Tag Archives: sốt

Vô sinh và biểu hiện rõ ràng nhất

Vô sinh có thể làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Vì vậy, đối với phụ nữ khi còn trẻ nhất định phải đề phòng những triệu chứng không bình thường của cơ thể, ngăn chặn để không dẫn đến vô sinh.

Vô sinh có thể làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Vì vậy, đối với phụ nữ khi còn trẻ nhất định phải đề phòng những triệu chứng không bình thường của cơ thể, ngăn chặn để không dẫn đến vô sinh.

Thông thường, có 6 triệu chứng khác thường sau:

Tiết dịch ở ngực

vo-sinh-va-bieu-hien-ro-rang-nhat

Nếu phụ nữ không ở trong thời kỳ cho con bú mà ngực tự bài tiết hoặc sau khi nắn ép thì có dịch sữa chảy ra, trong nhiều trường hợp có khả năng chức năng não không kiện toàn, chất sữa tiết ra lưu lại trong cục u thủy thể hoặc trong trường hợp chức năng tuyến giáp thấp, chức năng thận suy thoái mãn tính…. Đương nhiên, tình trạng này cũng có thể do uống thuốc tránh thai và thuốc giảm huyết áp gây ra, dịch sữa thường tan chảy và tắc gây ra vô sinh.

Xuất hiện kinh nguyệt khác thường

Rất nhiều phụ nữ đến thời kỳ kinh nguyệt thì lại xuất hiện sự thay đổi, ví dụ như kinh nguyệt đến sớm hoặc muộn, kinh nguyệt quá nhiều hoặc quá ít, kinh nguyệt kéo dài; ngoài ra còn có tắc kinh, đau bụng kinh, âm đạo xuất huyết không theo quy luật…

Bệnh viêm âm đạo

Do một số bệnh về viêm âm đạo làm cho âm đạo có các chất thải, bài tiết ra chất quá nhiều và chèn ép làm cho đau bụng.

Trước và sau giai đoạn kinh nguyệt có triệu chứng

Không ít phụ nữ trước và sau khi kinh nguyệt xuất hiện sưng ngực, cương ngực, đi ngoài, đau đầu, mặt trắng nhợt, sốt, phát ban, phù nề, mụn trứng cá trên mặt, trầm cảm hoặc dễ cáu kỉnh và một loạt các triệu chứng khác. Thường do rối loạn nội tiết làm cho chức năng hoàng thể không kiện toàn gây ra, cũng thường dẫn đến vô sinh.

Chỉ số BMI không chuẩn

Rất nhiều phụ nữ vì giữ cho cơ thể đúng form, ăn kiêng làm cho dinh dưỡng không đủ hoặc chỉ số thể hình và thể trọng (BMI) tức là thể trọng (kg)/ chiều cao (m) quá lệch chuẩn.

Nguồn giáo dục

Thận trọng khi trẻ bị viêm hô hấp

Những năm đầu đời không bé nào không vài lần ho, sổ mũi, sốt hoặc bỏ ăn, khi vài ngày cũng có lúc kéo dài từ tuần này sang tuần khác… Vì thế, viêm hô hấp ở trẻ em đa phần là nhẹ nhưng dễ ảnh hưởng đến sinh hoạt của trẻ và gia đình.

Viêm hô hấp trên là viêm từ mũi xuống ngã ba hầu họng, phần nhiều là viêm mũi, viêm họng, viêm hệ thống bạch huyết ở họng trẻ nhỏ (viêm VA: végétations adénoides), viêm tai. Viêm hô hấp trên dù không được điều trị cũng có thể tự khỏi, hoặc tiến triển thành viêm hô hấp dưới như viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản (viêm những cuống phổi cực nhỏ) hay viêm phổi.

viem-ho-hap

Viêm hô hấp đa số do tác nhân siêu vi như rhino vi rút, vi rút RSV, vi rút cúm… phát tác khi gặp điều kiện thuận lợi như trời lạnh, sinh hoạt ẩm thấp, đông đúc. Biểu hiện viêm hô hấp ở trẻ là ho, sổ mũi, có khi sốt, đôi khi bỏ ăn. Diễn tiến bệnh đa số lành tính, nếu chăm sóc tốt sẽ hết sau 5 – 7 ngày, không cần nhập viện. Điều quan trọng là khi thấy có những dấu hiệu nặng như trẻ nôn ói hết, thở nhanh, sốt cao (ở trẻ nhỏ sốt cao quá có thể gây co giật), hoặc có triệu chứng khó thở, thở co kéo ngực hoặc phập phồng cánh mũi là phải đưa trẻ đi khám ngay.

Trẻ sanh mổ dễ bị khò khè do còn đàm nhớt ở đường hô hấp, các bà mẹ không nên vì lo lắng mà cho bé uống kháng sinh quá sớm, nên đưa cháu đến các trung tâm y tế để được hút đàm và tập vật lý trị liệu hô hấp theo chỉ định của bác sĩ. Một số trẻ nhỏ khóc đêm, bỏ bú, đơn thuần vì bị nghẹt mũi, do đó phải thông mũi cho bé bằng cách hút mũi và cho nằm đầu cao, vỗ lưng cho trẻ, giúp trẻ ho và nôn ra chất đờm dãi (nhiều phụ huynh thấy không yên tâm nếu đi đưa con khám ho mà bác sĩ không cho thuốc gì hoặc cho rất ít thuốc: nên nhớ ho là một phản xạ rất tốt để bảo vệ phổi ở trẻ).

Những triệu chứng ho, sốt, ói, sổ mũi, biếng ăn là biểu hiện của rất nhiều bệnh lý ở trẻ nhỏ, do đó không nên quá chủ quan. Có nhiều bà mẹ thấy triệu chứng bé giống lần trước và đôi khi người lớn vì quá bận rộn không đưa cháu đi khám được nên tự động dùng toa cũ hoặc ra mua vài viên thuốc về cho con uống, đến khi tự chữa hoài không khỏi đưa vào viện thì bé đã viêm phổi nặng, có trường hợp dẫn đến ápxe phổi. Một ông bố đã suýt mất con vì lấy thuốc nhỏ mũi người lớn nhỏ cho bé làm con khó thở, tim đập nhanh phải đưa cấp cứu và được chẩn đoán cao huyết áp nguy kịch do tác dụng phụ của thuốc nhỏ mũi. Một công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy những trẻ được sử dụng kháng sinh trước một tuổi có nguy cơ khởi phát bệnh suyễn nhiều hơn trẻ sử dụng kháng sinh sau một tuổi.

Phòng ngừa: không khó

Lúc mới sanh, trong tháng đầu bé chưa có đề kháng tốt, mẹ và những ai chăm sóc bé nếu đang bị bệnh nên tránh xa bé hoặc phải rửa tay sạch sẽ, đeo khẩu trang nếu bị cảm ho.

Ở các thành phố lớn, trong gia đình đông con, những nơi điều kiện vệ sinh kém hoặc chỗ sống tập thể, đa số các bé dễ bị lây và mắc bệnh đường hô hấp. Để đề phòng, các bà mẹ nên giữ vệ sinh sạch sẽ nơi ăn ngủ của bé, không để bé bị nhiễm lạnh, chích ngừa đầy đủ cho bé theo lịch tiêm chủng, cho bú sữa mẹ sớm (ngay sau sinh nửa giờ) và bú mẹ đến hai tuổi nếu được (trong sữa mẹ có rất nhiều kháng thể bảo vệ cho bé khỏi bệnh), cho ăn dặm đúng cách đề phòng suy dinh dưỡng, tập thói quen cho bé ăn nhiều trái cây và rau quả để cung cấp vitamin thiết yếu cho cơ thể. Có như vậy, hệ miễn dịch trong cơ thể của bé sẽ hoạt động hữu hiệu và trẻ ít mắc bệnh đường hô hấp hơn.

Nguồn Sài Gòn tiếp thị

Trầm cảm ở trẻ nhỏ

Thiếu sự chăm sóc của người thân, đặc biệt là mẹ, trẻ nhỏ dưới 3 tuổi dễ mắc bệnh “trầm cảm vắng mẹ”, ảnh hưởng đến phát triển tinh thần và thể chất của trẻ

Do chồng công tác trong ngành hàng hải thường xuyên vắng nhà, bản thân cũng phải đi làm nên chị Nguyễn T.H.T (quận 5 – TPHCM) buộc phải để người vú nuôi đảm đương hầu hết việc chăm sóc con gái T.H.Nh từ lúc 4 tháng tuổi. Mỗi ngày, chị ra khỏi nhà từ sáng sớm khi con còn ngủ, đến tối mới về và thời gian dành cho con cũng hạn hẹp bởi nhiều đêm chị cũng bận rộn với công việc.

Sự cô đơn của con trẻ

tram-cam-o-tre-nho
Khi bé Nh. được hơn 1 tuổi, công việc thư thả hơn, có thời gian chơi với con, chị lại nhận ra dường như cháu bé cũng không thích chơi với mẹ mà chỉ loay hoay một mình với đồ chơi. Nh. thờ ơ với mọi nỗ lực giao tiếp của mẹ, cứ nhìn sang chỗ khác mỗi khi chị chuyện trò, nói chuyện với con. Qua sách vở, chị T. thấy con có những dấu hiệu hay gặp ở trẻ tự kỷ nên đưa đi khám. Rất may, Nh. không bị tự kỷ, cháu chỉ rơi vào trạng thái trầm cảm nhẹ vì gần một năm trời thiếu vòng tay mẹ.

“Khi ở trong bụng mẹ, đứa bé với mẹ là một. Khi ra đời, trẻ cần được cảm nhận hơi ấm, mùi của mẹ. Tuy nhiên ngày nay, người mẹ thường tham gia vào công việc xã hội chứ không ở nhà chăm con như những thế hệ trước. Đa phần sau 4 tháng bà mẹ nghỉ thai sản, đứa bé đã phải xa mẹ và thường được giao cho bà, người thân trong gia đình hay người giữ trẻ chăm sóc. Thậm chí có nhiều phụ nữ phải đi làm sớm hơn. Nếu công việc của mẹ quá bận rộn khiến bé cảm thấy thiếu hơi ấm, tình thương, sự vuốt ve của mẹ, không được bú mẹ… rất có thể bé sẽ bắt đầu tự cô lập mình và có những dấu hiệu xa cách với mẹ” – BS Phạm Ngọc Thanh, cố vấn Khoa Tâm lý Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 1, phân tích.

Trong trầm cảm ở trẻ em nói chung, sự thiếu vắng mẹ trong những năm tháng đầu đời cũng có thể dẫn đến một dạng trầm cảm đặc trưng ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi – “trầm cảm vắng mẹ”. Trẻ mắc bệnh này có những biểu hiện khá giống với bệnh tự kỷ: không nhìn mẹ, phớt lờ nỗ lực giao tiếp của mẹ; không chịu bú, bú vào là ói hoặc các dạng rối loạn ăn uống khác; khó ngủ, hay khóc… BS Thanh lý giải: “Khi vắng mẹ, ban đầu trẻ sẽ cố gắng tìm cách để được gần mẹ, kêu gọi sự chú ý của mẹ. Nhưng nếu làm mãi không được, trẻ dần cô lập mình và “không thèm” mẹ nữa rồi rơi vào trạng thái trầm cảm. “Trầm cảm vắng mẹ” ở trẻ nhỏ có thể kéo dài đến 3 tuổi, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ về thể chất lẫn tinh thần”.

Trầm cảm ở trẻ em có thể bám theo trẻ cho đến tuổi trưởng thành và có thể hình thành từ những bất ổn tinh thần ở giai đoạn sơ sinh đối với trẻ không được gần gũi mẹ. BS Phạm Văn Trụ, Phó Giám đốc BV Tâm thần TPHCM, cho biết: “Trẻ ở giai đoạn sơ sinh đã cần có sự tiếp xúc với người thân, đặc biệt là mẹ. Nếu quan sát một đứa trẻ sơ sinh vừa mở mắt, chúng ta sẽ nhận ra khi trẻ nhìn thấy người đầu tiên – thường là mẹ – trẻ sẽ chúm chím cười. Khi cảm nhận được khuôn mặt người mẹ trong một thời gian dài, trạng thái tâm thần của trẻ sẽ phát triển ổn định nhất”.

Trẻ cần môi trường ổn định
BS Thanh cho biết một số trẻ em lại bắt đầu bị trầm cảm ở tuổi đi nhà trẻ – khoảng 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi. Thiếu mẹ, bị gửi đến môi trường lạ, nhiều trẻ không đủ khả năng thích nghi và bị stress. Cha mẹ thấy con có biểu hiện lạ, nghĩ rằng nhà trẻ ấy không phù hợp, trẻ bị đối xử không tốt, bị bạn bè bắt nạt… lại vội vàng tìm nhà trẻ khác. Càng bị thay đổi về môi trường, trẻ càng stress và lâu ngày sẽ trầm cảm. Điều này cũng khiến trẻ bị ảnh hưởng về thể chất, giảm sức đề kháng, dễ bị ho, sốt, tiêu chảy… Gia đình thấy bé bệnh, để bé ở nhà chăm sóc. Được gần mẹ, người thân, trẻ tự dưng khỏi bệnh nhưng khi cha mẹ gửi nhà trẻ trở lại thì trẻ lại bị… bệnh tiếp.

“Trẻ bị trầm cảm thường dễ cáu gắt, khóc, từ chối mẹ sau một thời gian vô vọng đòi mẹ, thu mình vào thế giới riêng. Nhiều trẻ sẽ có xu hướng gắn bó với người nuôi dưỡng – có thể là người thân nào đó hay người giúp việc. Người nuôi dưỡng này nếu bị thay đổi nhiều lần cũng dễ ảnh hưởng đến tinh thần của trẻ” – BS Thanh lưu ý.

Nguồn báo người lao động

Triệu chứng và giai đoạn hội chứng Churg – Strauss

Hội chứng Churg – Strauss! Còn được gọi là viêm mạch u hạt dưới da, gây: Dị ứng ở giai đoạn đầu tiên, sốt, giảm cân nặng, đổ mồ hôi đêm, ho, đau bụng, chảy máu đường tiêu hóa, viêm mạch máu, phát ban hay vết loét da, đau sưng khớp, tê ngứa tay và chân, đau bụng dữ dội, tiêu chảy, buồn nôn và ói mửa, khó thở, ho máu, nhịp tim bất thường…

Định nghĩa

Hội chứng Churg – Strauss, còn được gọi là viêm mạch u hạt dị ứng, là một rối loạn đánh dấu bởi tình trạng viêm mạch máu. Viêm này có thể hạn chế lưu lượng máu đến cơ quan quan trọng và các mô, đôi khi gây tổn hại vĩnh viễn chúng.

Suyễn là dấu hiệu phổ biến nhất của hội chứng Churg – Strauss, nhưng hội chứng Churg – Strauss có thể gây ra một loạt các vấn đề, từ bệnh sốt cỏ khô, phát ban và xuất huyết tiêu hóa, đau nặng và tê ở tay và chân. Loạt các triệu chứng và tương đồng với các triệu chứng của rối loạn khác, làm cho chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss là một thách thức.

trieu-chung-va-giai-doan-hoi-chung-churg-strauss

Hội chứng Churg – Strauss rất hiếm và không chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, bác sĩ thường có thể giúp kiểm soát các triệu chứng với steroid và thuốc ức chế miễn dịch mạnh khác.

I. CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Churg – Strauss là một căn bệnh biến đổi cao. Một số người chỉ có triệu chứng nhẹ, trong khi những người khác trải nghiệm nghiêm trọng hoặc đe dọa biến chứng. Có ba giai đoạn của hội chứng Churg – Strauss, mỗi dấu hiệu và triệu chứng của riêng mình, nhưng không phải tất cả mọi người phát triển cả ba giai đoạn hoặc theo thứ tự. Điều này đặc biệt đúng khi bệnh đang được chẩn đoán và xử lý trước khi thiệt hại nghiêm trọng nhất xảy ra.

Giai đoạn Churg – Strauss có thể bao gồm:

Dị ứng. Điều này thường là giai đoạn đầu tiên của hội chứng Churg – Strauss. Nó đánh dấu bằng một số phản ứng dị ứng, bao gồm:

– Suyễn. Dấu hiệu chính của hội chứng Churg – Strauss, hen suyễn có thể phát triển miễn là một thập kỷ trước khi các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện hoặc bệnh được chẩn đoán. Ở những người bị hội chứng Churg – Strauss đã có bệnh suyễn, các triệu chứng thường trở nên tồi tệ hơn và có thể yêu cầu steroids để điều trị. Những người khác phát triển bệnh suyễn khởi phát muộn. Phát triển bệnh hen suyễn, thậm chí sau này trong đời, tuy nhiên không nhất thiết có nghĩa rằng có hội chứng Churg – Strauss.

– Viêm mũi dị ứng. Điều này ảnh hưởng đến các màng nhầy của mũi, gây chảy nước mũi, hắt hơi và ngứa.

– Đau và viêm xoang. Có thể trải nghiệm đau đớn trên khuôn mặt và phát triển polyp mũi, u lành tính phát triển như là kết quả của tình trạng viêm mãn tính.

– Tăng bạch cầu eosi (hypereosinophilia). Eosinophil là một loại tế bào máu trắng giúp hệ miễn dịch chống lại nhiễm trùng nhất định. Thông thường, eosinophils chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhỏ của các tế bào máu trắng, nhưng trong hội chứng Churg – Strauss, con số cao bất thường của các tế bào này được tìm thấy trong máu hoặc mô, nơi nó có thể gây thiệt hại nghiêm trọng.

Các dấu hiệu và triệu chứng của hypereosinophilia phụ thuộc vào một phần của cơ thể bị ảnh hưởng. Phổi và đường tiêu hóa – bao gồm dạ dày và thực quản – có liên quan đến thường xuyên nhất .

Nói chung, dấu hiệu và triệu chứng của giai đoạn hypereosinophilia có thể bao gồm:

– Sốt.

– Trọng lượng mất.

– Mệt mỏi.

– Đổ mồ hôi đêm.

– Ho.

– Đau bụng.

– Chảy máu đường tiêu hóa.

Giai đoạn này có thể vài tháng hoặc cuối năm, và các triệu chứng có thể biến mất vào những thời điểm. Cũng có thể gặp các triệu chứng của hypereosinophilia và viêm mạch hệ thống – giai đoạn thứ ba của hội chứng Churg – Strauss cùng một lúc.

Viêm ạch hệ thống. Các dấu hiệu của giai đoạn này của hội chứng Churg – Strauss là viêm mạch máu. Bằng cách thu hẹp các mạch máu, viêm làm giảm lượng máu đến cơ quan quan trọng và các mô trong cơ thể, bao gồm da, tim, hệ thần kinh ngoại vi, cơ bắp, xương và đường tiêu hóa. Đôi khi, thận cũng có thể bị ảnh hưởng.

Trong giai đoạn này, có thể cảm thấy nói chung không khỏe và đã giảm cân ngoài ý muốn, sưng hạch bạch huyết, suy nhược và mệt mỏi.

Tùy thuộc vào cơ quan bị ảnh hưởng, cũng có thể gặp:

– Phát ban hay vết loét da.

– Đau nhức và sưng khớp.

– Đau nặng, tê và ngứa ran ở tay và chân (đau thần kinh ngoại vi).

– Đau bụng dữ dội.

– Tiêu chảy, buồn nôn và ói mửa.

– Khó thở.

– Ho ra máu.

– Đau ngực.

– Nhịp tim bất thường.

– Máu trong nước tiểu.

Đi khám bác sĩ bất cứ lúc nào phát triển thở khó khăn, chảy nước mũi mà không hết, đặc biệt là nếu nó đi kèm với khuôn mặt đau dai dẳng. Ngoài ra khám bác sĩ nếu có bệnh suyễn hay sốt cỏ khô mà đột nhiên xấu đi. Churg -Strauss rất hiếm và nó càng có thể có những triệu chứng này trong một số nguyên nhân khác, nhưng điều quan trọng là bác sĩ đánh giá chúng.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Nguyên nhân của hội chứng Churg – Strauss có lẽ là một sự kết hợp của các yếu tố, mặc dù những yếu tố chưa được xác định. Được biết, những người có hội chứng Churg – Strauss có một hệ miễn dịch quá phức tạp. Thay vì chỉ đơn giản là bảo vệ chống lại xâm lược các sinh vật như vi khuẩn và vi rút, các chỉ tiêu hệ miễn dịch tế bào lành mạnh, gây viêm lan rộng. Các nhà nghiên cứu vẫn đang cố gắng để tìm hiểu những gì gây nên phản ứng này không thích hợp miễn dịch.

Vai trò của thuốc. Một số người đã phát triển hội chứng Churg – Strauss sau khi sử dụng thuốc hen suyễn và dị ứng được gọi là montelukast hoặc khi chuyển từ steroid liều thấp có hệ thống để hít thuốc steroid. Các nghiên cứu đã không được hiển thị một liên kết rõ ràng giữa các loại thuốc và hội chứng Churg – Strauss, tuy nhiên, và cho dù kết nối vẫn còn tồn tại một điểm tranh cãi giữa các chuyên gia.

III. YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Không biết chính xác bao nhiêu người có hội chứng Churg – Strauss, nhưng bệnh này hiếm, ảnh hưởng đến một nơi nào đó giữa 700 và 3.000 người ở Hoa Kỳ. Vì điều này, rõ ràng rằng mặc dù nhiều người có thể có yếu tố nguy cơ bệnh, rất ít người thực sự phát triển nó.

Các yếu tố rủi ro cho Churg – Strauss bao gồm:

Tuổi. Độ tuổi trung bình của người dân chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss là 50, nhưng người dân ở độ tuổi 30 của họ có thể có các dấu hiệu và triệu chứng viêm mạch hệ thống. Rối loạn này hiếm ở người lớn tuổi và trẻ em.

Lịch sử của bệnh suyễn hoặc các vấn đề mũi. Hầu hết mọi người chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss có tiền sử dị ứng mũi, viêm xoang mạn tính, hen suyễn thường nặng hoặc khó kiểm soát.

IV. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Churg – Strauss có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, bao gồm phổi, da, hệ tiêu hóa, thận, cơ, khớp và tim. Nếu không điều trị, bệnh có thể gây tử vong. Các biến chứng phụ thuộc vào các cơ quan liên quan và có thể bao gồm:

Thiệt hại thần kinh. Dây thần kinh ngoại vi mở rộng trên khắp cơ thể, kết nối các cơ quan, các tuyến, bắp thịt và da với não và tủy sống. Hội chứng Churg – Strauss có thể thiệt hại dây thần kinh ngoại biên (đau thần kinh ngoại vi), đặc biệt là ở bàn tay và bàn chân, dẫn đến tê liệt và mất chức năng. Ở một số người, thiệt hại này có thể vĩnh viễn.

Da sẹo. Các viêm nhiễm có thể gây ra vết loét phát triển mà có thể để lại sẹo.

Bệnh tim. Biến chứng liên quan đến tim của Churg – Strauss bao gồm viêm màng bao quanh tim, viêm cơ tim, cơn đau tim và suy tim.

Thận bị hư hại. Nếu Churg – Strauss ảnh hưởng đến thận, có thể phát triển viêm cầu thận, một loại bệnh thận mà cản trở khả năng lọc thận, dẫn đến tích tụ các chất thải trong máu nhiễm độc niệu. Mặc dù suy thận không phải là phổ biến với bệnh này, nó có thể gây tử vong khi nó xảy ra.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Không có xét nghiệm cụ thể để xác nhận hội chứng Churg – Strauss, và các dấu hiệu và triệu chứng tương tự như các bệnh khác, vì vậy nó có thể khó chẩn đoán. Để giúp làm cho chẩn đoán dễ dàng hơn, Bộ môn khớp học Mỹ đã thành lập các tiêu chí để xác định hội chứng Churg – Strauss.

Sáu tiêu chí

Căn bệnh này thường được coi là có mặt nếu một người có bốn trong sáu tiêu chí, nhưng bác sĩ có thể cảm thấy tự tin chẩn đoán Churg – Strauss ngay cả khi đáp ứng chỉ có hai hoặc ba trong các tiêu chuẩn, trong đó bao gồm:

Suyễn. Eosinophilia – eosinophils thường chiếm 1 – 3 phần trăm các tế bào máu trắng; đếm từ 11% trở lên được xem là cao bất thường và chỉ ra mạnh mẽ của hội chứng Churg – Strauss.

Bệnh một dây thần kinh hoặc nhiều dây thần kinh – thiệt hại cho một hoặc một nhóm thần kinh.

Phổi xâm nhập – điểm hoặc tổn thương trên X – quang ngực mà di chuyển từ nơi này sang nơi khác hoặc đến và đi.

Lịch sử đau xoang cấp tính hoặc mãn tính.

Tế bào bạch cầu ưu eosi ngoài mạch máu – tế bào trắng có mặt bên ngoài các mạch máu.

Để giúp xác định xem có đáp ứng bất cứ các tiêu chí này, bác sĩ có thể yêu cầu một số xét nghiệm, bao gồm:

Xét nghiệm máu. Khi miễn dịch tấn công chính cơ thể của các tế bào hệ thống, như xảy ra ở hội chứng Churg – Strauss, nó tạo thành các protein gọi là kháng thể. Một xét nghiệm máu có thể phát hiện kháng thể nhất định trong máu mà có thể đề nghị, nhưng không xác nhận một chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss. Một xét nghiệm máu cũng có thể đo lường mức độ eosinophils, mặc dù một số lượng tăng lên của các tế bào này có thể do các bệnh khác, bao gồm bệnh suyễn.

Hình ảnh kiểm tra. X -quang, chụp cắt lớp vi tính (CT) quét và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) tìm những bất thường ở phổi và xoang.

Sinh thiết mô bị ảnh hưởng. Nếu các xét nghiệm khác cho thấy hội chứng Churg – Strauss, có thể có một mẫu nhỏ mô (sinh thiết) gỡ bỏ để kiểm tra dưới kính hiển vi. Bác sĩ có thể loại bỏ các mô từ phổi hoặc cơ quan khác, chẳng hạn như da hay cơ bắp để xác nhận hoặc loại trừ sự hiện diện của viêm mạch.

V. ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Không có cách chữa hội chứng Churg – Strauss, nhưng một số thuốc có thể giúp ngay cả những người có triệu chứng nghiêm trọng đạt được thuyên giảm. Một kết quả tốt và giảm nguy cơ biến chứng từ bệnh và điều trị của nó cả hai có nhiều khả năng khi hội chứng Churg – Strauss được chẩn đoán và điều trị sớm.

Thuốc dùng để điều trị hội chứng Churg – Strauss bao gồm:

Corticosteroid. Prednisone là thuốc phổ biến nhất quy định đối với hội chứng Churg – Strauss. Bác sĩ có thể kê một liều cao 40 – 60 mg corticosteroid một ngày để có được các triệu chứng dưới sự kiểm soát càng sớm càng tốt. Nhưng bởi vì liều cao corticosteroid có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm mất xương, đường huyết cao, đục thủy tinh thể và khó điều trị nhiễm trùng, bác sĩ sẽ giảm liều dần dần cho đến khi dùng liều nhỏ nhất mà vẫn giữ cho căn bệnh dưới kiểm soát. Tuy nhiên, ngay cả liều thấp hơn trong thời gian dài có thể gây ra phản ứng phụ.

Các thuốc ức chế miễn dịch. Đối với những người có triệu chứng nhẹ, một mình corticosteroid có thể đủ. Những người khác có thể yêu cầu một thuốc ức chế miễn dịch như cyclophosphamide, azathioprine hoặc methotrexate để giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể. Bởi vì các thuốc này làm giảm khả năng của cơ thể chống lại nhiễm trùng và có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng khác, bác sĩ phải theo dõi chặt chẽ tình trạng trong khi đang dùng chúng.

Immunoglobulin tĩnh mạch (IVIg). Do truyền hàng tháng, IVIg là lành tính hầu hết các phương pháp trị liệu sử dụng cho hội chứng Churg – Strauss. Các tác dụng phụ thường gặp nhất là các triệu chứng giống như cúm thường chỉ kéo dài một ngày hoặc lâu hơn. Tuy nhiên IVIg có hai nhược điểm lớn: Nó rất tốn kém và nó không phải là phổ hiệu quả. IVIg không được xem là một điều trị dòng đầu tiên cho Churg – Strauss, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nó có thể hữu ích cho những người không đáp ứng với thuốc khác.

Mặc dù thuốc điều trị có thể dập tắt các triệu chứng của hội chứng Churg – Strauss và bệnh thuyên giảm nhưng tái phát là phổ biến.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Điều trị lâu dài với prednisone có thể gây ra một số tác dụng phụ, nhưng có thể thực hiện các bước để giúp giảm thiểu chúng.

Bảo vệ xương. Nếu đang dùng cortisone, có được đầy đủ canxi là điều cần thiết để ngăn ngừa mất xương và gãy xương có thể. Đủ vitamin D chỉ là quan trọng. Không chỉ vitamin D cải thiện sức khoẻ xương bằng cách giúp hấp thu canxi, nó cũng có thể cải thiện sức mạnh cơ bắp. Các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu vitamin D có thể bảo vệ chống lại một số loại ung thư để xác định liều tối ưu hàng ngày, nhưng nó an toàn tới 2.000 đơn vị quốc tế ( IU) một ngày. Sức mạnh đào tạo nghề và các bài tập mang trọng lượng như đi bộ và chạy bộ cũng là rất cần thiết cho sức khỏe của xương.

Tập thể dục. Ngoài ra để giữ xương chắc khoẻ, tập thể dục có thể giúp duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Điều này là quan trọng bởi vì cortisone có xu hướng gây tăng cân, mà lần lượt có thể đóng góp cho bệnh tiểu đường, một tác dụng phụ của liệu pháp cortisone. Thường xuyên tập thể dục cũng rất quan trọng cho người dân đối phó với cơn đau của bệnh thần kinh.

Ngưng hút thuốc lá. Đây là một trong những điều quan trọng nhất có thể làm cho sức khỏe tổng thể. Chính nó, hút thuốc lá gây ra vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nó cũng làm cho vấn đề tồi tệ hơn đã có và có thể làm trầm trọng thêm tác dụng phụ thuốc.

Áp dụng một chế độ ăn uống khỏe mạnh. Steroid có thể gây ra mức đường huyết cao và cuối cùng phát triển bệnh tiểu đường. Nhấn mạnh các loại thực phẩm giúp giữ lượng đường trong máu trong sự kiểm soát, chẳng hạn như trái cây, rau và ngũ cốc nguyên chất là then chốt. Kiểm tra glucose và kiểm tra thường xuyên mức độ A1C.

Tái khám đúng hẹn. Trong thời gian điều trị cho hội chứng Churg – Strauss, bác sĩ sẽ theo dõi chặt chẽ phản ứng phụ. Điều này có thể sẽ bao gồm chụp cắt lớp xương thường xuyên, khám mắt và huyết áp, glucose và kiểm tra cholesterol. Hãy chắc chắn để giữ cho các cuộc hẹn. Nếu bị kẹt thời gian có thể đảo ngược nhiều tác dụng phụ liên quan đến sử dụng steroid.

Đối phó và hỗ trợ

Churg – Strauss là một căn bệnh nghiêm trọng và đôi khi gây tàn phá. Ngay cả khi nó thuyên giảm có thể lo lắng về khả năng tái phát hay thiệt hại về lâu dài cho tim, phổi và thần kinh. Đây là một số đề xuất đối phó với căn bệnh này:

Giáo dục mình về hội chứng Churg – Strauss. Càng biết, chuẩn bị tốt hơn sẽ đạt được đối phó với các biến chứng hoặc tái phát. Bên cạnh đó có thể nói chuyện với bác sĩ, với một cố vấn hoặc nhân viên y tế. Hoặc có thể tìm thấy nó hữu ích để nói chuyện với người khác có hội chứng Churg – Strauss.

Duy trì một hệ thống hỗ trợ mạnh mẽ. Mặc dù gia đình và bè có thể giúp đỡ rất nhiều, đôi khi có thể tìm thấy sự hiểu biết và tư vấn của những người khác với hội chứng Churg – Strauss đặc biệt hữu ích. Bác sĩ hoặc một nhân viên y tế có thể đặt liên lạc với một nhóm hỗ trợ. Hoặc có thể tìm một nhóm hỗ trợ thực hay ảo thông qua các hiệp hội Hội chứng Churg – Strauss

Nguồn internet

Xử lý khi bị cảm lạnh do dầm mưa

Khi dầm mưa, nếu thấy ớn lạnh dọc xương sống, nhức đầu, mệt mỏi uể oải, sợ lạnh, đầy bụng, có khi đi tiêu phân lỏng, có sốt nhẹ, có thể hạ đường huyết, bủn rủn chân tay, toát mồ hôi, chân không đứng vững… có thể đun nước gừng tươi để uống. Công thức gồm: 1 củ gừng tươi 15 – 20g, rửa sạch, thái lát, đổ 100ml nước đun sôi 20 phút, gạn ra, thêm đường và uống nóng.

Bạn cũng có thể đánh gió bằng gừng tươi giã nhỏ, trộn với tóc rối, bọc vào miếng vải thưa, đánh gió (xuôi từ trên xuống và tránh các hạch bạch huyết ở mang tai, nách, háng, bên trong khuỷu tay, khoeo chân) sẽ nhanh giải cảm.

Theo bác sĩ Duy Anh, cảm lạnh lưu ý không nên dùng thuốc kháng sinh vì không công hiệu với virus gây cảm lạnh (trừ khi bội nhiễm vi khuẩn, viêm phổi). Sau một thời gian, nếu triệu chứng cảm lạnh không giảm, lại có sốt cao, đau họng, nôn ói… cần đưa bệnh nhân tới bệnh viện để được bác sĩ điều trị sớm.

xu-ly-khi-bi-cam-lanh-do-dam-mua

Hoặc xua tan cảm lạnh bằng nồi nước xông, gồm các loại lá tre, bưởi, sả, cúc tần, hương nhu (mỗi thứ khoảng 20g, tùy nơi mà thay bằng lá chanh, tía tô, kinh giới, bạc hà, lá gừng, nghệ, ngải cứu, tràm, bạch đàn, đại bi, long não…), nấu nước đến sôi, rồi xông 5-10 phút cho vã mồ hôi. Sau đó lau khô đắp chăn, nằm nghỉ, tránh gió lạnh. Hơi dược liệu theo hơi thở vào tận phế nang làm thông suốt đường hô hấp, giảm tiết, giảm đau đầu, mình mẩy, giảm chóng mặt… Nhưng chỉ nên xông 1 – 2 lần, xông nhiều sẽ bị hao tân dịch, thoát dương, không tốt cho sức khỏe.

Hoặc cho người bệnh ăn cháo giải cảm, sẽ nhanh vã mồ hôi và mau phục hồi sức khỏe. Lưu ý sau khi uống nước gừng, đánh gió, ăn cháo hành giải cảm hoặc xông giải cảm cơ thể sẽ vã nhiều mồ hôi. Khi đó nên tránh ra gió, vì lúc đó các lỗ chân lông đang mở rộng gió nhập vào, không tốt cho người bệnh.

Nếu người bệnh nói líu nhíu, thở chậm bất thường, da lạnh tái, mất phối hợp, vận động, mệt ngủ lịm… là đã bị cảm nặng. Cần theo dõi nhịp thở, nếu bị ngưng thở cần thực hiện hô hấp nhân tạo ngay, rồi đưa bệnh nhân ra khỏi chỗ lạnh (bảo vệ người bệnh tránh gió, thay đồ khô… và đưa tới cơ sở y tế ngay).

Theo Lương y Lê Minh (phố Cầu Gỗ, Hà Nội), mùa mưa bão, nhất là vùng hay bị lũ lụt nên trữ sẵn trong nhà vài loại thuốc uống như xuyên tâm liên hoặc cảm xuyên hương (phụ nữ có thai không dùng), thuốc nhỏ mũi trị cảm trong tủ thuốc gia đình. Khi cho trẻ đi học cần cho mặc ấm, đi tất để tránh lạnh. Dù mưa nhỏ cũng nên mặc áo mưa tránh ướt.

Ăn uống nên bổ sung vitamin và khoáng chất để tăng cường chuyển hóa của cơ thể. Nếu phải ở môi trường lạnh, ngâm mình dưới nước lâu, lạnh rét nên mang theo củ gừng tươi, thỉnh thoảng nhấm một miếng gừng tươi nhai để người ấm lên.

Nguồn gia đình

Các biện pháp xử trí khi bị ngộ độc thực phẩm tại nhà

Ngộ độc thực phẩm là biểu hiện bệnh lý xuất hiện sau khi ăn, uống những thức ăn nhiễm độc, nhiễm khuẩn, thức ăn bị biến chất ôi thiu, có chất bảo quản, phụ gia. Đặc biệt, tỉnh ta là một tỉnh miền núi, vẫn còn một số bộ phận người dân vùng sâu xùng xa chưa đề cao ý thức trong việc sử dụng thực phẩm như: các loại rau rừng, quả rừng, nấm…chứa các độc tố tự nhiên. Hơn nữa, vào mùa mưa, sau khi nước lũ qua đi nguồn nước, thực phẩm bị ôi nhiễm…cũng là nguyên nhân gây ra các vụ ngộ độc. Vậy khi bị ngộ độc thực phẩm cần phải xử trí như thế nào?

cac-bien-phap-xu-tri-khi-bi-ngo-doc-thuc-pham-tai-nha

Người bị ngộ độc thường có biểu hiện: nôn mửa, tiêu chảy, chóng mặt, sốt, đau bụng… gây hại tới sức khỏe, khiến cơ thể mệt mỏi, nếu không có biện pháp xử lý kịp thời có thể dẫn tới tử vong. Do đó, khi nhận thấy những biểu hiện ngộ độc như trên cần biết cách xử trí kịp thời: Nếu có các biểu hiện ngộ độc xảy ra sau khi ăn thức ăn gây ngộ độc trước 6h thì cần làm cho người bị ngộ độc nôn ra hết thức ăn đã ăn vào, bằng cách: Dùng lông gà ngoáy họng, uống nước mùn thớt, uống nước muối (2 thìa canh muối pha với 1 cốc nước ấm) hoặc uống đầy nước rồi móc họng để kích thích gây nôn. Tuy nhiên, khi sơ cứu bằng gây nôn cho trẻ, người lớn phải lưu ý móc họng trẻ cho khéo, tránh làm xây xát họng trẻ. Phải để trẻ nằm đầu thấp, nghiêng đầu sang một bên rồi móc họng để trẻ nôn thức ăn ra. Không để trẻ nằm ngửa và nôn vì như vậy có thể gây sặc lên mũi, xuống phổi và rất dễ dẫn đến tử vong. Trong quá trình gây nôn, phải luôn phải khăn để lau chùi. Móc sạch thức ăn trẻ nôn ra rồi dùng khăn mềm lau sạch miệng trẻ.

Với trường hợp ngộ độc xảy ra sau khi ăn phải thức ăn gây độc sau 6h, lúc này chất độc đã bị hấp thu một phần vào cơ thể, thì cần xử trí bằng cách:

– Dùng chất trung hòa: nếu người bị ngộ độc do những chất acid có thể dùng những chất kiềm chủ yếu như: nước xà phòng 1%, nước magie oxyt 4%, cứ cách 5 phút cho người bệnh uống 15ml. Tuy nhiên, tuyệt đối không được dùng thuốc muối để tránh hình thành C­­O2 làm thủng dạ dày cho bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày. Nếu người bị ngộ độc do chất kiềm thì cho uống dung dịch acid nhẹ như: dấm, nước quả chua….

– Dùng chất bảo vệ niêm mạc dạ dày như: dùng bột mì, bột gạo, sữa, lòng trắng trứng gà, nước cháo…để ngăn cản sự hấp thu của dạ dày, ruột đối với chất độc.

– Dùng chất kết tủa: nếu bị ngộ độc kim loại (chì, thủy ngân…) có thể dùng lòng trắng trứng, sữa hoặc 4 – 10g natri sunfat.

– Dùng chất giải độc: với người bị ngộ độc kim loại nặng, axit… có thể uống kết hợp với chất độc thành chất không độc như: uống hỗn hợp than bột, magie oxit.

Lưu ý: Đối với tất cả các trường hợp ngộ độc đều phải được đưa ngay tới cơ sở Y tế để được bác sỹ đưa ra phác đồ cấp cứu điều trị, phù hợp, kịp thời.

Viêm ruột thừa và biến chứng nguy hiểm thường găp

Viêm ruột thừa là một bệnh khá phổ biến, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3 – 4 tuổi. Có những trường hợp viêm ruột thừa chưa biến chứng, việc xử trí đơn giản, nhưng cũng có những trường hợp viêm ruột thừa khi nhập viện đã có biến chứng như vỡ, áp-xe ruột thừa, mủ tràn khắp ổ bụng, sau khi mổ, hậu phẫu vẫn còn nhiều phức tạp… Do vậy, việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

Viêm ruột thừa là gì?

Ruột thừa là một túi nhỏ nhô ra hình con giun của manh tràng (đoạn đầu của ruột già), dài khoảng 5 – 6cm. Ruột thừa nằm ở phần dưới phải của ổ bụng, có thể thay đổi vị trí. Theo các chuyên gia tiêu hóa, ruột thừa không có chức năng gì nên việc cắt bỏ nó không ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của cơ thể.

Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa. Khi ruột thừa bị tắc nghẽn, các vi khuẩn bình thường trú trong lòng ruột thừa bắt đầu xâm lấn vào thành ruột thừa. Cơ thể đáp ứng với hiện tượng xâm lấn này bằng cách tấn công các vi khuẩn. Hiện tượng tấn công các vi khuẩn đó được gọi là viêm.

viem-ruot-thua-va-bien-chung-nguy-hiem-thuong-gap

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa là do lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng bị tắc nghẽn. Hiện tượng tắc nghẽn này là do tích tụ nhiều chất dịch nhầy trong lòng ruột thừa hoặc do phân từ manh tràng đi vào ruột thừa. Chất nhầy hay phân trở nên cứng, giống như đá và làm tắc nghẽn lỗ thông. Hiện tượng phân cứng như đá được gọi là “sỏi phân” (phân có kích thước bằng hạt đậu, cứng và bị canxi hóa gây tắc nghẽn lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng). Có thể có hiện tượng mô bạch huyết của ruột thừa bị phù và làm tắc nghẽn ruột thừa gây viêm.

Những triệu chứng của viêm ruột thừa đôi khi rất mơ hồ, nhất là ở trẻ em và người già nên một số người chủ quan đã tự mua thuốc về cho bệnh nhân uống vì tưởng bị rối loạn tiêu hóa… Điều này càng làm lu mờ các triệu chứng của bệnh, gây khó khăn cho quá trình chẩn đoán. Đây là việc làm hết sức nguy hiểm vì viêm ruột thừa nếu xử lý chậm sẽ bị vỡ, gây viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng và có thể dẫn đến tử vong. Chính vì vậy, việc phát hiện và xử trí bệnh kịp thời là điều vô cùng quan trọng để giảm thiểu những biến chứng nguy hiểm của viêm ruột thừa có thể xảy ra.

Triệu chứng phát hiện bệnh
Các triệu chứng ban đầu của viêm ruột thừa rất dễ nhầm với nhiễm virut đường ruột. Các triệu chứng bao gồm đầy bụng mơ hồ, khó tiêu và đau bụng ít thường được cảm nhận ở vùng quanh rốn. Khi nhiễm khuẩn nặng hơn, đau trở nên nổi bật hơn ở phần phải của bụng dưới. Bệnh nhân thường có buồn nôn, nôn và chán ăn. Ðau thường liên tục và ngày càng nặng. Bệnh nhân có thể tiêu chảy, sốt và lạnh run kèm theo căng cứng cơ bụng.
Mức độ đau tăng lên khi người bệnh di chuyển, ho, ngáy, hắt hơi và thở sâu. Nếu bụng mềm, phía phải bụng dưới (vị trí ruột thừa) bị đau khi ấn vào, thân nhiệt không cao thì chứng viêm còn nhẹ. Nếu viêm nặng, đã có mủ, hoại tử, hoặc đã thủng thì bệnh nhân đau bụng dữ dội, phạm vi bị đau cũng mở rộng kèm theo sốt cao. Khi ấn bụng thì cơ bụng căng cứng hoặc sờ thấy có cục cứng phía bên phải bụng dưới.

Những triệu chứng này tiến triển từ vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có thể không có đủ các triệu chứng trên. Vì thế việc chẩn đoán viêm ruột thừa chính xác thường gặp khó khăn. Đặc biệt là ở trẻ em và người cao tuổi.

Cần phân biệt viêm ruột thừa với các bệnh cảnh khác có thể giống như viêm dạ dày ruột, sỏi thận, nhiễm khuẩn đường tiểu, u nang buồng trứng và nhiễm khuẩn khung chậu… Nếu viêm ruột thừa không được điều trị, ruột thừa sẽ vỡ hoặc thủng. Ðiều này đưa đến các biến chứng như viêm toàn bộ ổ bụng (viêm phúc mạc), hình thành áp-xe ruột thừa và tắc ruột.

Làm thế nào để phát hiện?
Siêu âm và chụp Doppler cũng là phương tiện phát hiện viêm ruột thừa, nhưng có thể bỏ sót một số trường hợp (khoảng 15%), đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi chưa hình thành dịch, siêu âm hố chậu không cho thấy bất thường mặc dù đã có viêm ruột thừa. Tuy nhiên, đây là phương tiện phát hiện cận lâm sàng tốt, không gây hại. Siêu âm có thể thấy được hình ảnh ruột thừa to hơn bình thường, thấy được dịch trong ổ bụng… giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt nhiều loại bệnh lý khác nhau có cùng triệu chứng là đau bụng.

Nhưng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa mà tùy thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. Do đó, siêu âm nên được xem là một công cụ hỗ trợ trong công tác theo dõi viêm ruột thừa chứ không phải là tiêu chuẩn vàng quyết định viêm ruột thừa.
Chẩn đoán viêm ruột thừa chủ yếu dựa vào lâm sàng (các triệu chứng của bệnh) kết hợp với nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ và siêu âm hỗ trợ. Ở những nơi có trang bị CTscan hay chụp cắt lớp, đây là phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng được ưa dùng. Phim chụp cắt lớp CTscan thực hiện đúng quy cách có độ phát hiện (độ nhạy) hơn 95%.

Điều trị thế nào?

Nếu viêm ruột thừa, tốt nhất là phẫu thuật loại bỏ ruột thừa (cắt ruột thừa). Cắt ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt bỏ ruột thừa được thực hiện qua nội soi ổ bụng. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất tùy vào từng đối tượng bệnh nhân.

Nếu ruột thừa viêm không bị vỡ tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân thường được xuất viện trong vòng 1 – 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ, thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 – 7 ngày, tùy vào mức độ trầm trọng của bệnh. Kháng sinh đường tĩnh mạch được chỉ định trong khi nằm viện để giúp tránh  nhiễm khuẩn thêm và tạo áp-xe.

Tùy thuộc vào mức độ viêm của ruột thừa mà sau khi mổ xong có thể biến chứng gì khác không. Nếu là viêm ruột thừa cấp (mới chớm viêm trong vòng 6 tiếng), viêm ruột thừa mủ chưa vỡ thì khả năng biến chứng sau mổ là rất thấp. Nhưng đối với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa thì nguy cơ biến chứng tắc ruột do các dây dính tạo thành sau mổ là rất cao. Nhiều trường hợp tắc ruột phải mổ lại để gỡ các dây dính này.

Nguồn sức khỏe đời sống

Không được chủ quan với bệnh viêm hô hấp ở trẻ nhỏ

Trẻ em trong những năm đầu đời không bé nào không vài lần ho, sổ mũi, sốt hoặc bỏ ăn. Có bé chỉ vài ngày là khỏi bệnh, cũng có bé sổ mũi hoặc ho kéo dài từ tuần này sang tuần khác. Đôi khi hết được vài ngày thì bé bệnh trở lại, phải nghỉ học, còn ba mẹ thì nghỉ làm để chăm sóc con. Vì thế, viêm hô hấp ở trẻ em đa phần là nhẹ nhưng dễ ảnh hưởng đến sinh hoạt của trẻ và gia đình.

Khi nào cần chữa, lúc nào không?

Viêm hô hấp trên là viêm từ mũi xuống ngã ba hầu họng, phần nhiều là viêm mũi, viêm họng, viêm hệ thống bạch huyết ở họng trẻ nhỏ (viêm VA: végétations adénoides), viêm tai. Viêm hô hấp trên dù không được điều trị cũng có thể tự khỏi, hoặc tiến triển thành viêm hô hấp dưới như viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản (viêm những cuống phổi cực nhỏ) hay viêm phổi.

khong-duoc-chu-quan-voi-benh-viem-ho-hap-o-tre-nho

Viêm hô hấp đa số do tác nhân siêu vi như rhinovirút, virút RSV, virút cúm… phát tác khi gặp điều kiện thuận lợi như trời lạnh, sinh hoạt ẩm thấp, đông đúc. Biểu hiện viêm hô hấp ở trẻ là ho, sổ mũi, có khi sốt, đôi khi bỏ ăn. Diễn tiến bệnh đa số lành tính, nếu chăm sóc tốt sẽ hết sau 5 – 7 ngày, không cần nhập viện. Điều quan trọng là khi thấy có những dấu hiệu nặng như trẻ nôn ói hết, thở nhanh, sốt cao (ở trẻ nhỏ sốt cao quá có thể gây co giật), hoặc có triệu chứng khó thở, thở co kéo ngực hoặc phập phồng cánh mũi là phải đưa trẻ đi khám ngay.

Trẻ sanh mổ dễ bị khò khè do còn đàm nhớt ở đường hô hấp, các bà mẹ không nên vì lo lắng mà cho bé uống kháng sinh quá sớm, nên đưa cháu đến các trung tâm y tế để được hút đàm và tập vật lý trị liệu hô hấp theo chỉ định của bác sĩ. Một số trẻ nhỏ khóc đêm, bỏ bú, đơn thuần vì bị nghẹt mũi, do đó phải thông mũi cho bé bằng cách hút mũi và cho nằm đầu cao, vỗ lưng cho trẻ, giúp trẻ ho và nôn ra chất đờm dãi (nhiều phụ huynh thấy không yên tâm nếu đi đưa con khám ho mà bác sĩ không cho thuốc gì hoặc cho rất ít thuốc: nên nhớ ho là một phản xạ rất tốt để bảo vệ phổi ở trẻ).

Những triệu chứng ho, sốt, ói, sổ mũi, biếng ăn là biểu hiện của rất nhiều bệnh lý ở trẻ nhỏ, do đó không nên quá chủ quan. Có nhiều bà mẹ thấy triệu chứng bé giống lần trước và đôi khi người lớn vì quá bận rộn không đưa cháu đi khám được nên tự động dùng toa cũ hoặc ra mua vài viên thuốc về cho con uống, đến khi tự chữa hoài không khỏi đưa vào viện thì bé đã viêm phổi nặng, có trường hợp dẫn đến ápxe phổi. Một ông bố đã suýt mất con vì lấy thuốc nhỏ mũi người lớn nhỏ cho bé làm con khó thở, tim đập nhanh phải đưa cấp cứu và được chẩn đoán cao huyết áp nguy kịch do tác dụng phụ của thuốc nhỏ mũi. Một công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy những trẻ được sử dụng kháng sinh trước một tuổi có nguy cơ khởi phát bệnh suyễn nhiều hơn trẻ sử dụng kháng sinh sau một tuổi.

Phòng ngừa: không khó

Lúc mới sanh, trong tháng đầu bé chưa có đề kháng tốt, mẹ và những ai chăm sóc bé nếu đang bị bệnh nên tránh xa bé hoặc phải rửa tay sạch sẽ, đeo khẩu trang nếu bị cảm ho.

Ở các thành phố lớn, trong gia đình đông con, những nơi điều kiện vệ sinh kém hoặc chỗ sống tập thể, đa số các bé dễ bị lây và mắc bệnh đường hô hấp. Để đề phòng, các bà mẹ nên giữ vệ sinh sạch sẽ nơi ăn ngủ của bé, không để bé bị nhiễm lạnh, chích ngừa đầy đủ cho bé theo lịch tiêm chủng, cho bú sữa mẹ sớm (ngay sau sinh nửa giờ) và bú mẹ đến hai tuổi nếu được (trong sữa mẹ có rất nhiều kháng thể bảo vệ cho bé khỏi bệnh), cho ăn dặm đúng cách đề phòng suy dinh dưỡng, tập thói quen cho bé ăn nhiều trái cây và rau quả để cung cấp vitamin thiết yếu cho cơ thể. Có như vậy, hệ miễn dịch trong cơ thể của bé sẽ hoạt động hữu hiệu và trẻ ít mắc bệnh đường hô hấp hơn.

Nguồn sgtt

Sai lầm phổ biến khi dùng kháng sinh

Không dùng hết liệu trình điều trị, tự ý dùng thuốc, tự ý đổi thuốc kháng sinh vì “uống mãi” chưa đỡ… là những sai lầm vô cùng phổ biến của các bà mẹ khi chăm con ốm. Kéo theo một loạt hậu quả nguy hiểm cho sức khỏe của trẻ

Dùng không hết liệu trình!

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) phải “kêu trời” vì thói quen dùng thuốc của các bà mẹ.

“Bác sĩ kê kháng sinh là 5 ngày, có trường hợp là 7 ngày. Thế nhưng không ít bà mẹ, sau khi con dùng được 3 ngày, hết sốt, hết triệu chứng thì dừng lại luôn, không uống tiếp kẻo “hại người”. Điều này là vô cùng nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây kháng kháng sinh”, TS Dũng nói.

TS Dũng giải thích, nguyên tắc là chỉ dùng kháng sinh khi xác định nhiễm khuẩn. Khi đã xác định nhiễm khuẩn thì phải dùng ngay kháng sinh và phải diệt sạch vi khuẩn.

sai-lam-pho-bien-khi-dung-khang-sinh

“Nếu một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn, điều trị thích hợp là làm sạch vi khuẩn (khỏi lâm sàng tối đa, giảm tối thiểu nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc). Còn nếu điều trị không thích hợp, thất bại khiến bệnh nhân có thể nhiễm tái phát, có thể gây kháng thuốc. Vì vậy, liệu trình dùng kháng sinh là phải đảm bảo, dùng đủ liều để tiêu diệt vi khuẩn. Chứ không thể uống nửa chừng, thấy đỡ triệu chứng thì dừng lại. Chỉ có thể tiêu diệt vi khuẩn tốt thì bệnh mới khỏi, đỡ kháng thuốc”, TS Dũng khuyến cáo.

Cũng theo chuyên gia này, việc dùng kháng sinh tiêu diệt sạch vi khuẩn càng cao thì tỉ lệ thất bại lâm sàng càng ít. Nếu thất bại lâm sàng càng nhiều, thất bại vi khuẩn cũng càng nhiều.

Tùy tiện dùng thuốc!

Theo một nghiên cứu của BV Nhi trung ương thì có tới 44% bà mẹ tự mua thuốc cho con uống mà không cần kê đơn của bác sĩ. Việc tùy tiện dùng thuốc khi chưa có chỉ định là rất nguy hiểm, gây hại cho sức khỏe của trẻ.

Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, đây là một sai lầm rất đáng trách của các bà mẹ. “Việc tự chữa cho con, chữa theo đơn của bé khác… khiến nhiều trẻ bị biến chứng nặng là viêm phổi, viêm tiểu phế quản do vi rút rất nặng. Những bé này thời gian điều trị sẽ lâu hơn, tốn kém hơn do phải dùng các loại thuốc đắt tiền hơn”, TS Dũng nói.

TS Dũng cho biết thêm, tình trạng tự làm bác sĩ của các bà mẹ ngày càng phổ biến. Họ lý giải, đưa con đi khám, thấy bác sĩ nghe nghe, nhòm vào miệng con thế là xong, kê đơn cũng chẳng có gì đặc biệt, sốt vi rút thì không dùng kháng sinh, mà nhiễm khuẩn thì vẫn kê các loại kháng sinh thông thường nên lần sau, họ tự biến mình thành bác sĩ.

Theo TS Dũng, để người bác sĩ khám phân phân biệt vi-rút hay vi khuẩn đã khó huống hồ chỉ định kháng sinh. Dùng kháng sinh gì, liều bao nhiêu, cho thời gian bao lâu… là cả một nghệ thuật, trình độ của bác sĩ. Không học, cứ hồn nhiên cho con dùng thuốc tưởng là giỏi, là tiết kiệm, không mất thời gian, không phải đưa con đến viện là một sai lầm. Từ những viêm nhiễm thông thường đường hô hấp trên có thể biến chứng viêm phổi, điều trị tốn kém, lâu dài, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng trẻ.

Nguyên tắc đầu tiên của việc dùng kháng sinh, đó là chỉ dùng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn (vi khuẩn). Thống kê tại Mỹ, tất cả các trường hợp dùng kháng sinh trong nhiễm khuẩn hô hấp trên, số đơn được kê kháng sinh so với bệnh nhân có bằng chứng nhiễm vi khuẩn thì lớn hơn rất nhiều. Tại Việt Nam, thực trạng cũng như vậy.

TS Dũng cho biết, một nghiên cứu do BV Bạch Mai phối hợp trường ĐH Harvard taok 16 huyện ở Việt Nam cho thấy, có đến 97 – 99% các cháu dưới 5 tuổi đến các phòng khám vì ho, sốt, chảy nước mũi được chỉ định dùng kháng sinh.

Như vậy, việc dùng kháng sinh bừa bãi không chỉ ở phía người dân, mà cũng có một phần từ bác sĩ, đặc biệt ở tuyến cơ sở.

Ví dụ, một bệnh đơn giản là viêm họng (ở cả người lớn trẻ em) việc chẩn đoán khó nhất là xác định do vi rút hay vi trùng liên cầu (có thể có biến chứng, thấp tim, khớp)… người bác sĩ cần liệt kê giữa các triệu chứng do vi rút (có kèm đau mắt, chảy mũi, ho, đặc biệt là ho, bởi viêm họng có ho thường do vi rút), trong khi đó, triệu chứng của liên cầu (sưng đau hạch cổ, xuất tiết ở họng). Chỉ cần dựa vào lâm sàng này là bác sĩ đã có thể kê thuốc hợp lý. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều trẻ chỉ viêm họng, ho do vi rút nhưng vẫn được chỉ định dùng kháng sinh.

Tùy tiện đổi thuốc

Theo TS Dũng, cũng chính vì thói quen tùy tiện dùng thuốc, tự mua thuốc uống mà không ít người đang uống kháng sinh A được 2 – 3 ngày không đỡ liền đi mua kháng sinh khác về uống.

Với thuốc kháng sinh, không chỉ cứ thích là uống. Bởi khi đi vào cơ thể, kháng sinh tồn tại trong huyết thanh, đi đến vị trí nhiễm khuẩn như vào phổi, vào não… Chính nồng độ kháng sinh tại vị trí nhiễm khuẩn này sẽ cho chúng ta hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, kháng sinh không chỉ đi như vậy, nó còn vào các cơ quan khác. Như chỉ viêm phổi, kháng sinh không chỉ vào phổi mà vẫn đi vào các cơ quan khác như thận, gan… và gây độc.

“Vì thế, mục đích là àm thế nào để kháng sinh vào cơ quan đích nhiều hơn, vào các cơ quan khác ít hơn. Nghiên cứu vấn đề này giúp chúng ta chọn liều lượng thích hợp, đặc biệt là chế độ liều, để trả lời khi nào dùng liều cao, khi nào rút ngắn khoảng liều, khi nào đổi kháng sinh khác, khi nào phối hợp kháng sinh. Và để làm được điều này, chỉ có thể là bác sĩ để ra chỉ định hợp lý, vì thế, người dân không nên tùy tiện dùng thuốc”, TS Dũng cảnh báo.

(Theo dantri.com.vn)

Cần nhận biết dấu hiệu viêm phổi ở trẻ em sớm nhất có thể

Trẻ sơ sinh rất dễ bị viêm phổi, bệnh nặng có thể gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Triệu chứng bệnh không rõ ràng nên nhiều trường hợp đến bệnh viện thì đã rất nặng.

Nguyên nhân gây viêm phổi có thể là do vi khuẩn, virus, đôi khi vì ký sinh trùng, nấm dù hiếm gặp. Tùy theo từng mức độ nặng nhẹ của bệnh mà các bác sĩ sẽ có chỉ định phù hợp.

Dưới dây, phó giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) chia sẻ một số biểu hiện chính của bệnh viêm phổi ở trẻ:

1. Thở nhanh

Trong tất cả các dấu hiệu lâm sàng thì thở nhanh là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán viêm phổi cao nhất. Tiêu chuẩn thở nhanh theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới là: hơn 60 lần trong một phút đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi, hơn 50 lần một phút với trẻ 2 tháng đến 12 tháng tuổi và hơn 40 lần một phút với trẻ 1-5 tuổi.

viem-phoi

Tuy nhiên, đếm nhịp thở cũng gặp khó khăn đối với một số trẻ nhỏ hay sợ, kích thích hoặc quấy khóc. Khi đó nhịp thở có thể tăng lên, vì vậy phải đếm khi trẻ nằm yên hoặc khi ngủ và phải đếm trong một phút.

Đối với trẻ nhỏ dưới 2 tháng tuổi nếu lần đếm thứ nhất nhịp thở 60 lần một phút trở lên thì cần phải đếm lần 2 vì ở tuổi này trẻ thường thở không đều. Nếu vẫn trên 60 lần một phút thì mới coi là thở nhanh.

Đây là triệu chứng hay gặp của viêm phổi ở trẻ 1-3 tuổi. Đối với trẻ trên 3 tuổi thì độ nhạy của dấu hiệu thở nhanh lại tương đối thấp. Với trẻ dưới 1 tuổi mà nhịp thở trên 70 lần một phút thì thường là triệu chứng của viêm phổi nặng.

2. Rút lõm lồng ngực

Đây là biểu hiện của viêm phổi nặng. Để phát hiện, cha mẹ có thể nhìn vào phần dưới lồng ngực (1/3 dưới) lõm vào khi trẻ hít vào. Nếu chỉ phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xương đòn rút lõm thì không phải là rút lõm lồng ngực.

Trẻ dưới 2 tháng tuổi, chỉ rút lõm lồng ngực nhẹ thì chưa có giá trị phân loại vì lồng ngực ở trẻ còn mềm, khi thở bình thường hơi cũng có thể rút lõm. Trường hợp thấy rõ lõm sâu và dễ nhìn thấy, chắc chắn trẻ bị viêm phổi. 3. Một số dấu hiệu khác

– Sốt cao: Đây là một triệu chứng thường gặp trong viêm phổi ở trẻ.

– Khò khè: Có thể có khoảng 30% ở trẻ lớn bị viêm phổi do mycoplasma. Bệnh này dễ nhầm với hen nếu không chụp X-quang phổi.

– Các biểu hiện như phập phồng cánh mũi, thở rên, bú kém, kích thích… có thể thay đổi phụ thuộc và tuổi trẻ và độ nặng của bệnh.

Trẻ có một số biểu hiện như: ho, chảy mũi, thở bằng miệng, sốt, không có các dấu hiệu như: thở nhanh, co rút lồng ngực, thở rít khi nằm yên…, nhiều khả năng không bị viêm phổi mà chỉ ho cảm thông thường. Một số có thể khò khè. Các bé này thường do virus, không cần dùng kháng sinh mà chỉ điều trị triệu chứng, bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần.

Theo VnExpress

Dị ứng nặng vì tự làm bác sĩ

Thời tiết giao mùa nên nhiệt độ thay đổi thất thường. Một ngày mà có đến mấy loại thời tiết: sáng đi lạnh thế mà đến trưa nhiệt độ tăng, nóng đến chảy mồ hôi, rồi đến tối về đêm nhiệt độ lại xuống thấp. Chị Liên chép miệng: “Thời tiết thế này đến người lớn cũng chẳng chịu nổi chứ chẳng nói gì đến trẻ con”. Chị than vãn vậy vì bé Mai con gái chị vừa lăn ra ốm. Cháu bị ho rồi sốt, nước mũi chảy ròng ròng. Chị đã cho con uống nước quất hấp với mật ong, chườm mát cho con mà vẫn không hết ho và sốt. Thấy tình trạng của con ngày một nặng thêm, ho nhiều, nghĩ đến chuyện đi bệnh viện phải xếp hàng, chờ đợi… mà thấy ngại nên chị Liên đã quyết định tự làm “bác sĩ” chữa bệnh cho con.

Chạy ù ra hiệu thuốc, chị mua về ba loại gồm: kháng sinh bactrim, thuốc ho toplexil và chống dị ứng chlorpheniramine và chắc mẩm: uống một lúc mấy loại thuốc thế này con sẽ nhanh khỏi bệnh.
di-ung
Thế rồi, sau hai ngày dùng thuốc, chị Liên thấy con bị sốt cao hơn, người mệt lả, ăn uống lại kém đi. Đặc biệt chị thấy xuất hiện những bóng nước nổi lên khắp người. Ở môi, ở miệng thì trợt loét làm cho bé đau họng, khó nuốt và quấy khóc… Chị Liên hốt hoảng đưa con vào viện cấp cứu. Ngồi trong phòng cấp cứu, vừa giữ con để bác sĩ khám, vừa trả lời câu hỏi của bác sĩ mà nước mắt chị cứ chảy ròng ròng. Chị vẫn chưa hiểu tại sao con chị lại bị bệnh này mà lại diễn ra nhanh đến thế. Sau một hồi chẩn đoán bác sĩ cho chị Liên biết:

– Cháu bị dị ứng thuốc chị ạ. Với các biểu hiện này người ta gọi là hội chứng Stevens Johnson.

– Thế cái hội chứng này có nguy hiểm không bác sĩ?

– Đây là một dị ứng thuốc tương đối nặng và biến chứng thường khá nặng nề như có thể gây nhiễm trùng huyết, gây viêm phổi, mất nước, rối loạn điện giải… có thể dẫn đến tử vong nếu như không được cấp cứu, chữa trị kịp thời.

Nghe đến đây, mặt chị Liên tái đi, lo lắng. Thấy vậy, bác sĩ trấn an:

– Cho cháu vào đây rồi chị cứ yên tâm, chúng tôi sẽ điều trị tích cực cho cháu, dần dần cháu sẽ ổn.

Quả thật, sau gần hai tuần điều trị tích cực, bé Mai đã dần bình phục. Khi xuất viện bác sĩ không quên nhắc nhở:

– Khi trẻ bị ốm các bậc phụ huynh cần đưa trẻ đi khám bệnh để được tư vấn, dùng thuốc thích hợp mà không nên tự ý làm bác sĩ để điều trị cho con sẽ rất nguy hiểm. Trường hợp trẻ đã từng bị dị ứng thuốc, phụ huynh cần thông báo cho bác sĩ khám bệnh biết để tránh dùng các loại thuốc đó và trong quá trình dùng thuốc nếu thấy có bất thường, nhất là khi trẻ nổi hồng ban trên da cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện.
Nghe bác sĩ dặn dò, và từ bài học này, chị Liên cũng hú vía chẳng dám nghĩ tới việc tự mua thuốc về dùng nữa.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những biến chứng của bệnh sùi mào gà

Sùi mào gà là những u nhú màu hồng tươi hoặc hơi nâu, mềm, không đau, có dạng giống như hoa lơ hay mào của con gà, dễ chảy máu, đôi khi thấy ngứa.
Đây là một bệnh phổ biến lây qua đường tình dục. Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ gây biến chứng nhiễm khuẩn, chảy máu, gây nguy hiểm cho thai nhi ở phụ nữ mang thai và làm tăng nguy cơ gây ung thư âm hộ, âm đạo, cổ tử cung và dương vật….

Bệnh dễ lây qua đường tình dục
Sùi mào gà còn gọi là bệnh mụn cóc sinh dục, do virut Human papilloma (HPV) – là một loại virut gây u nhú ở da và niêm mạc người gây nên. Sùi mào gà lây truyền qua quan hệ tình dục khi giao hợp không an toàn. Mọi biểu mô của tổn thương sùi bong ra đều có chứa HPV, có thể lây dễ dàng do tiếp xúc trực tiếp ở những nơi có tổn thương. Bệnh có khả năng lây truyền cao cho bạn tình nếu không được điều trị kịp thời.
sui-mao-ga

Gây tổn thương cơ quan sinh dục
Thời gian ủ bệnh của sùi mào gà từ 1 – 6 tháng. Người bệnh thấy xuất hiện những tổn thương u nhú màu hồng tươi, mềm, không đau, có dạng giống như mào của con gà, dễ chảy máu. U nhú có thể mọc bất kỳ chỗ nào trong cơ quan sinh dục: âm hộ, hậu môn, dương vật, lỗ niệu đạo, cổ tử cung, thậm chí gặp cả ở miệng, họng. Khi bệnh nặng, các u nhú có thể phát triển và thành một mảng rộng trông giống như mào gà hoặc hoa súp lơ màu trắng hồng. Bề mặt mềm, mủn ra, ẩm ướt, giữa các nhú sùi có thể ấn ra một giọt mủ.
Ở phụ nữ u nhú thường mọc ở mép hoặc bên trong âm đạo, xung quanh hậu môn. Ở nam giới thường mọc ở dương vật, cũng có thể ở bìu hoặc xung quanh hậu môn.

Biến chứng nguy hiểm
Nếu bệnh nhẹ, tổn thương u nhú ít sẽ không hoặc ít gây đau đớn. Nếu khi các u nhú phát triển nhiều có thể gây đau, khó chịu khi đi lại, các u nhú có thể bị sây xát, chảy máu khi va chạm hoặc bội nhiễm, có mủ, sốt, nổi hạch ở bẹn.

Trong một số trường hợp, những triệu trứng của bệnh sùi mào gà có thể không rõ ràng hoặc không biểu hiện nên người bệnh có thể không biết mình đã bị nhiễm virut. Hoặc ở người bệnh có biểu hiện nhưng chủ quan không đi khám và điều trị, bệnh tiến triển thành mạn tính, dẫn đến các biến chứng nhiễm khuẩn, chảy máu, gây nguy hiểm cho thai nhi ở phụ nữ mang thai và làm tăng nguy cơ gây ung thư âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, và dương vật….

Cần điều trị sớm
Người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị kịp thời khi thấy có triệu chứng hoặc nghi ngờ khi có quan hệ tình dục không an toàn với bạn tình là đối tượng có nguy cơ mắc bệnh. Việc điều trị sùi mào gà chủ yếu nhằm phá hủy tổn thương u nhú chứ không thể tiêu diệt được virut gây bệnh. Tùy theo vị trí và mức độ của tổn thương mà sẽ có chỉ định điều trị thích hợp như: chấm dung dịch thuốc, đốt điện hoặc laser, đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng,… Người bệnh cần tuân thủ đúng chỉ định điều trị và tái khám để đề phòng tái phát.

Nguồn sức khỏe

Điều trị bệnh sán lá gan lớn

Bệnh sán lá gan lớn khó nhận biết và khó chẩn đoán. Vì vậy, người bệnh cần khám để xác định rõ bệnh và dùng đúng thuốc đặc trị…

Ấu trùng sán lá gan lớn có trong cá nước lợ, chủ yếu hơn trong các loại rau sống trong nước (cải xoong, ngổ, rau om, rau cần, ngó sen). Ăn gỏi cá, rau sống, rau trộn (chưa chín đủ độ) làm cho dạng nang ấu trùng xâm nhập vào dạ dày ruột, rồi tự lột lớp vỏ, xuyên qua màng ruột, theo máu, vào gan rồi phát triển, sau đó định hình ở ống mật. Sau 2-3 tháng sẽ phát sinh triệu chứng: sốt, run lạnh, đau vùng bụng, vùng gan (hạ sườn phải).

san-la-gan

Nếu không điều trị sẽ chuyển sang mạn với biểu hiện mệt, chán ăn buồn nôn, xuất huyết đường tiêu hóa, thiếu máu, đau khớp, đau cơ, ho, cũng có thể tràn dịch màng phổi… Hiện nay, thuốc được dùng đặc trị bệnh sán lá gan lớn là triclabendazol. Hiện thuốc này không có bán ở các hiệu thuốc mà Viện Sốt rét ký sinh trùng cấp miễn phí. Thuốc dùng cho người có tên là egaten, còn dùng cho thú y có tên là fasinex, cần tránh nhầm lẫn.

Thuốc đặc trị này có tác dụng ngăn cản quá trình phosphoryl- oxy hóa ở ty lạp thể, làm cho sán không kiểm soát được hô hấp, đồng thời gắn kết với các phân tử tubulin ngăn cản quá trình hình thành vi ống ở sán. Từ đó sán bị tê liệt và chết. Thuốc được dùng đường uống, sau khi ăn no, nuốt cả viên với một ít nước, không nhai.

Khi dùng người bệnh có thể thấy mệt, đau ngực, sốt, buồn nôn, đau thượng vị, đau hạ sườn phải… Những hiện tượng này là phổ biến, có thể do sán tê liệt phóng thích ra kháng nguyên hơn là do bản thân thuốc. Một vài nghiên cứu mới đây của nhà sản xuất thấy thuốc gây quái thai trên súc vật nhưng chưa ghi nhận được ở người. Không dùng cho người có thai, người cho con bú, trẻ dưới 6 tuổi.

Bệnh viện Nhiệt đới TP.Hồ Chí Minh còn nghiên cứu dùng artesunat để điều trị. So sánh hiệu quả điều trị với triclabendazol thấy có hiệu quả tương đương và có ưu điểm là dung nạp tốt. Theo đó thì có thể dùng atesunat khi không có triclabenzadol. Tuy nhiên, nghiên cứu còn nhỏ, hiện chưa có hướng dẫn chi tiết.

Không nên dùng các thuốc giun sán thông thường như albendazol, menbendazol. Praziquantel cũng là thuốc tẩy giun nhưng chỉ hiệu quả với sán lá gan nhỏ. Với sán lá gan lớn hiệu quả rất ít, chỉ khoảng 30% trường hợp hầu như không hiệu quả.

Trước đây, khi chưa có thuốc đặc hiệu, một số thầy thuốc trong và ngoài nước có thử dùng các thuốc trên nhưng do tác dụng độc của thuốc hoặc thuốc không có hiệu quả nên hiện nay không dùng nữa.

DS. Bùi Văn Uy

Biểu hiện của bệnh viêm gan c mãn tính

Các chuyên gia giới thiệu rằng bệnh nhân viêm gan mãn tính C không được điều trị kịp thời hoặc không điều trị đầy đủ chính xác sẽ dẫn dến xơ gan hay ung thư gan.

Biểu hiện của bệnh viêm gan c mãn tính

Trên 50% bệnh nhân viêm gan do virus C sẽ chuyển thành mãn tính, ngoài ra nếu nguyên nhân gây viem gan man tinh là do truyền máu thì sau 10 năm có tới 20% số bệnh nhân chuyển thành xơ gan, ngay cả với những thể nhẹ và vừa không có triệu chứng và chỉ tăng nhẹ men transaminase. Diễn tiến của viêm gan c thường chậm và âm thầm. Mức độ tiến triển phụ thuộc vào nồng độ HCV- ARN và thời gian nhiễm bệnh.

viem-gan-c

Biểu hiện lâm sàng của viêm gan C mãn tính

Cũng tương tự như viêm gan mãn do virus viêm gan B, thường gặp nhất là mệt mỏi, vàng da ít gặp. Các biểu hiện ngoài gan cũng ít gặp hơn. Triệu chứng khởi đầu có thể biểu hiện những đợt rầm rộ như trong viêm gan cấp (l/3 trường hợp), phần còn lại thường âm thầm làm phần lớn bệnh nhân không nhận biết được, thường chỉ biểu hiện bởi triệu chứng cơ năng chung là mỏi mệt, cảm giác nặng tức vùng hạ sườn phải, nhiều lúc có đau cơ, đau khớp hoặc nhiều lúc chỉ có cảm giác nhức mỏi chung chung. Trong những đợt tiến triển, các triệu chứng thường phong phú và rầm rộ hơn với sốt, vàng da, vàng mắt, nước tiểu vàng hoặc sẫm màu, đau cơ, đau khớp và nhất là đau tức vùng gan và ngứa. Khám thấy gan to vừa, căng chắc ấn đau tức, vàng da vàng mắt, hồng ban và giãn mạch hình sao.

Giai đoạn sau khi đã có biến chứng bệnh xơ gan, các biểu hiện viêm thường giảm dần, thay vào đó là các triệu chứng của xơ gan cổ trướng và suy gan là nổi bật; hoặc các triệu chứng của ung thư gan với gan rất lớn, gan cứng và có nhiều khối u lổn nhổn.

Nguồn sức khỏe

Cân nhắc khi điều trị viêm gan C

Bệnh nhân bị viêm gan siêu vi C thường rất sợ chuyển sang xơ gan, ung thư gan. Vì thế, ai cũng muốn được điều trị. Còn bác sĩ biết là điều trị không hiệu quả nhưng vẫn bảo bệnh nhân phải điều trị!

Bà Vũ Thị Thu Hà (Q.3, TP.HCM) cho biết giữa tháng 6-2009, chồng bà là ông H.V.T. được bác sĩ của một bệnh viện chẩn đoán viêm gan C type 6. Bác sĩ này nói ông T. phải chích và uống thuốc một năm. Điều trị được sáu tháng thì sức khỏe ông T. suy sụp hẳn, yếu sức, mệt mỏi, ăn không được, lở loét khắp người… Ngày 13-1-2010, sau mũi chích của tháng thứ bảy ông T. cảm thấy rất khó chịu, sau đó sốt, ớn lạnh, ói liên tục phải đi cấp cứu. Sau một tháng cấp cứu, điều trị ở nhiều bệnh viện, ngày 16-2 ông T. qua đời ở tuổi 64.

Cân nhắc khi điều trị

VIEM-GAN-C

TS.BS Trần Tịnh Hiền – nguyên phó giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM – cho biết không phải bệnh nhân nào bị viêm gan C cũng phải điều trị. Trước khi quyết định có điều trị hay không, bác sĩ phải cho bệnh nhân xét nghiệm nồng độ siêu vi C trong máu, xác định xem siêu vi C thuộc type di truyền nào (có sáu type khác nhau).

Ngoài ra, bệnh nhân cần phải được sinh thiết gan (đặc biệt là bị viêm gan type 1) để xác định mức độ hư hại của gan, giai đoạn bệnh. Kết quả sinh thiết sẽ giúp bác sĩ quyết định và đánh giá hiệu quả điều trị cho bệnh nhân chính xác nhất.

Tuy nhiên, tại VN đa số bệnh nhân không được sinh thiết gan trước khi điều trị. Vì vậy, nếu chỉ xét nghiệm thấy nồng độ virus cao, xác định type nào rồi cho bệnh nhân điều trị ngay là chưa đúng.

Theo TS Tịnh Hiền, việc điều trị cũng phải xem xét cụ thể trên từng bệnh nhân, bởi phác đồ phối hợp hai loại thuốc đặc trị hiện nay là thuốc Interferon (chích) và Ribavirin (uống) có rất nhiều phản ứng phụ. Interferon khiến người bệnh có thể mệt mỏi, chán ăn, ói mửa, rụng tóc… Ribavirin có thể gây ho, khó thở, ngứa, nổi ban đỏ ngoài da, mất ngủ, thiếu máu (các tác dụng phụ này sẽ hết sau khi ngưng điều trị).

Vì vậy, bác sĩ phải cân nhắc xem bệnh nhân bao nhiêu tuổi, thể trạng thế nào (người mập, uống rượu nhiều có nguy cơ biến chứng nhiều hơn), nồng độ siêu vi C bao nhiêu, có bệnh lý khác (tim mạch, tiểu đường…) kèm theo không, khả năng kinh tế thế nào (do thuốc mắc tiền, điều trị kéo dài). Nếu người bệnh đã 60-70 tuổi, đang khỏe mạnh, đi đứng bình thường, xét nghiệm thấy có siêu vi C nhưng nồng độ không cao lắm, men gan chưa có vấn đề gì thì không nên điều trị. Vì khi mắc bệnh cũng phải 20-25 năm sau bệnh nhân mới có thể chuyển qua xơ gan.

Khi có chỉ định điều trị, bác sĩ phải theo dõi, đánh giá hiệu quả điều trị cho bệnh nhân qua xét nghiệm nồng độ virus trong máu định kỳ vào các tuần thứ 12, 24, 48 và 72. Ví dụ, bệnh nhân bị viêm gan C type 1, đã điều trị đến tuần 24 nhưng nồng độ virus trong máu không giảm thì phải ngưng điều trị, vì có điều trị cũng không giúp được gì hơn cho người bệnh mà còn làm họ thêm mệt mỏi, lo lắng, tốn kém tiền bạc vô ích. Với những bệnh nhân này, khi ngưng điều trị cần được theo dõi xơ gan, ung thư gan định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ.

Kết hợp đông y

Bác sĩ Lê Văn Hải – trưởng khoa khám bệnh Viện Y dược học dân tộc TP.HCM – cho biết tại VN bệnh nhân bị viêm gan siêu vi C type 1, 2, 3 là nhiều nhất. Trong đó, siêu vi C type 1 khó điều trị nhất vì cấu trúc di truyền của loại siêu vi C này đã kháng thuốc đặc trị viêm gan C hiện nay là Interferon. Cần lưu ý nếu bệnh nhân đã chớm bị xơ gan giai đoạn đầu thì không được chích Interferon, vì thuốc sẽ khiến bệnh nhân chuyển hẳn qua xơ gan nhanh hơn.

Theo bác sĩ Lê Văn Hải, sau đợt trị liệu bệnh nhân viêm gan C có thể khỏi bệnh trong vòng 6-12 tháng hoặc nhiều năm sau đó. Tuy nhiên, họ vẫn có thể bị tái nhiễm bởi chính con siêu vi C cũ hoặc nhiễm siêu vi C type khác, thậm chí có bệnh nhân còn đồng nhiễm hai type siêu vi C khác nhau do thuốc không thể điều trị đặc hiệu cho tất cả các type siêu vi C. Cũng cần lưu ý đặc điểm của siêu vi C là thường xuyên biến đổi qua mỗi lần sinh sản ra siêu vi mới, vì vậy đến nay vẫn chưa có thuốc chủng ngừa có thể nhận dạng và tiêu diệt được các siêu vi này.

Hiện nay Viện Y dược học dân tộc TP có nhận điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi C bằng hai loại thuốc đông y kết hợp là diệp hạ châu và viên nhung nai. Nghiên cứu bước đầu của viện trên thực tế bệnh nhân cho thấy hai loại thuốc này có khả năng ức chế siêu vi C phát triển nhờ tăng cường các tế bào miễn dịch đặc hiệu CD4, CD8 cho bệnh nhân giống như cơ chế của thuốc Interferon.

Giá hai loại thuốc đông y so với Interferon và Ribavirin rẻ hơn nhiều lần, ít tác dụng phụ và còn giúp nâng đỡ thể trạng cho bệnh nhân. Ngoài ra, bệnh nhân đang điều trị thuốc tây vẫn có thể điều trị kết hợp thuốc đông y để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

Bác sĩ Lê Văn Hải khuyên bệnh nhân viêm gan C cố gắng giữ tinh thần thoải mái, không bị stress; thường xuyên tập thể dục thể thao; ăn uống đạm bạc (không nên ăn một thứ quá nhiều), hạn chế dầu mỡ, nên ăn nhiều rau xanh, trái cây; không uống rượu, bia, hút thuốc lá… Nếu bệnh nhân có cuộc sống tinh thần lạc quan, hoạt động thể lực tốt, ăn uống hợp lý sẽ giúp hệ miễn dịch của cơ thể hoạt động tốt hơn. Nếu thiếu ba yếu tố này, thuốc cũng không giúp được gì nhiều cho người bệnh.

Theo Tuổi Trẻ

Biểu hiện khi bị loạn khuẩn do kháng sinh

Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy, có thể do vi khuẩn, do virut, do nhiễm ký sinh trùng nhưng cũng có thể do dùng kháng sinh. Đây là một tác dụng phụ không mong muốn khi dùng kháng sinh cho trẻ. Hầu hết thường nhẹ và tự hết khi bạn ngưng dùng kháng sinh. Đôi khi có một loại tiêu chảy nặng xảy ra gọi là viêm ruột màng giả.

Vì sao kháng sinh gây loạn khuẩn?

Bình thường trong đường ruột luôn tồn tại một quần thể vi khuẩn lành tính với nhiều loài khác nhau. Các vi khuẩn này luôn duy trì ở thế cân bằng nhằm tăng cường quá trình tiêu hóa, hấp thụ chất dinh dưỡng, thải trừ các chất độc hại, kìm hãm và làm mất tác dụng của các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột.

loan-khuan

Kháng sinh là một chất mà ngay ở nồng độ thấp nhất cũng có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Khi sử dụng một hoặc nhiều loại kháng sinh mạnh có tác dụng lên nhiều loại vi khuẩn, với liều cao và kéo dài thì các loài vi khuẩn lành tính nói trên cũng bị kháng sinh tiêu diệt, phá vỡ thế cân bằng gây ra hiện tượng loạn khuẩn, do đó thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn gây bệnh có sẵn hoặc mới xâm nhập, dẫn tới chứng tiêu chảy hoặc viêm ruột do kháng sinh.

Kháng sinh có nhiều nhóm khác nhau, trong mỗi nhóm có nhiều loại biệt dược mà hầu hết kháng sinh đều có thể gây ra sự mất cân bằng vi khuẩn trong cơ thể, vì vậy, khi muốn sử dụng một loại kháng sinh nào đó phải biết được kháng sinh đó thuộc nhóm nào, nhất là khi muốn kết hợp kháng sinh. Các loại kháng sinh hay gây tiêu chảy nhất là ampicillin, các cephalosporin, erythromycin và clindamycin.

Biểu hiện khi bị loạn khuẩn do kháng sinh

Hầu hết các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh là nhẹ với biểu hiện chính là đi ngoài phân sống, phân lỏng nhiều lần trong ngày, đặc biệt không có sốt, triệu chứng tự hết sau khi ngừng dùng kháng sinh. Nếu tiêu chảy do các nguyên nhân nhiễm khuẩn ở trẻ đều có sốt, mức độ tiêu chảy nặng hơn, kèm theo các biểu hiện tiêu hóa khác như nôn, đau bụng.

Một số trường hợp suy giảm miễn dịch, trẻ suy dinh dưỡng, có bệnh lý nặng kèm theo, khi dùng kháng sinh phổ rộng, liều cao, kéo dài có thể gây ra tình trạng tiêu chảy nặng hơn, được gọi là viêm đại tràng giả mạc. Trong trường hợp này, các biểu hiện có thể gặp bao gồm: tiêu chảy, phân nhiều nước và có thể có máu; đau bụng; buồn nôn và nôn, sốt. Với các trường hợp viêm đại tràng giả mạc do kháng sinh, cần đưa trẻ đến bác sĩ và xét nghiệm phân để chẩn đoán phân biệt.

Điều trị như thế nào?

Để hạn chế tác dụng không mong muốn của kháng sinh nói chung và loạn khuẩn ruột do kháng sinh gây ra nói riêng, trước hết các bà mẹ cần tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị của bác sĩ, không tự ý mua thuốc điều trị cho con.

Với trường hợp nhẹ, khi ngừng kháng sinh đang sử dụng thì triệu chứng thuyên giảm rõ rệt hoặc có thể khỏi hẳn.

Khi bị loạn khuẩn mà vẫn phải sử dụng kháng sinh hoặc bị loạn khuẩn nặng thì phải điều trị hỗ trợ thêm các chế phẩm vi sinh có chứa probiotic và prebiotic có tác dụng cân bằng lại các chủng vi khuẩn đường ruột. Tuy nhiên, với trường hợp kết hợp với các chế phẩm vi sinh mà không có hiệu quả cần đưa bé tới gặp bác sĩ để thay thế bằng kháng sinh khác và được điều trị tiêu chảy kịp thời. Không sử dụng men tiêu hóa trong các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh.

Cần làm gì tại nhà?

Bù nước và điện giải là vấn đề quan trọng nhất, đặc biệt ở trẻ em, thể trọng cơ thể nhỏ, khi tiêu chảy bị mất nước và điện giải sẽ nhanh chóng gây giảm khối lượng tuần hoàn và rối loạn nước điện giải. Vì vậy, phải cho bé uống bù nước ngay khi biết bé bị tiêu chảy.

Ngay tại nhà, cần bù nước cho trẻ bằng dung dịch oresol hoặc viên hydrite. Cần chú ý pha dung dịch bù nước phải theo đúng hướng dẫn sử dụng, không được chia nhỏ gói oresol hoặc viên hydrit để pha làm nhiều lần. Dung dịch bù nước đã pha nếu quá 12 giờ không uống hết phải bỏ đi. Việc cho uống bù nước phải được duy trì đến khi bé đi tiêu phân sệt và dưới 3 lần mỗi ngày.

Một điểm hết sức quan trọng nữa đó là trong khi bé bị tiêu chảy cần duy trì chế độ ăn thích hợp. Thức ăn cần mềm và lỏng hơn bình thường nhưng vẫn phải đủ 4 nhóm thực phẩm, cho bé ăn nhiều bữa nhỏ. Nếu bé còn bú mẹ hoặc bú sữa ngoài thì vẫn tiếp tục duy trì cho bú.

ThS. Nguyễn Vân Anh

Dinh dưỡng cho trẻ bị sốt ngày hè

Mùa hè, thời tiết thường nắng nóng kéo dài dễ khiến trẻ mắc các bệnh cảm, sốt. Do vậy, các bậc cha mẹ cần đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ một cách hợp lý.

Triệu chứng sốt ở trẻ trong những ngày hè nóng bức thường là kéo dài nhiều ngày. Khí hậu càng nắng nóng thì sốt càng cao, phần lớn trẻ sốt về ban ngày, sáng nóng chiều mát hoặc sáng mát chiều nóng. Đầu, mình của trẻ nóng và tay chân tương đối mát, bên cạnh đó thấy trẻ khát, uống nhiều nước, đi tiểu nhiều, không có hoặc ít mồ hôi.

Khi khám kiểm tra sức khỏe, thường có kết luận sốt không rõ nguyên nhân. Trẻ ăn kém, trọng lượng cơ thể giảm, người mệt mỏi bứt rứt, hay quấy khóc. Nếu để sốt kéo dài, sức lực của trẻ bị suy giảm, sức đề kháng kém, tạo điều kiện cho các loại bệnh dịch khác thâm nhập gây nên những bệnh lý mới.

Trong những lúc trẻ bị sốt, cha mẹ nên đặc biệt lưu ý tới dinh dưỡng nhằm tăng cường sức khỏe và sức đề kháng cho trẻ.
dinh-duong-cho-tre-bi-so-tngay-he
Cháo đậu xanh:

Thành phần: Đậu xanh 30g; Dưa hấu 100g; Đường trắng 20g.

Chế biến: Dưa hấu gọt bỏ vỏ xanh cứng, ép lấy 200ml nước. Đậu xanh xay thành bột, cho vào nước dưa hấu, quấy đều, đun trên lửa nhỏ, khi chín cho đường, đun sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 2 lần, ăn liền 3 – 4 ngày.

Cháo bạc hà:

Thành phần: Bạc hà 3g; Gạo 50g; Thịt lợn nạc 50g; Bột gia vị vừa đủ.

Chế biến:Bạc hà giã nhỏ lọc lấy 250ml nước. Gạo tẻ xay thành bột. Thịt lợn nạc rửa sạch băm nhỏ, ướp bột gia vị xào chín. Cho bột gạo vào nước bạc hà, đun trên lửa nhỏ, cháo chín cho thịt lợn nạc vào quấy đều, cháo sôi lại là được.Trẻ ăn lúc đói, ngày 1 lần.

Cháo hạt ngưu bàng:

Thành phần: Hạt ngưu bàng 15g; Gạo lức 50g.

Chế biến:Cho 250ml, nước vào ngưu bàng nấu còn 100ml,bỏ bã, lấy nước, cho gạo vào, thêm 400ml nước nấu cháo đặc. Ăn nóng ngày 2 lần.

Nước bí xanh:

Thành phần:Bí xanh 150; Lá sen to 1/4 lá.

Chế biến:Bí xanh để cả vỏ, rửa sạch, bỏ ruột, thái miếng. Lá sen rửa sạch, thái nhỏ, cho bí và lá sen vào nồi, thêm 300ml nước, đun sôi kỹ, chắt lấy nước, bỏ bã. Chia 2-3 lần uống trong ngày.

Nước cải trắng:

Thành phần: Cải trắng 1 cây 50g; Giá đậu xanh 30g.

Chế biến: Rửa sạch cải trắng, cắt miếng; giá đậu xanh rửa sạch.Tất cả cho vào nồi, thêm 300ml nước đun sôi kỹ, chắt lấy nước uống 3 lần trong ngày.

Mướp hương xào:

Thành phần: Mướp hương non 150g; Thịt lợn nạc 50g; Dầu thực vật, bột gia vị vừa đủ.

Chế biến: Mướp hương bỏ vỏ ruột, thái miếng. Thịt lợn nạc rửa sạch băm nhỏ ướp bột gia vị, xào chín bằng dầu thực vật, cho mướp hương vào đảo đều, mướp chín tới cho bột ngọt là được. Cho trẻ ăn ngày 1 lần, ăn với cơm.

Bách hợp nấu bí xanh:

Thành phần: Bí xanh tươi 150g; Bách hợp 10g; Đường trắng vừa đủ.

Chế biến: Bí xanh thái lát cho vào nồi cùng bách hợp, nước vừa đủ, đun to lửa tới sôi rồi chuyển đun nhỏ lửa tới chín nát, cho đường là được. Ăn uống ngày 1 thang chia nhiều lần, ăn liền 3 – 5 ngày.

Theo sức khỏe đời sống

Sốt ở trẻ sơ sinh – Những điều cần biết

 Sốt là gì, đâu là nguyên nhân dẫn đến triệu chứng sốt ở trẻ, biểu hiện như thế nào và cách điều trị ra sao.

Dưới 3 tháng tuổi là giai đoạn vô cùng nhạy cảm đối với sức khỏe của trẻ, vì đây là giai đoạn sức đề khàng của bé rất yếu. Dễ bị nhiễm các bệnh lây nhiễm. Và sốt là triệu chứng quan trọng cảnh báo nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm ở bé. Viet-Care sẽ cùng các bạn đi tìm hiểu sốt là gì, đâu là nguyên nhân dẫn đến triệu chứng sốt ở trẻ, biểu hiện như thế nào và cách điều trị ra sao.

Sốt là gì ?

Sốt được định nghĩa là nhiệt độ ơ thể tăng lên ít nhất 1 ( 0,5 độ với trẻ dưới 3 tháng tuổi ) độ so với mức bình thường 37 độ. Nhiệt độ của trẻ thường chênh nhau khoảng 2 độ, phụ thuộc vào nhiệt độ xung quanh bé, độ dày quần áo, mức độ áp lực hay mức độ hoạt động trong ngày. Nếu bé dưới 3 tháng tuổi nhiệt độ của bé lớn hơn 37,5 độ bạn cần đưa bé đến bác sỹ để kiểm tra.

Yếu tố nào gây sốt ?

Hầu hết các trường hợp sốt là biểu hiện của cơ thể chống lại sự lây nhiễm của vi khuẩn hoặc virus cấp tính. Sự tăng nhiệt độ tạo ra môi trường không thuận lợi cho vi khuẩn hoặc virus xâm nhập. Đồng thời sản sinh các tế bào bạch cầu chống lại bệnh.

Sốt ở bé sơ sinh thường đi kèm những chứng bệnh khác như đau họng, cảm, nhiễm trùng tai; thỉnh thoảng, sốt là triệu chứng của một loại bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng.
sot -so-sinh
Tại sao bé hay bị sốt ?

Hệ thống kiểm soát thân nhiệt của bé vẫn chưa hoàn thiện. Bé thường bị sốt do một số nguyên nhân thường thấy sau :

– Virus : Phần lớn sốt là do vi khuẩn hoặc virus nào đó gây ra. Sốt có nhiệm vụ giúp cho cơ thể chiến đấu với vi khuẩn, virus bằng cách kích thích cơ chế phòng vệ tự nhiên.

– Mất nước : Một số bé không nhận đủ sữa mẹ thân nhiệt tăng cao, gây sốt. Điều này thường xuất hiện ở ngày thứ 2-3 sau khi chào đời. Bé có thể bị mất nước do bú kém, sốt cao, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục.

– Mặc quá nhiều quần áo : Trẻ nhỏ, đặc biệt là sơ sinh, rất dễ bị sốt nếu được ủ quá kín hoặc ở trong một môi trường nóng. Nguyên nhân là do các bé chưa thể tự điều tiết thân nhiệt.

– Tiêm chủng : Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thỉnh thoảng bị sốt nhẹ sau khi tiêm phòng.

Triệu chứng của sốt như thế nào ?

Bản thân sốt không phải là bệnh mà là phản ứng của cơ thể trẻ với các tác nhân gây bệnh. Bạn hãy gọi cho bác sĩ ngay khi thấy trẻ dưới 3 tháng tuổi có thân nhiệt tăng trên 37,5 độ C hoặc trẻ từ 3-6 tháng tuổi có thân nhiệt 38 độ C. Nếu trẻ sốt kèm theo các dấu hiệu khác như: phát ban, khó chịu, bú kém, khó thở, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục, có biểu hiện mất nước hoặc hôn mê cũng nên đưa trẻ đến bệnh viện để được các bác sĩ chữa trị kịp thời.

Biểu hiện của bệnh tiêu chảy:

Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh. Nếu phát hiện trẻ đi tiêu có máu trong phân (màu máu có thể đỏ tươi hoặc sẫm, đen), trẻ đi phân lỏng hơn 6 lần/ngày hoặc có dấu hiệu mất nước, phải đưa trẻ đến bác sĩ ngay.

Trẻ bị nôn mửa:

Trẻ nhỏ “nôn ọe” một, hai lần thì không gây nguy hiểm. Nhưng nếu triệu chứng này xảy ra thường xuyên thì cũng là dấu hiệu đáng lo ngại, đặc biệt khi trẻ nôn ra dịch màu xanh hoặc có máu.

Trẻ cảm thấy khó thở:

Nếu thấy trẻ có biểu hiện khó thở, bạn cũng nên gọi cho bác sĩ ngay lập tức.

Dấu hiệu trẻ khó thở:

– Trẻ thở gấp, nhịp thở nhanh hơn bình thường.

– Quan sát phần giữa xương sườn hoặc phần bụng trên có bị lõm khi trẻ hít vào không.

– Trẻ thở ra hổn hển.

– Đầu trẻ gật gù.

– Môi và da tái nhợt.

Rốn đỏ, rỉ dịch và chảy máu:

Khi thấy chỗ rốn hoặc dương vật của bé đỏ lên, rỉ dịch hay chảy máu, bạn cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay vì thường đó là những dấu hiệu nhiễm trùng.

Trẻ bị phát ban:

Phát ban cũng là dấu hiệu phổ biến ở trẻ nhỏ, nhưng hết sức lưu ý khi triệu chứng nổi mẩn đỏ trên vùng da rộng, đặc biệt là trên mặt, hoặc đi kèm với biểu hiện sốt, rỉ dịch, chảy máu, sưng…

Cảm lạnh:

Đa số trẻ sơ sinh hay bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nguyên nhân do virus. Các triệu chứng liên quan khi nhiễm khuẩn đường hô hấp hoặc cảm lạnh thường là: bé sốt, kén ăn trong vài ngày đầu, sổ mũi kéo dài 1-2 tuần, triệu chứng ho có thể đến 2-3 tuần sau mới khỏi.

Theo dõi trẻ, nếu thấy các triệu chứng trên ngày càng trở nên nghiêm trọng thì bạn cần đưa trẻ đến bác sĩ để được chăm sóc và điều trị.

Điều trị như thế nào ?

Khi trẻ bị sốt nhẹ:

Cho trẻ mặt quần áo thoáng hoặc chỉ cần cởi bớt quần áo theo dõi thân nhiệt mỗi 4 giờ và cho trẻ bú sữa mẹ hoặc uống nhiều nước.

Với bé dưới 1 tháng tuổi, bạn không nên tự ý cho bé uống bất kỳ thuốc giảm đau, hạ sốt nào, thay vào đó, bạn nên đưa bé đi khám nếu bé có dấu hiệu sốt. Bạn cũng có thể lau người cho bé bằng nước ấm nhưng không nên pha thêm cồn vào nước.

Trong khoảng thời gian bé bị sốt kéo dài, bạn vẫn nên cho bé “ti mẹ” như bình thường. Khi bé xuất hiện các dấu hiệu bị mất nước như khô miệng, đi tiểu ít, ít nước mắt, mắt bị trũng xuống, bạn nên đưa bé đi khám vì bé có thể được bác sĩ chỉ định truyền chất điện phân để bổ sung lượng nước đã mất.

Nếu bé bị sốt do nhiễm trùng, bé sẽ xuất hiện các dấu hiệu nặng của bệnh rất nhanh. Đó là lý do vì sao bạn nên đưa bé đi khám càng sớm càng tốt.

Lưu ý khi cặp nhiệt độ cho bé :

Với bé sơ sinh, cha mẹ nên dùng cách cặp nhiệt độ ở nách hoặc hậu môn. Nên sử dụng loại nhiệt kế điện tử thay vì loại thủy ngân vì nhiệt kế thủy ngân dễ bị vỡ, gãy trong quá trình sử dụng. Nhiệt kế điện tử rất dễ đọc kết quả vì phần đuôi của loại nhiệt kế này sẽ hiển thị số đo nhiệt độ, như trên đồng hồ điện tử. Phần lớn các loại nhiệt kế điện tử sẽ cho kết quả tương đối chính xác trong vòng vài chục giây đến hai phút sau đó.

Đo nhiệt độ ở nách: Cách này đơn giản hơn cách đo ở hậu môn nhưng nhược điểm của nó là dễ bị sai số (có thể thấp hơn nhiệt độ ở hậu môn khoảng 0,5ºC). Nếu muốn dùng nhiệt độ cặp nách cho bé, cha mẹ nên chú ý những điểm sau:

– Trước khi cặp nhiệt độ, cha mẹ nên lau khô nách cho bé để nhiệt kế được tiếp xúc trực tiếp với da.

– Kẹp đầu nhọn của nhiệt kế vào nách bé; sau đó, bạn nên giữa cánh tay đang cặp nhiệt độ của bé áp sát dọc theo cơ thể. Đảm bảo rằng, đầu nhọn của nhiệt kế nằm hoàn toàn trong nách của bé.

– Đợi khoảng 1-2 phút trước khi bạn rút nhiệt kế ra khỏi nách bé và bắt đầu đọc kết quả. Nhiệt kế điện tử thường có dấu hiệu thông báo khi nó đã thực hiện xong nhiệm vụ.

Hai phương pháp đo nhiệt độ không an toàn cho trẻ sơ sinh : Nhiệt kế đo ở miệng vì bé khó giữ yên nhiệt kế dưới lưỡi trong một khoảng thời gian nhất định; Nhiệt kế đo ở tai.

Lưu ý : Hãy đưa ngay bé tới các cơ sở y tế để khám ngay khi thấy xuất hiện dấu hiệu của sốt để bé được chăm sóc tốt nhất.

Theo báo sức khỏe

Sốt ở phụ nữ mang thai do sức đề kháng kém

Khi mang thai, cơ thể của người phụ nữ có sức đề kháng rất kém. Điều này dẫn đến việc thai phụ dễ nhiễm các loại bệnh như: Cảm cúm, ho, sổ mũi, và sốt. Theo ước tính sốt khi mang thai gặp khoảng 15% các trường hợp, nhiều bà mẹ quá lo lắng và không biết hệ lụy của vấn đề trên.

Nguyên nhân nào gây nên sốt?

Thông thường sốt là một phản ứng của cơ thể với một quá trình bệnh lý. Nhiệt độ cơ thể sẽ tăng hơn so với bình thường (trên 37 độ C), ngay cả lúc nghỉ ngơi ở môi trường bình thường được gọi là sốt. Có rất nhiều nguyên nhân gây sốt trong đó thường gặp là nhiễm khuẩn (vi khuẩn, virut, ký sinh trùng…) xâm nhập vào cơ thể đường tiểu, hô hấp, tiêu hoá hoặc đường máu…

sot-o-phu-nu-dang-mang-thai

… và những ảnh hưởng

Tuỳ theo nguyên nhân gây sốt và mức độ sốt cao hoặc thấp có thể nguy hiểm đến mẹ và con. Nếu ở mức độ nhẹ (hơi sốt 37,5 độ) có thể không hoặc ít khi ảnh hưởng đến thai nhi, nhưng sốt kéo dài và  sốt cao (38 độ trở lên)  thì sẽ ảnh hưởng đến thai nhi và mẹ như: sảy thai, đẻ non, nhiễm khuẩn huyết thai kỳ, thai chết lưu, hoặc để lại di chứng về sau cho bé… Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cơ địa của người mẹ.

Cần làm gì?

Đối với người bình thường, việc điều trị sẽ đơn giản do không có nhiều nguy cơ. Nhưng đối với thai phụ khi bị sốt nếu dùng thuốc không đúng mục đích (ngay cả thuốc Đông y) cũng có thể làm ảnh hưởng đến thai nhi. Vì vậy, nếu nghi ngờ sốt thai phụ cần nhanh chóng biết chính xác nhiệt độ cơ thể khi sốt là bao nhiêu.  Nếu sốt cần đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị. Tuyệt đối không được tự ý dùng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

Có thể phòng tránh

Việc phòng tránh lây nhiễm các bệnh đối với phụ nữ mang thai là vô cùng quan trọng.

Về mùa đông cần giữ ấm tránh để nhiễm lạnh. Mùa hè tránh ra nắng gắt giữa trưa sẽ cảm nắng. Giữ vệ sinh cá nhân tốt. Trong quá trình chăn nuôi thai phụ tránh tiếp xúc trực tiếp với gia súc, gia cầm nghi ngờ mắc bệnh. Không ăn các thức ăn không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tránh gây ngộ độc, lây bệnh từ gia cầm, gia súc…

Ngoài ra, thai phụ cần khám thai đúng lịch để phát hiện những bất thường đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi.

Bác sĩ Thủy Ngân

Theo SKDS

Nên dùng loại thuốc nào khi trẻ bị sốt

Sốt là một phản ứng có lợi của cơ thể khi có một tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, virut) xâm nhập, phản ứng sốt nhằm tăng sự đề kháng của cơ thể. Nhưng nếu sốt cao sẽ gây co giật, sốt kéo dài sẽ gây mất nước, chất điện giải, hạ huyết áp… gây nguy hiểm nên phải dùng thuốc hạ sốt.

Nên dùng thuốc đơn paracetamol

Nói chung với liều dùng để hạ sốt thì paracetamol ít gây độc cho gan và được coi là một thuốc lành tính, có thể dùng cho trẻ mọi lứa tuổi. Chỉ khi dùng liều rất cao (người lớn trên 8g) hay khi dùng cho người nghiện rượu thì mới gây độc gan. Như vậy khi dùng cho trẻ chỉ cần dùng đúng liều. Liều lượng cho trẻ em ghi rất rõ trên bao bì sản phẩm, nếu mua lẻ không có nhãn, cần  hỏi người bán thuốc về liều dùng.

Paracetamol sau khi dùng khoảng 30 phút mới có hiệu lực  hạ sốt. Không nên nôn nóng dùng thêm biệt dược khác. Vì paracetamol có nhiều biệt dược nên có khi dùng biệt dược tưởng là một loại thuốc hạ nhiệt khác nhưng thực chất vẫn là biệt dược chứa paracetamol (ví dụ vừa dùng viên paracetamol uống, vừa dùng thuốc đạn nhét hậu môn cũng có paracetamol…) như thế sẽ trùng lặp gây quá liều, sẽ dẫn tới ngộ độc và gây độc cho gan.

con-dau-bung-vung-duoi-o-phai-nu

ọn dạng dùng thích hợp

Với trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, nhất là dưới 2 tuổi nên dùng gói thuốc bột, khi pha vào nước uống sẽ tan ra, cho dung dịch có mùi thơm, rất dễ uống, dễ phân liều cho trẻ nhỏ tuổi. Với trẻ trên 5 tuổi có thể dùng viên có hàm lượng không quá 500mg (để tránh việc quá liều, nếu chia viên ra 2 lần dùng cũng dễ); không dùng loại hàm lượng 1.000mg (dễ bị quá liều, khó phân liều khi chia ra 3 hay 4 lần dùng theo tuổi). Với trẻ nhỏ dùng dạng viên nhét hậu môn rất thuận lợi, song không dùng được cho trẻ có tổn thương viêm loét hậu môn.

Không dùng aspirin để hạ sốt

Khi trẻ bị nhiễm virut mà dùng aspirin dễ bị hội chứng Reye với biểu hiên phù não, thoái hóa thần kinh não, suy gan nhiễm mỡ tiến triển nhanh chóng, gan to nhiễm mỡ rất dễ tử vong. Nếu cấp cứu kịp thời có thể cứu sống nhưng để lại di chứng. Không dùng aspirin cho trẻ dưới 15 tuổi.

Lưu ý khi dùng thuốc phối hợp nhiều thành phần

Do paracetamol có mặt trong nhiều loại biệt dược khác nhau nên không dùng cho trẻ em cần lưu ý: không dùng cho trẻ em dưới 5 tuổi biệt dược  paracetamol  phối hợp với  với codein vì codein gây nghiện. Paracetamol còn được phối hợp với một hay nhiều thành phần như phenylpropanolamin, pseudoephedrin, phenylephrin, chlopheniramin. Ba chất đầu có tính cường giao cảm làm giảm sung huyết mũi, chống ngạt mũi nhưng lại gây tăng huyết áp, tim nhanh, đánh trống ngực, đau thắt ngực; riêng pseudoephedrin gây nghiện, phenylpropanolamin gây chảy máu não màng não. Khi thật  cần mới dùng cho trẻ nhưng cần tránh dùng liều cao, kéo dài…

Các thuốc có chứa paracetamol thường là thuốc bán không cần đơn nhưng muốn dùng; vẫn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc dược sĩ để tránh lạm dụng và nhầm lẫn.

DS. Bùi Văn Uy

Theo SKDD

Lợi ích của việc uống trà xanh

Uống trà tốt giúp tăng cường hệ miễn dịch, giữ dáng và làm đẹp da.

Chất chống ôxy hóa

Trà chứa các chất chống ôxy hóa như polyphenols làm giảm nguy cơ ung thư da, ung thư buồng trứng và ung thư dạ dày. Đó là lý do vì sao bạn nên thưởng thức một ly trà mỗi ngày.

Giúp giữ dáng

Trà, đặc biệt là trà xanh, có tác dụng chống hấp thu chất béo vào cơ thể. Do uống trà sẽ đẩy nhanh tiêu hóa và cải thiện trao đổi chất. Tuy nhiên, không nên uống trà với sữa vì nó sẽ làm mất tác dụng giảm cân.

loi_ich_cua_uong_tra_xanh_01

Trà xanh, có tác dụng chống hấp thu chất béo vào cơ thể

Tốt cho răng

Trà chứa fluoride giúp bảo vệ men răng. Tuy nhiên đừng bao giờ cho thêm sữa hoặc đường vào trà nếu bạn không muốn làm mất tác dụng của fluoride.

Tăng cường hệ miễn dịch

Uống trà hàng ngày giúp tăng cường hệ miễn dịch, nhờ vậy bạn có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh như cảm lạnh, sốt…

loi_ich_cua_uong_tra_xanh_02

Uống trà xanh giúp tăng cường miễn dịch

Tốt cho xương

Một nghiên cứu cho thấy uống trà hàng ngày có thể củng cố xương. Ngoài ra, hầu hết các loại trà như trà xanh, trà đen hoặc trà ô long, đều có tác dụng cải thiện mật độ xương.

Theo 24h

Đôi điều cần biết về viêm màng não

Viêm màng não là gì?

Viêm màng não là sự viêm màng bao phủ,che chở não và tủy sống. Người ta thỉnh thoảng đề cập đến nó như là viêm màng não tủy. Viêm màng não thường do nhiễm virus hoặc vi khuẩn. Việc biết là viêm màng não do virus hay vi khuẩn thì quan trọng bởi mức độ nghiêm trọng của bệnh và việc điều trị khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân.

Viêm màng não do virus thường ít nghiêm trọng và hết mà không có điều trị đặc hiệu. Nhưng viêm màng não do vi khuẩn có thể rất nghiêm trọng và có thể gây tổn thương não, mất khả năng nghe, hoặc là mất khả năng học hành. Đối với viêm màng não vi khuẩn, việc biết loại vi khuẩn nào gây nên viêm màng não thì cũng quan trọng bởi vì kháng sinh có thể phòng ngừa  một số loại không lây lan và nhiễm cho người khác. Trước những năm 1990, Haemophilus influenza type B là nguyên nhân hàng đầu của viêm màng não vi khuẩn. Hib vaccine bây giờ được chủng ngừa cho tất cả trẻ em như là chủng ngừa thường quy. Vaccine này đã làm giảm số trường hợp của nhiễm Hib và số viêm màng não có liên quan.  Viêm màng não do Streptococcus pneumonia và Neisseria là nguyên nhân hàng đầu của viêm màng não do vi khuẩn.

doi_dieu_can_biet_ve_viem_mang_nao

Triệu chứng và dấu hiệu của viêm màng não là gì ?

Sốt cao, đau đầu và cứng cổ là những triệu chứng thông thường của viêm màng não của bất kỳ ai > 2 tuổi. Những triệu chứng này có thể tiến triển trong nhiều giờ hoặc có thể kéo dài 1- 2 ngày. Những triệu chứng khác có thể bao gồm buồn nôn, nôn ói, cảm thấy khó chịu khi thấy ánh sáng, mơ hồ và buồn ngủ. Ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi, triệu chứng cổ điển của sốt, đau đầu và cứng cổ có thể không có hoặc khó phát hiện. Trẻ nhỏ bị viêm màng não có thể biểu hiện chậm chạp hoặc không sinh động, có nôn ói, bứt rức, hoặc là ăn, bú kém. Khi bịnh tiến triển, bệnh nhân ở bất cứ độ tuổi nào cũng có thể bị co giật.

Chẩn đoán viêm màng não do vi trùng như thế nào?

Chẩn đoán và điều trị sớm là rất quan trọng. Khi triệu chứng xuất hiện, bệnh nhân nên đi đến bác sĩ khám ngay lập tức. Chẩn đoán thường là dựa trên kết quả xét nghiệm dịch não tủy. Dịch não tủy lấy được bằng cách đưa 1 cây kim vào vùng dưới thấp của lưng nơi mà có thể lấy dịch não tủy ở đó. Xác định loại vi khuẩn thì quan trọng trong việc lựa chọn kháng sinh thích hợp.

Viêm màng não do vi trùng có thể điều trị được không?

Viêm màng não do vi trùng có thể điều trị được với 1 số kháng sinh hiệu quả. Tuy nhiên, điều quan trọng là điều trị sớm trong đợt phát bệnh. Điều trị kháng sinh thích hợp các loại phổ biến nhất của viêm màng não do vi trùng sẽ giảm nguy cơ tử vong do viêm màng não xuống còn 15 % mặc dù ở người lớn tuổi thì nguy cơ cao hơn.

Viêm màng não do vi trùng có lây không?

Có. Một số dạng viêm màng não do vi trùng thì lây. Vi trùng có thể chủ yếu lây từ người này sang người khác qua sự  tống xuất của dịch họng và dịch hô hấp. Điều này xảy ra qua việc ho, hôn nhau, hoặc là nhảy mũi. May mắn là không có vi trùng nào gây ra viêm màng não mà lây những thứ như cảm lạnh hay cúm. Cũng vậy, vi trùng không có lây qua tiếp xúc thông thường qua thở không khí mà có người bị viêm màng não ở đó.

Tuy nhiên, một số vi trùng gây ra viêm màng não lây lan cho người khác, những người có tiếp xúc gần hoặc là tiếp cận lâu ngày với bệnh nhân viêm màng não do Neisseria menigitidis ( viêm não mô cầu) hoặc Hib. Những người ở cùng một nhà hoặc ở cùng trung tâm chăm sóc trẻ, hoặc là bất cứ ai có tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết đường miệng của bệnh nhân ( ví dụ như là bạn gái hay bạn trai) sẽ được xem xét là có nguy cơ cao bị lây nhiễm. Người thuộc diện tiếp xúc gần với người bệnh viêm màng não do N. meningitides nên nhận kháng sinh để phòng ngừa lây bệnh. Việc này gọi là điều trị dự phòng. Điều trị dự phòng cho những người tiếp xúc trong gia đình có người bị Hib thì chỉ được khuyến cáo nếu có 1 thành viên tiếp xúc < 48 tháng mà chưa được chủng ngừa đầy đủ Hib hoặc là đứa trẻ bị suy giảm miễn dịch ở bất kỳ tuổi nào trong gia đình. Toàn bộ thành viên của gia đình, không kể tuổi tác, nên được điều trị dự phòng ở những trường hợp như vậy.

Có vaccine ngừa viêm màng não do vi trùng không ?

Có, có vaccine ngừa Hib, ngừa một số loại của N.menigitidis và nhiều loại của Streptococcus pneumoniae. Các vaccine này an toàn và có hiệu quả cao.

Ủy ban cố vấn thực hành chủng ngừa ( The Advisory Committee on Immuniztion Practices – ACIP) khuyến cáo chủng ngừa thường quy cho tất cả người 11 – 18 tuổi 1 liều MCV4,  vaccine kết hợp não mô cầu, vào lúc sớm nhất có thể. Trẻ từ 11- 12 tuổi nên được chủng ngừa thường quy vào lúc 11- 12 tuổi được kiểm tra như đã được ACIP khuyến cáo. , Cũng vậy, khi bệnh viêm não mô cầu gia tăng trong tuổi thiếu niên, các nhân viên y tế nên  chủng ngừa cho những trẻ 11 – 12 tuổi chưa được chủng ngừa trước đó và các thanh thiếu niên tuổi từ 11 – 18 bằng MCM4 vào lúc đi khám bệnh sớm nhất có thể được.

Các học sinh trung học năm đầu tiên sống trong ký túc xá cũng gia tăng nguy cơ bị viêm não mô cầu và nên được chủng ngừa MCV4 trước niên học nếu họ chưa được chủng ngừa trước đó. Nguy cơ bị viêm não mô cầu ở những học sinh cũ thì giống như cộng đồng dân số chung ( tuổi từ 18- 24 ). Tuy nhiên, vì vaccine an toàn và tạo ra miễn dịch, chúng có thể được cung cấp cho sinh viên năm đầu của trường trung học, các học sinh muốn giảm nguy cơ bị bệnh viêm não mô cầu.

Chủng ngừa thường quy cũng được khuyến cáo cho những người có gia tăng nguy cơ bị viêm não mô cầu. dùng MCV4 cho người từ 2- 55 tuổi, tuy nhiên, dùng MPSV4 , vaccine đa phân tử viêm não mô cầu, được khuyến cáo cho người > 55 tuổi.

Cũng có vaccine để phòng ngừa viêm màng náo do S. pneumonia ( cũng được gọi là viêm màng não phế cầu ) , loại mà cũng có thể ngăn ngừa những thể khác do nhiễm S.pneumoniae. Vaccine đa phân tử phế cầu ( PPV23) được khuyến cáo cho tất cả ai > 65 tuổi và < 2 tuổi có vấn đề về sức khỏe mạn tính. Cũng có vaccine ( vaccine kết hợp phế cầu, hoặc là PCV7)  có hiệu quả ở trẻ nhũ nhi trong việc phòng ngừa nhiễm phế cầu và được khuyến cáo thường quy cho tất cả trẻ < 2 tuổi.

Đăng bởi: ĐD Liên Kim ( theo CDC Hoa Kỳ)
Theo benhviennhi.org.vn

Bệnh nhiễm trùng tiểu ở trẻ em – Đặc điểm và cách phòng ngừa

Nhiễm trùng tiểu là bệnh lý có sự hiện diện của vi trùng trong nước tiểu

Một số đặc điểm của bệnh nhiễm trùng tiểu

benh_nhiem_trung_tieu_o_tre_em_dac_diem_va_cach_phong_ngua

Trẻ sơ sinh và nhũ nhi :

– Sốt không rõ nguyên nhân, sốt kéo dài

– Bỏ bú, quấy khóc, ói…

Trẻ lớn :

– Tiểu gắt tiểu són, tiểu lắt nhắt nhiều lần, muốn đi tiểu mà không tiểu được, đau khi tiểu, hoặc bí tiểu.

– Nước tiểu đục hoặc tiểu có máu

– Sốt và than đau bụng, đau hông, lưng

Phòng ngừa nhiễm trùng tiểu :

– Rửa vệ sinh : Từ trước ra sau ( Từ lổ tiểu ra sau hậu môn) sau mỗi lần đi tiểu

– Kiểm tra tả lót. Thay tả ngay sau khi bé tiêu tiểu

– Không nhịn đi tiểu

– Không nên để trẻ quá nhỏ ( < 5 tuổi) tự làm vệ sinh 1 mình

– Cho trẻ mặc quần áo sạch sẽ, không nên mặc quân thủng đít

– Cho bé uống nhiều nước mỗi ngày, không đợi khát mới uống

– Sử dụng nguồn nước sạch cho trẻ

– Khu vui chơi giải trí, trường học cần có nhà vệ sinh sạch sẽ, nguồn nước đầy đủ

Đăng bởi: Khoa Thận Máu
Theo benhviennhi.org.vn

Phòng bệnh sốt xuất huyết ở trẻ em

1. Bệnh sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết là 1 bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Dengue gây nên. Bệnh lây lan qua trung gian muỗi Aedes aegyti.

phong_benh_sot_xuat_huyet_o_tre_em

2. Bệnh sốt xuất huyết có ở đâu?

–   Các nước vùng nhiệt đới.

–   Xảy ra quanh năm nhất là mùa mưa, mùa muỗi sinh sản nhiều.

–   Trẻ em dưới 15 tuổi là đối tượng mắc bệnh nhiều nhất.

–   Ở Việt Nam bệnh xảy ra ở hầu hết các tỉnh.

3. Nhận biết trẻ bị sốt xuất huyết

Sốt cao đột ngột 39 – 40oC kéo dài, không kèm theo ho, sổ mũi.

– Trên người nổi những nốt xuất huyết ngoài da, thường là ở cánh tay, cẳng chân.

– Trẻ có thể đau bụng ở hạ sườn phải do gan to lên.

– Xuất huyết niêm mạc: chảy máu cam, chảy máu chân răng..

– Nặng hơn trẻ có thể xuất huyết tiêu hóa: nôn hoặc đi ngoài ra máu, tay chân lạnh, đau bụng, trụy tim mạch (sốc).

4. Làm thế nào để phòng bệnh sốt xuất huyết

– Phòng muỗi sinh sản:

– Muỗi truyền virút Dengue sống và sinh sản ở những nơi nước ứ đọng ở trong và xung quanh nhà.

– Ðổ nước thừa ở chỗ ứ nước, thùng nước, xô, chậu…

– Thả cá vào các vật chứa nuớc trong nhà để diệt bọ gậy, cọ rửa và thay nước thường xuyên.

– Luôn luôn đậy kín tất cả các vật dụng chứa nước.

– Thu gom, huỷ đồ phế thải ở xung quanh nhà.

– Khơi thông cống rãnh.

– Phòng muỗi đốt:

– Muỗi truyền virus Dengue đốt người vào ban ngày, cho nên phải tự bảo vệ để tránh trẻ bị muỗi đốt.

– Mặc quần áo dài che kín tay chân trẻ.

– Cho trẻ ngủ trong màn ban ngày.

– Sử dụng thuốc diệt muỗi thận trọng khi sử dụng thuốc này đối với trẻ nhỏ.

– Dùng rèm che, màn tẩm hoá chất diệt muỗi che cửa để hạn chế và diệt muỗi.

5. Cách xử trí khi trẻ bị sốt xuất huyết:

Khi phát hiện trẻ bị sốt xuất huyết, gia đình cần:

–  Theo dõi sát.

–  Cho trẻ uống nhiều nước.

–  Nếu trẻ sốt trên 38,5oC thì cho uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol (tuyệt đối không dùng Aspirin vì thuốc này làm tăng nguy cơ chảy máu).

–  Cần đưa trẻ đến viện ngay nếu thấy có dấu hiệu nặng như chảy máu cam, lừ đừ, kêu đau bụng.

–  Nếu nhà xa, cần đưa trẻ đến trạm y tế gần nhất. Tại đây, trẻ có thể được truyền dịch theo phác đồ điều trị của Bộ Y tế và nếu cần sẽ chuyển đến bệnh viện sau.

“Diệt bọ gậy, muỗi vằn là biện pháp đơn giản, hiệu quả và dễ thực hiện nhất để phòng bệnh sốt xuất huyết”

Đăng bởi: KHOA VI SINH
Theo benhviennhi.org.vn

Chăm sóc trẻ khi bị viêm VA

ĐỊNH NGHĨA:

– VA là một tổ chức lympho ở vòm mũi họng, dày- khoảng 2cm, phát triển khi- trẻ được 1 tuổi, hoạt động mạnh từ 3-6 tuổi và thoái hóa khi đến tuổi dậy thì.

cham_soc_tre_khi_bi_viem_va

TRIỆU CHỨNG:

– Viêm VA nhẹ, không có triệu chứng gì đáng kể.

– Trường hợp viêm VA cấp và nặng, hoặc mãn tính bé có các biểu hiện sau:

– Sốt cao và ho.

– Nghẹt mũi, lúc đầu nghẹt ít về sau nghẹt nhiều. Bé phải há miệng để thở, hay ngủ ngáy.

– Mũi thường hay bị viêm: tiết dịch nhầy, lúc đầu dịch đục, sau đó ngả màu xanh hoặc vàng.

– Thường hay bị viêm tai, than đau tai, chảy mủ tai, nghe kém.

– Cơ thể bé phát triển chậm so với lứa tuổi, người có thể gầy.

BIẾN CHỨNG:

– Viêm thanh quản, viêm cấp tính đường hô hấp trên.

– Viêm tai giữa kèm theo chảy mủ tai

– Viêm đường tiêu hóa: đau bụng, đi ngoài ra nhầy, ra nước.

– Viêm hạch: thường là viêm hạch vùng cổ.

– Viêm thận.

– Viêm mi mắt.

MỨC ĐỘ VIÊM:

– VA QUÁ PHÁT: biểu hiện chủ yếu bằng dấu hiệu nghẹt mũi, ngủ ngáy.

– VA CẤP: bé sốt + chảy mũi thường kết hợp với họng cấp.

– VA MÃN TÍNH: VA cấp tái phát nhiều lần do điều trị không triệt để.

ĐIỀU TRỊ VÀ CHĂM SÓC:

– Trường hợp VA bị viêm nhẹ, không cần phải điều trị bằng thuốc, chỉ cần dinh dưỡng tối đa, nâng cao thể trạng để tăng sức đề kháng là bé hết. Thường xuyên rửa mũi bằng nước muối sinh lý 0,9% rồi hỉ mũi sạch ( nếu trẻ nhỏ thì hút mũi ), giữ vệ sinh và ủ ấm cho bé.

– Trường hợp bé bị Viêm VA cấp hoặc nặng, cần đưa bé đến khám chuyên khoa Tai Mũi Họng ngay để được điều trị kịp thời và đúng như: dùng thuốc kháng sinh, kháng viêm, kháng dị ứng, hạ sốt, giảm đau.

– Trường hợp bé bị VA nặng, nghẹt mũi hoàn toàn, có thể bị biến chứng thì Bác sĩ- Tai Mũi Họng sẽ can thiệp bằng phẫu thuật nạo VA

– Sau khi bé nạo VA xong có thể được về trong ngày. Khi về nhà, phụ huynh phải theo dõi và chăm sóc bé cẩn thận như: bé phải được nghỉ ngơi hoàn toàn trong 24 giờ sau nạo VA, những ngày sau đó ăn cháo loãng và uống sữa, uống thuốc theo toa của Bác sĩ.

PHÒNG BỆNH:

– Khi trời lạnh nên giữ ấm cho bé, vệ sinh thân thể tốt.

– Dinh dưỡng tốt cho bé để nâng cao thể trạng, tăng sức đề kháng.

– Vệ sinh thường xuyên bằng cách nhỏ mũi với nước muối sinh lý 0,9% nhất là khi có dịch cúm, viêm mũi họng.

– Xì mũi đúng cách.

Đăng bởi: Liên chuyên khoa
Theo benhviennhi.org.vn

Bệnh viêm tai giữa cấp ở trẻ em – Cách chăm sóc và phòng ngừa

Viêm tai giữa cấp ( VTGC) là một tình trạng viêm cấp ở tai giữa tiến triển trong vòng 2 – 3 tuần. Triệu chứng thay đổi tùy theo lứa tuổi, nguyên nhân, và thể trạng.Trẻ thường sốt ; có kèm hay không kèm theo viêm hô hấp trên ; cảm giác đầy tai ,ù tai ,đau tai ;nghe kém ; chóng mặt buồn nôn . Đối với trẻ sơ sinh biểu hiện không rõ ràng, có khi chỉ là kích thích quấy khóc ;

VTGC là bệnh lý thường gặp ở trẻ em . Nếu không được theo dõi và điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng rất lớn cho bé do các tai biến và biến chứng của bệnh. Ngược lại, nếu được phát hiện sớm, điều trị và chăm sóc kịp thời và đúng, bệnh sẽ khỏi và không để lại di chứng .

Vì vậy , khi trẻ có các biểu hiện trên người nhà phải đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế có chuyên khoa TMH để BS Điều trị hướng dẫn CS và làm thuốc tai

benh_viem_tai_giua_cap_o_tre_em_cach_cham_soc_va_phong_ngua

Việc chăm sóc bé gồm :

– Cho trẻ uống thuốc theo toa, làm thuốc tai và tái khám theo hẹn

– Người nhà theo dõi thân nhiệt. Nếu sốt cao phối hợp lau mát, uống thuốc hạ sốt

– Theo dõi dịch mủ tai : lượng , màu sắc , mùi .

– Theo dõi mức độ đau tai, ù tai, có giảm không hay tăng lên .

– Giữ tai khô sạch . Khi tắm hay gội đầu hạn chế nước vào tai. Làm vệ sinh tai bằng que tăm bông

– Rửa tai : tại các cơ sở y tế có chuyên khoa TMH . Nếu chưa có điều kiện đến cơ sở y tế thì có thể tự vệ sinh tai tại nhà theo sự hướng dẫn của NVYT

Phòng ngừa viêm tai giữa cấp :

– Không ngoái tai bằng vật cứng nhọn

– Điều trị tốt các bệnh TMH như VA , Viêm Họng , Viêm Mũi Xoang

– Vệ sinh mũi hằng ngày bằng nước muối sinh lý

– Xì mũi đúng cách

– Dinh dưỡng tốt để nâng cao thể trạng để tránh các bệnh đường hô hấp trên

Đăng bởi: Chuyên khoa lẻ
Theo benhviennhi.org.vn

Làm gì khi trẻ nôn ói

Những ngày gần tết, các bé có triệu chứng nôn ói đến khám tại phòng khám “Bệnh viện Nhi đồng 2” tăng. Có nhiều nguyên nhân gây nôn ói ở trẻ, những ngày gần tết do các phụ huynh muốn tăng cường thêm năng lượng cho trẻ bằng cách cố ép trẻ ăn nhiều hơn, hoặc do bố mẹ nhiều việc nên không kiểm soát việc ăn uống của trẻ, trẻ dễ dẫn đến các rối loạn tiêu hóa.

Các cháu mới sinh thường hay ói. Có nhiều nguyên nhân. Người lớn coi sóc các cháu nên chú ý xem cháu bị nôn ói trong trường hợp nào, có kèm theo các triệu chứng gì không thì mới xác định được là hiện tượng này không quan trọng hoặc đáng lo ngại. Hiện tượng nôn ói có thể như sau :

lam_gi_khi_tre_non_oi

* Ðang khỏe mạnh bỗng nôn ói kèm sốt, tiêu chảy: có thể do bị bệnh thuộc loại tai-mũi-họng, hoặc vì các chất tiêu hóa di chuyển ngược chiều đoạn dạ dày – ruột Nôn ói sẽ dẫn tới hiện tượng cơ thể thiếu nước.

* Bỗng nhiên bị nôn ói, không sốt nhưng không muốn uống, bị đau bụng không đi tiêu được: có thể bị rối loạn tiêu hóa hoặc lồng ruột, tắc ruột. Cần tới bác sĩ ngay.

* Bị nôn nhiều lần, bị đi bị lại, ngưng tăng cân: viêm tai hay viêm niệu đạo.

Phần lớn các cháu bé nôn ói vì thức ăn chuyển động ngược lại đoạn thực quản – dạ dày

Các cháu nhỏ thường nôn ói vì động cơ tâm lý, làm nũng mẹ.

Các cháu lớn hơn nếu bị nôn ói kèm theo đau bụng và sốt có thể do các bệnh đau ruột thừa,  viêm gan…

Làm gì khi trẻ hay nôn ói ?

1. Đưa trẻ đi khám bác sĩ để loại trừ nguyên nhân trẻ bị ói do bệnh (ví dụ: viêm họng, bệnh lý đường tiêu hóa)

2. Tạo không khí thoải mái khi cho trẻ ăn như kể chuyện, chơi đồ chơi, bố làm trò, xem tivi… Tuy nhiên nên giảm dần khi trẻ ăn khá hơn để tránh trở thành điều bắt buộc phải có cho mỗi bữa ăn.

3. Đừng cố ép trẻ ăn quá no. Thay vào đó, bạn nên chia làm nhiều bữa ăn. Quan trọng là lượng thức ăn cả ngày.

4. Sau bữa ăn nên cho trẻ vận động nhẹ nhàng. Tránh chọc trẻ khóc hay cười quá mức cũng có thể làm trẻ bị ói.

5. Nên sắp xếp cữ ăn gần cữ ngủ; giấc ngủ sẽ giúp cho cữ ăn của bé được an toàn.

6. Không nên la mắng khi trẻ bị ói. Một số trẻ giả vờ ói để dọa  hay phản đối khi không muốn ăn nữa, lúc đó bạn vờ như không chú ý đến điều đó. Sau một vài lần thực hiện không hiệu quả, trẻ sẽ không làm điều đó nữa.

7. Cuối cùng, tình thương của bạn sẽ giúp trẻ vượt qua tất cả

Đăng bởi: Bs Nguyễn Văn Tân Minh
Theo benhviennhi.org.vn

Sốt ở trẻ nhỏ

Cha mẹ nào cũng có ngày rơi vào hoàn cảnh: thức dậy nửa đêm và thấy con đứng bên giường, nhăn nhó, trán ấm hoặc người đẫm mồ hôi. Bé đã bị sốt – phải làm gì tiếp đây? Tự theo dõi hay gọi ngay cho bác sĩ?

Sốt là đáp ứng của cơ thể đối với những điều kiện khác nhau, trong đó nhiễm khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất. Sốt xuất hiện khi thân nhiệt cơ thể tăng hơn so với bình thường.

Hầu như đứa trẻ nào cũng có lần bị sốt nên vấn đề của cha mẹ là phải biết xử trí ra sao khi đó.

sot_o_tre_nho

KIỂM SOÁT THÂN NHIỆT

Thân nhiệt được kiểm soát bởi vùng hạ đồi của não. Thân nhiệt thay đổi trong ngày trong một khoảng tương đối hẹp với sự duy trì của vùng hạ đồi. Vùng hạ đồi điều chỉnh thân nhiệt độ bằng cách cân bằng giữa việc tạo nhiệt độ của các cơ và gan với sự mất nhiệt qua da và phổi.

Sốt xảy ra khi vùng hạ đồi làm tăng thân nhiệt. Sốt có thể do đáp ứng của hệ miễn dịch đối với tác nhân nhiễm khuẩn như vi khuẩn hoặc virus.

ĐỊNH NGHĨA SỐT

– Nhiệt độ ở trực tràng > 100.4ºF (38ºC)
– Nhiệt độ miệng > 99.5ºF (37.5ºC)
– Nhiệt độ nách > 99ºF (37.2ºC)
– Nhiệt độ tai > 100.4º (38ºC)

NGUYÊN NHÂN

Nhiễm khuẩn là nguyên nhân thường gây sốt nhất. Các bệnh lý do virus và vi khuẩn như cảm, tiêu chảy, nhiễm khuẩn tai, viêm thanh quản cấp và viêm tiểu phế quản thường là nguyên nhân hàng đầu gây sốt.

Mọc răng thường không gây sốt; Một số nghiên cứu cho thấy nhiệt độ ³ 101.3ºF (38.5ºC) thường không liên quan đến mọc răng.

Quấn trẻ < 3 tháng tuổi trong quá nhiều quần áo có thể làm tăng nhẹ thân nhiệt trẻ. Tuy nhiên, nhiệt độ hậu môn ³  101ºF (38.5ºC) thường không liên quan đến việc quấn đứa trẻ và khi đó, trẻ cần được xem xét kỹ hơn để tìm nguyên nhân gây sốt.

Vài loại vaccin có thể gây sốt; Thời gian sốt thay đổi tùy theo loại vaccin sử dụng.

CÁCH ĐO THÂN NHIỆT TRẺ

Cách tốt nhất để đo thân nhiệt đứa trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đo nhiệt độ ở trực tràng là phương pháp chính xác nhất. Tuy nhiên, cũng có thể đo nhiệt độ ở miệng ( đối với trẻ từ 4 – 5 tuổi trở lên) hay đo nhiệt độ ở tai (khi trẻ > 6 tháng). Đo thân nhiệt ở nách là phương pháp được xem là ít chính xác nhất , nhưng là phương pháp thuận tiện, nhất là khi trẻ < 3 tháng tuổi. Nếu nhiệt độ ở nách > 99ºF (37.2ºC) thì nên sử dụng phương pháp đo thân nhiệt ở trực tràng.

Nhiệt kế điện tử không đắt lắm, phổ biến, an toàn và chính xác hơn nên cần thay thế cho nhiệt kế thủy ngân.

Phương pháp đo thân nhiệt ở trực tràng:

– Trẻ sơ sinh hay trẻ nhỏ nên nằm sấp trong lòng người lớn.

– Thoa một lượng nhỏ chất bôi trơn (Vaseline, …) vàp phần cuối của nhiệt kế.

– Nhẹ nhàng đặt nhiệt kế vào hậu môn trẻ cho đến khi phần đầu bạc của nhiệt kế không còn thấy nữa (1/4 – ½ inch ≈ 0,6 – 1,3 cm) bên trong hậu môn.

– Giữ nguyên nhiệt kế. Nhiệt kế thủy ngân cần khoảng 2 phút trong khi nhiệt kế điện tử chỉ cần dưới 1 phút.

(Phương pháp đo thân nhiệt độ ở miệng (không nên đo nếu trẻ đã ăn hoặc uống đồ nóng trong vòng 30 phút):

– Rửa nhiệt kế bằng nước lạnh và xà bông, sau đó rửa sạch lại với nước.

– Đặt đầu  nhiệt kế vào dưới lưỡi của trẻ. Bảo trẻ giữ nhiệt kế bằng môi. Giữ cho môi kín xung quanh nhiệt kế.

– Nhiệt kế thủy ngân cần khoảng 3 phút trong khi nhiệt kế điện tử chỉ cần dưới 1 phút.

Phương pháp đo thân nhiệt độ ở nách:

– Giữ nhiệt kế ở kẽ nách trẻ (phải lau khô nách trước khi đo).

– Giữ nhiệt kế bằng việc ép sát khuỷu tay vào ngực trong vòng 4 – 5 phút.

Phương pháp đo thân nhiệt độ ở tai (không áp dụng cho trẻ < 6 tháng tuổi; Nếu trẻ vừa ngoài trời lạnh vào, đợi 15 phút truớc khi tiên hành đo nhiệt độ; Ống tai và bệnh ở tai không ảnh hưởng đến kết quả):

– Kéo tai ngoài của trẻ trước khi đặt nhiệt kế vào.

– Giữ đầu dò nhiệt kế trong tai trong vòng 2 giây.

KHI NÀO CẦN ĐIỀU TRỊ SỐT

Việc điều trị sốt còn nhiều bàn cãi. Sốt có thể giữ vai trò chống nhiễm khuẩn mặc dù sốt có thể làm trẻ khó chịu. Sốt cao không phải luôn luôn là yếu tố quyết định xem trẻ có cần được chữa trị hay không. Thay vào đó là xem hành vi và vẻ ngoài của trẻ. Sốt thường đi kèm các triệu chứng khác. Những triệu chứng này cần được xem xét bởi nhân viên y tế.

Trong đa số trường hợp, sốt có thể được theo dõi và điều trị tại nhà. Tuy nhiên, điều quan trọng là cha mẹ cần biết khi nào nên đưa trẻ đi khám bệnh và khi nào cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt.

Dưới đây là một số hướng dẫn chung để tham khảo (không hoàn toàn đầy đủ để áp dụng cho mọi tình huống); Cha mẹ cần liên hệ với nhân viên y tế để có những hướng dẫn cụ thể hơn về tình trạng của con mình.

Cần đưa trẻ đi khám bệnh khi:

– Trẻ < 3 tháng tuổi: sốt ³ 100,4ºF (38ºC), ngay cả khi vẻ ngoài của trẻ vẫn có vẻ tốt.
– Trẻ > 3 tháng tuổi: sốt ³ 100,4ºF (38ºC) hơn 3 ngày hay khi vẻ ngoài của trẻ không tốt (bứt rứt, không chịu bú, …)
– Trẻ 3 – 36 tháng: sốt ³ 102ºF (38,9ºC)
– Trẻ sốt ³ 104ºF (40ºC)
– Trẻ bị sốt cao co giật.
– Trẻ sốt tái đi tái lại.
– Trẻ có bệnh nền: tim mạch, ung thư, lupus, hay hồng cầu liềm, …
– Trẻ sốt kèm phát ban da.

XỬ TRÍ SỐT

1. Thuốc:

Thuốc có hiệu quả hạ sốt ở trẻ em là Acetaminophen hay Ibuprofen. Các thuốc này giúp trẻ dễ chịu hơn và giảm thân nhiệt trẻ khoảng 2 – 3ºF (1 – 1.5º C).

Aspirin không được chỉ định do có thể gây các bệnh lý nghiêm trọng như hội chứng Reye.

Acetaminophen có thể dùng mỗi 4 – 6 giờ khi cần, với liều 10 – 15 mg/kg/lần . Nếu thân nhiệt vẫn tiếp tục cao và trẻ > 6 tháng tuổi, Ibuprofen có thể để thay thế hoặc kết hợp với Acetaminophen và sử dụng mỗi 6 giờ, với liều: 5–10 mg/kg uống mỗi  6 – 8 giờ. Liều lượng của Acetaminophen hay Ibuprofen (nên được tính theo cân nặng của trẻ, không nên theo tuổi).

Chưa có tài liệu đầy đủ về tình trạng an toàn khi sử dụng kếp hợp Acetaminophen và Ibuprofen xen kẽ nhưng các cha mẹ cũng nên biết việc sử dụng cả 2 loại thuốc sẽ ít an toàn hơn như khi sử dụng một loại thuốc đơn thuần.

Thuốc hạ sốt chỉ được sử dụng khi cần thiết, và sẽ ngưng khi các triệu chứng không còn.

2. Đắp mát và tắm mát:

Lau mát là đặt trẻ trong chậu tắm và dùng khăn đắp nước ấm (85ºF or 30ºC) khắp thân trẻ. Trẻ sẽ mát hơn khi nước bốc hơi qua da. Do đó, trẻ không nên được đắp bằng khăn ướt hay tắm bằng nước mát.

Đắp mát cần được kết hợp với thuốc hạ sốt khi trẻ không dung nạp được thuốc.

Đắp mát với alcohol cần phải tránh vì hơi alcohol có thể hấp thu qua da và phổi.

3. Tăng lượng nước vào:

Sốt làm tăng nguy cơ mất nước ở trẻ. Để giảm nguy cơ này, cha mẹ nên khuyên khích trẻ uống đủ nước. Trẻ bị sốt có thể không đói và không cần thiết ép trẻ ăn. Tuy nhiên, các loại nước uống như sữa (sữa bò hay sữa mẹ), sữa bột, và nước cần phải uống thường xuyên. Trẻ lớn hơn có thể ăn bột, soup hoặc kem lạnh. Nếu trẻ không chịu uống hoặc không uống được, cha mẹ cần tham vấn BS.

4. Nghỉ ngơi:

Sốt là nguyên nhân gây mệt mỏi và đau nhức. Trong thời gian này, cha mẹ nên khuyến khích trẻ nghỉ ngơi như trẻ mong muốn. Không cần thiết ép trẻ ngủ hoặc nghỉ ngơi nếu trẻ đã cảm thấy khỏe hơn. Trẻ có thể đi học lại hoặc tham gia các hoạt động khác khi thân nhiệt đã trở về bình thường sau 24 giờ.

Theo: www.uptodate.com/patients
Last literature review version 18.3: September 2010
This topic last updated: August 18, 2010
Đăng bởi: Bs Hồ Thị Kim Thoa-TK Nội tổng hợp
Theo benhviennhi.org.vn

Khi bé bị sốt – Những điều cần lưu ý

Sốt  là một  triệu chứng thường hay gặp nhất ở trẻ em và là một  trong những nguyên nhân hàng đầu làm phụ huynh lo lắng và  đưa con đến khám bệnh. Bình thường thân nhiệt ở trẻ dao động từ 36,8 độ C đến 37,3 độ C. Nhiệt độ buổi chiều thường tăng hơn buổi sáng khoảng nửa độ. Gọi là sốt khi trẻ có nhiệt độ trên 38 độ C (đo nhiệt độ hậu môn hoặc ở tai là chính xác , ở nách thì cộng thêm 0,5 độ nữa) .

Sốt cao có thể từ 39 đến 40 độ C. Trên 40,5 độ thì xem như một cấp cứu đối với trẻ vì dễ đưa đến co giật. Tuy nhiên ở nhiều trẻ có tiền căn co giật thì ngưỡng sốt gây co giật có thể thấp hơn , có thể chỉ cần sốt dưới 38 độ C là có nguy cơ gây co giật.

khi_be_bi_sot_nhung_dieu_can_luu_y

 Nguyên nhân gây sốt:

Sốt  là phản ứng tự vệ của cơ thể, chống lại các tác nhân gây nhiễm, sốt là một dấu hiệu tốt chứng tỏ cơ thể có khả năng tự vệ, đối với trẻ sơ sinh đôi khi có tình trạng nhiễm trùng nhưng không sốt, hoặc trẻ suy giảm miễn dịch,trẻ bị lao nặng cũng không sốt.

Có nhiều nguyên nhân gây sốt, đa số là do nhiễm siêu vi. Sốt có thể do bị trúng nắng, trúng nóng. Sốt có thể do cơ thể bị nhiễm trùng như viêm đường hô hấp, viêm ruột, bị nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng da, sốt do nhiễm lao,..hoặc chỉ  đơn thuần là bé sốt sau khi chích ngừa hoặc mọc răng, đó là phản ứng tốt của cơ thể,  tuy nhiên trong những  trường hợp này thì sốt không kéo dài quá 2 ngày. Và có những trường hợp sốt do sử dụng kháng sinh kéo dài và liên tục.

Tuổi nào thì thường bị sốt?

– Tuổi nào cũng có thể sốt, càng nhỏ càng dễ sốt. Sốt ở trẻ nhỏ thường dễ hạ nếu tìm ra nguyên nhân và xử lý nguyên nhân.

– Khi nào thì sốt đáng lo? Đó là những trường hợp sau:

· Sốt cao khó hạ , cho dù đã lau mát , uống thuốc hạ nhiệt.

· Có những trường hợp sốt kèm theo các triệu chứng nguy hiểm khác như nôn ói , thở khò khè, thở mệt, giựt mình hoảng hốt , lạnh tay lạnh chân v.v…

· Sốt cao liên tục 2, 3 ngày hoặc sốt tái đi tái lại kéo dài hơn 1 tuần.

· Riêng trẻ  nhỏ dưới 3 tháng tuổi  khi bị sốt, nhất thiết phải đi khám và cần nhập viện để tìm nguyên nhân nhất là trẻ còn trong tháng mà sốt.

Làm gì khi thấy  bé  sốt:

– Khi trẻ sốt phải cởi quần áo bé ra, lau bằng nước ấm, nhất là vị trí ở nách, bẹn, đầu. Lau nước khoảng 5- 15 phút và mặc quần áo thoáng nhẹ bằng cotton cho bé. Sau nửa giờ  cặp nhiệt  lại, nếu nhiệt độ chưa xuống thì nên cho bé uống hạ sốt hoặc nhét thuốc ở hậu môn cho bé.

– Không nên ủ ấm bé và cũng  không nên chườm lạnh khi bé đang sốt. Khi gặp lạnh mạch sẽ bị co lại, khó thoát nhiệt hơn.

– Không dùng rượu hay chanh để chà sát , lau cho bé, dễ gây  ngộ độc và dễ tổn thương da .

– Không tự ý dùng thuốc kháng sinh.

– Khi sốt cao , tạm ngưng ăn, đề phòng bé sốt cao có thể gây co giật.

– Cho bé uống nước nhiều vì sốt thường mất nhiều nước qua mồ hôi và hô hấp, nêu uống nước ít sốt sẽ khó hạ.

– Khi đã qua cơn sốt cho bé ăn nhẹ , thức ăn dễ tiêu, và tăng lên từ từ.

– Trẻ còn bú mẹ thì vẫn cho bú theo nhu cầu.

– Theo dõi các dấu hiệu đi kèm sốt là việc quan trọng, vì sẽ tìm ra nguyên nhân gây sốt và lưu ý những dâu hiệu nặng của trẻ .

Đăng bởi: BS.CK2.Nguyễn Thị Thanh
Theo benhviennhi.org.vn

Đề phòng bệnh viêm tai giữa ở trẻ nhỏ

Viêm tai giữa (VTG) là bệnh viêm cấp tính ở lớp niêm mạc lót trong tai giữa, thường xuất phát sau viêm mũi họng. Bệnh có thể diễn tiến dẫn đến nhiều bệnh lý tai giữa khác như VTG thanh dịch, VTG mạn cholesteatoma và VTG mủ, VTG biến chứng. Vậy khi nào trẻ VTG cấp cần nhập viện để điều trị?

de_phong_benh_viem_tai_giua_o_tre_nho

Giải phẫu tai.

Nguyên nhân VTG cấp: VTG cấp thường do vi khuẩn từ vòm họng theo vòi nhĩ lên tai giữa gây nên, do cơ chế bảo vệ của lớp niêm mạc vòi nhĩ không còn hoạt động hiệu quả hoặc lỗ vòi nhĩ bị tắc nghẽn do các khối choán chỗ tại vùng vòm họng (VA trẻ em).

Ai có thể bị VTG?

Nghiên cứu tại các nước công nghiệp cho thấy rằng, trẻ bú mẹ có tác dụng phòng chống VTG trong năm đầu. Bú mẹ cũng là biện pháp phòng bệnh tốt nhất ở các nước phát triển như nước ta. Các yếu tố làm trẻ dễ bị mắc VTG là: không được bú mẹ; bị VTG cấp trong 6 tháng đầu đời; cha mẹ hoặc anh chị có tiền sử viêm tai, trẻ sứt môi, ở hàm ếch kể cả đã được vá chỉnh. Trẻ em có nguy cơ bị VTG cao hơn người lớn vì ở trẻ em sụn vòi nhĩ còn mềm, dễ bị xẹp, vòi nhĩ ở trẻ em ngắn và nằm ngang hơn người lớn, hệ miễn dịch chưa phát triển hoàn chỉnh, trẻ dễ có nguy cơ bị nhiễm khuẩn hô hấp trên. Đặc biệt, tình trạng viêm VA phổ biến ở trẻ em cũng dễ dẫn đến bệnh VTG.

Làm sao biết tai giữa bị viêm?

Khi VTG thường có biểu hiện đặc trưng: chảy mủ tai và đau nên trẻ nhũ nhi hay quấy khóc, đưa tay dụi hoặc cấu tai, chán ăn, nôn hoặc tiêu chảy, có thể sốt cao. Khi ấn vào vùng tai hoặc kéo vành tai bệnh nhân đau nhói. Trẻ nhỏ khóc thét. Ở trẻ lớn còn kêu đau đầu, nghe kém. Dấu hiệu đặc trưng của VTG là soi thấy màng nhĩ đỏ, không di động hoặc căng phồng… Nhưng chảy mủ và đau tai là dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán.

de_phong_benh_viem_tai_giua_o_tre_nho_02

Viêm tai giữa mủ.

Khi nào trẻ bị VTG cần nhập viện điều trị?

Khi có các biểu hiện xấu như sốt, nôn nhiều, nhức đầu, rét run, tổng trạng suy sụp, trẻ lớn kêu chóng mặt. Những trẻ dưới 4 tháng tuổi khi có biểu hiện của VTG nên nhập viện để điều trị và theo dõi vì hệ thống miễn dịch của bé chưa phát triển hoàn chỉnh, dễ có biến chứng nặng và nguy hiểm. Thường viêm tai xuất phát sau viêm mũi họng. Khoảng 2/3 số trường hợp VTG cấp là do vi khuẩn trong đó hay gặp nhất là phế cầu, đó cũng chính là những vi khuẩn gây viêm phổi, vì thế phải dùng kháng sinh để điều trị ngay. Kết hợp các thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm, các thuốc nhỏ mũi kết hợp nhỏ tai.

Bệnh nhân viêm tai khi khám thấy màng nhĩ căng phồng, các bác sĩ sẽ trích màng nhĩ để giúp mủ thoát ra hoặc đặt ống thông khí ở tai để dẫn lưu. Trường hợp tai chảy mủ, ngoài việc dùng thuốc, các bà mẹ cũng có thể tự làm khô tai cho trẻ bằng giấy quấn sâu kèn như sau:

– Gấp và cuộn tờ giấy thấm hoặc mảnh vải bông sạch lại thành sâu kèn (không dùng tăm bông, tăm que hoặc giấy viết vì cứng, chạm vào thành tai gây đau tai).

– Đặt sâu kèn vào tai trẻ cho đến khi thấm ướt mủ, lấy sâu kèn ra và đặt tiếp một sâu kèn mới khác, làm như vậy cho đến khi tai khô. Ngày thay 3 – 4 lần. Thường phải làm 1 – 2 tuần tai mới khô hẳn. Việc phát hiện sớm các dấu hiệu viêm tai để điều trị sớm và triệt để sẽ tránh biến chứng viêm tai xương chũm. Đây là biến chứng rất nguy hiểm thường gặp sau VTG 1 – 2 tuần.

Dấu hiệu viêm tai xương chũm: Tiền sử VTG đã 1 – 2 tuần và đã điều trị nhưng không đến nơi đến chốn hoặc không điều trị, đột nhiên xuất hiện các triệu chứng cấp tính của tai.

Biểu hiện: Bệnh nhân sốt cao trở lại, toàn trạng hốc hác do nhiễm khuẩn, nhiễm độc. Người bệnh thấy đau tai và vùng xương chũm, đau lan lên nửa đầu, ù tai và nghe kém tăng dần, chảy mủ tai tăng hoặc đột nhiên ngừng chảy mủ, có thể chóng mặt.

Ấn vùng xương chũm (ấn vào sau tai hoặc kéo vành tai) bệnh nhân đau buốt (phản ứng xương chũm dương tính). Cần cho đi khám chuyên khoa tai mũi họng ngay vì nếu viêm tai xương chũm không điều trị đúng cách lại dẫn đến viêm tai xương chũm mạn tính hồi viêm. Đây là một bệnh cấp cứu trong tai mũi họng. Nếu không điều kịp thời sẽ gây ra biến chứng nguy hiểm thậm chí tử vong.

Phòng bệnh: Nghiên cứu cho thấy, trẻ bú mẹ ít bị VTG vì trong sữa mẹ có kháng thể giúp bé có sức đề kháng tốt. Thứ hai, vấn đề vệ sinh cho trẻ như khi tắm không để nước vào tai giữa, vệ sinh mũi họng để trẻ không bị viêm hô hấp trên, amidan, VA vì giữa mũi họng và tai trong có ống thông nhau nên vi khuẩn vùng mũi họng qua đó mà lan sang tai. Khi đã bị bệnh cần được bác sĩ thăm khám và chỉ định điều trị, theo dõi chặt chẽ các biến chứng. Người có yếu tố nguy cơ (gia đình có anh chị em bị viêm tai giữa) càng cần chú ý khi có dấu hiệu đau tai và sốt.

BS.Trần Mạnh Toàn
Theo SKDS