nói thô tục xúc phạm vợ mình, cãi tay đôi với bạn thân hoặc đánh nhau trong quán bar. Một số người còn uống rượu khi lái xe, quan hệ tình dục không an toàn với phụ nữ không quen biết hoặc thậm chí tự tử.

5. Nghiện rượu

Khảo sát của Viện Nghiên cứu về tình trạng nghiện rượu và lạm dụng rượu Hoa Kỳ (NIAAA) cho thấy, 1/3 số người bị trầm cảm gặp các vấn đề liên quan tới rượu.

Theo TS Ian A. Cook, tình trạng này có thể diễn ra ở cả nam và nữ giới, tuy nhiên, đối tượng bị ảnh hưởng nhiều hơn là nam giới bởi họ thường tìm đến rượu hoặc ma túy như một thứ mặt nạ che chắn cảm xúc bản thân đang muốn giấu kín, thay vì tìm tới các trung tâm y tế.

6. Rối loạn tình dục

Trầm cảm là một trong những tác nhân chủ chốt làm giảm ham muốn tình dục và rối loạn cương dương ở nam giới.

Theo các nhà khoa học, ham muốn tình dục xuất phát từ não bộ và được kích hoạt bởi các chất chuyển hóa thần kinh giữ vai trò truyền tín hiệu giữa các tế bào trong não bộ và kích thích máu lưu thông tới bộ phận sinh dục. Tuy nhiên, khi chủ thể bị trầm cảm, chất này rơi vào tình trạng mất cân bằng.

Theo afamily

Căng thẳng kéo dài có ảnh hưởng như thế nào

Căng thẳng kéo dài thực sự không tốt cho sức khỏe. Nó có thể là nguyên nhân gây ra một loạt bệnh như: huyết áp cao, bệnh tim, bệnh nhiễm trùng, nhức đầu, trầm cảm…

Dưới đây là một vài ảnh hưởng xấu mà bạn phải đối phó khi liên tục rơi vào trạng thái căng thẳng.

1. Tăng cân

Một trong những mối nguy hiểm dễ thấy nhất của căng thẳng là tăng cân. Nhiều phụ nữ có xu hướng đối phó với stress bằng cách ăn liên tục mà không hề chú ý đến những gì mình ăn. Từ đó tăng cân xảy ra và phần lớn là chủ yếu là tích tụ mỡ ở phần bụng. Vì vậy, một mẹo hữu ích để bạn tránh tăng cân là hãy cố gắng giải tỏa căng thẳng.

cang-thang-keo-dai-co-anh-huong-nhu-the-nao

2. Cao huyết áp

Rõ ràng là tình trạng căng thẳng dẫn đến cao huyết áp. Khi bạn căng thẳng, tim bạn phải làm việc với một cường độ cao hơn để đảm bảo cho hoạt động cơ thể diễn ra đúng cách. Nếu tình trạng căng thẳng liên tục kéo dài sẽ làm tăng áp lực trong máu và ngược lại, làm tăng nguy cơ huyết áp cao. Vì vậy, bất cứ khi nào bạn thấy có dấu hiệu căng thẳng, hãy dành vài phút để nghỉ ngơi để huyết áp giảm xuống.

3. Tăng nguy cơ bị bệnh tim

Cùng với huyết áp cao, sự căng thẳng theo thời gian có thể làm cho chúng ta dễ bị bệnh tim mạch và suy giảm sức k hỏe tổng thể nói chung. Hãy chọn những biện pháp đơn giản để đối phó với căng thẳng như: chạy bộ hoặc tập yoga. Các biện pháp này không những rất hữu ích trong việc giảm căng thẳng mà còn làm cho tim bạn khỏe mạnh hơn để ngăn ngừa các bệnh về tim trong tương lai.

4. Nhức đầu

Đau nhức đầu là một trong những nguy cơ tồi tệ nhất của sự căng thẳng. Khi bạn trở nên căng thẳng, cơ thể của bạn gây trở ngại cho não trong việc kiểm soát các suy nghĩ và hành động, khiến bạn đau nhức đầu. Thuốc giảm đau có thể giúp bạn giảm đau tạm thời nhưng cách tốt nhất để ngăn chặn đau đầu sẽ được để có được loại bỏ căng thẳng trong cuộc sống của bạn.

5. Trầm cảm

Một sự nguy hiểm rất phổ biến của căng thẳng là nó có thể khiến bạn buồn bã vô độ và cuối cùng dẫn đến trầm cảm. Sau một thời gian, cơ thể của bạn bị kiệt sức. Vào thời điểm đó bạn không tìm thấy hạnh phúc và không có động lực cho bất kì việc gì. Điều này đặc biệt nguy hiểm bởi vì nếu lý do bạn bị căng thẳng là vì công việc hay chăm sóc trẻ em thì bạn sẽ không có động lực để tiếp tục làm việc, trở nên căng thẳng và nhập vào một vòng luẩn quẩn đó là rất khó thay đổi. Hãy loại bỏ căng thẳng để ngăn chặn tình trạng bệnh tâm thần này rất nghiêm trọng này xảy ra.

6. Nhiều khả năng bị bệnh

Khi cơ thể bạn đang phải chịu nhiều áp lực nó sẽ phải đối mặt với khả năng bị nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do hệ miễn dịch và đề kháng bị suy giảm. Những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất mà bạn có thể mắc phải là từ cảm lạnh thông thường đến viêm phổi. Làm thế nào để cơ thể bạn chống lại được các bệnh nhiễm trùng? Cách tốt nhất là hãy nghỉ ngơi và giải tỏa tâm trạng căng thẳng.

7. Ảnh hưởng đến em bé trong bụng mẹ

Phụ nữ mang thai nếu bị căng thẳng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của em bé. Những đứa trẻ của những người phụ nữ đã trải qua mức độ cực kỳ căng thẳng khi mang thai sẽ có nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn so với những đứa trẻ khác. Đồng thời, chúng cũng có khả năng đối phó với căng thẳng trong cuộc sống kém hơn, sức khỏe cũng yếu hơn so với những đứa trẻ khác. Vì vậy, khi mang thai, hãy tạo cho mình môi trường sống thanh thản, tránh căng thẳng để giảm ảnh hưởng xấu đến em bé trong bụng.

Theo afamily

Rèn luyện tâm lý để tránh xuất tinh sớm

Xuất tinh sớm là một vấn đề được các nhà chuyên môn về sức khỏe sinh sản cũng như các nhà nam học quan tâm từ lâu. Chưa có phác đồ điều trị “đặc hiệu” cho hiện tượng xuất tinh sớm, tất cả các biện pháp đề xuất từ trước đến nay hoàn toàn chỉ mang tính “hỗ trợ”, nhưng một trong những bí quyết thành công giúp cải thiện sự mạnh mẽ của “cậu nhỏ” và giữ các “chiến binh” biết xuất trận đúng lúc chính là rèn luyện tâm lý. Tất cả các tài liệu đều có chung nhận định, trạng thái tâm lý có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng của chuyện ấy, xuất tinh sớm hoàn toàn chỉ là một trạng thái rối loạn tâm lý, không phải là một tình trạng bệnh lý có tổn thương thực thể. “Mất lòng tin”, “mặc cảm”… là những nguyên nhân được đề cập nhiều nhất. Biện pháp khắc phục đơn giản chỉ là rèn luyện và… rèn luyện. Nhưng rèn luyện như thế nào lại hoàn toàn không đơn giản. Có thể nhận thấy tình dục có bản chất là một hoạt động bản năng để duy trì nòi giống.
chien-binh
Con người là kết quả của quá trình tiến hóa, như vậy hoạt động tình dục cũng được thừa hưởng sự phát triển vượt qua khuôn khổ của bản năng và chịu ảnh hưởng của xã hội, văn hóa, tôn giáo… Việc “xuất tinh sớm” nếu có xảy ra hoàn toàn không phải là bệnh nguy hiểm, có thể nhiều khi chỉ là mối liên quan đến chuyện bản năng của nguồn gốc loài người còn sót lại? Chia sẻ với vợ/bạn tình những suy nghĩ như vậy, người gặp “trục trặc” đã phần nào bớt đi mặc cảm. Tập cách phân tâm, không quá tập trung trong lúc “hành sự” cũng là một cách để rèn luyện tâm lý, khắc phục các rối loạn.

Có nhiều cách để phân tâm, có tác giả đề xuất đơn giản nhất là người đàn ông thầm đếm 1, 2, 3, 4… trong khi bắt đầu làm “chuyện ấy”, giúp cho đầu óc không tập trung vào “việc đó” nữa và “cuộc vui” sẽ dài hơn. Hoặc có thể tự đặt ra một bài tính nhẩm rồi tập trung giải toán trong khi “làm việc” cũng là một cách để phân tâm. Trên đây chỉ là một vài thủ thuật để rèn luyện tâm lý, nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là lòng tin. Người đàn ông tin rằng mình làm được thì chắc chắn sẽ làm được và đối tác sẽ hài lòng.

BS. TÙNG LINH

Nguồn sức khỏe đời sống

Trung Tâm Tư Vấn Giáo Dục Tâm Lý Thể Chất

trung-tam-tu-van

Địa chỉ 209c, Nguyễn Đình Chính P. 11.Quận Phú Nhuận
TP. HCM Điện thoại (08) 39971286

Nguyên nhân và cách điều trị bệnh trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh (postpartum depression) là một tình trạng bệnh tương đối nghiêm trọng có thể xảy ra trong vòng vài tháng đầu tiên sau khi sinh. Nó cũng có thể xảy ra sau khi người mẹ bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Trầm cảm sau sinh có thể khiến bạn cảm thấy rất buồn bã, tuyệt vọng và cảm thấy mình không còn giá trị gì nữa (vô dụng). Và điều này có thể khiến bạn gặp trở ngại trong việc chăm sóc và tạo mối liên kết tình mẫu tử giữa đứa bé và bạn.

Trầm cảm sau sinh không đơn giản chỉ là tình trạng trầm uất, chán nản mà nhiều phụ nữ gặp phải trong vài tuần đầu sau khi sinh. Với tình trạng trầm uất, chán nản bạn có thể sẽ cảm thấy khó ngủ, tính khí thất thường, đôi khi khóc. Những cảm xúc này cũng sẽ đi kèm với cảm giác hạnh phúc và tự hào về đứa con bé bỏng. Nhưng tình trạng trầm uất, chán nản này thường không kéo dài lâu và biến mất trong vòng vài tuần. Nếu kéo dài trong vòng vài tháng thì đó chính là triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh.

tramcam1

Trong một số trường hợp hiếm gặp thì người mẹ có thể mắc phải dạng trầm cảm nghiêm trọng, thường được gọi là chứng loạn trí sau sinh. Người mẹ có thể có những hành động bất thường, nhìn thấy hay nghe thấy những thứ không hiện diện trong thực tại, và có thể là một mối nguy hại cho chính mình và cho con mình. Trường hợp này cần phải cấp cứu ngay bởi tình trạng bệnh có thể diễn tiến xấu đi rất nhanh gây nguy hiểm cho người mẹ hay những người xung quanh.

Điều quan trọng là phải nhanh chóng điều trị tình trạng trầm cảm ở người me, bởi vì thời gian điều trị càng sớm thì khả năng sớm hồi phục càng cao.

Nguyên nhân của chứng trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh được cho là bắt nguồn từ sự thay đổi ngưỡng hormone trong cơ thể người phụ nữ xảy ra sau thai kỳ. Bất kỳ người phụ nữ nào cũng có thể mắc chứng trầm cảm này trong vòng vài tháng đầu sau sinh, sau khi bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Bạn sẽ có nguy cơ cao bị mắc chứng trầm cảm sau sinh nếu :

Bạn đã bị trầm cảm hoặc là trầm cảm sau sinh trước đó

Bạn không có được sự hỗ trợ tốt từ người bạn đời, bạn bè hay người thân

Bạn bị bệnh hay là bị đau bụng trong khi mang thai

Bạn bị nhiều căng thẳng khác trong cuộc sống.

Bạn sẽ dễ mắc chứng loạn trí sau sinh nếu bạn hay bất kỳ thành viên nào trong gia đình mắc phải chứng rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder).

Các triệu chứng

Các triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ có thể là :

Cảm thấy buồn, tuyệt vọng và trống rỗng. Một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy lo lắng.

Mất hứng thú vào các hoạt động thường ngày

Không có cảm giác đói và có thể sụt cân ( nhưng một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy đói hơn bình thường và ăn rất nhiều, dẫn đến tăng cân)

Khó ngủ

Không thể tập trung được

Những triệu chứng này có thể xảy ra vào ngày đầu tiên hay là ngày thứ 2 sau sinh. Hoặc là chúng có thể theo sau các triệu chứng của tình trạng trầm uất sau sinh vài tuần.

Một phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sinh có thể cảm thấy như là mình bị tách xa ra khỏi đứa con. Bà mẹ có thể tưởng tượng ra những hình ảnh và âm thanh hoàn toàn không có thực (ảo giác và ảo thanh). Bất kỳ người phụ nữ nào bị mắc chứng trầm cảm sau sinh đều có suy nghĩ thoáng qua về việc tự tử hoặc là làm hại đứa con của mình. Nhưng những phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sanh có thể có cảm giác như là có ai đó ép buộc mình phải hành động theo những suy nghĩ phải tự tử và làm hại con mình.

Làm thế nào chẩn đoán trầm cảm sau sinh

Bác sĩ sẽ thăm khám và hỏi về các triệu chứng bệnh của bạn.

Hãy thành thật kể cho bác sĩ nghe về mọi cảm xúc chán nản, trầm uất trong lần thăm khám đầu tiên sau khi sinh. Bác sĩ muốn theo dõi xem liệu cảm xúc của bạn đang diễn ra ra sao.

Điều trị như thế nào ?

Trầm cảm sau sinh có thể được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm hoặc là bằng liệu pháp tâm lý. Với tình trạng trầm cảm nhẹ thì có thể chỉ cần dùng liệu pháp tâm lý là đủ. Nhưng đa phần các trường hợp phải dùng kết hợp cả hai liệu pháp thuốc và liệu pháp tâm lý lại với nhau. Nhiều thuốc chống trầm cảm đã được chứng minh là an toàn cho đứa trẻ trong giai đoạn bú sữa mẹ.

Để tự giúp bản thân cảm thấy tốt hơn, hãy cố gắng ăn uống điều độ, tập thể dục mỗi ngày, và ngủ đủ giấc. Tìm kiếm sự giúp đỡ từ gia đình và bạn bè nếu có thể.

Đừng cảm thấy buồn hay chán nản vì bạn bị mắc chứng bệnh này. Đều đó không có ngĩa rằng bạn là một là một người mẹ tồi. Bởi rất nhiều phụ nữ mắc phải chứng trầm cảm sau sinh này. Có thể sẽ mất thời gian, nhưng chắc chắn là bạn sẽ khá hơn sau khi được điều trị.

Nguồn sức khỏe đời sống

Kiểm soát cơn giận

Bạn hay dễ nổi giận và trút cơn tức giận theo cách mà sau đó bạn thường phải hối tiếc? Nếu đúng như vậy thì bạn cần lưu ý, khi nóng giận mất kiểm soát sẽ gây hại đến sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.

Đếm số từ 10-1: Khi bạn tức giận, hãy bắt đầu đếm số thứ tự giảm dần từ 10-1. Đếm một cách từ từ. Cách này giúp bạn quên chú ý đến vấn đề đang gây tức giận và giúp bạn có thêm thời gian để suy nghĩ.

Ra ngoài đi dạo: Thông thường, bạn tức giận là vì một cá nhân nào đó, hoặc vấn đề gia đình, hay điều gì đó liên quan đến bạn bè hoặc gia đình. Vì vậy, chỉ cần tránh xa những điều này một lúc và đi bộ dạo chơi một lát sẽ giúp bạn thấy dễ chịu hơn.

Hít thở sâu: Là một cách giúp xử lý cơn tức giận hiệu quả. Bạn hãy tập trung vào việc hít thở. Với mỗi lần hít thở, cơn tức giận sẽ rời khỏi bạn một ít. Nó giúp bạn bình tĩnh lại và có thêm thời gian để thư giãn cũng như suy nghĩ.

kiem-soat-benh
Xác định nguyên nhân: Cách lành mạnh nhất để xử lý cơn tức giận là tìm ra lý do và tìm cách giải quyết. Bạn cố gắng tự xác định nguyên do khi hoàn toàn bình tĩnh. Nếu cần, có thể nhờ bạn thân hoặc thành viên gia đình giúp đỡ.

Tìm giải pháp khả dĩ: Sau khi xác định được những nguyên nhân làm bạn tức giận, hãy cố gắng tìm ra giải pháp tốt nhất có thể. Chẳng hạn, nếu tủ quần áo lộn xộn của chồng làm bạn giận dữ mỗi khi nhìn thấy nó thì bạn hãy nói chuyện với anh ấy. Nếu vấn đề vẫn không cải thiện thì chấp nhận nó và bắt đầu tránh nó.
Thiền, tập yoga hoặc tập thể dục: Đều có tác dụng tốt đối với sức khỏe tinh thần và cảm xúc. Nó làm cho bạn dễ chấp nhận, khoan dung hơn đối với nhiều tình huống mà bạn dễ nổi giận, đồng thời cũng giúp kiểm soát cảm xúc tốt.

Học cách quên và tha thứ: Đôi khi việc quên đi những điều làm bạn tức giận cũng cần thiết, mặc dù việc quên và tha thứ cho người khác không dễ dàng chút nào. Nhưng đây là một cách tuyệt vời để xử lý cơn giận nếu bạn có thể làm được.

Nói chuyện với bạn bè: Trong nhiều trường hợp, sự thất vọng, mệt mỏi của chúng ta thể hiện ở dạng giận dữ và gia đình của chúng ta trở thành nạn nhân của nó. Mở lòng với bạn thân sẽ giúp bạn rất nhiều trong những tình huống như vậy. Bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn.

Làm những điều ưa thích: Khiêu vũ, nghe nhạc, đi ra ngoài và gặp gỡ bạn bè hoặc làm bất cứ điều gì bạn muốn khi bạn đang rất tức giận. Ban đầu, việc chuyển từ trạng thái giận dữ sang tâm trạng hành động rất khó nhưng một khi bạn làm được điều đó, nó trở nên dễ dàng hơn.

Cuộc sống tươi đẹp: Tin vào những điều tích cực này và nói: “Cuộc sống tươi đẹp”, “Tôi may mắn có một cuộc sống tốt đẹp như vậy”. Tiếp tục lặp đi lặp lại những câu tích cực như vậy sẽ làm dịu các giác quan và giúp bạn lấy lại bình tĩnh.
Theo TNO

Stress – Bệnh của thế kỷ 21

Về mặt sinh học con người không được chuẩn bị để thich nghi với cuộc sống diễn ra với tốc độ nhanh như hiện nay – BS Jose Antonio Signo, chuyên gia nổi tiếng Tây Ban Nha về các bệnh căng thẳng thần kinh và stress khẳng định.
Cái giá phải trả cho sự vội vàng vĩnh cửu quá đắt: Chất lượng cuộc sống suy giảm, cơ thể nổi loạn. Sự coi thường thực tế đe dọa cái chết đến sớm.
+ Bác sĩ có nghe nói đến cái gọi là blue zones, những vùng xanh?
– Đó là những vùng đất trên hành tinh chúng ta, nơi cư dân có tuổi thọ cao nhất, rất hiếm người mắc các bệnh ung thư, các bệnh hệ tim mạch và có chỉ số béo phì thấp nhất. Đó là Sardynia ở Italia, Loma Linda ở California (Mỹ) và Nicoya ở Costarica…
+ Những cư dân ở đó đã làm gì, để duy trì phong độ tuyệt vời như thế? – Họ ăn nhiều hoa quả, rau xanh, rất ít thịt mầu đỏ. Ngoài ra họ thực hành nếp sống điều độ, thường mang lại cho nhau những điều thú vị, dành thời gian thích hợp cho bạn bè và tất cả, không phụ thuộc và tuổi tác, mỗi ngày dành 180 phút để làm việc gì đó mang tính phát triển.

stree-o-gioi-tre
+ Thế nào là mang tính phát triển?
– Là những gì bản thân quan tâm, những gì lôi cuốn và không mang lại phần thưởng. Các tế bào thần kinh của chúng ta liên tục chết đi, nhưng não bộ không già nua, nó tự phục hồi – cho đến khi chúng ta tạo cho nó thử thách mới. Thậm chí người ta đã cụ thể hóa lối sống đó bằng công thức: T + S = T’ (Thú vị + Sở thích = Thông minh).
+ Theo bác sĩ, tôi cần làm gì, để có số lượng tối đa tế bào thần kinh?
– Ngủ nhiều – cần phải điều chỉnh nồng độ hoóc-môn giấc ngủ. Cần tự thuần hóa nhịp tối ưu: tám giờ lao động (trong đó có ba giờ dành cho bạn bè), tám giờ nghỉ ngơi và tám giờ dành cho giấc ngủ. Sau thực tế 35 năm điều trị và quan sát bệnh nhân, tôi đi đến kết luận: gien di truyền của chúng ta không thể thích nghi với điều kiện sống chi phối trong thế kỷ XXI.
+ Có phải vì thế chúng ta liên tục sống trong stress?
– Chính thế, chúng ta liên tục bị sức ép thời gian. Stress có thể gây ra tới 170 triệu chứng bệnh lý khác nhau, và chúng ta hoàn toàn bị đánh mất mình – đến khi thích nghi với chúng. Chúng tôi chia ra hai dạng người phản ứng theo cách khác nhau với stress.
+ Bác sĩ có thể nói cụ thể?
– Dạng thứ nhất là những người làm việc hết mình, cố gắng trở thành nhân vật số một và đạt được mục tiêu đề ra tại vị trí công tác; cho đến khi cơ thể buộc phải phát tín hiệu “đã đến lúc phải nghỉ” thông qua những biểu hiện bệnh lý khác nhau. Phía bên kia là những người kém khả năng đề kháng hơn – đối tượng tự cho phép mình làm việc với cường độ nhẹ nhàng, có chừng mực.
+ Cơ thể cảnh báo bằng cách nào? – Thông qua các cơn co cơ, những rối loạn giấc ngủ – giai đoạn hai hoặc những trục trặc chu kỳ hoóc-môn, cả ở phụ nữ cũng như nam giới, những rối loạn áp huyết, những sự cố với trí nhớ, sự giảm sút năng lực hệ đồng miễn dịch và những trạng thái viêm nhiễm mạn tính – cùng với thời gian có thể dẫn đến sự xuất hiện các bệnh ung thư.
Tôi tin rằng, những chuỗi axít amin thần kinh đảm trách nhiệm vụ kiểm soát cảm xúc của chúng ta cũng thông báo cho chúng ta tín hiệu tương tự qua hệ miễn dịch và hoóc-môn. Hiện tượng thấy rõ qua thực tế làn da và hệ tiêu hóa chịu tác động của cảm xúc.
+ Có thể đo đếm stress?
– Chúng tôi sử dụng kỹ thuật tạo hình ảnh thần kinh, sinh lý học thần kinh, di truyền học, xét nghiệm máu và nước dãi; xét nghiệm nồng độ các chất dẫn suất thần kinh cụ thể: noradrenalin – hợp chất mà sự gia tăng đánh dấu trạng thái hưng phấn, sự tìm kiếm liên tục thách thức và cảm giác mới lạ, thái độ coi thường sự trớ trêu của số phận và dopamin – hợp chất, mà sự thiếu hụt dẫn đến trầm cảm nội sinh.
+ Stress còn đe dọa xuất hiện bệnh gì?
– Bệnh tiếp theo do stress là thủ phạm là sự tăng trưởng mô mỡ ở bụng, hiện tượng có thể dẫn đến các trạng thái viêm nhiễm, tiểu đường và gia tăng áp huyết tâm trương.
+ Tình trạng mỡ bụng tăng trưởng…
– Muốn hạn chế cần thực hiện chế độ ngày ăn chia nhỏ thành 5 bữa, bởi khi nồng độ đường trong máu suy giảm, mỡ cơ thể hấp thụ được sẽ tích tụ ở bụng. Vòng hai lớn hơn 102 cm với nam giới và 88 cm đối với phụ nữ, không phụ thuộc vào cân nặng và chiều cao, đều bị coi là có bệnh. Tình trạng rối loạn nhịp sinh học hàng ngày ảnh hưởng bất lợi đến khả năng đề kháng của cơ thể, trọng lượng cơ bắp, dẫn đến tình trang già trước tuổi và kìm hãm sự gia tăng chiều cao ở trẻ em.
+ Muốn khắc phục tình trạng bê bối, cần thực hiện nếp sống nghiêm túc hơn và sử dụng ít tân dược hơn?
– Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe xã hội, cần có sự tham gia của các chuyên gia xã hội học, tâm lý học và chuyên gia dinh dưỡng. Thực tế, nguyên nhân khoảng 40% các trường hợp người lao động nghỉ ốm có những triệu chứng bệnh lý hoàn toàn có thể loại bỏ dựa vào nỗ lực thay đổi lối sống.
Chúng ta cần ăn nhiều sản phẩm thực vật, và ăn đúng giờ nhất định, không phải nhằm mục đích giảm béo, mà gia tăng năng suất lao động. Dạ dày của chúng ta có thể kéo thậm chí 80% lượng máu lưu thông trong cơ thể. Tôi tin vào mối quan hệ mật thiết giữa phần thể xác và tinh thần của con nguời.
+ Bác sĩ khuyên bệnh nhân chiến đấu với stress bằng cách điều chỉnh lối sống?
– Nền y học bắt dầu từ giường ngủ, từ nhà bếp và kết thúc ở hiệu thuốc. Bệnh lý mới của thế kỷ XXI là những biến đổi liên tục diễn ra trong xã hội. Chúng ta cần áp dụng tâm lý trị liệu, yoga, cầu nguyện – tức tất cả những gì khả dĩ giúp chúng ta chấm dứt nghĩ quẩn.
+ Theo bác sĩ, nghĩ quẩn là xấu?
– Khi nghĩ vẩn vơ, đầy mơ hồ, chúng ta tiêu tốn 40 đơn vị năng lượng, trái lại khi nghĩ về sự kiện cụ thể, chúng ta chỉ cần 10 đơn vị.
+ Tuy nhiên không dễ làm chủ hoài nghi.
– Tất nhiên gần như không ai làm được điều đó. Nhiều người khổ sở vì lý do stress kinh niên và thậm chí bản thân không hay biết. Những người này thực hiện công việc bản thân ưa thích, đòi hỏi nhiều ở bản thân và vì thế không nghe thấy nhữ gì cơ thể nói.
+ Mặc dầu vậy về mặt tương đối họ cảm thấy hạnh phúc.
– Tuy nhiên nếu ai đó thức giấc người đã mệt, tấm thân để có thể làm việc với cường độ thích hợp, cần phải tiết ra hoóc-môn hại chủ kortyzol. Và bắt đầu vòng tròn cạm bẫy: buổi tối con người về nhà sức lực cạn kiệt, không thể ngủ ngon, để rồi sáng mai dậy sớm tiếp tục công việc…và vòng tròn tiếp tục lặp lại.
+ Đã nhiều năm ông làm việc với tư cách bác sĩ học đường. Theo bác sĩ, trẻ em thời nay hay gặp rắc rối gì nhất?
– Chúng phải học quá nhiều môn và đầu óc phải tự thuần hóa lượng thông tin quá lớn. Trẻ cần phải có thời gian tự phát triển. Không thể cùng lúc nhồi nhét quá nhiều sự thay đổi, cơ thể chúng ta không có khả năng thích nghi với tốc độ nhanh như vậy.
Vinh Hà
Tri Thức Trẻ

Tạm biệt chứng mất ngủ mãn tính

Một lần đèo mẹ chồng đi họp lớp cấp 3, tôi thực sự bị ấn tượng với sự gắn bó mà mọi người dành cho nhau sau gần 30 năm xa cách. Nhưng có lẽ điều làm tôi bất ngờ nhất là các cô, các chú dù đã bước qua cái tuổi ngũ tuần nhưng trông vẫn vô cùng trẻ trung. Nổi bật nhất trong buổi họp lớp của mẹ chồng tôi có lẽ là cô Trần Thu Nga, (tên nhân vật đã được thay đổi) ở Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng. Không trang điểm, không mặc những bộ quần áo sang trọng, nhưng mọi người đều trầm trồ trước sự nhanh nhẹn, hoạt bát và nụ cười tươi như hoa luôn thường trực trên môi cô.

mat-ngu-man-tinh

Ngày trước cô Nga và mẹ tôi ngồi cùng bàn, sau khi ra trường, mỗi đứa theo đuổi một sự nghiệp riêng, mẹ tôi theo nghề giáo, còn cô theo nghề báo.

Mặc dù không theo nghề báo nhưng nghề của tôi cũng có chút liên quan tới nghề báo nên tôi rất thích nghe cô kể chuyện công việc của cô. Hầu như suốt cả buổi tôi và cô ngồi nói chuyện với nhau. Cô nói chuyện rất vui vẻ, và cuốn hút, lạc quan. Có lẽ điều làm tôi khá bất ngờ là cách đây mấy tháng cô còn bị chứng mất ngủ mãn tính hành hạ.

Cô vui vẻ kể cho tôi nghe chuyện cô bị mất ngủ của cô: một phần do đặc tính nghề nghiệp, thường xuyên phải đi công tác xa nhà, hay phải thức khuya viết bài, và tác nghiệp nên cũng ảnh hưởng tới giấc ngủ. Hơn nữa năm 2006 gia đình cô có chuyện không vui, cô thường xuyên trong tình trạng căng thẳng dẫn tới chứng mất ngủ. Sau đó dù mọi chuyện đã trở lại bình thường nhưng cô vẫn không tài nào ngủ được. Thường phải uống thuốc tây y mới ngủ được, mà giấc ngủ không sâu. Thời gian đó trông cô lúc nào cũng mệt mỏi, nên một đồng nghiệp có giới thiệu cô cắt thuốc của Lương y Nguyễn Hữu Toàn về uống.

Cô kể: uống 10 thang đầu tiên, cô thấy cũng chưa có tác dụng gì mấy, một đêm cũng chỉ ngủ được có 1 đến 2 tiếng thôi. Nhưng mà trong lúc đang mất ngủ như thế ngủ được 1-2 giờ không cần uống thuốc ngủ là thấy hạnh phúc lắm rồi. Thế là cô lại kiên trì uống thuốc, uống liên tục trong 3 tháng thì bệnh mất ngủ của cô khỏi hẳn. Bây giờ đêm nào cô cũng ngủ được 5 hoặc 6 tiếng. Cứ đặt lưng xuống là ngủ được luôn, không phải trằn trọc như trước kia nữa. Trước khi mỗi khi màn đêm buông xuống là cô sợ lắm, đối diện với bóng tối, quay bên này, trở bên kia rồi lại suy nghĩ lung tung, khi nào mệt quá thiếp đi được một tí xong lại tỉnh dậy. Thời gian đó công việc của cô cũng không được tốt lắm, nên cô lại càng chán nản hơn.

Từ sau khi uống thuốc của Lương y Nguyễn Hữu Toàn, cô ngủ ngon hơn, giấc ngủ sâu hơn vì thế tinh thần cô cũng sảng khoái hơn. Ai cũng bảo trông cô dạo này trẻ trung hơn hẳn, hay là đang “lại gạo” đấy, cô vừa nói và vừa cười với tôi.

Thói quen nói dối hình thành như thế nào

Một số chuyên gia cho rằng, con người luôn nói dối vì cùng một lí do: sợ hãi. Tuy nhiên, nỗi sợ hãi khiến một người nào đó phải nói dối trong mỗi cảnh huống nhất định có thể hoàn toàn khác nhau.

Khi một đứa trẻ còn nhỏ, theo lẽ tự nhiên, nó luôn nói sự thật. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, đứa trẻ bắt đầu nói dối (một cách cố ý hoặc vô thức) khi phát hiện ra rằng, người khác sẽ không tin nó trong trường hợp nó nói sự thật hoặc nó sẽ bị khiển trách hay trừng phạt vì nói sự thật (đặc biệt nếu sự thật gây khó chịu cho bố/mẹ nó hoặc những người lớn khác).

Trong những tình huống này, việc nói dối có thể đóng vai trò như một nỗ lực nhằm chiếm được lòng tin hoặc tránh bị đổ lỗi hay trừng phạt. Lời nói dối có thể được thể hiện dưới dạng đứa trẻ, trong lúc sợ hãi, đã nói điều mà nó biết bố mẹ mình thực sự muốn nghe.

noi-doi

Tại sao lại như vậy? Câu trả lời là: Một đứa trẻ sinh ra đã được “lập trình về gen” để hành xử theo lẽ phải và luôn nói sự thật. Tuy nhiên, nếu không được tin tưởng, đứa trẻ khi đó phải “học” cách cải tiến các chiến lược, kể cả dối trá, để giành được lòng tin của người khác. Việc đó có thể bắt đầu như một phản ứng có nhận thức lúc sợ hãi, nhưng nó có thể dần dần trở thành hành động vô thức và “tự động kích hoạt” khi đứa trẻ biết người khác “chờ đợi” cái gì.

Vào thời điểm một đứa trẻ bình thường bước vào tuổi thanh niên, nó sẽ sống trong một thế giới đầy những ảo tưởng về bản thân, những người khác và thế giới xung quanh nói chung. Trong giai đoạn này, cái “tôi” dần định hình của nó thường sẽ nói dối một cách vô thức, chủ yếu để duy trì ảo tưởng về bản thân và những ảo tưởng bổ sung về người khác và thế giới. Đây cũng được coi là lí do tại sao hầu hết các chính trị gia lại nói dối.

Vậy tại sao đa phần mọi người vẫn tin vào những lời nói dối?

Theo các chuyên gia tâm lý học, mỗi đứa trẻ được sinh ra với khuynh hướng tin tưởng vào người lớn. Đây là một đặc điểm tiến hóa, vì sự sống sót thời thơ ấu của đứa trẻ phụ thuộc vào việc nuôi dưỡng, chăm sóc của người lớn. Tuy nhiên, đứa trẻ cũng được trời phú cho khả năng phát triển một “máy đo sự thật” – chức năng trí não có liên quan đến sự giận dữ, có thể giúp chủ thể nhận diện những lời nói dối.

Đáng tiếc là, “máy đo sự thật”, giống như các khả năng tiềm tàng khác, là một chức năng trí não tinh vi và dễ bị phá hủy. Và nếu đứa trẻ bị cha mẹ hoặc những người lớn có ảnh hưởng quan trọng với nó nói dối thường xuyên suốt thời thơ ấu, “máy đo sự thật” hoặc sẽ không phát triển hoặc sẽ bị suy yếu tới mức không còn khả năng nhận diện sự gian dối nữa.

Người bị nói dối thường xuyên sẽ phát triển tính cả tin, một đặc điểm rất dễ nhận biết trước những người có “máy đo sự thật” phát triển. Sự cả tin của người khác cũng trở nên mù mờ, khó phát hiện đối với những người không phát triển hoặc có “máy đo sự thật” suy yếu.

Vậy chúng ta có thể làm gì với sự gian dối? Lời khuyên của một số chuyên gia dành cho bạn là: hãy luôn can đảm nói sự thật, tin tưởng vào trẻ em và không nên trừng phạt ai, kể cả những người như Edward Snowden – nhân vật tiết lộ chương trình nghe lén bí mật của Washington đối với công dân nước ngoài tại Mỹ, vì nói sự thật. Cuối cùng, bạn nên nắm “nằm lòng” đúc kết nổi tiếng này: “Bạn có thể trốn chạy sự thật. Bạn có thể che đậy sự thật. Bạn có thể phủ nhận sự thật. Nhưng bạn không thể hủy hoại sự thật”.

(theo Vietnamnet/Pravda)

Những nguy hiểm cho sức khỏe do bệnh trầm cảm gây ra

Bệnh trầm cảm hoàn toàn có thể gây nguy hiểm cho cuộc sống của bạn và khiến bạn rơi vào trạng thái rối loạn cảm xúc.

Bệnh trầm cảm là một biểu hiện của bệnh tâm thần. Bệnh có thể gặp ở bất kì đối tượng nào. Những người thường xuyên gặp áp lực trong cuộc sống, công việc mà không thể giải tỏa thường có nguy cơ rơi vào trạng thái trầm cảm cao.

Ngoài ra, bệnh trầm cảm còn có thể gây ra một loạt các bệnh mãn tính và cấp tính khác như suy giảm hệ miễn dịch, mất ngủ, bệnh tim, đau lưng…

Dưới đây là những hệ quả mà bệnh trầm cảm có thể gây ra cho bạn. Hãy tham khảo để biết cách giải tỏa tâm lý cho mình và khỏe mạnh hơn nhé.
nhung-nguy-hiem-cho-suc-khoe-do-benh-tram-cam-gay-ra
1. Bệnh tim

Bệnh trầm cảm có thể có ảnh hưởng khủng khiếp trên trái tim của bạn. Nếu mức độ trầm cảm là quá nghiêm trọng, nó thậm chí có thể gây tử vong hoặc nhồi máu cơ tim. Đó là bởi vì, khi bạn chán nản, cơ tim của bạn dễ bị viêm do thiếu oxy, có thể dẫn đến cơn đau tim. Vậy nên, những bệnh nhân có vấn đề về tim nên cẩn thận để tránh bệnh trầm cảm dù là trầm cảm ở mức nhẹ nhất.

2. Giảm sức mạnh của hệ miễn dịch

Liên tục bị trầm cảm có thể làm suy yếu sức mạnh của hệ thống miễn dịch và khiến bạn dễ bị cảm lạnh và cúm hơn. Hệ thống miễn dịch bị suy giảm là do hormone gây stress được sản sinh và tồn tại lâu dài trong cơ thể. Điều này cũng giải thích tại sao ngày nay chúng ta dễ bị cảm lạnh và cúm thường xuyên hơn, đó là bởi vì chúng ta thường hay rơi vào trạng thái căng thẳng và chán nản.

3. Mất đi cảm giác ngon miệng

Khi bạn đang chán nản, trầm cảm hay căng thẳng, bạn sẽ có hai xu hướng ăn uống: ăn rất nhiều hoặc là không là không ăn gì cả. Thay đổi trong thói quen ăn uống sẽ dẫn đến thay đổi về cơ chế trao đổi chất và có ảnh hưởng đến sự thèm ăn của bạn, từ đó có thể khiến bạn tăng hoặc giảm cân nhanh chóng.

4. Mất ngủ đêm

Khi bạn chán nản, có thể bạn sẽ cảm thấy khó ngủ do tâm trí bạn không bình tĩnh, liên tục suy nghĩ. Giấc ngủ của bạn cũng dễ bị gián đoạn, dễ tỉnh giấc giữa đêm và khó ngủ trở lại. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự tỉnh táo của bạn, thậm chí còn làm cho tình trạng căng thẳng tăng lên.

5. Nhức đầu và đau lưng

Bệnh trầm cảm thậm chí có thể gây ra đau đầu và đau nhức lưng. Mặc dù bệnh trầm cảm không trực tiếp gây ra đau lưng nhưng nó có thể dẫn đến các hậu quả khác là tăng cân, giảm cân, căng thẳng về thể chất, thiếu ngủ, dinh dưỡng thấp, cơ thể mất nước… và các hệ quả này sẽ kéo theo hệ quả khác là đau đầu và đau lưng.

6. Biến động trong áp lực máu

Khi bạn đang chán nản, cơ thể của bạn tự nhiên phát hành hormone stress như cortisol và epinephrine. Những hormone căng thẳng này có thể ảnh hưởng đến huyết áp và nhịp tim, làm cho động mạch của bạn bị yếu đi. Điều này dẫn đến việc hình thành các mảng bám trong động mạch, ngăn chặn lưu lượng máu và cuối cùng gây ra các cơn đau tim và đột quỵ.

7. Mệt mỏi

Khi bạn đang chán nản, bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và mất năng lượng nhanh hơn. Bạn sẽ không thể thực hiện thậm chí các hoạt động đơn giản do không đủ năng lượng. Tuy nhiên, sự mệt mỏi cũng có thể là do thiếu ngủ hoặc đau nhức.

8. Giảm ham muốn tình dục

Những người đã bị bệnh trầm cảm một thời gian dài có thể gặp rắc rối trong đời sống tình dục, cụ thể là trầm cảm làm suy giảm ham muốn tình dục. Đối với nam giới, hậu quả của bệnh trầm cảm gây ra cho đời sống tình dục có thể là không xuất tinh, với nữ giới là bôi trơn âm đạo không đủ, xuất tinh sớm và rối loạn chức năng cương dương.

Theo afamily

Chứng rối loạn tâm lý ở người cao tuổi

Cùng với sự gia tăng các bệnh thực thể, các rối loạn tâm lý cũng là “bạn đồng hành” của người cao tuổi (NCT), trong đó thường gặp là trầm cảm và lo âu. Một nghiên cứu mới đây tại Viện Lão khoa Việt Nam cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm kết hợp với lo âu ở các bệnh nhân cao tuổi nằm viện là rất cao, lên tới 40%.

Nguyên nhân thường gặp

Các stress của việc tái thích nghi với hoàn cảnh sống mới, khi phải chuyển từ giai đoạn làm việc tích cực đến giai đoạn nghỉ hưu. Những NCT sau khi về hưu trải qua một loạt các biến đổi tâm lý quan trọng do nếp sinh hoạt thay đổi, các mối quan hệ xã hội bị hạn chế. Một số người khó thích nghi được với giai đoạn khó khăn này nên mắc “hội chứng về hưu”, với tâm trạng buồn chán, mặc cảm, thiếu tự tin, dễ cáu gắt, nổi giận.

Đặc điểm bệnh lý của NCT là mắc nhiều bệnh cùng một lúc như: tăng huyết áp, suy tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, Alzheimer, Parkinson, các bệnh xương và khớp, bệnh phổi, phế quản, ung thư… Hậu quả là bệnh tật làm thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc tâm lý và nhân cách của người bệnh. Bệnh càng nặng, càng kéo dài thì sự biến đổi tâm lý càng trầm trọng.

chung_roi_loan_tam_ly_o_nguoi_cao_tuoi

Luyện tập thể thao phù hợp giúp phòng tránh rối loạn tâm lý ở người cao tuổi. Ảnh: MH

Ai thường bị rối loạn tâm lý?

Có 2 giai đoạn NCT hay bị rối loạn tâm lý, đó là độ tuổi từ 50 – 59 và tuổi trên 70. Các cụ bà thường mắc bệnh nhiều hơn các cụ ông. Những người có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn cũng dễ bị mắc bệnh hơn. Những người bị mắc nhiều bệnh, kèm theo các chứng đau, phải nằm viện nhiều lần cũng dễ bị rối loạn tâm lý hơn.

Các hình thức rối loạn tâm lý

Các rối loạn tâm lý ở NCT rất phong phú và đa dạng. Những biểu hiện nhẹ là khó chịu, lo lắng. Nặng hơn một chút là các biểu hiện rối loạn thần kinh chức năng, với các biểu hiện suy nhược cơ thể, lo âu, ám ảnh bệnh tật. Nặng hơn nữa có thể có các trạng thái rối loạn tâm thần, biểu hiện bằng các hội chứng hoang tưởng và rối loạn ý thức. Trong đó rối loạn tâm lý thường gặp nhất là lo âu.

Các biểu hiện lo âu thường rất đa dạng, phức tạp. Bệnh nhân cảm thấy sợ hãi, lo lắng về tương lai, dễ cáu, khó tập trung tư tưởng, căng thẳng vận động, bồn chồn, đứng ngồi không yên, đau đầu, khô miệng, đánh trống ngực. Lo âu có thể kéo dài, gây trở ngại rõ rệt đến sinh hoạt, hoạt động nghề nghiệp, quan hệ xã hội của bệnh nhân.

Rối loạn tâm lý khác cũng thường gặp là trầm cảm. Ở NCT, trầm cảm thường biểu hiện bằng sự lo lắng thái quá về sức khỏe, cảm giác buồn phiền, chán nản và mất niềm tin kéo dài. Những triệu chứng này thường kèm theo sự suy giảm nghị lực, mất tập trung, mất ngủ, chán ăn, khó ngủ và đi đến suy kiệt.

Ngoài ra, NCT còn có các biểu hiện khác như: xa lánh vợ hoặc chồng, bạn thân, đau ốm liên miên, không hoạt bát, hay thất vọng, giảm trí nhớ…

Chính vì vậy, trong cuộc sống hàng ngày, các nhân viên y tế và người thân của NCT cần quan tâm nhiều hơn đến bệnh nhân, để nhận biết và điều trị kịp thời rối loạn trầm cảm và lo âu ở NCT. Luyện tập thể thao phù hợp để tăng cường sức khỏe cũng là một biện pháp tránh trầm cảm của NCT.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Theo SKĐS

Thuốc chống trầm cảm: Cẩn trọng với tác dụng phụ

Trầm cảm có thể do các yếu tố nội sinh, sang chấn tâm lý, căng thẳng tâm lý kéo dài, do tâm lý – xã hội, do các bệnh ở não,  suy nhược…, trừ một số trầm trọng phải nằm viện, số còn lại thường chữa tại nhà. Người bệnh, người nhà cần biết  về thuốc và tác dụng phụ để dùng đúng chỉ dẫn mới có hiệu quả và tránh tai biến.

Trong quá trình dẫn truyền thần kinh, các chất serotonin, dopamin, adrenalin, noradrenalin có giai đoạn bị “khử hoạt tính” do “sự nắm bắt” và “tái nắm bắt neuron”. Khi các chất này bị giảm sút quá mức sẽ tạo ra trạng thái ức chế (giảm khí sắc, giảm năng lượng, giảm hoạt động) gọi là trầm cảm. Các thuốc chống trầm cảm ức chế “sự nắm bắt” và “tái nắm bắt” neuron (có hay không chọn lọc) nên chống lại được trạng thái này.

Tuy  cơ chế tác dụng gần như nhau nhưng trong lâm sàng mỗi thuốc chỉ đáp ứng  trên một số trạng thái trầm cảm nhất định. Ví dụ, các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (amitriptylin) dùng trong trầm cảm nội sinh (loạn tâm thần hưng trầm cảm); exffexor dùng trong rối loạn ưu tư lan rộng; fluoxetin dùng trong trầm cảm rối loạn ám ảnh-bức bách. Người bệnh, người nhà không thể tự nhận biết, phân biệt được nên phải khám chuyên khoa từ đầu cũng như tái khám (khi có diễn biến) để được chỉ định đúng thuốc.

thuoc_chong_tram_cam_can_trong_voi_tac_dung_phu

Não của người mắc chứng trầm cảm                      Não người bình thường

Một số tác dụng phụ và  tương tác thường gặp ở thuốc chống trầm cảm

– Làm xuất hiện ý nghĩ tự sát: hiện tượng này hay xảy ra lúc mới điều trị. Người bệnh có thể  bỏ thuốc hoặc có hành vi nguy hiểm. Bệnh nhân nên được quản lý ở bệnh viện hoặc có người nhà theo dõi.

– Gây căng thẳng, mất ngủ: thường xuất hiện lúc mới dùng thuốc, giống như quá liều. Cần chỉnh liều hoặc cho kết hợp thêm thuốc làm dịu.

– Làm hạ ngưỡng động kinh: Làm cho người động kinh dễ lên cơn co giật. Phải ngừng ngay thuốc khi xuất hiện cơn co giật.

Thuốc trầm cảm được chuyển hoá hầu hết tại gan, thải trừ qua thận dưới dạng chuyển hoá. Người có chức năng gan thận bị suy giảm khi dùng thuốc sẽ xuất hiện các triệu chứng như quá liều. Người già thường bị một số nhạy cảm quá mức như: hạ huyết áp tư thế đứng gây sốc, táo bón lâu ngày gây liệt ruột. Với những người này phải giảm liều đến mức thấp nhất mà vẫn  duy trì được hiệu quả chữa bệnh (có khi chỉ còn bằng nửa liều người bình thường).

Một số thuốc (đặc biệt thuốc chống trầm cảm 3 vòng, 4 vòng) thường gây nên một số triệu chứng (kháng cholinergic) khá phức tạp như: khô miệng, buồn nôn, táo bón; nhịp nhanh, hạ hay tăng huyết áp, tăng tiết mồ hôi, phát ban; nhức đầu, chóng mặt, lú lẫn; nhìn mờ, tăng áp lực nội nhãn, nhạy cảm với ánh sáng, thay đổi glucose huyết, gây chứng vú to, phồng tinh hoàn ( ở nam), tăng tiết sữa (nữ). Để khắc phục: chỉ cho uống một liều duy nhất vào buổi tối thì các triệu chứng này hầu như không xảy ra. Ở người trung niên, người già, triệu chứng này hay xảy ra hơn, cần phải giảm liều. Tránh dùng cùng lúc các thuốc này với các thuốc thường gây ra các triệu chứng trên (như atropin, ephedrin…).

Thuốc  hấp thụ vào thai, tiết vào sữa ở mức  gây nguy hiểm cho thai và trẻ bú mẹ. Tốt nhất không nên dùng khi có thai hoặc cho con bú.

Khi dùng các thuốc chống trầm cảm khác cùng lúc với IMAO hoặc khi mới ngừng dùng IMAO chưa đủ 14 ngày sẽ làm tăng tiềm năng thuốc gây ra hội chứng  bất thường về tâm thần (vật vã, hưng cảm, lú lẫn, hôn mê), về vận động (giật rung cơ, run rẩy, tăng phản xạ, cứng đờ), về thần kinh thực vật (hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, rùng mình, sốt cao, đổ mồ hôi…). Nếu vì lý do phải thay thuốc IMAO bằng thuốc trầm cảm khác hoặc thay thuốc trầm cảm khác bằng IMAO thì phải có khoảng ngừng thuốc giữa các đợt thay ít nhất là 14 ngày (riêng fluoxetin chỉ dùng khi đã ngừng IMAO 35 ngày). Rượu làm tăng hiệu lực thuốc và gây độc. Không uống rượu khi dùng thuốc.

Các thuốc làm cường giao cảm, thuốc làm dịu benzodiazepam và các thuốc làm trầm suy thần kinh trung ương khác… làm tăng cường tiềm năng thuốc chống trầm cảm.  Các thuốc chống trầm cảm lại đối kháng với các thuốc chống động kinh như barbituric, carbamazepin, phenytoin. Không dùng chung thuốc trầm cảm với các thuốc này trừ trường hợp đặc biệt có chỉ định của thầy thuốc (ví dụ trong thời kỳ đầu trị liệu, người  bệnh bị căng thẳng, mất ngủ có thể cho dùng kết hợp với thuốc làm dịu).

Một số các thuốc chống trầm cảm khi dùng chung với nhau cũng không có lợi, thường làm tăng tiềm năng thuốc, gây độc  (ví dụ: fluoxetin làm tăng cường tiềm năng của thuốc chống trầm cảm 3 vòng).

Dùng thế nào cho đúng?

Thường dùng bắt đầu với liều thấp, tăng dần đến đạt yêu cầu, rồi duy trì liều đó, nhưng cũng có khi thấy xuất hiện các hiện tượng như quá liều (do người bệnh tăng tính nhạy cảm hay do gan thận giảm chức năng) lại phải giảm liều, hoặc lúc trạng thái bệnh có thay đổi phải điều chỉnh liều hoặc thay thuốc. Không tăng hay giảm liều một cách đột ngột để tránh các phản ứng bất lợi. Môi trường sống, môi trường gia đình – xã hội rất quan trọng với người bệnh trầm cảm, cần chú ý phối hợp. Tuy nhiên cần biết rõ khi bị bệnh thì nhất thiết phải chấp nhận việc dùng thuốc và không bỏ dở khi chưa đủ liệu trình. Người bệnh trầm cảm thường phải dùng nhiều thuốc trong thời gian dài, khó chủ động làm tốt các việc này. Người nhà cần làm cho người bệnh thông suốt, giúp nhận quản lý và cho họ uống thuốc đúng chỉ dẫn. Mặt khác phải theo sát và cùng người bệnh phát hiện với thầy thuốc những bất thường (diễn biến bệnh, tác dụng phụ) để xử lý  kịp thời.

Thuốc chống trầm cảm khó dùng nhưng do đặc thù chữa bệnh thường được cho dùng tại nhà, vì vậy, sự kết hợp chặt chẽ giữa người bệnh – người nhà- thầy thuốc giúp cho việc dùng thuốc hiệu quả an toàn hơn.

DS. Hà Thủy Phước
Theo SKĐS

Thuốc chống trầm cảm: Những điều nên biết

Nguyên nhân của chứng trầm cảm hiện nay chưa biết rõ nhưng có thể là do tương tác giữa tâm lý và sinh hóa học. Các triệu chứng bệnh biểu hiện qua biến đổi về nồng độ của những chất trung gian thần kinh trung ương, mặc dầu cũng chưa biết chắc đó là nguyên nhân của bệnh. Tuy vậy chính ở trạng thái ấy mà các thuốc chống trầm cảm thông dụng trên lâm sàng phát huy tác dụng.

Có nhiều cách tiếp cận trong điều trị chứng trầm cảm tùy theo mức độ nặng nhẹ và những nguy cơ đối với bệnh nhân. Cách thông thường điều trị là dùng một thuốc chống trầm cảm.

thuoc_chong_tram_cam_nhung_dieu_nen_biet

Cách lựa chọn thuốc chống trầm cảm

Với các thuốc cổ điển như amitryptilin, phạm vi sử dụng có phần bị thu hẹp vì tác dụng phụ và do độc tính với tim, dễ gây nguy cơ tử vong vì sử dụng quá liều với ý định tự sát. Vài thuốc tìm ra sau đó như loferamin và mianserin có độc tính với tim ít hơn. Tiếp đó các thuốc ức chế chọn lọc sự giữ trở lại serotonin như fluoxetin được sử dụng vì độ an toàn cao hơn. Gần đây các thuốc ức chế sự giữ trở lại noradrenalin và serotonin như venlafaxin đã được chỉ định, cũng như các thuốc ức chế thuận nghịch monoamin oxidase týp A như moclobemid. Và mới đây nữa, các thuốc có đặc điểm sinh hóa học hơi khác biệt với các thuốc cổ điển đã được đưa vào điều trị chứng trầm cảm như: nefazodon, mirtazapin và reboxetin.

Mặc dầu vậy, thuốc chống trầm cảm lựa chọn đầu tiên vẫn là các thuốc với cấu trúc ba vòng và các thầy thuốc chuyên khoa tâm thần cũng đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng thuốc này. Các dẫn chất 3 vòng với tác dụng an thần thì thích hợp hơn cho các bệnh nhân bị kích động và lo âu, còn các dẫn chất ít an thần thì lại dùng cho những bệnh nhân vô cảm.

Để giảm tác dụng phụ đến tim có thể cho dùng các thuốc ức chế chọn lọc sự giữ trở lại serotonin, tuy nhiên các thuốc này dễ gây ra tác dụng phụ ở đường tiêu hóa như buồn nôn hoặc nôn và khi mới sử dụng dễ bị rối loạn giấc ngủ.

Nếu bệnh nhân không đáp ứng được với thuốc kể trên, có thể dùng thay bằng  một thuốc khác như lithium, nhất là các thể có triệu chứng hưng cảm. Ngoài ra có thể dùng trong một số trường hợp để kích thích thần kinh trung ương như liothyronin hoặc methylphenidat. Cũng có khi dùng flupenthixol với liều thấp hơn liều điều trị chứng loạn thần.

Chứng trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên

Trầm cảm ở thanh thiếu niên cũng có đủ các triệu chứng như trầm cảm ở các lứa tuổi khác. Bình thường, bệnh nhân trầm cảm có nét mặt buồn bã, nếp nhăn mất hoặc mờ đi, không biểu hiện cảm xúc. Người xung quanh nhìn vào dễ nhận thấy đó là vẻ mặt “ngây ngô”, ít thay đổi. Tuy nhiên, ở người vị thành niên thì triệu chứng này ít gặp. Thay vào đó là tình trạng dễ nổi cáu, hung hăng, thái độ bất cần, cục cằn, thô lỗ… diễn ra trong vài phút (khoảng 10 phút), đặc biệt khi có điều gì trái ý bệnh nhân. Ngoài ra, các em còn có trí nhớ rất kém, thường bị mất ngủ, ăn kém, có ý định và hành vi tự sát…

Khi bị các rối loạn này, các em cần được điều trị kịp thời và dứt điểm để bệnh không bị nặng lên và tránh tái phát. Thường bắt đầu bằng các liệu pháp tâm lý, nếu sau 4 – 6 tuần không có cải thiện gì thì mới nên dùng thuốc (nên chọn một loại ức chế giữ trở lại noradrenalin và serotonin hoặc lofepramin vì độc tính thấp).

Các em cần được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm sớm để nhanh chóng khắc phục triệu chứng trầm cảm, sớm hồi phục và học tập trở lại. Nên dùng thuốc chống trầm cảm SSRI kết hợp với thuốc an thần mới để rút ngắn thời gian điều trị tấn công. Có thể dùng sertraline và olanzapin, uống vào buổi tối.

Sertralin (zoloft, zosert, serenata, utralen) là thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI. Đây là thuốc chống trầm cảm có hiệu quả cao, ít tác dụng phụ, không độc với tim, gan, thận, hệ tạo máu… nên dễ sử dụng. Tác dụng phụ chủ yếu là đầy bụng, mệt mỏi trong 1 tuần đầu dùng thuốc. Có thể khắc phục tác dụng phụ một cách đơn giản bằng cách khởi đầu liều thấp, uống thuốc sau bữa ăn, uống sữa tươi.

Olanzapin (ziprexa, oleanzrapitab, zapnex, ozip, fonzepin) là thuốc an thần mới nhưng có tác dụng chống trầm cảm nhẹ, gây ngủ và kích thích ăn ngon miệng. Thuốc không độc với gan, thận, cơ quan tạo máu… và rất ít tác dụng phụ. Dùng thuốc này là để cắt đứt ý định và hành vi tự sát (nếu có), giúp bệnh nhân dễ ngủ hơn, ăn ngon hơn, chóng hồi phục hơn. Tuy nhiên, nếu điều trị lâu dài có thể gây béo phì cho bệnh nhân. Vì thế, khi bệnh trầm cảm đã ổn định có thể ngừng thuốc này.

Theo SKĐS

Rối loạn tâm thần ở trẻ vị thành niên

Ngày nay, các rối loạn tâm thần không phải là hiếm gặp ở trẻ vị thành niên. Các rối loạn tâm thần chủ yếu là trầm cảm, tâm thần phân liệt, rối loạn lo âu và nghiện ma túy.

Trầm cảm

roi_loan_tam_than_o_tre_vi_thanh_nien

Áp lực học hành và thi cử làm trẻ vị thành niên dễ gặp các sang chấn tâm lý (ảnh chỉ có tính chất minh họa).

Trầm cảm có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, hay gặp nhất là ở độ tuổi 40 – 50. Nhưng qua thực tế lâm sàng, trầm cảm ở trẻ vị thành niên không phải là hiếm. Số bệnh nhân trầm cảm ở độ tuổi này đang tăng lên nhanh chóng. Tỷ lệ trầm cảm ở trẻ vị thành niên là 6 – 8%. Biểu hiện trầm cảm ở trẻ vị thành niên giống như ở người lớn nhưng có một số điểm khác biệt sau:

– Khí sắc thường là kích thích (chứ không phải là trầm).

– Mất cảm giác ngon miệng và sút cân là triệu chứng hay gặp.

– Mất ngủ thường xuyên hơn. Trẻ có thể thức thâu đêm để chơi game trên máy vi tính. Chính do thời gian tiếp xúc với màn hình máy vi tính quá dài khiến cho tình trạng trầm cảm nặng thêm. Vì vậy khi điều trị, gia đình cần cách ly trẻ với máy vi tính hoặc hạn chế trẻ sử dụng một cách tối đa.

– Dễ bị kích thích, trẻ hay nổi cáu vô cớ. Trẻ có thể đánh bạn, đánh em, cãi giả và có nhiều hành vi hỗn láo với bố mẹ hoặc giáo viên.

– Mệt mỏi thường xuyên nên trẻ hay bỏ học.

– Khó tập trung chú ý, vì thế trẻ rất lơ đễnh trong nghe giảng.

– Trí nhớ sút kém, do vậy trẻ không nhớ được nội dung bài học, không nhớ được những điều bố mẹ dặn dò.

– Học tập sút kém. Hầu hết các cháu có kết quả học tập rất kém, thi môn nào thì trượt môn đó.

– Hay có ý định và hành vi tự sát do chán nản, bi quan, học tập sút kém, do bị ảnh hưởng của game bạo lực.

Hơn 90% số trường hợp trầm cảm ở trẻ vị thành niên sẽ tái phát cơn trầm cảm trong vòng 1-2 năm sau khởi phát bệnh trầm cảm… Những người này khi lớn lên có 60 – 70% nguy cơ tiếp tục có cơn trầm cảm. 19% số trường hợp trầm cảm vị thành niên sẽ có cơn hưng cảm trong tương lai, nghĩa là phát triển thành rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

Nguyên nhân của trầm cảm ở trẻ vị thành niên là do thiếu chất dẫn truyền thần kinh serotonin trong xinap thần kinh ở vỏ não. Vì vậy, chấn thương tâm lý (học hành căng thẳng, thi trượt, mâu thuẫn trong gia đình…) chỉ đóng vai trò là yếu tố thuận lợi cho trầm cảm phát triển chứ không phải là nguyên nhân chính gây ra trầm cảm. Hơn nữa, chấn thương tâm lý chỉ có vai trò trong cơn trầm cảm đầu tiên mà thôi, từ các cơn sau, chấn thương tâm lý không có vai trò gì cả, nghĩa là trầm cảm tự phát triển không liên quan gì đến chấn thương tâm lý. Do đó khi phát hiện ra con mình có các triệu chứng của trầm cảm, bố mẹ nên đưa con đến khám tại các thầy thuốc chuyên khoa tâm thần.

Những bệnh nhân này phải được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm. Cần nhấn mạnh rằng các phương pháp khác như âm nhạc liệu pháp, châm cứu, thuốc đông y, đi nghỉ mát… hầu như không có hiệu quả gì cho các bệnh nhân này. Thuốc chống trầm cảm có thể dùng thuốc chống trầm cảm 3 vòng (amitriptylin, stablon), đa vòng (remeron), hay thuốc chống trầm cảm ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin. Cần lưu ý là trẻ phải được điều trị kéo dài để tránh tái phát. Thời gian điều trị tối thiểu là một năm, nhưng thường kéo dài nhiều năm cho đến khi trẻ kết thúc quá trình học tập.

Tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt khởi phát ở lứa tuổi vị thành niên ít gặp, nhưng thường rất nặng. Trẻ có thể bị các thể bệnh paranoid, không biệt định và thể thanh xuân. Tâm thần phân liệt được đặc trưng bởi các triệu chứng sau:

– Có ảo thanh. Trẻ nghe thấy có tiếng người nói trong đầu. Lúc đầu tiếng nói này xuất hiện lẻ tẻ, nhưng nhanh chóng phát triển và xuất hiện thường xuyên. Tiếng nói thường là không rõ ràng là giọng đàn ông hay đàn bà, trẻ không phân biệt được đó là giọng người quen hay người lạ, nhưng vẫn nghe được rất rõ ràng. Nội dung của tiếng nói thường là bình phẩm về mọi hành vi của bệnh nhân (quét nhà không sạch, rửa bát không tốt, học hành không ra gì…), ra lệnh cho bệnh nhân phải làm một việc gì đó (điều này rất nguy hiểm nếu là ra lệnh tự sát, đánh người, đốt nhà, đập phá…), hoặc trò chuyện với bệnh nhân. Ảo thanh khiến bệnh nhân rất khó chịu, nhiều cháu đã dùng máy nghe nhạc để nghe hy vọng át được ảo thanh.

– Có hoang tưởng. Bệnh nhân có các ý nghĩ bất thường, không đúng sự thật, nhưng các ý nghĩ này thường xuyên tồn tại ở bệnh nhân, chi phối mọi hành vi của bệnh nhân. Các hoang tưởng thường là hoang tưởng bị theo dõi (cho rằng mình bị bạn bè, thấy cô, bố mẹ theo dõi bằng camera, bằng sóng điện từ…), hoang tưởng bị hại (cho rằng ai đó tìm cách hại mình), hoang tưởng bị chi phối (cho rằng có thế lực nào đó chi phối điều khiển mọi ý nghĩ, hành vi của mình), hoang tưởng liên hệ (liên hệ mình với bất cứ sự vật hiện tượng nào xảy ra xung quanh). Các hoang tưởng này rất nguy hiểm, có thể khiến trẻ tự vệ (hoang tưởng bị hại), tự sát (hoang tưởng bị chi phối)…

– Bệnh kéo dài quá 1 tháng và không có căn nguyên thực tổn gì (chấn thương sọ não, nghiện ma túy…).

Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần rất nặng, kéo dài suốt dời. Vì thế trẻ cần được điều trị càng sớm càng tốt bằng thuốc an thần. Các thuốc đông y, châm cứu, tâm lý liệu pháp… đều không có hiệu quả gì với bệnh này. Nên sử dụng các thuốc an thần như haloperidol, risperidon, olanzapin để điều trị. Cần lưu ý phải điều chỉnh các tác dụng phụ cho bệnh nhân bằng trihex vì các cháu rất nhạy cảm với tác dụng phụ của thuốc. Gia đình bệnh nhân cần đưa các cháu đi khám bệnh định kỳ (kể cả khi bệnh nhân đã hoàn toàn ổn định) và không tự ý thay đổi liều thuốc hoặc ngừng thuốc. Thời gian uống thuốc phải kéo dài nhiều năm, rất nhiều trường hợp phải uống thuốc kéo dài suốt đời.

Rối loạn lo âu lan tỏa

Đây là một bệnh lo âu mạn tính và không có cơn hoảng sợ. Bệnh kéo dài ít nhất 6 tháng. Bệnh nhân lo lắng, sợ hãi quá mức và rất bền vững. Trương lực cơ tăng, mất khả năng thư giãn, khó tập trung chú ý, mất ngủ, dễ bị kích thích, mệt mỏi là các triệu chứng đặc trưng của lo âu lan tỏa. Các triệu chứng này rất rõ ràng, diễn ra hàng ngày và không thể kiểm soát được.

Bệnh nhân lo âu lan tỏa thường không đi khám bệnh ngay. Những bệnh nhân này thừa nhận rằng họ luôn căng thẳng mạn tính, tăng hoạt động, lo âu quá mức, dần dần họ không thấy có quãng thời gian nào mà họ không lo âu. Bệnh tiến triển mạn tính nên bệnh nhân thường tự điều trị cho mình (hoặc do gia đình điều trị) bằng rượu, ma túy, thuốc bình thần.

Các bệnh nhân lo âu lan tỏa cần được điều trị bằng thuốc mới, tốt nhất là dùng venlafaxin, sertralin. Có thể phối hợp trong thời gian đầu với benzodiazepin để cắt tình trạng lo âu của bệnh nhân. Cần lưu ý rằng lo âu lan tỏa khó điều trị hơn bệnh trầm cảm. Liều thuốc phải lớn hơn và thời gian dùng thuốc phải dài hơn so với điều trị trầm cảm. Người ta khuyên nên dùng thuốc liên tục trong tối thiểu 5 năm, nhưng rất nhiều trường hợp phải uống thuốc điều trị suốt đời.

Theo SKDS/ TS. Bùi Quang Huy

Tâm lý của trẻ khiếm thính

Đặc trưng của cộng đồng trẻ điếc thần kinh giác quan là mối cá nhân đều có sự khác biệt và nhu cầu của mỗi cá nhân cũng khác nhau. Dạng và mức độ khiếm thính của đứa trẻ này có thể khác so với đứa trẻ khác. Và sự khác nhau như vậy tự nó đã tạo ra các sự khác biệt của từng cá nhân về tỷ lệ cần thiết điều chỉnh nội dung của chương trình giáo dục.

Khiếm thính tự nó có thể gây ra các vấn đề về trí tuệ, học tập. Tiếp nữa, khiếm thính và cộng thêm các vấn đề khác về thể chất, giác quan, và/hoặc các vấn đề về trí tuệ có thể cùng có chung một nguyên nhân. Đối với lý do sau cùng, đứa trẻ bị điếc thần kinh giác quan cần được gửi đi khám thần kinh. Các tổn thương thần kinh có thể có những biểu hiện bên ngoài như: mập bất thường, các kỹ năng vận động tinh tế bị ảnh hưởng, như ảnh hưởng khả năng nói, ra dấu hiệu, khả năng đọc ra dấu ngón tay. Các dấu hiệu này có thể đi kèm hoặc tự gia tăng những thiếu hụt tâm lý khác ảnh hưởng đến việc học tập.

tam_ly_cua_tre_em_khiem_thinh

Một buổi học cho trẻ khiếm thính

Một danh sách rất dài về các tàn tật tâm – thần kinh và tâm lý đã được Pollack liệt kê. Dưới đây là những bàn luận ngắn về những tàn tật này để cố gắng báo động cho các giáo viên cũng như nhân viên y tế biết về nó.

Các tàn tật về tâm – thần kinh

Những khó khăn về tâm – thần kinh thường liên quan đến nghe kém bao gồm: không có khả năng học, chứng mất hay khó phối hợp động tác, chứng loạn vận ngôn (phát âm không rõ, dù ý nghĩa và nội dung ngôn ngữ vẫn bình thường), hoặc dáng người không vững do vấn đề về trương lực cơ hay đồng vận. Đối với dáng đi không vững, cần kiểm tra tổn thương tiền đình. Sự kém phối hợp các cơ ở trẻ nhỏ có thể gây ra sự vụng về, sự té ngã, khó khăn ngồi và các vấn đề về kiểm soát đầu. Đây là những dấu hiệu điển hình của rối loạn chức năng tiền đình. Các dấu hiệu của thiếu hụt thần kinh do tổn thương não bao gồm các dấu hiệu điển hình liên quan tới các chuyển động nhỏ trong sử dụng “cầm”, “nắm”; có rối loạn chức năng cơ toàn thân, ví dụ: sự liệt co cứng, hoặc liệt nhão, cũng như các sự co cứng cơ hoặc co cứng giống múa giật hoặc run có thể xuất hiện ở các cơ “nói”.

Các ảnh hưởng trong cư xử

Trẻ điếc thần kinh giác quan có thể có tính hiếu động thái quá, khó tập trung, căng thẳng, sợ hãi… Những triệu chứng này có thể là “hội chứng hiếu động thái quá”, hoặc “rối loạn sự tập trung”. Các triệu chứng khác mà người ta hay thấy xuất hiện với tần suất cao là sự vụng về, phân biệt trái, phải khó khăn, chứng mất khả năng viết và các khó khăn trong sự phối hợp toàn thân.

Có rất nhiều cố gắng nhằm xác định các nguyên nhân của tính hiếu động thái quá ở trẻ nghe bình thường. Vài nguyên nhân được cho là do di truyền, một trong bố hoặc mẹ hoặc cả hai nghiện rượu, cha mẹ bị rối loạn tâm lý, sử dụng thuốc trong thời gian mang thai, các chấn thương khi sinh, thức ăn. Tuy nhiên bản chất cơ bản đặc biệt của tính hiếu động ở trẻ nghe bình thường và ở trẻ khiếm thính thường không được biết. Đối với trẻ khiếm thính, khi thính giác bị mất làm tăng sự thúc đẩy phải nhìn. Điều này có nghĩa là trẻ khiếm thính có thể học để khám phá môi trường xung quanh mình bằng cách nhìn hiệu quả hơn.

Kiểm tra tâm lý

Nhiều kỹ thuật kiểm tra không dùng văn bản hay lời nói được thiết kế để sử dụng cho trẻ khiếm thính. Nhà tâm lý học nhìn chung có khả năng đánh giá chức năng trí tuệ và sự phát triển hiểu biết, cũng như những khó khăn về tâm – thần kinh và khó khăn về ứng xử liên quan đến điếc thần kinh giác quan của những trẻ này. Cần có một đánh giá tâm lý hoàn chỉnh đối với trẻ khiếm thính bao gồm: đo lường về trí tuệ, đánh giá về tính cách, xác định tổn thương não, đo kết quả giáo dục và một đánh giá về kỹ năng giao tiếp.

Kiểm tra tâm lý có thể cung cấp không chỉ dữ liệu về trí tuệ mà còn đo đạc chức năng học thuật và xác định các vùng có vấn đề đặc biệt. Các kết quả của việc kiểm tra tâm lý có thể cung cấp các thông tin quan trọng để mang lại nhiều hiệu quả cho trẻ trong điều trị.

Trí tuệ

Trí thông minh của trẻ khiếm thính không bị kèm theo các tổn thương về thần kinh khác nhau từ kém đến có những năng khiếu tự nhiên như những trẻ nghe bình thường. Điều quan trọng là phải đánh giá đúng trí thông minh của một đứa trẻ khiếm thính và tiềm năng phát triển các kỹ năng giao tiếp và đặt ra các mục tiêu giáo dục. Các khả năng tâm lý ngôn ngữ của trẻ nghe bình thường nhưng chậm phát triển tâm thần bị ảnh hưởng bất lợi. Rohr và Burr đã so sánh khả năng tâm lý ngôn ngữ của 131 trẻ chậm phát triển tâm thần (IQs từ 30 đến 60) trên nhiều nhóm nguyên nhân khác nhau bao gồm hội chứng Down, tổn thương não sinh học (sinh thiếu cân và các điều kiện bẩm sinh như: não nhỏ), chậm phát triển do nguyên nhân môi trường (chấn thương sản khoa, chấn thương đầu sau sinh), và các trường hợp không rõ nguyên nhân. Trẻ em bị Down có khả năng nghe nói kém hơn nhiều so với trẻ của các nhóm nguyên nhân chậm phát triển tâm thần khác.

Điều trị

Có nhiều vấn đề và sự cần thiết đối với trẻ điếc thần kinh giác quan kèm kém các khả năng về tâm thần kinh và kém trong ứng xử. Vì vậy, cần sắp xếp một chương trình bao gồm thuốc chống tăng động, chỉ dẫn giáo dục cho từng đối tượng, áp dụng trị liệu giao việc và trị liệu tâm lý. Trong trường hợp hiếu động thái quá, việc sử dụng các chất kích thích đơn độc không có hiệu quả. Điều trị hiếu động thái quá với chế độ dinh dưỡng khác nhau ngày càng trở nên phổ biến.

Rõ ràng, các vấn đề một số cơ không hoạt động phối hợp do kém chức năng tiền đình hoặc tổn thương não sẽ làm trở ngại các hoạt động học tập dù sử dụng bất kỳ chương trình giáo dục nào. Vai trò của nhà điều trị y khoa và giáo dục là đánh giá và điều trị những khiếm khuyết này qua việc thay đổi kém chức năng thần kinh bằng việc gia tăng các hoạt động trung ương của hệ thống giác quan và vận động và phát triển chức năng của các hệ thống xúc giác, tiếp nhận, tiền đình và hệ thống nhìn.

Trẻ và gia đình cần được tư vấn hoặc phục hồi tâm lý. Việc ưu tiên là đưa kiểm tra tâm lý trở thành thường quy. Không may, việc điều trị thường có nhiều bất lợi và chậm trễ vì: cha mẹ không tin con mình bị chậm phát triển tâm thần, không tin tưởng chương trình điều trị và giáo dục sẽ đem lại tiến bộ cho trẻ.

BS.CKII. NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
(Theo Strategies for Habilitation)
Theo SKDS

Trẻ bị rối loạn tâm lý khi ngồi trước màn hình

Theo các chuyên gia tâm lý, nếu trẻ em ngồi trước màn hình máy tính hoặc tivi trên 2 giờ đồng hồ mỗi ngày sẽ có nhiều nguy cơ gặp các khó khăn về mặt tâm lý.

Một nghiên cứu có tên là “Dự án Peach”, thực hiện trên 1.000 trẻ em từ 10 – 11 tuổi, người ta thống kê thời gian trẻ ngồi trước màn hình cùng với những vấn đề tâm lý. Người ta cũng kiểm tra hoạt động của trẻ về hai khía cạnh: thời gian ngồi và mức độ hoạt động thể lực trung bình. Kết quả cho thấy: nếu trẻ ngồi trên 2 giờ mỗi ngày trước tivi (để xem chương trình) hoặc trước màn hình máy tính thì có liên quan đến những khó khăn về tâm lý hơn những trẻ em khác dành thời gian này cho hoạt động thể lực.

tre_roi_loan_tam_ly_khi_ngoi_truoc_man_hinh_may_tinh

Mục đích của nghiên cứu nhằm đưa ra những chứng cứ khoa học nhằm khuyến cáo trẻ cách sinh hoạt để đảm bảo sức khỏe trong tương lai. Những trẻ em ngồi nhiều nhưng không ngồi trước màn hình sẽ có tình trạng tâm lý tốt hơn, bao gồm vấn đề về cảm xúc và giao tiếp. Một số trẻ có rối loạn về hành vi, bao gồm cả vấn đề tăng nhạy cảm.

Theo các chuyên gia thì việc trẻ ngồi trước màn hình ít thời gian thôi sẽ không có vấn đề gì và trẻ cần phải tăng cường hoạt động thể lực nhằm bù trừ lại thời gian này. Trong độ tuổi phát triển về tâm lý, trẻ cần phải được chăm sóc cẩn thận, tránh việc chơi game máy tính hoặc xem tivi quá nhiều trong ngày. Những rối loạn về tâm lý này sẽ gây khó khăn cho trẻ về sau khi hòa nhập vào cộng đồng dân cư. Để khảo sát các vấn đề tâm lý này, các chuyên gia phải thống kê, quan sát hành vi trẻ, thực hiện các bảng câu hỏi. Qua thông tin thu nhập được, họ sẽ cho điểm và phân tích thống kê để rút ra các mối liên hệ. Các nhà tâm lý học đưa ra lời cảnh báo cho các bậc phụ huynh trong việc theo dõi và chăm sóc trẻ, nhất là những trẻ vốn đã có những rối loạn về tâm lý.

(Theo Pediatrics)
BS. ĐẶNG MINH TRÍ
Theo SKDS

Điều trị bệnh tâm lý ở trẻ em

Đời sống tâm lý trẻ con ngày càng phức tạp, trong khi nhiều bậc phụ huynh vẫn chưa quan tâm hoặc nhận thức hết tầm quan trọng của việc tham vấn tâm lý cho trẻ.

chua-benh-tam-ly-o-tre-em

Sợ cho con đi khám

“Tôi ghét bà!”. Chị Đ.Nghi (cán bộ ngân hàng) sững người khi nghe cô con gái 16 tuổi hét câu nói đó trước khi đóng sập cửa phòng. Học giỏi và lễ phép, con chị từng là niềm tự hào của gia đình. Chỉ vài tháng nay con chị bỗng dưng cộc tính, sức học tuột không phanh… Chị muốn đưa con tới phòng tham vấn tâm lý nhưng vì sợ người ngoài dị nghị nên tặc lưỡi cho qua. Chọn giải pháp đọc lén nhật ký của con và chị bị con phát hiện…

Con trai của chị P.Trinh (Q.3, TPHCM) thường xuyên đánh nhau và ăn cắp vặt trong lớp dù gia đình thuộc hàng khá giả. Trò chuyện với con không ăn thua, dắt con tới phòng tham vấn được vài lần nhưng mọi chuyện cũng không thay đổi, chị với chồng đều lắc đầu, tự nhủ: “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính!”.

Cả hai bạn trẻ này đều cho biết không nhận được sự đồng cảm của gia đình, khoảng cách giữa họ theo đó ngày một xa dần. Khi được hỏi vì sao không tìm tới phòng tham vấn tâm lý ở trường, hai bạn trẻ này đều chung câu trả lời: “Ở trường, những ai bước ra bước vô phòng này đều bị mọi người “soi” rất kỹ”.

Hầu hết tham vấn viên tâm lý đều cho rằng hai câu chuyện trên là thực trạng phổ biến. Chuyên viên tâm lý Huỳnh Thị Hoàng Oanh (Nhà Thiếu nhi TPHCM) cho biết: “Phụ huynh thường e dè khi tìm đến các địa điểm tham vấn tâm lý vì chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc này. Bên cạnh đó phụ huynh thường nôn nóng, luôn muốn vấn đề được dứt điểm sớm”.

Theo bà Oanh, một số phụ huynh còn nhìn vấn đề ngắn hạn, khi thấy triệu chứng ở trẻ giảm là lập tức dừng quá trình trị liệu tâm lý. Một số khác thường chỉ đưa trẻ tới phòng khám khi các triệu chứng tâm lý đã rơi vào giai đoạn trầm trọng.

Do không được sự hỗ trợ từ cha mẹ nên nhiều trẻ chỉ dám liên lạc, nhờ tham vấn thông qua đường dây nóng hoặc hộp email của trung tâm dù nơi này luôn mở cửa các ngày trong tuần và hoàn toàn miễn phí. “Khách tới gặp trực tiếp hầu hết đều là phụ huynh và thường đi một mình”, bà Oanh cho biết.

Tương tự, ThS tâm lý Trần Thị Hồng Nhi (khoa tâm lý Bệnh viện FV TPHCM) cũng cho rằng nhiều phụ huynh thường bỏ cuộc nửa chừng: “Một phần họ thiếu kiên nhẫn, phần do họ chưa có cơ hội được giải thích một cách đầy đủ, thuyết phục từ những nhà chuyên môn”.

Trẻ sẽ phát triển hơn nếu được quan tâm

Trẻ em thời đại ngày nay có mức phát triển tâm sinh lý nhanh, phức tạp hơn nhiều so với các thế hệ trước, đó là khẳng định của giáo sư tâm lý Neal Newfield (ĐH West Virginia, Hoa Kỳ). Theo ông, hoạt động tham vấn tâm lý cần được đặc biệt chú trọng bởi đã có những nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ sẽ học, phát triển toàn diện hơn nếu có sự hỗ trợ về việc phát triển tâm lý. Thông qua ba năm kinh nghiệm tham vấn ở cả trường học lẫn trung tâm tham vấn, bà Oanh lại cho rằng: “Gốc rễ vấn đề vẫn là ở phụ huynh. Nếu phụ huynh không dành thời gian lắng nghe, san sẻ cùng trẻ thì trẻ sẽ tự tìm hiểu hoặc hỏi những người bạn cũng non vốn sống giống mình. Và nếu phụ huynh viện lý do quá bận rộn mà không thể hỗ trợ việc tham vấn thì chúng tôi cũng đành bó tay”.

Làm việc trong lĩnh vực tâm lý trên 25 năm (trong đó có bảy năm tại Việt Nam), giáo sư Neal nhận thấy việc hiểu tâm lý trẻ không chỉ khó khăn cho các bậc phụ huynh (vốn đã bận rộn với việc mưu sinh) mà cũng là thử thách lớn cho chính những người làm công tác chuyên môn. Ông cho rằng công nghệ đang kéo giãn khoảng cách giữa hai bên và việc hiểu trẻ để tư vấn trẻ đúng đắn đòi hỏi một nỗ lực lớn, liên tục từ nhiều phía. “Chỉ tới khi người lớn quan tâm, đầu tư nhiều hơn mảng tham vấn tâm lý thì chúng tôi nghĩ những điều đáng tiếc với giới trẻ mới được cải thiện”, ông khẳng định.

Lộ trình tham vấn tâm lý

Thực chất không có một lộ trình tham vấn nhất định. Tuy nhiên dưới đây là một lộ trình tham khảo:

Buổi khám đầu tiên: Được dành để tiếp trẻ và người yêu cầu khám (thường là phụ huynh) để lý do tới khám được nói ra trước mặt trẻ. Chuyên viên tâm lý lắng nghe phụ huynh nói về các triệu chứng, hành vi gây lo lắng, quá trình phát triển của thanh thiếu niên, quan hệ trong gia đình… Sau đó sẽ giải thích quy trình làm việc cho phụ huynh và phụ huynh sẽ được mời ra ngoài để trẻ cho ý kiến về nguyên nhân tới khám, bày tỏ ý kiến riêng.

Khám tâm lý tổng hợp: Tùy thuộc nguyên nhân tới khám mà chuyên viên tâm lý có thể sử dụng một hoặc các công cụ làm việc khác nhau: phỏng vấn lâm sàng, trắc nghiệm trí tuệ, bảng hỏi, trắc nghiệm tình cảm, tranh vẽ, kể chuyện… Khám tâm lý có thể kéo dài từ 1-3 buổi/45 phút.

Báo cáo kết quả: Chuyên viên tâm lý sẽ trả báo cáo về kết quả khám tâm lý, các khuyến nghị cho nhà trường, gia đình.

Trị liệu tâm lý: Trong trường hợp có khó khăn thật sự (bệnh lý hay cường độ mạnh, kéo dài), trẻ sẽ được tiếp nhận tâm lý trị liệu (thông qua lời nói và các phương pháp trung gian khác mà không dùng thuốc). Tâm lý trị liệu có thể kéo dài từ hai buổi tới sáu tháng.

Theo Công Nhật

Tuổi trẻ