Tag Archives: sức đề kháng

Dinh dưỡng cho con vào những ngày dịch sởi bùng phát

Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut sởi gây ra, hay gặp ở trẻ em và cả người lớn nếu không có miễn dịch đối với bệnh sởi. Bệnh sởi tiến triển nặng ở trẻ nhỏ có tình trạng dinh dưỡng kém, đặc biệt là thiếu vitamin A, suy dinh dưỡng hoặc trẻ có hệ thống miễn dịch suy giảm và do sức đề kháng của cơ thể suy giảm nên bệnh nhân dễ bị biến chứng.

Biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh sởi là mù lòa, viêm não, tiêu chảy nặng và mất nước, viêm tai giữa hoặc nhiễm trùng hô hấp nặng như viêm phổi. Có khoảng 10% trường hợp mắc sởi tử vong trong các quần thể dân cư có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao và chăm sóc y tế hạn chế. Phụ nữ bị mắc sởi khi đang mang thai cũng có nguy cơ bị các biến chứng nặng và có thể gây sảy thai hoặc đẻ non.

Không có thuốc đặc hiệu đối với virut sởi, do đó điều trị bệnh sởi chủ yếu là điều trị triệu chứng, nâng cao thể trạng và phòng ngừa biến chứng. Các biến chứng nặng của bệnh sởi có thể giảm nhẹ hoặc phòng tránh được bằng việc chăm sóc hỗ trợ đảm bảo dinh dưỡng tốt, uống bổ sung vitamin A theo quy định, bồi phụ đủ nước và điều trị mất nước với dung dịch bù nước điện giải (oresol, hydrite…). Kháng sinh chỉ dùng để điều trị khi có nhiễm trùng mắt, tai và viêm phổi. Cách tốt nhất để phòng ngừa bệnh sởi là tiêm vắc-xin sởi đúng quy định, nâng cao thể trạng bằng dinh dưỡng hợp lý.

dinh-duong-cho-con-vao-nhung-ngay-dich-soi-bung-phat

Các triệu chứng của bệnh sởi chính là tác nhân gây ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Trẻ bị sởi thường chán ăn, bỏ ăn hay từ chối không ăn do bị viêm loét ở miệng, do tình trạng nhiễm trùng; nôn và tiêu chảy không chỉ làm tăng nhu cầu một số chất dinh dưỡng mà còn tăng đào thải và giảm hấp thu chất dinh dưỡng.

Đặc biệt, bệnh sởi có thể gây thiếu vitamin A, kể cả ở những trẻ trước đó được nuôi dưỡng tốt và không thiếu vitamin A và có thể gây các biến chứng viêm loét giác mạc, thậm chí gây mù lòa. Bộ Y tế đã khuyến cáo tất cả trẻ em được chẩn đoán mắc bệnh sởi cần được uống bổ sung ngay vitamin A trong 2 ngày liên tiếp với liều 50.000 UI/ngày cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, 1 viên nang vitamin A 100.000IU/ngày cho trẻ từ 6 – 12 tháng; 1 viên nang 200.000IU/ngày cho trẻ trên 12 tháng tuổi.

Nếu trẻ có biểu hiện thiếu vitamin A cần được uống lặp lại 1 liều như trên sau 4-6 tuần. Việc bổ sung này giúp dự trữ vitamin A trong thời gian mắc bệnh sởi, kể cả ở trẻ được nuôi dưỡng tốt và có thể giúp bảo vệ mắt, chống mù lòa. Bổ sung vitamin A đã được một số nghiên cứu chứng minh làm giảm 50% trường hợp tử vong do bệnh sởi.

Chăm sóc dinh dưỡng là vô cùng quan trọng trong dự phòng và hỗ trợ điều trị bệnh sởi để giúp cơ thể tăng sức đề kháng chống lại tác nhân gây bệnh, giảm nguy cơ mắc các biến chứng hay giảm nhẹ biến chứng khi đã mắc. Trẻ suy dinh dưỡng thường dễ bị mắc sởi và bị biến chứng nặng.

Ngược lại, trẻ bị mắc sởi lại dễ bị suy dinh dưỡng thậm chí suy dinh dưỡng nặng. Do đó, nếu trong quá trình điều trị bệnh sởi, nếu trẻ bị suy dinh dưỡng nặng sẽ cần được áp dụng chế độ điều trị suy dinh dưỡng. Việc lựa chọn thực phẩm hợp lý và chế độ dinh dưỡng đúng cách sẽ mang lại lợi ích trong việc phòng và chữa bệnh sởi. Các bậc phụ huynh nên chú ý một số điểm sau:

Lựa chọn thực phẩm:
– Đối với trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ: bà mẹ cần tiếp tục cho con bú, cho bú nhiều lần hơn kết hợp với ăn bổ sung hợp lý. Thực hiện cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là biện pháp tốt nhất giúp trẻ tăng trưởng, phát triển tối ưu và góp phần phòng bệnh tốt nhất.

– Cho trẻ ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng, đa dạng thực phẩm (đủ 4 nhóm thực phẩm: nhóm chất đạm, nhóm chất béo, nhóm chất bột đường, nhóm cung cấp vitamin và chất khoáng với 15 loại thực phẩm), không quá kiêng khem để bù lại các chất dinh dưỡng mất đi (đặc biệt là năng lượng và protein) do quá trình nhiễm trùng và tiến triển bệnh.

– Cần cho trẻ ăn đủ các thức ăn giàu đạm. Đặc biệt các thực phẩm giàu đạm có giá trị sinh học cao như thịt, cá (cá chép, cá quả, cá ba sa, sa ba, cá bông lau, cá hồi, cá trích…), trứng, sữa, hải sản đồng thời cũng là nguồn cung cấp kẽm và sắt giúp tăng cường hệ miễn dịch và sức đề kháng cho trẻ. Trong trường hợp trẻ bị biến chứng tiêu chảy hoặc viêm phổi, cần bổ sung kẽm theo hướng dẫn của y tế bằng đường uống cho trẻ.

– Cần cho trẻ ăn tăng rau, quả có màu vàng, đỏ (như cà rốt, cà chua, bí đỏ, cam, xoài, đu đủ, dưa hấu…) và các loại rau có lá xanh sẫm (như rau muống, rau ngót, rau dền đỏ, cải bó xôi, súp lơ xanh…) vì có nhiều vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin A, vitamin C… giúp tăng cường miễn dịch, chống nhiễm trùng và làm nhanh lành các tổn thương, đặc biệt tổn thương ở mắt, chống mù lòa. Các loại quả khác giàu vitamin C giúp nâng cao sức đề kháng và cung cấp nước cho trẻ như bưởi, táo, lê… cũng rất tốt. Bên cạnh đó, trẻ cần được uống bổ sung vitamin A theo phác đồ điều trị.

– Khi đang bị bệnh sởi không nên dùng các loại gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu, quế, hành tây, tỏi, cà ri…, hạn chế thức ăn chứa nhiều chất béo no, nội tạng động vật. Tuyệt đối tránh, không dùng các thức ăn mà đã bị dị ứng hoặc các thức ăn lạ.

Về cách chế biến:
– Cần đảm bảo khẩu phần ăn hàng ngày với các món ăn hợp khẩu vị nhưng thức ăn cần được cắt thái hoặc xay nhỏ hơn, chế biến mềm hơn, lỏng hơn so với lúc chưa bị bệnh, thay đổi món ăn và chia làm nhiều bữa nhỏ để giúp cho quá trình ăn nhai tốt hơn, ăn ngon miệng hơn và dễ tiêu hóa hơn.
– Hạn chế cách chế biến chiên xào nhiều dầu mỡ, thức ăn nướng, xông khói,… không có lợi cho người bệnh sởi.

Cần cho trẻ uống đủ nước, nhất là trong giai đoạn trẻ đang sốt, nôn, tiêu chảy. Có thể cho trẻ uống nước quả như nước cam, nước bưởi, nước chanh và các loại nước quả, sinh tố khác. Khi trẻ sốt cao, nôn và tiêu chảy cần cho trẻ uống dung dịch oresol để bù nước và điện giải theo hướng dẫn.
Sau khi trẻ đã khỏi bệnh, cần cho trẻ ăn nhiều hơn trong giai đoạn hồi phục ít nhất là 2 tuần để trẻ có thể nhanh chóng trở về tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe bình thường.

Để dự phòng tránh mắc bệnh sởi, mọi trẻ em đều cần được tiêm vắc-xin sởi đầy đủ theo hướng dẫn của chuyên môn, đồng thời uống bổ sung vitamin A liều cao 6 tháng một lần đối với trẻ dưới 5 tuổi theo chiến dịch của chương trình vitamin A do Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế tổ chức vào Ngày Vi chất dinh dưỡng 1-2 tháng 6 và tháng 12 hàng năm; giữ nhà cửa thông thoáng, tăng cường vệ sinh cá nhân (đặc biệt là vệ sinh mũi họng), giữ ấm cơ thể, dinh dưỡng hợp lý, nâng cao thể trạng để tăng sức đề kháng. Khi đã mắc sởi, không chỉ cần thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý mà còn cần uống vitamin A theo quy định và bổ sung các vi chất khác như vitamin C, kẽm, selen.. giúp tăng cường miễn dịch.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh viêm quanh khớp vai: Chớ nên coi thường (kỳ II)

Kỳ 2: Điều trị và dự phòng viêm quanh khớp vai

Viêm quanh khớp vai bao gồm các trường hợp đau và hạn chế vận động của khớp vai do tổn thương phần mềm quanh khớp vai như gân cơ, dây chằng, bao khớp. Trong 10 trường hợp đau vùng khớp vai thì có tới 9 trường hợp do viêm quanh khớp vai, tức là không phải đau ở khớp vai mà là đau xung quanh khớp vai. Nguyên nhân của bệnh rất phong phú, chủ yếu là do chấn thương, do thời tiết lạnh và ẩm, các bệnh vùng cổ, ngực, bệnh lý thần kinh.

benh_viem_quanh_khop_vai_cho_nen_coi_thuong_ky2

Hậu quả của điều trị không đúng hoặc không được điều trị

Bệnh viêm quanh khớp vai nếu điều trị không đúng thì sẽ tiến triển nặng dần, dẫn đến các biến chứng đứt gân, khiến khả năng phục hồi rất khó khăn. Bệnh nhân bị đau đớn, hạn chế vận động kéo dài sẽ bị trầm cảm, lo lắng, ảnh hưởng lớn đến khả năng làm việc, sinh hoạt và giấc ngủ. Khớp vai có thể bị đông cứng, giả liệt, gây tàn phế cho bệnh nhân. Ngoài ra bệnh nhân có thể phải gánh chịu các tai biến do dùng thuốc hay thủ thuật như bị nhiễm khuẩn khớp vai hay áp-xe cơ vùng vai, dị ứng thuốc, có thể dẫn đến tử vong. Để tránh các hậu quả của viêm quanh khớp vai khi bị đau vai, bệnh nhân cần đến bệnh viện  khám ngay để được chẩn đoán đúng và điều trị bệnh kịp thời.

Các phương pháp điều trị bệnh viêm quanh khớp vai

Điều trị viêm quanh khớp vai bao gồm điều trị đợt cấp và điều trị duy trì. Điều trị đợt đau cấp làm giảm nhanh chóng các triệu chứng đau vai, góp phần sớm phục hồi được chức năng vận động của khớp. Điều trị duy trì có mục tiêu phục hồi các mô bị tổn thương, tăng cường sức mạnh của khớp vai và tránh tái phát bệnh. Bệnh nhân cần xác định thái độ kiên trì và hợp tác với bác sĩ, tránh nôn nóng, chạy chữa hết nơi này đến nơi khác… Điều trị viêm quanh khớp vai phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như nội khoa, ngoại khoa, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả Đông y. Ở bệnh viện bác sĩ có thể kê đơn thuốc giảm đau, chống viêm (celebrex, mobic), giãn cơ (myonal), an thần hay tiêm thuốc chống viêm corticoid tại chỗ vào vùng bao gân cơ bị tổn thương. Có thể áp dụng các biện pháp vật lý trị liệu như chườm lạnh, hay dùng đèn hồng ngoại, laser, sóng ngắn, vi sóng, điện từ trường. Có thể chườm lạnh bằng cách lấy nước đá viên cho vào túi ni lông rồi chườm lạnh vùng vai đau trong 5-10 phút. Khi vai đỡ đau thì mới được vận động nhẹ nhàng. Cũng có thể xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu. Khi cần cũng có thể dùng cồn thuốc đắp trên vùng khớp vai bị đau. Cánh tay được nghỉ ngơi sẽ hồi phục dần dần mà không cần phải phẫu thuật. Đa số bệnh nhân viêm quanh khớp vai có thể khỏi bệnh sau 6 tháng đến 3 năm. Chỉ có các vận động viên thể thao trẻ, sau khi được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau mà không khỏi mới có thể tính đến phẫu thuật. Ngoài ra trong trường hợp bị đứt gân cơ quanh vai có thể chỉ định phẫu thuật nối gân.

Chế độ sinh hoạt, vận động thế nào khi bị viêm quanh khớp vai?

Trong giai đoạn đau vai cấp tính cần phải để cho vai được nghỉ ngơi. Khi bị đau vai  ít thì chỉ cần tránh không cử động tay bên vai bị đau. Khi đau vai nhiều thì cần cố định cánh tay bên vai đau bằng một cái khăn đeo vào cổ để cho cơ vai được nghỉ ngơi dưỡng thương. Sau khi điều trị có hiệu quả thì bắt đầu tập luyện để phục hồi chức năng khớp vai. Tuy nhiên các bài tập luyện bao giờ cũng phải dần dần, từ nhẹ đến nặng, từ dễ đến khó, không được quá sức. Cần phải luyện tập thường xuyên vùng khớp vai trong 1-2 năm. Có thể tập thái cực quyền. Để phòng tránh bệnh nên kiên trì tập luyện sức khỏe ngay từ khi còn trẻ để phòng tránh quá trình thoái hóa vai khi đến tuổi trung niên. Mùa hè tránh để gió thổi vào người quá lâu. Khi bị mưa ướt cần phải tắm bằng nước nóng ngay. Tăng cường giữ ấm vào mùa đông, ban đêm ngủ nên tránh để lộ vai ra ngoài. Tránh lao động quá mức trong thời gian dài. Tăng cường dinh dưỡng, nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Bệnh nhân cũng cần được an ủi về mặt tâm lý, tránh những biểu hiện lo âu, căng thẳng, lo lắng vì bệnh tật. Cũng cần chăm sóc bệnh nhân trong sinh hoạt hằng ngày.

Theo SKĐS

Thuốc chữa trị bệnh viêm phế quản tự nhiên

Mùa xuân thường có mưa phùn, trời vẫn còn lạnh, độ ẩm cao là điều kiện để nhiều bệnh tật phát sinh trong đó có các bệnh đường hô hấp, đặc biệt là viêm phế quản. Người già và trẻ em dễ bị mắc hơn cả do sức đề kháng yếu. Ðông y gọi viêm phế quản là khái thấu, đàm ẩm và chia làm 2 thể: thể cấp tính và thể mạn tính.

viem_phe_quan_01

Phế quản bình thường và phế quản bị viêm

viem_phe_quan_02

 Vỏ quýt cũng là một vị thuốc trị viêm phế quản cấp tính.

Viêm phế quản cấp tính

Do phong hàn phạm phế làm phế mất khả năng tuyên giáng, hàn thấp thương tỳ sinh đàm ẩm nên ho nhiều đờm. Triệu chứng thường thấy là đờm loãng trắng dễ khạc, chảy nước mũi, ngứa cổ, khản tiếng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Phép chữa: sơ phong tán hàn tuyên phế. Dùng một trong các bài:

Bài 1. Hạnh tô tán: hạnh nhân 10g, tô diệp 10g, tiền hồ 10g, bán hạ chế 6g, chỉ xác 6g, gừng tươi 3 lát, trần bì 4g, phục linh 6g, cam thảo 6g, cát cánh 8g, đại táo 4 quả. Tất cả tán bột, ngày uống 15 – 20g với nước ấm, chia 2 lần.

Bài 2. Chỉ khái tán: hạnh nhân 12g, tử uyển 12g, cát cánh 8g, cam thảo 4g, tiền hồ 12g. Nếu đờm nhiều, rêu lưỡi trắng, thêm bán hạ 12g, trần bì 8g. Nếu có hen suyễn thì bỏ cát cánh, thêm ma hoàng 6g. Sắc uống ấm trong ngày chia 2 lần sau bữa ăn 1giờ rưỡi.

Bài 3: hạt cải canh sao 6g, hạt củ cải sao 9g, vỏ quýt 6g, cam thảo 6g. Sắc nước uống thay nước trà.

 Viêm phế quản mạn tính

Chia làm 2 thể đàm thấp và thủy ẩm.

Đàm thấp: Ho hay tái phát, trời lạnh ho tăng, đờm dễ khạc, sắc trắng loãng; buổi sáng ho nhiều, ngực đầy tức, ăn kém, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu hoạt. Phép chữa: táo thấp hóa đờm chỉ khái. Dùng một trong các bài:

Bài 1: vỏ quýt sao 10g, vỏ vối sao 10g, hạt cải trắng 10g, bán hạ chế 8g, cam thảo dây 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2. Viên trừ đờm: nam tinh chế 20g, bán hạ chế 20g, bồ kết chế 20g, phèn chua phi 20g, hạnh nhân 4g, ba đậu chế 4g. Tán bột làm viên. Ngày uống 10g chia 2 lần.

Bài 3. Nhị trần thang gia giảm: trần bì 10g, bán hạ 8g, phục linh 10g, cam thảo 10g, hạnh nhân 12g, thương truật 8g, bạch truật 12g. Nếu đờm nhiều thêm bạch giới tử 8g, tức ngực thêm chỉ xác 12g.

Thủy ẩm: Ho hay tái phát, hen suyễn, thở nhiều ran rít, trời lạnh ho tăng, đàm nhiều loãng trắng. Nếu vận động mạnh thì các triệu chứng trên càng rõ, có thể không nằm được, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng trơn, mạch tế nhược. Phép chữa: ôn phế hóa đờm. Dùng một trong các bài:

Bài 1. Tiểu thanh long thang gia giảm: ma hoàng 6g, quế chi 6g, can khương 4g, tế tân 4g, ngũ vị tử 6g, bán hạ chế 8g, cam thảo 4g, bạch tiền 4g. Nếu ho nhiều thêm tử uyển 12g, khoản đông hoa 8g. Ho đờm lọc xọc nhiều thêm đình lịch tử 12g.

Bài 2: bạch quả 100g, hạnh nhân 100g, hồ đào nhân 200g, lạc nhân 200g. Tất cả tán vụn, mỗi sáng dùng 20g cùng với 200ml nước đun sôi, đập vào 1 quả trứng gà, thêm ít đường phèn khuấy tan, uống nóng. Trị viêm phế quản mạn tính, ho kéo dài, khó thở, ngại nói, ngại vận động, lưng đau gối mỏi, tay chân lạnh.

Bài 3: hạnh nhân 100g, tử uyển 100g, ma hoàng sao 30g, tô tử 60g, mật ong 500g, đường đỏ 300g. Trước hết đem 4 vị thuốc sắc với 600ml nước còn 250ml rồi hòa với mật ong và đường đỏ, đem hấp cách thủy trong 2 giờ, để nguội đựng vào lọ thủy tinh dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh. Công dụng: dự phòng tái phát của viêm phế quản mạn tính.

Theo suckhoevadoisong

Suy dinh dưỡng phù ở trẻ: Nên coi lại đạm sữa

Suy dinh dưỡng trẻ em mang lại nhiều hậu quả về sức khỏe, từ giảm sức đề kháng nên dễ mắc bệnh nhiễm trùng, đến chậm phát triển cả thể chất và tinh thần, ảnh hưởng khả năng học hỏi…Các thể suy dinh dưỡng thường gặp là suy dinh dưỡng cấp ( chỉ số cân nặng so với chiều cao dưới chuẩn), suy dinh dưỡng mạn (chiều cao theo tuổi dưới chuẩn) và còi cọc (thiếu cả cân nặng lẫn chiều cao).

Suy dinh dưỡng nặng gồm có thể teo (maramus), thể phù ( kwashiorkor), và thể vừa teo vừa phù. Việc điều trị thể phù khó khăn nhất và tỉ lệ tử vong cao. Trong thể này, mặt bệnh nhân nhìn vẫn tròn trịa nhưng chân tay khẳng khiu, trương lực cơ yếu, rối loạn sắc tố da, thiếu máu, gan to và thoái hóa mỡ, phù, giảm đạm máu. Nguyên nhân là khẩu phần ăn của bệnh nhân không được cung cấp đủ chất đạm nhưng vẫn nhận đủ hoặc gần đủ năng lượng từ chất bột đường hay chất béo. Trước đây, chúng ta hay gặp suy dinh dưỡng phù ở những trẻ không có sữa mẹ, được nuôi hoàn toàn bằng nước cháo đường.

suy_dinh_duong_phu_o_tre_nen_coi_lai_dam_sua

Ngày nay, với mức sống được cải thiện nhiều và công tác chăm sóc sức khỏe được quan tâm, tình trạng suy dinh dưỡng nặng ở trẻ em đã giảm đáng kể, đặc biệt là suy dinh dưỡng thể phù. Trong các bệnh viện nhi, khá lâu mới có lại một bệnh nhi bị suy dinh dưỡng phù. Tuy nhiên, từ tháng 10/2008 đến nay, chỉ trong vòng khoảng 4 tháng, tại bệnh viện Nhi đồng 2 có 6 bệnh nhân bị suy dinh dưỡng phù vào điều trị. Trong đó có một bé đã tử vong do nhiễm trùng và suy hô hấp. Tất cả các bé này đều từ 4 tháng tuổi trở xuống, tức là ở lứa tuổi đang nuôi hoàn toàn bằng sữa. Do đó, chất lượng của loại sữa trẻ sử dụng cần được chú ý đánh giá. Qua hỏi bệnh sử, chúng tôi ghi nhận có 1 bé được nuôi bằng sữa pha nước cháo đường, 2 bé được nuôi bằng sữa đặc có đường và 3 bé được cho uống sữa bột béo bán ký ở chợ (giá khoảng 40 000/kg).

Với sữa đặc có đường và nước cháo đường, trẻ dễ bị suy dinh dưỡng phù do năng lượng chủ yếu từ chất bột đường carbohydrate và ít chất đạm (2g đạm/100ml sữa pha đúng khuyến cáo của nhà sản xuất, tức 1 lon với 800ml nước thành 1 lít sữa, nhưng trong thực tế thường bị pha loãng hơn do quá ngọt). Với sữa ký, nếu thực sự là loại sữa bột béo nguyên kem, khi pha ra các chất dinh dưỡng sẽ gần như sữa bò tươi, lượng đạm sẽ cao hơn so với sữa mẹ và các sữa công thức dùng cho trẻ nhỏ (3.3g đạm/100ml sữa bò tươi, trong khi 0.9-1g /100ml sữa mẹ, và 1.2-1.4g/100ml sữa công thức cho trẻ dưới 6 tháng tuổi). Người ta lo lắng tỉ lệ đạm và muối khoáng cao trong sữa tươi và sữa bột nguyên kem cao không phù hợp với thận còn non nớt của trẻ hơn là thiếu đạm.

Trong những trường hợp bị suy dinh dưỡng phù có sử dụng sữa béo ký trên đây, có 2 khả năng đặt ra:

1) hoặc đây là loại sữa béo bán trên thị trường mà vừa qua kiểm nghiệm có hàm lượng đạm rất thấp, do bị trộn các loại đường hay bột không có protein.( ví dụ: 1 số loại sữa bột béo qua kiểm nghiệm đợt rồi chỉ có lượng đạm từ 0.5-1.6g %, hay 0.085- 0.27g  /100ml sữa đã pha)

2) Do chất lượng của loại đạm sữa. Trong đạm sữa bò chỉ có 20% là đạm whey, 80% casein( trong khi đam sữa mẹ có 70-80 % whey và 20-30 % casein). Đạm whey là loại đạm hòa tan trong nước, có giá trị sinh học cao nhất trong tự nhiên, trẻ dễ dàng hấp thu và sử dụng để tạo thành protein của cơ thể. Ngược lại, khả năng hấp thu và chuyển hóa casein của trẻ nhỏ kém hơn. Do đó, nếu trẻ sử dụng loại sữa chứa chủ yếu là casein thì có thể thiếu đạm do không hấp thu được đạm. Những dạng sữa bột ký có hàm lượng đạm 10-18g %, (tức 1.7-3g /100ml đã pha), mặc dù lượng đạm ghi trên nhãn không đủ so với sữa bột nguyên kem không bị trộn, nhưng bằng hoặc cao hơn lượng đạm trong sữa cho trẻ nhỏ rất nhiều, vẫn có thể gây ra thiếu đạm máu, nhất là ở trẻ non tháng và sơ sinh, nếu đạm sữa này chỉ là casein, tuy nhiên ít khi tới mức gây ra suy dinh dưỡng phù.

Trong bối cảnh hiện nay, với các phát hiện về sữa nhiễm melamin, sữa thiếu đạm, sữa tăng giá liên tục…và có lẽ cả vấn đề chất lượng đạm sữa, có lẽ các vị phụ huynh khá bối rối với việc chọn sữa cho con em mình. Một giải pháp an toàn cho trẻ nhỏ, đồng thời tiết kiệm và cực kỳ phù hợp với trẻ đó là sữa mẹ. Các trẻ mới sinh ra nên tận dụng nguồn sữa mẹ triệt để. Nếu phải sử dụng sữa ngoài, nên chọn đúng loại sữa phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Còn khi trẻ đã lớn, muốn bổ sung thêm sữa trong khẩu phần hàng ngày, nên chọn các loại sữa có chất lượng đáng tin cậy. Nếu trẻ gặp phải các vấn đề về sức khỏe và nuôi dưỡng hoặc có thắc mắc, nên sớm tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa .

Đăng bởi: BS.CK2. Nguyễn Thị Thu Hậu
Theo benhviennhi.org.vn

Bệnh nhiễm trùng tiểu ở trẻ em

Nhiễm trùng tiểu là bệnh lý gây ra do sự hiện diện của vi trùng trong nước tiểu, thường gặp là vi trùng E coli. E coli là vi trùng của đường tiêu hoá, đi từ đường ruột là hậu môn sang lổ tiểu ngoài, đi ngược dòng vào đường niệu.

Nhiễm trùng tiểu còn có thể do nhiễm trùng huyết gây ra, vi trùng từ máu bệnh nhân bị nhiễm đi khắp cơ thể, đến đường niệu và gây nhiễm trùng tiểu. Dạng này rất nặng và nguy cơ cao.

benh_nhiem_trung_tieu_o_tre_em

Ngoài ra bệnh nhi có sức đề kháng kém hoặc có dị dạng đường niệu thì dễ mắc nhiễm trùng tiểu hơn.

Nhiễm trùng tiểu thường gặp ở trẻ gái nhiều hơn ở trẻ trai do niệu đạo ở trẻ gái ngắn hơn, vi trùng dễ dàng vào cơ thể và gây nhiễm trùng. Tương tự, đàn bà, phụ nữ cũng dễ mắc nhiễm trùng tiểu hơn đàn ông, nam giới.

Để có thể nhận biết bệnh, chúng ta cần lưư ý những dấu hiệu sau đây:

Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhủ nhi, triệu chứng thường không rõ ràng, do trẻ nhỏ không diển tả và biểu hiện được cho chúng ta biết, nên cần tìm những dấu hiệu gián tiếp như sốt không rõ nguyên nhân, sốt kéo dài, bỏ bú, rối loạn tiêu hoá, không tăng cân hoặc vàng da kéo dài trong thời kỳ sơ sinh.

Nhiễm trùng tiểu rất nguy hiểm do biến chứng thường gặp là sẹo thận. Sau một đợt nhiễm trùng tiểu nặng hoặc nhiễm trùng tiểu tái phát nhiều lần, 10 đến 15% trẻ sẽ bị tổn thương ở thận dưới dạng sẹo thận. Sẹo thận có thể gây cao huyết áp và dẫn đến suy thận mãn sau này.

Để phòng ngừa Nhiễm trùng tiểu, ở trẻ nhỏ và trẻ gái, sau mỗi lần đi tiêu tiểu, nên rửa vệ sinh và lau chùi đúng cách. Lau chùi đúng cách có nghiã là lau chùi từ trước ra sau, chứ không từ sau ra trước, do lổ tiểu ở phía trước và hậu môn nằm phiá sau. Động tác làm vệ sinh phải đúng cách để không đưa vi trùng từ đường tiêu hoá vào đường niệu. Ngoài ra, các bà mẹ nên thường xuyên kiểm tra tả lót và nên thay tả ngay sau khi bé tiêu tiểu.

Nhịn đi tiểu do e ngại hoặc không có chỗ đi vệ sinh rất nguy hiểm vì nước tiểu gồm các chất cơ thể cần thải ra ngoài, khi bị ứ lại trong bàng quang, các chất này sẽ là môi trường cho vi trùng dễ xâm nhập vào cơ thể và gây nhiễm trùng tiểu.

Do vậy mà các khu vui chơi giải trí, trường học cần có nhà vệ sinh sạch sẽ, nguồn nước đầy đủ, giúp trẻ không phải nhịn tiểu do tâm lý ngại đi tiểu.

Khi trẻ ngại đi vệ sinh sẽ làm cho trẻ không dám uống nhiều nước, điều này rất hại cho cơ thể.  Mỗi ngày cơ thể cần 1,5 – 2 lít nước cung cấp từ thức ăn và nước uống. Uống nhiều nước sẽ giúp thận thải tốt các chất bã, làn da sẽ tươi tắn hơn.

Nên cho trẻ  mang theo bình nước khi đi học hoặc đi chơi xa, cũng như khi vận động thể lực, trẻ cần nghỉ một chút và uống từng ngụm nước nhỏ.

Khi ở trong phòng có máy lạnh, nên cho trẻ uống nhiều nước hơn do máy điều hòa không khí hút nước của cơ thể và làm khô da.

Lời khuyên của chúng tôi là ở trẻ bình thường, không mắc bệnh thận hoặc bệnh tim, thì nên cho trẻ uống nhiều nước, luôn luôn giử nước tiểu thật trong và không nên nhịn đi tiểu.

Đăng bởi: TS.BS.Trần Thị Mộng Hiệp – Trưởng khoa Thận – Nội tiết
Theo benhviennhi.org.vn

Bệnh đường hô hấp ở người cao tuổi vào mùa lạnh

Người cao tuổi mọi chức năng cơ thể đều suy giảm, trong đó sức đề kháng cũng giảm thì bệnh tật có thể tấn công dễ dàng, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virut, vi khuẩn, vi nấm). Sự yếu kém trong việc tự bảo vệ của người cao tuổi càng rõ nét mỗi khi thời tiết thay đổi, nhất là vào mùa lạnh. Bệnh mà người cao tuổi dễ mắc phải trong mùa lạnh là  bệnh đường hô hấp.

Các bệnh đường hô hấp mà người cao tuổi thường gặp

Viêm mũi họng là một bệnh có thể gặp quanh năm nhưng vào mùa lạnh người cao tuổi hay gặp nhất gây nên hiện tượng hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng gây ho, tức ngực, có khi gây khó thở.

benh_duong_ho_hap_o_nguoi_cao_tuoi_vao_mua_lanh

Viêm họng mạn tính kéo dài (thường gọi là viêm họng hạt), hoặc viêm mũi mạn tính rát. Khi thời tiết thay đổi đều có khả năng tái phát trở lại. Người cao tuổivào mùa lạnh còn hay mắc viêm phế quản, viêm phổi.

Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính ở người cao tuổi do lạnh thân nhiệt thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ ít được người nhà quan tâm do đó dễ dẫn đến bệnh nặng cho đến khi vào bệnh viện thì bệnh đã rất nặng.

Một số người có bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính thì vào mùa lạnh thì bệnh rất dễ tái phát dễ xuất hiện các biến chứng. Yếu tố thuận lợi gây bệnh trước hết phải kể đến người nghiện hút thuốc lá, thuốc lào. Thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi (tổ chức phổi) do đó làm tăng nguy cơ bội nhiễm.

Môi trường ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, không thông thoáng cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho người cao tuổi dễ mắc các bệnh đường hô hấp nhất là vào mùa lạnh.

Một số bệnh mạn tính kéo dài ở người cao tuổi như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh về rối loạn nội tiết cũng là những lý do làm tăng nguy cơ viêm đường hô hấp vào mùa lạnh ở người cao tuổi.

Phòng bệnh thế nào?

Để phòng bệnh hô hấp ở người cao tuổi trong mùa lạnh, cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa. Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh hoặc lạnh vừa chuyển sang rét đậm thì người cao tuổi nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm.

benh_duong_ho_hap_o_nguoi_cao_tuoi_vao_mua_lanh_02

Hình ảnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính.

Có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà không nên ra khỏi nhà khi thời tiết còn lạnh nhất là lúc đang có gió mùa. Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ thường xuyên hằng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế).

Những trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp.

Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những người cao tuổi đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, hen suyễn, viêm xoang. Mùa lạnh, người cao tuổi cũng cần tắm, rửa hằng ngày hoặc một tuần vài lần.

ThS.Vũ Quốc Tuấn
Theo SKDS