Tag Archives: suy tim

Mất ngủ gây tổn hại đến tim

Các nhà khoa học Mỹ đã tìm ra câu trả lời cho câu hỏi một người ngủ bao nhiêu tiếng mỗi đêm là hợp lý. Theo họ, một giấc ngủ lý tưởng, tốt cho cơ thể, đặc biệt là hệ tim mạch, là một giấc ngủ kéo dài từ 6-8 tiếng mỗi đêm.

Các nhà khoa học thuộc Đại học Y khoa Chicago khẳng định, ngủ ít hơn hay nhiều hơn khoảng thời gian nói trên đều có hại cho sức khỏe của con người và nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch ở những người này là khá cao. Kết luận trên được rút ra sau khi họ tiến hành phân tích và tổng hợp các số liệu thu thập được từ 3.000 người trên 45 tuổi về thói quen sinh hoạt, thời gian ngủ và các loại bệnh tim mạch họ từng mắc phải như suy tim, lên cơn đau tim, bệnh động mạch vành, đau thắt ngực hay đột quỵ.

mat-ngu-gay-ton-hai-den-tim

Kết quả cho thấy, với những người ngủ dưới 6 tiếng mỗi đêm, nguy cơ bị đột quỵ hoặc lên cơn đau tim cao gấp 2 lần và nguy cơ suy tim cao gấp 1,6 lần so với những người ngủ đủ từ 6-8 tiếng mỗi đêm. Trong khi đó, với những người ngủ từ 8 tiếng trở lên, nguy cơ đau thắt ngực là 2 lần và mắc bệnh động mạch vành là 1,1 lần so với thời gian tiêu chuẩn.

Từ kết quả trên, các nhà nghiên cứu kết luận ngủ đủ giấc từ 6-8 tiếng mỗi đêm là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp con người giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.

Nguồn giáo dục

Nỗi lo khi mất ngủ mãn tính

Không chỉ có người già mới bị chứng mất ngủ mà có nhiều người trẻ cũng mắc bệnh mất ngủ mãn tính. Bệnh này gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và công việc của bệnh nhân.

Giấc ngủ có vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh lí của con người. Giấc ngủ là khoảng thời gian để các cơ quan trong cơ thể có thể nghỉ ngơi, lấy lại năng lượng sống. Nhưng hiện nay, có nhiều người mắc bệnh mất ngủ mãn tính.

1.  Nguyên nhân của mất ngủ mãn tính – điều bạn cần biết

Ngủ đủ giấc giúp bạn đủ năng lượng để cân bằng cuộc sống

Ngủ đủ giấc giúp bạn đủ năng lượng để cân bằng cuộc sống

Mất ngủ nói chung và mất  ngủ mãn tính có nhiều nguyên nhân nhưng có một số nguyên nhân chính sau đây:

–         Các bệnh liên quan, gây ảnh hưởng đến giấc ngủ như: bệnh viêm khớp khiến bệnh nhân thường xuyên cảm thấy đau khớp vào buổi đêm, nên có cảm giác khó ngủ. Các bệnh về tim mạch, huyết áp cáo, rối loan tiêu hóa…cũng là những tác nhân gây bệnh mất ngủ mãn tính.

–         Yếu tố môi trường: Nếu bạn làm việc trong môi trường có áp lực công việc cao, ngủ trong môi trường nhiều tiếng ồn,…cũng gây khó ngủ kéo dài dẫn đến bệnh mất ngủ mãn tính.

–         Tâm lí bất ổn: Bạn bị trầm cảm, lo lắng hay không thanh thản trong suy nghĩ khi ngủ cũng dẫn đến mất ngủ mãn tính.

2. Chữa bệnh mất ngủ mãn tính, phải làm sao?

Mất ngủ mãn tính gây hại đến sức khỏe

Mất ngủ mãn tính gây hại đến sức khỏe

Đây là câu hỏi của rất nhiều người. Có rất nhiều cách chữa bệnh mất ngủ mãn tính với các liệu pháp tự nhiên và liệu pháp khoa học. Với liệu pháp tự nhiên bạn có thể kết hợp nhiều phương pháp: Ăn những loại thức ăn bổ dưỡng chữa mất ngủ: Trà hoa cúc, bột yến mạch hoặc thịt gà vào bữa tối, một cốc mật ong ấm trước khi ngủ….giúp bạn khắc phục bệnh mất ngủ mãn tính.

Ngoài ra, nếu bạn mắc những bệnh gây nên bệnh mất ngủ thì bạn cần tích cực điều trị để giảm nguy cơ khiến bạn mất ngủ.

Tập thể dục hàng ngày, để cho tinh thần thoải mái, không lo nghĩ nhiều… cũng là một phương pháp không chỉ để chữa bệnh mất ngủ mãn tính mà còn nhiều bệnh khác như: tim mạch, suy tim…

Nguồn báo sức khỏe

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

7 nguyên tắc phòng chống ung thư và tim mạch

Một nghiên cứu mới cho thấy, 7 nguyên tắc cơ bản dưới đây có thể giúp giảm tới 50% nguy cơ tử vong do ung thư hoặc các bệnh tim mạch.

Tích cực hoạt động thể chất

Nghiên cứu của Đại học Kansas (Mỹ) hồi tháng trước cho thấy, các nhân viên văn phòng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ có hại về sức khoẻ do thói quen ngồi nhiều ở bàn làm việc. Theo đó, những người ngồi một chỗ hơn 4 tiếng/ngày có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như ung thư, tiểu đường và tim mạch cao hơn những người tích cực vận động. Đặc biệt, những người ngồi ít nhất 6 tiếng tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường rõ rệt.
giam-can
Trong khi đó, nghiên cứu của Đại học Leicester (Anh) cho rằng, những người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường có thể cải thiện tình hình bằng cách giảm thời lượng ngồi xuống còn 90 phút mỗi ngày.

Cai thuốc lá

Theo các nhà khoa học người Đức, cai thuốc lá không bao giờ là muộn, cai thuốc lá ở độ tuổi trung niên hoặc già hơn vẫn mang lại những lợi ích nhất định về sức khoẻ. Ngay cả những người đã có tiền sử hút thuốc lâu dài vẫn có thể giảm tới 40% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ trong vòng 5 năm nếu cai thuốc lá. Một nghiên cứu khác của Canada công bố đầu năm negative còn cho thấy, những người bỏ thuốc lá năm 44 tuổi vẫn có thể sống lâu như những người chưa từng hút thuốc.

Kiểm soát lượng đường trong máu

Lượng đường trong máu cao làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường. Trong khi đó, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 5 lần ở những người đàn ông trung tuổi mắc tiểu đường và cao hơn 8 lần ở phụ nữ bị tiểu đường. Tổ chức Diabetes UK (Anh) ước tính tuổi thọ của những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có xu hướng giảm tới 10 năm. Theo nghiên cứu kéo dài hơn 30 năm của Đại học Pittsburgh (Mỹ) công bố năm 2012, những người mắc tiểu đường tuýp 1 sinh sau năm 1965 có tuổi đời trung bình là 69 tuổi.

Duy trì cân nặng lành mạnh

Một nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trên 894,576 người, phần lớn là người Tây Âu và Bắc Mỹ, có độ tuổi trung bình 46 và mức chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 25. Kết quả cho thấy, chỉ số BMI mà nhiều người cho là lý tưởng, từ 22.5 – 25 có thể làm tăng nguy cơ chết sớm. Từ mức BMI = 25 trở lên, nếu BMI tăng 5 đơn vị, nguy cơ tử vong tăng hơn 30%. Đặc biệt, khi BMI tăng 5 đơn vị, tỷ lệ tử vọng do bệnh tim mạch, đột quỵ tăng 40%.

Giữ huyết áp ổn định

Huyết áp cao nếu không được điều trị kịp thời có thể khiến tim phình to, làm hoạt động bơm máu của tim kém hiệu quả, từ đó dễ dẫn tới suy tim.

Một nghiên cứu mới đây đăng trên Chuyên san The Lancet cho thấy, hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm ở Anh, chiếm tới 12% tỷ lệ tử vong, tiếp sau đó là các bệnh huyết áp cao, béo phì, thiếu luyện tập, rượu và chế độ ăn thiếu chất.

Đảm bảo chế độ ăn

Chế độ ăn Địa Trung Hải giàu chất chống oxy hóa có thể giúp giảm 1/3 các cơn đau tim, đột quỵ và tỷ lệ tử vong ở người có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch. Điều chỉnh mức độ cân bằng trong chế độ ăn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ngay cả trước khi chúng “gõ cửa”.

Thêm vào đó, nghiên cứu của Thụy Điển cho thấy, chế độ ăn Địa Trung Hải có thể giúp kéo dài tuổi thọ thêm 3 năm. Chế độ ăn Địa Trung Hải gồm nhiều trái cây, rau, cá, ngũ cốc nguyên hạt, ít thịt và sữa bởi chúng chứa nhiều chất béo bão hòa.

Duy trì lượng cholesterol

Quá nhiều cholesterol trong máu có thể khiến động mạch bị cứng và hẹp lại, từ đó làm chậm và dần dần làm tắc mạch máu lưu thông tới tim, dẫn tới đau tim. Một số loại thực phẩm giúp giảm lượng cholesterol trong máu gồm: Quả sung, táo, mận, đậu phộng, dưa hấu, cà chua, lúa mỳ, cá, rau, bơ.

(Kiến thức)

Suy tim – Con đường chung của các bệnh tim mạch

 Các chuyên gia tim mạch đã nhận định “Suy tim là con đường chung cuối cùng của hầu hết các bệnh tim mạch”, bao gồm các tổn thương thực thể tại tim và nhiều bệnh của hệ thống mạch.

Dấu hiệu nhận biết các nguy cơ suy tim

Dấu hiệu hay gặp nhất ở người bị suy tim là khó thở.Lúc đầu chỉ khó thở khi hoạt động gắng sức, về sau khó thở xảy ra thường xuyên hơn kể cả lúc nghỉ ngơi, đặc biệt ở tư thế nằm nên người bệnh thường phải ngồi dậy để thở.
suy-tim1
Mệt mỏi, phù chi, tiểu đêm cũng là một trong những dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán.

Một triệu chứng khó thấy hơn và không được chú ý nhiều trong suy tim là ho không có đờm kéo dài, ho tăng khi nằm ngủ.

Ở người trẻ, suy tim có thể do các dị tật tim bẩm sinh, hoặc hẹp hở van tim, hậu quả của bệnh viêm khớp do liên cầu khuẩn ở tuổi thiếu niên không được điều trị dự phòng thích hợp.  Ở người lớn tuổi thường do các bệnh tim mạch mãn tính như: bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, xơ vữa mạch, bệnh huyết khối, rối loạn mỡ máu, rối loạn nhịp tim,…

Suy tim làm suy giảm chất lượng cuộc sống

Người bệnh suy tim thường xuyên bị mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, đau tức ngực do thiếu ôxy; ho, phù, khó thở do ứ trệ tuần hoàn. Các triệu chứng này làm mọi hoạt động của người bệnh bị hạn chế và gây tâm lý hoang mang, bi quan về tình hình bệnh tật. Trong suy tim cấp, người bệnh có thể bị tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Như vậy, không kể đến hậu quả tử vong do đột tử mà nguyên nhân chính là suy tim, thì hậu quả lâu dài đối với người bệnh chính là sự suy giảm trầm trọng chất lượng cuộc sống.

Giải pháp phòng ngừa suy tim sớm

Người bệnh suy tim buộc phải dùng thuốc suốt đời. Vì thế những giải pháp từ thiên nhiên mang tính an toàn cao sẽ phù hợp cho việc sử dụng lâu dài trong hỗ trợ điều trị.

Suy tim trong y học cổ truyền còn gọi là suy tim ứ huyết, nguyên nhân căn bản là do tâm và huyết mạch suy yếu. Đông y cũng có những bài thuốc giúp bổ khí huyết. dưỡng tâm an thần như cao đan sâm tăng lưu lượng máu tới nuôi dưỡng cơ tim, giảm tình trạng ứ trệ tuần hoàn; cao natto – tiêu cục máu đông; cao vàng đằng –  ngăn ngừa quá trình hình thành mảng xơ vữa.

Suy tim khó có thể chữa khỏi hoàn toàn, các phương pháp điều trị đều hướng đến mục tiêu: giảm triệu chứng và làm chậm lại tiến trình suy tim.Vì vậy việc phát hiện và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ, cũng như sử dụng thêm những giải pháp an toàn và hiệu quả bền vững cho trái tim “không khỏe” là vấn đề mấu chốt để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Nguồn dân trí

Chảy máu chân răng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

 Trước đây các nguy cơ gây ra các bệnh tim mạch thường được kể đến là bệnh tiểu đường, béo phì, huyết áp cao và nghiện thuốc lá. Tuy nhiên, mới đây, các nhà khoa học vừa phát hiện việc mất răng cũng gây nguy hại cho tim.

Trong công trình nghiên cứu, các nhà y học đã phân tích hồ sơ y tế của gần 16.000 người sống tại 39 quốc gia về số răng còn lại, tình hình lợi, và tần số những lần bị chảy máu đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.
suc-khoe-rang
Trong một lượng lớn các hồ sơ được phân tích, khoảng 40% số người chỉ còn dưới 15 chiếc răng, và 16% đã mất răng hoàn toàn và 25% thường xuyên phàn nàn về việc bị chảy máu chân răng. Kết quả cho thấy, những người có ít răng thường bị bệnh tiểu đường. Chảy máu chân răng và bệnh nha chu có liên quan nhiều hơn đối với việc mỡ máu và huyết áp.

Các nhà y học cho rằng, khi số răng còn lại càng thấp thì hàm lượng các enzym có hại, gây viêm và tắc nghẽn của động mạch càng cao. Các tác giả nghiên cứu cũng lưu ý rằng, cùng với nguy cơ gây bệnh tim mạch, những người còn lại ít răng bị kèm theo cả nguy cơ mắc hàng loạt bệnh khác như mỡ máu, đường huyết, cao huyết áp, chưa kể phụ nữ còn bị tăng kích thước vòng eo.

Tuy mối quan hệ giữa số răng còn lại và tình trạng của lợi với hệ tim mạch vẫn cần nghiên cứu nhiều hơn nữa, thì ngay từ bây giờ cũng có thể thấy được tầm quan trọng của bộ răng đối với sức khoẻ tổng thể của một người như thế nào và việc giữ gìn bộ răng là điều bất cứ ai cũng phải quan tâm.

Theo Bảo Châu
VietNamNet

Phòng ngừa suy tim sớm

 Việt Nam nằm trong số các nước đang phải “oằn lưng” với căn bệnh tim mạch. Dự đoán vào năm 2017, sẽ có trên 20% người Việt, tức là cứ 5 người có 1 người mắc bệnh tim mạch.

Bệnh tim mạch bao gồm bệnh của tim và hệ thống mạch. Trong hệ tuần hoàn, hoạt động của tim và hệ thống mạch không thể tách rời, chúng luôn chịu tác động qua lại và ảnh hưởng đến nhau. Mỗi ngày tim co bóp khoảng 100.000 nhịp, luân chuyển 7.500 lít máu thông qua hệ thống mạch máu. Do đó, chỉ cần một trục trặc nhỏ của hệ thống mạch cũng ảnh hưởng đến hoạt động của tim và ngược lại.

suy-tim

Các bệnh tim mạch như tim bẩm sinh, hẹp, hở van tim, rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, xơ vữa mạch… và rất nhiều các bệnh tim mạch khác, mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau, nhưng hầu hết đều có chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim –  nguyên nhân hàng đầu của các ca tử vong trên toàn thế giới.

Việc phòng tránh các bệnh tim mạch phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của người bệnh về tình trạng sức khỏe của mình. Nhưng thực tế cho thấy, rất nhiều người bệnh do chủ quan, ý thức phòng và chữa bệnh chưa cao, cộng thêm chưa có nhiều kiến thức về bệnh học và tâm lý ngại đi viện khi triệu chứng còn nhẹ, nên chỉ đến khi các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn mới lo đi chữa bệnh, cuối cùng dẫn đến việc phát hiện muộn và quá trình điều trị trở nên rất khó khăn.

Vì vậy, việc phát hiện và điều trị sớm bệnh tim mạch có ý nghĩa rất lớn, giúp làm chậm lại diễn tiến của bệnh. Nếu nhận thấy có các dấu hiệu như: đau thắt ngực, khó thở, mệt mỏi, ho, phù, bạn không nên chủ quan nhất là khi bạn đang mắc các bệnh về tim mạch. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời, trước khi trái tim bị suy yếu.

Nguồn dân trí

Một số nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ

Rối loạn giấc ngủ hay mất ngủ là tình trạng tưởng chừng không nguy hiểm nhưng có nguy cơ bào mòn thể lực và thần kinh âm thầm, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Khi mất ngủ, cơ thể không có thời gian bù đắp lại năng lượng mất đi trong ngày làm việc trước đó.

Có nhiều yếu tố và nguyên nhân gây nên chứng mất ngủ:

Yếu tố bên ngoài: Căng thẳng trong công việc hoặc tài chính; Xung đột với người chung quanh; Sự cố lớn trong cuộc sống; Mệt mỏi do công việc hoặc làm việc theo ca kíp.

Mắc những bệnh lý nội khoa về tim mạch (mạch vành, loạn nhịp tim, suy tim); Hô hấp (hen phế quản, ngưng thở khi ngủ); Đau mạn tính; Bệnh nội tiết (đái tháo đường, cường giáp); Tiêu hóa (viêm – loét dạ dày, viêm dạ dày – thực quản trào ngược); Thần kinh (Parkinson, động kinh) và phụ nữ đang mang thai.

mat-ngu

Một số nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ 1Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng để giúp cải thiện giấc ngủ. (Ảnh minh họa)

Tâm thần kinh: Rối loạn tính cách (trầm cảm, loạn thần); Rối loạn lo âu; Hội chứng cai thuốc, rượu.

Mất ngủ do sử dụng một số thuốc: Chống động kinh; Hạ huyết áp nhóm ức chế giao cảm; Lợi tiểu hoặc nhóm steroid, thuốc hưng phấn thần kinh.

Tùy mức độ và nguyên nhân của mất ngủ, y học hiện đại có nhiều thế hệ thuốc từ thuốc kháng histamin tại thụ thể H1 thế hệ 1 đến thuốc an thần gây ngủ để điều trị chứng mất ngủ, tuy nhiên cần sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không nên sử dụng kéo dài vì có thể gây những phản ứng ngoài ý muốn.

Các biện pháp giúp cải thiện giấc ngủ

Để cải thiện chứng rối loạn giấc ngủ nên tập thói quen ngủ và thức vào một thời điểm nhất định trong đêm; Không nên ngủ buổi trưa quá dài (trung bình 15 – 30 phút là đủ); Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng (không có quá nhiều đồ vật, sách vở…), ánh sáng phù hợp (không quá sáng); Không ăn quá no hoặc ngược lại bị quá đói sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ; Tránh uống trà, càphê đậm đặc vài giờ trước khi ngủ; Tập thở sâu, đặc biệt thở cơ hoành (thở vào sâu, bụng di động theo nhịp thở trong khi hạn chế cử động của lồng ngực: Vai không nhấc lên, cơ cổ, cơ ngực không co kéo mạnh); Tập thư giãn (nằm thả lỏng các cơ từ mặt, cổ, ngực, bụng, tay, chân; Không nghĩ ngợi miên man.

Tập trung tư tưởng theo dõi vào động tác hít vào thở ra đều đặn. Thực hiện tốt thư giãn, giấc ngủ sẽ dễ dàng có chất lượng; Day ấn một số huyệt có tác dụng dịu sự căng thẳng và an thần như: Huyệt ấn đường (điểm giữa hai đầu trong chân mày), huyệt an miên (điểm sau trái tai khoảng 1,5cm), huyệt nội quan (điểm giữa hai gân cơ trên nếp gấp cổ tay khoảng 3cm). Xoa nóng bàn chân cả mặt lòng và mặt lưng, hoặc ngâm bàn chân trong nước ấm khoảng 50 độ C.

Ngoài ra có thể dùng một số dược liệu có tác dụng trấn tĩnh, giúp dễ ngủ như rau rút (rau rút non được sử dụng nấu canh với cá, thịt, tôm…); Củ sen, hạt sen, tâm sen, củ súng (có lợi cho người suy nhược tâm – thần kinh, rối loạn giấc ngủ); Nhãn nhục (nấu nước hoặc kết hợp hạt sen, táo nấu chè giúp dễ ngủ); Lá vông nem, ăn hoặc uống nước ép quả cà chua, càrốt, quả bơ, trái khóm, chuối… vì có chứa nhiều vitamin B2, B3, B6, C… giúp cơ thể tạo được chất serotonin, một loại hormone giúp ngủ ngon.

Bác sĩ  Lê Hoài

Nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ

Rối loạn giấc ngủ hay mất ngủ là tình trạng tưởng chừng không nguy hiểm nhưng có nguy cơ bào mòn thể lực và thần kinh âm thầm, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Khi mất ngủ, cơ thể không có thời gian bù đắp lại năng lượng mất đi trong ngày làm việc trước đó.

Nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ

Có nhiều yếu tố và nguyên nhân gây nên chứng mất ngủ:

Yếu tố bên ngoài: Căng thẳng trong công việc hoặc tài chính; Xung đột với người chung quanh; Sự cố lớn trong cuộc sống; Mệt mỏi do công việc hoặc làm việc theo ca kíp.

Mắc những bệnh lý nội khoa về tim mạch (mạch vành, loạn nhịp tim, suy tim); Hô hấp (hen phế quản, ngưng thở khi ngủ); Đau mạn tính; Bệnh nội tiết (đái tháo đường, cường giáp); Tiêu hóa (viêm – loét dạ dày, viêm dạ dày – thực quản trào ngược); Thần kinh (Parkinson, động kinh) và phụ nữ đang mang thai.
mất ngủ
Một số nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ 1Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng để giúp cải thiện giấc ngủ. (Ảnh minh họa)

Tâm thần kinh: Rối loạn tính cách (trầm cảm, loạn thần); Rối loạn lo âu; Hội chứng cai thuốc, rượu.

Mất ngủ do sử dụng một số thuốc: Chống động kinh; Hạ huyết áp nhóm ức chế giao cảm; Lợi tiểu hoặc nhóm steroid, thuốc hưng phấn thần kinh.

Tùy mức độ và nguyên nhân của mất ngủ, y học hiện đại có nhiều thế hệ thuốc từ thuốc kháng histamin tại thụ thể H1 thế hệ 1 đến thuốc an thần gây ngủ để điều trị chứng mất ngủ, tuy nhiên cần sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không nên sử dụng kéo dài vì có thể gây những phản ứng ngoài ý muốn.

Các biện pháp giúp cải thiện giấc ngủ

Để cải thiện chứng rối loạn giấc ngủ nên tập thói quen ngủ và thức vào một thời điểm nhất định trong đêm; Không nên ngủ buổi trưa quá dài (trung bình 15 – 30 phút là đủ); Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng (không có quá nhiều đồ vật, sách vở…), ánh sáng phù hợp (không quá sáng); Không ăn quá no hoặc ngược lại bị quá đói sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ; Tránh uống trà, càphê đậm đặc vài giờ trước khi ngủ; Tập thở sâu, đặc biệt thở cơ hoành (thở vào sâu, bụng di động theo nhịp thở trong khi hạn chế cử động của lồng ngực: Vai không nhấc lên, cơ cổ, cơ ngực không co kéo mạnh); Tập thư giãn (nằm thả lỏng các cơ từ mặt, cổ, ngực, bụng, tay, chân; Không nghĩ ngợi miên man.

Tập trung tư tưởng theo dõi vào động tác hít vào thở ra đều đặn. Thực hiện tốt thư giãn, giấc ngủ sẽ dễ dàng có chất lượng; Day ấn một số huyệt có tác dụng dịu sự căng thẳng và an thần như: Huyệt ấn đường (điểm giữa hai đầu trong chân mày), huyệt an miên (điểm sau trái tai khoảng 1,5cm), huyệt nội quan (điểm giữa hai gân cơ trên nếp gấp cổ tay khoảng 3cm). Xoa nóng bàn chân cả mặt lòng và mặt lưng, hoặc ngâm bàn chân trong nước ấm khoảng 50 độ C.

Ngoài ra có thể dùng một số dược liệu có tác dụng trấn tĩnh, giúp dễ ngủ như rau rút (rau rút non được sử dụng nấu canh với cá, thịt, tôm…); Củ sen, hạt sen, tâm sen, củ súng (có lợi cho người suy nhược tâm – thần kinh, rối loạn giấc ngủ); Nhãn nhục (nấu nước hoặc kết hợp hạt sen, táo nấu chè giúp dễ ngủ); Lá vông nem, ăn hoặc uống nước ép quả cà chua, càrốt, quả bơ, trái khóm, chuối… vì có chứa nhiều vitamin B2, B3, B6, C… giúp cơ thể tạo được chất serotonin, một loại hormone giúp ngủ ngon.

Bác sĩ  Lê Hoài

Nhận biết sớm suy tim để ngừa đột quỵ

Suy tim là hậu quả cuối cùng của các bệnh liên quan đến tim mạch như tăng huyết áp, thiếu máu, tổn thương van tim… Khi tim bị suy sẽ ảnh hưởng tới chức năng cung cấp tuần hoàn trong cơ thể. Bệnh có thể gặp ở mọi độ tuổi từ trẻ đến già. Người bệnh suy tim sẽ bị ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống và biến chứng nặng nề nhất là có thể gây đột qụy. Tuy nhiên, bệnh có thể phòng ngừa và điều trị được nếu người bệnh tự nhận biết những dấu hiệu bất thường liên quan đến trái tim để đi khám sớm.

Những biểu hiện của suy tim

Khó thở: Nhanh nông, thường xuyên hoặc khi gắng sức, trường hợp suy tim cấp có thể khó thở dữ dội, co kéo và suy hô hấp nặng. Một số trường hợp có khó thở khi nói chuyện hoặc hoạt động nhẹ.

Khám thực thể:

– Phổi: Do sung huyết ở phổi nên nghe có tiếng ran ẩm ở đáy phổi. Nếu có phù phổi ran ẩm rất nhiều ở cả hai phổi.

– Gan to, ấn hơi đau tức, ứ máu ngoại biên, phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính.

– Tim đập nhanh kể cả khi nghỉ ngơi, tiếng tim mờ, có tiếng ngựa phi, diện tim to, mạch nhanh, yếu.

– Phù: có thể chỉ phù nhẹ ở mi mắt, đến phù to ở chi dưới. Một số trường hợp suy tim lâu không hồi phục có thể có cổ trướng.

– Trụy mạch trong trường hợp nặng: người bệnh ở tình trạng vật vã, lo sợ hoặc lờ đờ, da xanh tái, đầu chi lạnh, nổi vân tím, mạch nhỏ hoặc khó bắt, huyết áp hạ dưới 50mmHg, đái ít.

Ho: Một triệu chứng khó thấy hơn và không được chú ý của suy tim là ho không có đờm kéo dài, ho thường nặng lên khi nằm.

Đái đêm: là do bài tiết dịch còn ứ lại trong ngày và tưới máu thận tăng lên trong tư thế nằm là một triệu chứng thường không đặc hiệu của suy tim.

Mệt mỏi: những bệnh nhân suy tim cũng thường than phiền mệt mỏi và không thể gắng sức được. Các triệu chứng này liên quan đến rối loạn chức năng tim gây ra một phần do những thay đổi ở dòng máu ngoại vi và dòng máu tới hệ xương mà những thay đổi này là một phần của hội chứng suy tim. Những bệnh nhân suy tim nặng lâu ngày có thể xuất hiện toàn trạng suy mòn và tím tái. Ngoài ra bệnh nhân thường có dấu hiệu cường thần kinh giao cảm như lạnh đầu chi và vã mồ hôi…

Đau hạ sườn phải: những bệnh nhân suy tim phải có thể bị đau ở hạ sườn phải do ứ máu ở gan quá mức.

Dấu hiệu tiêu hóa: chán ăn, buồn nôn do phù ruột và tưới máu đường tiêu hoá giảm…

som-nhan-biet-suy-tim-va-ngan-ngua-dot-quy

Các dấu hiệu cận lâm sàng để xác định suy tim

Xét nghiệm máu thấy công thức hồng cầu giảm hoặc đa hồng cầu, urê huyết thanh tăng mất cân đối so với creatinin; điện giải đồ có hạ natri máu…

Điện tâm đồ cho thấy có rối loạn nhịp, rối loạn dẫn truyền nhĩ thất… Xquang lồng ngực thấy tim to hoặc có bóng tim, tràn dịch màng phổi. Các thăm dò không chảy máu như: nghiệm pháp gắng sức, siêu âm tim cho biết kích thước và chức năng của cả hai thất và của tâm nhĩ, cho phép phát hiện tràn dịch màng tim; chụp buồng tim bằng phóng xạ hạt nhân; thông dò tim (thông tim trái và thông tim phải).

Điều trị suy tim như thế nào?

Nguyên tắc điều trị suy tim gồm điều trị triệu chứng chung và điều trị nguyên nhân. Trong cấp cứu phải xử trí nhanh các triệu chứng suy tim trước. Điều trị triệu chứng bằng các thuốc trợ tim, lợi tiểu và các điều trị hỗ trợ khác bao gồm:

– Lợi tiểu: là biện pháp có hiệu quả nhất để giảm nhẹ các triệu chứng ở những bệnh nhân bị suy tim vừa và nặng. Tuy nhiên lợi tiểu quá mạnh có thể dẫn tới mất cân bằng điện giải và họat hoá thần kinh nội tiết.

– Thuốc giãn mạch như các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) đã trở thành điều trị chuẩn trong suy tim; các thuốc hydralazin làm giãn tiểu động mạch vành, làm tăng rõ rệt cung lượng tim ở các bệnh nhân suy tim ứ trệ; thuốc chẹn bêta giao cảm anpha, tăng sức bóp cơ tim, chẹn dòng canxi; thuốc chống đông; điều trị loạn nhịp tùy theo nguyên nhân.

Việc điều trị nguyên nhân nhiều khi cũng góp phần tích cực làm giảm suy tim nhanh trong cấp cứu. Các nguyên nhân chủ yếu có thể điều trị được là rối loạn chức năng thất trái do thiếu máu cục bộ, nhiễm độc giáp, suy giáp, các tổn thương van tim, các rối loạn nhịp, viêm cơ tim cấp, phì đại thất trái do tăng huyết áp…

Chế độ ăn và sinh hoạt cũng rất quan trọng góp phần điều trị suy tim. Bệnh nhân phải tuân theo chế độ hạn chế muối hằng ngày nhỏ hơn 2g; thay đổi phong cách sống sẽ giảm được các triệu chứng và nhu cầu sử dụng thuốc. Trong suy tim nặng cần hạn chế hoạt động thể lực, nghỉ ngơi tại giường nếu cần thiết. Sau đó hoạt động trở lại từ từ có sự theo dõi sát của bác sĩ.

BS. Nguyễn Văn Kiểm

Theo SKDS

Cảnh báo sớm với dấu hiệu suy tim sớm

Bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, hẹp, hở van tim và rất nhiều các bệnh tim mạch khác mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau nhưng hầu hết đều chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim. Suy tim khó chữa khỏi, song việc phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm sẽ giúp làm chậm tiến trình phát triển của bệnh. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp bạn chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời.

1.  Đau thắt ngực

canh-bao-som-dau-hieu-bi-suy-tim

Đau ngực thường xảy ra sau một hoạt động gắng sức (chạy bộ, leo cầu thang, làm việc nặng). Vị trí đau ở vùng ngực trái trước tim, có thể là cảm giác khó chịu, hoặc cảm giác bị đè ép sau xương ức lan đến cổ, hàm, vai trái, cánh tay trái. Đau ngực thường bắt đầu từ từ, kéo dài vài giây đến vài phút. Tần suất cơn đau cũng không ổn định, có thể vài tuần, vài tháng một lần, nếu nặng hơn là vài lần trong một ngày.

Nguyên nhân là do khi động mạch vành (ĐMV) bị co thắt có thể gây tổn thương lớp tế bào nội mạc, dẫn đến lắng đọng cholesterol và tạo thành các mảng xơ vữa hoặc một cục huyết khối nhỏ có thể hình thành và cư trú bên trong ĐMV làm tắc nghẽn dòng máu chảy tới nuôi cơ tim.

2.   Khó thở

Khó thở là triệu chứng hay gặp nhất của suy tim, thường xảy ra khi gắng sức, thậm chí khi nằm hoặc tư thế đầu thấp. Người bệnh có cảm giác như hụt hơi, hồi hộp, thở gấp, tức thở. Suy tim càng nặng người bệnh càng khó thở nhiều, có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi nghỉ.

Khi tim bị suy yếu không hút được máu từ phổi về, phổi bị ứ huyết, mất tính đàn hồi và trở nên cứng, các cơ thở phải mất nhiều công sức mới làm phổi giãn ra để không khí lọt vào được. Vì vậy gây nên tình trạng khó thở ở người bệnh.

3.   Mệt mỏi

Nếu đột nhiên bạn cảm thấy kiệt sức sau một hoạt động nào đấy, mà hoạt động đó trước đây bạn thực hiện rất dễ dàng, hoặc cảm giác mệt mỏi gây khó khăn cho bạn ngay cả khi thực hiện những việc đơn giản như: leo cầu thang, xách giỏ đi chợ hay thậm chí khi đi bộ. Đó là những dấu hiệu cảnh báo trái tim của bạn đang bị suy yếu.

Do tim bị suy yếu, hoạt động bơm hút máu bị hạn chế dẫn đến tim không bơm đủ máu đáp ứng cho nhu cầu của cơ thể. Thiếu máu, người bệnh luôn có cảm giác mệt mỏi và khó khăn trong mọi hoạt động.

4.   Ho

Tình trạng ho kéo dài dai dẳng không rõ nguyên nhân có thể là một trong những triệu chứng của suy tim. Ho trong suy tim là ho khan, khó khạc đờm. Tình trạng ho kéo dài làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ, có khi khàn tiếng. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh bị ho khi nằm, ngả lưng là ho và bắt buộc phải ngồi dậy mới dễ chịu. Tim suy yếu không hút được máu từ phổi, gây nên ứ máu tại phổi và dẫn đến tình trạng ho. Nhiều bệnh nhân dễ nhầm với các bệnh về phổi như viêm phổi, viêm phế quản.

5.   Phù

Khi mới bắt đầu, người bệnh chỉ thấy hai mí mắt nặng khi ngủ dậy, mặt hơi phù như mọng nước; buổi chiều thấy phù nhẹ hai bàn chân, giày dép đi buổi sáng vừa, buổi chiều thấy chật. Lấy ngón tay ấn lên mắt cá chân, khi nhấc ngón tay thấy da vẫn lõm. Ở mức nặng hơn, phù làm bụng trướng, khó tiêu, nặng nề. Mặt to ra như béo lên, tuy nhiên, phù do suy tim không giữ nước nhiều như người bệnh thận.

Khi lưu lượng máu qua tim bị chậm lại, máu trở về tim qua các tĩnh mạch bị ứ đọng lại làm các mao mạch căng lên và gây thoát dịch qua thành mao mạch vào các vùng lân cận, gây nên phù. Mặt khác, do thận lọc kém, nước tiểu ít đi, nước tích lại trong người cũng gây phù.
Như vậy, không nên chủ quan khi gặp các dấu hiệu: khó thở, mệt mỏi, ho, phù, đau thắt ngực,…nhất là khi bạn đang mắc một trong số các bệnh về tim mạch. Ngay khi phát hiện có một trong các dấu hiệu trên, hãy đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời trước khi trái tim bị suy yếu.

Vân Nga

Theo SKDS

Nghiện rượu gây loãng xương

Chứng nghiện rượu mạn tính gây rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực lên cơ thể. Các bệnh lý phổ biến do rượu gây ra là xơ gan, suy tim, rối loạn thần kinh, tâm thần… tuy nhiên chỉ mới gần đây người ta mới phát hiện được tác dụng của rượu lên mô xương.

Uống rượu ảnh hưởng thế nào đến khối lượng xương?

Đa số các nghiên cứu tập trung đánh giá mối liên quan giữa ảnh hưởng của chứng nghiện rượu mạn tính lên mật độ khoáng hóa của xương. Các nghiên cứu cho thấy nam giới nghiện rượu mạn tính có mật độ xương (MĐX) giảm sút. Uống càng nhiều rượu thì khối lượng xương càng giảm sút. Nghiên cứu Fragmingham cho thấy sự mất xương ở vùng mấu chuyển lớn xương đùi cao hơn ở nhóm người uống nhiều hơn 207ml/ngày so với người dùng ít hơn 28ml/ngày. Khó mà đánh giá được tác dụng riêng rẽ của rượu lên mô xương, vì có rất nhiều yếu tố khác gây nhiễu như thói quen hút thuốc lá, lối sống tĩnh tại, gầy sút cân, suy dinh dưỡng, suy sinh dục, bệnh gan… Ở những người nghiện rượu, bệnh xương do rượu không phải do ức chế hormon PTH hay rối loạn chuyển hóa vitamin D, mà do ức chế tái tạo xương, do rượu có tác dụng gây độc trực tiếp lên các tế bào tạo xương. Các nghiên cứu mô học và sinh hóa trên xương của những người nghiện rượu nhưng chưa dẫn đến suy gan cho thấy quá trình tạo xương mới bị suy giảm dẫn đến tiêu xương dần dần.

nghien_ruou_gay_loang_xuong

Tuy nhiên nếu uống rượu vừa phải thì lại có tác dụng bảo vệ xương. Những người uống rượu vừa phải, đặc biệt là nữ giới lại có MĐX cao hơn. Nghiên cứu của Bernado ở California (Mỹ) chứng tỏ uống rượu ở mức độ xã giao (46g/ngày ở nam giới và 32g/ngày ở nữ giới) làm tăng MĐX cả ở nam giới và nữ giới. Uống rượu với mức độ vừa phải từ 1-3 cốc rượu vang mỗi ngày làm tăng MĐX của những người phụ nữ cao tuổi (>75 tuổi). Nghiên cứu trên phụ nữ có tuổi (từ 65-77) cho thấy uống rượu làm tăng đáng kể MĐX: 10% ở cột sống, 4,5% ở xương toàn thân, và 6% ở xương cẳng tay. Tác dụng bảo vệ của rượu có thể do rượu kích thích làm tăng nồng độ của hormon sinh dục nữ estradiol hay làm tăng tiết hormon calcitonin có tác dụng bảo vệ xương. Do vậy Rapuri cho rằng phụ nữ trên 65 tuổi uống rượu với liều từ 28,6 – 57,2g/tuần thì có lợi cho sức khỏe.

Uống nhiều rượu có làm tăng tỷ lệ mắc chứng loãng xương và tỷ lệ gãy xương do loãng xương?

Các nghiên cứu dịch tễ từ năm 1970 – 1991 của Latinen cho thấy lạm dụng rượu thường kết hợp với gãy xương cột sống và tứ chi. Khoảng 25% nam giới và 4% nữ giới phải nhập viện vì gãy xương chi dưới là những người nghiện rượu. Một nghiên cứu trên 107 người nghiện rượu mạn tính cho thấy tỷ lệ gãy xương trong nhóm này cao gấp 4 lần so với nhóm chứng. Nghiện rượu làm tăng tỷ lệ tai nạn và té ngã lên tới 17-77%. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự liên hệ giữa rượu và chấn thương có và không gây gãy xương ở phụ nữ, tất nhiên tỷ lệ chấn thương ở phụ nữ thường thấp hơn ở nam giới vì nữ giới uống rượu ít hơn. Chứng nghiện rượu được coi là nguyên nhân gây loãng xương ở nam giới trong 17-36% các trường hợp.

Uống rượu ở mức độ trung bình cũng làm tăng nguy cơ gãy xương cột sống lên 2,4 lần. Nghiên cứu MEDOS cho thấy không có liên quan giữa uống rượu và gãy cổ xương đùi ở nam giới. Một nghiên cứu trên 31.785 người đã xác định được ngưỡng uống rượu là 168g/tuần với phụ nữ và 236g/tuần đối với nam giới nếu uống quá ngưỡng đó thì sẽ tăng tỷ lệ gãy cổ xương đùi.

Tóm lại lạm dụng rượu có thể coi là một yếu tố nguy cơ gây loãng xương, đặc biệt ở nam giới. Việc uống rượu ở mức độ vừa phải không ảnh hưởng đến xương, thậm chí còn có tác dụng tốt lên MĐX, đặc biệt ở nữ giới. Dùng rượu ở người vị thành niên còn ít được nghiên cứu. Tuy nhiên các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rượu ức chế tăng trưởng xương, làm giảm chiều cao, mặc dù sự ức chế tiêu cực này có thể dừng lại nếu bỏ rượu.

Theo SKĐS

Rượu và nguy cơ tim mạch

Những buổi ký kết hợp đồng, liên hoan, gặp gỡ đối tác vào dịp cuối năm hay đầu năm mới…  hầu như không thể thiếu ly rượu. Từ bị “ép buộc”, rượu trở thành “thói quen”, là “thú vui trần thế” với nhiều doanh nhân lúc nào chẳng hay. Và nếu quá đà, người uống rượu phải đối mặt với biết bao hệ lụy, đặc biệt là các bệnh về tim mạch.

Một buổi chiều, một bệnh nhân được đưa đến phòng khám của tôi trong tình trạng suy gan nặng, bụng báng, tràn dịch màng phổi. Bốn mươi tư tuổi mà anh ta đã có thâm niên uống rượu 25 năm, uống suốt ngày. Anh đã bị xơ gan và xơ vữa động mạch do uống quá nhiều rượu.

ruou_va_nguy_co_tim_mach

Uống nhiều rượu gây nguy hại đến hệ tim mạch

Nhiều bệnh tim mạch và mạch máu của não có liên quan đến uống rượu, gây gia tăng đáng kể về tỉ lệ bệnh và tỉ lệ tử vong. Trên thực tế, rượu có nhiều ảnh hưởng trên hệ tim mạch.

Cả hai tình trạng nghiện rượu cấp tính hay mạn tính đều ảnh hưởng đến huyết áp của người uống rượu. Nếu uống rượu nhiều và uống lâu dài có thể ảnh hưởng lên cả cơ của quả tim. Từ đó sẽ dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như: rối loạn nhịp tim, rung nhĩ…

Tăng huyết áp

Đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu trên một số lượng khá lớn bệnh nhân cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa việc uống rượu và tăng huyết áp. Ví dụ công trình nghiên cứu INERSALT tiến hành trên 4.626 đàn ông và 4.647 đàn bà tuổi từ 20 – 59 của 32 quốc gia cho thấy: đàn ông uống từ 300 – 499ml rượu mỗi tuần có huyết áp tâm thu trung bình cao hơn những người không uống rượu là 2,7mmHg của huyết áp tâm thu và 1,6mmHg huyết áp tâm trương. Đàn ông uống trên 500ml rượu mỗi tuần sẽ có huyết áp tâm thu và tâm trương cao hơn những người không uống rượu là 4,6/3. Trong khi phụ nữ nếu uống trên 300ml rượu mỗi tuần sẽ có huyết áp cao hơn những phụ nữ không uống rượu là 3,9/3,1mmHg.

Cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: người uống các loại rượu có độ cồn cao, rượu nặng sẽ có biến chứng cao huyết áp nhiều hơn so với người uống các loại rượu có độ cồn thấp (dưới 300).

Một nghiên cứu khác trên 58.218 y tá ở Mỹ cho thấy: trong 4 năm, những người uống trên 20g rượu mỗi ngày có sự gia tăng đáng kể nguy cơ cao huyết áp và mức độ cao huyết áp phụ thuộc rất nhiều vào mức độ lệ thuộc vào rượu của bệnh nhân.

Rượu và bệnh thiếu máu cơ tim

Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa người uống rượu bị bệnh thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, sự liên quan này tỉ lệ nghịch với lượng rượu uống mỗi ngày. Có nghĩa là: uống rượu vừa phải thì tỉ lệ bệnh thiếu máu và nhồi máu cơ tim sẽ giảm, còn nếu uống nhiều rượu quá thì nguy cơ thiếu máu và nhồi máu cơ tim sẽ gia tăng. Một nghiên cứu trên 12.321 bác sĩ ở nước Anh cho thấy: rượu (uống ít vừa phải) làm gia tăng tỉ lệ HDL Cholesterol là một loại Cholesterol tốt có tác dụng bảo vệ thành mạch và cơ tim. Trong khi đó, nó làm giảm LDL Cholesterol, một loại cholesterol xấu gây xơ vữa và nghẽn tắc lòng mạch máu.

Ngoài ra, rượu cũng làm giảm lượng chất Fibrinogen trong máu cũng như giảm quá trình kích hoạt tiểu cầu, từ đó làm giảm khả năng hình thành các cục máu đông trong lòng mạch. Vấn đề này có lẽ liên quan đến sự hiện diện của nhiều chất chống oxy hóa trong rượu vang đỏ của Pháp. Đây là một lợi điểm đáng lưu ý của rượu vang đỏ.

Rượu làm rối loạn nhịp tim

Những người nghiện rượu nặng, sau những đợt uống nhiều rượu, có thể có những đợt bị rối loạn nhịp tim, đặc biệt là ngoại tâm thu trên thất. Người ta thường gọi “Hội chứng ngày nghỉ lễ”, để chỉ sự rối loạn nhịp tim ở người có trái tim bình thường sau khi uống nhiều rượu trong dịp lễ hoặc hội hè. Ở những người dưới 65 tuổi thì uống nhiều rượu sẽ là một nguyên nhân chính, chiếm đến 63% các trường hợp loạn nhịp tim kiểu rung nhĩ.

Uống nhiều rượu có thể gây suy tim

Rượu có thể gây tác hại trực tiếp trên cơ tim, nhất là tâm thất bên trái và có thể dẫn đến suy tim. Một nguyên nhân nữa thúc đẩy quá trình này là do trong khẩu phần ăn của những người nghiện rượu thường thiếu vitamin B1, và sự thiếu hụt này sẽ dẫn đến suy tim. Người ta gọi những trường hợp này: bệnh cơ tim do rượu.

Rượu và thú vui trần thế

Nhưng rượu không chỉ hoàn toàn có hại: ở những người uống rượu với mức độ vừa phải sẽ làm giảm 40 – 70% nguy cơ mắc bệnh động mạch vành so với những người không uống hoặc uống quá nhiều rượu. Với các mạch máu ngoại vi như: động mạch đùi, khoeo, cánh tay… thì rượu làm giảm bớt nhiều khả năng mắc bệnh. Một nghiên cứu cho thấy: tỉ lệ người uống rượu điều độ mỗi ngày bị bệnh động mạch ngoại vi chỉ bằng 0,92 so với người không uống hay chỉ uống dưới một lần/tuần. Ở những mạch máu này, tác hại của thuốc lá rõ ràng hơn nhiều. Một nghiên cứu khác cho thấy, nếu uống rượu điều độ, nhất là với các loại rượu vang đỏ, người sử dụng sẽ ít bị bệnh Parkinson và thoái não khi lớn tuổi.

Ở những người bình thường có thể uống 1 – 2 ly (loại dưới 30ml) rượu nhẹ dưới 300, nếu là vang đỏ thì càng tốt. Những người bị suy tim ứ huyết, cao huyết áp, rối loạn nhịp, phụ nữ có thai, lái xe… thì không nên hút thuốc lá và nhất là không nên hút thuốc lá đi kèm với uống rượu. Biết là như vậy, nhưng phần lớn nhân loại, nhất là người Việt Nam đều uống rượu và uống quá nhiều nữa. Họ uống bất kể sáng chiều, cứ có dịp là uống, gặp mặt bạn bè, ma chay, cưới xin thôi thì đủ cả. Thực tế ít người nào biết dừng lại ở mức độ cho phép và rượu cũng là nguyên nhân gây ra bao nhiêu thảm cảnh cho mỗi người, mỗi gia đình và cho cả xã hội. Làm thế nào để dung hòa được giữa sức khỏe và thú vui trần thế là bài toán nan giải vì nói chung sự tồn tại của mỗi con người không thể tách rời hai lĩnh vực trên. Một chút rượu (1 – 2 ly dưới 30ml rượu nhẹ mỗi ngày) để tăng sự hưng phấn, cho máu huyết chạy đều – như cách nói của ông bà ta là một chút vui trần thế, cũng được lắm chứ, tại sao lại tẩy chay rượu hoàn toàn? Nhất là trong những ngày xuân về, tết đến!

PGS. TS.  NGUYỄN HOÀI NAM
Theo SKĐS

Những dấu hiệu cảnh báo suy tim sớm

Bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, hẹp, hở van tim và rất nhiều các bệnh tim mạch khác mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau nhưng hầu hết đều chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim. Suy tim khó chữa khỏi, song việc phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm sẽ giúp làm chậm tiến trình phát triển của bệnh. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp bạn chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời.

nhung_dau_hieu_canh_bao_suy_tim_som

1.  Đau thắt ngực

Đau ngực thường xảy ra sau một hoạt động gắng sức (chạy bộ, leo cầu thang, làm việc nặng). Vị trí đau ở vùng ngực trái trước tim, có thể là cảm giác khó chịu, hoặc cảm giác bị đè ép sau xương ức lan đến cổ, hàm, vai trái, cánh tay trái. Đau ngực thường bắt đầu từ từ, kéo dài vài giây đến vài phút. Tần suất cơn đau cũng không ổn định, có thể vài tuần, vài tháng một lần, nếu nặng hơn là vài lần trong một ngày.

Nguyên nhân là do khi động mạch vành (ĐMV) bị co thắt có thể gây tổn thương lớp tế bào nội mạc, dẫn đến lắng đọng cholesterol và tạo thành các mảng xơ vữa hoặc một cục huyết khối nhỏ có thể hình thành và cư trú bên trong ĐMV làm tắc nghẽn dòng máu chảy tới nuôi cơ tim.

2.   Khó thở

Khó thở là triệu chứng hay gặp nhất của suy tim, thường xảy ra khi gắng sức, thậm chí khi nằm hoặc tư thế đầu thấp. Người bệnh có cảm giác như hụt hơi, hồi hộp, thở gấp, tức thở. Suy tim càng nặng người bệnh càng khó thở nhiều, có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi nghỉ.

Khi tim bị suy yếu không hút được máu từ phổi về, phổi bị ứ huyết, mất tính đàn hồi và trở nên cứng, các cơ thở phải mất nhiều công sức mới làm phổi giãn ra để không khí lọt vào được. Vì vậy gây nên tình trạng khó thở ở người bệnh.

3.   Mệt mỏi

Nếu đột nhiên bạn cảm thấy kiệt sức sau một hoạt động nào đấy, mà hoạt động đó trước đây bạn thực hiện rất dễ dàng, hoặc cảm giác mệt mỏi gây khó khăn cho bạn ngay cả khi thực hiện những việc đơn giản như: leo cầu thang, xách giỏ đi chợ hay thậm chí khi đi bộ. Đó là những dấu hiệu cảnh báo trái tim của bạn đang bị suy yếu.

Do tim bị suy yếu, hoạt động bơm hút máu bị hạn chế dẫn đến tim không bơm đủ máu đáp ứng cho nhu cầu của cơ thể. Thiếu máu, người bệnh luôn có cảm giác mệt mỏi và khó khăn trong mọi hoạt động.

4.   Ho

Tình trạng ho kéo dài dai dẳng không rõ nguyên nhân có thể là một trong những triệu chứng của suy tim. Ho trong suy tim là ho khan, khó khạc đờm. Tình trạng ho kéo dài làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ, có khi khàn tiếng. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh bị ho khi nằm, ngả lưng là ho và bắt buộc phải ngồi dậy mới dễ chịu. Tim suy yếu không hút được máu từ phổi, gây nên ứ máu tại phổi và dẫn đến tình trạng ho. Nhiều bệnh nhân dễ nhầm với các bệnh về phổi như viêm phổi, viêm phế quản.

5.   Phù

Khi mới bắt đầu, người bệnh chỉ thấy hai mí mắt nặng khi ngủ dậy, mặt hơi phù như mọng nước; buổi chiều thấy phù nhẹ hai bàn chân, giày dép đi buổi sáng vừa, buổi chiều thấy chật. Lấy ngón tay ấn lên mắt cá chân, khi nhấc ngón tay thấy da vẫn lõm. Ở mức nặng hơn, phù làm bụng trướng, khó tiêu, nặng nề. Mặt to ra như béo lên, tuy nhiên, phù do suy tim không giữ nước nhiều như người bệnh thận.

Khi lưu lượng máu qua tim bị chậm lại, máu trở về tim qua các tĩnh mạch bị ứ đọng lại làm các mao mạch căng lên và gây thoát dịch qua thành mao mạch vào các vùng lân cận, gây nên phù. Mặt khác, do thận lọc kém, nước tiểu ít đi, nước tích lại trong người cũng gây phù.
Như vậy, không nên chủ quan khi gặp các dấu hiệu: khó thở, mệt mỏi, ho, phù, đau thắt ngực,…nhất là khi bạn đang mắc một trong số các bệnh về tim mạch. Ngay khi phát hiện có một trong các dấu hiệu trên, hãy đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời trước khi trái tim bị suy yếu.

Theo SKĐS

Bệnh tim mạch và chuyện phòng the

Bệnh tim mạch làm cho thể chất và tinh thần của bệnh  nhân có những suy giảm nặng nề như: tình trạng thiếu máu cơ tim với những cơn đau thắt ngực, hẹp hở van tim, loạn nhịp tim, thiếu ôxy tế bào trường diễn, căng thẳng do tăng huyết áp, mệt mỏi về thể lực, lo lắng về bệnh tật… Mọi tổn thương đó đều ảnh hưởng đến sức khỏe nói chung và đời sống tình dục nói riêng. Vậy những người bệnh tim mạch nên hoạt động tình dục như thế nào?

benh_tim_mach_va_chuyen_phong_the

Liệu giao hợp có an toàn với bệnh nhân tim mạch không?

Những thay đổi về thể chất có thể làm bệnh nhân tim mạch cảm thấy ít ham muốn, trong khi những loại thuốc chữa huyết áp cũng có thể gây ảnh hưởng suy giảm khả năng hoạt động tình dục. Bệnh nhân và vợ hay chồng họ lo lắng rằng giao hợp có thể làm cho bệnh nhân chết hoặc ảnh hưởng làm bệnh nặng lên. Tuy nhiên, không có những hạn chế về tình dục áp đặt cho bệnh nhân tim mạch. Nếu như sinh hoạt tình dục không phải là tình trạng gắng sức nặng nề thì sẽ không gây nguy hại gì. Đôi khi, chính sự sợ hãi làm cản trở đời sống tình dục. Bệnh tim mạch không phải là lý do để cấm tuyệt đối quan hệ tình dục. Quan hệ tình dục chỉ là một gắng sức nhẹ. Với người có cân nặng trung bình 50kg, mức tiêu thụ ôxy cho hoạt động tình dục chỉ bằng 3-4 Met. Ở người suy tim độ II vẫn có thể thực hiện những hoạt động tiêu thụ ôxy  tới 5 Met mà chưa thấy khó thở. Ở thời điểm cực khoái, mức tiêu thụ ôxy có cao hơn nhưng giai đoạn này chỉ diễn ra trong khoảng 30 giây. Vì vậy sự gắng sức khi hoạt động tình dục không nguy hiểm gì cho đa số người có bệnh tim mạch. Bên cạnh đó, người bị bệnh tim mạch không mất ham muốn tình dục, vì vậy vợ chồng vẫn nên duy trì hoạt động này nếu vẫn cảm thấy vừa sức. Chỉ nên tránh quan hệ khi có ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa tim mạch trong khoảng thời gian nào đó. Ngoài ra, những hành động như động chạm, ôm chặt hay hôn vẫn đưa lại những cảm xúc ấm áp, gần gũi ngay cả khi không cần giao hợp.

Tuy nhiên, nếu sinh hoạt tình dục không tốt thì lại bất lợi cho sức khỏe, vì vậy người mắc bệnh tim mạch mạn tính phải đặc biệt coi trọng vấn đề sức khỏe tình dục.

Tình trạng bệnh tim mạch thế nào thì phải tránh hoạt động tình dục?

Bệnh nhân nhồi máu cơ tim: Những trường hợp đã bị nhồi  máu cơ tim, nếu trong vòng 2 tháng mà lại bị nhồi máu cơ tim thì cấm sinh hoạt tình dục. Động tác và tư thế khi giao hợp cần thực hiện nhẹ nhàng vừa sức. Có thể chọn lựa tư thế của vợ chồng cho phù hợp với sức khỏe và tương đối thoải mái như tư thế nằm nghiêng, tư thế ngồi. Không sinh hoạt khi mới ăn no, uống rượu, tắm hay khi bụng đói. Trường hợp bệnh nhân không thể giao hợp được có thể thực hiện các hành vi tình dục khác để tiêu tan sự căng thẳng của tình dục như âu yếm, xoa nắn… Nếu trong quá trình giao hợp cảm thấy tức ngực và không có cảm giác sảng khoái thì nên ngừng giao hợp, tốt nhất là luôn chuẩn bị một số thuốc như nitroglycerine uống trước khi giao hợp 30 phút.

Bệnh  nhân có cơn đau thắt ngực, bệnh động mạch vành: Trước khi giao hợp nên ngậm nitroglycerine để đề phòng cơn đau thắt ngực tái phát, nên áp dụng tư thế ngồi hoặc nằm nghiêng giao hợp để giảm tiêu hao sức lực, tránh những cử động gắng sức nhiều.

Bệnh nhân  bị tăng huyết áp: Chỉ nên quan hệ tình dục theo một chế độ vừa phải, điều độ về số lần trong một tuần và thời gian mỗi lần giao hợp, tránh sinh hoạt tình dục quá độ. Không giao hợp khi hút thuốc, uống rượu và ăn no hay có những vấn đề phải suy nghĩ căng thẳng. Đối với bệnh nhân tăng huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu cao hơn 120mmHg) hoặc huyết áp không ổn định khi có xu thế lên cao cũng phải tránh giao hợp. Không nên giao hợp khi có triệu chứng đau đầu, hoa mắt. Bệnh nhân tăng huyết áp tốt nhất nên giao hợp vào lúc sáng sớm nhưng cần đề phòng tình trạng bụng đói thì không nên giao hợp.

Bệnh nhân suy tim loại sung huyết chưa qua điều trị cần tránh giao hợp. Sau khi điều trị nếu có thể chịu đựng được hoạt động thể lực ở mức độ trung bình như đi lại tầng cao, làm việc vừa phải mà không cảm thấy khó chịu thì có thể giao hợp, nhưng nên áp dụng tư thế ngồi giao hợp và dự phòng bằng uống thuốc digoxin.

Bệnh nhân bị hẹp van 2 lá kèm theo khó thở phải tránh giao hợp vì nếu giao hợp có thể gây ra rung nhĩ, ảnh hưởng nặng đến tim.

Theo SKĐS