Tag Archives: sức khỏe mỗi ngày

Bổ sung chất canxi đúng cách và hiệu quả

Canxi là khoáng chất thiết yếu cho cơ thể, cung cấp đủ canxi giúp cơ thể khỏe mạnh và phát triển chiều cao. Việc bổ sung canxi phụ thuộc vào nhu cầu của từng độ tuổi và bảo đảm được bổ sung kèm lượng vitamin D cần thiết thì cơ thể mới hấp thu tốt chất này. Vậy bổ sung canxi thế nào cho đúng cách?

Có nhiều trong thực phẩm

Phương pháp bổ sung canxi hiệu quả nhất chính là thông qua các loại thực phẩm thiên nhiên đầy đủ dinh dưỡng và thông qua món ăn bổ dưỡng nhất dành cho trẻ là sữa mẹ.

bo-sung-canxi-dung-cach-tot-cho-co-the

Canxi có thể được nạp vào cơ thể bằng bữa ăn hàng ngày thông qua một số loại thực phẩm như: Các món hải sản gồm tôm, cua, sò, cá…; các loại rau gồm rau diếp, bắp cải, cải xoăn, cần tây… giúp tăng cường sức khỏe xương. Vitamin K trong rau xanh là yếu tố hình thành của osteocalcin, giúp tích tụ canxi vào xương. Tuy nhiên, khó có thể cân đong đo đếm chính xác hàm lượng canxi nạp vào từ những bữa ăn cũng như phải cân bằng các nhóm chất khác trong khẩu phần. Thông thường, cơ thể chỉ nạp khoảng 20% lượng canxi qua thức ăn, còn lại sẽ bài tiết ra ngoài. Ngoài ra, nên bổ sung canxi từ sữa, sữa chua, các chế phẩm của sữa để giúp phát triển chiều cao.

Cũng như sữa, sữa chua có thể cung cấp canxi và vitamin D cùng những dưỡng chất thiết yếu khác. Trung bình trong hộp 100mg sữa chua có khoảng 110mg canxi. Bên cạnh đóng vai trò cung cấp canxi cho cơ thể, sữa chua còn giúp cân bằng hàm lượng dinh dưỡng giúp phát triển tốt hơn. Vitamin D trong sữa chua cũng giúp canxi được hấp thụ tốt hơn cho cơ thể. Để giúp cơ thể hấp thụ tối đa lượng canxi trong sữa chua, nên ăn sữa chua  trước khi đi ngủ.

Không tự ý bổ sung canxi bằng thuốc

Mặc dù có nhiều trong thực phẩm nhưng đối với một số đối tượng có nhu cầu canxi lớn như trẻ em, phụ nữ mang thai, người cao tuổi… thì phải bổ sung thêm. Việc thiếu canxi khá nguy hiểm đối với cơ thể. Trẻ em thiếu canxi không chỉ bị còi xương, chậm tăng chiều cao mà còn bị còi cọc, khóc đêm, hay giật mình khóc thét, đổ mồ hôi trộm… Người lớn thiếu canxi thì bị loãng xương, gai cột sống, gai gót chân, hạ canxi máu. Hạ canxi máu không chỉ gây cảm giác lo âu, mệt mỏi, bị chuột rút, co giật toàn thân mà còn khiến người bệnh bị khó thở, ngất xỉu.

Tuy nhiên, không được bổ sung canxi một cách tùy tiện. Việc uống canxi với liều lượng cao, quá lâu có thể dẫn đến sỏi thận, vôi hóa động mạch. Một số người trung niên thường tự ý bổ sung canxi mà không tuân theo hướng dẫn của thầy thuốc nên thường bị quá liều. Khi quá tải canxi, người bệnh thường khát nước, đi tiểu nhiều, buồn nôn, rối loạn nhịp tim. Nếu gặp các biểu hiện như vậy, người dùng nên dừng uống canxi và đi khám bác sĩ để được điều trị.

Nếu cần phải bổ sung canxi

– Nên uống canxi vào buổi sáng, sau bữa ăn khoảng 1 giờ, vì ánh nắng có thể làm tăng khả năng hấp thụ canxi. Dùng canxi làm nhiều lần trong ngày.

– Không ăn quá mặn vì có thể tăng thải canxi qua nước tiểu.

– Không uống canxi cùng với sữa và các chế phẩm của sữa.

– Không nên uống chung canxi với sắt cũng như một số khoáng chất khác như kẽm, đồng… cùng một lúc mà nên tách ra sáng, chiều, tối…

– Hạn chế sử dụng thuốc lá và rượu vì sử dụng hai thứ này cũng khiến cơ thể khó hấp thu canxi.

BS. Lê Hải

Theo SKDS

Ngủ trưa đúng cách

Theo Viện Nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ Quốc gia của Pháp về theo dõi giấc ngủ cho biết, giấc ngủ trưa luôn mang lại cho bạn cảm giác nghỉ ngơi thật sự.

Cho dù bận rộn bạn cũng nên dành 20-40 phút để ngủ trưa. Việc này sẽ mang lại nhiều lợi ích sức khỏe cho bạn như tăng năng suất làm việc, giảm mức độ căng thẳng, cải thiện kết quả học tập, ổn định nhịp tim tốt hơn… Hoặc trong ngày, khi bạn cảm thấy rất buồn ngủ, hai mí như sụp xuống, màn hình máy tính mờ đi… thì nên dành một vài phút để chợp mắt (nếu không ảnh hưởng đến công việc). Một giấc ngủ chợp mắt sẽ có nhiều tác dụng giúp bạn tỉnh táo, tăng sự tập trung và lấy lại năng lượng nhanh chóng hơn rất nhiều so với uống cà phê, rửa mắt nước lạnh…

ngu-trua

Những lợi ích của giấc ngủ trưa bao gồm:

– Giảm mức độ căng thẳng: Một giấc ngủ ngắn sẽ giảm đáng kể mức độ căng thẳng của bạn và làm cho bạn giảm cả sự khó chịu, tức giận vì khi ngủ, hormone serotonin được sản sinh ra làm dịu thần kinh của bạn và mang lại cho bạn sự sảng khoái về tinh thần.

– Tăng năng suất và hiệu quả làm việc: Ngủ trưa dễ dàng giúp bạn lấy lại năng lượng cho cơ thể, loại bỏ căng thẳng và mệt mỏi. Nhờ tác dụng giảm căng thẳng, đầu óc bạn có thể tập trung tốt hơn. Nhờ đó, hiệu quả làm việc cũng tăng lên rõ rệt.

– Cải thiện bộ nhớ: Ngủ trưa có thể làm giảm tình trạng quá tải thông tin trong não bộ của bạn. Do đó, não còn nhiều “không gian” hơn cho những thông tin mới cần được xử lý. Từ đó, bộ nhớ của bạn cũng được cải thiện đáng kể.

– Tốt cho sức khỏe của tim: Ngủ trưa làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tim và bệnh tim mạch bằng cách giảm mức độ căng thẳng trong cơ thể.

– Tăng khả năng nhận thức: Những người thường xuyên ngủ trưa hoặc ngủ chợp mắt sẽ có trí não làm việc nhạy bén hơn nên sẽ nghĩ nhanh và hiệu quả hơn. Nhờ đó, hoạt động nhận thức sẽ được cải thiện đáng kể hơn.

Theo thông tin trên tờ Huffington Post, một giấc ngủ trưa tuyệt vời là khoảng từ 20-30 phút. Sau khi thức dậy, bạn sẽ cảm thấy năng lượng phục hồi nhanh chóng và có thể tỉnh táo bắt tay vào công việc ngay. 30 phút đầu tiên của giấc ngủ trưa, bạn có thể đạt tương đương khoảng 60 phút của giấc ngủ về đêm. Nguyên nhân do giấc ngủ luôn có tương ứng với nhu cầu trạng thái sinh lý của cơ thể và luôn cần thiết cho những chức năng khác nhau của cơ thể. Bạn không nên ngủ trưa tới 60 phút vì nếu ngủ lâu hơn nữa dễ khiến bạn rơi vào trạng thái đờ đẫn khi phải thức dậy để làm việc tiếp.

Nguồn gia đình

Những việc cần làm để khỏe mỗi ngày

Nó cũng giống như đồng hồ sinh học phải hoạt động “chuẩn” thì cơ thể mới sản xuất được một số hormone, các hóa chất có tác dụng đốt cháy năng lượng và calo một cách nhanh chóng.

Dưới đây là 8 thời điểm cần chú ý nhất trong ngày:

7:00 giờ sáng: Ăn sáng

Bữa sáng bạn nên ăn đồ ăn chứa nhiều protein vì protein là chất dinh dưỡng giúp bạn no lâu lại cung cấp nhiều calo cho hoạt động trong ngày. Tiến sĩ Heather Leidy, người dẫn đầu một nghiên cứu tại Đại học Missouri (Columbia, Mỹ) cho biết rằng một bữa sáng giàu protein làm giảm cơn thèm và ăn quá nhiều trong các bữa ăn tiếp theo.

Bữa sáng bạn có thể ăn trứng, 1-2 quả.

12:00 giờ trưa: Uống cà phê

nhung-viec-can-lam-de-khoe-moi-ngay

Nhâm nhi một tách cà phê với bữa ăn trưa có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Hơn nữa, uống cà phê giờ này cũng không mấy ảnh hưởng đến giấc ngủ của bạn vào buổi tối.

Trả lời trên tạp chí nghiên cứu Dinh dưỡng lâm sàng của Mỹ, các chuyên gia cho rằng hợp chất trong cà phê có thể giúp điều chỉnh lượng đường trong máu của cơ thể.

3:30 giờ chiều: Ăn đồ ăn nhẹ

Một vài chiếc bánh quy vào buổi chiều sẽ giúp bạn không còn bị đói cồn cào trước bữa ăn tối. Trong thực tế, những người thường xuyên ăn đồ ăn nhẹ vào buổi chiều có thể giảm 11% trọng lượng cơ thể trong một năm trong khi những người ăn đồ ăn này vào buổi sáng chỉ giảm được 7%.

5:00 giờ chiều: Đi bộ

Thời điểm này là tốt nhất cho việc tập thể dục hoặc đi bộ. Vì lúc này, nhiệt độ trong cơ thể bạn đang ở mức cao nên việc vận động sẽ dễ dàng đốt cháy nhiều calo và chất béo hơn.

6:00 giờ chiều: Ăn tối

Một ly rượu vang với một bữa ăn tối lành mạnh sẽ giúp cơ thể bạn lấy lại được năng lượng và sức khỏe sau một ngày làm việc vất vả.

Lưu ý, bạn không nên ăn quá nhiều, cũng không nên uống rượu mạnh vì rượu mạnh có thể làm suy giảm khả năng tự kiềm chế của bạn, dẫn tới ăn nhiều hoặc không điều khiển được tâm trạng của mình.

7:00 giờ tối: Sum họp gia đình

Đây là thời điểm mà chị em phụ nữ cảm thấy hạnh phúc nhất. Vì vậy, thời điểm này nên dành cho việc sum họp gia đình, cùng xem tivi, chuyện trò… là rất hợp lý.

9:30 giờ tối: Chữa đau nhức

Cảm giác đau hoặc khó chịu là nguyên nhân làm thay đổi sóng não của bạn, khiến cho bạn khó ngủ. Nếu phải dùng đến thuốc bôi hoặc thuốc uống giảm đau vào buổi tối thì bạn hãy chọn thời điểm này để thực hiện nhé.

Nên bôi hoặc uống ít nhất 30 phút trước khi đi ngủ, nhưng cần tránh các thuốc có chứa caffein.

10:00 giờ tối: Đi ngủ

Đây được coi là thời điểm tái tạo lại cơ thể. Khi bạn ngủ, da của bạn được tái tạo lại, các tế bào da được cung cấp collagen và elastin để giữ cho da căng và khỏe mạnh.

Chính vì vậy mà đây là phương pháp điều trị chống lão hóa đơn giản, rẻ tiền nhất nhưng cũng không kém phần hiệu quả.

Theo giáo dục

Hội chứng mệt mỏi mãn tính

Nguyên nhân của hội chứng mệt mỏi mãn tính là không rõ, mặc dù có nhiều giả thuyết – từ nhiễm virus đến tâm lý căng thẳng. Một số chuyên gia tin rằng hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể được kích hoạt bởi một sự kết hợp của các yếu tố.

Triệu chứng

Hội chứng mệt mỏi mãn tính thường được biểu hiện các triệu chứng như: Mất trí nhớ hoặc mất tập trung; Đau họng không rõ căn nguyên; Hạch to ở cổ hoặc nách; Đau cơ không rõ nguyên nhân; Đau di chuyển từ một phần khác mà không sưng hoặc tấy đỏ; Đau đầu từ nhẹ đến nghiêm trọng; Rối loạn giấc ngủ; Cực kỳ mệt mỏi kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần.

Mệt mỏi có thể là một triệu chứng của nhiều bệnh, chẳng hạn như nhiễm trùng hoặc rối loạn tâm lý. Nói chung nên đến gặp bác sĩ nếu bạn có mệt mỏi dai dẳng hoặc quá mức.

hoi-chung-met-moi-man-tinh

Nguyên nhân

Các nhà khoa học không biết chính xác những gì gây ra hội chứng mệt mỏi mãn tính. Một số trong những yếu tố đã được nghiên cứu bao gồm:

Nhiễm virus: Hội chứng mệt mỏi mãn tính sau khi bị nhiễm virus. Virus nghi ngờ đã bao gồm Epstein-Barr, herpesvirus…

Rối loạn hệ thống miễn dịch: Các hệ thống miễn dịch của người có hội chứng mệt mỏi mãn tính bị suy giảm sau khi bị nhiễm trùng, sau khi rối loạn về tâm lý, rối loạn dinh dưỡng,…

Sự mất cân bằng nội tiết tố: Hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể có bất thường hormon được tiết ra từ vùng dưới đồi, tuyến yên hoặc tuyến thượng thận.

Rối loạn giấc ngủ: Mệt mỏi mãn tính có thể được gây ra bởi rối loạn giấc ngủ. Rối loạn giấc ngủ kéo dài lại gây ra mệt mỏi mạn tính.

Vấn đề y tế: Mệt mỏi là một triệu chứng phổ biến trong một số bệnh lý như chẳng hạn như thiếu máu, tiểu đường và tuyến giáp (hypothyroidism).

Các vấn đề sức khỏe tâm thần: Mệt mỏi cũng là một triệu chứng của một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt.

Yếu tố nguy cơ

Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ của hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm:

Tuổi: Hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường ảnh hưởng đến những người ở độ tuổi 40 và 50.

Quan hệ tình dục không thỏa mãn: Phái nữ được chẩn đoán mắc hội chứng mệt mỏi mãn tính nhiều hơn là nam giới,

Lối sống: Những người thừa cân và không hoạt động có nhiều khả năng phát triển hội chứng mệt mỏi mãn tính. Căng thẳng cũng dường như là một yếu tố.

Biến chứng

Biến chứng của hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm: trầm cảm; sống cô lập; hạn chế lối sống; giảm năng suất làm việc

Khám và chẩn đoán

Không có cách khám duy nhất nào để xác định chẩn đoán hội chứng mệt mỏi mãn tính. Cần phải khám sức khỏe tổng quát, khám lâm sàng và sẽ hướng đến chẩn đoán mệt mõi mãn tính sau khi đã loại hết các bệnh lý khác.

Nhưng chú ý, hội chứng này có nhiều triệu chứng sẽ đan chéo tạo vòng luẩn quẩn trong chẩn đoán, có thể là triệu chứng chính hoặc có thể là hậu quả của triệu chứng khác, do đó bác sĩ có nhiều kinh nghiệm sẽ chẩn đoán chính xác hơn.

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Để đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng mệt mỏi mãn tính và mệt mỏi phải kéo dài trong sáu tháng hoặc hơn, cùng với ít nhất bốn trong những dấu hiệu và triệu chứng sau đây: mất trí nhớ hoặc mất tập trung; đau họng không rõ căn nguyên; hạch to ở cổ hoặc nách của bạn; đau cơ không rõ nguyên nhân; đau di chuyển từ một phần khác mà không sưng hoặc tấy đỏ; đau đầu từ nhẹ đến nghiêm trọng; rối loạn giấc ngủ; cực kỳ mệt mỏi kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị hội chứng mệt mỏi mãn tính tập trung vào giảm triệu chứng. Có thể tập trung cắt đứt một triệu chứng nào nặng nhất trước.

Thuốc chống trầm cảm: Nhiều người có hội chứng mệt mỏi mãn tính cũng bị trầm cảm. Điều trị trầm cảm của bạn có thể làm cho nó dễ dàng hơn để bạn có thể đối phó với những vấn đề liên quan với hội chứng mệt mỏi mãn tính. Và liều thấp của một số thuốc chống trầm cảm cũng có thể giúp cải thiện giấc ngủ và giảm đau.

Thuốc ngủ: Nếu các biện pháp nhẹ như tránh caffeine, rượu không giúp cải thiện giấc ngủ tốt hơn thì cần uống thuốc ngủ theo toa.

Tập thể dục: Tập thể dục đều đặc và vừa sức là liều thuốc không thể thiếu. Cường độ tăng dần theo thể trạng của mỗi người.

Tư vấn tâm lý: Nói chuyện với một bác sĩ tâm lý để giải tóa về mặt tâm lý để lấy lại thăng bằng trong cuộc sống.

Giảm bớt căng thẳng: Thư giãn, nghỉ ngơi.

Cải thiện thói quen ngủ: Đi ngủ và thức dậy vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Hạn chế  cà phê, rượu và thuốc lá.

Làm việc khoa học.

Thuốc thay thế

Bổ sung các loại vitamin và vi lượng cần thiết cho cơ thể.

Bổ sung các thiếu sót về nội tiết tố cần thiết.

Nguồn báo đất việt

Mẹo vặt tăng cường sức khỏe cho dân văn phòng

Chỉ cần một chút cựa quậy hay duỗi chân tay trên ghế cũng đủ giúp những người phải ngồi nhiều kéo dài được tuổi thọ, các bác sĩ tuyên bố.

Việc ngồi quá lâu tại chỗ hoặc dành thời gian cho các việc tĩnh tại như xem tivi hay làm việc trên máy tính có thể rút ngắn tuổi thọ của bạn, và làm gia tăng các nguy cơ như bệnh tim và đột quỵ.

Tuy vậy, chỉ cần làm ngắt quãng khoảng thời gian “ngồi đồng” này bằng những hoạt động đơn giản như đứng lên đi bộ hoặc duỗi chân tay – thậm chí chỉ 1 đến 2 phút mỗi lần – cũng có thể làm giảm thiểu tác dụng có hại, và mang lại sức khỏe tổng thể tốt hơn cho bạn.

meo-vat-tang-cuong-suc-khoe-cho-dan-van-phong

Tới nay, các bác sĩ vẫn khuyến cáo rằng mọi người nên vận động vừa phải hoặc vận động mạnh hơn 150 phút mỗi tuần để cơ thể khỏe mạnh, song nghiên cứu mới đây cho thấy những vận động nhẹ nhàng hơn nhiều cũng mang lại lợi ích.

Đó có thể là đứng lên và lắc lắc cổ chân, đu đưa thân mình theo điệu nhạc hoặc đi bộ vài vòng quanh nhà khi quảng cáo đang chen giữa bộ phim.

Tiến sĩ Wilby Williamson, chuyên gia về thể thao và y học thể dục (Anh), cho biết: “Mọi người thường xem tivi liên tục vài tiếng mỗi ngày và dành 60-70% thời gian trong tư thế tĩnh tại, là do lối sống và nghề nghiệp. Việc giảm thời gian ngồi sẽ giúp chúng ta tiêu tán được đường và mỡ trong cơ thể, từ đó làm giảm nguy cơ các bệnh về chuyển hóa như tiểu đường và bệnh tim mạch”.

Tiến sĩ cũng khuyên mọi người không nên ngồi quá lâu giữa các lần, mà hiệu quả nhất nên đứng lên vận động sau mỗi 20-30 phút.

Theo VNE

Những bí quyết tự chăm sóc sức khỏe

Muốn khỏe mạnh, hãy học cách tự chăm sóc chính mình. Dưới đây là những bí quyết tự chăm sóc sức khỏe mà bạn nên biết.

Tạo không khí vui vẻ là một trong những cách tốt để chăm sóc sức khỏe cho chính mình.

1. Nên tắm nước ấm trước khi đi ngủ khoảng 2 tiếng

Giấc ngủ thường đến khi nhiệt độ cơ thể xuống thấp hơn bình thường một chút. Việc tắm nước nóng làm tăng nhiệt độ cơ thể, trì hoãn não tiết ra hormone gây buồn ngủ. Do đó, bạn nên tắm bằng nước ấm trước khi đi ngủ khoảng 2 giờ để không ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ.

nhung-bi-quyet-tu-cham-soc-suc-khoe

2. Nên tập thể dục ngoài trời

Phòng tập thể dục là nơi chứa nhiều loại vi khuẩn, vi sinh độc hại trên các tay cầm thiết bị, trên sàn tập. Bạn chỉ có thể tránh được chúng khi phải rửa tay thường xuyên, thay tất hàng ngày, rửa sạch thiết bị trước và sau tập, đi dép trong phòng tập. Đơn giản hơn là tập ngoài trời, bạn sẽ tránh được các phiền phức đó. Nên nhớ, không khí trong nhà cũng ô nhiễm gấp 2-5 lần ngoài trời.

3. Uống đủ lượng nước Không hẳn cứ uống nước càng nhiều càng tốt. Cơ thể bạn là một hệ thống cân bằng, thận chỉ có thể thải ra 800-1000 ml nước/giờ. Trong 1 giờ, nếu uống nước quá 1000ml sẽ gây ra triệu chứng hạ natri máu.

4. Đừng uống cà phê, hút thuốc khi mệt mỏi

Khi cơ thể vô cùng mệt mỏi, bạn đừng uống cà phê hay hút thuốc để giúp tỉnh táo, nếu không sẽ gây tổn hại không thể cứu vãn cho hệ thống huyết quản, đánh trống ngực, lo âu chính là các triệu chứng nghiêm trọng. Đặc biệt vừa uống cà phê vừa hút thuốc khi mệt mỏi không chỉ tổn hại gấp đôi cho cơ thể mà hương vị và thành phần độc đáo của cà phê còn làm gia tăng cơn thèm thuốc của bạn.

5. Khi uống thuốc nhất định phải cai rượu

Đang uống thuốc nhất định phải cai rượu, ngay cả khi bạn chỉ uống thuốc cảm, vitamin… Bởi vì rượu không chỉ ảnh hưởng tới tác dụng của thuốc mà còn gây ra vô số tác dụng phụ, có thể phản ứng với thuốc tạo thành chất độc.

6. Dùng nước ấm để rửa mặt

Nên dùng nước ấm để rửa mặt, đừng dùng nước lạnh, nếu không các lỗ chân lông bị kích thích sẽ đột ngột thu hẹp lại, vi khuẩn trong đó sẽ không thể kịp thời đẩy ra ngoài, sẽ gây ra mụn trứng cá. Cũng đừng dùng nước quá nóng để rửa mặt nếu không da mặt sẽ nhanh chóng giãn nở, dễ làm xuất hiện nếp nhăn sớm.

7. Bổ sung canxi đầy đủ

Hậu quả của việc thiếu canxi không chỉ gây chuột rút, hay quên, mơ màng, mất ngủ cũng đều là tác dụng phụ của việc thiếu canxi. Bởi vì thiếu canxi sẽ ảnh hưởng tới sự trao đổi chất bình thường của các tế bào thần kinh. Thực phẩm tốt nhất để bổ sung canxi cho não là các loại đậu như đậu nành, đậu phụ…, nhưng hiệu quả của sữa đậu nành lại không hẳn tốt bởi vì trong sữa đậu nành có chứa một lượng nhỏ lactose, sẽ ảnh hưởng tới vai trò của canxi trong não.

8. Hãy giữ tâm trạng vui vẻ

Tâm trạng xấu là nguồn lây bệnh đáng sợ hơn cả những con virus khỏe mạnh! 80% bệnh thực ra đều là do sự chấn động thần kinh gây ra, đặc biệt là bệnh về đường tiêu hóa và bệnh về da, bạn có thể gặp các triệu chứng như ăn quá nhiều do tâm trạng xấu, tiêu chảy hoặc da bị dị ứng.

9. Đừng bỏ hẳn chất béo trong thực phẩm

Trước hết, chất béo trong thực phẩm sẽ không chuyển hóa toàn bộ thành chất béo trong cơ thể bạn; Thứ hai, chất béo trong thực phẩm vô cùng quan trọng đối với hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể, bởi vì mỗi ngày bạn cần 25% – 35% năng lượng đến từ chất béo. Cuối cùng, nạp vừa đủ chất béo trái lại có thể tạo cảm giác no, ngăn cản bạn ăn quá nhiều.

10. Đừng để điện thoại trên giường

Điện thoại di động còn được biết đến như một “kẻ quấy phá giấc ngủ” nếu bạn đặt nó ở cạnh giường của mình. Điều này được lý giải là do bức xạ từ sóng điện thoại hoạt động 24/24 nên trong khi bạn nằm ngủ, các bức xạ này vẫn tác động lên hệ thống thần kinh khiến bạn trở nên căng thẳng hơn nên khó lấy được trạng thái thư giãn để đi vào giấc ngủ. Vì thế bạn sẽ phải mất nhiều thời gian hơn “đầu tư” cho việc ngủ.

Nguồn Sức khỏe đời sống

Tác dụng tuyệt vời của việc ngâm chân hàng ngày

 Ngâm chân có nhiều lợi ích cho sức khỏe như giảm mệt mỏi, giúp ngủ ngon, giảm đau đầu… Các cách ngâm chân không giống nhau sẽ mang lại hiệu quả khác nhau.
Đôi chân được coi đó là trái tim thứ 2 của con người, vì thế Đông y rất coi trọng việc tập luyện và chăm sóc đôi chân, đồng thời còn mát xa chân bằng nước nóng để phòng ngừa bệnh tật. Ngâm chân không chỉ thúc đẩy lưu thông máu trong cơ thể, điều chỉnh hệ thống nội tiết, mà còn tăng cường miễn dịch. Đây là phương pháp thư giãn vừa thoải mái vừa tốt cho sức khỏe.

Có rất nhiều phương pháp ngâm chân, các cách ngâm chân không giống nhau sẽ mang lại hiệu quả khác nhau. Dưới đây là những phương pháp ngâm chân giúp giữ ấm và phòng bệnh trong mùa đông.

1. Ngâm chân bằng nước nóng giúp giảm đau đầu

Ngâm chân trong nước nóng ở nhiệt độ khoảng 40℃, sau 15 đến 20 phút cơn đau đầu sẽ giảm đi đáng kể. Ngâm chân bằng nước nóng giúp bàn chân và mạch máu được giãn nở bởi nhiệt, máu sẽ lưu thông từ đầu xuống dưới bàn chân, nên có tác dụng giảm áp lực mạch máu ở đầu.
ngam-chan
Do dưới gan bàn chân có liên kết với các bộ phận của cơ thể, kể cả đầu nên mát xa gan bàn chân có thể kích thích kinh lạc, giảm đau đầu. Đặc biệt là huyệt Thông tuyền dưới gan bàn chân, thẳng tới não, mát xa huyệt này có thể dẫn máu xuống, giảm đau đầu.

2. Xông hơi chân bằng thảo dược giúp phòng và trị bệnh

Theo Đông y, cảm lạnh chủ yếu là do thời tiết bên ngoài, chức năng phổi bị rối loạn gây ra. Loại nước thuốc dùng để ngâm chân được bào chế từ nhiều loại thảo mộc như ngải cứu, lá lốt, thiên niên kiện, quế khấu…

Khi trải qua quá trình đun nấu, các hoạt chất có trong dược liệu sẽ hòa tan trong nước hoặc tỏa ra hơi, tác động trực tiếp lên da và niêm mạc, hoặc ngấm vào trong niêm mạc phát huy tác dụng tốt cho cơ thể như cải thiện tuần hoàn máu, tăng cường khả năng miễn dịch, tiêu viêm, kháng khuẩn, rút ngắn thời gian điều trị bệnh, giảm biến chứng và phòng ngừa bệnh cảm lạnh tái phát.

3. Ngâm chân bằng giấm loại bỏ mùi hôi chân

Những người bị hôi chân, hãy cho thêm chút giấm vào nước ngâm chân. Cách này không chỉ có thể loại bỏ mà còn ngăn chặn mùi hôi chân hiệu quả.

Ngoài ra, ngâm châm với dấm còn có tác dụng giảm mệt mỏi, giúp bạn ngủ nngon. Chỉ cần dùng 40g dấm gạo (dấm trắng) pha với nước ấm rồi ngâm chân trong vòng 15- 20 phút có tác dụng làm tăng sự tuần hoàn máu trong cơ thể, giảm thiểu mệt mỏi, giúp giấc ngủ tốt hơn, rất hữu hiệu trong việc chữa mất ngủ.

4. Ngâm chân giúp giảm mệt mỏi, ngủ ngon

Cách này rất hiệu quả. Nếu có một loạt triệu chứng khó chịu như ngủ không ngon, tinh thần uể oải, chán ăn, tâm lý bất an, có thể ngâm chân trong nước nóng khoảng 30 phút, sau đó chà xát lòng bàn chân 10 – 20 phút cho đến khi cảm thấy nóng, sẽ cảm thấy tinh thần sảng khoái, toàn thân được thư giãn.

Ngoài ra, cho thêm vài viên đá cuội trong chậu nước nóng có thể nâng cao hiệu quả ngâm chân, thúc đẩy đả thông kinh mạch, mang lại hiệu quả ổn định tinh thần, tốt cho tim thận và cải thiện giấc ngủ.

Những lưu ý khi ngâm chân

– Nhiệt độ nước ngâm chân là 38 – 43 độ, nhưng tốt nhất đừng vượt quá 45 độ.

– Thời gian ngâm không quá lâu, khoảng 15 – 30 phút là đủ. Khi ngâm mạch máu sẽ dẫn xuống chân, não bộ dễ cung cấp thiếu máu.

– Ngâm chân cho đến khi cơ thể phát nóng, đổ mồ hôi nhẹ là được.

– Thời gian ngâm chân tốt nhất là 5 – 7h tối, bởi vì đây là lúc thận hoạt động mạnh nhất.

– Sau khi ăn một tiếng không nên ngâm chân. Sau khi ăn cơ thể chuyển phần lớn máu về đường tiêu hóa, nếu ngâm chân bằng nước nóng ngay sau khi ăn, số máu vận chuyển đến được tiêu hóa sẽ chuyển xuống chân, lâu dần sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa và hấp thụ và gây thiếu dinh dưỡng.

– Khi xông hơi bằng thảo dược tốt nhất nên dùng bồn gỗ. Bởi vì thành phần hóa học của các loại bồn kim loại không ổn định, dễ xảy ra phản ứng với axit tannic trong thảo dược, sinh ra các chất có hại như …, khiến hiệu quả trị liệu của thảo dược bị suy giảm.

– Ngâm chân quan trọng phải kiên trì.

Nguồn ttvn

Nhận biết các biểu hiện của trầm cảm

”Nếu bạn đang ở vào thời điểm mà bạn nghĩ rằng mình cần có 1 liệu pháp hỗ trợ thì rất có thể bạn đang bị trầm cảm”, Tracey Lipsig Kite, một chuyên gia liệu pháp tâm lý Mỹ, cho biết.

Nhiều người bị trầm cảm bị cơ và đau khớp, đau đầu và mệt mỏi Biểu hiện của trầm cảm Trầm cảm là một bệnh kết hợp của những cảm xúc đặc trưng: buồn bã, sự thờ ơ, cảm giác vô dụng và đánh mất đi sự quan tâm đối với các hoạt động xã hội. Những cảm giác này có thể kéo dài đến 2 tuần hoặc tiếp tục trong nhiều năm sau. Sự khác nhau giữa sự chán nản và bệnh trầm cảm là sự kéo dài và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng.

tram-cam_16-26910

Trầm cảm không có nghĩa là lúc nào cũng có những cảm xúc tồi tệ. “Dễ cáu kỉnh là một trong những triệu chứng điển hình của trầm cảm”, ông Rakesh Jain, MD, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu lâm sàng (Texas, Mỹ), nói. Các bác sĩ cũng thường bỏ qua các biểu hiện thể chất trong khi đó 67-69% người bị trầm cảm bị đau cơ, khớp, đau đầu và mệt mỏi. Sharon Charles Haznedar, Giám đốc hành chính Các dịch vụ y tế công New York cho biết trầm cảm là căn bệnh âm thầm và thường làm cho nạn nhân không thể yêu cầu sự giúp đỡ. “Tôi đã từng gặp những bệnh nhân nói rằng họ cần có 1 kế hoạch để đi qua 1 căn phòng”. “Trầm cảm rút cạn năng lượng của một người. Việc đi khám, tìm hiểu về lịch khám và điền thông tin vào tờ đơn có thể là rất khó khăn khi bạn bị trầm cảm”. Sự khác nhau về giới tính trong trầm cảm Phụ nữ mắc trầm cảm cao gấp đôi nam giới.

Tuy nhiên, nam giới thường có xu hướng tự tử do bệnh nặng hơn. Trầm cảm sinh ra trầm cảm Như một vết thương hở hay gãy xương, trầm cảm không thể tự khỏi. Một nửa số người có biểu hiện trầm cảm đã không uống thuốc chống trầm cảm sẽ dễ tái hơn. Và sự tái phát lần 2 sẽ làm tăng nguy cơ của lần 3. Và sau 3 lần bị trầm cảm mà không uống thuốc sẽ có tới 90% nguy cơ tái phát ở lần thứ 4. Và cứ như vậy, những lần tái phát sau sẽ nặng và thường xuyên hơn. Vậy nên nếu nghĩ mình bị trầm cảm thì cần đi khám ngay.

Theo dantri/Health

Vòng quanh thế giới học cách chăm sóc sức khỏe

 Tăng gia vị như người Mexico

Những thực phẩm cay vừa phải thực sự tốt cho sức khỏe của bạn cũng như giúp bạn giảm cân. Vì thế, hãy tạo nguồn cảm hứng từ những người dân Mexico và sử dụng nhiều loại gia vị hơn trong cách chế biến món ăn hàng ngày.

Lưu ý: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nghệ có thể làm chậm quá trình phát triển bệnh Alzheimer, ớt làm tăng sự trao đổi chất của bạn và giúp bạn giảm cân nhanh hơn bằng cách làm cho bạn ăn từ từ để não bộ có thêm thời gian nhận biết cơ thể đã hấp thu đủ.

Ngủ giấc ngắn như người Tây Ban Nha

ngu

Tây Ban Nha nổi tiếng với việc có giấc ngủ trưa thường xuyên và Nhật Bản cũng đang có xu hướng thỏa thích tận hưởng những giấc ngủ ngắn ngay tại nơi làm việc để tăng năng suất lao động. Các chuyên gia từ lâu đã cho rằng, ngủ đầy đủ không chỉ giảm mức độ căng thẳng, cải thiện trí nhớ mà còn giúp bạn giảm cân và sống lâu hơn.

Lưu ý: Một nghiên cứu đã chứng minh ngủ trưa 4 lần/ tuần, mỗi lần khoảng 20 – 30 phút có tác dụng giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim.

Ăn nhiều cá hơn như người dân Iceland và Nhật Bản

Trong khi nhiều người không hề băn khoăn khi ăn thịt đỏ (mặc dù nó gây ra bệnh tim) thì họ không hề nhận ra rằng nguồn protein lành mạnh có rất nhiều trong hải sản các loại. Chế độ ăn của người Iceland và Nhật Bản luôn có cá vì chúng có những đặc tính có lợi cho sức khỏe.

Lưu ý: Một chế độ ăn bao gồm các loại cá có chứa nhiều Omega-3 được biết đến với tác dụng giảm cơ hội mắc chứng rối loạn thần kinh kéo dài.

Sử dụng các nguyên liệu tươi như người dân Nhật Bản, Nga và Italia

trai-cay

Trong khi các loại thực phẩm đã qua chế biến dường như là một giải pháp nhanh chóng và thuận tiện thì chúng cũng chứa đầy các chất phụ gia có hại và nhiều muối, đường.

Vì thế, lời khuyên của các chuyên gia sức khỏe là nên noi gương những người dân Nhật Bản, Nga và Italy, những người thích ăn thực phẩm tươi theo mùa. Điều đó sẽ mang lại điều kỳ diệu cho sức khỏe của bạn.

Lưu ý: Hãy tập thói quen đi chợ thường xuyên để mua trái cây và rau củ tươi. Đồng thời lên thực đơn cả tuần để không lãng phí thời gian nghĩ món ăn từng bữa.

Ăn không bị phân tâm như người Pháp và Italy

Cho dù ăn một mình hoặc với một người nào đó thì bạn cũng nên tránh xa TV và điện thoại di động. Bên cạnh đó, bạn không bao giờ nên ăn vội vàng. Hãy ăn như người Pháp và Italy – những người muốn thực sự được thưởng thức những bữa ăn của họ.

Lưu ý: Hãy chú ý đến những gì bạn ăn – tập trung vào mùi vị, bố cục và màu sắc món ăn. Khi ăn từ từ, bạn không chỉ sẽ thích món ăn hơn mà còn giảm cơ hội ăn quá mức khuyến nghị.

Theo tiin

Bài thuốc dân gian trị đau răng

Có rất nhiều nguyên nhân gây đau nhức răng như sâu răng, viêm lợi, nướu răng,… Người bệnh cần khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị triệt để. Trong quá trình điều trị để răng đỡ đau và đạt kết quả nhanh có thể dùng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Quả vải phơi khô 20g, rễ lá lốt 20g, đổ một bát nướcsắc lấy nước đặc. Ngậm nhiều lần trong ngày.

Bài 2: Lá trầu không, củ nghệ vàng, búp bàng, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, giã nhỏ, ngâm với rượu. Khi dùng đem đun cách thuỷ (đậy kín nút chai để rượu không bay hơi) cho sôi 30 phút rồi lấy ra để nguội. Ngậm (súc miệng) trong 5 – 10 phút hay dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ đau, sau nhổ nước thuốc đi. Hoặc lấy vài lá trầu không, rửa sạch, thêm ít muối, giã nhỏ, hoà vào một chén rượu. Gạn lấy nước trong để ngậm liên tục tới khi giảm đau nhức.

nghe-vang

Bài 3: Vỏ thân cây gạo 50g, thạch xương bồ 50g, sắc lấy nướcđặc để ngậm. Trước khi ngậm cho thêm vài hạt muối.

Bài 4: Vỏ trắng của cây ruối 100g, rượu 100ml. Cạo vỏ ngoài,thái nhỏ cho vào rượu ngâm, ngày ngậm 4 – 5 lần, dùng trong 2 – 3 ngày liềnhoặc sắc nước lá ruối hòa với một ít muối để súc miệng.

Bài 5: Hoa tươi của cây cúc áo 50g hoa ngâm với 300ml rượu trắng. Ngâm trong 10 – 15 ngày là được. Khi bị đau răng ngậm một ít rượu này trong vài phút, sau đó nhổ đi và súc miệng sạch. Ngày ngậm 5 – 10 lần.

Bài 6: Nhân hạt gấc nướng chín vàng, tán bột, trộn với một ít dấm thanh, chấm vào chỗ răng đau. Chỉ cần chấm vài lần vào buổi chiều là đêm hết đau và có thể ngủ được.

Bài 7: Vỏ thân cây trám trắng, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, phơi khô, lấy 50g thái mỏng, sắc lấy nước đặc, ngậm nhổ nước. Ngày làm nhiều lần.

Bài 8: Lấy rễ lá lốt, rửa thật sạch, giã nát với mấy hạt muối, vắt lấy nước cốt, dùng bông sạch chấm vào răng đau, ngậm 2 – 3 phút rồi súc miệng bằng nước muối. Ngày chấmthuốc 3 – 5 lần.

Bài 9: Vỏ thân cây sao đen 100g, cạo bỏ lớp bẩn thô bênngoài, rửa sạch, thái mỏng, sắc đặc, ngậm khi răng đau. Có thể phối hợp hai vịlá lốt và sao đen, 2 vị bằng nhau, sắc đặc, ngậm khi răng đau nhức, tác dụnggiảm đau nhanh hơn.

Theo Bác sĩ Thu Vân
SKĐS

Nữ giới nhịn tiểu gây ra vô sinh

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

nhin-tieu

Nếu thường xuyên nhịn tiểu, tử cung đổ về phía sau rất khó trở lại vị trí cũ. Khi bàng quang chèn ép tử cung nhiều, ép vào dây thần kinh ở trước xương cùng, làm cho phần xương cùng đau nhức, nặng sẽ gây ra vô sinh.

Nhịn tiểu gây ra tiểu dắt

Không có 2 vòng cơ thắt bằng cơ vân như nam giới, phụ nữ chỉ có 1 vòng cơ thắt do đó nếu thời gian dài nhịn tiểu, cơ vòng sẽ mệt mỏi, nhão, từ đó dẫn đến tiểu dắt; lâu dài gây lão hóa, dễ viêm nhiễm hệ tiết niệu.

Ngoài ra, do kết cấu các bộ phận trong bàng quang của nữ khá phức tạp, hệ thống tiết niệu dễ bị vi khuẩn xâm hại hơn nam giới. Nhịn tiểu không chỉ ảnh hưởng đến chức năng của bàng quang, gây viêm nhiễm đường niệu đạo mà còn gây tiểu nhiều, tiểu ra máu, tiểu khó, tiểu buốt và cả bụng dưới khó chịu vv.

Thường ngày chú ý uống nhiều nước, đi tiểu nhiều

Chuyên gia đặc biệt khuyến cáo phụ nữ không nên chờ khát mới uống nước, đặc biệt là những người vận động nhiều.

Nên chú ý ăn nhạt, thanh đạm, ít dầu mỡ. Nếu ăn quá nhiều thức ăn dầu mỡ hoặc ăn mặn, nên uống nhiều nước hơn thường ngày. Trời lạnh nên uống nước ấm, trước khi ngủ và sau khi thức dậy nên uống 2 cốc nước lọc, trời lạnh cũng nên uống để giúp cho nước tiểu kịp thời đẩy ra ngoài, tránh vi khuẩn ở trong đường tiết niệu phát triển.

Theo Dân trí

Những hậu quả khó lường khi ngồi bắt chéo chân

Phụ nữ, dân văn phòng thường hay ngổi thẳng bắt chéo chân để tạo dáng đẹp, tuy nhiên tư thế ngồi như thế này lại mang đến 6 nguy hại cho cơ thể.

Chân biến thành “chân dạng 0”

Hai chân chồng lên bắt chéo nhau, chân nghiêng kiễng lên co vào trong, như vậy sẽ làm cho dây chằng của chân dày, to, phát viêm, gây ra sưng phù chân, thậm chí còn có thể làm cho chân trở thành “chân dạng 0” đồng thời hình dáng chân trở nên xấu xí, thô, cong.

ngoivatchan

Xuất hiện viêm khớp thoái hóa sớm

Đầu tiên chân bị chèn ép, phải chịu đựng áp lực của chân còn lại, thời gian dài gánh chịu lực bên ngoài bất thường làm cho phía trên đầu gối thoái hóa, bào mòn, các bệnh về đầu gối sẽ tìm đến làm phiền. Rất nhiều người chưa già đã thoái hóa, bị mắc chứng chứng viêm khớp thoái hóa khi còn trung niên.

Căn cơ cội nguồn của chứng bệnh này chính là “bắt béo chân”. Điều đáng sợ hơn, loại bệnh này không có khả năng “biến mất” mà luôn đeo đám người mắc bệnh đến tàn tật, chỉ có phẫu thuật thay khớp nhân tạo mới giảm bớt được. Vì vậy, chúng ta nên thay đổi ngay thói quen ngồi này.

Hai chân dễ bị co giãn tĩnh mạch

Chân bị chèn ép sẽ khiến khí huyết không được lưu thông, làm tăng nguy cơ bị giãn tĩnh mạch, nghiêm trọng còn gây ra phù thũng chân dưới, làm cho vết thương nhỏ xíu khó lành, tăng thêm nguy cơ lở loét chân.

Xuất hiện hội chứng chèn ép thần kinh

Cảm giác tê, mất cảm giác ở chân là do thần kinh phụ trách cảm giác nằm ở mặt trước đùi bị chèn ép và lâu dài sẽ phải điều trị.

Xương lườn cũng dễ bất thường

Không đơn giản là chân đau sưng, tĩnh mạch giãn, ngồi bắt chéo chân còn làm cho xương lưng và cột sống bất thường, bao gồm vẹo cột sống, đĩa đêm tổn thương, lồi vv. Chữa trị chứng mãn tính loại này rất khó, phức tạp.

Ngồi bắt chéo hai chân thực sự là thói quen rất không tốt, vị trí khớp hông hai bên (khớp giữa chân và phần hông) một cao một thấp, lien đới làm cho vị trí xương chậu tách xa nhau, góc xương lưng và cột sống cũng sẽ thay đổi.

Ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản

Nam giới ngồi liên tục hai chân bắt chéo tại sao lại gieo họa đến đời sau? Bởi vì hai chân bắt chéo sẽ làm cho nhiệt độ bên trong chân và xung quanh bộ phận sinh dục tăng cao, ảnh hưởng tới sự hình thành của tinh binh.

Chuyên gia kiến nghị: Ngồi bắt chéo chân tốt nhất không vượt quá 10 phút, hai chân kỵ bắt chéo nhau quá khít, nếu cảm thấy bên trong đùi có mồ hôi túa ra, tốt nhất nên đi đến chỗ thông khí và thông gió đi lại một lúc để giúp tản hết nhiệt tập trung ở chân.

Theo Dân Trí

Nguy hiểm chứng bệnh giời leo

Điều trị chứng “giời leo”

“Giời leo không phải là bệnh nguy hiểm, nhưng vì dễ nhầm lẫn với bệnh ngoài da khác nên có thể dẫn đến viêm nhiễm nặng do điều trị sai. Từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm là thời điểm bệnh giời leo hoành hành…”- Ths.BS Đinh Doãn Thạch, Trưởng khoa Khám bệnh (BV Da liễu Hà Đông) cho biết.

Nhiều bệnh nhân đến khám tại BV Da liễu Trung ương vì bị giời leo tấn công. Ảnh: P.T.

Tự ý điều trị làm tổn thương sâu hơn

gioi-leo

Thống kê tại BV Da liễu Trung ương và BV Da liễu Hà Nội, trung bình mỗi ngày có từ 40- 50 bệnh nhân bị giời leo (hay còn gọi là viêm da do tiếp xúc với côn trùng) đến khám. Tất cả các trường hợp đều có biểu hiện bằng các đám đỏ, có các mụn nước và phỏng nước, ở giữa có một vùng hơi lõm, thậm chí hoại tử kéo dài thành vệt dài 3 – 10cm ở mặt, cổ, đùi, hai cánh tay… ảnh hưởng nặng đến thẩm mỹ. Bệnh nhân có cảm giác nóng rát tại chỗ, ngứa. Có trường hợp bị nhiễm trùng gây phát sốt.

Theo BS. Đinh Doãn Thạch, bệnh giời leo là hiện tượng viêm da cấp tính do chất tiết của côn trùng khi tiếp xúc trực tiếp với da. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, tăng nhiều vào tháng 7 – 10 vì đây là mùa mưa, khí hậu nóng ẩm. Mưa làm ngập ruộng nên các côn trùng ở bờ ruộng, ở các thân cây bay vào nhà theo ánh đèn tiếp xúc với người gây bệnh. Côn trùng thường bám trên người gây rát bỏng ở những vùng da bị tiếp xúc, đặc biệt là ở những vùng da mỏng như mặt, cổ, tay chân. Nguy hiểm nhất là tổn thương ở vùng mắt, nếu không chữa trị kịp thời và đúng cách có thể ảnh hưởng đến thị lực, sẹo giác mạc. Nặng hơn, có thể bị tăng nhãn áp về sau dẫn đến mù loà.

“Đa số bệnh nhân là những người làm việc dưới ánh đèn, phần lớn họ đều phát hiện các tổn thương trên da đầu tiên vào buổi sáng. Đáng lo ngại, vì nhầm lẫn giữa bệnh zona và bệnh giời leo nên nhiều người tự mua thuốc điều trị. Cứ 10 bệnh nhân đến khám thì có đến 4 người tự ý sử dụng thuốc sai. Điều này làm tổn thương da sâu hơn, gây phù nề khiến việc điều trị càng phức tạp. Lúc này, bệnh nhân ngoài bôi thuốc phải dùng kháng sinh để phòng nhiễm trùng do tổn thương lan rộng, nổi mủ” – BS Thạch nói.
BS Lê Quang Lộc – nguyên Trưởng khoa Da liễu (BV Xanh Pôn) cho biết, cách phân biệt bệnh giời leo với zona thần kinh không khó nếu để ý kỹ các triệu chứng. Khi bị viêm da tiếp xúc do côn trùng thường ngứa, rát chỉ sau vài phút tiếp xúc với côn trùng, sau đó thì đỏ, phồng rộp lên. Còn với bệnh zona thần kinh là do virus, cảm giác đau nhiều hơn rát, đau giật theo đường dây thần kinh ngoại biên. Giời leo có thể gặp bất kỳ tại vùng da nào trên cơ thể, zona là những vệt tấy đỏ viêm da chạy dọc kéo dài theo dây thần kinh trên cơ thể như dọc cánh tay, dọc thân sườn… Thường tổn thương chỉ ở một bên nửa cơ thể, bên phải hoặc bên trái. Bệnh zona khi bị một lần thường không bị lại nhưng với giời leo thì trong một mùa hè, bệnh nhân có thể bị đi bị lại 3 – 4 lần.

Điều trị bằng cách nào?

BS. Lê Quang Lộc cho biết, khi bị viêm da do côn trùng, người bệnh không nên tùy tiện mua thuốc về bôi, cũng không nên gãi mạnh chỗ bị tổn thương. Ngay sau khi xuất hiện đỏ và ngứa da, cần phải rửa bằng nước sạch hoặc nước muối 0,9% để làm sạch chất gây viêm da từ côn trùng. Không dùng nước xà phòng rửa vì sẽ làm tăng kích ứng da. Đặc biệt, tuyệt đối không bôi các loại thuốc mỡ vào chỗ tổn thương. Nó sẽ làm tăng bám bụi, ứ đọng dịch tiết phù nề khiến bệnh dễ lây lan hơn. Nên bôi bằng hồ nước hoặc thuốc màu, tốt nhất là thuốc màu xanh. Để tránh lây lan, người bệnh nên tránh sờ tay vào chỗ phù nề rồi lại chạm vào vùng da khác hoặc người khác vì chất độc từ côn trùng ở phần da viêm nhiễm sẽ bám vào phần da mới tiếp xúc và gây bệnh.

Một quan niệm sai lầm mà nhiều người cho rằng cần phải kiêng nước nên ngại tắm rửa. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được tắm sạch sẽ, vệ sinh kỹ lưỡng bởi nếu không tắm, chất tiết côn trùng vẫn còn trên da sẽ gây nguy hiểm. Khi tắm mọi người cần phải giữ ấm và tắm nước nóng vì sức đề kháng giảm. Tránh hoạt động mạnh, nghỉ ngơi nhiều để cơ thể có điều kiện chống lại vi khuẩn.

BS Thạch cho hay, nếu điều trị đúng cách, bệnh giời leo thường khỏi nhanh trong 3 – 7 ngày. Mọi người nên dùng các dung dịch làm dịu da như kem kẽm, dung dịch jarish bôi, đắp ngày 2 – 3 lần; có thể thay bằng nước lá khế đun sôi để nguội, hồ nước bôi ngày 2 – 3 lần. Khi có nhiễm khuẩn nên dùng các dung dịch sát khuẩn, mỡ kháng sinh như: Samicason, Begendrem,… Điều trị toàn thân bằng thuốc kháng histamin như: Cetrizin, Loratadin…; thuốc giảm đau khi đau nhiều, có thể dùng Paracetamol, hỗn hợp thần kinh…  Tuyệt đối không tự ý bôi thuốc hoặc nhai gạo nếp, đỗ xanh đắp vào vết phù nề có thể gây nhiễm trùng, để lại sẹo sau này.

Theo afamly

Tử vong vì uống Nhân trần với cam thảo

Nhân trần với cam thảo – sự kết hợp “chết người”

Nhân trần vốn có vị đắng nên để dễ uống nhiều gia đình hoặc hàng nước vỉa hè đã kết hợp cho thêm cam thảo với mục đích tăng thêm vị ngọt, nhưng ít ai biết đó là sự kết hợp “chết người”.

Theo các bác sĩ Nguyễn Xuân Hướng – Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam – cam thảo có tính chất giữ nước, trong khi nhân trần lại giúp đào thải, hai vị thuốc trái ngược nhau được sử dụng chung sẽ không có lợi cho cơ thể.

nhan-tran
Bên cạnh đó, việc uống nhân trần thường xuyên có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì nhân trần có tác dụng lợi mật, nhuận gan, nhưng người ta chỉ cần lợi mật khi mật không tiết ra (mật viêm, tắc mật…) và nhuận gan khi gan có vấn đề. Nếu không có bệnh mà lại uống hàng ngày, nghĩa là bắt gan và mật không có nhu cầu tiết cũng phải tiết, dẫn tới phải làm việc nhiều hơn nên dễ bị tổn thương, mất cân bằng và sinh bệnh.

Đối với phụ nữ mang thai, nếu không có bệnh lý về gan, không được bác sĩ chỉ định thì tuyệt đối không nên dùng nhân trần. Bởi nếu uống nước này nhiều sẽ làm xuất tiết các tuyến trong cơ thể. Vì vậy, sau khi sinh, người mẹ thường bị mất sữa hoàn toàn hoặc chỉ có rất ít.

Ngoài ra, nhân trần thường đến với tay người tiêu dùng ở dạng khô và khi thời tiết ẩm rất khó để bảo quản được lâu. Nếu để kinh doanh, các cửa hàng thường phải dùng thuốc chống ẩm mốc, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng. Thậm chí, nhiều người vì lợi nhuận đã phun thuốc diệt cỏ vào cây tươi để cây nhanh héo và khô, dễ dàng chặt ra đem bán. Sản phẩm chứa thuốc diệt cỏ hết sức nguy hiểm cho sức khỏe người dùng.

Theo VnMedia.vn

Hệ số mắc bệnh của nhóm máu A là cao nhất

Thống kê của các nhà khoa học cho thấy, nhóm máu có mối quan hệ với nguy cơ ung thư, cụ thể là ung thư dạ dày.

Tiền sử gia đình làm tăng khả năng ung thư

Trong nghiên cứu dịch tễ học phân tử ung thư dạ dày và đại trực tràng ở Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Thị Thu (trường Đại học Y Hà Nội) làm chủ nhiệm đề tài cho thấy, trong số 612 bệnh nhân mắc bệnh ung thư và không mắc bệnh ung thư thì tiền sử mắc bệnh ung thư của gia đình đối tượng nghiên cứu có sự liên quan đến bệnh ung thư. Cụ thể, trong gia đình có người bị ung thư thì khả năng làm tăng nguy cơ ung thư với chỉ số nguy cơ mắc bệnh ung thư là 1,82.

nhom-mau-ung-hut

Theo các chuyên gia, không chỉ trong đề tài này mà nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước cũng đã cho thấy, tại gia đình có người bị ung thư thì nguy cơ mắc bệnh thường rất cao, gấp 2 lần so với người khác. Bên cạnh đó, các xem xét tiền sử bệnh loét dạ dày ở các đối tượng nghiên cứu thông qua con số đã chỉ ra rằng: Trong tổng số 133 người có tiền sử bị loét dạ dày thì có 87 người bị ung thư dạ dày, tức chiếm 65,4%.

Kết luận này phù hợp với công bố của Viện Nghiên cứu Ung thư Petrov (CHLB Nga) là 70% ung thư dạ dày phát sinh ở người có viêm loét dạ dày kéo dài trên 10 năm.

Nhóm máu A, B nguy cơ mắc ung thư cao

PGS.TS Lê Trần Ngoan, Bộ môn Sức khoẻ nghề nghiệp, trường Đại học Y Hà Nội là phó chủ nhiệm đề tài trên cho hay: Một số nghiên cứu cho thấy, ung thư dạ dày có liên quan đến nhóm máu. Hệ số mắc bệnh của nhóm máu A là cao nhất: 1,35%; nhóm máu B là 1,21; nhóm máu AB là 1,01 và nhóm máu O là 0,73. Trong đó, tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày ở nhóm máu A tăng 15 – 20%.

“Đã có những nghiên cứu cho thấy, yếu tố gen có một vai trò tiềm tàng trong quá trình sinh ra bệnh ung thư của dạ dày. Điều này cũng tương đồng với nghiên cứu trong nhóm tiền sử gia đình có khả năng làm tăng nguy cơ ung thư. Có những gia đình nguy cơ cao gấp 2-3 lần so với cộng đồng và những người nhóm máu A cũng có tỷ lệ ung thư cao hơn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp các kết luận là những người có nhóm máu A và B nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn nhóm đối chứng”, PGS.TS Lê Trần Ngoan nói.

Tuy nhiên, các chuyên gia khẳng định: Nhóm máu không tự nó có thể gây ung thư. Có thể có các yếu tố phối hợp nào đó mới gây được ung thư dạ dày ở những người có nhóm máu A hoặc B. Vì thế, cần có các nghiên cứu tiếp để chứng minh cho giả thuyết này đồng thời góp phần phòng bệnh ung thư dạ dày có hiệu quả.

“Các khảo sát và chứng minh khoa học là thế, nhưng tất cả mọi người nói chung và những ai có nhóm máu A hoặc B hãy phòng bệnh ung thư dạ dày và nhiều loại ung thư khác bằng cách thay đổi thói quen như không hút thuốc lá, thuốc lào, uống rượu hoặc bia dưới 50ml/ngày. Không nấu thức ăn ở nhiệt độ cao như rang, rán, nướng, quay sẽ an toàn hơn”, PGS.TS Lê Trần Ngoan đưa ra lời khuyên.

Uống chè xanh có thể giảm nguy cơ ung thư

Trong quá trình khảo sát, các nhà khoa học chưa thấy được mối liên hệ giữa thói quen uống trà và cà phê liên quan đến nguy cơ ung thư. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu bệnh chứng về chế độ ăn và ung thư dạ dày ở Thổ Nhĩ Kỳ của Tanner Demirer và cộng sự khi họ khẳng định chưa thấy được sự khác biệt trong việc sử dụng trà giữa nhóm bệnh và nhóm đối chứng.

Trong khi đó, nghiên cứu thử nghiệm ở Nhật Bản và Trung Quốc đã chứng minh được chè xanh có nhiều hợp chất polyphenolic có tác dụng ngăn tạo khối u trên động vật. Nghiên cứu cho chuột uống nước chè xanh của tác giả Allan Conney ở Trường tổng hợp Tutger đã xác định nước chè có tác dụng giảm nguy cơ ung thư dạ dày tới 58%. Theo dõi trên người ở nghiên cứu về dinh dưỡng và ung thư dạ dày ở Nhật Bản thì thấy rằng uống chè xanh trên 10 chén/ngày có thể giảm nguy cơ gây ung thư dạ dày.

Theo afamily

Cách chữa đau dạ dày hiệu quả từ nghệ + mật ong

Với người đau dạ dày, tinh nghệ với mật ong là ‘thuốc tiên.

Tôi bị viêm dạ dày đang trong quá trình điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Buổi sáng tôi thường xuyên uống thêm tinh nghệ với mật ong và cảm thấy bệnh đỡ rất nhiều. Xin hỏi có phải nghệ mật ong có tác dụng rất tốt cho bệnh dạ dày? Nếu uống thường xuyên có được không.
nghe-mat-ong
Hà Hùng (Vũng Tàu)

Nghệ là gia vị nhưng là vị thuốc quý. Vết thương bôi nghệ tươi vừa chống nhiễm khuẩn vừa mau lành lại không để sẹo xấu. Tinh chất nghệ (curcurmin) có tác dụng tăng tiết mật, hỗ trợ tiêu hóa nhưng lại không tăng tiết dịch vị dạ dày. Vì thế khi bị viêm loét dạ dày nhiều người hay dùng nghệ tươi hay tinh nghệ đều tốt cả. Ngoài ra, nghệ còn ức chế khả năng sinh khối u trong dạ dày và các nơi khác.

Mật ong trong y học cổ truyền vừa làm thuốc bổ dưỡng vừa có tác dụng kháng khuẩn. Mật ong chứa đường glucoza, đường hoa quả… và rất nhiều vitamin các loại B1, B2, B6, E,… Những vitamin trong mật ong kích thích sự trao đổi chất. Kali và magiê (dạng thường hóa) kích thích ăn ngon miệng, tăng hàm lượng axit hữu cơ và cải thiện sự tiêu hóa, những hạt (của) phấn hoa trong mật ong tăng cường khả năng miễn dịch. Với dạ dày, mật ong làm giảm tiết axít nên các triệu chứng đau rát sẽ nhanh chóng mất đi.

Chính vì thế nên người ta thường dùng nghệ và mật ong làm thuốc chữa đau dạ dày. Thường mỗi ngày dùng 12g nghệ trộn với 6g mật ong làm thành viên uống, kết quả rất tốt.
Nếu bạn uống nghệ và mật ong thường xuyên thì vừa bổ dưỡng, an thần lại lành vết loét dạ dày. Đây là vị thuốc rất lành vì thế bạn không phải lo lắng khi phải dùng lâu dài.

Theo SK&ĐS

Nguyên nhân khiến trẻ vị thành niên hay lo lắng

Trẻ vị thành niên thường rối loạn lo lắng vì sự thay đổi tính mềm dẻo ở vỏ não trước trán, theo Science Daily.

Một nhóm các nhà khoa học tại Viện Tâm lý học phát triển Sackler (Mỹ) đã tiến hành thí nghiệm giúp lý giải tại sao tình trạng rối loạn lo lắng lại phổ biến ở trẻ vị thành niên.

Đối tượng nghiên cứu là trẻ em, trẻ vị thành niên và người trưởng thành. Những người tham gia được đeo tai nghe và thiết bị đo mức độ tiết mồ hôi.
lo-lang
Họ được yêu cầu nhìn vào màn hình vi tính có hình ảnh của các hình vuông màu xanh hoặc vàng. Một trong những hình này có kèm theo âm thanh rất khó chịu. Chẳng hạn, trong 50% thời gian, hình vuông màu xanh kèm theo âm thanh khó chịu. Nếu ai đó sợ âm thanh đó, họ sẽ tiết mồ hôi nhiều hơn.

Ngày hôm sau, những người tham gia lại được mời đến xem các hình vuông màu xanh và vàng, nhưng không kèm theo các âm thanh khó chịu nữa. Trẻ em, người trưởng thành nhanh chóng nhận ra không có các âm thanh khó chịu nào và không còn lo sợ nữa. Trong khi đó, trẻ vị thành niên vẫn không dập tắt được sự sợ hãi.

Một nghiên cứu trên chuột cũng cho kết quả tương tự. Những chú chuột vị thành niên (29 ngày tuổi) không mất đi nỗi sợ hãi trong khi chuột nhỏ và lớn tuổi hơn thì hết lo sợ khi mối đe dọa không còn nữa.

Các nhà khoa học cho rằng, nguyên nhân có thể là do sự thay đổi tính mềm dẻo (khả năng thích ứng) ở khu vực vỏ não trước trán trong lứa tuổi tuổi vị thành niên. Điều này khiến trẻ vị thành niên không thể vượt qua được nỗi sợ hãi.

Theo Siobhan S. Pattwell, nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại Viện Tâm lý học phát triển Sackler (Mỹ), người đứng đầu nghiên cứu nói: “Kết quả nghiên cứu giúp giải thích tại sao tình trạng rối loạn lo lắng lại đạt đỉnh điểm ở lứa tuổi vị thành niên hoặc ngay trước lứa tuổi vị thành niên. Điều này có thể giúp tìm ra cách điều trị tình trạng rối loạn lo lắng ở trẻ vị thành niên”.

Nghiên cứu đăng tải trên Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS).

theo TNO

Điều cần làm khi mắc bệnh gan nhiễm mỡ

Cuộc sống bận rộn, thói quen ăn uống bừa bãi và ít vận động không chỉ làm cho nhiều người thừa cân mà còn gây ra nhiều bệnh nguy hiểm, trong đó có bệnh gan nhiễm mỡ.

Gan nhiễm mỡ thực chất là một biểu hiện của việc tích lũy quá nhiều lượng mỡ ở gan. Gọi gan nhiễm mỡ hay thoái hóa mỡ gan khi sự tích lũy chất béo trong gan vượt quá 5% trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ diễn tiến âm thầm, đôi khi không có triệu chứng và bệnh thường được phát hiện rất tình cờ. Người bệnh gan nhiễm mỡ có nguy cơ xơ cứng gan, ung thư gan cao gấp 150 lần bình thường.

Thực tế, gan nhiễm mỡ là bệnh mà nhiều người mắc phải đặc biệt là những người béo phì, uống rượu nhiều,…tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về bệnh.

Người mắc bệnh gan nhiễm mỡ ngày càng gia tăng
dieu-can-lam-khi-mac-benh-gan-nhiem-mo
Trước đây, các nhà nghiên cứu phát hiện ra bệnh gan nhiễm mỡ ở người uống nhiều rượu bia, người thừa cân béo phì và xếp những người này vào nhóm nguy cơ cao. Chính vì thế, rất nhiều người lầm tưởng rằng cơ thể gầy thì không mắc các loại bệnh nhiễm mỡ như gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ.

Nhiều người nghĩ rằng người béo thì thừa nhiều mỡ nên mỡ lan vào gan gây ra bệnh. Thực chất mỡ thừa ở người béo chỉ tích tụ vào xung quanh lá gan, bám vào bề mặt gan. Gần đây những trường hợp mắc bệnh ở người gầy càng nhiều. Bệnh gan nhiễm mỡ chủ yếu do rối loạn chuyển hóa tế bào gan gây ra.

Một số người phòng ngừa bệnh gan nhiễm mỡ bằng cách ăn chay. Tuy nhiên, thực tế thực phẩm chay sẽ làm cho cơ thể dung nạp quá ít chất béo, chất béo trong cơ thể phân giải quá nhiều không những không thể chữa trị gan nhiễm mỡ mà còn làm bệnh nặng thêm. Ngoài ra, người ăn chay dung nạp không đủ protein còn hợp thành protein chất béo chậm, chất béo vận chuyển trở ngại, gan nhiễm mỡ còn nặng thêm.

Một số người lại cho rằng, các loại hoa quả giàu vitamin, chất khoáng và chất xơ, những chất này đều thúc đẩy chất béo trao đổi. Tuy nhiên, lượng đường trong hoa quả khá cao, nếu ăn quá nhiều sẽ gây rối loạn trao đổi của đường, gây ảnh hưởng không tốt cho đường huyết. Trong khi đó, nhiều loại đường trong cơ thể có thể chuyển hóa thành chất béo, làm nặng thêm gan nhiễm mỡ. Do vậy, người bị gan nhiễm mỡ có được ăn nhiều hoa quả hay không, ăn loại hoa quả nào, ăn bao nhiêu, ăn như thế nào thì tùy thuộc vào tình trạng cơ thể.

Những người bị thiếu chất dinh dưỡng, thiếu các vi chất cần thiết sẽ làm hoạt động chuyển hóa mỡ không hiệu quả và gan bị nhiễm mỡ. Cụ thể là ăn ít hay ăn kiêng quá mức sẽ dẫn đến lượng đường trong máu quá thấp làm tăng phân giải mỡ thành năng lượng cung cấp trong cơ thể. Trong quá trình phân giải mỡ, lượng axit béo đi vào máu quá nhiều làm axit béo tự do trong máu tăng, dẫn đến tích trữ mỡ trong gan. Những người gầy, thiếu protein trong thời gian dài sẽ làm mỡ trong máu không thể chuyển hóa nên sinh ra gan nhiễm mỡ. Ngoài ra, những người gầy nhưng bị nhiêm virus viêm gan B, C hoặc dùng thuốc hại cho gan đều có nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ.

Làm gì khi gan nhiễm mỡ?

Khám sức khỏe định kỳ: Khi phát hiện mình bị gan nhiễm mỡ, người bệnh cần được khám sức khỏe định kỳ để theo dõi tiến triển của bệnh, kịp thời điều trị, đề phòng biến chứng. Đặc biệt là những người bị béo phì, người nghiện rượu, người bị tiểu đường tuýp 2 và những người bị suy dinh dưỡng thì việc khám sức khỏe định kỳ là vô cùng cần thiết. Ngoài ra, những người bị viêm gan C mãn tính, người bị tăng mỡ máu, người dùng liều cao một số thuốc như corticoides, tetracycline, estrogen cũng nên đi khám sức khỏe định kỳ.

– Giảm ăn các thực phẩm giàu cholesterol như các loại phủ tạng động vật, da động vật, lòng đỏ trứng.

– Hạn chế chất béo, ưu tiên chọn dầu thực vật (trừ dầu dừa), hạn chế mỡ động vật (trừ mỡ cá). Nên ăn các món ăn luộc, hạn chế các món rán, chiên mỡ, chiên bơ.

– Cân đối bữa ăn, nên tăng cường ăn cá tôm, cua, đậu.

– Nên uống sữa, và chỉ nên sử dụng các loại sữa không đường ít béo và tốt nhất là nên ăn sữa chua.

– Ăn uống điều độ, ăn đúng bữa, đúng giờ. Không nên ăn bữa tối quá muộn và nên ăn ít trước khi đi ngủ.

– Hạn chế rượu bia

– Tập luyện thể thao hợp lý kiểm soát cân nặng. Các chuyên gia khuyến cáo, bạn nên dành khoảng 30 phút để tập aerobic mỗi ngày, đi bộ hoặc đi xe đạp.

– Khi dùng thuốc người bệnh cần hỏi bác sĩ về tác dụng gây độc gan của thuốc, và hạn chế tối đa sử dụng các thuốc gây độc cho gan.

Biểu hiện của bệnh gan nhiễm mỡ

Thông thường gan nhiễm mỡ không gây ra triệu chứng gì đáng kể. Khi bệnh trở nên trầm trọng hơn có thể có một số triệu chứng: Mệt mỏi, yếu ớt, khó chịu, buồn nôn và bụng nôn nao khó chịu; Lá gan có thể bị sưng to; Một số ít người có thể bị vàng da.

Nếu gan chỉ bị nhiễm mỡ thôi, bệnh không nguy hiểm cho lắm. Tuy nhiên, nếu hệ thống miễn nhiễm phát hiện có sự bất thường và hoạt động loại bỏ những tế bào gan hư hỏng này, bạch huyết cầu sẽ xuất hiện khắp nơi gây ra viêm gan. Viêm lâu ngày sẽ đưa đến xơ rồi chai gan.

Nguyên nhân của bệnh gan nhiễm mỡ

– Do dinh dưỡng: ăn nhiều thực phẩm có nhiều chất béo, hấp thu quá nhiều đường, uống nhiều rượu bia, thói quenngồi nhiều, ít vận động, căng thẳng, di truyền nếu trong gia đình có nhiều người bị béo phì.

– Do chất hóa học như uống quá nhiều bia rượu, nhiễm độc phospho, Arsenic, chì…

– Do nội tiết, do bệnh tiểu đường…

-Do miễn dịch.

– Do dùng một số loại thuốc có thể dẫn đến bệnh như các loại corticide, Tetracyclin, các thuốc kháng ung thư, thuốc hocmon sinh dục nữ…

– Do vi khuẩn, virus trong quá trình bị viêm gan siêu vi B, C thường có biến chứng gan nhiễm mỡ đặc biệt là viêm gan siêu vi C (nhiều khi còn gọi là hậu viêm gan siêu vi là gan nhiễm mỡ).

Theo afamily

5 bí quyết giảm cân nghe lạ tai nhưng có hiệu quả thật

Đôi khi bạn có thể bắt gặp những biện pháp giảm cân nghe rất lạ tai và bạn nghĩ rằng nó thật là phi lý, không hiệu quả. Nhưng thực tế có thể hoàn toàn ngược lại.

Dưới đây là 5 biện pháp giúp giảm cân rất tốt nhưng có thể bạn lại không hề tin từ trước đến nay.

1. Giảm cân với chuối

Hầu hết chị em muốn giảm cân đều biết bí quyết: ăn chuối giảm cân. Nhưng không phải ai cũng rõ nguyên do ăn chuối lại có thể giúp mình giảm cân.

Thực tế trong chuối có chứa hàm lượng enzym cao, giúp thúc đẩy quá trình tiêu hóa và chuyển hóa năng lượng, giảm thiểu lượng mỡ thừa tích lại cơ thể. Ăn chuối còn cung cấp nhiều tinh bột cho cơ thể, nhờ đó, bạn sẽ có cảm giác no lâu, không thèm ăn. Ngoài ra, chất tinh bột trong chuối còn giúp đốt cháy chất béo trong cơ thể, chất kali phong phú trong chuối kích thích sự phát triển cơ bắp, từ đó cải thiện tình trạng đốt cháy mỡ thừa, giúp giảm cân hiệu quả.

5-bi-quyet-giam-can-nghe-la-tai-nhung-co-hieu-qua-that

2. Giảm cân với cơm nguội

Cùng là cơm nhưng tại sao cơm nóng lại không có tác dụng giảm cân trong khi cơm nguội lại có hiệu quả này? Câu trả lời là: thành phần tinh bột trong cơm nóng khi vào cơ thể sẽ kích thích hoạt động của của dạ dày và hệ thống tiêu hóa khiến cho quá trình tiêu hóa diễn ra nhanh hơn, bạn sẽ nhanh đói hơn.

Trong khi đó, nếu ăn cơm nguội, thành phần kháng tinh bột sẽ kìm hãm sự hoạt động của cơ quan tiêu hóa khiến cho việc tiêu hóa chậm lại, giúp cơ thể không dễ dàng hấp thụ chất kháng tinh bột, do đó nó không được chuyển hóa hết thành năng lượng mà đào thải ra ngoài cơ thể.

Hơn nữa, chất kháng tinh bột còn có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu, ức chế bài tiết insulin, từ đó cản trở quá trình tổng hợp chất béo trong cơ thể nên giảm tình trạng mỡ thừa gây tăng cân.

5-bi-quyet-giam-can-nghe-la-tai-nhung-co-hieu-qua-that1

3. Giảm cân với dầu ăn

Từ trước đến nay bạn vẫn nghĩ rằng tất cả các loại dầu ăn đều không có lợi cho mục đích giảm cân. Nhưng thực tế, một số chất béo lành mạnh lại có tác dụng chống lại chất béo trong cơ thể. Hai loại dầu được cho rằng có tác dụng này là dầu dừa và dầu ôliu.

Dầu dừa chứa ít calo hơn các loại dầu khác (6,8Kcal/gram dầu dừa so với 9Kcal/gram dầu khác). Hơn nữa, năng lượng trong dầu dừa gần giống như carbohydrate  vừa dễ tiêu hóa lại có thể được gan “đốt cháy” nhanh chóng để chuyển thành năng lượng và tránh tạo thành mỡ thừa tích trữ trong cơ thể. Dầu ôliu rất giàu axit béo không bão hòa đơn mà chất béo này lại có tác dụng giúp mỡ ít tích trữ trong cơ thể. Bên cạnh đó, dầu ôliu còn chứa hàm lượng lớn adiponectin – một loại hormone giúp phá vỡ các thành phần chất béo trong cơ thể.

Đó chính là lý do tại sao 2 loại dầu này lại có tác dụng giúp bạn tránh tăng cân.

4. Giảm cân nhờ kem đánh răng bạc hà

Đã bao giờ bạn nghĩ rằng kem đánh răng có vị bạc hà có thể hạn chế sự thèm ăn của bạn? Thực tế đúng là vậy. Mùi vị bạc hà không những có thể lấn át được mùi thức ăn mà nó còn khiến bạn không còn cảm giác thèm ăn.

Hơn nữa, sau mỗi lần đánh răng, bạn sẽ có cảm giác răng sạch sẽ và từ đó cũng ngại chuyện ăn uống nên cũng hạn chế được việc bổ sung calo vào cơ thể.

Theo các chuyên gia sức khỏe, mùi bạc hà giúp bạn tỉnh táo, giảm đi sự mệt mỏi, tăng cảm giác no nếu như bạn vừa ăn trước đó. Hương vị dễ chịu và the mát của bạc hà sẽ truyền đến rất nhanh cơ quan vị giác và khứu giác, làm giảm khả năng thèm ăn của bạn.

Thói quen này không chỉ giảm cân hiệu quả và an toàn mà còn giúp bạn có một hàm răng chắc khỏe.

5. Giảm cân nhờ cười

Nụ cười của bạn không đơn thuần chỉ làm tinh thần vui vẻ, sáng khoải mà còn giúp bạn đốt cháy lượng calo đáng kể. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ thực hiện trên 100 người vừa được công bố cho thấy, nếu giữ được mật độ cười đều  đặn mỗi ngày, thì trong 1 năm có thể giảm được 2 kg.

Khảo sát được thực hiện với hơn 100 tình nguyện viên. Những người này được cho xem các chương trình hài hước trên tivi (họ không được báo trước về các chương trình mình sẽ xem).

Kết quả cho thấy những người cười nhiều thì sẽ tăng tốc độ trao đổi chất lên 20% so với bình thường. Nghĩa là, nếu cười 10-15 phút/ngày, cơ thể sẽ giảm được từ 10-40 calorie, cười như vậy đều đặn mỗi ngày, trong 1 năm có thể giảm được 2 kg.

Cười có thể giúp giảm cân là bởi vì, khi cười nhiều, bạn sẽ đẩy lùi trạng thái căng thẳng. Căng thẳng là nguyên nhân khiến cơ thể bạn lưu trữ chất béo  do cơ thể sản xuất ra hormone drenalin, corticotrophin và cortisol, khiến chúng ta cần thêm năng lượng ngay lập tức. Do đó, bạn càng ăn nhiều hơn. Cười nhiều chính là một cách giảm nhu cầu nạp năng lượng, từ đó bạn cũng tránh được nguy cơ tăng cân.

Theo afamily

Xơ vữa động mạch là gì?

Xơ vữa động mạch là tổn thương trong đó một khối vật chất bất thường tạo thành bên trong động mạch, nó bám lên thành động mạch làm cho lòng động mạch bị hẹp lại, hậu quả là sự vận chuyển máu trong cơ thể bị cản trở, thiếu máu nuôi các bộ phận cơ thể do động mạch chi phối.

Tại sao lại bị xơ vữa động mạch?

Xơ vữa động mạch là sự thu hẹp của động mạch do các mảng bám được tạo thành trong lòng mạch máu. Xơ vữa động mạch có thể xảy ra, ảnh hưởng đến bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, bao gồm cả động mạch ở tim, não, cánh tay, chân, xương chậu và thận.

so-vua-dong-mach

Đến nay, khoa học vẫn chưa biết rõ nguyên nhân gây xơ vữa động mạch. Các nghiên cứu cho thấy rằng, xơ vữa động mạch là một bệnh tiến triển chậm và phức tạp có thể bắt đầu trong thời thơ ấu, phát triển nhanh hơn khi cao tuổi. Xơ vữa động mạch có thể bắt đầu xảy ra khi các lớp bên trong của động mạch bị tổn thương bởi các yếu tố: hút thuốc lá thuốc lào; số lượng một số chất béo và cholesterol trong máu tăng hơn bình thường; bị bệnh tăng huyết áp; mức đường trong máu cao hơn bình thường; hít phải khói thuốc lá rất nhiều sẽ làm trầm trọng thêm và đẩy nhanh sự phát triển của xơ vữa động mạch trong động mạch vành, động mạch chủ và động mạch ở chân; người ít hoạt động thể chất; người có thói quen ăn ít rau, ăn nhiều chất béo bão hòa, ăn mặn, ăn quá ngọt; người có cha mẹ hoặc anh chị em bị xơ vữa động mạch; bệnh nhân bị bệnh tim mạch; ô nhiễm không khí… Do thành mạch bị tổn thương, cùng với thời gian, chất béo, cholesterol, tiểu cầu, tế bào mảnh vỡ và canxi lắng đọng trên thành động mạch. Các chất này có thể kích thích các tế bào của thành động mạch tạo ra các chất khác tiếp tục làm dày khối xơ vữa dẫn đến có nhiều tế bào tích tụ trong lớp áo trong của thành động mạch, nơi có tổn thương xơ vữa động mạch. Các tế bào này tích lũy lại, trong đó có nhiều tế bào vỡ ra. Đồng thời, chất béo cũng đọng lại xung quanh các tế bào này. Các mảng xơ này có thể dính lại với nhau hình thành cục máu đông.

Biểu hiện của xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là một bệnh diễn tiến chậm, âm thầm và thường không có dấu hiệu ban đầu nên hầu hết người bệnh đều không biết mình có bệnh cho đến khi động mạch bị hẹp một cách trầm trọng hoặc bị tắc hoàn toàn một động mạch. Nguy hiểm hơn, đến khi phải đi cấp cứu khẩn cấp như đau tim hay đột quỵ bệnh nhân mới biết mình bị bệnh. Một số người chú ý đến sức khỏe có thể phát hiện được các triệu chứng như đau ngực hoặc phát ban. Nhìn chung, các triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào động mạch bị tổn thương. Xơ vữa động mạch cảnh là động mạch cung cấp máu lên não, khi bị hẹp có thể bị đột quỵ với triệu chứng: đột ngột suy yếu, khó thở, nhức đầu, nói khó, tê liệt, nhìn khó một mắt hoặc cả hai mắt.

Xơ vữa động mạch vành là động mạch cung cấp máu nuôi tim, nếu sự cung cấp máu đến tim bị thiếu, có thể gây đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, với các triệu chứng: nôn mửa, hốt hoảng, đau ngực, ho…

Xơ vữa động mạch thận là động mạch cung cấp máu đến thận, nếu việc cung cấp máu bị hạn chế sẽ gây tổn thương thận mạn tính. Bệnh nhân có các triệu chứng: mất cảm giác ngon miệng, phù bàn tay và bàn chân, khó tập trung…

Xơ vữa động mạch ngoại biên là các động mạch chân tay, hay gặp ở động mạch chân bị xơ vữa. Các triệu chứng phổ biến nhất là đau chân ở một hoặc cả hai chân, vị trí ở bắp chân, đùi và mông. Tính chất đau: nặng nề ở chi dưới, chuột rút, các cơ bắp chân. Các triệu chứng khác có thể là: rụng lông chân, ở nam có rối loạn cương dương, tê ở chân, màu sắc của da chân thay đổi, chân yếu…

Khám thấy âm thổi đó là một dấu hiệu của mạch máu bị hẹp dẫn tới việc thay đổi dòng chảy trong mạch; giảm huyết áp ở chi; phình mạch ở gối và bụng; mất mạch hoặc giảm cường độ của mạch; siêu âm, chụp cắt lớp thấy tổn thương xơ vữa động mạch. Do thiếu máu làm cho vết thương ở chi lâu lành…

Điều trị và phòng bệnh

Mục đích điều trị nhằm làm giảm triệu chứng, giảm các yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch; giảm nguy cơ hình thành cục máu đông; phòng ngừa xơ vữa động mạch… Bệnh nhân cần thực hiện ăn uống lành mạnh, năng hoạt động thể chất, phòng tránh thừa cân. Điều trị nội khoa: dùng thuốc để ngăn chặn sự hình thành mảng xơ vữa, dùng các thuốc để giảm cholesterol, thuốc hạ huyết áp…

Phẫu thuật để điều trị các trường hợp xơ vữa động mạch nặng, nong mạch vành hoặc bắc cầu động mạch vành…
Phòng tránh xơ vữa động mạch bằng các biện pháp: ăn thực phẩm giàu chất xơ, giảm ăn mặn, giảm các loại thức ăn có nhiều cholesterol; hạn chế uống rượu bia; tập thể dục đều đặn hàng ngày; bỏ hút thuốc lá thuốc lào; tránh căng thẳng về thể chất và tinh thần…
ThS. Nguyễn Mạnh Hà
theo sức khỏe đời sống

Khám phá bệnh gan và hội chứng gan phổi

Hội chứng gan phổi thường gặp ở bệnh nhân có bệnh gan làm ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của phổi. Bệnh gây khó thở, mạch máu phổi bị giãn rộng giảm khả năng cung cấp ôxy đến các mô trong cơ thể.

Mắc bệnh gan sẽ dẫn đến hội chứng gan phổi

Hội chứng gan phổi bắt nguồn từ bệnh của gan gây giãn mạch máu phổi, hậu quả là thiếu hụt ôxy trong máu động mạch. Thiếu ôxy máu động mạch là tình trạng phổ biến khi mắc phải bệnh gan. Khi bệnh gan đến giai đoạn cuối, gan tăng sản xuất, giảm thanh thải các chất, đưa vào hệ tuần hoàn các yếu tố gây giãn mạch như nitric oxide, glucagon, peptide kích hoạt calcitonine, peptide gây giãn mạch ở ruột, và nhất là giãn mạch phổi dẫn đến thiếu ôxy máu. Cho đến nay khoa học vẫn chưa xác định chính xác chất gây giãn mạch phổi, do đó việc điều trị bằng thuốc không có kết quả, mà bệnh nhân phải thở ôxy hoặc ghép gan.
gan
Biểu hiện bệnh

Hội chứng bao gồm 3 triệu chứng chính: suy chức năng gan, giãn mạch máu phổi và rối loạn khí máu động mạch. Mức độ giãn mạch máu trong phổi từ 15 – 160 micron, làm quá tải tưới máu dẫn đến tình trạng thông khí tưới máu không cân bằng và là nguyên nhân chính gây thiếu ôxy máu. Triệu chứng điển hình của hội chứng gan phổi là khó thở, cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi cũng khó thở ở bệnh nhân đã bị bệnh gan nhiều năm. Triệu chứng sẽ nặng hơn trong tư thế đứng thẳng vì từ tư thế nằm sang tư thế đứng, áp suất ôxy trong máu động mạch giảm 5% hoặc xuống thấp hơn 4mmHg. Nguyên nhân gây khó thở do các biến chứng của bệnh gan như thiếu máu, cổ trướng, tụ dịch, hay thoái hóa cơ vân. Các triệu chứng khác như: có nhiều mạch máu li ti kết tỏa thành hình mạng nhện trên da; móng tay hình dùi; da bệnh nhân thường bị chứng xanh tím tái do thiếu ôxy trầm trọng.

Xét nghiệm: đo khí máu động mạch thấy nồng độ cũng như áp xuất ôxy trong máu động mạch giảm so với bình thường. Siêu âm tim thấy hình ảnh các bong bóng nhỏ với đường kính trên 10µm để phát hiện sự giãn nở mạch máu phổi. Do trong thủ thuật này thầy thuốc tiêm dung dịch nước muối đã lắc mạnh vào tĩnh mạch ngoại biên sẽ tạo thành các tiểu bong bóng trong lòng mạch. Theo hệ tuần hoàn máu, những tiểu bong bóng này trở về tâm nhĩ phải, xuống tâm thất phải rồi được đưa đến phổi qua động mạch phổi. Bình thường, các tiểu bong bóng này không qua được hệ mao mạch ở phổi vì đường kính chỉ dưới 8-15µm. Nếu hệ mao mạch giãn nở bất thường thì ta có thể thấy những hạt bong bóng ti li trên hình ảnh siêu âm của nhĩ trái.

Kỹ thuật Scan để tìm đại phức hợp albumin-technetium-99m cũng có cơ chế tương tự với siêu âm tim: tiêm nguyên tố phóng xạ nhân tạo technetium-99m vào máu tĩnh mạch, chất này sẽ gắn kết với albumin trong huyết tương, phức hợp này đi đến phổi, xuất hiện ở thận, não theo dòng máu. Bình thường, albumin có đường kính từ 20-60µm, không đi qua được các mao mạch phổi có đường kính dưới 8µm, chỉ khi giãn mạch máu thì nó mới đi qua được nhanh chóng. Chụp Xquang ngực sẽ thấy các vùng tổ ong, nguyên nhân do các mạch máu giãn làm tăng độ mờ đục của ảnh ở vùng đó. Độ mờ đục tăng từ 5-13,8% ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính và tăng 46-100% ở bệnh nhân bị hội chứng gan – phổi. Chụp cắt lớp  giúp chẩn đoán giãn mạch máu, mức độ giãn tăng dần ở những nhánh cuối đến màng phổi. Chụp mạch phổi để kiểm tra tình trạng tưới máu.

Ðiều trị và phòng bệnh

Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc điều trị bằng thuốc đều không cho kết quả.

Liệu pháp thở ôxy sẽ giúp bệnh nhân giảm được tình trạng thiếu hụt ôxy nghiêm trọng mặc dù hiệu quả và lợi ích của nó không có giá trị lâu dài. Biện pháp cơ học tạo đường nối thông tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch chủ bằng phương pháp TIPS giúp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa, song phương pháp này lại gây tăng tuần hoàn máu, giãn mạch máu phổi và làm hội chứng gan phổi trầm trọng hơn.

Phẫu thuật ghép gan là phương pháp điều trị thành công duy nhất, nhưng tỉ lệ tử vong sau mổ cũng như thời gian từ lúc cấy ghép gan đến khi giảm tình trạng thiếu ôxy trong máu động mạch vẫn tăng cao ở bệnh nhân thiếu ôxy máu nặng.

Phòng bệnh: cần đo khí máu động mạch ở bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính, những người có triệu chứng khó thở hoặc sắp tiến hành ghép gan.
Cấy gan của bệnh nhân đã ghép gan kết hợp với việc theo dõi sát các triệu chứng lâm sàng để có thể kiểm soát tốt hội chứng và điều trị kịp thời. Đối với bệnh nhân đã mắc hội chứng gan phổi nên được ưu tiên ghép gan để có hiệu quả điều trị lâu dài.

theo sức khỏe đời sống

Nhận biết bệnh do ấu trùng sán dây

Ấu trùng sán lớn dưới da là một bệnh mạn tính gây tổn thương ở da, cơ, não… do các u nang sán lợn gây nên. Tùy theo vị trí khu trú của nang ở da ảnh hưởng tới thẩm mỹ, ở não có thể gây động kinh, giảm trí nhớ hoặc rối loạn vận động ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống người bệnh.

Bệnh ấu trùng sán dây lợn có ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các vùng có phong tục ăn thịt lợn sống, chưa nấu chín hoặc quản lý phân chưa tốt. Con sán dây lợn trưởng thành dài từ 2 – 3m. Một đốt sán già có thể chứa tới 55 nghìn trứng, nhữngđốt già ở cuối thường rụng thành từng đoạn 5, 6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài. Người là vật chủ chính của sán, còn lợn là vật chủ phụ. Ngoài lợn, chó mèo cũng có thể là vật chủ phụ của sán dây lợn. Nếu lợn ăn phải đốt sán hoặc trứng sán, trứng sán qua dạ dày đến ruột, ấu trùng chui qua thành ruột vào hệ thống tuần hoàn và đi khắp cơ thể lợn. Chỉ sau 24 – 72 giờ kể từ khi ăn phải ấu trùng sẽ cư trú ở các mô hoặc các cơ. Sau 2 tháng, ấu trùng tạo thành một nang có vỏ bọc ngoài có kích thước 17-20 x 7-10mm), khi đó còn được gọi là gạo lợn (cysticereus cellulosae). Trong nang có dịch màu trắng, có mẩu đầu sán với 4 giác và 2 vòng móc.
Khi người ăn phải trứng sán dây lợn, dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, trứng xuống tá tràng, ấu trùng thoát ra khỏi trứng và chui qua thành ruột vào hệ tuần hoàn đi khắp cơ thể, vào các cơ, các mô, phát triển thành nang ấu trùng sán. Người có nang ấu trùng sán còn gọi là bệnh “người gạo”.

san-day

Một người bị bệnh sẽ có các biểu hiện như sau: Ở da có các nang nhỏ, bằng hạt đỗ hoặc hạt dẻ, tròn, chắc, không đau, di động trên nền sâu và lăn dưới da, màu da ở trên nang vẫn bình thường. U nang sán hay nổi ở mặt trong cánh tay nhưng có thể nổi ở bất kỳ vị trí nào và có tính chất đối xứng. Ở người bị bệnh lâu năm, các u nang sán sau nhiều năm sẽ bị vôi hóa. Biểu hiện ở não giống như một u nang trong não hoặc có thể gây nên nhiều triệu chứng đa dạng như: tăng áp lực sọ não, cơn động kinh, suy nhược thần kinh, rối loạn tâm thần, bệnh nhân có thể bị liệt hoặc bị đột tử. Ở mắt: nang ấu trùng có thể nằm trong hốc mắt, mi mắt, trong kết mạc, thủy tinh thể, tiền phòng… làm giảm thị lực hoặc bị mù tùy theo vị trí của ấu trùng trong mắt. Nang ấu trùng ở cơ tim có thể làm cho tim đập nhanh, tiếng tim bị biến đổi, bệnh nhân dễ bị ngất. Để xác định chính xác cần chọc hút và sinh thiết nang ở da tìm ấu trùng sán lợn. Chụp phim Xquang, chụp não thất hoặc soi đáy mắt phát hiện thấy u nang sán hoặc ấu trùng sán lợn. Ngoài ra, xét nghiệm phân tìm trứng sán.

Bệnh ấu trùng sán lợn dưới da cần phải phân biệt với một số bệnh như: u nang bã, u mỡ, u sarcoidose.

Tẩy sán có dễ không?

Dùng một trong các thuốc sau: Có thể dùng quinacrin, người lớn uống từ 0,9 – 1,2g chia liều nhỏ. Ngày hôm trước khi uống thuốc này, nên dùng thuốc nhuận tràng để làm giảm chất nhầy bám quanh thân sán và sau khi uống thuốc 1 giờ phải dùng thuốc tẩy. Lưu ý là nếu dùng thuốc tẩy chậm hơn thì thuốc quinacrin sẽ ngấm vào máu gây độc. Hoặc dùng thuốc niclosamide 0,5g cho uống 4 – 6 viên, thuốc không độc, hiệu quả cao. Buổi sáng nhai từng viên một, nhai thật kỹ, nhai 10 phút uống với một ít nước. Thuốc có thể làm cho trứng và các đốt sán bị tiêu hủy và đào thải ra ngoài. Nếu bệnh u nang sán lợn ở não, có thể dùng praziquantel, methifolat nên phối hợp với corticoid và thuốc chống phù nề não theo chỉ định của bác sĩ.

Điều trị u nang ở da có thể phẫu thuật khi thật cần thiết để giải quyết yếu tố thẩm mỹ hoặc các u nang chèn ép các dây thần kinh.

ThS. Nguyễn Xuân Lãm

theo sức khỏe đời sống

Bí quyết tránh ngộ độc thực phẩm mà người nội trợ nên biết

Ai trong chúng ta ít nhất cũng đã bị nhiễm độc thực phẩm, người nhẹ thì tự khỏi, người nặng phải đi bệnh viện. Vì thế, ngộ độc thực phẩm là nỗi ám ảnh của rất nhiều người. Khi bị ngộ độc thực phẩm, người bệnh không chỉ tốn tiền chạy chữa mà còn gây tổn hại cho sức khỏe, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Đâu là nguyên nhân?

Nhiễm vi sinh vật: Nguyên nhân này chiếm từ 33 – 49% các ca ngộ độc thực phẩm các ca ngộ độc thực phẩm. Vi sinh vật gây bệnh chủ yếu là các chủng Salmonella, E.Coli, Clostridium Perfringens, Listeria. Trong số các chủng này, vi khuẩn Salmonella (có trong thịt, nghêu, sò, gà chưa nấu chín, sữa sống, trứng sống…) là nguyên nhân của 70% vụ ngộ độc. Khuẩn Listeria (trong thịt ướp lạnh, chế phẩm sữa chưa tiệt trùng, thịt nguội…) ít gặp hơn nhưng lại khá nguy hiểm bởi chúng vẫn phát triển ngay cả ở nhiệt độ thấp (4-6oC); khuẩn Clostridium Perfringens hay phát sinh trong các món được nấu nướng và hâm nóng.

ngo-doc

Nhiễm hóa chất: Chiếm từ 11 – 27%. Các hóa chất thường có mặt trong thực phẩm này là chất bảo quản thực phẩm, chất bảo vệ thực vật.

Độc tố tự nhiên trong thực phẩm: Chỉ chiếm từ 6 – 37,5% ca ngộ độc, nhưng lại rất nguy hiểm cho sức khỏe vì dễ dẫn đến sốc phản vệ và tử vong, như trường hợp ăn phải nấm độc hay cá nóc là ví dụ. Rất nhiều thực phẩm ẩn chứa đằng sau sự tươi ngon là liều thuốc độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, măng tươi chứa chất xyanua (CN) có thể gây tử vong ở liều 50-90mg/kg; măng chua acid cyanhydric (HCN) có thể gây ngộ độc cấp tính; khoai tây mọc mầm hay khi vỏ đã chuyển sang màu xanh chứa ancaloid có thể gây ngộ độc cấp tính… Đặc biệt, do thời tiết nóng ẩm của nước ta nên nấm mốc trong thực phẩm có điều kiện phát triển rất nhanh. Không chỉ gây hỏng thực phẩm, nấm mốc còn sản sinh ra các độc tố nguy hiểm có thể gây ung thư gan.

Ngoài các nguyên nhân trên, có rất nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm không thể xác định được nguyên nhân.

Tác hại khi dùng thực phẩm nhiễm bẩn

Các triệu chứng đầu tiên của ngộ độc cấp tính thực phẩm là đau bụng, nôn mửa và tiêu chảy. Nặng hơn thì kèm theo các biểu hiện trên là rối loạn cảm giác, nhức đầu, mệt lả, hôn mê, liệt chi; thay đổi huyết áp, bí tiểu… Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân rất dễ bị tai biến suy tuần hoàn cấp hay trụy tim mạch và tử vong.

Trong trường hợp bị nhiễm độc do kí sinh trùng hoặc do các chất độc chưa đủ mạnh… thì các triệu chứng sẽ diễn ra chậm hơn. Sự nhiễm độc đó được gọi chung là nhiễm độc tiềm ẩn. Nếu bị nhiễm liên tục có thể sau một thời gian sẽ dẫn đến ung thư, các rối loạn chức năng không rõ nguyên nhân, vô sinh, quái thai…

Ngoài ra, còn có những người bị ngộ độc mạn tính do di chứng của ngộ độc cấp hoặc do hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn. Bệnh nhân dạng này có biểu hiện phát bệnh lặp lại thường xuyên hoặc theo chu kỳ. Bệnh thường khó chữa hoặc không chữa khỏi.

Điều nguy hại của ngộ độc thực phẩm dù ở thể nào cũng làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân được cấp cứu kịp thời và chữa trị tốt thì thời gian hồi phục cũng rất lâu. Những trường hợp ngộ độc cấp rất nặng, ngộ độc cấp không được cứu chữa kịp thời hoặc hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn kéo dài dẫn đến bệnh hiểm nghèo… chắc chắn sẽ tử vong.

Điều cần làm để có bữa ăn sạch

Sử dụng nước sạch và thực phẩm tươi. Đây là các thực phẩm có độ an toàn cao nhất, vì thế, khi chọn thực phẩm, cần lựa chọn thực phẩm tươi và nguyên vẹn, đã được tiệt khuẩn. Dùng nước sạch để xử lí thực phẩm. Không sử dụng thực phẩm đã hết hạn sử dụng.

Vệ sinh sạch sẽ. Các vi khuẩn có độc tố thường có ở tay, áo quần và dụng cụ nhà bếp, đặc biệt là các loại dao, thớt…, nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ, qua sự tiếp xúc có thể truyền chúng vào thực phẩm gây nên ngộ độc. Vì thế, hãy rửa tay sạch sẽ trước khi sử dụng thực phẩm và thường xuyên rửa tay trong suốt quá trình chế biến. Rửa và vệ sinh tất cả bề mặt và thiết bị dùng để chế biến thực phẩm; Bảo vệ khu vực bếp và thực phẩm khỏi gián, bọ, chuột và các động vật khác. Rửa tay sạch sau khi đi vệ sinh.

Để riêng thực phẩm sống và đã nấu chín. Thực phẩm sống, đặc biệt là thịt, gia cầm, hải sản có thể chứa vi sinh vật nguy hiểm, sẽ truyền sang thực phẩm khác trong quá trình chế biến và cất giữ. Hãy sử dụng riêng từng dụng cụ, thiết bị như dao, thớt trong chế biến thực phẩm sống. Khi cất giữ, hãy xếp riêng từng loại vào âu có nắp đậy kín.

Nấu chín. Nhiệt độ cao sẽ diệt hầu hết các vi khuẩn gây bệnh, vì thế, khi chế biến thực phẩm, bạn nên nấu chín, đặc biệt là thịt, gia cầm, trứng và hải sản.
Giữ thực phẩm ở nhiệt độ an toàn: Dù tươi sống hay đã nấu chín, chỉ sau một thời gian nhất định là các vi khuẩn gây bệnh sẽ tấn công thực phẩm. Chính vì thế, việc bảo quản thực phẩm là rất quan trọng. Không giữ thực phẩm đã chín tới ở nhiệt độ phòng nhiều hơn 2 giờ. Hâm thực phẩm đã nấu chín ở nhiệt độ trên 60oC trước khi sử dụng. Không bảo quản thực phẩm quá lâu dù trong tủ lạnh.

theo sức khỏe đời sống

Đừng lo khi mắc thận ứ nước

Thận ứ nước là tổn thương làm cho thận bị giãn và sưng to. Ứ nước có thể chỉ ở một bên thận hoặc ở cả hai bên. Bệnh có thể gây suy giảm chức năng thận, gây tổn thương cấu trúc tế bào thận. Các tổn thương này có thể hồi phục nếu giải quyết nhanh, thận hết ứ nước. Trái lại nếu thận ứ nước kéo dài nhiều tuần, tổn thương là vĩnh viễn.

Các bệnh gây ứ nước ở thận
than-u-nuoc
Có nhiều bệnh là nguyên nhân gây ứ nước ở thận: sỏi thận gây tắc nghẽn niệu quản; nếu là sỏi nhỏ, nó di chuyển từ thận xuống bàng quang, nhưng nếu hòn sỏi quá to sẽ gây tắc nghẽn niệu quản, làm cho nước tiểu sẽ ứ lại trên chỗ tắc; trong khi thận vẫn tiếp tục lọc ra nước tiểu mà niệu quản bị tắc, không xuống được bàng quang nên thận bị ứ nước, giãn to. Niệu quản bị hẹp do vết sẹo mổ lấy sỏi thận trước đó cũng gây tắc nghẽn làm thận ứ nước. Ung thư bàng quang, sỏi bàng quang, cổ bàng quang co bất thường cũng gây tắc nghẽn lối nước tiểu từ quàng quang ra niệu đạo, kết quả là nước tiểu ứ lại từ bàng quang, làm thận bị ứ nước.  Niệu đạo hẹp do bị viêm nhiễm, do sỏi cũng gây ứ nước thận.

Các khối u từ bên ngoài đường tiết niệu chèn ép niệu quản và ngăn chặn dòng chảy của nước tiểu. Ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến tiền liệt, phụ nữ mang thai, sa tử cung… Rối loạn chức năng của bàng quang do u não, tổn thương tủy sống hoặc những khối u, bệnh đa xơ cứng và bệnh đái tháo đường… gây trào ngược bàng quang niệu quản làm thận ứ nước.

Dấu hiệu của thận ứ nước

Nếu thận bị ứ nước cấp tính, thường có các triệu chứng:  đau bụng do sỏi thận di chuyển xuống niệu quản cọ xát gây đau, hoặc viên sỏi mắc kẹt tại chỗ niệu quản bị hẹp gây đau. Đau khởi phát ở hông lưng hoặc sườn lưng lan tới háng, kèm theo nôn, buồn nôn và vã mồ hôi. Đau từng cơn, đau nhiều làm cho bệnh nhân quằn quại hoặc cuộn người lại vì đau đớn. Có thể có máu trong nước tiểu.

Trường hợp thận ứ nước mạn tính, thận giãn to dần trong thời gian dài và có thể không có triệu chứng gì. Nếu có các khối u ở xương chậu hoặc bàng quang gây chèn ép có thể phát triển âm thầm, bệnh nhân có thể có các triệu chứng suy thận: mệt mỏi, buồn nôn và nôn, do rối loạn các chất điện giải natri, kali, canxi, bệnh nhân còn bị rối loạn nhịp tim, co thắt cơ bắp.

Xét nghiệm có thể được yêu cầu là: xét nghiệm nước tiểu để phát hiện máu, vi khuẩn gây nhiễm khuẩn hay các tế bào ung thư. Chụp cắt lớp thấy thận bị ứ nước, phát hiện thấy sỏi. Siêu âm thấy thận bị ứ nước.

Những giải pháp tích cực

Khi bị thận ứ nước, bệnh nhân không nên quá lo lắng bi quan, trái lại cần phải bình tĩnh lạc quan để loại bỏ bệnh tật. Cơ sở của sự lạc quan đó là: khoa học ngày nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh thận ứ nước mà bệnh nhân có thể hy vọng được chữa khỏi bệnh.

Mục tiêu điều trị là thông lại dòng chảy tự do của nước tiểu từ thận xuống bàng quang và ra ngoài; làm giảm sưng và giảm áp lực để ngăn chặn suy giảm chức năng thận. Bệnh nhân cần được giảm thiểu đau đớn và ngăn ngừa nhiễm khuẩn đường tiểu. Phẫu thuật để lấy sỏi niệu quản, loại bỏ khối u gây tắc nghẽn niệu quản. Nhiều trường hợp bệnh nhân có thể được tán sỏi bằng tia lase chứ không cần phải mổ. Sóng xung kích bắn vào viên sỏi, làm nó vỡ ra nhiều mảnh nhỏ có thể đi qua đường tiết niệu trong nước tiểu. Nếu bệnh nhân bị bí tiểu và bàng quang mở rộng như là một nguyên nhân gây ứ nước, có thể đặt ống thông bàng quang để tháo nước tiểu giảm áp lực nước tiểu cho thận và giảm đau cho bệnh nhân. Các bệnh nhân bị hẹp niệu quản hay sỏi niệu quản mà có khó khăn để loại bỏ, bác sĩ có thể đặt một stent vào niệu quản đi qua các vật cản và thông dòng nước tiểu chảy từ thận xuống để ra ngoài. Nếu không đặt được stent, biện pháp thay thế là gắn một ống soi thận qua da. Kỹ thuật này là đặt một ống thông qua các khe gian sườn trực tiếp vào thận để tháo nước tiểu ra ngoài, làm cho thận hết bị giãn căng và giảm đau cho bệnh nhân.

Lời khuyên của thầy thuốc

Thận ứ nước có thể phòng tránh được bằng cách tránh các bệnh là nguyên nhân gây ứ nước thận. Chẳng hạn những người bị sỏi thận có thể loại bỏ sỏi bằng cách uống nhiều nước hàng ngày. Nước có thể dùng là nước đun sôi để nguội, nước nấu các loại thuốc Nam có tác dụng làm tan sỏi như: nước râu ngô, nước sắc bông mã đề, nước sắc kim tiền thảo…

Cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn tiết niệu như: sống chung thủy một vợ một chồng; không quan hệ tình dục với gái mại dâm; vệ sinh bộ phận sinh dục trước và sau quan hệ tình dục; tránh tắm rửa ngâm mình trong nước ao hồ bị ô nhiễm; phụ nữ cần vệ sinh đúng cách: chỉ lau rửa vùng kín từ trước ra sau không lau rửa từ sau về trước… để tránh nhiễm khuẩn tiết niệu ngược dòng dẫn đến chít hẹp đường tiết niệu và gây ứ nước thận.

ThS. Trần Tất Thắng

theo sức khỏe đời sống

Một số nguyên nhân thường gặp gây đau thần kinh hông

Ðau thần kinh hông có phòng được không?

Đau thần kinh hông (thần kinh tọa) thường gặp khá nhiều trong cộng đồng, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới (nữ giới chỉ gặp 1/3). Bệnh gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh hoạt, lao động, thậm chí gây tàn phế. Tuy vậy, bệnh đau thần kinh hông cũng có thể phòng ngừa nếu được quan tâm đúng mức.

Một số nguyên nhân thường gặp gây đau thần kinh hông

Tuổi từ 30 – 60 dễ gặp đau dây thần kinh hông. Đau dây thần kinh hông chủ yếu là đau rễ thần kinh thắt lưng 5 và rễ thần kinh cùng 1. Đau thần kinh hông liên quan mật thiết với tủy sống. Về mặt cấu tạo thì tủy sống nằm trong ống sống. Dọc theo cột sống thì mỗi đoạn tủy sống có một đôi rễ thần kinh tương ứng đi ra khỏi ống sống (mỗi bên một rễ thần kinh). Đôi rễ thần kinh này có chức năng chi phối vận động và chi phối cảm giác từng bộ phận của cơ thể. Đôi rễ thần kinh của thắt lưng số 5 và cùng 1 được gọi là thần kinh hông (thần kinh tọa).
than-kinh-hong-1ebdf
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây đau thần kinh hông, bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nhưng nguyên nhân xuất phát từ cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ cao hơn cả, trong đó thoát vị đĩa đệm đóng vai trò chủ yếu. Nghiên cứu cho thấy thoát vị đĩa đệm gây nên đau thần kinh hông chiếm tỷ lệ rất cao (từ 60 – 90%). Đĩa đệm là phần cấu trúc không xương nằm giữa 2 đốt sống, được cấu tạo bởi các sợi rất chắc bao bọc xung quanh và ở giữa là nhân nhày. Đĩa đệm có tác dụng làm “giảm xóc” khi có lực nén tác động vào cột sống (từ trên xuống hoặc từ dưới lên). Khi lực tác động mạnh, đột ngột lên đĩa đệm thì làm cho các vòng sợi có thể bị rách và nhân nhày bị đẩy ra ngoài, chui vào ống sống hoặc chui vào vị trí thoát ra của rễ thần kinh thắt lưng số 5 và cùng 1 làm chèn ép rễ thần kinh và gây đau. Ở người đang độ tuổi lao động, khi làm việc nặng, quá sức, sai tư thế rất có thể bị tổn thương đĩa đệm.

Tổn thương đĩa đệm thường xảy ra cấp tính. Ở người tuổi xế chiều, đau thần kinh hông thường do thoái hóa đĩa đệm cho nên  thường xảy ra mạn tính và hay tái phát. Đau thần kinh hông cũng có thể do có sự biến đổi bất thường ở đốt sống thắt lưng như trượt đốt sống số 5 do cơ học (bưng bê không cân xứng, mang vác nặng) hoặc do đốt sống thắt lưng đã hoặc đang thoái hóa. Đau thần kinh hông cũng có thể do u xương sống, nhiễm khuẩn (lao cột sống, viêm do tụ cầu…), viêm khớp cùng chậu, ung thư ở cơ quan khác di căn đến. Đau thần kinh hông cũng có thể do viêm đốt sống thắt lưng, viêm cột sống dính khớp làm thu hẹp ống sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh và có thể gây nên hội chứng “đuôi ngựa”. Viêm cột sống dính khớp thường gặp ở tuổi trung niên (dưới 40 tuổi), biểu hiện là đau âm ỉ thắt lưng, mông, đau nhiều về đêm và buổi sáng, thường có biểu hiện cứng khớp cột sống thắt lưng làm hạn chế vận động.

Ngoài ra, người ta cũng thấy đau thần kinh hông có thể có liên quan đến chấn thương trực tiếp vào dây thần kinh hông như bị gãy xương chậu hoặc bị tiêm trực tiếp vào thần kinh hông (tiêm mông sai kỹ thuật) hoặc do một loại thuốc dầu được tiêm mông rồi thuốc khuếch tán đến thần kinh hông hay do loãng xương gây thoái hóa khớp.

Biểu hiện của đau thần kinh hông

Đau thần kinh hông dọc theo đường đi của dây thần kinh, vì vậy, triệu chứng đau rất điển hình. Trước tiên là đau thắt lưng, sau đó đau lan xuống mông, đến mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, rồi lan xuống mặt trước mắt cá ngoài, mu bàn chân và vắt ngang qua ngón cái. Nếu tổn thương ở đốt sống thắt lưng số 5 thì đau ở vùng thắt lưng. Cơn đau thường tự nhiên, bột phát, liên tục nhưng có trường hợp đau cấp tính như dao đâm. Điển hình nhất của cơn đau là xuất hiện khi gắng sức cúi xuống để nâng một vật nặng bỗng thấy đau nhói ở thắt lưng, bắt buộc phải ngừng công việc. Sau một vài giờ, tuy không làm việc nặng nữa nhưng lưng vẫn bị đau và có trường hợp vài ba ngày sau đó lưng vẫn còn tiếp tục đau. Đau tăng lên và lan dọc theo dây thần kinh hông, nhất là khi ho, hắt xì hơi hoặc lúc rặn để đại, tiểu tiện. Cơn đau có thể giảm khi nằm nghỉ, nhất là được nằm trên mặt giường cứng.

Ngoài ra, cũng có thể thấy có cảm giác đau như kiến bò, tê cóng hoặc như kim châm ở bờ ngoài bàn chân, bắt chéo qua mu bàn chân và ngón cái hoặc ngón út bàn chân. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của ngành khoa học y học mà việc chẩn đoán đau dây thần kinh hông có nhiều thuận lợi hơn như chụp bao rễ thần kinh, chụp cắt lớp vi tính (chụp CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI). Đau thần kinh hông nếu không được chữa trị nghiêm túc sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sức lao động, lâu dần sẽ bị teo cơ và có thể gây tàn phế.

Cách phòng bệnh

Ngoài 30 tuổi, (nam và nữ) nên theo dõi mật độ xương định kỳ  nhằm phát hiện sớm hiện tượng loãng xương gây thoái hóa khớp, đặc biệt là người lao động chân tay hoặc người phải ngồi lâu, nhiều giờ trong 1 ngày và kéo dài nhiều tháng, nhiều năm. Hàng ngày, nên tập thể dục đều đặn để khí huyết lưu thông, thuận lợi cho việc nuôi dưỡng các cơ quan và các khớp xương. Cần có các động tác tập các khớp xương thích hợp, nhẹ nhàng, uyển chuyển, ví dụ như các động tác tập thể dục buổi sáng. Những người phải thường xuyên mang vác nặng cần thao tác đúng tư thế, tránh để xảy ra hiện tượng chấn thương lồi đĩa đệm hoặc trật, trượt khớp đốt sống. Khi bị thoái hóa cột sống thắt lưng, viêm khớp cùng chậu, cần điều trị tích cực đúng theo chỉ định của thầy thuốc, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa khớp. Người bị đau thần kinh hông cần điều trị tích cực theo chỉ định của bác sĩ để tránh bệnh trở thành mạn tính, thậm chí gây biến chứng teo cơ, tàn phế. Ngoài ra, cần ăn uống đủ chất và bổ sung lượng canxi cần thiết khi có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình.

PGS.Ts.TTƯT. Bùi Khắc Hậu
theo sức khỏe đời sống

Phương pháp điều trị bệnh tiểu đường hiệu quả

Phương pháp điều trị bệnh tiểu đường hiệu quả

Đái tháo đường, còn gọi là bệnh tiểu đường hay bệnh dư đường. Đây là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể.

Bệnh có biểu hiện là mức đường trong máu luôn cao; trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước.

Bệnh tiểu đường có thể phòng ngừa và điều trị. Nhưng những biến chứng của bệnh tiểu đường là cực kỳ nguy hiểm:
phuong-phap-dieu-tri-benh-tieu-duong-hieu-qua
– Tim mạch: cao huyết áp, xơ vữa động mạch, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim.
– Thận: đạm trong nước tiểu, suy thận.
– Mắt: đục thủy tinh thể, mù mắt.
– Thần kinh: dị cảm, tê tay chân.
– Nhiễm trùng: da, đường tiểu, lao phổi, nhiễm trùng bàn chân…
– Tử vong.

Với những biến chứng nguy hiểm của tiểu đường, bên cạnh đó là chế độ ăn khắt khe. Người bị tiểu đường rất khó có thể bổ sung được đầy đủ dinh dưỡng vào cơ thể bằng những loại thực phẩm thông thường.

Tảo Mặt trời Spirulina là một loại thực phẩm lý tưởng cho người bị tiểu đường vì:

Trong tảo giàu những khoáng chất tự nhiên như: Sắt, Canxi, Kali, Magie… đặc biệt là Kẽm – Loại khoáng chất người tiểu đường cực kỳ thiếu do chế độ ăn phải hạn chế các loại thịt động vật, hải sản. Do đó, Tảo mặt trời Gold Plus được bổ sung thêm Kẽm, chỉ cần 3g Tảo Mặt trời Gold Plus có thể bù đắp 20% lượng Kẽm cần thiết trong ngày. Ngoài ra, việc bổ sung một lượng lớn các chất chống oxi hóa như: phycocyanin, chlorophyll… từ Tảo Mặt Trời sẽ tăng cường sức đề kháng cho người bị tiểu đường dễ bị suy giảm miễn dịch do chế độ ăn kiêng thiếu chất.

Thêm vào đó Tảo Mặt trời với lượng Vitamin dồi dào, đặc biệt là Vitamin A và Zeaxanthin là những chất được Hiệp hội nhãn khoa Hoa Kỳ khuyên dùng có chức năng bảo vệ các mao mạch, các dây thần kinh ở võng mạc, giúp cho bệnh nhân tiểu đường sáng mắt, hạn chế các biến chứng về mắt mà người tiểu đường lâu năm hay bị. Trong tảo còn chứa Phenylalanine tác dụng lên trung tâm thèm ăn ở bộ não làm giảm các cơn đói dày vò đồng thời nó giữ cho lượng đường trong máu ở mức bình thường. Với Phycocyanin và Chlorophyll là những hoạt chất sinh học quý giá giúp thanh lọc thải độc cho cơ thể, acid GLA và vitamin K (3 gr Tảo Mặt trời tương đương 20 % lượng vitamin K cần thiết/ngày), giúp đốt lượng mỡ thừa giúp cho cơ thể người bị tiểu đường hạn chế biến chứng về tim mạch đặc biệt là xơ vữa động mạch.

Với tỷ lệ dinh dưỡng: hàm lượng Carbohydrate 15-25%, hàm lượng Đạm thực vật dễ tiêu từ 8 loại axit amin không thay thế từ 55-75%, hàm lượng chất béo 0%, không chứa đường, tinh bột  do vậy tảo Mặt trời là một nguồn thực phẩm tự nhiên cân đối, hoàn hảo rất an toàn cho người  bị tiểu đường đồng thời hỗ trợ kiểm soát một cách hiệu quả lượng đường trong máu.

Để điều trị tối đa cho người bị tiểu đường: Mỗi ngày chỉ cần 6 viên Tảo Mặt trời Gold vào buổi sáng, 6 viên Tảo Mặt trời tự nhiên vào buổi trưa và tối trong 2 tháng đầu tiên khi uống tảo Mặt trời sẽ hỗ trợ điều trị cho người bị tiểu đường hiệu quả nhất. Sau đó nên dùng liều duy trì từ 6-12 viên Tảo Gold/ngày hoặc Tảo Mặt trời tự nhiên để ổn định đường huyết, hỗ trợ cho hệ miễn dịch cho sức khỏe bền vững.

Song song với việc uống Tảo Mặt trời trong điều trị bệnh tiểu đường người bệnh cần có chế độ ăn uống và vận động hợp lý:
Ăn uống:

– Hạn chế các loại chất bột đường, chất béo (mỡ động vật) và những thức ăn giàu năng lượng rỗng như: bánh kẹo, nước ngọt…
– Hạn chế mức đường ăn vào cơ thể ở mức tối tiểu, nên dùng các chất tạo vị ngọt tự nhiên để thay cho đường như chiết xuất từ cây cỏ ngọt.
– Tăng cường cung cấp cho cơ thể chất xơ: rau xanh, trái cây.
– Ăn đa dạng các loại thức ăn trong một ngày, ăn có chừng mực: không nên để quá đói cũng như: không nên ăn quá no, nên ăn những thức ăn càng gần với tự nhiên càng tốt vì nó không làm mất đi những thành phần dinh dưỡng trong thức ăn.

Kết hợp với các hoạt động khác như:

– Chơi thể thao hơn 30 phút trong hầu hết các ngày.
– Tập thể dục khoảng 1giờ/ngày trong hầu hết các ngày.
– Năng động trong mọi hoạt động, bước khoảng từ 5.000-10.000 bước chân/ngày.
– Giữ vệ sinh cá nhân tốt, kiểm tra đường huyết  hàng tháng và kiểm tra mắt hàng quý.

Theo afamily

Khi bị rối loạn tiêu hóa

Rối loạn tiêu hóa là một cụm từ dùng để chỉ sự thay đổi hoặc xuất hiện một số triệu chứng ở đường tiêu hóa ví dụ như nôn, buồn nôn, đau bụng …

Rối loạn tiêu hóa là tình trạng không bình thường diễn ra ở đường tiêu hóa (từ miệng đến hậu môn). Rối loạn tiêu hóa có thể là bệnh lý hoặc không phải bệnh lý. Bệnh lý có thể xảy ra ngay tại đường tiêu hóa nhưng cũng có thể xảy ra ngoài đường tiêu hóa. Mọi lứa tuối đều có thể bị rối loạn tiêu hóa và tình trạng rối loạn tiêu hóa ở mỗi một cá thể thường không giống nhau.

Rối loạn tiêu hóa không phải bệnh lý
Trong cuộc sống hàng ngày có nhiều trường hợp rối loạn tiêu hóa nhưng không phải bệnh lý ví dụ như đối với trẻ do ăn chế độ không phù hợp làm cho tiêu hóa không bình thường, biểu hiện là phân nát, có bọt, màu hoa cà hoa cải, mùi tanh…

roi-loan-tieu-hoa

Nhiều trường hợp do mắc bệnh nhiễm khuẩn nào đó phải dùng kháng sinh nhưng người bệnh không tuân thủ chỉ định của thầy thuốc, dùng không đúng liều lượng hoặc dùng kháng sinh không đúng chỉ định làm cho mất cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật ở đường ruột, xuất hiện đi đại tiện thấy phân lúc lỏng, lúc đặc, lúc nhão, có mùi tanh, hôi; kèm theo phân bị thay đổi cả về số lượng lẫn mùi, màu sắc và tính chất, đồng thời có thể xuất hiện những cơn đau bụng không thường xuyên. Hiện tượng làm mất cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật ở ruột được gọi là “loạn khuẩn”. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý của một số người, nhất là hiện tượng tự mua thuốc để điều trị bệnh cho mình hoặc người nhà của mình rất dễ dẫn đến “loạn khuẩn”.

Muốn biết có phải bị loạn khuẩn đường tiêu hóa hay không, bạn cần xét nghiệm phân. Khi có kết quả đánh giá bị “loạn khuẩn” của phòng xét nghiệm vi sinh y học, bác sĩ khám bệnh sẽ có phương pháp để điều chỉnh sự “loạn khuẩn” đó. Hoặc trường hợp phụ nữ nghén khi mang thai nhưng cũng có dấu hiệu rối loạn tiêu hóa như không muốn ăn, nôn, buồn nôn, ọe.

Rối loạn tiêu hóa do bệnh lý

Hiện tượng ăn không tiêu, đầy hơi, chướng bụng, nôn, buồn nôn, ọe, đi lỏng hoặc táo bón, đau bụng âm ỉ hoặc đau từng cơn… là những biểu hiện cơ bản của rối loạn tiêu hóa thường gặp trong một số bệnh lý. Tuy nhiên, tùy theo từng loại bệnh mà triệu chứng xuất hiện có khác nhau không nhất thiết có đầy đủ các triệu chứng, có khi chỉ có một hoặc hai triệu chứng cũng có thể gọi là rối loạn tiêu hóa. Hội chứng dạ dày, tá tràng (viêm hoặc loét) đau khi đói hoặc sau ăn, hoặc đau theo chu kỳ kèm theo đầy hơi, chướng bụng, buồn nôn hoặc nôn (trong trường hợp hẹp môn vị, u dạ dày thì nôn nhiều hơn).

Viêm ruột thừa cấp tính thường có đau bụng âm ỉ hoặc từng cơn, hay gặp nhất là đau ở vùng hố chậu phải kèm theo buồn nôn hoặc nôn, bí trung, đại tiện. Có những bệnh nhân bị sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang) ngoài đau bụng âm ỉ hoặc quằn quại, đau xuyên ra sau lưng thì đầy hơi trướng bụng, buồn nôn, nôn cũng có thể xuất hiện. Một số bệnh gây viêm ruột cấp tính cũng có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa rầm rộ như đau bụng, buồn nôn, nôn, đi lỏng nhiều lần như bệnh tả, bệnh thương hàn, bệnh lỵ trực khuẩn, bệnh ngộ độc thực phẩm… Viêm đại tràng co thắt thì có những biểu hiện của rối loạn tiêu hóa có phần khác với viêm ruột cấp tính… Có một số cơ quan ngoài đường tiêu hóa nhưng khi bị bệnh cũng có một số triệu chứng rối loạn tiêu hóa như bệnh thiểu năng tuần hoàn não, bệnh rối loạn ốc tiền đình (cũng có triệu chứng buồn nôn, nôn).

Khi bị rối loạn tiêu hóa nên làm gì?

Vì rối loạn tiêu hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau, có từng mức độ khác nhau ở mỗi người, nên người bệnh cần đi khám bác sĩ. Với trẻ em đang bú mẹ, đang ăn bổ sung (ăn sam), đang uống sữa bò, trẻ còi xương, suy dinh dưỡng hoặc các cháu mới đi nhà trẻ, mẫu giáo do chế độ ăn chưa phù hợp tốt nhất là nên đến bệnh viện nhi, khoa nhi hoặc trung tâm dinh dưỡng để được bác sĩ chuyên khoa khám bệnh và tư vấn.

Khi rối loạn tiêu hóa có kèm theo đau bụng thì đi khám bệnh càng sớm càng tốt để đề phòng mắc bệnh cấp tính như bệnh viêm ruột thừa, thủng dạ dày, ngộ độc thực phẩm… Nếu không đi khám ngay để được xử trí kịp thời, người bệnh có thể gặp nguy hiểm đối với tính mạng.

Khi bị bệnh nhiễm khuẩn, người bệnh cần dùng kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ, không tùy tiện  mua kháng sinh để dùng khi chưa có chỉ định.

Theo VTV

Những điều dễ quên khi bị đường tiêu hóa

Ít ai ngờ đường tiêu hóa trở chứng nhiều lúc lại vì một số lý do rất thông thường. Vì thế bạn nên nhớ những chỉ dẫn sau.Có một chuyện chắc chắn rất quen thuộc trong nhiều phòng khám. Đó là không ít bệnh nhân gõ cửa thầy thuốc vì rối loạn tiêu hóa dưới dạng đầy bụng, khó tiêu, ợ hơi, nhất là đói run nhưng vừa ăn ít miếng đã no ngang.

Bệnh không nặng đến độ gọi xe cấp cứu nhưng cứ rề rề nay đau mai yếu làm giảm chất lượng cuộc sống. Khổ không chỉ cho bệnh nhân mà còn kẹt cho thầy thuốc vì thường khi siêu âm, nội soi, xét nghiệm thì không tìm ra nguyên nhân.

Hậu quả là bệnh nhân đổi thầy thuốc hoài nhưng vẫn tức cành hông. Đáng tiếc là ít ai ngờ đường tiêu hóa trở chứng nhiều lúc lại vì một số lý do rất thông thường. Chẳng hạn:
duong-tieu-hoa
– Tuy làm đúng nhưng thực hiện quá nhanh, chẳng hạn đổi từ gạo trắng sang gạo lức, sang nếp… cái rụp! Tương tự như thế là trường hợp của người trước đó mạnh miệng với thực phẩm công nghệ bỗng chuyển sang khẩu phần với nhiều rau quả tươi.

– Thông hiểu tính chất hữu ích của chất xơ trong rau quả, mễ cốc nhưng dùng quá liều khiến bội tăng hiện tượng đầy hơi trong khung ruột.

– Thường có khẩu phần quá nhiều tinh bột nên vô tình tiếp tay cho phản ứng lên men của lực lượng vi sinh có hại luôn sống chực chờ trên nền ruột.

– Quá mạnh miệng với các món ngọt theo kiểu ăn vặt suốt ngày mà không ngờ là đường ủ đến lên men rồi thành rượu ngay trong lòng ruột.

– Có thói quen ăn quá nhiều rau cải tươi trong bữa cơm chiều trong khi lá gan theo đúng nhịp sinh học lại giảm hoạt động sau 19 giờ. Hậu quả, các loại hơi có hại cho sức khỏe dễ tích lũy trong lòng ruột.

– Trước đó mạnh miệng với thịt, cá bỗng đổi sang chay trường. Hậu quả là lượng mật trước đó được bài tiết theo thói quen nay bỗng thừa thãi. Mật khi đó sẽ kích ứng khung ruột. Đừng quên rằng mật rất cần thiết để tiêu hóa chất béo trong thịt, cá nhưng thừa mật trong lòng ruột lại là một trong các nguyên nhân dẫn đến ung thư ruột già.

– Uống trà suốt ngày mà không ngờ lượng trà quá cao là lý do khiến thất thoát khoáng tố kali. Hậu quả là nhu động của khung ruột trở nên ù lỳ nên gia chủ không nuốt hơi mà vẫn đầy bụng, không ăn nhiều mà vẫn khó tiêu.

Đổi hướng nếu cần thiết tất nhiên là đúng nhưng cũng như việc điều khiển xe, nếu quẹo quá gắt thì có khi lạc tay lái rồi mất cả chì lẫn chài!

Theo NLĐ

Khốn khổ vì bệnh trĩ

Bệnh trĩ tuy ít gây tử vong nhưng lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, khiến nhiều người ăn không ngon, ngủ không yên. Nếu không biết quan tâm phòng ngừa, chữa trị sớm và đúng cách, có thể gây biến chứng.

Ăn không ngon, ngủ không yên

Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Nhâm, Chủ tịch Hội hậu môn trực tràng, có nhiều nguyên nhân gây bệnh trĩ như táo bón kinh niên, béo phì, hay mang vác nặng, mang thai và sinh con… Tỷ lệ mắc trĩ ở Việt Nam hiện nay lên tới 35-50%. Một nghiên cứu mới đây ở các tỉnh phía Bắc, có tới 55% dân số mắc trĩ. Trong đó, dân văn phòng là đối tượng hay bị bệnh trĩ tấn công nhất. Bệnh trĩ tuy ít gây tử vong ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.

Như trường hợp của chị Thương, 23 tuổi ở Hà Đông – Hà Nội. Ban đầu chị chỉ bị táo bón và đi ngoài ra máu. Đi khám bác sĩ bảo chị bị trĩ độ nhẹ và cho thuốc về nhà uống. Chị vừa uống thuốc, vừa điều chỉnh ăn uống và sinh hoạt, bệnh có đỡ. Nhưng chỉ một thời gian sau, bệnh nặng hơn, búi trĩ lòi cả ra ngoài, gây đau đớn, khổ sở. Khổ nhất là cả khi ăn, ngủ và ngồi làm việc chị luôn cảm thấy đau khiến chị trở nên hay cáu bẳn, mệt mỏi. Ngay cả trong quan hệ vợ chồng chị cũng mất hết cảm hứng nên toàn tìm cách thoái thác vì mùi hôi khó chịu từ nơi những búi trĩ xa xuống to tướng, mủ, nước nhè nhẹt…

tri

Ông Trần Văn Phung (60 tuổi ở Minh Khai – TP Hà Giang) nhiều năm cũng khốn khổ vì bệnh trĩ. Bác chia sẻ: “Năm 2002, khi thấy hiện tượng đau rát, không ngủ được vì ngứa hậu môn, đi cầu ra máu, tôi đi khám thì phát hiện bị trĩ nội độ 4. Tôi xuống điều trị tại một cơ sở y tế ở Nam Định nhưng mãi không khỏi. Uống thuốc điều trị theo đơn, thấy các triệu chứng dứt nhanh nhưng sau đó dấu hiệu ngứa rát, tức nặng hậu môn vẫn tái phát kèm theo búi trĩ thụt thò hậu môn. Thỉnh thoảng lại phải dùng tay ấn mãi mới vào”. Để đối phó với bệnh, ngày nào ông cũng mất nhiều thời gian ngâm hậu môn vào chậu nước ấm có pha chút muối và vệ sinh bằng nước sạch mỗi khi đi cầu xong. Rồi giã búp tre non, vắt lấy nước uống nên chẳng còn thời gian làm việc.

Lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp

Theo PGS Nguyễn Mạnh Nhâm, triệu chứng sớm và dễ gặp nhất là người bệnh bị chảy máu. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi đại tiện, máu chảy ra thành cục. Hiện tượng sa búi trĩ thường xảy ra sau đó. Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu chứng khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn gây khó chịu. Bệnh trĩ không khó chữa, nhưng rất nhiều người chữa không khỏi, do điều trị không dứt điểm hoặc phương pháp điều trị chưa hợp lý.

Tùy theo mức độ nặng nhẹ mà thầy thuốc sẽ đưa ra cách điều trị phù hợp như chích xơ, thắt trĩ bằng vòng cao su, quang đông hồng ngoại… Nếu điều trị bằng nội khoa, bệnh nhân sẽ được dùng các loại thuốc trợ tĩnh mạch, sử dụng các loại thuốc mỡ bôi tại chỗ… Nếu phẫu thuật chữa trĩ, người bệnh phải chịu đau đớn mà quá trình điều trị cũng kéo dài và tốn kém.

PGS.TS thầy thuốc ưu tú Đỗ Ngọc Tấn – phòng khám chuyên chữa bệnh trĩ ĐNT (60 Hào Nam, Hà Nội) cho biết, bệnh trĩ do giãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ ở mô xung quanh hậu môn. Trĩ được chia làm 4 loại (trĩ nội, trĩ ngoại và trĩ hỗn hợp, trĩ vòng) và 4 mức độ (từ I đến IV) tùy theo triệu chứng và độ lớn của trĩ. Mỗi loại trĩ và mỗi mức độ có những biện pháp điều trị khác nhau. Bệnh trĩ không nguy hiểm đến tính mạng nhưng để lâu không điều trị có thể tăng nguy cơ viêm ống hậu môn mãn tính, hẹp trực tràng, áp xe rò hậu môn. Đặc biệt là ung thư trực tràng.

Những phương pháp mới trong điều trị bệnh trĩ thời gian gần đây đã khắc phục được nhiều mặt hạn chế của phương pháp cổ điển. Để giảm bớt sự đau đớn cho bệnh nhân, phòng khám ĐNT áp dụng biện pháp tiêm điều trị nội khoa của các chuyên gia Pháp, không cần phẫu thuật.

Phương pháp tiêm thuốc gây xơ trực tiếp vào búi trĩ và vùng quanh các búi trĩ có tác dụng rất tốt đối với mọi trường hợp trĩ nội, ngoại. Thuốc lan toả tới tận các nhánh nhỏ của đám trĩ đang giãn mỏng, có tác dụng làm xơ thành mạch và niêm mạc trên bề mặt búi trĩ, tạo sự kết dính trở lại giữa ba phần cơ – mạch máu – niêm mạc, làm mất tình trạng căng mỏng dễ vỡ khi có áp lực của thành mạch nhưng vẫn giữ được sự lưu thông máu bình thường. Đây là một ưu điểm vượt trội so với các phương pháp thắt và cắt, hoặc mổ. Việc cắt, thắt làm mất chức năng lưu thông máu. Do vậy, lượng máu lưu thông sẽ dồn sang hệ thống mạch máu khác, kết quả lại gây ra trĩ và đó là lý do tại sao trong điều trị bệnh trĩ rất hay bị tái phát. Hơn thế, khi tiêm đủ liều và số lần và tại các điểm khác nhau sẽ tăng cường khả năng co thắt của lớp cơ thắt hậu môn và cơ nâng hậu môn.

Đến nay, phòng khám đã điều trị thành công cho gần 30.000 bệnh nhân với các thể loại bệnh trĩ khác nhau ở trên 30 tỉnh/thành phố. Hiệu quả khỏi bệnh cao đối với từng mức độ và loại bệnh như trĩ nội độ 2 sau 5 lần tiêm, độ nội độ 3 sau 7 lần tiêm, trĩ nội độ bốn sau 9 – 10 lần tiêm và trĩ ngoại, trĩ hỗn hợp và trĩ vòng tối đa là 10 lần. Tỷ lệ tái phát rất thấp, chỉ vào khoảng 2%/2 – 5 năm. Khi tái phát chỉ cần tiêm thêm từ 1 – 2 lần là đảm bảo. Đặc biệt, bệnh nhân thích cách chữa bệnh không cần phẫu thuật vì không phải đau đớn, không phải mất máu và không phải nằm viện. Trong thời gian điều trị, họ không phải nghỉ lao động và tránh được các tai biến mà các phương pháp cắt, mổ thường mang lại.

“Sau khi chữa trị ở nhiều nơi không khỏi, tình cờ tôi tìm đến phòng khám ĐNT ở 60 Hào Nam, chỉ sau 8 mũi tiêm, bệnh của tôi đã ổn định. Bây giờ tôi có thể vô tư ngồi nói chuyện mà không sợ búi trĩ sa dần ra ngoài hậu môn nữa. Hiện nay tôi đã dừng thuốc được 7 năm nhưng bệnh không còn bị tái phát như các loại thuốc trước đây nữa. Nhiều người được tôi mách xuống đây chữa cũng đã khỏi”-  ông Phung chia sẻ.

Diệu Thiện
Theo gia đình

Dầu cá giúp giảm nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến

Dầu cá có thể bảo vệ nam giới khỏi nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt, một nghiên cứu chỉ rõ.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng uống 1 liều axit béo omega-3, hoặc dầu cá Xem ảnh lớntrong cá trích, cá hồi, cá thu, có thể giảm nguy cơ phát triển bệnh ung thư khoảng 60%. Nó cũng có tác dụng đối với những người mang gien làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt (Những người mang gien COX-2 có nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến cao gấp 5 lần so với người không mang gien).

Nghiên cứu đã so sánh chế độ dinh dưỡng của 466 nam giới có bệnh với 478 nam giới khỏe mạnh. Họ phát hiện ra rằng những người thường xuyên ăn cá béo giàu omega – 3, từ 1 – 3 lần mỗi tháng sẽ giảm 36% nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến so với những người không bao giờ ăn các loại cá này. Bổ sung dầu cá 1 lần mỗi tuần sẽ có hiệu quả cao hơn nữa, giảm tới 57% nguy cơ.

dau-ca

Ngoài cá béo, có thể ăn các loại ngao sò. Loài động vật có vỏ thân mềm này cũng rất giàu axit béo omega-3.

Trưởng nhóm nghiên cứu, GS John Witte, ĐH California (San Francisco, Mỹ) cho biết: “Người mang gien COX-2 có thể giảm nguy cơ mắc bệnh nếu uống nửa gam dầu cá mỗi ngày”.

Theo giải thích của các nhà khoa học, axit béo omega-3 giúp ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt nhờ khả năng chống viêm. Có nhiều bằng chứng cho thấy sự viêm nhiễm tác động tới nguy cơ ung thư. Những viêm nhiễm không được hệ miễn dịch “hưởng ứng”, có thể bị ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng, sự nhiễm khuẩn và gien.

Những phát hiện này được đăng tải trên tạp chí y học Cancer Research.
Theo Minh Thu
Dân trí/Dailymail