Tag Archives: sức khỏe phụ nữ

Nguyên nhân đặc biệt làm tăng nguy cơ bệnh sùi mào gà

Sùi mào gà là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục. Bệnh sùi mào gà do virus HPV (Human PapillomaVirus) gây ra, hay gặp nhất ở những người sinh hoạt tình dục sớm, “quan hệ” thô bạo gây tổn thương cơ quan sinh dục, có nhiều bạn tình, mắc các bệnh lây qua đường tình dục khác, hút thuốc lá, dinh dưỡng kém, suy giảm miễn dịch. Bệnh lây truyền chủ yếu qua giao hợp.

Khi xâm nhập vào cơ thể qua tiếp xúc trực tiếp với da, niêm mạc, virus khu trú ở tế bào cận đáy, ủ bệnh từ 1 đến 8 tháng, sau đó kích thích tăng sinh tế bào đáy dẫn đến sự hình thành những tổn thương ở biểu mô, hình dạng sùi lên như hoa súp lơ hay mào gà. Người có bộ phận sinh dục ẩm ướt, viêm âm hộ, âm đạo, suy giảm miễn dịch hoặc đi kèm bệnh phụ khoa khác thì càng dễ mắc hơn.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Sùi mào gà hiện chưa có thuốc đặc trị nên sau khi được điều trị, trong một số trường hợp bệnh vẫn có thể tái phát. Rất ít người biết rằng, yếu tố tâm lý là một trong những nguyên nhân liên quan tới sự tái phát của bệnh sùi mào gà. Sở dĩ, bệnh sùi mào gà tái phát do yếu tố tâm lý là vì điều trị bệnh trong một thời gian dài khiến cho người bệnh phải chịu nhiều áp lực cả về thể xác và tinh thần.

Bệnh nhân khi bị sùi mào gà, do yếu tố tâm lý bị chi phối nên dễ gặp các rối loạn trong sinh hoạt, ví dụ như không thấy ngon miệng, rối loạn giấc ngủ… Những thay đổi này khiến cho sức đề kháng của cơ thể giảm xuống rõ rệt, dẫn đến bệnh sùi mào gà sau khi được điều trị vẫn có nguy cơ tái phát.

Ngoài yếu tố tâm lý, bệnh sùi mào gà tái phát còn do một số nguyên nhân sau:

– Các yếu tố cận lâm sàng và các con đường lây bệnh tiềm ẩn vẫn tồn tại trong cơ thể.
– Suy giảm chức năng miễn dịch của cơ thể.
– Các hành vi quan hệ tình dục: Quan hệ tình dục không an toàn khiến bệnh sùi mào gà dễ có nguy cơ tái phát. Ngoài ra, với những đối tượng quan hệ tình dục sớm trước 19 tuổi, tỉ lệ tái phát sùi mào gà sẽ cao hơn.

Nguồn afamily

Những sai lầm của phụ nữ khi đi giày kín mỗi ngày

Người thường xuyên đi giày, bàn chân không được tiếp xúc với không khí sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe.

Một cuộc khảo sát trên trang The Health cho thấy, ngày nay mọi người dành phần lớn thời gian trong ngày để đi giày và tránh để chân trần khi ra ngoài vì sợ bị trầy xước hoặc cảm lạnh. Tuy nhiên, các nhà khoa học khuyến cáo nếu thường xuyên đi giày với vớ kín suốt ngày, bàn chân sẽ không được thở trong bầu khí tự nhiên, không có sự thoát hơi nước, dần dần sẽ gây bệnh, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của cơ thể.

nhung-sai-lam-cua-phu-nu-khi-di-giay-kin-moi-ngay

Giống như các cơ quan khác, bàn chân cũng cần được hô hấp, bài tiết (qua mồ hôi), tắm nắng. Song bàn chân nằm ở vị trí thấp nhất của cơ thể nên việc tuần hoàn máu tương đối kém. Nếu thường xuyên nhốt chân trong một không gian giới hạn là giày và tất vừa cứng lại vừa chật thì sự bài tiết ở chân sẽ gặp trở ngại. Tình trạng này kéo dài dễ gây nấm chân, ngứa chân và một số bệnh khác.

Mặt khác một số nghiên cứu đối với trẻ em còn cho thấy, sức khỏe của đôi bàn chân có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của não bộ. Cụ thể, việc thường xuyên để chân trần có thể làm tăng độ hoạt động của màng bán cầu đại não, cải thiện tính linh hoạt của chức năng màng não, điều tiết chức năng nội tiết, tăng sức miễn dịch, rất có ích cho việc phòng chống cảm cúm và các bệnh liên quan đến thần kinh.

Theo VnExpress

Phụ nữ trẻ cần đề phòng buồng trứng đa nang

Buồng trứng đa nang là hội chứng có thể ảnh hưởng tới chu kỳ kinh nguyệt, khả năng có thai, nội tiết, tim mạch, mạch máu và biểu hiện bên ngoài của người phụ nữ (PN).

“Khi người phụ nữ có hội chứng này, đặc trưng sẽ có nồng độ androgen cao (đôi khi được gọi là nội tiết tố nam mặc dù phụ nữ bình thường cũng sản xuất loại nội tiết tố này), không có hoặc kinh không đều, có rất nhiều nang ở buồng trứng” – TS-BS Phan Trung Hòa, BV Từ Dũ khuyến cáo.

Chuyện ghi tại phòng khám

Yến năm nay 15 tuổi, so với nhóm bạn cùng trang lứa thì cô bé đã ra dáng thiếu nữ với chiều cao, cân nặng khá lý tưởng, duy chỉ có “đường kinh nguyệt” bị chậm. Điều này khiến cô có những biểu hiện không bình thường: mái tóc đen dày dần thưa thớt, thay vào đó là lông chân, lông tay mọc rậm rì. Mẹ cô chia sẻ: “Thấy con gái gần đây cứ rón rén hỏi mẹ xem nhà mình có ai nhiều lông như nó không, ăn gì để giảm lông, làm sao để triệt lông khiến tôi băn khoăn. Khi đưa con đi khám mới hay con mình đang mắc chứng bệnh quái ác này…”.
buong-trung-da-nang-phu-nu-tre-cung-kho-tranh
Còn Hoa, cô gái có gương mặt bầu bĩnh ngồi cạnh bé Yến, thì ngược lại. Theo lời Hoa thì cô dậy thì rất sớm, từ năm 10 tuổi. Năm nay 26 tuổi, chưa lập gia đình nên Hoa cũng không quan tâm đến chuyện kinh nguyệt của mình ngày càng thưa thớt (hai-ba tháng mới hành kinh một lần). Cho đến gần đây, tuy không thấy kinh, nhưng hầu như tháng nào cô cũng bị chứng đau bụng kinh hành hạ. Đó là những cơn đau vùng thắt lưng, tuy diễn ra trong vài phút nhưng quặn thắt khiến cô hụt hơi, vã mồ hôi, không đứng thẳng được. Đến bệnh viện kiểm tra, mới hay cả hai bên buồng trứng của cô trứng mọc từng chùm.

Trẻ hơn Hoa là Minh, 24 tuổi, khá mập. Minh cho biết, thời con gái kinh nguyệt của cô rất đều đặn, nhưng không hiểu sao sau khi lấy chồng lại bị tắt kinh. Đi kiểm tra, bác sĩ cho biết cô bị buồng trứng đa nang (BTĐN), theo bác sĩ là vì nồng độ androgen của cô tăng cao, trong khi progesterone lại thấp. Hiện cô đang tuân thủ chế độ ăn kiêng giảm cân và uống thuốc để có kinh.

Mất cân bằng nội tiết

TS-BS Phan Trung Hòa, cho rằng, vấn đề chính trong hội chứng BTĐN là sự mất cân bằng nội tiết của PN. Ở người PN bị BTĐN, buồng trứng của họ sản xuất ra androgen nhiều hơn bình thường. Nồng độ nội tiết này cao sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển và phóng thích noãn (rụng trứng).

Nguyên nhân chính xác chưa được biết, nhưng các yếu tố nguy cơ đã được xác định. Yếu tố di truyền khá rõ khi thường thấy ở PN mà có mẹ hay chị gái cũng bị BTĐN.

Một vài triệu chứng của BTĐN thường gặp gồm: chậm có thai do rối loạn rụng trứng; không có kinh, kinh thưa hoặc không đều; rậm lông, buồng trứng có nhiều nang; mụn trứng cá, da nhờn, gàu; tăng cân, béo phì thường ở vùng hông eo; có những mảng da sậm màu, đen ở cổ, cánh tay, đùi, vú; đau vùng chậu; lo lắng hay bị ức chế, ngưng thở khi ngủ… Các dấu hiệu này có thể tồn tại đến tuổi mãn kinh.

BTĐN có thể xảy ra ở tuổi rất trẻ (11 tuổi). Nguy cơ bị các vấn đề sức khỏe khác: 50% sẽ bị đái tháo đường trước 40 tuổi, nguy cơ bị đột quỵ tim tăng gấp bốn-bảy lần người cùng tuổi, dễ bị cao huyết áp; cholesterol, mỡ trong máu cao và dễ bị ngưng thở khi đang ngủ.

Do mất cân bằng nội tiết, androgen làm suy yếu các nang noãn (trứng) khiến chúng tuy phát triển nhưng không thể trưởng thành (chất lượng trứng không tốt) và hiếm khi có hiện tượng rụng trứng xảy ra.

Các nghiên cứu cũng cho thấy sự liên quan giữa Insulin và BTĐN. Insulin là nội tiết kiểm soát sự thay đổi của đường, tinh bột và thức ăn giàu năng lượng khác để sử dụng và dự trữ. Mức Insulin cao quá mức sẽ làm gia tăng sản xuất androgen dẫn đến mụn trứng cá, rậm lông, tăng cân và rối loạn rụng trứng.

Điều trị như thế nào?

TS-BS Phan Trung Hòa cho biết: Cần thay đổi cách sống để cải thiện tình trạng béo phì, thừa cân bằng giảm ăn thức ăn nhanh, thức ăn nhiều đường, ngọt. Nên ăn nhiều gạo lức, rau, trái cây, thịt nạc. Chế độ ăn này sẽ giúp giảm lượng nội tiết Insulin để chuyển hóa đường, đặc biệt, việc giảm 10% cân nặng có thể giúp chu kỳ kinh nguyệt trở về bình thường và đều hơn.

Việc dùng thuốc vỉ tránh thai kết hợp sẽ giúp chu kỳ kinh đều hơn, giảm mụn, làm giảm được nội tiết androgen. Cũng có thể dùng nội tiết progesterone đơn thuần để điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt và giúp giảm nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung (nhưng không giúp giảm mụn và rậm lông).

Việc điều trị hiếm muộn, nguyên tắc cơ bản là tạo ra sự rụng trứng để tăng cơ hội có thai. Việc mổ nội soi đốt điểm trên buồng trứng (phá bỏ một số nang trứng không rụng) cũng giúp có hiện tượng rụng trứng sau đó. Nhưng loại bỏ các nang trứng không rụng không phải là cách điều trị bệnh triệt để.

Để dự phòng biến chứng, PN bị BTĐN nên được các bác sĩ sản phụ khoa, nội tiết tư vấn điều trị. Việc điều trị nên gồm nhiều mục tiêu chứ không chỉ vì điều trị cho có thai hay trị mụn. Quan trọng và lâu dài là ăn uống đúng, tập thể dục và không hút thuốc.

Nguồn afamily

Những căn bệnh đe dọa khả năng làm mẹ của người phụ nữ

Đúng là theo các chuyên gia sức khỏe, các cặp vợ chồng có quan hệ tình dục không sử dụng bất kì biện pháp tránh thai nào liên tục trong 1 năm mà không đậu thai thì có thể được xếp vào diện hiếm muộn, vô sinh. Thông thường, sau khoảng thời gian này, các cặp vợ chồng nên đi khám để biết nguyên nhân từ ai và nguyên nhân đó là gì.

– Tắc vòi trứng: Tắc vòi trứng, có thể do nhiễm khuẩn hoặc do lạc nội mạc tử cung và chiếm tỷ lệ khoảng 40-50% trường hợp hiếm muộn, vô sinh. Bệnh thường được phát hiện chính xác nhất nhờ chụp tử cung – vòi trứng. Tắc vòi trứng khiến cho nhiều khi trứng đã gặp tinh trùng ở vòi trứng nhưng không thể di chuyển về tử cung để làm tổ mà phát triển ngay tại vòi trứng, gây ra chửa ngoài tử cung.

Một số triệu chứng có thể gặp khi bị tắc vòi trứng bao gồm: Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, khí hư nhiều hơn bình thường, đau khi quan hệ tình dục, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, lao động làm việc không tập trung, những triệu chứng tâm lý hay ức chế tâm lý…

nhung-can-benh-de-doa-kha-nang-lam-me-cua-nguoi-phu-nu

– Bệnh viêm vùng chậu: Bệnh viêm vùng chậu (PID) là một bệnh nhiễm trùng cơ quan sinh sản nữ. Nó thường xảy ra khi vi khuẩn lây lan qua đường tình dục từ âm đạo vào tử cung và đường sinh dục trên.

Nhiều phụ nữ phát triển bệnh viêm vùng chậu có thể không gặp triệu chứng nào đặc biệt hoặc là có các dấu hiệu sau: Đau vùng bụng dưới, sốt, tiết dịch âm đạo bất thường kèm có mùi, đau khi giao hợp, ra huyết âm đạo giữa chu kỳ…

Bệnh viêm vùng chậu có thể dẫn đến vô sinh hoặc thai ngoài tử cung. Bệnh chỉ được phát hiện sau khi gặp vấn đề mang thai hoặc nếu phát triển đau vùng chậu kinh niên.

– U xơ tử cung: U xơ tử cung là bệnh khá phổ biến ở chị em. Đây là loại u lành tính thường thấy nhất trong tử cung, nó có thể nằm ở thành hoặc trong lòng dạ con.

Mặc dù là bệnh phổ biến và không làm tăng nguy cơ ung thư tử cung nhưng u xơ tử cung lại có thể làm cho chị em rất khó chịu và gây khó khăn cho việc trứng gặp tinh trùng. Đặc biệt, bệnh không có biểu hiện rõ ràng nên trong nhiều trường hợp, người bệnh có những triệu chứng có thể nhầm với mang thai.

Nếu u ở vị trí gần niêm mạc thì có thể gây chảy máu, băng huyết… Trong trường hợp này cần được can thiệp để xử lý kịp thời, tránh ảnh hưởng đến các khu vực lân cận, cản trở việc thụ thai.

– Bệnh viêm răng lợi: Các bệnh liên quan đến răng miệng xảy ra khi vi khuẩn trong miệng tạo thành một ổ viêm nhiễm quanh một chiếc răng và có thể lây lan vào hệ tuần hoàn. Bệnh này cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của người phụ nữ. Theo nhiều nghiên cứu thì phụ nữ bị bệnh răng lợi phải mất trung bình 7 tháng mới có thai, dài hơn 2 tháng so với những phụ nữ không mắc bệnh này.

– U nang buồng trứng: Buồng trứng có chức năng sản xuất trứng. U nang buồng trứng hình thành bên trong buồng trứng và là bao nang chứa đầy dịch. Cũng giống như nhiều bệnh phụ khoa khác, u nang buồng trứng có các triệu chứng rất mơ hồ, khó phán đoán từ sớm. Đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Khi bị u nang buồng trứng, chị em có thể gặp các triệu chứng như: Đau vùng bụng, kinh nguyệt thất thường, cảm giác đầy bụng, khó chịu ở âm đạo…

90% u nang buồng trứng là u lành nhưng cũng có tới 10% là ác tính. Nếu không kịp thời chữa trị có thể chuyển sang ung thư buồng trứng, đe dọa rất lớn đến khả năng phát triển và rụng trứng, từ đó gây khó khăn trong quá trình thụ thai và có con của chị em.

Mặc dù với mỗi bệnh lại có phương pháp điều trị khác nhau nhưng các bệnh lại có triệu chứng tương tự nhau nên các bác sĩ cũng có thể chẩn đoán nhầm nếu chỉ được nghe qua mô tả chứ không khám xụ thể. Vậy nên, để biết nguyên nhân chính xác thì bạn nên đi khám.

Theo afamily

Ảnh hưởng của bệnh viêm vùng chậu với chị em

Nếu bệnh viêm vùng chậu (PID) “tấn công” chị em nhiều hơn một lần thì nó có thể tăng gấp đôi nguy cơ vô sinh, và tăng gấp bốn lần nguy cơ đau vùng chậu mãn tính.

Các nhà nghiên cứu ở Baltimore cũng phát hiện ra rằng các cô gái trẻ bị mắc bệnh này tái đi tái lại nhiều lần có thể tăng nguy cơ đau vùng chậu mãn tính gấp năm lần.

Để nghiên cứu những hậu quả lâu dài của bệnh, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm trẻ em Johns Hopkins ở Baltimore đã theo dõi 831 phụ nữ lứa tuổi từ 14 tuổi và 38 trong bảy năm, sau chẩn đoán PID ban đầu của họ. Những người tham gia ban đầu bị mắc PID mức độ từ nhẹ đến trung bình và một số đã mắc PID mãn tính.

viem-vung-chau-benh-nguy-hiem-de-doa-chi-em

Kết quả cho thấy gần một phần năm trong số đó bị vô sinh và 43% bị đau vùng chậu mãn tính. Phụ nữ mắc PID thường xuyên thì khả năng bị đau vùng chậu mãn tính tăng gấp bốn lần, cũng như tăng gấp đôi khả năng vô sinh so với những người phụ nữ chỉ mắc PID một lần.

PID là một biến chứng của bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI), và được đặc trưng bởi viêm tử cung, ống dẫn trứng hoặc cơ quan sinh sản khác. Nó cũng có thể gây ra đau vùng chậu mãn tính và thai ngoài tử cung.

Trước đây, Chlamydia và bệnh lậu là nguyên nhân chính của PID, nhưng nghiên cứu gần gây cho thấy những bệnh lây truyền qua đường tình dục chiếm khoảng 1/3 các trường hợp PID và các tác nhân gây bệnh khác như Mycoplasma genitalium cũng đang gây ra rất nhiều trường hợp mắc PID.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, PID ảnh hưởng đến hơn 800.000 phụ nữ Mỹ mỗi năm, trong đó tỷ lệ mắc vô sinh là 1/10. “Khi nói đến PID, chúng ta phải luôn thận trọng hơn bao giờ hết” Tiến sĩ Maria Trent, nghiên cứu viên ở Trung tâm Trẻ em Johns Hopkins đã cho biết. “Mặc dù PID đã thay đổi theo thời gian, nó vẫn còn là một căn bệnh có thể gây ra những hậu quả bất lợi đến khả năng sinh đẻ của người phụ nữ và có thể dẫn đến đau vùng chậu mạn tính”, ông nhấn mạnh.

Trong số những người tham gia ở độ tuổi thiếu niên, theo những phát hiện này thì gần 40% bị đau vùng chậu mãn tính (kết quả được công bố vào tháng 9/2011 trong tạp chí Sexually Transmitted Diseases). Những phụ nữ trẻ bị mắc PID thường xuyên cũng có nguy cơ đau vùng chậu mãn tính gấp 5 lần so với bạn tình của họ.

Trent cho biết: “Thực tế là gần 1/5 những cô gái này đã có dấu hiệu vô sinh là khá đáng báo động, và có nghĩa rằng những con số sẽ tăng lên khi các cô gái lớn tuổi hơn và tích cực cố gắng để có thai”.

Theo afamily

Những con đường chính lây nhiễm bệnh giang mai

Bệnh giang mai ở nữ giới nếu không điều trị kịp thời rất có thể gây nên những tổn thương tại tất cả các cơ quan trong cơ thể như viêm loét cơ quan sinh dục, thậm chí gây ảnh hưởng đến nội tạng.

Chào bác sĩ. Em năm nay 27 tuổi, đã kết hôn nhưng chưa có em bé. Chúng em đang rất mong có em bé nhưng tình thế hiện tại của vợ chồng em rất phức tạp.

Tuần trước, chồng em có dấu hiệu bất thường ở “chỗ kín” và đã đi khám thì được kết luận là bị bệnh giang mai. Anh đã khuyên em cũng nên đi khám để biết mình có bị lây bệnh không. Trước đây chúng em có sử dụng bao cao su để tránh thai và mới để tự do để có em bé trong thời gian ngắn.

nhung-con-duong-chinh-lay-nhiem-benh-giang-mai

Thực sự em đang rất lo lắng vì không biết trong thời gian ngắn như vậy em có thể bị lây bệnh từ chồng em không. Và nếu em bị bệnh mà có thai thì liệu con em có bị lây bệnh từ mẹ không? Em không rõ bệnh này có thể lây truyền qua những con đường nào. Mong bác sĩ tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn! (Hoàng Hà)

BS. Hoa Hồng tư vấn:

Bạn Hoàng Hà thân mến,

Bệnh giang mai do xoắn khuẩn nhạt (Treponema pallidum) gây ra. Đây là loại xoắn khuẩn yếu, có thể sống dai dẳng hơn khi ở nơi ẩm ướt nhưng không sống được quá vài tiếng đồng hồ khi ra ngoài cơ thể. Những vi trùng này có tính truyền nhiễm cao và chủ yếu lây truyền qua đường tình dục. Ngoài ra, bệnh có thể lây qua các con đường khác, miễn là có sự tiếp xúc với vi trùng gây bệnh. Vì vậy, việc nắm được các con đường lây bệnh là rất quan trọng, nó giúp bạn biết cách phòng bệnh tốt nhất.

Chồng bạn đã bị nhiễm bệnh và có quan hệ tình dục với bạn mà không dùng biện pháp bảo vệ là bao cao su thì khả năng lây bệnh cho bạn hoàn toàn có thể xảy ra cho dù hai người mới để “tự do” trong thời gian ngắn.

Bệnh giang mai ở nữ giới nếu không điều trị kịp thời rất có thể gây nên những tổn thương tại tất cả các cơ quan trong cơ thể như viêm loét cơ quan sinh dục, phát ban ngoài ra, đau nhức cơ xương, thậm chí gây ảnh hưởng đến nội tạng.

Bệnh giang mai lây truyền chủ yếu qua các con đường sau:

– Lây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp: Những tiếp xúc trực tiếp như ôm hôn hoặc có quan hệ tình dục với người mắc bệnh giang mai sẽ càng làm tăng nguy cơ lây bệnh. Da và niêm mặc của bộ phận sinh dục tương đối mỏng nên khi có quan hệ tình dục, vùng da này dễ bị tổn thương, tạo điều kiện thuận lợi cho vi trùng giang mai xâm nhập vào cơ thể.

– Lây qua đường máu: Bất kì hình thức liên quan đến việc tiêm chích, truyền máu… đều có thể làm cho mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể khỏe mạnh.

– Lây nhiễm do tiếp xúc: Nếu sử dụng hoặc dùng chung quần áo, khăn mặt có dính nội tiết mang vi trùng của người mắc bệnh giang mai thì đều có thể khiến bạn mắc bệnh giang mai, nhất là trong trường hợp, các vi trùng bệnh có cơ hội tấn công qua các vết thương hở trên da.

– Lây nhiễm qua đường sinh nở: Người mẹ bị mắc bệnh giang mai khi đang mang thai sẽ có thể lây bệnh cho thai nhi qua nhau thai hoặc trong quá trình sinh thường. Khi thai phụ bị bệnh mà chưa điều trị kịp thời hoặc điều trị không triệt để thì vi trùng sẽ thông qua tuần hoàn máu của nhau thai để truyền nhiễm cho thai nhi, khiến cho thai nhi bị bệnh. Vi khuẩn giang mai thông qua nhau thai là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới trẻ bị giang mai bẩm sinh.

Nếu chồng bạn đã được kết luận là nhiễm bệnh giang mai thì tốt nhất bạn nên đi khám vì khả năng bạn bị lây bệnh từ chồng sẽ rất cao. Bạn nên đi khám càng sớm càng tốt để được bác sĩ kê đơn điều trị phù hợp, hiệu quả nhất khi bệnh chưa phát triển nặng.

Chúc vợ chồng bạn mau khỏi bệnh!

Theo afamily

Đọc để biết cách phòng ngừa vô sinh ở nữ giới

Ở phụ nữ, nguy cơ hiếm muộn, vô sinh có liên quan đến nhiều vấn đề. Để phòng ngừa vô sinh, bạn cần lưu ý những điều sau đây.

Thưa bác sĩ, năm nay em 20 tuổi, chưa lập gia đình nhưng đã có người yêu. Chúng em chưa tính đến chuyện kết hôn nhưng cũng dự định là sau khi cưới sẽ không kế hoạch mà sinh em bé luôn. Em biết cứ dự định như vậy là hơi sớm nhưng quả thật bây giờ em gặp rất nhiều trường hợp vô sinh, hiếm muộn sau khi kết hôn nên em rất sợ nếu không may mình cũng bị như vậy.

Cũng chính vì lý do này mà em luôn muốn quan tâm tới sức khỏe của mình, đặc biệt là sức khỏe sinh sản để đảm bảo sau này mình không gặp khó khăn trong việc có con. Bác sĩ cho em hỏi, để đề phòng vô sinh thì em cần làm những gì? Em xin cảm ơn bác sĩ! (H. Thanh)
doc-de-biet-cach-phong-ngua-vo-sinh-o-nu-gioi
BS. Hoa Hồng tư vấn:

Bạn H. Thanh thân mến,

Tất cả những kế hoạch hay dự tính liên quan đến sức khỏe, bao gồm cả sức khỏe sinh sản không bao giờ bị coi là quá sớm. Vậy nên, bạn đừng bỏ qua những điều gì tốt nhất cho sức khỏe của mình.

Đúng là ngày nay, tỉ lệ vô sinh, hiếm muộn ở các cặp đôi đang tăng, trong đó nguyên nhân xuất phát từ người đàn ông hay chị em phụ nữ là ngang nhau. Thế nhưng, nếu chỉ lo lắng thì sẽ không giúp bạn khỏe mạnh, điều quan trọng là bạn phải hiểu về cơ thể mình, nắm được các yếu tố nguy cơ có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản để biết cách phòng bệnh tốt nhất.

Ở phụ nữ, nguy cơ hiếm muộn, vô sinh có liên quan đến nhiều vấn đề. Những chị em có các triệu chứng sau đây thường dễ gặp trục trặc trong chuyện sinh sản:

– Chu kì kinh nguyệt không đều hoặc thay đổi thất thường: Đây có thể là triệu chứng suy hoàng thể hoặc viêm nội mạc tử cung. Hai bệnh này nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến buồng trứng và khó thụ thai.

– Khí hư bất thường: Các bệnh như viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm loét cổ tử cung, viêm nội mạc cổ tử cung, viêm phần phụ, viêm vùng chậu và các bệnh tình dục khác đều có dấu hiệu nhận biết là tình trạng là khí hư ra nhiều, có màu vàng, có dạng như bã đậu hoặc dạng nước, kèm theo ngứa rát âm đạo…

– Đau bụng kinh âm ỉ: Đau vùng thắt lưng hoặc đau bụng dưới thường là do các bệnh như viêm vùng chậu, viêm loét cổ tử cung, viêm buồng trứng, lạc nội mạc tử cung, ung thư tử cung, buồng trứng gây ra.

Để phòng ngừa vô sinh, bạn cần lưu ý những điều sau đây:

– Quan hệ tình dục lành mạnh: Luôn sử dụng bao cao su để phòng tránh những bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, viêm nhiễm phụ khoa. Tránh quan hệ tình dục với nhiều bạn tình.

– Tránh nạo, hút thai nhiều lần: Việc nạo hút thai nhiều lần sẽ làm ảnh hưởng nhiều tới dạ con, buồng trứng gây nguy cơ vô sinh cao.

– Tránh stress thường xuyên: Thường xuyên bị stress chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến chức năng của bộ não và tuyến yên làm cho nội tiết tố sinh dục sẽ giảm xuống, khả năng thụ thai sẽ khó hơn rất nhiều.

– Kiểm tra, thăm khám định kỳ: Bạn nên thăm khám, kiểm tra định kỳ sức khỏe sinh sản để phát hiện ra sớm những bệnh dễ gây vô sinh như  tắc vòi trứng, viêm nhiễm khuẩn đường sinh dục, viêm tử cung…

– Tránh các thói quen có hại: Các thói quen như uống rượu, hút thuốc, thụt rửa âm đạo liên tục… đều có thể làm suy giảm chức năng buồng trứng và dễ gây mãn kinh sớm.

– Bổ sung vitamin: Hãy bổ sung các loại vitamin cần thiết để bồi bổ sức khỏe, đặc biệt là vitamin E có tác dụng tăng cường chức năng hoạt động của buồng trứng để tăng khả năng sinh sản của bạn.

Nếu thấy có bất kì biểu hiện bất thường nào liên quan đến sức khỏe, bạn nên đi khám càng sớm càng tốt.

Chúc bạn vui, khỏe!

Cảnh báo chị em về 5 bệnh ung thư phụ khoa đáng sợ nhất

Ung thư phụ khoa là nhóm các bệnh ung thư có ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản của phụ nữ, cụ thể là ung thư ở cổ tử cung, tử cung, buồng trứng, âm đạo và âm hộ.

Một số bệnh ung thư phụ khoa phổ biến:

1. Ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là do virus Papiloma (HPV) gây nên. Đây là một bệnh lây truyền qua đường tình dục rất phổ biến. Ung thư cổ tử cung thường phát triển rất chậm và có thể bắt đầu từ tình trạng loạn sản tế bào cổ tử cung. Loạn sản là một hình ảnh không bình thường của tế bào cổ tử cung nhưng cũng chưa thể kết luận là ung thư vì có thể do viêm, do nhiễm khuẩn đường sinh dục như bị nấm âm đạo hay nhiễm Chlamydia. Tuy nhiên, nó cũng có thể là tình trạng tiền ung thư.

Tình trạng tiền ung thư này có thể được phát hiện bằng xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung. Đó là lý do tại sao chị em cần thực hiện xét nghiệm tế bào cổ tử cung (pap smear) theo định kì. Hầu hết phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư cổ tử cung hiện nay đều rơi vào trường hợp những chị em không làm xét nghiệm pap hoặc có làm những không thường xuyên.

Những dấu hiệu sớm của ung thư cổ tử cung bao gồm: Ra nhiều huyết trắng kéo dài, chảy máu âm đạo bất thường, chảy máu trong khi quan hệ tình dục, đau khi quan hệ tình dục…
canh-bao-chi-em-ve-5-benh-ung-thu-phu-khoa-dang-so-nhat
2. Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là tình trạng ung thư bắt đầu trong buồng trứng – nơi sản xuất trứng.

Ung thư buồng trứng ở một hoặc cả hai buồng trứng đều là ung thư biểu mô (ung thư bắt đầu trong các tế bào trên bề mặt của buồng trứng) hoặc là khối u tế bào mầm ác tính (ung thư bắt đầu trong tế bào trứng). Ung thư buồng trứng thường khó phát hiện ở giai đoạn đầu nên việc chẩn đoán và điều trị thường gặp khó khăn vì lúc phát hiện bệnh thì bệnh đã có dấu hiệu di căn.

Nhiều phụ nữ bị ung thư buồng trứng không có triệu chứng rõ ràng hoặc chỉ có triệu chứng nhẹ cho đến khi bệnh đang ở giai đoạn phát triển và khó điều trị. Do vậy, nếu thấy các dấu hiệu sau, chị em nên cảnh giác vì rất có thể đó là những dấu hiệu sớm của bệnh ung thư buồng trứng: Đau bụng hoặc đau vùng chậu, tăng kích thước vòng bụng hoặc đầy hơi, cần tiểu gấp hoặc thường xuyên, gặp khó khăn với việc ăn uống hoặc cảm thấy no nhanh…

3. Ung thư tử cung

Hai hình thức phổ biến của bệnh ung thư tử cung là ung thư cổ tử cung (tế bào ung thư từ cổ tử cung) và nội mạc tử cung (tế bào ung thư từ lớp niêm mạc của các ngữ liệu hoặc cơ thể của tử cung). Giai đoạn đầu của ung thư tử cung được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ (ung thư chỉ giới hạn ở vị trí ban đầu). Nếu không được phát hiện và điều trị đúng cách, tế bào ung thư xâm nhập vào các lớp sâu hơn trong tử cung, sau đó lan rộng đến các cơ quan lân cận như âm đạo, bàng quang, trực tràng và cuối cùng di căn đến các bộ phận khác trong cơ quan sinh sản.

Chị em có nguy cơ bị ung thư tử cung cao là những người thường xuyên bị chảy máu âm đạo hoặc dịch âm đạo bất thường, quan hệ tình dục thường xuyên trước khi 20 tuổi hoặc quan hệ tình dục với nhiều đối tác và chị em không chị ý vệ sinh “vùng kín” sạch sẽ.

Các triệu chứng sớm của bệnh ung thư tử cung cũng tương tự như ung thư cổ tử cung và bệnh cũng có thể được chẩn đoán chính xác thông qua xét nghiệm pap.

4. Ung thư âm đạo

Ung thư âm đạo là một loại ung thư hiếm gặp ở phụ nữ. Trong ung thư âm đạo (ác tính) các tế bào ung thư được tìm thấy trong các mô của âm đạo. Có rất nhiều loại ung thư khác nhau của ung thư âm đạo bao gồm ung thư vảy tế bào (ung thư biểu mô vảy), ung thư biểu mô tuyến, sacôm…

Nguyên nhân gây bệnh ung thư âm đạo chưa được xác định rõ ràng. Theo nhiều chuyên gia sức khỏe thì nhiễm virus gây nhú ở người (HPV) chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới nguy cơ bị ung thư âm đạo. Nhiều trường hợp bệnh xuất hiện sau khi bị sùi mào gà.

Mặc dù đa số các trường hợp bị ung thư âm đạo thường không có nhiều triệu chứng đáng chú ý, nhưng theo lời khuyên của các chuyên gia sức khỏe thì nếu chị em thấy mình có những triệu chứng như: thay đổi thói quen đi tiểu, cảm thấy có áp lực đè lên vùng xương chậu, chảy máu âm đạo bất thường… thì hãy đi khám sớm.

5. Ung thư âm hộ

Ung thư âm hộ là một loại ung thư hiếm gặp. Nó hình thành trong bộ phận sinh dục bên ngoài của một người phụ nữ được gọi là âm hộ. Âm hộ gồm có môi bên trong và bên ngoài của âm đạo, âm vật (mô nhạy cảm giữa môi), cửa âm đạo và các tuyến của nó. Ung thư âm hộ là một loại ung thư xảy ra trên diện tích bề mặt ngoài của cơ quan sinh dục nữ. Âm hộ là vùng da bao quanh niệu đạo và âm đạo, bao gồm âm vật và môi nhỏ.

Các hình thức ung thư âm hộ thường như một khối u hoặc đau ở âm hộ là nguyên nhân gây ngứa và đau đớn. Mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, ung thư âm hộ thường được chẩn đoán ở phụ nữ lớn tuổi.

Ung thư âm hộ có khả năng chữa khỏi cao khi được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Tỷ lệ sống sót phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng giải phẫu bệnh học của hạch bẹn.

Các triệu chứng ban đầu của ung thư âm hộ có thể bao gồm: U, bướu giống như mụn cơm hay đau loét., ngứa âm đạo, da vùng âm đạo thay đổi màu sắc, chảy máu giữa chu kì kinh nguyệt…

Tất cả các bệnh ung thư phụ khoa đều có ảnh hưởng nặng nề đến khả năng sinh sản của chị em. Bệnh nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ khiến chị em phải chịu nhiều đau đớn, suy sụp sức khỏe nhanh chóng và đe dọa tính mạng.

Để đề phòng các bệnh ở cơ qua sinh sản, tránh dẫn tới ung thư phụ khoa, chị em nên lưu ý những điều sau:

– Thực hành tình dục an toàn. Nên sử dụng bao cao su khi có quan hệ tình dục để tránh lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

– Tiêm vacxin phòng ung thư cổ tử cung trước 26 tuổi.

– Tiến hành khám phụ khoa theo định kì, đặc biệt không được bỏ qua thủ tục xét nghiệm pap smear để chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung và ung thư tử cung.

– Giữ vệ sinh sạch sẽ, nhất là trong những ngày có “đèn đỏ”.

Phòng khám tư vấn sức khỏe phụ nữ sinh sản

Pediatrician Examining Toddler

Địa chỉ 28B Lê Lợi, TP Huế, TP Huế, THỪA THIÊN HUẾ

Điện thoại (054) 833557

 

Thực phẩm chữa bệnh phụ nữ hiệu quả

 Bạn có biết có một số thực phẩm rất hiệu quả trong phòng ngừa và điều trị bệnh của phụ nữ? 10 loại thực phẩm sau đây giúp bạn đạt được điều đó.
Thiếu máu: Bổ sung các loại thực phẩm hàm lượng sắt cao

Mất máu định kỳ và những lý do sinh sản khác khiến cho 30% phụ nữ bị thiếu máu, thiếu sắt nhẹ. Thiếu máu lâu dài dễ dẫn đến suy giảm chức năng buồng trứng, ảnh hưởng đến sức khỏe phụ nữ.

Gan động vật, thịt nạc, rau bina và các loại thực phẩm khác không chỉ có hàm lượng sắt cao mà lại dễ dàng hấp thụ. Các chuyên gia y tế nhắc nhở phụ nữ trong giai đoạn kinh nguyệt nên hạn chế uống trà và cà phê sẽ ức chế hấp thu sắt.

chua-benh-hieu-qua-nho-thuc-pham

Kinh nguyệt khó chịu: mật ong uống với sữa nóng

Đau bụng, yếu thắt lưng, cơ thể mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ và dễ bị kích động, cáu giận… là những triệu chứng thường gặp phải khi phụ nữ trải qua kỳ kinh nguyệt. Các chuyên gia sản và phụ khoa gần đây đã phát hiện ra rằng, phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, trước khi đi ngủ nếu uống một cốc sữa nóng pha với mật ong giúp làm giảm hoặc loại bỏ sự khó chịu kinh nguyệt vô cùng hiệu quả.

Kali trong sữa có thể làm dịu cảm xúc, giảm đau bụng, ngăn ngừa nhiễm trùng; Magiê có trong mật ong có thể làm dịu hệ thống thần kinh trung ương, giúp loại bỏ những căng thẳng của phụ nữ trong khi hành kinh cũng như các áp lực tâm lý.

Đau bụng kinh: ăn chuối

Chuối rất giàu vitamin B6. Trong khi đó, vitamin B6 lại góp phần quan trọng trong việc ổn định dây thần kinh, giảm bớt sự lo lắng của phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt. Quan trọng hơn nó giúp cải thiện giấc ngủ và giảm đau bụng đáng kể.

Đau nửa đầu: Ăn các loại thực phẩm magiê

Chứng đau nửa đầu thường xảy ra ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt là phụ nữ tham gia các công việc lao động trí óc. Nghiên cứu phát hiện thấy lượng magiê trong máu của những bệnh nhân bị đau nửa đầu thấp. Vì vậy, chú ý đến việc dung nạp thực phẩm giàu magiê trong chế độ ăn uống , chẳng hạn như hạt kê, kiều mạch, đậu, chuối, các loại hạt và hải sản… có thể làm giảm chứng đau nửa đầu.

Estrogen giảm: Ăn đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành

Estrogen là hormone giới tính nữ, khi hàm lượng của nó trong máu thấp hơn so với mức bình thường trong máu sẽ khiến cho chức năng sinh sản của phụ nữ và chức năng tình dục bị ảnh hưởng, nhưng đồng thời cũng làm cho mất sự bảo vệ tim.

Isoflavone trong đậu nành gần tương tự như chất estrogen, có thể bù đắp việc thiếu hụt estrogen trong cơ thể.

Uống 500 ml sữa đậu nành mỗi ngày hoặc ăn hơn 100 gram đậu nành hay đậu phụ… có hiệu quả trong việc điều chỉnh chức năng nội tiết, thúc đẩy estrogen trở lại mức bình thường.

Viêm âm đạo do nấm: Ăn nhiều tỏi

Thường xuyên ăn tỏi sẽ giúp phụ nữ có sức đề kháng với nấm, phòng ngừa được viêm âm đạo do nấm. Bởi vì tỏi giàu allicin và các chất khác vốn là những chất có tác dụng diệt khuẩn mạnh, có thể ức chế sự tăng trưởng quá mức và sinh sản của Candida albicans trong âm đạo.

Bệnh tuyến vú: Ăn các loại thực phẩm hạt và rong biển

Một nghiên cứu tìm thấy rằng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ thường xuyên ăn các loại ngũ cốc nguyên hạt có thể duy trì mức độ estrogen đầy đủ lưu thông trong máu, tránh nồng độ estrogen cao gây ra rất nhiều bệnh vú.

Tảo bẹ có chứa một lượng lớn iốt có thể kích thích sự bài tiết luteinizing hormone của tuyến yên, thúc đẩy luteinization nang buồng trứng và làm giảm nồng độ estrogen của cơ thể. Vì vậy, thường xuyên tiêu thụ tảo bẹ giúp chị em ngăn ngừa và điều trị tăng sản tuyến vú.

Theo TTVN

Mang họa vì uống thuốc nở ngực, đẹp da.

Nhiều sản phẩm thuốc nội tiết sinh dục nữ đang được quảng cáo hấp dẫn về hiệu quả sử dụng cũng như thời gian đạt hiệu quả nhanh chóng … vậy thực chất lợi hại của cách dùng này ra sao.

Nội tiết sinh dục: hoạ hoằn mới đụng tới

Theo tiến sĩ Lê Thị Thu Hà, nội tiết sinh dục nữ bao gồm các nội tiết tố của trục hạ đồi – tuyến yên, tuyến sinh dục và tuyến thượng thận. Các nội tiết tố GnRH, LH, FSH và steroid sinh dục có tính quyết định trong chức năng sinh sản. Các steroid nữ do buồng trứng và bánh nhau thai kỳ sản xuất là chủ yếu, dưới tác động của vùng hạ đồi tuyến yên, gồm estrogen, progesterone và androgen.

Nội tiết tố sinh dục đường dùng theo chỉ định trong các bệnh lý phụ khoa như rối loạn nội tiết tuổi dậy thì; cường thượng thận bẩm sinh; rối loạn kinh nguyệt, không rụng trứng; nội tiết thay thế sau mãn kinh; vô kinh, vô sinh; rậm lông, buồng trứng đa nang; tránh thai.

Thuốc nội tiết sinh dục phải do bác sĩ chỉ định, chị em không nên tự ý dùng vì có những chống chỉ định khi: đang có thai, đang cho con bú, viêm gan, vàng da, tiền sử u gan, tiền sử bản thân hoặc gia đình bị ung thư vú, tiền sử hoặc hiện tại bị viêm tắc tĩnh mạch, rối loạn chuyển hoá lipid, tiểu đường nặng, cao huyết áp, bệnh tim, bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, ung thư nội mạc tử cung, rong huyết chưa rõ nguyên nhân.

Các tác dụng phụ có thể xảy ra do dùng thuốc bao gồm: buồn nôn, nôn, tăng cân, rong huyết, nhức đầu, đau ngực, căng tức vú, vàng da, đau rút ở chân… Khi dùng nội tiết sinh dục, nếu có bất thường nào xảy ra phải đến bác sĩ ngay. Việc dùng nội tiết sinh dục đòi hỏi sự thận trọng vì ảnh hưởng của nội tiết tố không chỉ trên cơ quan sinh dục mà còn ảnh hưởng đến toàn thân (đông máu, biến dưỡng chất béo, gây ung thư).

Ngực chưa to nguy cơ đã lớn

Estrogen và progesterone tác dụng lên tuyến vú làm hệ thống ống dẫn sữa tăng trưởng, chế tiết, nang tuyến sữa phát triển, nhờ vậy cảm giác vú căng lên. Estrogen còn giúp tích tụ mô mỡ dưới da ở vú làm vú to lên. Ở những phụ nữ khác nhau, số lượng thụ thể trên mô vú đáp ứng nội tiết khác nhau nên việc tích tụ mỡ cũng khác nhau, do đó kích thước tuyến vú khác nhau.

tac_hai_thuoc_dep_da_01

Mang họa vì uống thuốc nở ngực, đẹp da. (Ảnh minh họa)

Vì vậy, việc dùng nội tiết để làm ngực to lên là không nên, bởi các lý do: đáp ứng với nội tiết sinh dục trong sự tích tụ mô mỡ ở vú tuỳ thuộc vào số thụ thể. Nếu số thụ thể không nhiều thì việc dùng nội tiết không hiệu quả. Bên cạnh đó, tác dụng phụ của nội tiết và những chống chỉ định của thuốc này là đáng kể. Thuốc nội tiết sinh dục cũng có thời gian tác dụng và bán huỷ, sau thời gian bán huỷ thì thuốc giảm tác dụng. Do vậy, quảng cáo dùng bốn viên để làm ngực to lên là khó tin. Còn nếu thuốc liều rất cao, thời gian bán huỷ kéo dài và nồng độ cao quá trong máu thì nguy cơ và tác dụng phụ càng cao.

Da: trước đẹp sau nám

Một số loại thuốc tránh thai có thành phần cyproterone acetate hay drospirenone có tác dụng ức chế ảnh hưởng của androgen, nhờ vậy giảm tình trạng mụn trứng cá do tăng tiết bã nhờn, giảm tình trạng rậm lông – đặc biệt là lông mặt. Nhưng dùng đơn thuần cyproterone acetate sẽ dẫn đến rối loạn chu kỳ kinh nguyệt. Điều này có thể tránh được bằng cách kết hợp với ethinylestradiol trong thuốc. Hiệu quả này vẫn giữ được miễn là việc dùng thuốc phải theo chu kỳ theo hướng dẫn sử dụng.

Trong thời gian điều tri bằng thuốc, sự rụng trứng sẽ không xảy ra, vì vậy có thể ngừa thai. Do đó, việc dùng đồng thời với một nội tiết tố hoặc những thuốc ngừa thai khác là không cần thiết. Có những trường hợp dùng thuốc nội tiết với mục đích làm đẹp da, nhưng sau một thời gian sử dụng da trở nên nám vì tác dụng phụ của thuốc là gây ra nhạy cảm với ánh nắng nên có thể bị sạm da.

Muốn có làn da đẹp, điều quan trọng là giữ gìn sức khoẻ tốt, ăn uống đầy đủ, hợp vệ sinh, cung cấp đầy đủ các loại vitamin, đặc biệt là vitamin C, A, E, B và các chất khoáng cho cơ thể. Nên uống nhiều nước, ngủ đủ giấc, giữ tinh thần thoải mái, da sạch sẽ, bảo vệ da khi ra nắng.’

Theo vnexpress

Giảm nguy cơ lạc nội mạc tử cung nhờ ăn uống

Phụ nữ có chế độ ăn uống giàu chất a-xít béo omega-3 sẽ giảm được đáng kể nguy cơ mắc bệnh này. Đó là kết luận của các nhà khoa học thuộc Bệnh viện Brigham & Women’s (Mỹ).

Để có kết luận trên, nhóm nghiên cứu đã khảo sát khoảng 71.000 phụ nữ. Sau hơn 12 năm theo dõi, 1.199 tình nguyện viên bị chẩn đoán mắc bệnh lạc nội mạc tử cung. Theo các chuyên gia, nghiên cứu này cho thấy ăn uống không hợp lý có thể dẫn đến nguy cơ mắc bệnh. Bệnh lạc nội mạc tử cung là một tình trạng mà các mô lót nội mạc của tử cung nằm sai chỗ ở các nơi khác ngoài tử cung như ống dẫn  trứng, buồng trứng… Lạc nội mạc cũng có thể tạo ra những vết sẹo, dính gây khó khăn cho sự thụ thai.

lac-noi-mac-tu-cung2

Nội mạc tử cung là lớp lót bên trong tử cung, lớp này thường bong ra khi hành kinh và được tái tạo lại sau khi sạch kinh. Nội mạc tử cung đóng vai trò như một tấm nệm giúp thai nhi nằm ở đó. Lạc nội mạc tử cung là sự di chuyển của nội mạc tử dung đến một nơi khác ngoài buồng tử cung. Hiện tượng này xảy ra là do máu kinh có lẫn những mảng nội mạc tử cung bong ra khi hành kinh chảy ngược trở lại, chúng có thể đi vào khoang bụng, bàng quang, trực tràng và có thể di chuyển đến buồng trứng. Tại những nơi này, nội mạc tử cung vẫn chịu ảnh hưởng của nội tiết tố sinh dục và tiếp tục phát triển.

Khi nội mạc tử cung phát triển trở lại sau khi hành kinh thì những mảnh nội mạc tử cung đi lạc cũng to ra, trương lên và chứa đầy máu, đây là nguyên nhân gây đau trước ngày hành kinh. Khi nội mạc tử cung chảy máu, các mảnh lạc này cũng chảy máu mà không có đường thoát ra, việc này khiến bạn cảm thấy đau dữ dội trong những ngày hành kinh. Máu ứ sẽ tạo thành một môi trường lí tưởng cho các vi khuẩn gây viêm nhiễm phát triển và gây dính các cơ quan này. Khi hết kinh, các mảnh lạc này tạo thành những mô sẹo, và đến chu kì kinh tiếp theo thì tình trạng cũ lại tái phát. Số lượng các mô lạc không có đường ra nên chỉ tăng lên chứ không giảm đi.

Căn bệnh này thường hay gặp ở người trẻ, bệnh thường gây đau vùng bụng dưới, đau khi giao hợp, đau trước và sau khi hành kinh. Ngoài ra nhhững người bị lạc nội mạc tử cung còn có thể gặp phải các vấn đề về tiêu hóa.

Theo H.Y

Điều quan trọng với sức khỏe chị em tuổi 30

Hãy thực hành theo 7 bí quyết sau đây để luôn khỏe mạnh và không còn lo lắng cho tình trạng sức khỏe tim mạch của mình khi bước sang tuổi 30 nhé.

Bước sang tuổi 30, cuộc sống ngày càng căng thẳng và phức tạp. Bạn đang trên đà thăng tiến trong sự nghiệp, có thể bạn đã có gia đình và con cái, hoặc bạn đang “sở hữu” một vài khoản vay và thế chấp… Để mọi thứ đi vào đúng quỹ đạo của nó, cuộc sống ngày càng tốt hơn… bạn sẽ phải dành nhiều thời gian trong ngày để lao động, làm việc…

121023afamilysk_30-2bc7d

Tất cả những điều đó đều có thể khiến bạn phải… đau đầu và căng thẳng.Căng thẳng lại làm tăng nguy cơ về các vấn đề tim mạch. Theo các chuyên gia y tế, con người có xu hướng mắc các bệnh tim mạch ngay từ những năm 30 tuổi. Vì vậy, việc loại bỏ nguy cơ tim mạch ngay ở độ tuổi này là hết sức cần thiết.

Hãy thực hành theo 7 bí quyết sau đây để luôn khỏe mạnh và không còn lo lắng cho tình trạng sức khỏe tim mạch của mình nhé.

1. Tránh căng thẳng

Vẫn biết rằng, loại bỏ căng thẳng trong công việc hay gia đình là điều không dễ dàng, nhưng hãy cố gắng thay đổi cách bạn xử lý chúng. Hãy gọi cho bạn bè để “buôn chuyện”. Có khi chỉ là những câu chuyện không đầu không cuối hoặc chuyện về bạn bè xưa cũ cũng có thể khiến bạn thư giãn hơn.

Bạn cũng có thể nghe nhạc hoặc làm món ăn mình thích. Nếu có nhiều thời gian hơn thì hãy đi chơi đâu đó cùng gia đình… Dù là dưới bất kỳ hình thức nào, nhưng các hoạt động này cũng là cách tốt nhất để giúp bạn xả stress và thư giãn.

2. Tập thể dục thường xuyên

Tập thể dục hàng ngày là một lựa chọn thông minh để có một trái tim khỏe mạnh, nhất là khi bạn đang bước vào độ tuổi 30 rồi. Tập thể dục có tác dụng thư giãn cơ thể và tinh thần, loại bỏ những căng thẳng và mệt mỏi, từ đó chắc chắn sẽ giúp lưu thông tốt hơn trong cơ thể. Điều này rất quan trọng vì nó sẽ giảm áp lực cho tim.

Chỉ cần 15-30 phút tập thể dục mỗi ngày là đã có lợi cho tim của bạn, đồng thời góp phần duy trì trọng lượng cơ thể khỏe mạnh, tăng khả năng miễn dịch và sức đề kháng cho cơ thể, phòng ngừa các bệnh phổ biến khác như cảm cúm, đau đầu…

3. Ăn uống lành mạnh

Cuối tuần thường là thời gian để gia đình, bạn bè bạn tụ tập, liên hoan. Đây cũng chính là thời điểm bạn quên mất việc phải ăn uống lành mạnh. Thay vào đó, bạn thường chọn những món ăn không tốt cho tim mạch (ví dụ như các món nướng, rán, nhiều cholesterol…).

Đừng quên quy tắc ăn uống lành mạnh cho dù đó là ngày thường hay cuối tuần nhé.

4. Ngủ ngon

Ngủ ít hơn 5 giờ một ngày có thể tăng nguy cơ bị đột quỵ hoặc các bệnh liên quan đến tim. Vậy thì hãy tạo cho mình thói quen ngủ ngon và duy trì thời gian ngủ ít nhất 7 tiếng/ngày ngay từ hôm nay nhé.

Thời gian đi ngủ và thức dậy cũng cần phải duy trì thống nhất hàng ngày để đồng hồ sinh học trong cơ thể bạn không bị ảnh hưởng, tránh làm thay đổi các hormone, dẫn đến có hại cho sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe của tim.

Để có giấc ngủ ngon, bạn cần tránh hút thuốc, uống rượu quá mức hoặc ăn các thực phẩm nhiều gia vị trước khi đi ngủ.

5. Ăn sáng là điều cần thiết

Không bao giờ bỏ bữa ăn sáng vì nó thực sự rất quan trọng cho sức khỏe của bạn nói chung và sức khỏe tim mạch nói riêng. Một bữa sáng đầy đủ không những cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể mà nó còn cung cấp calo cho các hoạt động, giảm thiểu tình trạng cơ thể phải lấy nguồn calo dự trữ, dẫn đến áp lực cho tim và các cơ quan nội tạng khác.

Một khi cơ thể bị thiếu năng lượng, tất cả các hoạt động của bộ máy sinh học bị ảnh hưởng và trì trệ, não không xử lý các sự kiện được hoạt bát, tim không được cung cấp đủ máu dẫn đến mệt mỏi…

6. Xem lại biện pháp tránh thai đang sử dụng

Các biện pháp tránh thai như thuốc uống và miếng dán được khuyến cáo không dành cho những chị em có huyết áp cao hoặc tiền sử gia đình có người mắc bệnh tim. Vì hai biện pháp này có thể làm trầm trọng thêm bất kì dấu hiệu nào của bệnh tim hoặc huyết áp. Do đó, hãy nói chuyện với bác sĩ phụ khoa ctrước khi sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào nhé.

7. Hạn chế ăn đường và lượng muối

Lượng đường có thể làm tăng lượng cholesterol trong cơ thể và muối có thể gây ra huyết áp cao. Bạn không cần phải tránh muối và đường hoàn toàn, nhưng hạn chế ăn chúng hàng ngày cũng là một cách rất tốt để tránh tình trạng huyết áp cao, từ đó cũng tránh được các vấn đề về tim.

Theo – aFamily